Tag Archives: rối loạn tâm lý

Rối loạn tâm thần ở tuổi thành niên

Trong một xã hội đang hiện đại hoá với nhịp sống tăng nhanh đã gây ra những áp lực quá lớn khiến cho trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần ngày càng nhiều…

Tại Viện Sức khỏe tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội mới đầu giờ sáng đã có khá nhiều người đến khám, trong số đó, thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ không nhỏ. Tại phòng khám trắc nghiệm, S (ở Thái Nguyên) tỏ ra khá quen thuộc với những bài test của bác sĩ.

S cho biết, em bị bệnh về tâm thần từ năm lớp 7 nhưng mãi đến lớp 9 mới phát hiện ra bệnh, lúc đó bệnh đã khá nặng nên phải nghỉ học.

S kể: “Có những lúc em đang tỉnh táo bỗng tự nhiên bị ngây người ra, “ngu đi” cứ như máu không lên não. Khi mới bị bệnh, em thường cảm thấy ghét mọi người trong gia đình, không muốn nói chuyện với bạn bè, người thân, giống như bị trầm cảm”.

Gia đình S đã đưa em đi chữa bệnh ở Thái Nguyên nhưng mãi không khỏi mà bệnh ngày càng nặng, đành đưa về Hà Nội để khám tại Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai. Đến nay đã được 6 năm, bệnh đang dần thuyên giảm nhưng em vẫn phải thường xuyên đến đây để kiểm tra sức khỏe định kỳ.

roi-loan-tam-than-o-tuoi-thanh-nien

Người có dấu hiệu rối loạn tâm thần cần được đưa đi điều trị sớm

Ngồi cách S không xa là em H với dáng người gầy gò, mệt mỏi đang cùng mẹ đợi khám bệnh. Chị M, mẹ của H chia sẻ: Năm nay H học lớp 10, nhưng không hiểu sao từ sau Tết đến nay em thường xuyên có những biểu hiện như mất trí, lúc nhớ lúc quên, học hành sa sút nghiêm trọng. H thường xuyên kêu mệt mỏi không muốn đi học, nên chị phải đưa con đến khám.

PGS.TS Nguyễn Kim Việt, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội cho biết: Trong guồng sống chóng mặt hiện nay, con người phải đối mặt với quá nhiều áp lực từ cuộc sống, nên ngày càng có nhiều người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Mỗi ngày Viện khám, chữa bệnh và tư vấn cho khoảng 200 bệnh nhân, trong đó độ tuổi thanh niên chiếm không nhỏ. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh như: do môi trường từ gia đình hoặc xã hội, do thay đổi về thể chất, do ô nhiễm môi trường bởi tiếng ồn… đặc biệt đối với những người lao động trí óc.

Theo nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” của nhóm tác giả: PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN (chủ biên); Ths Nguyễn Cao Minh, Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học, có từ 12 – 13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6 – 16), tức là có khoảng 2,7 triệu trẻ em và vị thành niên trên toàn quốc có những biểu hiện về sức khỏe tâm thần một cách rõ rệt.

TS Ngô Thanh Hồi, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, cho biết, dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại Hà Nội” là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với trường Đại học Melbourne (Australia).

Thực tế những năm gần đây, rất nhiều bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần đang gia tăng như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, học sinh tự sát trong trường học, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể…

Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh tại Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy, trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh trong độ tuổi 10 – 16, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 %.

Tâm lý học sinh hiện nay phát triển phức tạp, các em dễ bị dao động, lung lay trước các giá trị sống, biến động từ gia đình đến xã hội, trong khi các em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết về tâm lý.

Nguồn đời sống pháp luật

Rối loạn tâm lý sau chấn thương

Các nhà khoa học đã tìm thấy tế bào thần kinh ngăn chặn việc hình thành các kí ức sợ hãi trong bộ não của chuột mang tên “Hippocampus”.

Các tế bào thần kinh ức chế này cho phép tạo ra một bộ nhớ về bối cảnh và địa điểm mà không bị ảnh hưởng bởi chính sự kiện khó chịu diễn ra cùng lúc với bối cảnh đó.

Trong một bản báo cáo đăng trên tạp chí Science, nhóm nghiên cứu cho biết, công trình này giúp họ hiểu rõ hơn về cơ sở thần kinh của các bệnh rối loạn tâm lý sau chấn thương ở người.

Attila Lonsoczy, giảng viên đại học Colombia, New York cùng các đồng nghiệp đã chú trọng vào nghiên cứu cách Hipocampus lưu giữ những bối cảnh cụ thể cũng như việc tách chúng ra từ những sự kiện gây sợ hãi.

roi-loan-tam-ly-sau-chan-thuong

Khi nhìn vào những tế bào thần kinh riêng lẻ trong não chuột, người ta nhận thấy các tế bào ức chế thần kinh gọi là “Interneuron” đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các ký ức của nỗi sợ hãi trước khi chúng di chuyển đến các vùng khác trong não.

Trả lời kênh Khoa học của BBC, Tiến sĩ Lonsoczy cho biết: “các tế bào Interneuron được kích hoạt bởi những sự kiện gây sợ hãi, chúng hoạt động như những bộ lọc nhằm ngăn chặn sự xâm nhập các thông tin không mong muốn liên quan đến sự kiện đó”. Bằng cách này, vùng tế bào Hipocampus có khả năng xử lí và lưu trữ những thông tin bối cảnh một cách độc lập mà không có sự can thiệp của những sự kiện gây ảnh hưởng xấu.

Những con chuột thí nghiệm được tạo điều kiện để bộc lộ nỗi sợ hãi, sau đó, chúng được đặt vào các bối cảnh cụ thể để theo dõi. Khi các nhà khoa học vô hiệu hóa các tế bào thần kinh ức chế, những con chuột này đã không còn biểu hiện sự sợ hãi nữa. Kết quả này chứng tỏ rằng nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc ngăn chặn sự hình thành các kí ức sợ hãi ở chuột.

Qua đó, nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò của các tế bào Interneuron trong việc mã hóa bộ nhớ lưu trữ nỗi sợ trước khi nó được thông qua và di chuyển đến những vùng khác.

“Ngữ cảnh của sự kiện được phát ra từ những vùng Hippocampus, chuyển đến các vùng khác của não nơi mà các bối cảnh thực sự kết hợp với các sự kiện diễn ra nỗi sợ”.

Hiểu được cách các tế bào thần kinh tiếp nhận các bối cảnh cũng như sự kiện gây sợ hãi có thể giúp các nhà khoa học giúp đỡ bệnh nhân điều trị những tổn thương tâm lý sau chấn thương.

Tiến sĩ Xu Liu, đại diện Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ nhận định rằng: “Nghiên cứu này đã giải quyết được câu đố về cách Hippocampus mã hóa thành công các bối cảnh mà bỏ qua mọi sự tác động tiêu cực đang diễn ra tại thời điểm đó. Đây sẽ là một nghiên cứu mang ý nghĩa y học trong nhiều năm tới”.

Trị chứng bệnh tự kỷ ở trẻ em

Gần đây, nhiều thông tin về “rối loạn tự kỷ ở trẻ” giới thiệu trên internet cho biết một số bệnh viện ở Mỹ, Anh, Canada, Ireland, Úc… có thể chữa khỏi bệnh này. Một số phụ huynh đã dẫn con ra nước ngoài điều trị để mong trẻ có thể trở nên bình thường vào một ngày nào đó dù chi phí điều trị rất cao. Nhiều bạn đọc cũng đã gửi email nhờ tư vấn có nên đưa con xuất ngoại để trị tự kỷ? Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của BS Phạm Ngọc Thanh, nguyên trưởng đơn vị tâm lý và hiện là cố vấn khoa tâm lý, bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM – người đã nghiên cứu chuyên sâu và có nhiều kinh nghiệm điều trị tự kỷ cho trẻ.

Theo chứng cớ khoa học, các phương pháp can thiệp nhằm cải thiện chất lượng sống của người mắc chứng tự kỷ, giúp người đó tự lập và giảm các khiếm khuyết xã hội, giao tiếp và hành vi. Tuy nhiên, hiện nay có một số tổ chức xem tự kỷ như một cách sống hơn là một chứng bệnh nên không cần tìm cách chữa lành, trong khi một số tổ chức khác đang nghiên cứu cách chữa lành chứng bệnh này. Tự kỷ có thể được trị liệu như thế nào?

tu-ky

Có hai hướng điều trị chính.

Can thiệp giáo dục có chứng cớ khoa học

Với các đặc tính sau: can thiệp sớm trước ba tuổi mà không chờ chẩn đoán chính xác; can thiệp tích cực, ít nhất 25 giờ/tuần, 12 tháng/năm; tỷ lệ học sinh/giáo viên thấp; sự tham gia của gia đình sau khi được đào tạo; tương tác với các trẻ bình thường; tổ chức phòng học để trẻ tập trung tốt; trẻ được đánh giá tuổi phát triển và có chương trình giáo dục cá nhân. Sự can thiệp này được tổ chức tại nhà, trường học, trung tâm nuôi dạy trẻ tự kỷ. Những người thực hiện chương trình có thể là cha mẹ, giáo viên, chuyên viên âm ngữ, chuyên viên hoạt động trị liệu. Hiện nay phương pháp hữu hiệu có chứng cớ khoa học là phương pháp can thiệp dựa trên hành vi tích cực sớm (Early Intensive Behavioral Intervention-EIBI), hệ thống giao tiếp trao đổi hình ảnh (Picture Exchange Communication System-PECS), điều trị và giáo dục trẻ tự kỷ và khiếm khuyết giao tiếp (Treatment and education of autistic and related communication handicapped children-TEACCH). Tuy nhiên, phụ huynh cần lưu ý không có phương pháp nào là tối ưu, nhưng kết quả can thiệp tuỳ thuộc nhiều yếu tố: tuổi của trẻ, mức độ phát triển, đặc tính của trẻ, thời gian can thiệp và năng lực của người can thiệp.

Các phương pháp trị liệu khác

Đây là những phương pháp chưa có chứng cớ khoa học, bao gồm:

Dùng thuốc: thuốc chống loạn thần và chống trầm cảm có chỉ định trong trường hợp trẻ hung hăng, tự gây tổn thương. Tuy nhiên, các loại thuốc này có nhiều tác dụng phụ và chưa có loại thuốc nào giảm các triệu chứng khiếm khuyết then chốt về xã hội và giao tiếp.

Kiêng ăn gluten và casein: có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển xương của trẻ do thiếu canxi và vitamin D.

Khử chất kim loại nặng: rất nguy hiểm và đã gây tử vong cho một trẻ tự kỷ vào năm 2005.

Ôxy cao áp nhằm tăng cường lượng ôxy trong cơ thể để giảm các triệu chứng tự kỷ: chưa đủ chứng cớ khoa học để chứng minh hiệu quả, mặc dù năm 2009 có một công trình nghiên cứu nhỏ cho thấy có cải thiện hành vi sau 40 giờ điều trị.

Châm cứu để cải thiện giao tiếp cho trẻ: chưa có chứng cớ khoa học nào về hiệu quả.

Tóm lại, trị liệu rối loạn tự kỷ là một vấn đề phức tạp với nhiều khuynh hướng khác nhau. Phụ huynh cần thật bình tĩnh, thận trọng, tham khảo kỹ lưỡng trước khi quyết định chọn phương pháp điều trị phù hợp cho trẻ. Phương pháp phù hợp nhất là phương pháp không gây thêm đau khổ cho trẻ, dựa trên sở thích của trẻ và động viên trẻ hợp tác với phụ huynh và các chuyên viên để cải thiện đời sống tự lập của trẻ.

Theo báo Sài gòn tiếp thị

Chứng bệnh rối loạn cảm xúc

Có 2 loại rối loạn cảm xúc, đó là rối loạn cảm xúc giai đoạn hưng cảm và rối loạn cảm xúc giai đoạn trầm cảm.

Rối loạn cảm xúc giai đoạn hưng cảm có nguyên nhân do chất dẫn truyền thần kinh (chủ yếu là Dopamin tăng cao), gen di truyền (nằm trên nhiễm sắc thể 10 và 11). Ngoài ra, chấn thương tâm lý cũng có thể gây ra rối loạn cảm xúc giai đoạn hưng cảm.

chung-benh-roi-loan-cam-xuc

Rối loạn cảm xúc giai đoạn trầm cảm có nguyên nhân do nồng độ serotonin và noradrenalin giảm; thêm vào đó, yếu tố nhân cách cũng gây ra chứng bệnh này.

Hiện nay, chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Tuy nhiên các triệu chứng của bệnh có thể kiểm soát được. Việc điều trị bằng cả thuốc men và các trị liệu tâm lý.

Trị liệu tâm lý bao gồm các trị liệu cảm xúc, hành vi, nhân cách và các rối loạn tâm thần khác bằng các buổi tâm lý cá nhân của các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần.

Thuốc cho người bệnh được các bác sĩ chỉ định tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của bệnh và khả năng đáp ứng của từng người bệnh. Sau giai đoạn cấp tính, người bệnh được uống thuốc điều trị duy trì để chống tái

Nguồn suckhoedoisong

Nguyên nhân khiến trẻ vị thành niên hay lo lắng

Trẻ vị thành niên thường rối loạn lo lắng vì sự thay đổi tính mềm dẻo ở vỏ não trước trán, theo Science Daily.

Một nhóm các nhà khoa học tại Viện Tâm lý học phát triển Sackler (Mỹ) đã tiến hành thí nghiệm giúp lý giải tại sao tình trạng rối loạn lo lắng lại phổ biến ở trẻ vị thành niên.

Đối tượng nghiên cứu là trẻ em, trẻ vị thành niên và người trưởng thành. Những người tham gia được đeo tai nghe và thiết bị đo mức độ tiết mồ hôi.
lo-lang
Họ được yêu cầu nhìn vào màn hình vi tính có hình ảnh của các hình vuông màu xanh hoặc vàng. Một trong những hình này có kèm theo âm thanh rất khó chịu. Chẳng hạn, trong 50% thời gian, hình vuông màu xanh kèm theo âm thanh khó chịu. Nếu ai đó sợ âm thanh đó, họ sẽ tiết mồ hôi nhiều hơn.

Ngày hôm sau, những người tham gia lại được mời đến xem các hình vuông màu xanh và vàng, nhưng không kèm theo các âm thanh khó chịu nữa. Trẻ em, người trưởng thành nhanh chóng nhận ra không có các âm thanh khó chịu nào và không còn lo sợ nữa. Trong khi đó, trẻ vị thành niên vẫn không dập tắt được sự sợ hãi.

Một nghiên cứu trên chuột cũng cho kết quả tương tự. Những chú chuột vị thành niên (29 ngày tuổi) không mất đi nỗi sợ hãi trong khi chuột nhỏ và lớn tuổi hơn thì hết lo sợ khi mối đe dọa không còn nữa.

Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân có thể là do sự thay đổi tính mềm dẻo (khả năng thích ứng) ở khu vực vỏ não trước trán trong lứa tuổi tuổi vị thành niên. Điều này khiến trẻ vị thành niên không thể vượt qua được nỗi sợ hãi.

Theo Siobhan S. Pattwell, nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Viện Tâm lý học phát triển Sackler (Mỹ), người đứng đầu nghiên cứu nói: “Kết quả nghiên cứu giúp giải thích tại sao tình trạng rối loạn lo lắng lại đạt đỉnh điểm ở lứa tuổi vị thành niên hoặc ngay trước lứa tuổi vị thành niên. Điều này có thể giúp tìm ra cách điều trị tình trạng rối loạn lo lắng ở trẻ vị thành niên”.

Nghiên cứu đăng tải trên Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS).

theo TNO

Chứng rối loạn tâm lý ở người cao tuổi

Cùng với sự gia tăng các bệnh thực thể, các rối loạn tâm lý cũng là “bạn đồng hành” của người cao tuổi (NCT), trong đó thường gặp là trầm cảm và lo âu. Một nghiên cứu mới đây tại Viện Lão khoa Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm kết hợp với lo âu ở các bệnh nhân cao tuổi nằm viện là rất cao, lên tới 40%.

Nguyên nhân thường gặp

Các stress của việc tái thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi phải chuyển từ giai đoạn làm việc tích cực đến giai đoạn nghỉ hưu. Những NCT sau khi về hưu trải qua một loạt các biến đổi tâm lý quan trọng do nếp sinh hoạt thay đổi, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế. Một số người khó thích nghi được với giai đoạn khó khăn này nên mắc “hội chứng về hưu”, với tâm trạng buồn chán, mặc cảm, thiếu tự tin, dễ cáu gắt, nổi giận.

Đặc điểm bệnh lý của NCT là mắc nhiều bệnh cùng một lúc như: tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, Alzheimer, Parkinson, các bệnh xương và khớp, bệnh phổi, phế quản, ung thư… Hậu quả là bệnh tật làm thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc tâm lý và nhân cách của người bệnh. Bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng.

chung_roi_loan_tam_ly_o_nguoi_cao_tuoi

Luyện tập thể thao phù hợp giúp phòng tránh rối loạn tâm lý ở người cao tuổi. Ảnh: MH

Ai thường bị rối loạn tâm lý?

Có 2 giai đoạn NCT hay bị rối loạn tâm lý, đó là độ tuổi từ 50 – 59 và tuổi trên 70. Các cụ bà thường mắc bệnh nhiều hơn các cụ ông. Những người có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng dễ bị mắc bệnh hơn. Những người bị mắc nhiều bệnh, kèm theo các chứng đau, phải nằm viện nhiều lần cũng dễ bị rối loạn tâm lý hơn.

Các hình thức rối loạn tâm lý

Các rối loạn tâm lý ở NCT rất phong phú và đa dạng. Những biểu hiện nhẹ là khó chịu, lo lắng. Nặng hơn một chút là các biểu hiện rối loạn thần kinh chức năng, với các biểu hiện suy nhược cơ thể, lo âu, ám ảnh bệnh tật. Nặng hơn nữa có thể có các trạng thái rối loạn tâm thần, biểu hiện bằng các hội chứng hoang tưởng và rối loạn ý thức. Trong đó rối loạn tâm lý thường gặp nhất là lo âu.

Các biểu hiện lo âu thường rất đa dạng, phức tạp. Bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, lo lắng về tương lai, dễ cáu, khó tập trung tư tưởng, căng thẳng vận động, bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau đầu, khô miệng, đánh trống ngực. Lo âu có thể kéo dài, gây trở ngại rõ rệt đến sinh hoạt, hoạt động nghề nghiệp, quan hệ xã hội của bệnh nhân.

Rối loạn tâm lý khác cũng thường gặp là trầm cảm. Ở NCT, trầm cảm thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe, cảm giác buồn phiền, chán nản và mất niềm tin kéo dài. Những triệu chứng này thường kèm theo sự suy giảm nghị lực, mất tập trung, mất ngủ, chán ăn, khó ngủ và đi đến suy kiệt.

Ngoài ra, NCT còn có các biểu hiện khác như: xa lánh vợ hoặc chồng, bạn thân, đau ốm liên miên, không hoạt bát, hay thất vọng, giảm trí nhớ…

Chính vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, các nhân viên y tế và người thân của NCT cần quan tâm nhiều hơn đến bệnh nhân, để nhận biết và điều trị kịp thời rối loạn trầm cảm và lo âu ở NCT. Luyện tập thể thao phù hợp để tăng cường sức khỏe cũng là một biện pháp tránh trầm cảm của NCT.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Theo SKĐS

Trẻ bị rối loạn tâm lý khi ngồi trước màn hình

Theo các chuyên gia tâm lý, nếu trẻ em ngồi trước màn hình máy tính hoặc tivi trên 2 giờ đồng hồ mỗi ngày sẽ có nhiều nguy cơ gặp các khó khăn về mặt tâm lý.

Một nghiên cứu có tên là “Dự án Peach”, thực hiện trên 1.000 trẻ em từ 10 – 11 tuổi, người ta thống kê thời gian trẻ ngồi trước màn hình cùng với những vấn đề tâm lý. Người ta cũng kiểm tra hoạt động của trẻ về hai khía cạnh: thời gian ngồi và mức độ hoạt động thể lực trung bình. Kết quả cho thấy: nếu trẻ ngồi trên 2 giờ mỗi ngày trước tivi (để xem chương trình) hoặc trước màn hình máy tính thì có liên quan đến những khó khăn về tâm lý hơn những trẻ em khác dành thời gian này cho hoạt động thể lực.

tre_roi_loan_tam_ly_khi_ngoi_truoc_man_hinh_may_tinh

Mục đích của nghiên cứu nhằm đưa ra những chứng cứ khoa học nhằm khuyến cáo trẻ cách sinh hoạt để đảm bảo sức khỏe trong tương lai. Những trẻ em ngồi nhiều nhưng không ngồi trước màn hình sẽ có tình trạng tâm lý tốt hơn, bao gồm vấn đề về cảm xúc và giao tiếp. Một số trẻ có rối loạn về hành vi, bao gồm cả vấn đề tăng nhạy cảm.

Theo các chuyên gia thì việc trẻ ngồi trước màn hình ít thời gian thôi sẽ không có vấn đề gì và trẻ cần phải tăng cường hoạt động thể lực nhằm bù trừ lại thời gian này. Trong độ tuổi phát triển về tâm lý, trẻ cần phải được chăm sóc cẩn thận, tránh việc chơi game máy tính hoặc xem tivi quá nhiều trong ngày. Những rối loạn về tâm lý này sẽ gây khó khăn cho trẻ về sau khi hòa nhập vào cộng đồng dân cư. Để khảo sát các vấn đề tâm lý này, các chuyên gia phải thống kê, quan sát hành vi trẻ, thực hiện các bảng câu hỏi. Qua thông tin thu nhập được, họ sẽ cho điểm và phân tích thống kê để rút ra các mối liên hệ. Các nhà tâm lý học đưa ra lời cảnh báo cho các bậc phụ huynh trong việc theo dõi và chăm sóc trẻ, nhất là những trẻ vốn đã có những rối loạn về tâm lý.

(Theo Pediatrics)
BS. ĐẶNG MINH TRÍ
Theo SKDS

Một số rối loạn tâm lý người cao tuổi thường gặp

Hiện nay số lượng người cao tuổi ở Việt Nam không ngừng gia tăng. Theo thống kê điều tra dân số năm 1999, có khoảng 6 triệu người cao tuổi, chiếm tỷ lệ 8% dân số. Dự tính đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ lên khoảng 18%. Cùng với sự gia tăng các bệnh thực thể, các rối loạn tâm lý cũng là “bạn đồng hành” của những người cao tuổi. Các rối loạn tâm lý thường gặp là trầm cảm và lo âu. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy rối loạn trầm cảm và lo âu gặp ở 25% bệnh nhân ở các cơ sở đa khoa. Một nghiên cứu mới đây tại Viện Lão khoa Việt Nam cho thấy tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm kết hợp với lo âu ở các bệnh nhân cao tuổi nằm viện là rất cao, lên tới 40%.

mot_so_roi_loan_tam_ly_nguoi_cao_tuoi_thuong_gap

Một số nguyên nhân thường gặp của rối loạn tâm lý ở người cao tuổi

Đầu tiên là các stress của việc tái thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi phải chuyển từ giai đoạn làm việc tích cực đến giai đoạn nghỉ hưu. Những người cao tuổi sau khi về hưu trải qua một loạt các biến đổi tâm lý quan trọng do nếp sinh hoạt thay đổi, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế. Một số người trong số đó khó thích nghi được với giai đoạn khó khăn này nên mắc “hội chứng về hưu”, với tâm trạng buồn chán, mặc cảm, thiếu tự tin, dễ cáu gắt, nổi giận. Thứ hai là tâm lý tự nhiên của người cao tuổi là thường sợ ốm đau, bệnh tật, sợ chết. Như chúng ta biết, lão hóa là một quá trình tự nhiên không thể cưỡng lại được, làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh như nhiễm khuẩn, nhiễm độc, các stress. Đây là mảnh đất “màu mỡ” để bệnh tật phát triển. Ngoài việc phải “thừa hưởng” những bệnh mạn tính từ giai đoạn trước đó của cuộc đời, người cao tuổi còn mắc thêm các bệnh khác nữa. Do vậy đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi là mắc nhiều bệnh cùng một lúc như tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, đái tháo đường, Alzheimer, Parkinson, các bệnh xương và khớp, bệnh phổi, phế quản, ung thư… Hậu quả là bệnh tật làm thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc tâm lý và nhân cách của người bệnh. Bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng.

Những người cao tuổi nào thường bị rối loạn tâm lý?

Về độ tuổi, có hai giai đoạn người cao tuổi hay bị rối loạn tâm lý, đó là độ tuổi từ 50-59 và tuổi trên 70. Các cụ bà thường mắc bệnh nhiều hơn các cụ ông. Những người có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng dễ bị mắc bệnh hơn. Những người bị mắc nhiều bệnh, kèm theo các chứng đau, phải nằm viện nhiều lần cũng dễ bị rối loạn tâm lý hơn.

Các hình thức rối loạn tâm lý ở người cao tuổi

Các rối loạn tâm lý ở người cao tuổi rất phong phú và đa dạng. Những biểu hiện nhẹ là khó chịu, lo lắng. Nặng hơn một chút là các biểu hiện rối loạn thần kinh chức năng, với các biểu hiện suy nhược cơ thể, lo âu, ám ảnh bệnh tật. Nặng hơn nữa có thể có các trạng thái rối loạn tâm thần, biểu hiện bằng các hội chứng hoang tưởng và rối loạn ý thức. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về rối loạn tâm thần ở bệnh viện đa khoa trên 25.000 bệnh nhân trên 14 quốc gia cho thấy 1/4 có rối loạn tâm thần. Rối loạn tâm lý thường gặp nhất là lo âu. Lo âu có thể là biến chứng của điều trị hoặc xuất phát từ nhận định tiêu cực về tiên lượng bệnh của mình. Các biểu hiện lo âu thường rất đa dạng, phức tạp. Bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, lo lắng về tương lai, dễ cáu, khó tập trung tư tưởng, căng thẳng vận động, bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau đầu, khô miệng, đánh trống ngực. Đôi khi người bệnh trải nghiệm cảm giác khiếp sợ, hoảng loạn, tuyệt vọng về bệnh tật, sợ chết. Bệnh nhân cũng có thể có các suy nghĩ ám ảnh như nghi bệnh, sợ bẩn… khiến phải rửa tay liên tục hay kiểm tra đi kiểm tra lại… Lo âu có thể kéo dài, gây trở ngại rõ rệt đến sinh hoạt, hoạt động nghề nghiệp, quan hệ xã hội của bệnh nhân. Rối loạn tâm lý khác cũng thường gặp là trầm cảm. Một nghiên cứu gần đây tại Mỹ cho thấy trong đời người, 13% người dân có cơn trầm cảm. Tuy nhiên người cao tuổi hay mắc chứng trầm cảm hơn. Ở người già, trầm cảm thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe, cảm giác buồn phiền, chán nản và mất niềm tin kéo dài. Những triệu chứng này thường kèm theo sự suy giảm nghị lực, mất tập trung, mất ngủ, chán ăn, khó ngủ và đi đến suy kiệt. Ngoài ra, họ còn có các biểu hiện khác như xa lánh vợ hoặc chồng, bạn thân, đau ốm liên miên, không hoạt bát, hay thất vọng, giảm trí nhớ, khó thích nghi với những thay đổi như việc chuyển chỗ ở hoặc những thay đổi trong nội bộ gia đình. Về mặt y khoa, trầm cảm là một rối loạn thuộc nhóm rối loạn khí sắc thể hiện sự ức chế của cảm xúc, tư duy và vận động. Người bệnh trải qua cảm xúc buồn rầu ủ rũ, nhìn sự vật xung quanh một cách bi quan ảm đạm. Bệnh nhân có tư duy chậm chạp, biểu hiện bằng suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng không nhanh chóng, tự cho mình là thấp kém, có hoang tưởng bị tội, hoang tưởng tự buộc tội, hoang tưởng nghi bệnh, có ý nghĩ và hành vi tự sát. Ngoài ra vận động cũng bị ức chế. Người bệnh ít hoạt động, ít nói, sững sờ, đờ đẫn, thường ngồi lâu một tư thế với nét mặt trầm ngâm suy nghĩ. Trầm cảm ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt cá nhân, gia đình, cũng như khả năng thực hiện các công việc xã hội, nghề nghiệp, nhiều trường hợp còn dẫn đến hành vi nguy hiểm cho bản thân và xung quanh như tự sát hoặc giết người rồi tự tử.

Tóm lại, trong cuộc sống hằng ngày các nhân viên y tế và người thân của bệnh nhân cần quan tâm nhiều hơn đến bệnh nhân để nhận biết và điều trị kịp thời rối loạn trầm cảm và lo âu ở người cao tuổi.

Luyện tập thể thao tăng cường sức khỏe là một biện pháp tránh trầm cảm của người cao tuổi.

Theo SKDS/ TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

Những rối loạn tâm lý, tâm thần học sinh mùa thi

Theo số liệu của Bệnh viện (BV) Sức khỏe tâm thần TP.HCM, năm nào vào mùa thi trung bình mỗi tháng BV lại tiếp nhận 5-10 học sinh có những biểu hiện rối loạn tâm lý, tâm thần (RLTLTT), trong đó đa số các em ở độ tuổi vị thành niên (10-15 tuổi). Khởi đầu, các em thường than mất ngủ, khó ngủ. Các em dễ bị kích thích, căng thẳng, cáu gắt, bực bội, dễ gây gổ, gây hấn với những người xung quanh (bạn bè, anh em trong nhà…), ngang bướng, ít nghe lời cha mẹ, thầy cô. Kèm theo đó là các em có biểu hiện học tập giảm sút, khó tập trung, học tập mất nhiều thời gian hơn nhưng lại mau quên, khó nhớ, khó thuộc bài.

nhung_roi_loan_tam_ly_tam_than_hoc_sinh_mua_thi

Học hành căng thẳng thường xuyên là một nguyên nhân dẫn đến rối loạn tâm lý, tâm thần.

Ở thể nặng hơn, các em có biểu hiện không muốn đi học, khóc lóc đòi nghỉ học, sợ sệt khi nhắc đến chuyện học tập. Các em luôn có cảm giác là mình bất lực, bất tài, không làm được gì và luôn bị ám ảnh mình không có khả năng học, không làm được gì. Nặng nề hơn, trong các em thường xuất hiện những ý nghĩ chết chóc, tự tử. Có trường hợp đang trong thời gian thi cử có biểu hiện loạn thần như nói năng lung tung, khóc cười vô cớ, quậy phá…

Để giúp con cái học tập đạt kết quả tốt, tránh bị RLTLTT vì sức ép học tập quá nhiều và nặng nề, cha mẹ phải đánh giá đúng năng lực của con cái, động viên khuyến khích trẻ học, nhưng không nên tạo áp lực cho trẻ về mặt thành tích, không bắt trẻ học vì sự sĩ diện của cha mẹ. Vào mùa thi vẫn phải cho trẻ học tập, sinh hoạt, vui chơi bình thường. Ngoài ra, phụ huynh cũng không nên quan niệm sai lầm rằng “bắt con học quá sẽ bị tâm thần” mà buông lỏng chuyện học tập của con cái. Đặc biệt, cha mẹ, thầy cô cần hiểu rằng mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt và mỗi người có sức chịu đựng khác nhau: có em bị la rầy, bị mắng hoài không sao, nhưng có em chỉ nói nặng một câu cũng có thể khiến các em muốn tìm đến cái chết.

Trước những sa sút của trẻ trong học tập, cha mẹ và thầy cô phải đặt câu hỏi vì sao con mình, học trò mình lại như vậy, hơn là quy hết tội lỗi cho các em. Phải hỏi han các em, lắng nghe các em nói, động viên các em học tập. Không nên nôn nóng để buộc trẻ phải đạt được ngay những điều mà người lớn mong muốn, vì sẽ làm các em bị căng thẳng và dồn ép thêm mà thôi. Với những biện pháp như vậy mà vẫn không được cải thiện được tình trạng sức khỏe, tâm lý của các em thì nên đưa đến bác sĩ tâm thần, hoặc các chuyên viên tâm lý để được can thiệp sớm.

Ăn uống thế nào để học tập tốt trong mùa thi?

* Ăn đủ bữa: Không được bỏ bữa dù bận rộn, căng thẳng, nhất là bữa ăn sáng, bữa ăn nạp năng lượng cho cả một buổi học tập dài nhất, hiệu quả nhất trong ngày. Thanh thiếu niên gầy yếu hoặc ăn được ít cần ăn thêm 1-3 bữa phụ mỗi ngày, giữa các bữa ăn chính hoặc buổi tối. Ngoài việc cung cấp các chất dinh dưỡng, ăn uống còn giúp người học thi thư giãn, bớt căng thẳng hơn.

* Ăn đa dạng: Nhiều loại thực phẩm (trên 20 loại mỗi ngày) để nhận đủ chất. Đặc biệt chú ý:

– Thiếu iốt dẫn đến trí tụê kém sáng tạo, giảm chỉ số thông minh trung bình 10-20 điểm, do vậy cần ăn muối iốt thay muối thường. Iốt còn có nhiều trong các loại cá biển và hải sản.

– Thiếu chất sắt dẫn đến tình trạng thiếu máu, người mau mệt mỏi và học kém tập trung, dễ buồn ngủ. Chất sắt có nhiều trong thức ăn động vật như huyết, gan, thịt, cá… hoặc trong rau như rau dền, rau muống, rau bồ ngót và các loại đậu đỗ. Các loại trái cây tươi, rau sống giàu vitamin C giúp hấp thụ tốt chất sắt.

– Selen và kẽm cũng rất cần thiết cho hoạt động của hệ thần kinh. Các chất vi lượng này có nhiều ở thức ăn động vật, ngũ cốc nguyên hạt, đậu đỗ…

– Ngoài ra một ly sữa ấm buổi tối vừa có tác dụng dịu thần kinh vừa cung cấp thêm nhiều chất dinh dưỡng quý như chất đạm chất lượng cao, canxi và vitamin B2…

Theo SKDS

Rối loạn tâm lý ở người cao tuổi

Hiện nay, số lượng người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam không ngừng gia tăng. Theo thống kê điều tra dân số năm 1999, có khoảng 6 triệu NCT, chiếm tỷ lệ 8% dân số. Dự tính đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ lên khoảng 18%. Cùng với sự gia tăng các bệnh thực thể, các rối loạn tâm lý cũng là “bạn đồng hành” của những NCT. Các rối loạn tâm lý thường gặp là trầm cảm và lo âu.

Các nghiên cứu cho thấy, rối loạn trầm cảm và lo âu gặp ở 25% bệnh nhân ở các cơ sở khám bệnh đa khoa. Một nghiên cứu mới đây tại Viện Lão khoa Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm kết hợp với lo âu ở các bệnh nhân cao tuổi nằm viện là rất cao, lên tới 40%.

roi_loan_tam_ly_o_nguoi_cao_tuoi

Thể thao sẽ làm giảm rối loạn tâm lý ở NCT.

Một số nguyên nhân thường gặp

Đầu tiên là các stress của việc tái thích nghi với hoàn cảnh sống mới, khi phải chuyển từ giai đoạn làm việc tích cực đến giai đoạn nghỉ hưu. Những NCT sau khi về hưu trải qua một loạt các biến đổi tâm lý quan trọng do nếp sinh hoạt thay đổi, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế. Một số người khó thích nghi được với giai đoạn khó khăn này nên mắc “hội chứng về hưu”, với tâm trạng buồn chán, mặc cảm, thiếu tự tin, dễ cáu gắt, nổi giận.

Thứ hai là tâm lý tự nhiên của NCT là thường sợ ốm đau, bệnh tật, sợ chết. Như chúng ta biết, lão hóa là một quá trình tự nhiên không thể cưỡng lại được, làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh như: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, các stress.

Đây là mảnh đất “màu mỡ” để bệnh tật phát triển. Ngoài việc phải “thừa hưởng” những bệnh mạn tính từ giai đoạn trước đó của cuộc đời, NCT còn mắc thêm các bệnh khác nữa.

Do vậy, đặc điểm bệnh lý của NCT là mắc nhiều bệnh cùng một lúc như: tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, Alzheimer, Parkinson, các bệnh xương và khớp, bệnh phổi, phế quản, ung thư… Hậu quả là bệnh tật làm thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc tâm lý và nhân cách của người bệnh. Bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng.

Những NCT nào thường bị rối loạn tâm lý?

Về độ tuổi, có 2 giai đoạn NCT hay bị rối loạn tâm lý, đó là độ tuổi từ 50-59 và tuổi trên 70. Các cụ bà thường mắc bệnh nhiều hơn các cụ ông. Những người có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng dễ bị mắc bệnh hơn. Những người bị mắc nhiều bệnh, kèm theo các chứng đau, phải nằm viện nhiều lần cũng dễ bị rối loạn tâm lý hơn.

Các hình thức rối loạn tâm lý ở NCT

Các rối loạn tâm lý ở NCT rất phong phú và đa dạng. Những biểu hiện nhẹ là khó chịu, lo lắng. Nặng hơn một chút là các biểu hiện rối loạn thần kinh chức năng, với các biểu hiện suy nhược cơ thể, lo âu, ám ảnh bệnh tật. Nặng hơn nữa có thể có các trạng thái rối loạn tâm thần, biểu hiện bằng các hội chứng hoang tưởng và rối loạn ý thức.

Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về rối loạn tâm thần ở bệnh viện đa khoa trên 25.000 bệnh nhân thuộc 14 quốc gia cho thấy ¼ có rối loạn tâm thần. Rối loạn tâm lý thường gặp nhất là lo âu.

Lo âu có thể là biến chứng của điều trị hoặc xuất phát từ nhận định tiêu cực về tiên lượng bệnh của mình. Các biểu hiện lo âu thường rất đa dạng, phức tạp. Bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, lo lắng về tương lai, dễ cáu, khó tập trung tư tưởng, căng thẳng vận động, bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau đầu, khô miệng, đánh trống ngực.

Đôi khi người bệnh trải nghiệm cảm giác khiếp sợ, hoảng loạn, tuyệt vọng về bệnh tật, sợ chết. Bệnh nhân cũng có thể có các suy nghĩ ám ảnh như: nghi bệnh, sợ bẩn… khiến phải rửa tay liên tục hay kiểm tra đi kiểm tra lại…

Lo âu có thể kéo dài, gây trở ngại rõ rệt đến sinh hoạt, hoạt động nghề nghiệp, quan hệ xã hội của bệnh nhân. Rối loạn tâm lý khác cũng thường gặp là trầm cảm. Một nghiên cứu gần đây tại Mỹ cho thấy trong đời người, 13% người dân có cơn trầm cảm. Tuy nhiên, NCT hay mắc chứng trầm cảm hơn.

Ở NCT, trầm cảm thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe, cảm giác buồn phiền, chán nản và mất niềm tin kéo dài. Những triệu chứng này thường kèm theo sự suy giảm nghị lực, mất tập trung, mất ngủ, chán ăn, khó ngủ và đi đến suy kiệt.

Ngoài ra, họ còn có các biểu hiện khác như: xa lánh vợ hoặc chồng, bạn thân, đau ốm liên miên, không hoạt bát, hay thất vọng, giảm trí nhớ, khó thích nghi với những thay đổi như việc chuyển chỗ ở hoặc những thay đổi trong nội bộ gia đình.

Về mặt y khoa, trầm cảm là một rối loạn thuộc nhóm rối loạn khí sắc, thể hiện sự ức chế của cảm xúc, tư duy và vận động. Người bệnh trải qua cảm xúc buồn rầu ủ rũ, nhìn sự vật xung quanh một cách bi quan ảm đạm.

Bệnh nhân có tư duy chậm chạp, biểu hiện bằng suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng không nhanh chóng, tự cho mình là thấp kém, có hoang tưởng bị tội, tự buộc tội, nghi bệnh, có ý nghĩ và hành vi tự sát.

Ngoài ra vận động cũng bị ức chế. Người bệnh ít hoạt động, ít nói, sững sờ, đờ đẫn, thường ngồi lâu một tư thế với nét mặt trầm ngâm suy nghĩ. Trầm cảm ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt cá nhân, gia đình, cũng như khả năng thực hiện các công việc xã hội, nghề nghiệp, nhiều trường hợp còn dẫn đến hành vi nguy hiểm cho bản thân và xung quanh như tự sát hoặc giết người rồi tự tử.

Tóm lại, trong cuộc sống hàng ngày, các nhân viên y tế và người thân của bệnh nhân cần quan tâm nhiều hơn đến bệnh nhân, để nhận biết và điều trị kịp thời rối loạn trầm cảm và lo âu ở NCT.

Luyện tập thể thao tăng cường sức khỏe là một biện pháp tránh trầm cảm của NCT.

BS. QUỐC BẢO
Theo SKDS

Một số rối loạn tâm lý ở trẻ nhỏ

Xã hội ngày nay làm cho nhiều trẻ em bị xáo trộn tâm lý. Một khảo sát mới nhất cho thấy, cứ 5 trẻ nhỏ ở Mỹ thì có một trẻ bị rối loạn về tâm lý hành vi.

Các con số thông kê còn đáng báo động hơn: có tới 1% trong nhóm thanh thiếu niên ở độ tuổi từ 15 – 17 bị chứng tâm thần phân liệt, thậm chí ở nhóm nhỏ tuổi hơn cũng bị. Hội chứng tăng động – giảm chú ý (ADHD) cũng đã xảy ra nhất ở lứa tuổi từ 3 – 6.

mot_so_roi_loan_tam_ly_o_tre_nho

Chứng trầm cảm

Đây là dạng bệnh dễ nhận thấy nhất, có thể xảy ra khi các em mới 9 tuổi hay thậm chí còn nhỏ hơn, nhưng rõ rệt nhất vào độ tuổi vị thành niên. Tuy nhiên, các phụ huynh cũng không nên quá lo lắng nếu con mình vẫn ăn ngủ, sinh hoạt bình thường. Tình hình trở nên nguy cấp khi trẻ nhỏ có những dấu hiệu giống như của người lớn lúc bị trầm cảm, chẳng hạn như: bỏ  ăn, lừ đừ, dễ  cáu bẳn, mất ngủ, cảm thấy mình vô dụng, không cảm thấy vui vẻ và thi thoảng có ý nghĩ muốn tự sát. Lúc này cha mẹ phải nhờ chuyên gia giúp đỡ.

Dạng rối loạn tâm lý toàn diện

Dạng này có thể xảy ra ở đủ mọilứa tuổi, nhưng nhiều nhất là từ tuổithơ đến trung niên. Nếu từ 5 tuổi trở đimà đứa bé còn tỏ ra nhút nhát khôngrời được cha mẹ khi đến những nơicông cộng hay chỗ đông người, thì có thể coi đó là dấu hiệu của dạng rốiloạn tâm lý toàn diện.

Một trong những phương pháp điều trị là sử dụng liệu pháp nhận thức và liệu pháp chấp nhận và cam kết, vốn là những cách dạy cho trẻ em biết cách chịu đựng những khó chịu và thích nghi với hoàn cảnh.

Rối loạn ám ảnh ép buộc

Rối loạn thường xuất hiện từ khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên. Người nào có các dấu hiệu cứ lặp đi lặp lại một hành động thì được coi là mắc dạng này, chẳng hạn như cứ rửa tay liên tục.

Chỉ khi nào cha mẹ thấy con mình cứ lặp đi lặp lại một hành động và có dấu hiệu bất an, bồn chồn hay mất tự chủ… mới nên hỏi ý kiến chuyên gia tâm lý, và cũng không nên cho con dùng thuốc ngay mà chỉ nên hướng dẫn con cái hành động có  trách nhiệm và hòa hợp với số đông.

Bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh tuy thường xảy ra ở những người từ 18 hay 19 tuổi trở lên, nhưng cũng có trẻ nhỏ hơn bị mắc. Sự thay đổi tính tình, động tác hết sức vụng về hay buồn bã là những dấu hiệu thường thấy. Tuy nhiên, có khi đây chỉ là dấu hiệu của hội chứng ADHD.

Thế nhưng, khi thấy trẻ lười ăn uống, ít ngủ và hay nổi cáu bất thường, không tập trung lâu được và động tác vụng về kéo dài, nói năng bất thường… phải nghĩ đến bệnh tâm thần phân liệt. Phương pháp điều trị thường dùng là liệu pháp nói chuyện với sự giúp sức của người thân.

Hội chứng tăng động – giảm chú ý

Hội chứng thường xuất hiện ở những trẻ từ 3 – 6 tuổi hay có khi nhiều tuổi hơn. Hôi chứng này rất khó nhận biết vì trẻ  nhỏ nói chung thường hiếu động, và không phải đứa trẻ nào nghịch ngợm quá cũng bị ADHD. Chỉ khi nào đứa trẻ nói luôn mồm, không hiểu và không thực hiện được các hướng dẫn đơn giản của người lớn, cảm thấy buồn chán quá nhanh chóng không thể yên lặng được trong khoảng vài chục giây, nhất là trong lúc ăn, phải nghĩ đến việc đứa trẻ đó có thể đã bị hội chứng ADHD.

Khi thấy con mình không bao giờ để cho một người lớn nói hết câu và cứ nói chen ngang hay ngắt lời luôn miệng cũng phải nghĩ đến hội chứng này. Cách điều trị thường là sử dụng liệu pháp hành vi, dạy trẻ cách sắp xếp lại ý nghĩ và hành vi. Có thể dùng thuốc để điều trị bệnh, nhưng phải do bác sĩ chuyên khoa theo dõi.

Theo SKDS/ LÊ THU THỦY (Theo Time)