Tag Archives: rượu

Những loại rượu kích thích cho quý ông

Ba kích thiên, dây ruột gà, chẩu phóng xì, thau tày cáy (Tày), chồi hoàng kim, sáy cáy (Thái), chày kiàng dòi (Dao), medicinal indian mulberry (Anh). Họ cà phê Rubiaceae.

Đối với nam giới có hoạt động tình dục không bình thường, ba kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa. Ba kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm tăng đòi hỏi tình dục. Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ, nhưng nó có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động tình dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực.

tien-tuu-co-ba-kich-danh-cho-quy-ongBa kích thiên tửu:

Bổ thận, tráng dương, hoạt huyết, thông kinh, mạnh gân cốt, trị bụng ứ kết, bụng đau do lạnh, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương đau, vọp bẻ, thận hư, liệt dương: ba kích 18g, ngưu tất 18g, đương quy 20g, khương hoạt 27g, tiêu 2g, thạch hộc 18g, sinh khương 27g. Các vị thuốc giã nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín, bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15 – 20ml.

Kỷ cúc điều nguyên tửu: Điều hòa nguyên khí, làm sáng mắt, thông nhĩ, cường tráng thân thể, trị gân xương đau nhức, gối đau, hạ nguyên hư lạnh: ba kích (bỏ lõi) 90g, câu kỷ tử 90g, cam cúc hoa 90g, nhục thung dung 90g. Các vị thuốc tán thành bột, ngâm với 4 lít rượu trong 7 ngày, cho thêm 3 lít nước, đun sôi, để nguội, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 – 2 ly nhỏ, lúc đói.

Dâm dương hoắc huyết đằng tửu: Bổ thận, cường dương, làm mạnh gân xương, trị phong thấp, đau lưng, đau thắt lưng, thận suy: ba kích thiên 30g, rượu 1.000ml, kê huyết đằng 30g, dâm dương hoắc 30g, đường phèn 60g. Các vị thuốc ngâm rượu trong 7 ngày. Mỗi lần uống 2 chén nhỏ, ngày 2 lần.

tien-tuu-co-ba-kich-danh-cho-quy-ong-1Ba kích thiên, phúc bồn tử, thỏ ty tử ngâm rượu gạo:

Chữa thận hư gây ra di tinh, hoạt tinh, lưng gối yếu mỏi, lạnh đau: ba kích thiên 15g, phúc bồn tử 15g, thỏ ty tử 15g, rượu gạo 2.500ml. Cho ba kích thiên, phúc bồn tử, thỏ ty tử vào ngâm trong 2.500ml rượu gạo, sau 7 ngày có thể dùng được.

Tắc kè, ba kích, hà thủ ô, thục địa ngâm rượu: Chữa bệnh yếu sinh lý ở nam giới: tắc kè 50g, ba kích 100g, hà thủ ô 100g, hoàng tinh hoặc thục địa 100g, đại hồi 10g, đường kính 100g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 350 để được 300ml. Các dược liệu khác cũng ngâm với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít. Lọc kỹ, ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 15 – 20ml sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.

BS. Phó Thuần Hương

Theo SKDS

Những tương tác nguy hiểm giữa rượu và thuốc

Rượu là một dung môi hữu cơ. Thuốc cũng phần lớn là các chất hữu cơ, rất dễ hòa tan vào nhau, tạo nên một hỗn dịch có thể là tương hợp hoặc tương kỵ trong cơ thể con người.

Theo các nhà tương tác học thì rượu có tương tác với hàng trăm thuốc và dẫn xuất của nó. Có rất nhiều tương kỵ gây nên nhiều triệu chứng, bệnh lý như ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp, tăng hoặc hạ huyết áp, giãn mạch, tim đập nhanh, tăng hoặc hạ thân nhiệt, buồn nôn, ban đỏ, trụy tim mạch, thiểu năng tế bào gan, độc với gan, hạ đường huyết, tăng acid uric máu, xơ hóa gan, kích ứng tiêu hóa gây xuất huyết…

Tùy thuộc vào lượng rượu uống có thể đưa đến những triệu chứng lâm sàng, bệnh lý nặng nề có thể gây tử vong.

nhung-tuong-tac-nguy-hiem-giua-ruou-va-thuoc

Dưới đây là một số tương kỵ thường gặp khi uống thuốc đồng thời uống rượu và ngược lại:

Hiệu ứng antabuse: Rượu tạo nên một tỷ lệ bất thường acetaldehyd tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo các dấu hiệu làm tăng như cơn vận mạch, giãn mạch nặng, nhịp tim nhanh, thân nhiệt tăng cao, buồn nôn, nôn, phát ban da, có thể gây hạ huyết áp, trụy tim mạch có thể đưa đến tử vong. Hiệu ứng này xảy ra với các thuốc sau đây:

Các thuốc chống nấm dẫn xuất imidzol, đặc biệt với các loại thuốc uống (ketoconazol, miconazol, tinidazol…).
Các thuốc biguanid và dẫn xuất trị tăng đường huyết như buformin, metformin.
Các cephalosporin có cấu trúc nhân tetrazol như cefamandol, latamoxef, cefoperazon, cefmenoxim…
Các sulfamid trị tăng đường huyết như glibenclamid, gliclazid, glipizid, gliquidon, tolbutamid…
Với các thuốc khác như isoniazid (trị lao), griseofulvin (thuốc trị nấm), nitrofural (kháng sinh tổng hợp nhóm nitrofuran), các phenicol (kháng sinh như chloramphenicol), procarbazin (tác nhân kìm tế bào tân sinh) cũng gây hiệu ứng antabuse.
Ức chế thần kinh trung ương, gây tăng an thần, ngủ sâu đến hôn mê với các thuốc sau đây:

Amantadin, thuốc trị virut cúm típ A2 và trị triệu chứng Parkinson; các chất chủ vận morphin; thuốc trầm cảm 3 vòng; thuốc chống động kinh không barbituric như natri valproat; các thuốc kháng histamin H1 làm dịu; barbituric (thuốc ngủ); các benzodiazepin gây an thần, giải lo âu gây ngủ, giãn cơ chống co giật; các carbamat; carbamazepin (thuốc trị động kinh); dantrolen (thuốc thư giãn cơ); dextropropoxyphen (thuốc giảm đau); fluoxetin (thuốc trị trầm cảm); fluvoxamin (thuốc trị trầm cảm không an thần); glutethimid (an thần, gây ngủ); interferon alfa (thuốc trị virut); mianserin (thuốc trị trầm cảm); medifoxamin (thuốc trị trầm cảm); methyldopa (trị tăng huyết áp); oxaflozan (thuốc trị trầm cảm); primidon (thuốc trị động kinh).

Có thể nói để dễ nhớ, tương kỵ giữa rượu (kể cả những chế phẩm có chứa rượu) và các thuốc gây nên ức chế thần kinh trung ương đến mức chống chỉ định tuyệt đối là các thuốc gây ngủ, an thần, thuốc trị động kinh, thuốc chống trầm cảm và thuốc kháng histamin H1 làm dịu.

Lại càng phải được chú ý với người đứng máy, người lái xe, người làm việc trên cao hoặc làm việc nơi nguy hiểm, người đang cần tập trung tinh thần, tư tưởng cho công việc.

Độc với gan: Gan là cơ quan có nhiều chức năng đối với quá trình chuyển hóa, tham gia vào nhiều cơ chế duy trì và điều hòa hoạt động của cơ thể để duy trì sự hằng định (tương đối) ở máu, nhất là vai trò thải độc của cơ thể.

Rượu, bản thân nó đã là kẻ thù của gan, nếu dùng cùng lúc với các dẫn xuất imidazol, đặc biệt với ketoconazol (thuốc chống nấm) nguy cơ độc với gan tăng rất cao, với các dẫn xuất biguanid (thuốc trị đái tháo đường) gây thiểu năng tế bào gan. Hầu hết các thuốc gây hiệu ứng antabuse trên đây đều cũng gây độc với gan. Ngoài ra còn methotrexat do cộng hợp tác dụng phụ rất độc với gan gây xơ hóa gan, với paracetamol dùng liều cao và dài ngày làm tăng chất chuyển hóa độc với gan.

Hạ đường huyết quá mức: Nhất là uống rượu lúc đói trong khi có dùng các biguanid (metformin, buformin…) các sulffamid hạ đường huyết (xem trên đây), đặc biệt insulin sẽ gây hạ đường huyết nặng nề biểu hiện toát mồ hôi, chóng mặt, đánh trống ngực, đói cồn cào, run rẩy, bồn chồn, tê tay chân, lưỡi, môi, choáng váng, nhức đầu, lơ mơ, mắt mờ. Có thể bị kích thích bất thường, nặng hơn có thể dẫn đến hôn mê, co giật và nguy cơ tử vong.

Hạ huyết áp: Rượu cùng với các thuốc chủ vận morphin không những gây ức chế thần kinh trung ương, tăng an thần, ức chế hô hấp mà còn gây hạ huyết áp. Các thuốc dẫn xuất nitrat như nitroglycelin và các thuốc trị tăng huyết áp gây giãn mạch, chống đau thắt ngực đều làm hạ huyết áp quá mức. Với guanethidin gây hạ huyết áp thế đứng, có thể ngã, với viloxazin, nicorandil không những gây hạ huyết áp mà còn có thể dẫn tới sốc rất nguy hiểm.

Độc tính với dạ dày: Bản thân rượu cũng đã độc với dạ dày. Thật sai lầm là một số người dùng aspirin để giải những cơn say. Xin lưu ý rằng các dẫn xuất của salicylat (như aspirin) trong môi trường rượu sẽ gây kích ứng tiêu hóa dẫn đến xuất huyết. Với colchicin, một thuốc đặc hiệu trị bệnh gút, cùng với rượu không những độc với dạ dày ruột mà còn làm giảm tác dụng điều trị kèm theo tăng acid uric máu.

Còn khá nhiều thuốc khác nữa nên tránh dùng đồng thời với rượu như thuốc chống đông máu kháng vitamin K (làm giảm tác dụng), với etretinat gây tăng lipid máu, với các thuốc ức chế monoamino oxydase không chọn lọc gây hiệp đồng ức chế thần kinh trung ương, với các thuốc mê bay hơi halogen gây đối kháng tác dụng gây ngủ…

Trên đây là nói tương kỵ giữa thuốc và rượu nhưng là rượu “sạch”. Nhưng nếu lại dùng phải rượu “bẩn”, rượu có nhiều tạp chất như ceton, aldehyd, chất bay hơi, đặc biệt là methanol và các chất khác lạ làm cho nó bốc thì sự nguy hại ấy sẽ tăng lên gấp bội.

Nguồn khoa học

Chứng bệnh rối loạn nhân cách chống xã hội

Rối loạn nhân cách chống xã hội hay mất cân bằng tâm thần là một trạng thái không bình thường của nhân cách biểu hiện chủ yếu bằng sự khó hoặc không thích ứng thường xuyên với các quy tắc đạo đức xã hội và pháp luật.

Phần lớn những người rối loạn nhân cách chống xã hội xuất thân trong những gia đình không được hoà thuận trong cuộc sống, vắng bố hoặc chịu sự giáo dục không thích hợp, thường là bố quá nghiêm khắc trong khi mẹ quá nuông chiều.

chung-benh-roi-loan-nhan-cach-chong-xa-hoi

Lớn lên trong môi trường xã hội không ổn định, nhiều tội phạm, thường là những đối tượng bị ruồng bỏ, ngược đãi…Nghiên cứu tiền sử gia đình cho thấy những người có rối loạn này thường có bố nghiện rượu và rối loạn nhân cách chống xã hội, mẹ có nhân cách kịch tính (histrionic) và rối loạn phân ly (histeria).

Theo nhiều tác giả chính sự kết hợp hai yếu tố môi trường xã hội và di truyền đã hình thành kiểu rối loạn nhân cách này.

Rối loạn thường xuất hiện ở tuổi dậy thì ở trẻ gái và sớm hơn ở trẻ trai. Biểu hiện của rối loạn nhân cách thể hiện rõ nét ở sự mất kìm chế bản thân, thường có những hành vi xung động như không thích ứng được khi có xung đột hay những sự kiện gây bất mãn, không nhận thấy lỗi lầm của mình, luôn quy trách nhiệm cho người khác và xem mình là nạn nhân, không tính đến điều phải trái cũng như hậu quả, do đó dễ dẫn đến kích động, đập phá, xâm phạm, bỏ trốn hay tự sát…Khí sắc thường không ổn định,lo âu, trầm cảm, hay thay đổi chỗ ở, lạm dụng rượu; ma tuý…

Người bị rối loạn nhân cách cũng thường vi phạm các quy tắc đạo đức xã hội, nhất là trong hoạt động tình dục. Ở nữ giới thường thấy có những nét kịch tính của rối loạn phân ly. Do đặc điểm nhân cách không bình thường này, người bị rối loạn thường có những hành vi phạm tội.

Do càng ngày càng có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống, được giáo dục đúng cách trong môi trường thích hợp rối loạn có thể giảm sau nhiều năm.

Ngược lại, rối loạn tiến triển ngày càng nặng hơn nếu tiếp tục sống trong điều kiện môi trường không thuận lợi và thường có tỉ lệ tử vong cao do thanh toán lẫn nhau giữa các băng nhóm, do biến chứng của việc sử dụng rượu, ma tuý, tai nạn hoặc tự sát…

Để hạn chế sự hình thành rối loạn nhân cách chống xã hội chủ yếu vẫn là sự giáo dục đúng hướng và đảm bảo một môi trường sống lành mạnh.

BS Ngô Văn Lương
Nguồn thuốc việt nam

Thực phẩm làm mất giấc ngủ

Sau một ngày làm việc mệt mỏi, cơ thể chúng ta cần nghỉ ngơi, hệ thống tiêu hóa cũng không phải ngoại lệ. Dưới đây là những thực phẩm có hàm lượng chất béo cao, hoặc khó tiêu mà bạn nên tránh ăn trước khi đi ngủ.

Kẹo: Một thực tế mà mọi người ít biết là khi ăn thực phẩm chứa nhiều đường, đặc biệt là kẹo sẽ khiến bạn ngủ không ngon, thậm chí là mất ngủ. Hàm lượng đường trong kẹo kích thích, tạo sóng não bất thường, gây ra các cơn ác mộng. Vì vậy, nếu bạn muốn có một giấc ngủ ngon và yên bình, hãy tránh ăn vặt và ăn các loại thực phẩm thay thế, chứa ít calo như yến mạch.

thuc-pham-lam-mat-giac-ngu

Thịt đỏ: Mặc dù thịt đỏ là nguồn cung cấp chất sắt và protein tốt cho cơ thể nhưng không nên ăn trước khi ngủ bởi chúng khó tiêu hóa, gây đầy bụng và khiến bạn mất ngủ.

Chocolate: Chocolate đen tốt cho não bộ và trí nhớ nhưng không tốt cho vòng eo của bạn. Chocolate đen chứa nhiều caffeine và các chất kích thích khiến tim đập nhanh, não tập trung trong khi cơ thể lại đang muốn nghỉ ngơi, thư giãn.

Một số loại rau: Rau chứa nhiều vitamin tốt cho cơ thể nhưng một số loại rau chắc chắn không phải là sự lựa chọn tuyệt vời nếu bạn muốn đi ngủ sớm. Các loại rau như hành tây, cải xanh hoặc cải bắp chứa một lượng lớn chất xơ không hòa tan, khiến bạn đầy bụng, khó chịu khi ngủ.

Rượu, bia: Rượu, bia chứa nhiều chất kích thích và có hàm lượng calo cao. Nếu uống rượu trước khi ngủ, cơ thể sẽ đổ nhiều mồ hôi khiến bạn có cảm giác khó chịu, dễ tỉnh dậy nhiều lần trong đêm.

Bánh hamburger: Giống như các loại thực phẩm giàu calo và chất béo khác, bạn nên tránh ăn các loại bánh hamburger trước khi đi ngủ vì chúng kích thích việc sản xuất axit trong dạ dày và gây ra chứng ợ nóng vào ban đêm.

Tương ớt: Tương ớt trộn vào một số loại thực phẩm khác có thể giúp bạn ăn ngon miệng hơn. Tuy nhiên, nó có thể làm giảm quá trình đốt cháy carbohydrates trong cơ thể.

Bim bim và đồ rán: Các chuyên gia khuyến cáo nên hạn chế ăn bim bim, đồ rán vào bất kỳ thời gian nào trong ngày, đặc biệt là trước lúc đi ngủ do chúng có chứa một lượng lớn một loại bột ngọt gây rối loạn giấc ngủ.

Theo ANTĐ

Muốn giảm cân cần phải tránh những đồ uống nào

Những gì bạn uống cũng quan trọng như những gì bạn ăn trong quá trình giảm cân của bạn. Để giảm cân hiệu quả, bạn không chỉ cần phải lựa chọn thực phẩm lành mạnh mà còn phải chọn đúng loại thức uống cho mình…

Soda

Có thể bạn nghĩ rằng, 1 lon soda mỗi ngày sẽ chẳng nhằm nhò gì. Tuy nhiên, theo tính toán, nếu trung bình mỗi ngày bạn uống 1 lon soda, tức là bạn đã nạp 200.000 calorie 1 năm. Đó là chưa kể đến các loại thực phẩm và đồ uống khác. Hãy loại bỏ soda khỏi danh sách thức uống của bạn nếu muốn giảm cân. Tốt nhất hãy thay nó bằng nước lọc.

Nước giải khát có đường

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy những người thường xuyên uống các loại nước giải khát có đường nhân tạo có xu hướng ăn nhiều hơn những người không uống hoặc uống không thường xuyên. Thế nên, nếu muốn giảm cân và ăn uống lành mạnh, hãy gạt các loại thức uống có đường ra khỏi chế độ dinh dưỡng của bạn và thay bằng những loại thức uống lành mạnh hơn như nước lọc, trà xanh, trà thảo mộc.

Cà phê sữa, cà phê kem
ca-fe-kem
Những loại thức uống quyến rũ này có khả năng khiến bạn gặp khó khăn trong việc giảm cân. Tuy nhiên, không nhất thiết phải loại bỏ chúng, bạn chỉ cần thay bằng loại cà phê capuchino không béo.

Sinh tố

Sinh tố có thể là một loại thức uống dinh dưỡng tuyệt hảo thay thế cho các món ăn vặt khác trong chế độ giảm cân. Tuy nhiên, sinh tố cũng có thể trở thành thảm họa cho chế độ giảm cân của bạn nếu bạn cho quá nhiều đường, sữa và các phụ gia giàu năng lượng khác vào. Hãy đảm bảo rằng bạn chỉ uống loại sinh tố ít đường, không có phụ gia giàu năng lượng thì mới mong đạt được mức cân nặng mong muốn.

Rượu

Cách tốt nhất để tăng cân đó là uống nhiều rượu. Và, tất nhiên, nếu bạn muốn giảm cân, hãy tránh xa rượu, nếu không hãy hạn chế hết mức có thể.

Thái Ann
Dịch từ: About

Giải độc sau khi uống rượu bia bằng khoai tây

Uống thật nhiều nước kết hợp đi tiểu sau bữa nhậu, luộc vài củ khoai tây để ăn sau khi thức dậy, tiếp đó ăn một hoặc vài bữa chay với rau củ, đậu hũ…

Trước hết, sau bữa nhậu nên uống ngay một lượng nước nhiều hơn lượng bia đã tiêu thụ, nếu được gấp đôi càng tốt. Lời khuyên này chỉ hợp lý và khả thi với người chỉ tiêu thụ một vài lon bia. Với người “thấm giọng” mỗi lần cả két bia thì không còn sức để uống hai két nước sau đó.
khoai-tay
Ăn vài củ khoai tây luộc khi thức dậy sau bữa nhậu có thể giúp giảm acid uric có hại cho cơ thể.

Pha loãng lượng bia trong cơ thể là biện pháp hữu dụng để giảm lượng acid uric trong máu. Quan trọng hơn nữa là sau đó phải đi tiểu để đào thải cho bằng được chất này trước khi acid uric kịp thời tìm chỗ ẩn náu đâu đó trên đường tiết niệu hay trong khớp.

Kế đến, ăn chay một bữa cho đích đáng, nghĩa là chỉ toàn rau cải, đậu hũ… ngay sau bữa tiệc đậm đà bia rượu thịt mỡ. Nếu ăn chay được vài bữa liên tục càng tốt vì tác dụng giải độc. Nhóm người có cơ tạng dễ bị tăng chất sinh sạn trong khớp, hay gai cột sống, có thể phòng bệnh không khó nếu mỗi tháng định kỳ chọn ra 7-10 ngày để ăn chay trường.

Sau hết, luộc vài củ khoai tây để ăn sáng hôm sau bữa nhậu. Phải là khoai tây mới được vì tác dụng hạ acid uric của hoạt chất trong khoai lang tây đã được xác minh từ lâu. Tác dụng này không có trong khoai lang ta.

Về mặt khoa học, không quá khó để ngăn chặn tình trạng tăng acid uric trong máu do rượu bia. Cái khó là ở chỗ làm sao thuyết phục người uống bia tuân thủ các biện pháp phòng bệnh tương đối đơn giản như trên.

Theo VNE

Viêm niêm mạc dạ dày

I. Định nghĩa viêm niêm mạc dạ dày

Theo các chuyên gia y học, viêm dạ dày là hậu quả của sự kích thích niêm mạc bởi các yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh như: nhiễm độc hóa chất, nhiễm khuẩn (vi khuẩn HP), các rối loạn miễn dịch…

Viêm niêm mạc dạ dày được chia thành 2 nhóm là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính. Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng. Trong thực tế khám và chữa bệnh hằng ngày, các thầy thuốc gặp chủ yếu là viêm dạ dày mạn tính.

II. Viêm dạ dày cấp tính

viem-niem-mac-da-day-300x214

1. Định nghĩa

Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ dày.

2. Nguyên nhân

Các yếu tố làm tăng tiết acid dịch vị dạ dày đồng thời làm giảm sản xuất các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày ( dịch nhày bao phủ, pepsin…), giảm lượng máu lưu thông đến dạ dày, do đó làm cho chất acid ứ đọng trong lòng dạ dày dẫn đến tổn thương niêm mạc dạ dày:

– Thuốc: Aspirin, thuốc kháng viêm không có steroid, corticoid…

– Thức ăn: thức ăn cay nóng, gây dị ứng…

– Hóa chất: Rượu, thuốc lá, ngộ độc thuốc trừ sâu, acid…

– Vi khuẩn, vi rus: trong thức ăn hoặc thường gặp nhất là HP (Helicobacter pylori)

– Stress, tia xạ…

3. Triệu chứng

Bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp tính có thể không có triệu chứng gì nếu bệnh nhẹ. Trong trường hợp bệnh nặng hơn, bệnh nhân có thể đau bụng, nhiều nhất là vùng thượng vị, đầy chướng bụng, khó tiêu ăn mất ngon, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn. Nặng hơn nữa (viêm có loét chảy máu) có thể nôn ra máu và đi cầu ra phân đen.

Tùy theo tình trạng bệnh, bệnh nhân có thể được cho làm một số xét nghiệm: công thức máu, xét nghiệm phân… Quan trọng và có ý nghĩa nhất là Nội soi dạ dày và sinh thiết niêm mạc dạ dày vùng nghi ngờ có tổn thương

4. Nguyên tắc điều trị

* Không dùng thuốc

– Hạn chế thức ăn kích thích dạ dày: rượu, thuốc lá, cafe, chè, đồ uống có ga, đồ ăn cay nóng…

– Chia làm nhiều bữa trong ngày, ăn nhẹ, thức ăn lỏng mềm, đủ dinh dưỡng

– Thể dục thể thao điều độ, ăn ngủ nghỉ đúng giờ giấc, tránh căng thẳng stress, không thức quá khuya…

– Hạn chế dùng thuốc đã kể trên

* Dùng thuốc

– Giảm tiết acid dịch vị dạ dày,

– Bao bọc bảo vệ niêm mạc dạ dày

– Diệt vi khuẩn

– Giảm đau, chống co thắt

5. Tiến triển, biến chứng

Nếu chế độ điều trị tốt, hầu hết bệnh nhân viêm dạ dày cấp cải thiện rất nhanh.

Nếu điều trị không tốt, bệnh nhân có thể bị mất máu nhiều do chảy máu rỉ rả, hay bệnh có thể diễn tiến sang viêm dạ dày mạn tính.

III. Viêm dạ dày mạn tính

1. Định nghĩa

Viêm dạ dày mạn tính là tình trạng tổn thương có tính chất kéo dài và tiến triển chậm không đặc hiệu, có thể lan toả hoặc khu trú tại một vùng của dạ dày (hang vị, môn vị, tâm vị, hoặc viêm toàn bộ niêm mạc dạ dày).

Lúc đầu là viêm phì đại, về sau là viêm teo, thường là thoái hóa teo đét các tế bào tuyến.

2. Nguyên nhân

– Sự kích thích lâu ngày của các thuốc kháng viêm không phải steroid, corticoid…

– Tình trạng nhiễm vi khuẩn H. pylori,

– Thiếu máu ác tính (còn gọi là thiếu máu tế bào khổng lồ hay thiếu hấp thu vitamin B12, một loại bệnh tự miễn),

– Thoái hóa của lớp niêm mạc dạ dày theo tuổi,

– Trào ngược dịch mật mạn tính.

– Thói quen ăn uống: Nuốt nhiều, nhanh, nhai không kỹ, bữa ăn không đúng giờ giấc, Ăn nhiều thức ăn có nhiễm chất các hoá học dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ thực phẩm, Ăn nhiều gia vị ( chua, cay ), uống cà phê đặc, uống rượu, hút thuốc lá lâu ngày sẽ tác động có hại cho niên mạc dạ dày và gây bệnh.

– Các yếu tố hóa – lý ( phóng xạ, quang tuyến ), một số thuốc nhuận tràng dùng kéo dài, các thuốc bột kiềm gây trung hoà dịch vị quá mức sẽ dẫn tới phản ứng đột biến tăng tiết a xít HCL làm tổn thýõng niêm mạc dạ dày.

– Suy dinh dưỡng: thiếu Fe, thiếu B12, thiếu a xít folic, vitamin C, vitamin PP, thiếu protein.

– Rối loạn nội tiết : trong suy yếu tuyến yên, bệnh Hashimoto, thiểu năng cận giáp, bệnhAddison, tiểu đường …

– Dị ứng: Một số bệnh ngoài da ( mày đay, eczema, licben…) hoặc do ăn uống

– Yếu tố miễn dịch: mới đây phát hiện thấy có các kháng thể kháng tế bào thành, kháng yếu tố nội sinh (chỉ thấy trong bệnh Biermer ), song cõ chế bệnh lý chưa rõ.

– Các rối loạn tâm lý rối loạn thần kinh thực vật, có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hoá.

– Yếu tố di truyền: thấy rõ hơn cả trong bệnh Biermer (Hấp thu B12 kém )

3. Triệu chứng

– Cảm giác nặng bụng, chướng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ cảm giác đắng miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường.

– Nóng rát vùng thượng vị : xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau ăn uống một số thứ như : bia, rýợu, vang trắng, gia vị cay, chua hoặc ngọt. Sau ăn mỡ xuất hiện nóng rát có thể là do trào ngược dịch mật vào dạ dày. Có một số trường hợp nóng rát xuất hiện muộn sau bữa ăn.

– Đau vùng thượng vị : Không đau dữ dội, thường chỉ là cảm giác khó chịu, âm ỉ thường xuyên tăng lên sau ăn.

– Toàn trạng bệnh nhân có thể gầy đi một chút ít, da khô tróc vẩy, có vết ấn của răng trên rìa lưỡi, lở loét, chảy máu lợi, Lưỡi rêu trắng.

4. Nguyên tắc điều trị

– Điều trị các nguyên nhân nếu có,

– Bảo vệ niêm mạc dạ dày, kích thích bài tiết nhầy

– Duy trì tái sinh niêm mạc, Cải thiện tuần hoàn niêm mạc

– Điều trị chống vi khuẩn H. pylori.

– Chống co thắt,

– Chống stress

– Ăn chậm, nhai kỹ, ăn những loại thức ăn dễ tiêu, nấu chín kỹ, khoảng cách giữa các bữa ăn hợp lý, tránh loại thức ăn nhiều chất xơ, quá nóng, qua lạnh, cứng rắn. Kiêng các chất cay, chua, mỡ rán, rượu, cà phê, thuốc lá.

5. Tiến triển biến chứng

Viêm dạ dày mạn tiến triển từ từ, hình thái niêm mạc thay đổi dần dần từ viêm phì đại đến viêm teo (thể teo đơn thuần, thể teo có loạn sản) có thể gây ra một số biến chứng như: Ung thư dạ dày, Xuất huyết tiêu hoá, Viêm quanh dạ dày, tá tràng, Viêm túi mật mạn, viêm tụy mạn

Bài thuốc dân gian trị đau răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nướcsắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

nghe-vang

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nướcđặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài,thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liềnhoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấmthuốc 3 – 5 lần.

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bênngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vịlá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụnggiảm đau nhanh hơn.

Theo Bác sĩ Thu Vân
SKĐS

Chế độ ăn uống ngày tết cho người mắc bệnh gan

Trong dịp Tết, do bị mời ép nhiều nên không ít bệnh nhân ăn uống quá độ hoặc ăn những món không phù hợp, khiến các bệnh về gan bộc phát mạnh hơn.

che_do_an_uong_ngay_tet_cho_nguoi_mac_benh_gan

Hạn chế các món ăn có nhiều mỡ.

Những bệnh gan cần phải kiêng nghiêm ngặt

Việc thực hiện chế độ ăn nghiêm ngặt có ý nghĩa quan trọng đối với những người có bệnh gan mạn tính và lan tỏa như:

– Viêm gan do virus: ngay cả khi không phát bệnh, người nhiễm virus viêm gan vẫn phải cẩn thận, vì sự quá chén có thể tạo điều kiện cho virus đột phá, gây viêm gan.

– Gan nhiễm mỡ: thường gặp ở người nghiện rượu, tăng đường huyết hoặc mỡ máu. Những bệnh này thường là hậu quả của việc ăn uống quá nhiều chất bổ dưỡng.

– Viêm gan mạn tính, xơ gan. Trường hợp mắc các bệnh gan có tính khu trú (như áp-xe gan đã khỏi hoàn toàn, các u mạch và nang gan…) không cần quá kiêng cữ trong ăn uống.

Phải tiếp tục kiêng rượu

Nhất là các loại rượu nặng. Không nên vì cả nể hoặc ham vui mà quên mất bệnh tật của mình. Đối với rượu vang hay bia, có thể dùng để khai vị nhưng không nên uống nhiều (tối đa 1 lon bia hoặc 1- 2 chén nhỏ rượu vang mỗi ngày), cũng không nên uống đều đặn tất cả các ngày.

Các món ăn giàu mỡ – vốn rất nhiều trong dịp Tết – cũng không có lợi cho người mắc bệnh gan. Những người đã và đang bị phù (hoặc cổ trướng) vẫn phải tiếp tục ăn nhạt.

Bánh kẹo ngọt cũng là loại thực phẩm mà những người bị tăng đường huyết hoặc gan nhiễm mỡ cần hạn chế, không ăn quá lượng kẹo đã được thầy thuốc quy định. Đối với người bị tăng đường huyết, để không làm giảm khẩu vị, có thể dùng các chất tạo ngọt không sinh năng lượng để cho vào cà phê, nước hoa quả và các thức ăn, đồ uống khác.

Cần bảo đảm đủ 50 – 60g đạm mỗi ngày từ nguồn động vật (thịt bò, thịt lợn nạc, thịt gà vịt bỏ da, tôm cá) và thực vật. Tuy nhiên, không nên ăn quá nhiều đạm vì lá gan bị bệnh sẽ không đủ khả năng chuyển hóa hết các chất này, gây khó tiêu và đầy bụng. Lượng amoniac (chuyển hóa từ đạm) không được gan xử lý hết sẽ biến thành u-rê, gây tác hại cho cơ thể.

Ngoài ra, người bệnh gan phải cẩn thận hơn trong việc giữ vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngày Tết. Ở những người bị viêm gan mạn tính đang ổn định, các chứng tiêu chảy và ngộ độc thức ăn có thể gây ra một đợt tiến triển, có khi rất nặng. Những rối loạn về tiêu hóa cũng có thể làm cho bệnh xơ gan trở nên nặng hơn, gây phù hoặc cổ trướng.

GS. NGUYỄN XUÂN HUYÊN
Theo SKĐS

Rượu và nguy cơ tim mạch

Những buổi ký kết hợp đồng, liên hoan, gặp gỡ đối tác vào dịp cuối năm hay đầu năm mới…  hầu như không thể thiếu ly rượu. Từ bị “ép buộc”, rượu trở thành “thói quen”, là “thú vui trần thế” với nhiều doanh nhân lúc nào chẳng hay. Và nếu quá đà, người uống rượu phải đối mặt với biết bao hệ lụy, đặc biệt là các bệnh về tim mạch.

Một buổi chiều, một bệnh nhân được đưa đến phòng khám của tôi trong tình trạng suy gan nặng, bụng báng, tràn dịch màng phổi. Bốn mươi tư tuổi mà anh ta đã có thâm niên uống rượu 25 năm, uống suốt ngày. Anh đã bị xơ gan và xơ vữa động mạch do uống quá nhiều rượu.

ruou_va_nguy_co_tim_mach

Uống nhiều rượu gây nguy hại đến hệ tim mạch

Nhiều bệnh tim mạch và mạch máu của não có liên quan đến uống rượu, gây gia tăng đáng kể về tỉ lệ bệnh và tỉ lệ tử vong. Trên thực tế, rượu có nhiều ảnh hưởng trên hệ tim mạch.

Cả hai tình trạng nghiện rượu cấp tính hay mạn tính đều ảnh hưởng đến huyết áp của người uống rượu. Nếu uống rượu nhiều và uống lâu dài có thể ảnh hưởng lên cả cơ của quả tim. Từ đó sẽ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như: rối loạn nhịp tim, rung nhĩ…

Tăng huyết áp

Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu trên một số lượng khá lớn bệnh nhân cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa việc uống rượu và tăng huyết áp. Ví dụ công trình nghiên cứu INERSALT tiến hành trên 4.626 đàn ông và 4.647 đàn bà tuổi từ 20 – 59 của 32 quốc gia cho thấy: đàn ông uống từ 300 – 499ml rượu mỗi tuần có huyết áp tâm thu trung bình cao hơn những người không uống rượu là 2,7mmHg của huyết áp tâm thu và 1,6mmHg huyết áp tâm trương. Đàn ông uống trên 500ml rượu mỗi tuần sẽ có huyết áp tâm thu và tâm trương cao hơn những người không uống rượu là 4,6/3. Trong khi phụ nữ nếu uống trên 300ml rượu mỗi tuần sẽ có huyết áp cao hơn những phụ nữ không uống rượu là 3,9/3,1mmHg.

Cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: người uống các loại rượu có độ cồn cao, rượu nặng sẽ có biến chứng cao huyết áp nhiều hơn so với người uống các loại rượu có độ cồn thấp (dưới 300).

Một nghiên cứu khác trên 58.218 y tá ở Mỹ cho thấy: trong 4 năm, những người uống trên 20g rượu mỗi ngày có sự gia tăng đáng kể nguy cơ cao huyết áp và mức độ cao huyết áp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ lệ thuộc vào rượu của bệnh nhân.

Rượu và bệnh thiếu máu cơ tim

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa người uống rượu bị bệnh thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, sự liên quan này tỉ lệ nghịch với lượng rượu uống mỗi ngày. Có nghĩa là: uống rượu vừa phải thì tỉ lệ bệnh thiếu máu và nhồi máu cơ tim sẽ giảm, còn nếu uống nhiều rượu quá thì nguy cơ thiếu máu và nhồi máu cơ tim sẽ gia tăng. Một nghiên cứu trên 12.321 bác sĩ ở nước Anh cho thấy: rượu (uống ít vừa phải) làm gia tăng tỉ lệ HDL Cholesterol là một loại Cholesterol tốt có tác dụng bảo vệ thành mạch và cơ tim. Trong khi đó, nó làm giảm LDL Cholesterol, một loại cholesterol xấu gây xơ vữa và nghẽn tắc lòng mạch máu.

Ngoài ra, rượu cũng làm giảm lượng chất Fibrinogen trong máu cũng như giảm quá trình kích hoạt tiểu cầu, từ đó làm giảm khả năng hình thành các cục máu đông trong lòng mạch. Vấn đề này có lẽ liên quan đến sự hiện diện của nhiều chất chống oxy hóa trong rượu vang đỏ của Pháp. Đây là một lợi điểm đáng lưu ý của rượu vang đỏ.

Rượu làm rối loạn nhịp tim

Những người nghiện rượu nặng, sau những đợt uống nhiều rượu, có thể có những đợt bị rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ngoại tâm thu trên thất. Người ta thường gọi “Hội chứng ngày nghỉ lễ”, để chỉ sự rối loạn nhịp tim ở người có trái tim bình thường sau khi uống nhiều rượu trong dịp lễ hoặc hội hè. Ở những người dưới 65 tuổi thì uống nhiều rượu sẽ là một nguyên nhân chính, chiếm đến 63% các trường hợp loạn nhịp tim kiểu rung nhĩ.

Uống nhiều rượu có thể gây suy tim

Rượu có thể gây tác hại trực tiếp trên cơ tim, nhất là tâm thất bên trái và có thể dẫn đến suy tim. Một nguyên nhân nữa thúc đẩy quá trình này là do trong khẩu phần ăn của những người nghiện rượu thường thiếu vitamin B1, và sự thiếu hụt này sẽ dẫn đến suy tim. Người ta gọi những trường hợp này: bệnh cơ tim do rượu.

Rượu và thú vui trần thế

Nhưng rượu không chỉ hoàn toàn có hại: ở những người uống rượu với mức độ vừa phải sẽ làm giảm 40 – 70% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành so với những người không uống hoặc uống quá nhiều rượu. Với các mạch máu ngoại vi như: động mạch đùi, khoeo, cánh tay… thì rượu làm giảm bớt nhiều khả năng mắc bệnh. Một nghiên cứu cho thấy: tỉ lệ người uống rượu điều độ mỗi ngày bị bệnh động mạch ngoại vi chỉ bằng 0,92 so với người không uống hay chỉ uống dưới một lần/tuần. Ở những mạch máu này, tác hại của thuốc lá rõ ràng hơn nhiều. Một nghiên cứu khác cho thấy, nếu uống rượu điều độ, nhất là với các loại rượu vang đỏ, người sử dụng sẽ ít bị bệnh Parkinson và thoái não khi lớn tuổi.

Ở những người bình thường có thể uống 1 – 2 ly (loại dưới 30ml) rượu nhẹ dưới 300, nếu là vang đỏ thì càng tốt. Những người bị suy tim ứ huyết, cao huyết áp, rối loạn nhịp, phụ nữ có thai, lái xe… thì không nên hút thuốc lá và nhất là không nên hút thuốc lá đi kèm với uống rượu. Biết là như vậy, nhưng phần lớn nhân loại, nhất là người Việt Nam đều uống rượu và uống quá nhiều nữa. Họ uống bất kể sáng chiều, cứ có dịp là uống, gặp mặt bạn bè, ma chay, cưới xin thôi thì đủ cả. Thực tế ít người nào biết dừng lại ở mức độ cho phép và rượu cũng là nguyên nhân gây ra bao nhiêu thảm cảnh cho mỗi người, mỗi gia đình và cho cả xã hội. Làm thế nào để dung hòa được giữa sức khỏe và thú vui trần thế là bài toán nan giải vì nói chung sự tồn tại của mỗi con người không thể tách rời hai lĩnh vực trên. Một chút rượu (1 – 2 ly dưới 30ml rượu nhẹ mỗi ngày) để tăng sự hưng phấn, cho máu huyết chạy đều – như cách nói của ông bà ta là một chút vui trần thế, cũng được lắm chứ, tại sao lại tẩy chay rượu hoàn toàn? Nhất là trong những ngày xuân về, tết đến!

PGS. TS.  NGUYỄN HOÀI NAM
Theo SKĐS

Rượu gây ra các bệnh da liễu

Rượu là tác nhân gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng có tỷ lệ tử vong cao như: suy gan, tổn thương thần kinh, rối loạn huyết học, thiếu hụt dinh dưỡng… Rượu cũng gây ra các bệnh ngoài da nhưng thường có xu hướng bị bỏ quên so với các bệnh lý khác có liên quan đến việc sử dụng rượu.

Bệnh da liễu gián tiếp do rượu

Đa số các biểu hiện ngoài da kết hợp với việc sử dụng rượu quá mức là biểu hiện gián tiếp qua trung gian sự suy giảm của hệ thống nhiều cơ quan khác nhau. Rối loạn chức năng gan làm suy yếu sự biến dưỡng của muối mật và estrogen dẫn đến những biểu hiện đặc trưng của các u mạch máu phẳng hình mạng nhện, hồng ban lòng bàn tay và triệu chứng ngứa ngáy. Nam giới nghiện rượu sẽ có hiện tượng cường estrogen và sự sản xuất testosteron cũng bị ức chế đưa đến tình trạng vú hóa nữ (gynecomastia) với sự biến mất và phân phối lại của hệ lông cơ thể-lông mu cũng như sự phân phối lại mô mỡ theo mẫu hình nữ.

Nhiễm khuẩn ngoài da hay nhiễm khuẩn toàn thân do vi khuẩn, do virut hay vi nấm, cũng là một vấn đề khác của sức khỏe thường gặp ở người nghiện rượu. Việc này có thể do nhiều yếu tố gây ra như thiếu hụt dinh dưỡng kết hợp với suy giảm hệ miễn dịch. Đáng chú ý nhất là tình trạng thiếu hụt chất kẽm và thiếu hụt vitamin C sẽ dẫn đến sự chậm lành vết thương, suy yếu niêm mạc che chở và xáo trộn hệ miễn dịch phòng vệ làm tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn. Các tác dụng này của rượu còn có thể làm tăng nặng bệnh Zona, bệnh lậu (viêm niệu đạo cấp do lậu cầu khuẩn). Những vi khuẩn gây viêm nhiễm phổ biến là liên cầu khuẩn nhóm A, tụ cầu vàng và corynebacterium. Người uống nhiều rượu cũng dễ bị nhiễm nấm Candida và các loại vi nấm khác. Sự kém hấp thu liên quan đến nghiện rượu cũng là một nguyên nhân mà rượu có thể gây bệnh cho da – niêm mạc, ví dụ: viêm miệng, viêm lưỡi, pellagra, viêm da tiết bã, xuất huyết dưới da,…

benh_da_lieu_do_ruou

Bệnh da liễu trực tiếp do rượu

Porphyria Cutanea Tarda – PCT (Rối loạn chuyển hoá porphyrin – tăng hàm lượng porphyrin trong gan, nước tiểu) là một bệnh biến dưỡng có biểu hiện ngoài da. PCT có thể mắc phải hay di truyền, là bệnh do thiếu hụt một trong các men gan tham gia vào quá trình chuyển hoá porphyrin, đặc biệt là men uroporphyrinogen decarboxylase. Sự tích lũy tiền chất photoreactive porphyrin do tác dụng của rượu lên các men gan và sự biến dưỡng của hem đã làm da trở nên rất nhạy cảm với ánh sáng. Sang thương da của một đợt PCT cấp là những vết loét và phỏng ở vùng da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, sau khi lành sẽ để lại sẹo và có hiện tượng giảm sắc tố. Rượu làm suy yếu trung tâm vận mạch của não gây giãn mạch ngoại vi, làm gia tăng tình trạng giãn mạch ngoài da và góp phần làm da đỏ bừng khi uống rượu. Rượu cũng có thể gây hồng ban ở mặt ngay cả đối với những người không có bệnh trứng cá đỏ (rosacea) thông qua sự thiếu hụt di truyền enzyme chuyển hóa rượu aldehyd  dehydrogen.

Tại châu Á, các nghiên cứu cho thấy có 50% trường hợp thiếu khả năng tạo aldehyde dehydrogen dẫn đến việc tích tụ acetaldehyd sau khi uống rượu với nguy cơ phát triển ung thư đường tiêu hoá trên và ung thư gan rất cao.

Rượu với bệnh vảy nến

Nguyên nhân sinh bệnh vảy nến rất đa dạng, pha lẫn giữa yếu tố di truyền và nhiều yếu tố tác động từ bên ngoài: môi trường, chấn thương, nhiễm khuẩn… ảnh hưởng đến nguồn gốc và diễn tiến lâm sàng của bệnh.

Nhiều bằng chứng cho thấy  có mối liên quan giữa việc tiêu thụ rượu quá mức và bệnh vảy nến. Lượng rượu tiêu thụ và các loại thức uống có cồn đều được xác nhận có nguy cơ rất cao cho sự tiến triển và/ hoặc bùng phát sang thương bệnh vảy nến. Hơn nữa, việc lạm dụng rượu ở các bệnh nhân vảy nến đã được chứng minh có liên quan với sự giảm đáp ứng với điều trị. Ngoài ra, cần lưu ý rằng sang thương da của bệnh vảy nến ở người nghiện rượu có xu hướng phân bố chủ yếu ở các đầu chi, mặt lưng bàn tay và ngón tay, tương tự như ở các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Sự phân phối sang thương dạng này làm nổi bật vai trò tiềm năng của rượu đã gây ra suy giảm miễn dịch trong sự phát triển của bệnh vảy nến.

Cơ chế phân tử chính xác mà rượu đã gây ra hoặc làm trầm trọng thêm bệnh vảy nến vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ. Có giả thuyết cho rằng lạm dụng rượu có thể gây ra rối loạn chức năng miễn dịch với kết quả làm suy giảm miễn dịch tương đối. Rượu cũng có thể tăng cường sản xuất các cytokin gây viêm và kích hoạt chu trình tế bào, như cyclin D1 và yếu tố tăng trưởng tế bào keratin, như vậy có thể dẫn đến tăng sinh quá mức lớp thượng bì. Ngoài ra, sự nhạy cảm với nhiễm khuẩn bên ngoài thường thấy ở người nghiện rượu, chẳng hạn do liên cầu khuẩn và do chấn thương cũng đã được mặc nhiên công nhận có ý nghĩa trong sự phát triển của bệnh vảy nến.

Như vậy, đối với những nguyên nhân phát sinh bệnh vảy nến, yếu tố môi trường và di truyền thì rất khó tránh khỏi nhưng các hành vi xã hội như nghiện rượu hay lạm dụng rượu có thể được chủ động thay đổi tích cực góp phần khống chế hữu hiệu bệnh vảy nến.

Theo suckhoevadoisong