Tag Archives: rối loạn tiêu hóa

Cây thuốc dân gian chữa tiêu hóa kém

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám. Củ gấu có thể thu hoạch quanh nǎm. Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc.

Cây cỏ cú

Cây cỏ cú

Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt; tính bình có công dụng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu…

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 – 12g. Dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

Cách bào chế: Củ cỏ cú loại bỏ lông và tạp chất; rửa sạch để ráo sao đó nghiền vụn hoặc thái lát mỏng và đổ thêm giấm vào khuấy đều, ủ một đêm, đợi cho hút hết giấm, cho vào chảo sao lửa nhẹ đến màu hơi vàng, lấy ra, phơi khô. Cứ 10 kg Hương phụ dùng 2 lít giấm.

Một số bài thuốc có hương phụ
Chữa kinh nguyệt không đều: Hương phụ 3g, ích mẫu 3g, ngải cứu 3g, bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày.

Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh hoặc gần kỳ kinh hay đau bụng hoặc hương phụ chế tán bột ngày uống 10g với nước nóng hoặc nước ngải cứu. Dùng liên tục trong một tháng hoặc có thể lâu hơn.

Chữa đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa: Hương phụ 40g, riềng khô 80g (riềng chọn củ nhỏ màu vàng nhạt). Hai thứ tán nhỏ cất vào lọ kín, mỗi lần uống 6 – 8g (trẻ em mỗi lần uống 2 – 4g) với nước chè nóng. Uống 3 – 5 ngày.

Chữa tiêu hóa kém: Hương phụ (sao) 12g, vỏ quýt (sao) 12g, vỏ vối (sao) 12g, vỏ rụt (sao) 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống 5 ngày.

Chữa cảm cúm, gai rét, nhức đầu, đau mình: Hương phụ 12g, tía tô 10g, vỏ quýt 10g, cam thảo 4g, hành 3 cây, gừng tươi 3 lát, sắc uống (đơn thuốc của Tuệ Tĩnh).
Chú ý: Người âm hư huyết nhiệt không nên dùng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nguyên nhân gây rối loạn ăn uống ở phụ nữ tuổi trung niên

Chứng biếng ăn và cuồng ăn từng được xem là những vấn đề sức khỏe làm các cô gái tuổi thiếu niên phải ưu phiền. Tuy nhiên, các bác sĩ phát hiện rằng hiện ngày càng có nhiều phụ nữ lớn tuổi hơn cũng được chẩn đoán bị một dạng rối loạn ăn uống nào đó.

Bác sĩ Alexander Sackeyfio, một chuyên gia về tâm thần học và rối loạn ăn uống thuộc Bệnh viện Beaumont ở Royal Oak, bang Michigan nói rằng: “Chứng rối loạn ăn uống có thể xảy đến với bất kỳ ai vào bất kỳ giai đoạn nào trong đời. Tôi nghĩ rằng chúng ta ngày càng biết đến chứng này nhiều hơn và có thể chẩn đoán nó tốt hơn.”

Ông Doug Bunnell, giám đốc lâm sàng thuộc Trung tâm Renfrew ở Wilton, bang Connecticut nói rằng: Người ta thường có khuynh hướng mắc phải một sai lầm khác trong việc nhận thức về các rối loạn ăn uống là: họ cho rằng đó là các bệnh tâm lý nhưng lành tính có thể được điều trị dễ dàng và không để lại những ảnh hưởng nào lâu dài về thể chất.

roi-loan-an-uong

Ông Bunnel cũng là một thành viên trong ban giám đốc của Hiệp hội về các Rối loạn Ăn uống Quốc gia. Ông nói: “Người ta thường ngạc nhiên khi biết rằng các rối loạn ăn uống này có tử suất cao nhất, khoảng 10-15% trong các chẩn đoán về bệnh tâm thần.”

Theo Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia thì chứng biếng ăn làm người ta giảm cân đáng kể do chế độ ăn uống quá ép buộc hoặc cực đoan. Có khoảng 0,5-3,7% phụ nữ bị chứng biếng ăn tâm lý vào một thời điểm nào đó trong đời.

Những người bị chứng biếng ăn thường tự cho rằng mình bị quá cân mặc dù họ ốm đến mức nguy hiểm. Việc ăn uống trở nên nỗi ám ảnh kinh hoàng và hình thành các thói quen ăn uống bất thường như chỉ ăn một ít thức ăn, và ăn từng miếng nhỏ với số lượng được cân đo kỹ càng.

Chứng cuồng ăn có đặc trưng là ăn uống no say vô độ để rồi sau đó tống tháo ra bằng cách nôn mửa, dùng thuốc nhuận tràng hoặc tập thể dục quá độ. Có khoảng 1,1-4,2% phụ nữ Mỹ sẽ bị chứng cuồng ăn tâm lý trong đời.

Do tống tháo thức ăn ra ngoài nên người bị chứng cuồng ăn thường cân nặng trong giới hạn bình thường tính theo tuổi và chiều cao của họ. Tuy nhiên, họ cũng sợ bị tăng cân như người bị chứng biếng ăn. Do đó, họ thường có những hành vi ăn uống vô độ bí mật, cảm thấy bị ghét và hổ thẹn khi ăn uống như vậy, nhưng lại cảm thấy nhẹ nhõm sau khi họ tống tháo được hết ra ngoài.

Ông Bunnel nói rằng ông nhận thấy ngày càng có nhiều phụ nữ tuổi trung niên hoặc thậm chí lớn hơn đến điều trị chứng rối loạn ăn uống. Tuy nhiên, ông không chắc là tất cả có phải là những ca mới phát bệnh sau này hay không.

Ông nói: “Kinh nghiệm của tôi là hầu hết tất cả những phụ nữ ở độ tuổi 30 và 40 mà tôi đã gặp có những triệu chứng của rối loạn ăn uống đều đã từng có một vài biểu hiện của chứng này trước đây khi họ còn ở độ tuổi thường mắc bệnh. Có thể lúc đó bệnh không được chẩn đoán, hoặc không nghiêm trọng lắm. Tuy nhiên, họ đã từng có lúc phải thật sự chịu đựng căn bệnh này. Chúng tôi thường không gặp nhiều ca bị rối loạn ăn uống chỉ mới phát bệnh hoặc bệnh ngoài dự đoán ở phụ nữ lớn tuổi.”

Các bác sĩ khác tin rằng sự thay đổi kích thích tố gần giai đoạn mãn kinh cũng như những thay đổi ở tuổi trung niên như ly dị hoặc con cái trưởng thành ra ở riêng có thể gây ra chứng rối loạn ăn uống. Khi gia đình thay đổi, một số phụ nữ nhận thấy họ vẫn còn muốn có cảm giác nắm quyền và đó là một trong những nhu cầu mà chứng rối loạn ăn uống có thể đáp ứng.

Bác sĩ Sackeyfio nói rằng vấn đề rắc rối đối với những bệnh nhân nữ lớn tuổi đến điều trị bệnh ở tuổi xế chiều là họ có thể khó có được sự giúp đỡ mà họ cần. Trong nhiều thập niên qua, việc điều trị chỉ nhắm đến phụ nữ trẻ, và chỉ trong thời gian gần đây mới bắt đầu mở rộng lĩnh vực trị liệu bệnh này sang điều trị cho cả phụ nữ lớn tuổi, và nam giới.

Ông nói: “Không ai đáp ứng các nhu cầu của họ. Đôi khi đó cũng là vấn đề mà nam giới gặp phải.”

Ông Bunnel cho biết những người biếng ăn có khuynh hướng lo lắng về vóc dáng và cân nặng của họ, và họ thường hay lo lắng, cầu toàn và bị rối loạn về ám ảnh-ép buộc. Ngược lại, người cuồng ăn có khuynh hướng bị trầm cảm và bốc đồng và thường phải khổ sở với những vấn đề về dinh dưỡng – lạm dụng

Ông Bunnel nói: “Biếng ăn thường kiểm soát thái quá, căng thẳng và cứng nhắc, còn cuồng ăn ít được kiểm soát hơn, bốc đồng và không điều chỉnh được.”

Bác sĩ Sackeyfio nói rằng phươngpháp điều trị các rối loạn ăn uống cũng có nhiều tiến bộ và ngày nay các Bác sĩ nhấn mạnh hướng làm việc theo nhóm. Ông nói: “Lúc đầu, người ta xem chứng rối loạn ăn uống là một vấn đề tâm lý, nhưng nó nhanh chóng trở thành một vấn đề thuộc thể chất. Bạn cần có một người nào đó hiểu được những thay đổi về thể chất này để cùng làm việc nếu bạn là một nhà trị liệu.”

Bác sĩ Sackeyfio cho biết: Lý tưởng nhất là một người nào đó bị rối loạn ăn uống cần phải làm việc với một nhóm bao gồm bác sĩ tâm thần, bác sĩ dinh dưỡng và bác sĩ nội tổng quát.

Ông nói rằng điếu quan trọng nhất là những người xung quanh người bị rối loạn ăn uống cần phải hiểu rằng người bệnh thật sự bị mất kiểm soát và cần được giúp đỡ.

Ông nói: “Họ không phải là những đứa bé hư hỏng đang cố gắng gây khó khăn cho những người xung quanh. Họ hầu như không kiểm soát được những thay đổi về thể chất mà họ gây ra trong cơ thể mình.”

Theo HealthDay News

Bệnh rối loạn tiêu hóa

Không phải là bệnh chết người, nhưng rối loạn tiêu hóa đem đến cho bạn nỗi khổ sở, khó chịu thường xuyên và dai dẳng.

Đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện do sự co thắt không đều của các cơ vòng trong ống tiêu hóa chính là tình trạng rối loạn tiêu hóa. Nguyên nhân của rối loạn tiêu hóa được cho là sự bài tiết setoronin, hay việc sinh ra nhiều khí methan trong ruột và liên quan mật thiết đến chế độ ăn uống.

Giảm chất lượng cuộc sống

Hai triệu chứng đặc trưng nhất của rối loạn tiêu hóa là đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện. Cơn đau bụng có thể âm ỉ hoặc dữ dội, đau thành từng cơn, có thể đau ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi cơn đau từ bụng lan ra sau lưng.

roi-loan-tieu-hoa
“Lịch” đại tiện “quy củ’ trước đây hoàn toàn đảo lộn, mất hẳn tính đều đặn, khi thì tiêu chảy, lúc lại táo bón (tùy từng người mà tình trạng táo bón hay tiêu chảy nổi bật hơn).

Phần lớn bệnh nhân thường xuyên bị chướng căng bụng, hay ợ hơi và trung tiện. Ngoài ra, buồn nôn, nôn, hôi miệng, đắng miệng, ợ chua cũng có thể xảy ra.

Với người cao tuổi, rối loạn tiêu hóa là tình trạng phổ biến do sự xuống cấp của cơ quan này theo thời gian. Nước bọt, dịch dạ dày, ruột và dịch mật đều giảm mạnh. Hệ thống men tiêu hóa cũng chỉ còn một lượng nhỏ so với trước.

Rất nhiều bệnh của hệ tiêu hóa có từ trước như viêm loét dạ dày, tá tràng… không được điều trị dứt điểm, làm giảm hiệu quả việc “xử lý” thức ăn. Tất cả những yếu tố này khiến nhiều người cao tuổi dễ bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên.

Rối loạn tiêu hóa không gây nguy hiểm tính mạng nhưng thực sự làm bệnh nhân thấy mệt mỏi, kém thoải mái, thường xuyên trong tình trạng khó chịu. Vì thế, bệnh nhân nên đến bác sĩ để khám và điều trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Mặt khác, theo các chuyên gia, nhiều triệu chứng rối loạn tiêu hóa trùng với một số bệnh nguy hiểm như ung thư đường ruột, loét đường tiêu hóa, viêm đại tràng, viêm tụy mạn… Do đó, việc đi khám, làm các xét nghiệm là cực kỳ cần thiết.

“Giảm tải” cho đường ruột

Để giúp hệ tiêu hóa hồi phục và cân bằng trở lại, điều quan trọng nhất là thay đổi chế độ ăn. Ngoài việc đảm bảo tối đa vệ sinh thực phẩm để tránh “nhập khẩu” các vi sinh vật gây hại, bạn cần lưu ý tránh những thực phẩm tuy tốt với người bình thường nhưng lại tai hại với những người rối loạn tiêu hóa.

Đó là những thực phẩm gây đầy hơi như tỏi, hành, đậu, bắp cải, húng quế, cần tây, chuối, mận, nho khô… Sữa cũng là thứ bạn không nên dùng nhiều vì đường lactose là thứ “khó nhằn” đối với bộ máy tiêu hóa kém khỏe mạnh. Các món ăn có nhiều mỡ cũng vậy, quá “nặng” với đường ruột đang có vấn đề của bạn.

Bạn cũng cần hạn chế cà phê, kẹo cao su, các loại nước ngọt có gas, các loại hoa quả hay bánh kẹo nhiều đường fructose, thực phẩm chế biến sẵn… Đồ ăn chua và cay cũng không phù hợp với bạn.

Còn thuốc lá và đồ uống có cồn thì dĩ nhiên là bạn nên tránh xa vì chúng làm giảm khả năng làm việc của đường tiêu hóa.

Hãy kiềm chế trước các bữa tiệc thịnh soạn bởi những người bị rối loạn tiêu hóa không bao giờ nên ăn quá no, càng không nên nạp quá nhiều thức ăn giàu đạm và chất béo cùng lúc. Hãy ăn vừa đủ, ăn chậm và nhai kỹ.

Tốt nhất là hãy đảm bảo ăn uống đúng giờ giấc, thức ăn cần nóng sốt. Nên ăn nhiều rau, uống nhiều nước, nhất là khi triệu chứng táo bón nổi trội ở bạn.

Ngoài chuyện ăn uống thì việc vận động thể chất cực kỳ có lợi cho người bị rối loạn tiêu hóa. Đừng tưởng tập thể dục chỉ tốt cho cơ bắp hay tim mạch, mà nó còn giúp cân bằng hoạt động bài tiết các men tiêu hóa cũng như cân bằng nhu động ruột.

Vận động còn giúp bạn giải tỏa sự căng thẳng tinh thần, vốn khiến cho tình trạng rối loạn tiêu hóa trở nên trầm trọng hơn.

Dùng thuốc cũng là một trong các giải pháp khắc phục rối loạn tiêu hóa, nhưng tuyệt đối bạn đừng tự ý uống hay chỉ “tham vấn” người bán thuốc, vì dùng thuốc gì và như thế nào còn tùy thuộc vào tình trạng, đặc điểm của từng bệnh nhân, vốn rất đa dạng.

Mặt khác, trong việc điều trị rối loạn tiêu hóa, thuốc chỉ đóng vai trò nhỏ, càng ít phải dùng càng hay.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thực đơn cho người viêm tuyến tụy

Viêm tuyến tụy chia làm hai loại cấp và mạn tính. Viêm tuyến tụy cấp có biểu hiện lâm sàng là đau bụng cấp tính, kèm theo tức ngực, nôn ói và tiểu ra máu. Còn biểu hiện lâm sàng của viêm tuyến tụy mạn tính chủ yếu gồm: rối loạn tiêu hóa, chán ăn, no đầy sau ăn, không dung nạp thức ăn mỡ béo, kèm có tiêu chảy ra mỡ nhờn, người bệnh gầy ốm, mất sức…

Dưới đây là một số món ăn dùng thích hợp cho hai dạng viêm tuyến tụy nói trên.

Nước củ cải trắng: Thành phần gồm củ cải trắng lượng vừa, đem rửa sạch gọt vỏ, sau đó cho vào máy xay nhuyễn lấy nước (hay cho vào máy thêm nước xay trong 3 phút). Cách dùng: Uống tùy lúc, thích hợp cho người bệnh viêm tuyến tụy cấp tính.

thuc-don-cho-nguoi-viem-tuyen-tuy

Cháo vỏ quế: Thành phần gồm quế bì (vỏ quế) 20g, bạch thược 40g, cam thảo 12g, gừng tươi 40g, đại táo 12 quả, gạo 100g. Để riêng từng loại, rửa sạch, thêm nước, rồi nấu với lửa lớn, bỏ bã, lấy nước thuốc để dùng nước này đem nấu cháo với gạo. Dùng cho người bệnh viêm tuyến tụy cấp tính.

Canh sơn tra, lá sen: Thành phần gồm sơn tra 30g, lá sen 12g. Sơn tra và lá sen rửa sạch để riêng từng loại, sau đó thêm 2 chén nước dùng lửa lớn nấu sôi, rồi hạ lửa nhỏ nấu tiếp, nấu còn lại độ 1 chén nước thì tắt lửa. Dùng hết trong ngày. Thích hợp dùng cho người bệnh viêm tuyến tụy mạn tính.

Cá trích hầm: Thành phần gồm một ít cá trích, các vị thuốc sa nhân 10g, tất phác 10g, vỏ quýt 10g, ớt ngâm 10g, cùng gia vị hành, tỏi… Cách làm: Cá trích rửa sạch, bỏ vảy, ruột, cho vào nồi cùng với sa nhân, tất phác, vỏ quýt, tiêu, ớt, gia vị, thêm nước lượng vừa, để lửa lớn hầm thành món ăn. Dùng hết trong ngày, thích hợp cho người bệnh viêm tuyến tụy mạn tính.

Canh rong biển – thảo quyết minh: Thành phần gồm rong biển 20g, thảo quyết minh 10g. Cách làm: Rong biển rửa sạch xắt đoạn, cùng thảo quyết minh thêm 2 chén nước nấu trên lửa lớn, sau đó hạ lửa nhỏ tiếp tục nấu còn lại 1 chén nước thì bỏ bã, lấy nước dùng. Thích hợp dùng cho người bệnh viêm tuyến tụy mạn tính.

Lương y Bàng Cẩm
Theo báo thanh niên

Cải thiện hiệu quả rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Một trong những vấn đề sức khỏe thường gặp ở trẻ đó là tình trạng rối loạn tiêu hóa (RLTH) khiến phụ huynh lo lắng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, 30% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là do RLTH. Cải thiện hiệu quả RLTH góp phần cải thiện sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ.

Nguyên nhân chính của tình trạng rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Thông thường, hệ tiêu hóa của người có khoảng hàng tỉ vi khuẩn khác nhau tạo nên hệ vi khuẩn hết sức phong phú. Hệ vi khuẩn này có sự hoạt động cân bằng, hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa giúp cơ thể hấp thụ tốt thức ăn. Những tác động bất lợi cho việc tiêu hóa như cấu trúc hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nhất là trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, việc sử dụng kháng sinh kéo dài, thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh vì bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc, thành phần thức ăn không phù hợp với lứa tuổi của trẻ, đặc biệt trẻ đang bị căng thẳng tâm lý, bồn chồn lo lắng, học tập căng thẳng…dễ dẫn tới sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa.

cai-thien-dau-hieu-qua-roi-loan-tieu-hoa-o-tre-em

Cấu trúc hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện: ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, do hệ tiêu hóa chưa phát triển hoàn thiện nên các cơ và dây thần kinh của hệ dạ dày – ruột ở trẻ hoạt động không ăn ý, trẻ dễ bị chứng trào ngược thực quản và khó tiêu.

Sử dụng kháng sinh liên tục và kéo dài: trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, cần phải sử dụng kháng sinh điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Kháng sinh không chỉ tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn diệt luôn cả vi khuẩn có lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho các vi khuẩn có hại xâm nhập và phát triển mạnh hơn, gây mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, còn gọi là “ loạn khuẩn ruột”, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, thường gặp nhất là tình trạng đầy bụng, trướng hơi, tiêu phân sống, tiêu phân lầy nhầy, làm giảm khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Thức ăn bị ô nhiễm do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc: nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy(tiêu phân lỏng, tiêu phân có máu, tiêu đàm nhớt) thường là do vệ sinh kém trong quá trình chế biến thức ăn cũng như trongsinh hoạt, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa để gây bệnh. Mặt khác, khi bị vi khuẩn tấn công, nếu cơ địa trẻ hay thành ruột quá yếu thì bệnh càng trở nên trầm trọng hơn, nhất là những trường hợp ngộ độc thức ăn nghiêm trọng làm cho trẻ tiêu chảy ồ ạt, nôn – ói nhiều, đau quặn bụng… không chữa trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Thức ăn không phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ: thường gặp nhất là tình trạng không dung nạp đường lactose và khó tiêu hóa đạm trong sữa công thức, vì cơ thể trẻ không có khả năng sản sinh đủ lượng lactose enzyme để tiêu hóa đường lactose. Khi đó lượng đường lactose không được tiêu hóa vẫn nằm trong ruột của trẻ gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa. Ngoài ra, lượng đạm nhiều quá mức trong một số loại sữa công thức, vượt quá ngưỡng hấp thu của ruột cũng góp phần làm trẻ dễ bị táo bón do ruột phải tăng hấp thu nước để hòa tan lượng đạm thừa này trong nước tiểu.

Trẻ đang bị căng thẳng về tâm lý cũng dễ bị rối loạn tiêu hóa: việc tiêu hóa của trẻ không được thuận lợi vì khi trẻ lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, quấy khóc… làm cho việc bài tiết men tiêu hóa và các enzyme cần thiết để phân hủy và hấp thụ thức ăn bị giảm sút một cách đáng kể cũng làm cho tình trạng rối loạn tiêu hóa dễ xảy ra hơn.

Hậu quả của tình trạng rối loạn tiêu hóa

WHO nhận định, có khoảng 500 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới bị suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa được xem là nguyên nhân trực tiếp, hoặc gián tiếp chiếm đến 30%.

Khi tình trạng RLTH tiếp diễn kéo dài, chẳng bao lâu sức khỏe của trẻ sẽ bị suy sụp, rất khó trở lại trạng thái mạnh khỏe lúc ban đầu. Ngoài ra, khi trẻ đã bị suy dinh dưỡng sẽ lại càng dễ bị rối loạn tiêu hóa hơn, trẻ càng biếng ăn hơn, từ đó tình trạng suy dinh dưỡng sẽ trầm trọng, cứ thế gây nên một vòng luẩn quẩn khó có thể giải quyết tận gốc.

Theo kết quả khảo sát về tình hình dinh dưỡng ở trẻ em gần đây cho thấy, có tới 80% trẻ em Việt Nam có biểu hiện biếng ăn, còi cọc, suy dinh dưỡng là do chứng rối loạn tiêu hóa gây ra.

Giải pháp cải thiện tình trạng

Tăng cường việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhất là khuyến khích người mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời vì sữa mẹ chính là nguồn dinh dưỡng quý giá đối với trẻ nhỏ, trẻ bú mẹ thường rất ít bị rối loạn tiêu hóa vì sữa mẹ rất an toàn, nhiều kháng thể và rất phù hợp với sự tiêu hóa của trẻ.

Cho trẻ ăm dặm đúng cách, đúng thời điểm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (khi trẻ tròn 6 tháng tuổi) bằng các loại thức ăn phù hợp theo từng lứa tuổi của trẻ sẽ giúp hệ tiêu hóa của trẻ luôn khỏe mạnh.

Nếu trẻ được nuôi bằng sữa công thức, phụ huynh nên tuân thủ việc pha sữa đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải luôn đảm bảo việc vệ sinh bình sữa để ngăn ngừa hiệu quả các bệnh lý lây nhiễm qua đường tiêu hóa.

Thực hiện việc chế biến thức ăn cho trẻ phải tuân thủ tuyệt đối quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm do Bộ Y tế ban hành, để hạn chế tối đa những trường hợp ngộ độc thực phẩm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Tạo cho trẻ thói quen giữ vệ sinh cá nhân tốt, nhất là thói quen rửa tay sạch sẽ đúng cách trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi chơi đùa.

Thực hiện việc tẩy giun định kỳ cho trẻ từ 2 tuổi mỗi 6 tháng 1 lần, nhằm giảm những tác hại do nhiễm giun gây ra trong đó có tình trạng rối loạn tiêu hóa.

Bổ sung men tiêu hóa và các vitamin cần thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ được tốt hơn, nhất là đối với những trẻ đang điều trị kháng sinh sẽ làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ.
Ths.Bs Đinh Thạc

Phòng rối loạn tiêu hóa ở người già

Chứng rối loại tiêu hóa (RLTH) dễ đưa đến các hệ lụy xấu cho sức khỏe, đặc biệt là người cao tuổi (NCT). Hầu hết RLTH có thể phòng ngừa được nếu thực sự quan tâm đúng mức.

Những rối loạn tiêu hóa thường gặp

RLTH là một bệnh rất hay gặp ở NCT, bởi vì, khi tuổi đã cao, sức đề kháng yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công. Nhiều NCT hoặc con cháu của họ hay than phiền là ông bà, cha mẹ mình thường chán ăn hay kêu mệt mỏi, không muốn ăn, nếu không động viên thì rất dễ bỏ bữa. Nhiều NCT cho biết họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ăn như những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm bài tiết dịch vị (nước bọt, dịch dạ dày, dịch ruột, dịch mật…).

phong-roi-loan-tieu-hoa-o-nguoi-gia

Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm để dễ nuốt, nhưng cũng khó khắc phục được, hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn. Lý do gây nghẹn ở NCT có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng làm giảm sự co bóp của đường tiêu hóa, nhất là các cơ ở thực quản, dạ dày.

Vì lý do suy giảm chức năng co bóp của đường tiêu hóa và các men tiêu hóa cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, trướng bụng, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mỡ, nhiều đạm. Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn các loại thức ăn bổ dưỡng như thịt, cá hoặc rất ngại uống sữa. NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm càng có tuổi bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày – tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày), viêm đại tràng co thắt, viêm đại tràng mạn tính. Sa dạ dày là một bệnh có thể gặp ở tuổi trẻ nhưng với NCT thì gây phiền phức hơn nhiều do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ). Các bệnh RLTH và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là RLTH làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên.

Phòng ngừa rối loạn tiêu hóa như thế nào? 1Vận động cơ thể hàng ngày, đều đặn, nhẹ nhàng là phương pháp phòng chống táo bón hiệu quả
Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định thì việc tiêu hóa thức ăn tốt. Ngược lại, khi hệ thống gan, mật không tốt thì ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Do đó, một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, gan nhiễm mỡ, viêm đường mật mạn tính hoặc bệnh sỏi mật.

Thống kê cho thấy, NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể. Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe, đặc biệt táo bón ở NCT. Lý do gây táo bón ở NCT thì có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ít ăn rau, qủa hoặc ăn rất ít, thêm vào đó lại uống ít nước. Càng ăn ít rau, uống ít nước, kèm theo ít vận động thì hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra.

Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu đi đến hệ thống thần kinh. Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh sẽ gây đau và chảy máu. Chính vì các lý do đó mà táo bón càng ngày càng nặng thêm gây đau quặn bụng, nhất là vùng bụng dưới và 2 hố chậu dễ nhầm lẫn với bệnh tiết niệu (viêm hoặc sỏi) hoặc viêm ruột thừa (hố chậu phải).

NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên, bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần, nhất là tiểu đêm, gây mất ngủ.

Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và đặc biệt là có sa sút trí tuệ thì táo bón kéo dài lại càng bất lợi cho bản thân người bệnh và cả người nhà. Nên lưu ý là khi tinh thần không thoải mái, căng thẳng cũng có khả năng gây táo bón.

Có thể phòng bệnh ngừa được không?

Phòng bệnh RLTH ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số NCT nhiều khi không cần dùng thuốc cũng có thể khỏi bệnh hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng RLTH cho NCT là có chế độ ăn, uống hợp lý kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái. Một số NCT chán ăn, không thèm ăn thì người nhà cần động viên và nếu cần thì phải có động tác hỗ trợ trong các bữa ăn (động viên, bón cơm, cháo, uống nước), nhất là NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để giúp họ không bỏ bữa. Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ.

Những người đã bị táo bón thì nên ăn thêm củ khoai lang luộc, canh rau mồng tơi, rau đay. Nếu bị bệnh về dạ dày, viêm đại tràng, gan, mật thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi. Cần vận động cơ thể hàng ngày, đều đặn, nhẹ nhàng (xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ, đi bộ). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân, không nên ngồi một chỗ trong nhiều giờ. Nếu có điều kiện và sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn, chơi cầu lông, bơi lội… Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 – 3 lần tập, không tập một lúc 60 phút. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như đọc sách báo, xem vô tuyến, nghe đài…

Theo SKDS

Khi bị rối loạn tiêu hóa

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự thay đổi hoặc xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa ví dụ như nôn, buồn nôn, đau bụng …

Rối loạn tiêu hóa là tình trạng không bình thường diễn ra ở đường tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn). Rối loạn tiêu hóa có thể là bệnh lý hoặc không phải bệnh lý. Bệnh lý có thể xảy ra ngay tại đường tiêu hóa nhưng cũng có thể xảy ra ngoài đường tiêu hóa. Mọi lứa tuối đều có thể bị rối loạn tiêu hóa và tình trạng rối loạn tiêu hóa ở mỗi một cá thể thường không giống nhau.

Rối loạn tiêu hóa không phải bệnh lý
Trong cuộc sống hàng ngày có nhiều trường hợp rối loạn tiêu hóa nhưng không phải bệnh lý ví dụ như đối với trẻ do ăn chế độ không phù hợp làm cho tiêu hóa không bình thường, biểu hiện là phân nát, có bọt, màu hoa cà hoa cải, mùi tanh…

roi-loan-tieu-hoa

Nhiều trường hợp do mắc bệnh nhiễm khuẩn nào đó phải dùng kháng sinh nhưng người bệnh không tuân thủ chỉ định của thầy thuốc, dùng không đúng liều lượng hoặc dùng kháng sinh không đúng chỉ định làm cho mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật ở đường ruột, xuất hiện đi đại tiện thấy phân lúc lỏng, lúc đặc, lúc nhão, có mùi tanh, hôi; kèm theo phân bị thay đổi cả về số lượng lẫn mùi, màu sắc và tính chất, đồng thời có thể xuất hiện những cơn đau bụng không thường xuyên. Hiện tượng làm mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật ở ruột được gọi là “loạn khuẩn”. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý của một số người, nhất là hiện tượng tự mua thuốc để điều trị bệnh cho mình hoặc người nhà của mình rất dễ dẫn đến “loạn khuẩn”.

Muốn biết có phải bị loạn khuẩn đường tiêu hóa hay không, bạn cần xét nghiệm phân. Khi có kết quả đánh giá bị “loạn khuẩn” của phòng xét nghiệm vi sinh y học, bác sĩ khám bệnh sẽ có phương pháp để điều chỉnh sự “loạn khuẩn” đó. Hoặc trường hợp phụ nữ nghén khi mang thai nhưng cũng có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa như không muốn ăn, nôn, buồn nôn, ọe.

Rối loạn tiêu hóa do bệnh lý

Hiện tượng ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, nôn, buồn nôn, ọe, đi lỏng hoặc táo bón, đau bụng âm ỉ hoặc đau từng cơn… là những biểu hiện cơ bản của rối loạn tiêu hóa thường gặp trong một số bệnh lý. Tuy nhiên, tùy theo từng loại bệnh mà triệu chứng xuất hiện có khác nhau không nhất thiết có đầy đủ các triệu chứng, có khi chỉ có một hoặc hai triệu chứng cũng có thể gọi là rối loạn tiêu hóa. Hội chứng dạ dày, tá tràng (viêm hoặc loét) đau khi đói hoặc sau ăn, hoặc đau theo chu kỳ kèm theo đầy hơi, chướng bụng, buồn nôn hoặc nôn (trong trường hợp hẹp môn vị, u dạ dày thì nôn nhiều hơn).

Viêm ruột thừa cấp tính thường có đau bụng âm ỉ hoặc từng cơn, hay gặp nhất là đau ở vùng hố chậu phải kèm theo buồn nôn hoặc nôn, bí trung, đại tiện. Có những bệnh nhân bị sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang) ngoài đau bụng âm ỉ hoặc quằn quại, đau xuyên ra sau lưng thì đầy hơi trướng bụng, buồn nôn, nôn cũng có thể xuất hiện. Một số bệnh gây viêm ruột cấp tính cũng có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa rầm rộ như đau bụng, buồn nôn, nôn, đi lỏng nhiều lần như bệnh tả, bệnh thương hàn, bệnh lỵ trực khuẩn, bệnh ngộ độc thực phẩm… Viêm đại tràng co thắt thì có những biểu hiện của rối loạn tiêu hóa có phần khác với viêm ruột cấp tính… Có một số cơ quan ngoài đường tiêu hóa nhưng khi bị bệnh cũng có một số triệu chứng rối loạn tiêu hóa như bệnh thiểu năng tuần hoàn não, bệnh rối loạn ốc tiền đình (cũng có triệu chứng buồn nôn, nôn).

Khi bị rối loạn tiêu hóa nên làm gì?

Vì rối loạn tiêu hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau, có từng mức độ khác nhau ở mỗi người, nên người bệnh cần đi khám bác sĩ. Với trẻ em đang bú mẹ, đang ăn bổ sung (ăn sam), đang uống sữa bò, trẻ còi xương, suy dinh dưỡng hoặc các cháu mới đi nhà trẻ, mẫu giáo do chế độ ăn chưa phù hợp tốt nhất là nên đến bệnh viện nhi, khoa nhi hoặc trung tâm dinh dưỡng để được bác sĩ chuyên khoa khám bệnh và tư vấn.

Khi rối loạn tiêu hóa có kèm theo đau bụng thì đi khám bệnh càng sớm càng tốt để đề phòng mắc bệnh cấp tính như bệnh viêm ruột thừa, thủng dạ dày, ngộ độc thực phẩm… Nếu không đi khám ngay để được xử trí kịp thời, người bệnh có thể gặp nguy hiểm đối với tính mạng.

Khi bị bệnh nhiễm khuẩn, người bệnh cần dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ, không tùy tiện  mua kháng sinh để dùng khi chưa có chỉ định.

Theo VTV

Thực phẩm và khả năng chữa bệnh

Từ nhiều thập niên nay, ở các nước phương Tây, với sự phát triển cao về công nghệ sinh học và khoa học, đã sử dụng dinh dưỡng hợp lý làm phương pháp điều trị thay thế. Vậy khi bị bệnh, họ sử dụng thực phẩm như thế nào?

Sốt nặng

Nên ăn sữa chua và mật ong hàng ngày. Mật ong có tỉ lệ glucoza và levuloza cao (65 – 70%) và saccaroza (2 – 3%). Ngoài ra còn có muối vô vơ, các acid hữu cơ khác (formic, acetic, tactric, malic…), các men tiêu hóa như: lipaza, amilaza, invectin, tinh bột, protic, sáp, sắc tố, phấn thơm, phấn hoa nhiều acid amin và các vitamin A, D, E, các muối khoáng khác… Ngoài tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mật ong còn được dùng cho bệnh nhân lao, suy dinh dưỡng, kiệt sức, còi xương ở trẻ em. Lòng đỏ trứng gà trộn mật ong có chất kích thích để tăng hồng cầu rất rõ.

Phòng đột qụy

Trà xanh ngăn chặn sự tạo mảng bám (lớp mỡ) trên thành mạch. Trà làm giảm sự thèm ăn nên không làm tăng cân. Trà xanh cũng tốt cho hệ miễn dịch. Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học bang Kansas đã định lượng chất oxy trong trà xanh và phát hiện ra rằng hàm lượng này có hiệu lực gấp 100 lần vitamin C và 25 lần vitamin E trong việc bảo vệ các tế bào, chống lại những tổn thương mà người ta nghĩ có liên quan với bệnh ung thư, bệnh tim và những bệnh khác.

thuc-pham-va-kha-nang-chua-benh

Viêm khớp

Cá hồi, cá ngừ, cá thu và cá mòi giúp ngăn chặn bệnh viêm khớp (trong cá có dầu omega, tốt cho hệ thống miễn dịch).

Rối loạn tiêu hóa

Chuối làm ổn định chứng rối loạn tiêu hóa. Cháo cà rốt có tác dụng trị được tiêu chảy vì nó bù được lượng nước và điện giải mất đi, đồng thời có tác dụng giảm nhu động ruột, hút các chất nhầy và độc tố của vi khuẩn. Nấu cháo (xúp) cà rốt cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên bị tiêu chảy: 1 lít nước cháo loãng, khoảng 400g cà rốt tươi, rửa sạch, cạo vỏ và cho vào nước cháo nấu chín. Cho ăn cháo cà rốt này trong 2 ngày đầu trẻ bị tiêu chảy, mỗi ngày từ 100 – 150ml/kg thể trọng.

Các vấn đề về xương

Dứa có thể ngăn gãy xương hoặc loãng xương nhờ có chứa nguyên tố mangan. Đậu tương và thành phẩm của nó là đậu phụ được nông dân Trung Quốc dùng hàng ngày, cho nên phụ nữ ở những vùng này ít khi bị loãng xương.

Có vấn đề về trí nhớ

Sò giúp cải thiện sức vận hành của trí nhớ nhờ cung cấp lượng kẽm cần thiết. Ngoài ra, nên dùng loại thực phẩm giàu acid omega-3 và DHA vì có tác dụng lên não bộ và hệ thần kinh trung ương, tác dụng bảo vệ tim mạch.

Cá nước lạnh đặc biệt nhiều mỡ và là nguồn phong phú nhất về omega-3. Tuy nhiên, cá nuôi có ít omega-3 hơn so với cá hoang dã, cá hồi sông, cá ngừ, cá tuyết chấm đen, cá thu, cá trích…

Cảm lạnh

Tỏi làm cho đầu bớt nặng, làm giảm lượng cholesterol. Khi cảm thấy bắt đầu đau họng, bạn hãy ăn ngay tỏi, nó sẽ giúp bạn ngăn chặn được viêm họng.

Ho

Tiêu đỏ có chất tương tự với chất có trong siro ho. Dùng tiêu đỏ cũng nên thận trọng vì làm cho dạ dày bị cồn cào.

Y học truyền thống cũng đưa ra lời khuyên với ho ở trẻ em: trẻ ho kèm theo đau họng và chảy nước mũi (không có nhiễm khuẩn hô hấp) thì cho điều trị tại nhà bằng các biện pháp như: xông nước lá, các thuốc ho Đông y, mật ong, húng chanh… không cần dùng thuốc kháng sinh.

Mạch máu bị tắc

Ăn quả bơ. Chất béo đơn không bão hòa trong quả bơ làm giảm lượng cholesterol. Hành được y học coi là “thuốc bổ” của tim. Một nghiên cứu cho thấy, hàng ngày ăn 200g hành củ sống sẽ tránh được sự hình thành những nguy cơ rắc rối ở mạch máu.

Đường huyết không cân bằng

Chất crom trong súp lơ xanh và đậu phộng giúp điều hòa chất insulin và nồng độ đường trong máu.

BS. XUÂN ANH

Theo SKDS

cải thiện hấp thu để trẻ nhỏ tăng trưởng

Được chăm sóc tốt về dinh dưỡng là nhu cầu tối quan trọng để trẻ phát triển nhưng chưa đủ, vì thực tế, một số trẻ do chức năng tiêu hóa chưa hoàn chỉnh dẫn đến lượng thức ăn đưa vào chỉ hấp thu được một phần nhỏ. Các bậc cha mẹ cần hết sức lưu tâm vấn đề này.

Tỷ lệ trẻ rối loạn tiêu hóa rất hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi như tiêu chảy, táo bón, đi ngoài phân sống, đặc biệt ở nhóm tuổi nhũ nhi (từ 1 tháng đến 1 năm). Chúng ta điều biết rằng suy dinh dưỡng là hậu quả của sự nghèo đói và thiếu hiểu biết về dinh dưỡng. Câu hỏi đặt ra là tại sao ở những thành phố lớn, điều kiện kinh tế đã tốt lên rất nhiều mà tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn tương đối cao. Qua các bệnh nhân đến khám tại Khoa Khám tư vấn trẻ em – Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy nguyên nhân chủ yếu không phải do điều kiện kinh tế mà do các bé được nuôi dưỡng chưa thật đúng cách, do đó, bé không nhận được chế độ ăn cung cấp đủ nhu cầu theo lứa tuổi cũng như những thức ăn dễ hấp thu theo lứa tuổi, hoặc trên những trẻ biếng ăn không được cho ăn tăng cường cũng khiến trẻ nhanh chóng dẫn đến suy dinh dưỡng. Nhưng thực tế lâm sàng cũng cho thấy rằng có những trẻ chịu ăn và được cho ăn đúng cách nhưng vẫn không lên cân tốt. Tại sao vậy? Đó là do ở một số trẻ nhỏ, chức năng tiêu hóa chưa thật hoàn chỉnh dẫn đến thức ăn đưa vào chỉ được hấp thu một phần nhỏ.

cai-thien-hap-thu-tre-nho-tang-truong-tot

Vậy làm thế nào để tăng cường khả năng hấp thu cho bé?

Trước hết, phải đảm bảo cho bé ăn đủ nhu cầu năng lượng theo lứa tuổi (trẻ em 3 tháng đến dưới 6 tháng tuổi, nhu cầu năng lượng là 620kcalo/ngày; trẻ em 6-12 tháng, nhu cầu là 820kcalo/ngày; trẻ 1 – 3 tuổi là 1.300kcal/ngày; trẻ 4-6 tuổi là 1.600 kcal/ngày – Theo 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý của Viện Dinh dưỡng) cân đối về đạm, chất béo, chất bột đường cũng như các vitamin (vitamin nhóm B, C, A), khoáng chất quan trọng (Ca, Fe) và đúng loại thức ăn phù hợp theo lứa tuổi của bé: dưới 6 tháng nên bú sữa mẹ, sau 6 tháng bắt đầu ăn thêm bột, trên 12 tháng ăn cháo và trên 24 tháng mới nên bắt đầu tập ăn cơm cho trẻ. Đặc biệt, một số trẻ có thói quen thích ăn bột, cháo lâu hơn thì vẫn nên duy trì cho bé hình thức ăn đó, không cần quá nôn nóng cho trẻ ăn đồ cứng sớm, vì điều quan trọng là thành phần bữa ăn và lượng ăn của trẻ chứ không phải hình thức bữa ăn là bột hay cháo, cơm, không những thế, ở những trẻ đang bị suy dinh dưỡng, cần phục hồi dinh dưỡng thì chế độ ăn xay kỹ, nhừ càng dễ tiêu hóa, hấp thu.

Ngoài những yếu tố sai lầm trong cách cho trẻ ăn uống, một lý do khác khiến trẻ hay gặp rối loạn tiêu hóa là vì thời kỳ trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu sinh lý phát triển rất cao nhưng các bộ máy cơ thể, chức năng sinh lý vẫn chưa hoàn thiện tốt, đặc biệt, trẻ dễ bị tiêu chảy vào thời kỳ bắt đầu ăn dặm nếu không thực hiện đúng các chu trình bảo đảm vệ sinh thực phẩm.

Do vậy, đối với trẻ nhỏ (đặc biệt những trẻ thường có rối loạn tiêu hóa, tăng cân chậm, hấp thu kém) thì việc điều chỉnh hệ vi sinh đường tiêu hóa, bổ sung một số loại vitamin và khoáng chất quan trọng là cần thiết.

Các thực phẩm cung cấp nhiều chất xơ (các loại rau, củ) cũng có hiệu quả tốt đối với cơ thể nhờ kích thích một cách chọn lọc sự phát triển và sự hoạt động của một hay một số ít các vi khuẩn ở đại tràng và do vậy, cải thiện được sức khỏe một cách rõ rệt.

Những nghiên cứu đã cho thấy, đặc biệt ở trẻ tuổi ăn dặm, sự kết hợp giữa việc bổ sung các thức ăn có chất xơ như rau, củ giúp tăng khả năng tồn tại của những vi khuẩn có ích sống ở phần trên của ống tiêu hóa dạ dày ruột, nhờ vậy làm tăng hiệu quả của chúng ở ruột già. Do vậy, cùng với bổ sung các vi khuẩn đường ruột có ích, việc ăn rau củ hàng ngày trong khẩu phần của trẻ tuổi bắt đầu ăn dặm với hàm lượng cân đối theo lứa tuổi là rất cần thiết.

TS. Phan Bích Nga (Viện Dinh dưỡng)

Giải quyết các vấn đề tiêu hóa của trẻ nhỏ

Bất dung nạp đường tiêu hóa ở trẻ hiện là một vấn đề phổ biến. Một nghiên cứu được thực hiện trong năm 2012 cho thấy trẻ em dưới 3 tuổi thường gặp các vấn đề về dung nạp khi sử dụng sữa công thức. Có đến 56% hiện tượng trào ngược ở trẻ sơ sinh, 47% táo bón, 44% đau quặn bụng, 65% tiêu chảy và 34% nôn trớ…

Tuy nhiên, thực tế cho thấy khó khăn trong việc chẩn đoán vấn đề này đối với cả bác sĩ nhi khoa và các bậc phụ huynh.

Giờ đây, đã có thêm công cụ sàng lọc độc đáo để chẩn đoán và xử trí hiệu quả các triệu chứng không mong muốn này.
giai-quyet-cac-van-de-tie
Bất dung nạp đường tiêu hóa ở trẻ nhỏ – không nên xem thường

Chia sẻ về vấn đề dinh dưỡng của trẻ, GS.TS.BS. Nguyễn Gia Khánh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nhi Khoa Việt Nam, Chủ tịch Hội Tiêu hóa Nhi khoa, cho biết: “Mỗi trẻ có nhu cầu ăn uống khác nhau, và những gì có thể phù hợp đối với khẩu phần ăn của trẻ này có thể không phù hợp với trẻ khác”.

Những tháng đầu sau khi sinh, hệ tiêu hóa của trẻ dần thích nghi với các chất dinh dưỡng khác nhau để tăng cường chức năng hấp thụ và miễn dịch. Giai đoạn này, trẻ có thể bị nhiều rối loạn về tiêu hóa, nhưng đa số các trường hợp đều không được chỉ định nhập viện theo dõi. Một số nguyên nhân gây ra hiện tượng này còn phải kể đến là kỹ thuật cho ăn, khẩu phần ăn, protein, lactose hay prebiotic trong bữa ăn của trẻ. Trong một số trường hợp, các bác sĩ nhi khoa và các nhân viên y tế cũng gặp nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán và lên phác đồ điều trị đối với một vài tình trạng tiêu hóa ở trẻ.

Khi xảy ra tình trạng không dung nạp ở trẻ, các bà mẹ thường có khuynh hướng tìm kiếm một giải pháp dinh dưỡng khác cho con mình. Đã có khoảng 25% trẻ sơ sinh được thay đổi sữa công thức trong 4 tháng đầu đời và 47% trẻ sơ sinh được thay đổi sữa công thức trong 6 tháng đầu đời, và có đến 67% trẻ nhỏ được chuyển sang sữa công thức có nguồn gốc sữa bò. Tuy nhiên việc chuyển đổi nếu không phù hợp có thể làm trầm trọng hơn các vấn đề dung nạp ở trẻ, dẫn đến tình trạng kém tăng trưởng, thậm chí suy dinh dưỡng.

Công cụ mới trong chẩn đoán và xử lý vấn đề tiêu hóa ở trẻ

Để giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ hơn về các vấn đề dung nạp ở trẻ và cân nhắc thận trọng trước khi chuyển đổi sữa công thức cho trẻ, Hội Nhi Khoa Việt Nam (VPA) đã phối hợp với Abbott giới thiệu chương trình “Hướng dẫn thực hành giải quyết các triệu chứng tiêu hóa thường gặp ở trẻ nhỏ” với công cụ sàng lọc mới (GPS). Bộ công cụ này bao gồm 5 lưu đồ nhằm giúp các bác sĩ nhi khoa và đa khoa dễ dàng chẩn đoán và xử lý tốt hơn các triệu chứng phổ biến về tiêu hóa ở trẻ em. Các lưu đồ này do các chuyên gia quốc tế về tiêu hóa nhi và dị ứng nhi từ châu Âu, châu Á, Mỹ Latin và Hoa Kỳ cùng nhau nghiên cứu và phát triển.

Chia sẻ về lợi ích của GPS, GS.TS.BS. Nguyễn Gia Khánh cho biết: “Các lưu đồ này sẽ cung cấp cho các nhân viên y tế một tiêu chuẩn về chăm sóc để có thể chẩn đoán và xử lý các triệu chứng bất dung nạp phổ biến”.

Theo đó, GPS với 5 lưu đồ riêng biệt hỗ trợ bác sĩ nhi khoa chẩn đoán tại chỗ để đánh giá và xử lý 5 triệu chứng tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ gồm: quấy khóc/đầy hơi, táo bón, trào ngược, đau quặn bụng và dị ứng đạm sữa bò. Nhờ đó,các bác sĩ có thể tư vấn phát đồ dinh dưỡng hợp lý và khuyến nghị công thức sữa phù hợp.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chữa rối loạn tiêu hóa bằng thảo dược

Rễ gừng, vỏ cam, hạt thìa là… vị đắng, có tác dụng làm giảm sự khó chịu khi bị bệnh rối loạn tiêu hóa, cải thiện chức năng của đường ruột.

Trong những kỳ nghỉ kéo dài, nhất là dịp Tết, mọi người thường gặp phải các vấn đề về tiêu hóa như đầy bụng, đầy hơi, buồn nôn.

Dưới đây là một số thảo dược có thể chữa rối loạn tiêu hóa.

1. Gốc và lá cây bồ công anh

Đây là một phương thuốc truyền thống chữa các bệnh rối loạn gan và lá lách. Cây bồ công anh chứa thành phần được gọi là sesquiterpene lactone, có tác dụng kích thích sự thèm ăn, cải thiện tiêu hóa. Thành phần này có hiệu quả giống như một loại thuốc nhuận tràng nhẹ.

chua-roi-loan-tieu-hoa-bang-thao-duoc

2. Rễ cây ngưu bàng

Ngưu bàng là một loại thảo dược được sử dụng trong công thức thuốc lợi tiểu và thuốc nhuận tràng. Từ xa xưa tại châu Á, người ta đã sử dụng loại cây này để giải độc gan, thận và mật. Rễ cây chứa axit phenolic, quercetin và luteolin, các chất chống ôxy hóa mạnh.

3. Vỏ cam

Được sử dụng ban đầu như một cách để chữa chứng ợ hơi, vỏ cam chứa một số loại dầu thơm. Ngoài ra trong thành phần của nó có cả synephrine và N-methyltyramine, giúp cải thiện sự ngon miệng và tăng sự tiết dịch tiêu hóa tự nhiên.

4. Hạt cây thì là

Chứa nhiều loại dầu thơm cần thiết, vì thế hạt cây thì là được coi là một phương pháp chữa bệnh truyền thống tại châu Á cho các chứng khó tiêu, đầy hơi và đau bụng. Loại thảo dược này có có mùi thơm và hương vị dễ chịu, giúp làm giảm khí và đau bụng.

5. Rễ cây long đởm

Long đởm thảo là một thành phần phổ biến trong nhiều bài thuốc Đông y. Nó kích thích sự tiết dịch tiêu hóa và tăng cường chức năng của túi mật. Những tác dụng chữa bệnh này là do trong cây chứa các thành phần là gentiopicroside và amarogentin.

6. Củ gừng

Củ gừng chứa nhiều thành phần có lợi như: gingerols, shaogals và một số loại dầu thiết yếu. Nó giúp tăng cường tiêu hóa, giảm buồn nôn và giúp tránh say tàu xe.

Theo Sức Khỏe và Đời Sống

Trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa sau tết

Ngày Tết, chế độ ăn của trẻ thường bị đảo lộn. Những thay đổi này có thể dẫn đến chứng rối loạn tiêu hóa.

Trẻ nhỏ thường không được cho ăn đúng bữa trong những ngày Tết, lượng nước cung cấp cho bé không đầy đủ. Trẻ lớn ít bị kiểm soát chế độ ăn như ngày thường nên có thể ăn quá nhiều. Bánh kẹo, mứt và nước ngọt là những thực phẩm mà bé ưa thích và hay lạm dụng trong ngày Tết.
Một số thức ăn khác như bánh chưng, bánh tét, lạp xưởng… chứa nhiều chất béo không có lợi cho sức khỏe của trẻ. Lượng rau xanh trong ngày Tết so với ngày thường lại ít hơn nhiều.

tre-de-roi-loan-tieu-hoa-sau-nhung-ngay-tet-1

Triệu chứng thường gặp

Biểu hiện của rối loạn tiêu hóa ở trẻ rất đa dạng, phụ thuộc vào lứa tuổi và nguyên nhân gây bệnh. Trẻ bị rối loạn tiêu hóa có thể biểu hiện bằng quấy khóc, biếng ăn, nôn trớ, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy.

–  Đau bụng: Đau không liên tục, thường liên quan đến bữa ăn, có thể khởi phát với một loại thức ăn nhất định như sữa, thức ăn nhiều chất béo… Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ đến trung bình. Các cơn đau này gây khó chịu nhưng không ảnh hưởng nhiều đến tổng trạng của bé. Vị trí đau thường ở vùng thượng vị hoặc quanh rốn. Trẻ nhỏ chưa biết nói thường biểu hiện bằng quấy khóc, đôi khi bỏ ăn.

–  Chán ăn, đầy bụng: Cảm giác no khi ăn một lượng thức ăn ít hơn so với lứa tuổi, làm trẻ không muốn ăn

–  Chướng bụng: Bụng trẻ căng hơn bình thường, nhất là tại vùng thượng vị. Khi gõ vào thành bụng nghe tiếng vang. Triệu chứng đầy bụng và chướng bụng là do thức ăn chậm di chuyển trong ống tiêu hóa rất dễ dẫn tới việc táo bón.

– Táo bón: Trẻ dường như rất khó khăn để có thể đi cầu; có cảm giác đau khi đi cầu, có thể cảm nhận qua hành động ngại đi cầu, ngồi nhón chân của trẻ; phân rất cứng và khô.

–  Buồn nôn và nôn ói: Trẻ có cảm giác buồn nôn khi đang ăn hoặc sau khi ăn một thời gian ngắn.

–  Tiêu chảy: Tiêu chảy là khi trẻ đi tiểu phân lỏng từ 3 lần trở lên trong một ngày. Tiêu chảy cấp thường hết sau 5-7 ngày. Một số trường hợp trẻ bị tiêu chảy kéo dài cần đến khám tại các cơ sở y tế.

Biện pháp khắc phục

Với trẻ bị rối loạn tiêu hóa, các mẹ cần phải hết sức chú ý đến chế độ ăn uống hợp lý:

–  Thức ăn phải cung cấp đủ 4 nhóm chất: cung cấp năng lượng(gạo, khoai, mì…); chất đạm(thịt, cá, trứng…); chất béo(mỡ động vật,,sữa, các loại hạt có dầu…); vitamin và khoáng chất(các loại rau xanh) đặc biệt cần cho trẻ ăn nhiều hoa quả tươi.

–  Chế biến thức ăn cho trẻ dưới dạng dễ tiêu hóa như: cháo, súp…

– Bổ sung các thực phẩm chứa các loại vi khuẩn có lợi như sữa chua, váng sữa.

– Khi sử dụng các sản phẩm điều trị rối loạn tiêu hóa cho trẻ các mẹ cần hết sức lưu ý đến tính an toàn của sản phẩm, nhất là đỗi với trẻ sơ sinh. Xu hướng hiện nay nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược vừa an toàn mà lại hiệu quả.

Theo giadinh.net

Dinh dưỡng cho người mắc bệnh gan

Khi mắc các bệnh về gan, nhất là viêm gan, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyển hóa các loại thực phẩm và làm cho người bệnh mất cảm giác thèm ăn hay chán ăn. Mặt khác, nếu dùng chế độ dinh dưỡng không phù hợp khi mắc bệnh về gan sẽ làm cho bệnh lý về gan càng nặng thêm.

Dinh dưỡng phù hợp trong bệnh lý viêm gan là thực hiện chế độ ăn uống có sự cân đối giữa các thành phần như đường, chất béo, chất đạm, các vitamin và khoáng chất. Chế độ dinh dưỡng này tùy thuộc vào từng giai đoạn của bệnh.

dinh_duong_cho_nguoi_mac_benh_gan

Dinh dưỡng hợp lý giúp gan hồi phục tốt khi mắc bệnh

Trong bệnh lý viêm gan cấp

Trong bệnh lý viêm gan cấp, các tế bào gan bị phá hủy cấp tính cho nên các chức năng hoạt động bình thường của gan bị xáo trộn và được biểu hiện bằng các dấu hiệu mệt mỏi và rối loạn tiêu hóa: chán ăn, ăn không tiêu, sình bụng, tiêu chảy, nhất là hay buồn nôn và nôn ói. Khi có một trong các dấu hiệu trên nhất thiết phải đến ngay các bác sĩ chuyên khoa để được khám và được hướng dẫn phương pháp điều trị kịp thời. Đồng thời, người bệnh phải áp dụng chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý với các loại thức ăn, đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho cơ thể, không nên kiêng ăn quá mức. Các loại thức ăn dành cho người bệnh trong giai đoạn này là những loại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu như: ngũ cốc, đường, mật ong và hoa quả ngọt. Đối với chất đạm, nên chọn loại có giá trị dinh dưỡng cao nhưng ít chất béo như lòng trắng trứng, cá nạc, sữa không béo, đậu hũ…với số lượng khoảng 50 – 70g mỗi ngày. Tuy nhiên, cần tránh quan niệm cho rằng “ăn chuối để chữa bệnh viêm gan”, vì chúng không có giá trị trong điều trị bệnh mà đó chỉ là những lời truyền miệng không có chứng cứ khoa học.

Trong trường hợp viêm gan quá nặng với các triệu chứng vật vã, lơ mơ thì phải giảm lượng đạm xuống dưới 40g mỗi ngày, vì chất được chuyển hóa từ đạm là amoniac (NH3) không còn được gan đào thải mà sẽ tích tụ trong máu dễ dẫn đến hôn mê gan. Mặt khác cũng cần thiết phải giảm cung cấp chất béo, chỉ sử dụng khoảng 15g mỗi ngày, tuyệt đối không ăn các loại thức ăn có nhiều cholesterol như óc, tim, gan, lòng heo, lòng đỏ trứng vì viêm gan có thể dẫn đến tắc mật cho nên không tiêu hóa hết các chất béo mà cần phải ăn nhiều rau quả tươi để cung cấp chất khoáng và các vitamin cần thiết giúp cho gan hoạt động tốt hơn

Khi mắc bệnh gan tuyệt đối phải ngưng hẳn rượu bia và các thức uống có cồn cho đến khi gan hồi phục hoàn toàn. Khi sử dụng các loại thuốc tân dược cũng cần phải hết sức thận trọng vì có một số thuốc cũng có thể gây độc cho gan như thuốc an thần, các thuốc giảm đau kháng viêm, trong đó có cả paracetamol mà trong cộng đồng hiện đang dùng rộng rãi. Những người có tiền căn viêm gan mà mắc các loại bệnh khác, khi đến khám bệnh, người bệnh cần thông báo cho bác sĩ biết để có sự lựa chọn thuốc cho phù hợp tránh làm nặng thêm tình trạng bệnh lý của gan. Nghỉ ngơi, tránh làm việc nặng nhọc cũng là biện pháp hỗ trợ giúp cho gan hồi phục nhanh hơn. Khi gan hồi phục hoàn toàn, có thể ăn uống trở lại như bình thường.

Trong bệnh lý viêm gan mạn

Khi gan bị viêm mạn tính, hầu hết người bệnh không có biểu hiện gì đặc biệt mà vẫn cảm thấy sinh hoạt và ăn uống bình thường mặc dù chức năng gan đã có sự biến đổi ngày càng nhiều theo chiều hướng xấu hơn. Tuy nhiên, vẫn có một số ít người bệnh có cảm giác mệt mỏi và ăn uống kém đi.

Trong trường hợp này thì chế độ ăn cũng phải cân đối giữa các như chất đường, đạm, béo và tuyệt đối phải cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể. Vì có ăn uống đầy đủ chất và cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể thì mới có đủ sức kháng cự lại tình trạng viêm nhiễm của gan cũng như chống lại các tác dụng phụ do thuốc dùng trong quá trình điều trị gây ra. Khi người bệnh chưa có cảm giác mệt mỏi, chán ăn thì không nên quá kiêng khem trong ăn uống. Vì như thế sẽ làm cho người bệnh cảm thấy chán ăn, ăn uống kém, từ đó người bệnh càng mệt mỏi hơn, thiếu sức đề kháng của cơ thể và làm cho bệnh gan bị nặng hơn.

Tuy nhiên, trong chế độ ăn hàng ngày, người bệnh cũng không nên ăn các thức ăn có quá nhiều gia vị và dầu mỡ vì sẽ làm cho đầy bụng vì khó tiêu, nên ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao mà dễ tiêu hóa như đậu nành, đậu hũ… Cũng cần cung cấp đầy đủ chất bột, đường thông qua các loại bánh, trái cây ngọt để tránh tình trạng hạ đường huyết. Mặt khác, trong bệnh lý viêm gan mạn tính, người bệnh tuyệt đối không được uống rượu bia và các loại thức uống có cồn vì như thế sẽ làm cho tình trạng viêm của gan càng nặng thêm. Để giúp gan hồi phục, trong quá trình điều trị cần bổ sung thêm vitamin và khoáng chất. Nếu viêm gan mạn do rượu, cần phải bổ sung thêm vitamin nhóm B và acid folic đồng thời phải nghỉ ngơi và sinh hoạt bình thường, nên tập thể dục, thể thao vừa sức, tránh lao động quá nặng nhọc.

Trong vàng da tắc mật

Trong trường hợp có vàng da do tắc mật, người bệnh thường bị tiêu chảy và phân sẽ có váng mỡ do mật không được bài tiết xuống ruột đầy đủ để tiêu hóa chất béo. Ở trường hợp này, trong chế độ ăn phải hạn chế các chất mỡ động vật mà nên dùng các loại dầu nhất là dầu đậu nành để giúp thức ăn dễ tiêu hóa hơn.

BS. HỒ VĂN CƯNG
Theo SKĐS

Làm gì khi trẻ nôn ói

Những ngày gần tết, các bé có triệu chứng nôn ói đến khám tại phòng khám “Bệnh viện Nhi đồng 2” tăng. Có nhiều nguyên nhân gây nôn ói ở trẻ, những ngày gần tết do các phụ huynh muốn tăng cường thêm năng lượng cho trẻ bằng cách cố ép trẻ ăn nhiều hơn, hoặc do bố mẹ nhiều việc nên không kiểm soát việc ăn uống của trẻ, trẻ dễ dẫn đến các rối loạn tiêu hóa.

Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người lớn coi sóc các cháu nên chú ý xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm theo các triệu chứng gì không thì mới xác định được là hiện tượng này không quan trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :

lam_gi_khi_tre_non_oi

* Ðang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc vì các chất tiêu hóa di chuyển ngược chiều đoạn dạ dày – ruột Nôn ói sẽ dẫn tới hiện tượng cơ thể thiếu nước.

* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc ruột. Cần tới bác sĩ ngay.

* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai hay viêm niệu đạo.

Phần lớn các cháu bé nôn ói vì thức ăn chuyển động ngược lại đoạn thực quản – dạ dày

Các cháu nhỏ thường nôn ói vì động cơ tâm lý, làm nũng mẹ.

Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có thể do các bệnh đau ruột thừa,  viêm gan…

Làm gì khi trẻ hay nôn ói ?

1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi… Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa  hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả

Đăng bởi: Bs Nguyễn Văn Tân Minh
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em

Rối loạn tiêu hóa (RLTH) là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những bất thường về chức năng dạ dày. Nguyên nhân của RLTH rất đa dạng như: bệnh lý của cơ thể, thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc… đặc biệt là sự thay đổi chế độ ăn đột ngột của trẻ em khi bắt đầu ăn dặm, sẽ gây nên TLTH thể hiện qua các triệu chứng như: đầy hơi, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống.

Với những trẻ thường xuyên có biểu hiện bất thường tại đường tiêu hóa, chắc chắn khả năng cung cấp đủ các chất cho cơ thể bị ảnh hưởng. Trẻ ăn vào ói ra, kém hấp thu… lâu ngày sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng và diễn tiến đến suy dinh dưỡng.

Vì vậy, những trẻ có biểu hiện RLTH nên được đi khám sớm và đúng chuyên khoa để có hướng điều trị đúng cho trẻ. Dưới đây là một số bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

benh_ly_tieu_hoa_thuong_gap_o_tre_em

Trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng trào ngược những chất chứa trong dạ dày vào trong thực quản. Do cấu trúc giải phẫu dạ dày – thực quản của trẻ nhỏ không giống như người lớn, thực quản thì ngắn, phần dưới hơi nở rộng, lớp cơ chưa phát triển hoàn chỉnh và còn yếu, cơ tâm vị co thắt bất thường nên bé rất dễ nôn trớ. Nếu trẻ nôn ít (vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2 lần), vẫn bú khỏe, lên cân tốt thì không sao và hiện tượng trào ngược này sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Dù có điều trị hay không thì đến năm 2 tuổi, khoảng 60% trẻ sẽ tự hết, 40% còn lại có thể kéo dài đến 4 tuổi.

Táo bón

Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau hoặc chỉ là 1 rối loạn cơ năng (thường gặp nhất). Táo bón được định nghĩa khi bé có số lần đi tiêu ít hơn bình thường (thay đổi theo lứa tuổi và mỗi cá nhân) với phân to, cứng, đau khi đi tiêu và đôi khi có máu. Táo bón có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: viêm ruột, thủng ruột… Do đó, cần được khám và tìm nguyên nhân gây táo bón để có điều trị thích hợp. Táo bón rất hay gặp ở trẻ còn nhỏ khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ. Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Những đứa trẻ còi xương, sinh thiếu tháng rất hay bị táo bón. Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn. Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn. Các loại nước ận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Cách đề phòng táo bón tốt nhất là tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày. Các thuốc nhuận tràng chỉ nên uống sau khi hỏi ý kiến của bác sĩ.

Tiêu chảy

Khi trẻ đi tiêu ra phân lỏng như nước trên 3 lần một ngày thì được coi là tiêu chảy. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời. Do đó, điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy là phải bù điện giải cho trẻ, tốt nhất bằng nước oresol và phải tuân thủ hướng dẫn pha oresol, cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày. Còn nếu trẻ diễn tiến bệnh nặng hơn, tốt nhất hãy đưa trẻ đến một cơ sở y tế để điều trị.

Để phòng bệnh tiêu chảy, cha mẹ cần chú ý đảm bảo vệ sinh cho trẻ, thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh tay sạch sẽ trước và sau ăn. Còn khi bệnh, ngoài việc bù nước, điện giải tốt nhất, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, ăn những thức ăn loãng, dễ tiêu giúp tăng cường sức khỏe, trẻ sẽ có đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.

BS. Ngọc Lan
Theo SKDS

Cải thiện hiệu quả bệnh rối loạn tiêu hóa ở trẻ nhỏ

Một trong những vấn đề sức khỏe thường gặp ở trẻ đó là tình trạng rối loạn tiêu hóa (RLTH) khiến phụ huynh lo lắng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, 30% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là do RLTH. Cải thiện hiệu quả RLTH góp phần cải thiện sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ.

Nguyên nhân chính của tình trạng rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Thông thường, hệ tiêu hóa của người có khoảng hàng tỉ vi khuẩn khác nhau tạo nên hệ vi khuẩn hết sức phong phú. Hệ vi khuẩn này có sự hoạt động cân bằng, hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa giúp cơ thể hấp thụ tốt thức ăn. Những tác động bất lợi cho việc tiêu hóa như cấu trúc hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nhất là trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, việc sử dụng kháng sinh kéo dài, thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh vì bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc, thành phần thức ăn không phù hợp với lứa tuổi của trẻ, đặc biệt trẻ đang bị căng thẳng tâm lý, bồn chồn lo lắng, học tập căng thẳng…dễ dẫn tới sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa.

cai_thien_hieu_qua_benh_roi_loan_tieu_hoa_o_tre_nho

Nuôi con bằng sữa mẹ để giúp trẻ giảm thiểu nguy cơ rối loạn tiêu hóa

Cấu trúc hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện: ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, do hệ tiêu hóa chưa phát triển hoàn thiện nên các cơ và dây thần kinh của hệ dạ dày – ruột ở trẻ hoạt động không ăn ý, trẻ dễ bị chứng trào ngược thực quản và khó tiêu.

Sử dụng kháng sinh liên tục và kéo dài: trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, cần phải sử dụng kháng sinh điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Kháng sinh không chỉ tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn diệt luôn cả vi khuẩn có lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho các vi khuẩn có hại xâm nhập và phát triển mạnh hơn, gây mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, còn gọi là “ loạn khuẩn ruột”, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, thường gặp nhất là tình trạng đầy bụng, trướng hơi, tiêu phân sống, tiêu phân lầy nhầy, làm giảm khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Thức ăn bị ô nhiễm do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc: nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy(tiêu phân lỏng, tiêu phân có máu, tiêu đàm nhớt) thường là do vệ sinh kém trong quá trình chế biến thức ăn cũng như trongsinh hoạt, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa để gây bệnh. Mặt khác, khi bị vi khuẩn tấn công, nếu cơ địa trẻ hay thành ruột quá yếu thì bệnh càng trở nên trầm trọng hơn, nhất là những trường hợp ngộ độc thức ăn nghiêm trọng làm cho trẻ tiêu chảy ồ ạt, nôn – ói nhiều, đau quặn bụng… không chữa trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Thức ăn không phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ: thường gặp nhất là tình trạng không dung nạp đường lactose và khó tiêu hóa đạm trong sữa công thức, vì cơ thể trẻ không có khả năng sản sinh đủ lượng lactose enzyme để tiêu hóa đường lactose. Khi đó lượng đường lactose không được tiêu hóa vẫn nằm trong ruột của trẻ gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa. Ngoài ra, lượng đạm nhiều quá mức trong một số loại sữa công thức, vượt quá ngưỡng hấp thu của ruột cũng góp phần làm trẻ dễ bị táo bón do ruột phải tăng hấp thu nước để hòa tan lượng đạm thừa này trong nước tiểu.

Trẻ đang bị căng thẳng về tâm lý cũng dễ bị rối loạn tiêu hóa: việc tiêu hóa của trẻ không được thuận lợi vì khi trẻ lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, quấy khóc… làm cho việc bài tiết men tiêu hóa và các enzyme cần thiết để phân hủy và hấp thụ thức ăn bị giảm sút một cách đáng kể cũng làm cho tình trạng rối loạn tiêu hóa dễ xảy ra hơn.

Hậu quả của tình trạng rối loạn tiêu hóa

WHO nhận định, có khoảng 500 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới bị suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa được xem là nguyên nhân trực tiếp, hoặc gián tiếp chiếm đến 30%.

Khi tình trạng RLTH tiếp diễn kéo dài, chẳng bao lâu sức khỏe của trẻ sẽ bị suy sụp, rất khó trở lại trạng thái mạnh khỏe lúc ban đầu. Ngoài ra, khi trẻ đã bị suy dinh dưỡng sẽ lại càng dễ bị rối loạn tiêu hóa hơn, trẻ càng biếng ăn hơn, từ đó tình trạng suy dinh dưỡng sẽ trầm trọng, cứ thế gây nên một vòng luẩn quẩn khó có thể giải quyết tận gốc.

Theo kết quả khảo sát về tình hình dinh dưỡng ở trẻ em gần đây cho thấy, có tới 80% trẻ em Việt Nam có biểu hiện biếng ăn, còi cọc, suy dinh dưỡng là do chứng rối loạn tiêu hóa gây ra.

Giải pháp cải thiện tình trạng

Tăng cường việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhất là khuyến khích người mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời vì sữa mẹ chính là nguồn dinh dưỡng quý giá đối với trẻ nhỏ, trẻ bú mẹ thường rất ít bị rối loạn tiêu hóa vì sữa mẹ rất an toàn, nhiều kháng thể và rất phù hợp với sự tiêu hóa của trẻ.

Cho trẻ ăm dặm đúng cách, đúng thời điểm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (khi trẻ tròn 6 tháng tuổi) bằng các loại thức ăn phù hợp theo từng lứa tuổi của trẻ sẽ giúp hệ tiêu hóa của trẻ luôn khỏe mạnh.

Nếu trẻ được nuôi bằng sữa công thức, phụ huynh nên tuân thủ việc pha sữa đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải luôn đảm bảo việc vệ sinh bình sữa để ngăn ngừa hiệu quả các bệnh lý lây nhiễm qua đường tiêu hóa.

Thực hiện việc chế biến thức ăn cho trẻ phải tuân thủ tuyệt đối quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm do Bộ Y tế ban hành, để hạn chế tối đa những trường hợp ngộ độc thực phẩm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Tạo cho trẻ thói quen giữ vệ sinh cá nhân tốt, nhất là thói quen rửa tay sạch sẽ đúng cách trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi chơi đùa.

Thực hiện việc tẩy giun định kỳ cho trẻ từ 2 tuổi mỗi 6 tháng 1 lần, nhằm giảm những tác hại do nhiễm giun gây ra trong đó có tình trạng rối loạn tiêu hóa.

Bổ sung men tiêu hóa và các vitamin cần thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ được tốt hơn, nhất là đối với những trẻ đang điều trị kháng sinh sẽ làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ.

Ths.Bs Đinh Thạc
Theo SKDS

Những điều cần biết về viêm ruột thừa

Bé gái N.T.D, 13 tuổi, đau bụng 1 ngày vùng bụng dưới kèm theo sốt nhẹ, tiêu lỏng. Vì gần ngày hành kinh nên bé tưởng mình bị đau bụng kinh, ráng chịu đựng và không nói với cha mẹ. Đến khi hết chịu nổi, bé mới nói và được gia đình đưa đi khám phát hiện ra bé bị viêm ruột thừa hóa mủ. Bé trai T.T.L, 5 tuổi, đau bụng vùng quanh rốn 2 ngày nay , có sốt, buồn nôn và tiêu chảy 2-3 lần/ngày, gia đình tưởng bé bị rối loạn tiêu hóa nên có tự dùng thuốc ở nhà. Sau uống thuốc 1 ngày mà bé vẫn còn đau bụng đồng thời sốt nhiều hơn, bụng gồng cứng, gia đình đưa bé vào khám mới hay bé bị viêm ruột thừa vỡ gây tình trạng nhiễm trùng khắp ổ bụng. Cả 2 bé đều được nhập viện và phẫu thuật cấp cứu kịp thời trong đêm.

Viêm ruột thừa ở trẻ em là 1 bệnh lý khá phổ biến, gần như ngày nào khoa ngoại cũng tiếp nhận và phẫu thuật cho 2-3 trường hợp viêm ruột thừa. Trong đó, có những trường hợp viêm ruột thừa chưa có biến chứng, mổ xong bé hồi phục rất nhanh; nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, abces ruột thừa, mủ lan tràn khắp ổ bụng, mổ xong hậu phẫu còn nhiều sóng gió, thời gian nằm viện lâu, gây nhiều thắc mắc cho thân nhân của bé.  Nhiều cha mẹ của bé thắc mắc tại sao không mổ sớm, tại sao để ruột thừa vỡ, tại sao phải mổ lại …Bài viết nhỏ sao nhằm trả lời 1 phần nào các thắc mắc hầu làm cho công tác điều trị giữa nhân viên y tế và thân nhân được tốt hơn.

nhung_dieu_can_biet_ve_viem_ruot_thua_01

Ruột thừa là gì và ở đâu?

Ruột thừa là một bộ phận nhỏ như ngón tay cái nằm ở phía dưới bên phải của bụng, có 1 đầu bịt kín, đầu kia thông với manh tràng(đoạn đầu tiên của ruột già).

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa?

Nếu vì 1 nguyên nhân nào đó làm cho lòng ruột thừa bị tắt nghẽn ( do sỏi phân, quá sản tổ chức limpho ở thành ruột thừa, dị vật..) sẽ khiến cho ruột thừa bị sưng lên và nhiễm trùng, tạo thành ruột thừa viêm.

Biến chứng của viêm ruột thừa?

Nếu không điều trị, ruột thừa có thể bị hoại tử, vỡ ra, vi khẩn tăng sinh làm mủ lan tràn ổ bụng gọi là  viêm phúc mạc gây nhiễm khuẩn huyết (nhiễm trùng máu), suy đa cơ quan và cuối cùng là tử vong.

Viêm ruột thừa xảy ra ở lứa tuổi nào?

Viêm ruột thừa có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3-4 tuổi. Những trường hợp này rất khó chẩn đoán vì trẻ chưa có khả năng diễn đạt rõ ràng tình trạng đau của mình và không dễ phân biệt với các bệnh lý có triệu chứng đau bụng khác. Đặc biệt, viêm ruột thừa ở trẻ tiến triển rất nhanh và có thể vỡ dễ dàng . Do vậy việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra. Đồi với các trường hợp ruột thừa khó, đau không điển hình, khi không loại trừ được viêm ruột thừa, đôi khi bác sĩ phải quyết định mổ thám sát , tránh trường hợp xấu nhất là ruột thừa vỡ gây biến chứng viêm phúc mạc.

Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa?

Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa là đau vùng bụng dưới bên phải ( còn gọi là hố chậu phải). Kiểu đau của viêm ruột thừa thường bắt đầu ở vùng quanh rốn trước khi khu trú ở hố chậu phải.Tuy nhiên với trẻ em, điểm đau rất khó xác định vì trẻ đa phần gặp bác sĩ là sợ, kêu khóc, không miêu tả được là đau ở đâu, thậm chí khám bụng chỗ nào cũng kêu đau. Trẻ bị viêm ruột thừa  thường có môi khô, lưỡi dơ biểu hiện tình trạng nhiễm trùng. Phần lớn trẻ có sốt nhẹ, giao động 38-38,5 độ C nhưng có khi trẻ không có triệu chứng này, chỉ khi đoạn ruột thừa viêm bị vỡ thì mới sốt. Ngoài ra, bé sẽ có tình trạng mệt mỏi, chán ăn, bụng chướng do ruột bị kích thích kèm theo buồn nôn, nôn ói. Tiêu chảy có thể có hoặc không, nhưng nếu có sẽ làm tăng khả năng chẩn đoán. Biểu hiện nôn và tiêu chảy ở trẻ viêm ruột thừa cũng dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa.

Siêu âm có giúp chẩn đoán viêm ruột thừa?

Siêu âm là 1 cận lâm sàng tốt, không xâm lấn và không gây hại. Siêu âm với tay nghề tốt của người đọc có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, có khả năng là viêm, thấy được dịch trong ổ bụng, thấy được buồng trứng ở bé gái…giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là  đau bụng. Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là 1 công cụ hổ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa. Chẩn đoán viêm ruột thừa cần chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh ) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ.

Trường hợp nào nên nghi ngờ trẻ bị viêm ruột thừa

Đúc kết lại, bác sĩ lưu ý các dấu hiệu sau ở 1 trẻ có khả năng bị viêm ruột thừa:

– Đau bụng vùng quanh rốn, hố chậu phải.

– Sốt nhẹ.

– Buồn nôn và nôn.

– Tiêu lỏng.

– Bụng chướng.

Các triệu chứng này có thể xuất hiện không đầy đủ. Do đó các bậc phụ huynh cần đưa con  khám nếu trẻ đau bụng nhiều, không giảm sau 1-2 giờ, kèm theo nôn, đi lỏng hoặc sốt để được theo dõi tại bệnh viện vì việc theo dõi ở nhà rất nguy hiểm. Ngoài ra, các bậc phụ huynh không nên tự ý dùng thuốc giảm đau cho trẻ nếu trẻ đau bụng mà chưa xác định được nguyên nhân vì thuốc có thể làm mất các triệu chứng bệnh và gây khó khăn cho việc chẩn đoán của bác sĩ.

Mổ viêm ruột thừa xong là ổn?

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có còn các biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp ( mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì do mủ lan tràn khắp ổ bụng nên biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Thời gian nằm viện của trẻ bị viêm ruột thừa?

Rất khó có 1 thời gian biểu chung cho thời gian nằm viện của trẻ bị viêm ruột thừa vì đôi khi còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của trẻ trước đó và các bệnh lý đi kèm của trẻ. Nhưng tựu chung thì các viêm ruột thừa cấp và hóa mủ thì thời gian nằm viện khoảng 1 tuần, còn viêm phúc mạc ruột thừa thì khoảng 2 tuần.

Mổ ruột thừa nội soi hay mổ mở tốt?

Nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa mổ nội soi và mổ mở về mặt biến chứng. Nhưng mổ ruột thừa nội soi là 1 bước tiến mới trong tiếp cận mổ viêm ruột thừa, nhất là đối với các trẻ có thể trạng mập. Trẻ sau mổ sẽ bớt đau hơn mổ thông thường do ít phải cắt cơ, quan sát được toàn thể ổ bụng, thời gian hồi phục nhanh hơn và sẹo mổ thẩm mỹ hơn.

nhung_dieu_can_biet_ve_viem_ruot_thua_02

Hình ảnh ruôt thừa viêm qua ống kính nội soi.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa ngoại
Theo benhviennhi.org.vn

Ăn cháo trị rối loạn tiêu hóa, khó tiêu

Khó tiêu, rối loạn tiêu hóa thường là do sai lầm trong chế độ ăn uống như ăn quá nhiều nhất là chất đường, mỡ, chất bột, ăn vội, nhai không kỹ, ăn không thành bữa. Táo bón nhiều cũng dễ sinh chứng khó tiêu. Sau đây là một số món cháo giúp trị chứng rối loạn tiêu hóa, khó tiêu.

Cháo thịt dê, cao lương

Thành phần: thịt dê 100g, gạo cao lương 100g, muối ăn vừa đủ.

Cách chế: thịt dê rửa sạch thái quân cờ, cho cùng gạo cao lương đãi sạch, nước 1 lít nấu loãng, cho muối ăn vừa đủ.

Công hiệu: khai vị giúp tiêu hóa.

Công dụng: dùng cho các chứng bệnh tỳ, vị hư nhược, rối loạn tiêu hóa, ngực đau âm ỉ…

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo cá diếc, táo đỏ

Thành phần: cá diếc 250g, táo đỏ 50g, gạo lứt 100g, hành, gừng, rượu vang, muối tinh vừa đủ.

Cách chế: cá diếc làm vẩy, bỏ mang và nội tạng, rửa sạch cắt miếng cho vào nồi, cùng với nước, rượu vang, hành, gừng, muối nấu chín nhừ, dùng sàng lọc bỏ bã, lấy nước, cho gạo đãi sạch, táo đỏ thêm nước vừa đủ, đun nhỏ lửa từ từ đến khi hạt gạo nở ra, cho muối vừa đủ là được.

Công hiệu: kiện tỳ, ích vị, lợi thủy, tiêu thũng.

Công dụng: dùng cho các chứng bụng lạnh đau do tràng vị bất hòa, chống nôn mửa, chân tay phù thũng…

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần. Không nên ăn các thức ăn sống, nguội lạnh.

cach-chua-tri-roi-loan-tot-nhat-voi-chao

Cháo ca la thầu

Thành phần: ca la thầu 50g, thịt dê chín 50g, hành lá 5g, gừng lá 5g, muối tinh 2g, dầu thơm 25g, gạo nếp 100g.

Cách chế: ca la thầu rửa sạch cắt vụn, thịt dê chín cũng thái vụn, sau đó cho dầu ăn vào xào qua ca la thầu, thịt dê cho thơm. Cho 1 lít nước và gạo nếp đãi sạch vào, ban đầu lửa to đun sôi, sau lửa nhỏ nấu đến khi hạt gạo nở ra lại cho tiếp hành, gừng, muối vừa đủ đun qua là được.

Công hiệu: khai vị, hạ khí, lợi thấp giải độc, trị ho, giải khát.

Công dụng: dùng cho chứng ăn không tiêu, bụng lạnh đau, tiêu khát, hoàng đản…

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo ngưu đỗ, song nha

Thành phần: ngưu đỗ (bao tử bò, trâu) 100g, cốc nha 30g, mạch nha 30g, mề gà 100g, gạo lứt 50g, muối ăn vừa đủ.

Cách chế: ngưu đỗ rửa sạch, cắt quân cờ; cốc nha, mạch nha, mề gà cho vào túi vải, cho tiếp gạo lứt đãi sạch, cùng ngưu đỗ, túi vải vào nồi, đổ nước nấu chín nhừ là dùng được.

Công hiệu: kiện tỳ, khai vị, trừ cam tích.

Công dụng: dùng cho các chứng rối loạn chức năng tiêu hóa và chứng cam tích…

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo bát bảo

Thành phần: khiếm thực 6g, sơn dược 6g, phục linh 6g, liên nhục 6g, nhân ý dĩ 6g, bạch biển đậu 6g, đẳng sâm 6g, bạch truật 6g, gạo lứt 150g.

Cách chế: lấy 8 vị thuốc đầu rửa sạch, cho nước nấu khoảng 40 phút, bỏ bã lấy nước, cho gạo lứt đãi sạch vào nước thuốc, nấu đến khi được cháo, cho gia vị vào dùng.

Công hiệu: khai vị, kiện tỳ, dưỡng tâm, ích trí.

Công dụng: dùng cho các chứng bệnh hấp thu kém, loạn nhịp tim, mệt mỏi, sức nhớ giảm sút, không tập trung… do tỳ vị hư nhược.

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo lá lách, bao tử lợn, cà rốt

Thành phần: lá lách 100g, bao tử lợn chín 50g, cà rốt trắng 100g, rượu vang 5g, dầu ăn 25g, bột hồ tiêu 2g, hành lá 5g, gừng 5g, gạo lứt 100g, gia vị vừa đủ.

Cách chế: lá lách, bao tử lợn và cà rốt rửa sạch, cắt nhỏ hạt lựu, cho dầu ăn vào nồi, cho lá lách, bao tử lợn, cà rốt vào xào qua, cho rượu vang vào, cho tiếp 1 lít nước, gia vị, hành gừng, gạo lứt đãi sạch vào rồi nấu cháo, cháo chín cho bột tiêu vào là được.

Công hiệu: kiện tỳ vị, giúp tiêu hóa.

Công dụng: dùng cho các chứng tỳ vị khí hư, rối loạn tiêu hóa, cơ thể yếu sau khi bị ốm…

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo thần khúc

Thành phần: thần khúc 10 – 16g, gạo lứt 100g.

Cách chế: thần khúc giã nát, cho 0,2 lít nước nấu còn 0,1 lít, bỏ bã lấy nước, cho gạo lứt đãi sạch vào với 0,6 lít nước nấu cháo loãng.

Công hiệu: kiện tỳ hòa trung, giải cảm, tán hàn.

Công dụng: dùng cho các chứng bệnh rối loạn tiêu hóa, ăn tích khó tiêu, đại tiện nước lỏng, và người cảm mạo phong hàn.

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn hai bữa sáng tối.

Cháo quả sung

Thành phần: sung quả 50g, đường phèn 100g, gạo lứt 100g.

Cách chế: sung rửa sạch, cắt nhỏ, cho gạo lứt đãi sạch vào nồi, nước 1 lít, đun sôi, cho sung và đường phèn vào nấu cháo.

Công hiệu: kiện tỳ, lý khí, sạch ruột cầm đi tả, ngừng ho, trừ đờm.

Công dụng: dùng cho các chứng bệnh không muốn ăn, rối loạn tiêu hóa, viêm ruột, kiết lỵ, ho đờm nhiều, họng đau, phổi nóng, mất tiếng, trĩ máu…

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo phật thủ, đường phèn

Thành phần: phật thủ 15g, đường phèn 15g, gạo lứt 100g.

Cách chế: phật thủ rửa sạch, cho nước đun, bỏ bã lấy nước, sau đó cho gạo lứt đãi sạch, đường phèn vào nấu cháo.

Công hiệu: kiện tỳ, dưỡng vị, lý khí, hết đau.

Công dụng: dùng cho chứng người già dạ dày yếu, không thích ăn, rối loạn tiêu hóa, nôn mửa khó chịu.

Cách dùng: ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

BS. LÊ THU HƯƠNG

Theo SKDS

Rối loạn tiêu hóa nên phòng ở người cao tuổi

Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi (NCT) có nhiều dạng khác nhau, trong đó dạng mạn tính hay gặp nhất, gây không ít phiền toái trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Các dạng rối loạn tiêu hóa

Khi tuổi đã cao, sức đề kháng đã yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công, trong đó các bệnh về đường tiêu hóa rất dễ gặp. Nhiều NCT than phiền mệt mỏi, không thèm ăn, không muốn ăn. Nhiều người bệnh cho biết, họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ăn như những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm đáng kể bài tiết dịch vị (nước bọt, dịch vị, dịch ruột, dịch mật…).

ngua-roi-loan-tieu-hoa-o-nguoi-cao-tuoi-1

Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm cho dễ nuốt nhưng cũng khó khắc phục được hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn. Lý do gây nghẹn ở NCT tuổi có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng và vì vậy sự co bóp của đường tiêu hóa cũng sẽ bị giảm đi, nhất là các cơ ở thực quản.

Do cơ của hệ tiêu hóa suy giảm chức năng và các men tiêu hóa của hệ đường ruột cũng bị suy giảm một cách đáng kể cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mơ nhiều đạm. Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn, khi có các loại thức ăn bổ dưỡng như bữa cơm có thịt, có cá hoặc rất ngại uống sữa.

NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm khi tuổi cao bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày – tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày).

Bệnh sa dạ dày ở NCT có thể xảy ra lúc tuổi đã cao mà lúc còn trai tráng hoặc trung niên không gặp phải, lý do cũng có thể là do các cơ của thành dạ dày bị yếu dần đi theo tuổi tác. Mặt khác do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể làm cho người bệnh lúc nào cũng thấy đầy bụng, chướng hơi, ăn không tiêu và chán ăn. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ).

Các bệnh rối loạn tiêu hóa và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là rối loạn tiêu hóa làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt lại làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên.

Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa, vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định làm cho việc tiêu hóa thức ăn tốt. Khi hệ thống gan mật không tốt, ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, viêm đường mật mạn tính hoặc sỏi mật.

Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu, đặc biệt táo bón ở NCT và cũng rất được quan tâm. Người ta tổng kết thấy NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây táo bón cho NCT nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ăn ít rau, quả hoặc không ăn, thêm vào đó lại uống ít nước. Càng ăn ít rau, uống ít nước kèm theo ít vận động, hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra và nếu để táo bón kéo dài thì gây nên nhiều biến chứng bất lợi cho NCT. Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu. Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh mà rặn mạnh thì đau, chảy máu. Chính vì vậy, táo bón lại càng tăng lên, thỉnh thoảng lại xuất hiện cơn đau quặn bụng, nhất là đau bụng dưới mà hay gặp nhất là đau vùng hố chậu bên phải làm cho dễ nhầm với viêm ruột thừa. Lý do NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần nhất là tiểu đêm. Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và nhất là có sa sút trí tuệ thì đó là điều bất lợi.

Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa như thế nào?

Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số bệnh gây rối loạn tiêu hóa ở NCT nhiều khi không cần dùng thuốc mà bệnh cũng có thể khỏi hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng bệnh rối loạn tiêu hóa cho NCT là có chế độ ăn hợp lý, kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái.

Một số NCT chán ăn, không thèm ăn, người nhà cần động viên và nếu cần bón giúp trong các bữa ăn, nhất là khi NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để làm sao làm cho họ không bỏ bữa. Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ. Những người đã bị táo bón thì nên cho ăn thêm củ khoai lang luộc, ăn canh rau mồng tơi, rau đay và cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 2 lít trong một ngày đêm). Nếu bị bệnh về dạ dày thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi.

Trong các bệnh về rối loạn tiêu hóa ở NCT, vận động cơ thể là điều rất cần thiết. Vận động cơ thể ở NCT không có nghĩa là phải tập luyện các động tác mạnh mẽ, khó mà chỉ cần vận động nhẹ nhàng, ví dụ như xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ bắp hoặc đi bộ (nếu có thể). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân nhưng khi sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn hoặc có thể chơi thể thao như cầu lông, bơi… Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 – 3 lần tập. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như: đọc báo, xem vô tuyến, nghe đài… Nếu có câu lạc bộ cho NCT thì nên tham gia, nếu không có thể sinh hoạt theo nhóm

PGS.TS. BÙI MAI HƯƠNG

Theo SKDS

Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa

Rối loạn tiêu hóa ở trẻ em là một trong những bệnh lý khiến các bậc phụ huynh luôn phải quan tâm lo lắng. Có em thì bị táo bón kéo dài, có em lại bị đi ngoài sống phân, tiêu chảy… Vì sao lại thế và làm thế nào để khắc phục?

Nguyên nhân dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Nói về nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa thì có nhiều, nhưng đối với trẻ em thì những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do trẻ chưa ý thức được vấn đề vệ sinh cơ thể, vệ sinh ăn uống, nề nếp sinh hoạt và sự lây nhiễm qua tiếp xúc. Đặc biệt là đối với học sinh thì những rối loạn tiêu hóa thường gặp là táo bón và tiêu chảy cấp.

khi-nao-tre-bi-roi-loan-tieu-hoa-1

Táo bón

Táo bón là một trong những triệu chứng rất phổ biến của bệnh lý hệ thống tiêu hoá và cũng là triệu chứng xuất hiện trong rất nhiều bệnh lý khác trong cơ thể. Tuy chỉ là triệu chứng nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống nhưng gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân và nếu táo bón xảy ra kéo dài ở trẻ em, rất dễ dẫn tới các tổn thương thực thể của đại trực tràng nếu không được điều trị kịp thời.
Có rất nhiều nguyên nhân gây táo bón như sau sốt cao, do dùng thuốc; do thói quen đi đại tiện không đều; do chế độ ăn nhiều đạm, ít chất xơ, do căng thẳng thần kinh, do tổn thương trong ống tiêu hóa… tuy nhiên ở trẻ em trong độ tuổi đi học thường táo bón do một vài nguyên nhân sau: chứng táo bón do chế độ ăn không đủ nước và chất xơ. Những trẻ ăn chế độ ăn đặc biệt với thức ăn nhanh – giàu chất béo (thịt rán, sữa trứng khuấy sẵn) và đường (kẹo, nước ngọt nhiều đường) có thể bị táo bón thường xuyên hơn. Thường thì chứng táo bón xuất hiện sau khi trẻ trải qua một thời gian viêm nhiễm, không khỏe.

Trong khi bị ốm, trẻ thường không uống đủ lượng nước cần thiết khiến chất thải trở nên rắn và rất khó di chuyển. Những chất thải này sẽ gây xước hậu môn và là nguyên nhân gây ra bệnh nứt hậu môn. Stress cũng có thể dẫn tới táo bón, trẻ có thể bị táo bón khi chúng lo lắng về điều gì đó, chẳng hạn như khi trẻ bắt đầu đi học ở trường mới hoặc khi trẻ gặp vấn đề gì đó ở nhà. Trẻ lười đi vệ sinh, thậm chí ngay cả khi trẻ có “nhu cầu”. Tuy nhiên đây lại là một nguyên nhân ít được để ý đến.

Một số trẻ bị táo bón do mắc phải hội chứng ruột kích thích (IBS), có thể xảy ra khi trẻ bị stress hoặc khi trẻ ăn phải thức ăn nào đó, thường là thức ăn quá nhiều chất béo hoặc gia vị. Tuy nhiên cũng cần chú ý trong một số trường hợp, táo bón kéo dài có thể là dấu hiệu của một bệnh lý thực thể nào đó như dài đại tràng, trĩ… vì vậy cần đưa trẻ đến bác sĩ để thăm khám nếu táo bón kéo dài.

Tiêu chảy cấp

Người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.
Cũng giống như ở người lớn, nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em thường gặp nhất là do nhiễm trùng, đây là loại tiêu chảy gặp khắp nơi trên thế giới đặc biệt ở các nước kém phát triển, đồng thời là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và tử vong cao ở trẻ em. Sở dĩ nguyên nhân gây tiêu chảy cấp chủ yếu do nhiễm khuẩn vì điều kiện vệ sinh thấp kém, môi trường ô nhiễm, thiếu nước sạch, ăn ở đông đúc chật chội, thiếu giáo dục và y tế. Hầu hết nhiễm trùng gây tiêu chảy cấp lây truyền qua đường phân – tay – miệng, qua nước và thức ăn nhiễm bẩn.

Khi bị tiêu chảy cấp, ngoài đi đại tiện nhiều lần trong ngày, phân lỏng nhiều nước, thường có kèm theo nôn mửa, đau bụng, sốt và các biểu hiện toàn thân khác tùy theo từng nguyên nhân. Các nguyên nhân hay gặp gây nên tiêu chảy cấp ở trẻ em là:

– Tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn, do các vi khuẩn dạng campylobacter gây ra. Ổ chứa vi khuẩn là động vật, thường là ở gia súc và gia cầm như chó con, mèo con, chim, lợn, các động vật gặm nhấm… đều có thể là nguồn lây bệnh cho người. Nguyên nhân các vụ dịch xảy ra phần lớn liên quan đến thức ăn và nhất là thịt gia cầm không được nấu chín, sữa không được tiệt khuẩn và nước chưa được lọc sạch.

– Tiêu chảy cấp do salmonela: đây là nguyên nhân hay gặp nhất trong các nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn. Khi nhiễm vi khuẩn, sau 12 – 36 giờ sẽ xuất hiện các biểu hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan tỏa khắp bụng; buồn nôn và nôn nhiều lần, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, dẫn đến mất nước nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến thiểu niệu, vô niệuvà tử vong do rối loạn nước và điện giải. Điều trị chủ yếu bổ sung nước và điện giải, hạ sốt, an thần và cân nhắc khi sử dụng kháng sinh.

– Tiêu chảy cấp do độc tố của tụ cầu: bệnh cảnh này là do ăn phải thức ăn đã nhiễm ngoại độc tố của tụ cầu vàng. Sau khi nhiễm từ 30phút – 6giờ, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị nhiều hơn vùng rốn, đau quặn từng cơn; buồn nôn và nôn nhiều lần trước khi đi ngoài nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước; thường không có sốt hoặc sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, có thể rối loạn nước và điện giải dẫn đến trụy tim mạch, dễ gây tử vong ở trẻ nhỏ. Điều trị chủ yếu là bổ sung nước và điện giải, trợ tim mạch.

– Bệnh do Rotavirus: bệnh lây theo đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống nhiễm virus. Virus này chủ yếu gây bệnh cho trẻ em dưới 2 tuổi; thường xuất hiện sau 24 – 48h, khởi phát đột ngột với các triệu chứng sốt cao hoặc không sốt, nôn nhiều, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước, đôi khi dẫn đến rối loạn nước và điện giải rất nhanh. Điều trị chủ yếu là điều chỉnh cân bằng nước và điện giải.
– Bệnh do phẩy khuẩn tả: Bệnh lây nhiễm theo đường tiêu hóa, do ăn phải thức ăn, nước uống… bị nhiễm mầm bệnh trong quá trình nuôi trồng, chế biến, bảo quản… hoặc do ruồi nhặng, chuột gián… làm lây lan mầm bệnh. Đặc biệt nguồn nước bị ô nhiễm là phương tiện lây truyền hết sức nguy hiểm. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, đặc biệt những vùng sau lũ lụt; thường xuất hiện ở các nước và những vùng có trình độ kinh tế xã hội thấp kém, không cung cấp đủ nước sạch, điều kiện vệ sinh môi trường không tốt.

Sau khi nhiễm phẩy khuẩn tả, bệnh biểu hiện đột ngột xuất hiện ỉa lỏng dữ dội, phân toàn nước, màu trắng đục như nước vo gạo có lẫn những hạt trắng lổn nhổn mùi tanh. Đi ngoài dễ dàng, số lượng nhiều, nhiều lần. Sau khi đi lỏng vài giờ sẽ xuất hiện nôn, nôn dễ dàng, số lượng nhiều, lúc đầu là nước và thức ăn, sau dịch giống như dịch phân; thường không sốt hoặc sốt nhẹ; bệnh nhân mệt lả, khát nước, có khi xuất hiện khó thở, các đầu chi lạnh rúm ró, mạch nhanh nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt. Nếu không điều trị kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong vì shock không hồi phục.

khi-nao-tre-bi-roi-loan-tieu-hoa-2

Dự phòng rối loạn tiêu hóa thế nào?

Táo bón: Tập cho trẻ có thói quen đi đại tiện đúng giờ, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao, cứ kiên trì, đúng giờ cho trẻ ngồi vào bô như vậy (khoảng 10-15 phút), nói chung khoảng vài tuần sau là có thể tạo thành thói quen phản xạ đi ngoài.

Tăng cường rau xanh trong bữa ăn của trẻ kết hợp hoa quả như cam, bưởi, đặc biệt là chuối, cho trẻ ăn 1 – 2 quả chuối một ngày có thể đạt được hiệu quả của việc nhuận tràng, uống nước đun sôi để ấm. Ngoài ra có thể cho trẻ uống một chút nước mật ong vào sáng sớm, mỗi lần uống không ít hơn 60ml và pha bằng nước sôi.

Tiêu chảy: Để dự phòng tiêu chảy cấp cho trẻ, người lớn (gia đình và nhà trường) cần giáo dục cho học sinh có ý thức giữ gìn môi trường sạch sẽ; giữ gìn vệ sinh cá nhân như luôn rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; không chơi đùa tại những nơi có rác bẩn; không ăn thức ăn đường phố, thức ăn không đảm bảo vệ sinh; ăn chín uống sôi… Với người lớn thì cần chế biến và bảo quản thức ăn, nước đảm bảo an toàn thực phẩm; phải đảm bảo có “đôi bàn tay sạch” khi chế biến thức ăn; quản lý tốt chất thải sinh hoạt ra môi trường. Không nên để trẻ gần gũi, ôm ấp vật nuôi, đặc biệt khi vật nuôi có dấu hiệu bị ốm. Cần cách ly trẻ mang bệnh với các trẻ khác để tránh bệnh lây lan…

Rối loạn tiêu hóa là chứng bệnh thường gặp và cũng có nhiều người chủ quan nên đã có những trường hợp đáng tiếc xảy ra. Do đó, người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Rối loạn tiêu hóa do những nguyên nhân gì

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ rất chung dùng để chỉ một nhóm các triệu chứng như đau bụng, nôn, tiêu chảy cấp, thường được qui cho nguyên nhân nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và cho… kháng sinh mặc dù trong nhiều trường hợp, rối loạn tiêu hóa không liên quan gì đến nhiễm khuẩn

Câu hỏi đầu tiên – Nhiễm khuẩn hay không?
Trước bất cứ một trường hợp rối loạn tiêu hóa (RLTH) nào, câu hỏi được đặt ra đầu tiên là bệnh nhân có nhiễm khuẩn hay không? Các yếu tố gợi ý có nhiễm khuẩn bao gồm: bệnh nhân có sốt, môi khô, lưỡi bẩn; có thời gian ủ bệnh (là thời gian nhân lên của vi khuẩn đủ số lượng để gây bệnh kể từ lúc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể) và đặc điểm của triệu chứng, ví dụ như sau ăn dưới 4h đã xuất hiện các triệu chứng như tiêu chảy dữ dội, nôn nhiều, mạch nhanh, huyết áp tụt,… Các dấu hiệu này chứng tỏ có nhiễm ngoại độc tố của Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus).

roi-loan-tieu-hoa-do-nguyen-nhan-gi-gay-ra-1

Đây là loại vi khuẩn sinh sôi phát triển nhanh trong thức ăn ôi thiu, có độc tính cao và gây triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc nặng; triệu chứng xuất hiện sau ăn dưới 8h kèm liệt các dây thần kinh sọ như liệt mặt, liệt hầu họng… là dấu hiệu của nhiễm độc tố do vi khuẩn Clostridium botulinum, loại vi khuẩn có khả năng sinh nha bào (vỏ cứng), sống trong thịt cất giữ lâu như thịt hộp, thịt trong tủ lạnh, độc tố có tác dụng trên các tế bào thần kinh gây liệt; Nếu thời gian ủ bệnh trên 12h, có sốt cao, đau quặn bụng, mót rặn, đi ngoài nhầy máu mũi,  có thể nhiễm lỵ trực khuẩn (Shigella dysenteriae), lỵ amip (Amoeba) hoặc nhiễm vi khuẩn E. coli, mạch nhiệt độ phân li (sốt cao nhưng mạch không nhanh); Bệnh thương hàn (Salmonella); Đi ngoài phân đục như nước vo gạo, không sốt có thể nhiễm phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae) hoặc nhiễm E. coli thể tả,…

Khi đã nghi ngờ RLTH do nhiễm khuẩn, cần làm thêm các xét nghiệm như công thức máu, CRP, procalcitonin, cấy máu, cấy hoặc soi tươi phân tìm hồng cầu, bạch cầu và vi khuẩn gây bệnh.

Nếu có các bằng chứng chắc chắn RLTH do nhiễm khuẩn, ngoài việc bù nước, điện giải theo phác đồ, kháng sinh chắc chắn phải được sử dụng để diệt vi khuẩn. Tùy từng trường hợp, các kháng sinh thường được dùng là Biseptol, amoxicillin, kháng sinh nhóm Quilonone, Aminoglycoside, Metronidazole…

roi-loan-tieu-hoa-do-nguyen-nhan-gi-gay-ra-2

Xác định các nguyên nhân khác…

Khi đã sơ bộ xác định được bệnh nhân bị RLTH không do nhiễm khuẩn, phải tìm các nguyên nhân gây bệnh khác. Dị ứng thức ăn là nhóm nguyên nhân gây RLTH hay gặp trên thực tế và thường các triệu chứng xuất hiện ngay sau khi ăn. Các protein “lạ” trong thực phẩm có thể là kháng nguyên, bán kháng nguyên đối với người bị dị ứng cũng như nồng độ histamin cao là nguyên nhân gây triệu chứng RLTH. Các loại thực phẩm hay gây dị ứng là sữa, trứng, sữa chua, cá, nhóm giáp xác (cua, tôm, mực, sò…), nhộng tằm, nhộng ong, ba ba, lươn, trạch, lúa mì, lạc, đỗ,… Cá biệt, có một số trường hợp bị dị ứng thức ăn kiểu sốc phản vệ (mạch nhanh, huyết áp tụt, co thắt thanh môn…) khi ăn thực phẩm biển hoặc ăn dứa (dứa hay có loại nấm là Candida tropicalis gây dị ứng rất mạnh).

Khi xác định là bệnh nhân bị RLTH do dị ứng thức ăn, việc đầu tiên là loại bỏ ngay tác nhân gây dị ứng bằng cách gây nôn hoặc rửa dạ dày nếu như bệnh nhân mới ăn trong vòng 6 giờ và tùy mức độ nặng nhẹ của triệu chứng. Sau đó một số thuốc sẽ được dùng để xử trí cho bệnh nhân như các thuốc kháng histamin, corticoide và trong trường hợp sốc phản vệ phải dùng ngay adrenalin.

Một nguyên nhân hàng đầu hay gặp ở nước ta hiện nay đó là RLTH do ngộ độc các hóa chất bảo vệ thực vật có trong rau quả. Nước ta là một nước nông nghiệp với diện tích trồng lúa, hoa màu rất lớn. Điều này đồng nghĩa với việc phải sử dụng thường xuyên các loại hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) (trừ sâu, diệt cỏ, nấm mốc, ký sinh trùng…), các loại thuốc kích thích tăng trưởng. Tất cả các loại hóa chất này đều có thể gây ngộ độc nếu hàm lượng trong rau quả vượt quá mức cho phép.

roi-loan-tieu-hoa-do-nguyen-nhan-gi-gay-ra-3

Các hóa chất bảo vệ thực vật hiện nay  có  một số nhóm chính như phospho hữu cơ, chlor hữu cơ, carbamat, pyrethroid,và một số chất khác như aldicarb, camphechlor, thuốc diệt cỏ… Nếu bị ngộ độc, ngay sau khi ăn hiện tượng RLTH đã xảy ra và kèm với các triệu chứng của nhiễm độc chất (ví dụ như da tái lạnh, đồng tử co nhỏ, mạch chậm, tăng tiết đờm rãi, co thắt phế quản của ngộ độc phospho hữu cơ…). Khi thăm khám bệnh nhân, thầy thuốc phải hết sức lưu ý khai thác tiền sử (bữa ăn có nhiều rau quả) và thăm khám tìm triệu chứng ngộ độc. Các trường hợp ngộ độc này, khi vào viện sẽ được xác định rõ loại độc chất và mức độ nặng nhẹ để cho các thuốc giải độc kịp thời cho bệnh nhân.

Một nguyên nhân gây RLTH nữa là do các chất độc có trong thức ăn. Thức ăn động vật như ngộ độc cóc do bufotoxins, ngộ độc cá nóc do tetrodotoxin… Thức ăn thực vật như ngộ độc củ ấu tầu do aconitin, ngộ độc sắn do acide cyanhydric… Các triệu chứng ngộ độc các chất này biểu hiện bằng loạn nhịp tim, tím, tụt huyết áp kèm RLTH như đã mô tả ở trên. Bệnh nhân khi bị ngộ độc loại nào sẽ được điều trị đặc hiệu cho từng loại độc chất.

Các chất phụ gia trong thực phẩm nhiều khi cũng trở thành “độc chất” nếu nồng độ vượt quá mức cho phép. Tương tự như vậy đối với các chất tạo màu cho thực phẩm “bắt mắt” hơn cũng là thủ phạm gây RLTH đối với nhiều người tiêu dùng.

… để đưa ra phương pháp điều trị đúng

Như vậy, RLTH hoàn toàn không phải là câu chuyện đơn giản và trường hợp nào cũng dùng kháng sinh và thuốc cầm tiêu chảy. Tùy từng trường hợp, các nguyên nhân gây RLTH phải được xem xét kỹ càng trước khi thầy thuốc ra quyết định điều trị.

Tiến sĩ, Bác sĩ Vũ Ðức Ðịnh

Theo SKDS

 

Thuốc điều trị bệnh rối loạn tiêu hóa hiệu quả

Khi ăn uống mà bị khó tiêu, trướng bụng, đau bụng thoáng qua mà không liên quan đến thực phẩm bị nhiễm khuẩn, đó là bị rối loạn tiêu hóa chức năng. Nếu triệu chứng kéo dài, hay tái phát bệnh có thể chuyển thành mạn tính.

Triệu chứng của rối loạn tiêu hóa chức năng thường thấy là đau, nóng thượng vị; đầy bụng sau bữa ăn, ăn chóng no; căng bụng trên; buồn nôn; ợ hơi… Do có những cơ chế sinh lý bệnh khác nhau nên cần phải dựa vào triệu chứng của thừng bệnh nhân để dùng thuốc điều trị cho phù hợp.

thuoc-dieu-tri-roi-loan-tieu-hoa-1

Biện pháp chung là cần tránh uống rượu, cà phê, thuốc lá… vì các chất kích thích này thường làm giảm trương lực cơ thắt dưới thực quản. Thức ăn nhiều mỡ làm chậm tống đẩy của dạ dày và dễ bị trào ngược thực quản. Tránh để tăng cân, tránh béo phì vì làm tăng áp lực đè vào cơ thắt dưới thực quản. Không dùng các thuốc aspirin, thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), thuốc an thần. Không ăn cay, chua, ăn chậm nhai kỹ, ăn bữa chính buổi tối 3 giờ trước khi ngủ, tư thế nằm đầu cao.

Biện pháp dùng thuốc: Trước hết có thể điều trị theo kinh nghiệm bằng các thuốc làm giảm acid dạ dày, điều trị triệu chứng nổi trội và xác định hiệu quả sau 2-4 tuần dùng thuốc.

Các thuốc kháng acid (antacids), sucralfat, misoprostol thường ít tác dụng. Bismuth  có thể cải thiện triệu chứng. Các thuốc ức chế thụ thể H2 như cimetidine, ranitidine, famotidine, nizatidine có thể tác dụng. Hiện các thuốc ức chế bơm proton (PPIs) hiệu quả hơn. Các thuốc có thể kể đến là: omeprazole, lansoprazole, pantoprazole, esomeprazole, rabeprazole. Nếu có vi khuẩn H. pylori thì kết hợp điều trị với 2 thuốc kháng sinh.

Dùng các thuốc đồng vận (prokinetics): domperidone có tác dụng làm tăng áp lực cơ thắt dưới, ít có triệu chứng của hệ thần kinh trung ương vì thuốc không qua hàng rào máu não. Metoclopramid uống trước bữa ăn. Thuốc có thể khô miệng, lo lắng, có triệu chứng ngoại tháp, rối loạn vận động ở người cao tuổi.

Dùng các thuốc chống trầm cảm để điều hòa quá trình kích thích ruột, làm giảm cảm giác ruột.

Ngoài ra, tùy từng trường hợp bác sĩ có thể cho dùng các thuốc làm giảm đau nội tạng, các thuốc đồng vận…

ThS. Vân Anh

Hâm nóng thức ăn trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) cảnh báo, thời gian gần đây, khá nhiều ca bệnh trẻ bị rối loạn tiêu hóa đến viện khám, khai thác thông tin thì thủ phạm là do gia đình thường hâm thức ăn của trẻ bằng lò vi sóng.

tre-bi-roi-loan-tieu-hoa-vi-thuc-an-ham-nong-1

Độ tuổi dễ mắc …

Viêm mũi là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ từ khoảng 6 tháng tuổi đến 7 – 8 tuổi. Đây là tình trạng viêm niêm mạc của hốc mũi và vùng họng mũi, vì khả năng miễn dịch ở trẻ còn kém nên rất dễ bị bệnh. Khi trẻ hít thở không khí đi từ ngoài vào đến phổi, cung cấp ôxy cho cơ thể đồng thời những tác nhân gây bệnh cũng vào theo. Nếu không được điều trị dứt điểm, bệnh tái phát nhiều lần sẽ dẫn đến biến chứng như viêm phổi, viêm tai, viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp…

… và những biểu hiện

Trẻ thường bị sốt và xuất hiện đột ngột nếu bệnh nhẹ, thì chỉ 37,5oc nếu bị bội nhiễm sốt khá cao có thể  39 – 40oC, trong 2-3 ngày. Ngoài ra trẻ bứt rứt, quấy khóc, kém ăn, đôi khi có nôn mửa, tiêu chảy… Ngạt mũi kèm theo chảy nước mũi trong hoặc mũi nhầy mủ và ho. Các biểu hiện nếu kéo dài trên 7 ngày phải đề phòng có những biến chứng của viêm mũi.

Xử trí khi bị viêm mũi

Khi trẻ bị viêm mũi,  hàng ngày cần nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch nước muối 0,9%, ngày 3 – 4 lần cho đến khi trẻ hết chảy nước mũi, dạy trẻ biết cách xì mũi đúng (bịt một bên, xì mũi bên kia). Cho  trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng thịt, cá, trứng, đậu, rau củ quả chín… giúp trẻ nhanh hồi phục.

Nếu trẻ sốt cao trên 38oC, cần hạ sốt bằng phương pháp lau mát và dùng thuốc hạ sốt theo chỉ định của thầy thuốc. Lau mát bằng khăn bông nhúng nước ấm (bằng thân nhiệt của trẻ) vắt kiệt, lau khắp người trẻ. Cho trẻ mặc quần áo mỏng, thoáng, nơi trẻ nằm phải thoáng nhưng tránh gió lùa. Cần phải theo dõi nhiệt độ cho trẻ thường xuyên. Ngoài ra cho trẻ uống nhiều nước vì sốt làm mất nước.

Đặc biệt chú ý khi trẻ đang bị viêm mũi bỗng nhiên thấy sốt cao phải đề phòng biến chứng cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị.

Phòng bệnh như thế nào?

Khi thời tiết thay đổi cần giữ ấm khi trời trở lạnh. Giữ gìn vệ sinh nhà cửa, nơi ngủ. Không dùng tay ngoáy mũi để tránh tổn thương niêm mạc mũi.  Hàng ngày dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý để vệ sinh, rửa mũi. Vệ sinh mũi giúp loại bỏ gỉ mũi, chất nhầy, giúp ngăn ngừa và góp phần tránh các bệnh viêm nhiễm hô hấp như: Viêm mũi, nghẹt mũi, hắt xì và viêm xoang. Khi thấy viêm mũi kéo dài trên 7 ngày hoặc có triệu chứng nặng hơn như đau tai, khàn tiếng, khó thở phải kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.

Theo sk&đs

Tìm hiểu bệnh Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Thống kê cho thấy, ở Việt Nam, tử vong do ung thư buồng trứng đứng hàng thứ ba sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ có kết quả tốt nhưng hiện nay hầu hết các bệnh nhân nhập viện điều trị đều đã ở giai đoạn muộn do các biểu hiện của ung thư buồng trứng thường diễn biến âm thầm, không rõ ràng.

Buồng trứng là một trong các cơ quan sinh dục của người phụ nữ có chức năng phóng noãn và tiết ra các chất nội tiết (estrogen, progesteron) từ lúc dậy thì cho đến tuổi mãn kinh. Phụ nữ có 2 buồng trứng, mỗi cái ở mỗi bên của tử cung. Ung thư buồng trứng là khi tế bào buồng trứng phát triển một cách bất thường, tạo ra những khối u ác tính ở một hoặc 2 bên buồng trứng.

Nguyên nhân gây ung thư thư buồng trứng đến nay vẫn chưa được xác định rõ nhưng có thể xác định những yếu tố nguy cơ như: Sự thay đổi về gen di truyền, tiền sử gia đình có người bị ung thư buồng trứng (những người đã có mẹ, chị em gái hoặc con gái từng mắc thì có đến 5% nguy cơ mắc bệnh này), độ tuổi ( thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh và tăng lên khi tuổi càng cao), phụ nữ mất khả năng sinh sản, u nang buồng trứng ( nang hình thành sau khi mãn kinh có nhiều khả năng trở thành ung thư),…

07

Diễn biến âm thầm

Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm thường diễn biến âm thầm, không có dấu hiệu đặc biệt. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ có ý thức quan tâm đến sức khỏe của mình sẽ phát hiện ra những dấu hiệu có thể đã mắc ung thư buồng trứng như: Rối loạn kinh nguyệt, đau hoặc nặng ở vùng bụng dưới, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiểu (tiểu khó, són tiểu), mệt mỏi kéo dài, giảm cân, chán ăn, rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, khó tiêu, đại tiện táo hoặc tiêu chảy),…  Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu trên sẽ kéo dài và nặng hơn, thậm chí sờ được khối u ở vùng bụng dưới, di căn tới những bộ phận khác như tử cung, vòi trứng, màng bụng, hạch bạch huyết trong ổ bụng, các cơ quan ngoài ổ bụng,…

Điều trị như thế nào?

Khi có biểu hiện nghi ngờ các bác sĩ sẽ khám âm đạo, tử cung,… siêu âm để phát hiện khối u, làm các xét nghiệm khác như chụp Xquang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ,… để chẩn đoán ung thư. Điều trị ung thư buồng trứng bao gồm phẫu thuật kết hợp điều trị hóa chất. Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh sớm hay muộn bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Ở giai đoạn sớm khi tế bào ung thư khu trú ở buồng trứng chưa lan ra lớp vỏ của buồng trứng thì có thể sẽ phẫu thuật cắt tử cung và hai phần phụ. Ở giai đoạn muộn thì việc điều trị sẽ rất khó khăn vì tế bào ung thư đã di căn sang rất nhiều các cơ quan khác, tỷ lệ phẫu thuật thành công và thời gian sống sau phẫu thuật là rất ít. Do đó, khi thấy có những biểu hiện bất thường của cơ thể nghi ngờ ung thư thư buồng trứng như đã nêu trên cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị sớm.

Bác sĩ Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống