Tag Archives: rối loạn kinh nguyệt

Hậu quả do thiếu hụt nội tiết tố nữ

Nội tiết tố nữ estrogen có vai trò quan trọng cho sức khỏe phụ nữ. Sự thiếu hụt estrogen khiến cơ thể có nhiều thay đổi và ở mỗi độ tuổi có ảnh hưởng khác nhau.

Lứa tuổi dậy thì cũng thiếu hụt estrogen?
Tuổi dậy thì của bạn gái đánh dấu bằng sự xuất hiện kinh nguyệt. Trong độ tuổi dậy thì từ 12 – 16 tuổi, nội tiết tố estrogen được buồng trứng tiết ra làm cho cơ thể thay đổi. Từ đó, một cô gái lớn nhanh để trở thành một người phụ nữ. Lượng estrogen tự nhiên của cơ thể ở giai đoạn này rất dồi dào. Estrogen kích thích để bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt, làm cơ thể cô gái có những đường cong gợi cảm hơn và ngực cũng nở nang, săn chắc hơn, da dẻ mềm mại, trắng trẻo và giọng nói trở nên nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, khi tuổi dậy thì dừng lại, mức độ estrogen trong cơ thể giảm đáng kể, để lại bộ ngực vẫn ở kích thước đó trong suốt cuộc đời trưởng thành.

Để tăng cường estrogen, chị em cần tập luyện thể dục thường xuyên.

Để tăng cường estrogen, chị em cần tập luyện thể dục thường xuyên.

Sự thiếu hụt estrogen trong giai đoạn này gây ra nhiều rối loạn trong quá trình phát triển cơ thể của các cô gái: thấp bé, còi xương, da dẻ kém mềm mại là những hệ quả đầu tiên. Những cô gái thiếu hụt nội tiết tố nữ estrogen khi dậy thì có nguy cơ mắc các bệnh về tim cao hơn, chưa kể ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản sau này.

Làm sao nhận biết được sự thiếu hụt estrogen ở giai đoạn này? Đây là câu hỏi không dễ vì khi mới bước vào tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt của các em còn chưa ổn định trong khoảng 2 – 3 năm nên việc thiếu estrogen rất khó phát hiện. Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt, việc thiếu hụt vẫn xảy ra. Khi đó cha mẹ nên biết để giúp con gái phát triển cơ thể hoàn thiện hơn thông qua chế độ ăn.

Thiếu hụt nội tiết tố nữ ở độ tuổi sinh sản
Ở độ tuổi sinh sản, cơ thể phụ nữ có nhiều thay đổi, gián đoạn bởi những lần mang thai sinh nở, do vậy lượng estrogen tự nhiên được sản sinh ra không đều và không phải lúc nào cũng dồi dào. Estrogen không đủ có thể gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt, khó đậu thai – một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng hiếm muộn, hoặc thiếu sữa khi nuôi con (do tuyến vú không phát triển khi mang thai). Bên cạnh đó, sự rối loạn sản sinh estrogen dẫn đến thiếu hụt còn làm giảm ham muốn cũng như chứng khô âm đạo, khiến chị em có tâm lý ngại gần gũi với chồng – đôi khi đây lại là thủ phạm làm tan vỡ hạnh phúc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới thiên chức làm mẹ, làm vợ của họ. Sự thiếu hụt estrogen dẫn tới nguy cơ loãng xương sớm và bệnh xơ vữa động mạch ở phụ nữ. Cùng với đó, chị em có khả năng bị nám da, làn da nhăn và kém tươi tắn ở độ tuổi mà đáng lẽ làn da và nhan sắc đang sung sức nhất.

Suy giảm estrogen ở độ tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh
Tình trạng thiếu estrogen thường xảy ra ở phụ nữ bước sang giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh. Đây là điều không thể tránh khỏi do sự lão hóa của các cơ quan sinh sản như buồng trứng, tử cung. Không có trứng chín đồng nghĩa với việc không có thể vàng để tạo ra estrogen và progesteron, thay vào đó, gan, tuyến thượng thận cùng các u mỡ ở tuyến vú có nhiệm vụ sản sinh nội tiết tố nữ. Sự thiếu hụt trong giai đoạn này gây ra nhiều rối loạn về sinh lý, làm suy giảm hệ miễn dịch và sức khỏe phụ nữ. Loãng xương và nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, thận luôn đe dọa cuộc sống chị em. Làn da bị nám, sạm đen và nhăn nheo, chùng xuống. Chị em gặp nhiều rối loạn về tâm lý và sinh lý như khô âm đạo, bốc hỏa, giảm trí nhớ, mất ngủ và trầm cảm, mất ham muốn tình dục…

Cách khắc phục chứng thiếu hụt nội tiết tố nữ
Để tăng cường estrogen, chị em cần có chế độ luyện tập thể dục thường xuyên và hợp lý. Bởi tập thể thao quá nặng cũng có thể làm giảm nồng độ estrogen. Ngoài ra, chị em cũng nên bổ sung dinh dưỡng toàn diện và hợp lý như tránh ăn những thức ăn nhiều ngọt và béo, nên ăn các loại thịt nạc, thực phẩm ít béo và nhiều chất xơ, giàu vitamin C như: kiwi, cà chua, cam, quýt, đào, chuối, măng tây, cà rốt, súp lơ, ngô, đậu… hay các thức ăn giàu caroten như ớt, cải xoăn, rau bina, cà rốt, củ cải đường, rau bồ công anh, bắp cải, bí đỏ…; thực phẩm giàu vitamin nhóm B: gan, thịt bò, cá ngừ, yến mạch, thịt gà tây, chuối, khoai tây, bơ; các loại thực phẩm có chứa các chất tương tự estrogen của cơ thể phụ nữ như các sản phẩm từ đậu nành, hạt hướng dương, hạt điều, hạt lạc (đậu phộng), sắn dây… Đây đều là những thực phẩm giúp tăng estrogen trong cơ thể một cách tự nhiên.

Khi sự thiếu hụt estrogen ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thì chị em cần đi khám bác sĩ để được tư vấn điều trị cụ thể.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bấm nguyệt xoa bóp để chữa chứng rối loạn kinh nguyệt

Rối loạn kinh nguyệt (RLKN )là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, ảnh hưởng không nhỏ tới sinh hoạt cũng như sức khỏe, nặng hơn có thể gây vô sinh. Biểu hiện kinh nguyệt đến sớm hoặc đến muộn trên 1 tuần trở lên (bình thường một chu kỳ kinh là 28 ngày), lượng kinh quá nhiều hoặc quá ít, máu kinh sẫm màu, có khi vón cục hoặc nhớt loãng, bụng dưới trướng đau nhiều, đau thắt lưng, khi chườm nóng hoặc xoa nắn thì đỡ đau, có kèm theo váng đầu, hồi hộp, ăn uống kém,…

xoa-bop-chua-roi-loan-kinh-nguyet

RLKN do nhiều nguyên nhân gây ra như nhiễm lạnh khi hành kinh; do cơ thể hư nhược, ốm lâu ngày làm tổn thương khí huyết; hoặc do buồn phiền, căng thẳng thần kinh; hoặc ở tuổi thanh xuân bị thiếu dinh dưỡng do ăn uống kém (chủ yếu thiếu đạm và vitamin) khiến cơ thể phát dục không đầy đủ, chức năng sinh sản chậm hoàn thiện… Để điều trị, nên kết hợp dùng thuốc, châm cứu bấm huyệt hoặc các món ăn  thuốc… Xin giới thiệu cách xoa bóp bấm huyệt hỗ trợ điều trị rối loạn kinh nguyệt để chị em tham khảo áp dụng. xoa-bop-chua-roi-loan-kinh-nguyet-1

1. Dùng ngón tay cái day huyệt quan nguyên trong khoảng 1 – 2 phút.

2. Tay trái để lên mu bàn tay phải, úp vào vùng bụng dưới xoa theo chiều kim đồng hồ khoảng 2 phút, thấy nóng ấm là được.

3. Véo nắn da thịt hai bên cột sống từ đại chuỳ đến mệnh môn khoảng 20 lần.

4. Hai tay vòng ra sau lưng, dùng gồ ngón tay cái day huyệt thận du khỏang  1 – 2 phút.

5. Tiếp theo day huyệt mệnh môn khoảng 1 –  2 phút.

6. Dùng ngón tay cái day bấm huyệt huyết hải khoảng 1 – 2 phút.

7. Tiếp theo day bấm huyệt tam âm giao khoảng 1 – 2 phút.

Lưu ý: Nếu bệnh nặng và kéo dài, cần đến bệnh viện khám.

Lương y Thanh Thảo

Đọc để biết cách phòng ngừa vô sinh ở nữ giới

Ở phụ nữ, nguy cơ hiếm muộn, vô sinh có liên quan đến nhiều vấn đề. Để phòng ngừa vô sinh, bạn cần lưu ý những điều sau đây.

Thưa bác sĩ, năm nay em 20 tuổi, chưa lập gia đình nhưng đã có người yêu. Chúng em chưa tính đến chuyện kết hôn nhưng cũng dự định là sau khi cưới sẽ không kế hoạch mà sinh em bé luôn. Em biết cứ dự định như vậy là hơi sớm nhưng quả thật bây giờ em gặp rất nhiều trường hợp vô sinh, hiếm muộn sau khi kết hôn nên em rất sợ nếu không may mình cũng bị như vậy.

Cũng chính vì lý do này mà em luôn muốn quan tâm tới sức khỏe của mình, đặc biệt là sức khỏe sinh sản để đảm bảo sau này mình không gặp khó khăn trong việc có con. Bác sĩ cho em hỏi, để đề phòng vô sinh thì em cần làm những gì? Em xin cảm ơn bác sĩ! (H. Thanh)
doc-de-biet-cach-phong-ngua-vo-sinh-o-nu-gioi
BS. Hoa Hồng tư vấn:

Bạn H. Thanh thân mến,

Tất cả những kế hoạch hay dự tính liên quan đến sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe sinh sản không bao giờ bị coi là quá sớm. Vậy nên, bạn đừng bỏ qua những điều gì tốt nhất cho sức khỏe của mình.

Đúng là ngày nay, tỉ lệ vô sinh, hiếm muộn ở các cặp đôi đang tăng, trong đó nguyên nhân xuất phát từ người đàn ông hay chị em phụ nữ là ngang nhau. Thế nhưng, nếu chỉ lo lắng thì sẽ không giúp bạn khỏe mạnh, điều quan trọng là bạn phải hiểu về cơ thể mình, nắm được các yếu tố nguy cơ có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản để biết cách phòng bệnh tốt nhất.

Ở phụ nữ, nguy cơ hiếm muộn, vô sinh có liên quan đến nhiều vấn đề. Những chị em có các triệu chứng sau đây thường dễ gặp trục trặc trong chuyện sinh sản:

– Chu kì kinh nguyệt không đều hoặc thay đổi thất thường: Đây có thể là triệu chứng suy hoàng thể hoặc viêm nội mạc tử cung. Hai bệnh này nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến buồng trứng và khó thụ thai.

– Khí hư bất thường: Các bệnh như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm loét cổ tử cung, viêm nội mạc cổ tử cung, viêm phần phụ, viêm vùng chậu và các bệnh tình dục khác đều có dấu hiệu nhận biết là tình trạng là khí hư ra nhiều, có màu vàng, có dạng như bã đậu hoặc dạng nước, kèm theo ngứa rát âm đạo…

– Đau bụng kinh âm ỉ: Đau vùng thắt lưng hoặc đau bụng dưới thường là do các bệnh như viêm vùng chậu, viêm loét cổ tử cung, viêm buồng trứng, lạc nội mạc tử cung, ung thư tử cung, buồng trứng gây ra.

Để phòng ngừa vô sinh, bạn cần lưu ý những điều sau đây:

– Quan hệ tình dục lành mạnh: Luôn sử dụng bao cao su để phòng tránh những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, viêm nhiễm phụ khoa. Tránh quan hệ tình dục với nhiều bạn tình.

– Tránh nạo, hút thai nhiều lần: Việc nạo hút thai nhiều lần sẽ làm ảnh hưởng nhiều tới dạ con, buồng trứng gây nguy cơ vô sinh cao.

– Tránh stress thường xuyên: Thường xuyên bị stress chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến chức năng của bộ não và tuyến yên làm cho nội tiết tố sinh dục sẽ giảm xuống, khả năng thụ thai sẽ khó hơn rất nhiều.

– Kiểm tra, thăm khám định kỳ: Bạn nên thăm khám, kiểm tra định kỳ sức khỏe sinh sản để phát hiện ra sớm những bệnh dễ gây vô sinh như  tắc vòi trứng, viêm nhiễm khuẩn đường sinh dục, viêm tử cung…

– Tránh các thói quen có hại: Các thói quen như uống rượu, hút thuốc, thụt rửa âm đạo liên tục… đều có thể làm suy giảm chức năng buồng trứng và dễ gây mãn kinh sớm.

– Bổ sung vitamin: Hãy bổ sung các loại vitamin cần thiết để bồi bổ sức khỏe, đặc biệt là vitamin E có tác dụng tăng cường chức năng hoạt động của buồng trứng để tăng khả năng sinh sản của bạn.

Nếu thấy có bất kì biểu hiện bất thường nào liên quan đến sức khỏe, bạn nên đi khám càng sớm càng tốt.

Chúc bạn vui, khỏe!

Dược liệu dành cho phụ nữ tiền mãn kinh

Ở độ tuổi 45-55, do chức năng buồng trứng suy giảm nên 85% phụ nữ mắc hội chứng tiền mãn kinh với mức độ khác nhau, biểu hiện bằng các triệu chứng: rối loạn kinh nguyệt, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ, tim đập nhanh, có các cơn bốc hỏa, thay đổi tính tình… Theo y học cổ truyền, đây là hậu quả của tình trạng thận khí suy nhược, tinh huyết sút kém, kinh mạch hư tổn, công năng tạng phủ rối loạn, dẫn đến mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Sau đây là một số món ăn bài thuốc hiệu quả cho chị em:

duoc_lieu_danh_cho_phu_nu_tien_man_kinh

Thể thận dương hư:

– Đông trùng hạ thảo 10g, thịt gà 250g. Thịt gà rửa sạch, cho vào nồi, đun sôi, hớt bọt. Cho đông trùng hạ thảo vào, hầm nhỏ lửa cho nhừ, chia làm 2 lần ăn trong ngày.

– Tôm nõn loại to 10 con, gạo kê 100g, dầu vừng, gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, thái nhỏ, nấu với gạo kê thành cháo, thêm gia vị, ăn vài lần trong ngày.

Thể can thận âm hư:

– Táo nhân 30g, sinh địa 30g, gạo tẻ 100g. Táo nhân đập vụn, sinh địa thái phiến, sắc kỹ cả hai vị lấy 200ml nước thuốc rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Tang thầm (quả dâu chín) 50g, đường trắng 200g, bột mì 300g, trứng gà 5 quả. Tang thầm rửa sạch, sắc lửa nhỏ trong 20 phút rồi lọc bỏ bã lấy nước, cho đường, bột mì, trứng gà vào trộn đều, nặn thành bánh, nướng chín dùng dần. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 50-100g.

Thể tâm tỳ lưỡng hư.

– Thịt gà ác 200g, hà thủ ô 20g, hoàng kỳ 15g, đại táo 10 quả. Thịt gà rửa sạch, thái miếng, đại táo bỏ hạt, hà thủ ô và hoàng kỳ cho vào túi vải, buộc kín. Tất cả cho vào nồi đất, chế nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm kỹ trong 2 giờ, bỏ túi thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.

– Long nhãn 30g, nhân sâm 3g, nấm linh chi 5g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà hằng ngày. Có thể chế thêm một chút đường phèn cho dễ uống.

– Nấm linh chi 5g, viễn chí 10g, tam thất 10g, ngũ vị tử 4g, hạt sen 10g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường, uống thay trà trong ngày.

ThS. Hoàng Khánh Toàn
Theo SKĐS

Dùng thuốc tránh thai làm đẹp da dẫn đến bị tai biến

Mấy tháng trở lại đây mặt Tâm bị nổi mụn, hết đợt này đến đợt khác làm cho Tâm thiếu tự tin không dám đi ra ngoài nhiều hay tiếp xúc với mọi người.

– Này, hay cậu thử uống thuốc tránh thai xem. Tớ thấy nhiều người uống thuốc tránh thai mà da đẹp hẳn lên đấy. Thấy Tâm buồn buồn Xuyến (bạn của Tâm) chia sẻ.

– Có được không? Mình là con gái chưa chồng mà.

– Thì cứ thử xem,biết đâu lại có hiệu quả.

Nghe bạn nói thế nên Tâm ra hiệu thuốc mua vài vỉ thuốc tránh thai về uống thử. Quả thật từ khi sử dụng thuốc tránh thai, một thời gian sau đó mụn cũng dần dần hết và da mặt cũng thấy căng hơn trước. Tâm có vẻ hài lòng và coi đây là một “bí quyết” làm đẹp rỉ tai mấy chị em trong xóm. Thế nhưng thời gian gần đây Tâm lại thường hay có cảm giác buồn nôn, chóng mặt. Tâm nghĩ rằng có thể do áp lực công việc căng thẳng nên chủ động điều chỉnh chế độ làm việc, nghỉ ngơi để khắc phục. Rồi trên mặt lại thấy xuất hiện những vết nám, vết thâm. Những vết này có xu hướng lan nhanh ra các vùng xung quanh nên Tâm phải đến bác sĩ để khám bệnh.

bi_tai_bien_do_dung_thuoc_tranh_thai_lam_Dep_Da

Khi bị nổi mụn, không tự ý dùng thuốc mà cần đi khám chuyên khoa da liễu. Ảnh: Ngọc Anh

Đi khám bệnh ở khoa da liễu, rồi sang cả khoa ngoại thần kinh các bác sĩ đều kết luận Tâm bị tác dụng phụ của thuốc tránh thai. Bác sĩ cho biết:

– Có một số loại thuốc tránh thai có tác dụng trị mụn trứng cá, làm da căng mịn nhưng chỉ trong tình trạng mụn trứng cá nặng do vấn đề nội tiết và dùng theo chỉ định của bác sĩ. Còn ngược lại, có những người có cơ địa không thích hợp nếu sử dụng thuốc tránh thai thường xuyên có thể gây hiện tượng nám da, sạm da, tàn nhang như trường hợp của chị là một ví dụ điển hình.

Thuốc tránh thai có tác động đến hoóc-môn nên nó phần nào có tác dụng giúp da dẻ mịn màng, tránh mụn nhưng đây không phải là tác dụng chính của thuốc và hầu hết các loại thuốc tránh thai không được sản xuất ra nhằm phục vụ mục đích này. Khi dùng thuốc tránh thai người dùng có thể gặp các tác dụng phụ không mong muốn do thuốc gây nên như buồn nôn, nôn, rối loạn nội tiết, rối loạn kinh nguyệt, cương ngực, đau đầu, chóng mặt. Dùng thuốc tránh thai sai mục đích, quá liều còn gây hậu quả lâu dài như hiếm muộn, vô sinh, ung thư vú nữa.

Bác sĩ còn cho biết thêm, trường hợp của Tâm sẽ phải điều trị trong thời gian dài nữa…

Theo 24h

Nạo phá thai và tác hại của nó

Nhìn từ góc độ y học, việc bỏ thai có thể có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và tâm lý của người phụ nữ cho dù thai kỳ đang ở giai đoạn nào đi chăng nữa.

Cần nhấn mạnh rằng, việc làm này góp phần làm tăng nguy cơ gây vô sinh thứ phát ở phụ nữ. Sau đây là 6 mối nguy hiểm mà người phụ nữ có thể phải “đối mặt” khi quyết định bỏ thai.

Viêm, tắc nghẽn ống dẫn trứng

Khi mang thai ngoài mong muốn, nếu bạn tìm đến một cơ sở y tế không uy tín, chất lượng không cao thì đó là một sai lầm rất lớn. Bạn có thể sẽ gặp rắc rối lớn bởi không phải bác sĩ nào ở các cơ sở y tế này đều khử trùng nghiêm ngặt các dụng cụ và cổ tử cung trước khi làm phẫu thuật.

Quá trình nạo phá thai sẽ là điều kiện vô cùng thuận lợi để các vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập vào khoang tử cung gây ra nhiễm trùng cổ tử cung, tử cung và tắc nghẽn ống dẫn trứng. Đây là lí do hàng đầu gây ra vô sinh.

Dính tử cung

Khi hút hoặc bỏ thai, nhất là bỏ thai nhiều lần hay thực hiện không đúng tiêu chuẩn y tế, rất có thể các bác sĩ sẽ làm hỏng cổ tử cung và màng tử cung. Điều này sẽ làm cho cổ tử cung bị tắc nghẽn, gây tổn thương nghiêm trọng cho bộ phận sinh sản, nếu không có các biện pháp kịp thời chữa trị sẽ dẫn đến hẹp hoặc dính tử cung. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến vô sinh.

Vô kinh

Khi hút, nạo thai rất có khả năng lớp nội mạc tử cung bị mỏng đi hoặc biến mất. Điều này khiến cho nội mạc tử cung phải mất một thời gian dài để tái tạo, thậm chí không thể tái tạo như trước. Đây là nguyên nhân dẫn đễn vô kinh trong một thời gian dài, từ đó, khả năng thụ thai cho những lần mong muốn sau này có thể gặp khá nhiều khó khăn.

Lạc nội mạc tử cung

Nạo hút thai có thể khiến cổ tử cung bị co lại. Khi có kinh nguyệt, cổ tử cung co bóp đẩy máu kinh chảy ngược  lại. Trong trường hợp máu kinh chảy vào ống dẫn trứng, qua ống dẫn có thể thấm vào khoang bụng, bàng quang, trực tràng và “chạy” tới buồng trứng.

Những mảnh vụn của nội mạc tử cung di chuyển vào những nơi này và cứ thế mà phát triển, vì thế gọi là “lạc” – lạc nội mạc tử cung. Bệnh nhân thường có hiện tượng đau bụng kinh và đau vùng chậu. Tỷ lệ vô sinh ở các bệnh nhận bị lạc nội mạc tử cung khá cao, khoảng 40%.

tac_hai_pha_thai

Bỏ thai có thể làm tăng nguy cơ gây vô sinh thứ phát ở phụ nữ. (Ảnh minh họa)

Viêm nhiễm vùng chậu

Các nguyên nhân chính gây bệnh viêm vùng chậu cấp tính là do hậu sinh không tốt, nạo hút thai, vệ sinh kinh nguyệt kém…

Viêm nhiễm vùng chậu chính là sự lây lan nhiễm trùng các vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Escherichia coli, các vi khuẩn yếm khí, tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục (như lậu cầu, Chlamydia trachomatis, Mycoplasma, virus herpes)… gây đau đớn cho người bệnh. Đặc biệt, nếu không điều trị triệt để sẽ rất dễ tái phát và gây vô sinh. Các triệu chứng xảy ra cho người bệnh mắc bệnh này là đau lưng, đau bụng, tăng mùi hôi của tiết dịch âm đạo.

Rối loạn chu kỳ kinh nguyệt

Đây là tình trạng mà các bệnh nhân thường gặp phải sau khi bỏ thai.

Kinh nguyệt không đều thường là do chu kì rụng trứng thay đổi thất thường. Rụng trứng và chu kỳ kinh nguyệt chi phối bởi các hormone, các tuyến sinh sản, hệ thống thần kinh nội tiết… Một số tổn thương ở tử cung cùng tâm lý tổn thương sau khi phá thai sẽ dẫn đến hiện tượng rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, về lâu dài nếu không được điều trị sẽ dẫn tới vô sinh.

Theo 24h

Mãn kinh quá sớm dẫn đến vô sinh

Phụ nữ trẻ mãn kinh sớm không chỉ tác động xấu đến tâm lý mà còn rút ngắn thời gian sinh sản và phải đối mặt với nguy cơ mắc một số bệnh như loãng xương, tim mạch…

Mãn kinh quá sớm, dễ mất cơ hội làm mẹ

Mới 34 tuổi, lấy chồng chưa được bao lâu, chị Hà Giang ở Việt Trì, Phú Thọ sốc vô cùng khi bác sĩ kết luận chị khó có cơ hội làm mẹ.

Từ khi dậy thì, chu kỳ kinh của chị luôn đều đặn nhưng một năm trở lại đây chị luôn bị thất thường, có tháng kéo dài hàng chục ngày, tháng thấy hai lần, rồi có khi 2 – 3 tháng không có.

Lập gia đình muộn nên chị mong mỏi có con từng ngày. Chị rất chú ý chế độ nghỉ dưỡng, bồi bổ để sẵn sàng làm một bà mẹ khỏe mạnh nhưng mãi mà vẫn “bặt vô âm tín”. Dù biết rõ chu kỳ kinh thất thường như vậy nhưng vì quá bận việc cuối năm nên chị chần chừ không đi khám sớm. Một lý do khác khiến chị chủ quan là vì chị nghĩ chị làm việc căng thẳng đã gây rối loạn kinh nguyệt.

Cho đến khi tình trạng không có kinh kéo dài gần nửa năm chị mới giật mình đến bệnh viện khám. Bác sĩ kết chị có dấu hiệu mãn kinh sớm, buồng trứng sản xuất trứng thất thường nên khả năng có con của chị không cao. Bác sĩ phân tích thêm, mãn kinh sớm có nhiều nguyên nhân chưa giải thích được, trong đó có thể do di truyền vì mẹ đẻ chị cũng mãn kinh từ khi chưa đến 40 tuổi.

de_phong_man_kinh_somNhiều chị em chủ quan không đi khám sớm khi có dấu hiệu bất thường để rồi bị mãn kinh sớm. Ảnh: Lê Hường

Tương tự, chị Hải Yến ở Ba Đình, Hà Nội vô cùng bất ngờ nhận được thông báo chị không có may mắn làm mẹ.

Dù đã ngót tuổi “tứ tuần” nhưng chị chưa lập gia đình, mải lo sự nghiệp đến lúc “quá lứa lỡ thì” chị nảy sinh tư tưởng sống độc thân, rồi sinh đứa con là đủ. Tuy nhiên, chị chưa kịp thực hiện thì đã quá muộn, chị không còn cơ hội làm mẹ.

Đã nhiều tháng nay chu kỳ kinh nguyệt của chị có nhiều bất thường nhưng chị không để ý. Tháng trước, thấy cơ thể có nhiều dấu hiệu bất thường như thường xuyên thấy nóng, nhất là về ban đêm, khó thở, tính tình nóng nảy… chị liền đi khám sức khỏe tổng quát. Sau khi thử máu và làm các xét nghiệm cần thiết, bác sĩ kết luận chị không thể có con được nữa vì buồng trứng đã không còn hoạt động – dấu hiệu của mãn kinh sớm.

Ngày nay, không ít phụ nữ trẻ đột nhiên lâm vào tình trạng mãn kinh sớm khi chưa đến tuổi, khiến thời gian sinh sản của họ bị rút ngắn không dự tính trước.

Mãn kinh sớm: Vấn đề không đơn giản

Mãn kinh là giai đoạn chuyển tiếp lần thứ hai trong đời sống sinh dục của người phụ nữ (lần đầu là lúc có kinh). Mãn kinh xảy ra do sự suy giảm chức năng buồng trứng, dần dần buồng trứng ngưng hoạt động dẫn đến việc mất kinh nguyệt mỗi tháng và chấm dứt khả năng sinh sản.

Thông thường, phụ nữ ở độ tuổi 45- 50 hoạt động chế tiết của buồng trứng bắt đầu bị rối loạn, dẫn đến kinh nguyệt không đều, kéo dài hoặc dây dưa. Giai đoạn tiền mãn kinh có thể kéo dài 2- 5 năm. Vì thế, phụ nữ mãn kinh thật sự thường ở tuổi từ 50-55. Khi mãn kinh, phụ nữ thường có dấu hiệu chu kỳ kinh nguyệt trồi sụt bất thường, tình trạng bốc hỏa, tính tình trở nên cáu gắt…

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp cá biệt phụ nữ chưa đến 40 tuổi nhưng buồng trứng không còn hoạt động nữa, được gọi là mãn kinh sớm. Tình trạng này thường xuất hiện ở những người hút thuốc lá, uống rượu, căng thẳng phiền muộn, chiếu tia xạ trị bệnh, bị rối loạn miễn dịch, đã được phẫu thuật cắt tử cung… Trường hợp mãn kinh sớm không có dấu hiệu báo trước, vì dễ nhầm lẫn với stress từ công việc hoặc áp lực gia đình.

Theo bác sĩ chuyên khoa sản Nguyễn Thị Tình, Bệnh viện 16A Hà Đông thì mãn kinh sớm không phổ biến và cũng chưa giải thích được nguyên nhân. Cho đến mới gần đây, mãn kinh sớm được phát hiện và được xếp vào dạng hiếm hoi. Có khoảng 1% trên tổng số phụ nữ phải chịu đựng tình trạng bất thường này.

Nhìn chung mãn kinh sớm làm chất lượng sống của chị em giảm đi đáng kể, cả về sinh khí, chức năng cơ thể lẫn sức khỏe tinh thần. Tuy không phải bệnh nguy hiểm nhưng mãn kinh sớm cũng mang đến cho phụ nữ nhiều vấn đề đáng lo ngại.

Nguy cơ đầu tiên của mãn kinh sớm là người phụ nữ không còn khả năng có thai được nữa, do không còn có nang noãn chín hoặc noãn không thể phóng được (không rụng trứng được). Bỏ lỡ quyền làm mẹ không hay biết, những phụ nữ thuộc nhóm này muốn có con chỉ còn nhờ cậy phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Ngoài chứng vô sinh, phụ nữ mãn kinh sớm còn bị ảnh hưởng xấu về tâm sinh lý và đối mặt với nguy cơ mắc một số bệnh như loãng xương, tim mạch… Phụ nữ mãn kinh ở tuổi 30 có thể mắc bệnh loãng xương trước tuổi 40. Bệnh tim mạch cũng là mối đe dọa lớn, nhất là xơ vữa động mạch. Bệnh xuất hiện sau 30 tuổi, nếu không được chẩn đoán điều trị sẽ rất nguy hiểm khi xuất hiện biến chứng.

Bác sĩ Tình khuyến cáo, để ngăn ngừa tình trạng này phụ nữ nên tránh các yếu tố nguy cơ như: hút thuốc lá, uống rượu, căng thẳng… và nên tư vấn bác sĩ khi phát hiện để tránh được các nguy cơ sức khỏe lâu dài.

Theo 24h

7 bài thuốc phòng chống u xơ tử cung

U xơ tử cung là một loại u lành rất thường gặp ở phụ nữ. Tùy theo vị trí, tính chất, khối lượng và tốc độ phát triển khác nhau mà bệnh có thể gây nên những biểu hiện và biến chứng khác nhau như rối loạn kinh nguyệt, tiểu rắt và nhiều lần khi ép vào bàng quang, đại tiện khó khăn khi chèn vào trực tràng, vô sinh khi đè vào ống dẫn trứng, đau tức bụng dưới, đau cột sống và thống kinh khi ép vào mạch máu và thần kinh xoang chậu, ung thư hóa…

Y học cổ truyền xử lý căn bệnh này bằng nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc uống trong hoặc xông xoa, bôi đắp bên ngoài, châm cứu, xoa bóp, sử dụng các món dược thiện…Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một số bài thuốc đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng và rẻ tiền.

7_bai_thuoc_phong_chong_u_xo_tu_cung_01

Bài 1:

Tam thất 10g, hương phụ chế 5g, trần bì 1g, các vị sấy khô, tán nhỏ rồi chiêu uống với nước sôi, mỗi ngày 2 lần. Công dụng: hành khí, hoạt huyết, giảm đau, thích hợp cho những trường hợp u xơ tử cung có bụng dưới đau chướng, đau xuyên sang hông.

Bài 2:  Đào nhân 21 hạt, sinh địa 30g, quế tâm 10g, gạo tẻ 100g, gừng tươi 1g. Cắt đầu nhọn của đào nhân, nghiền quế tâm thành bột, cho sinh địa, đào nhân và gừng tươi tẩm rượu và sắc lấy nước. Nấu gạo thành cháo rồi cho nước sắc đào nhân và sinh địa vào, đun sôi vài phút là được, chia ăn vài lần trong ngày vào lúc đói. Công dụng: hóa ứ, tán hàn, chỉ thống, dùng để chữa u xơ tử cung có đau chướng bụng dưới.

Bài 3:  Xuyên sơn giáp 20g, quy vĩ 10g, bạch chỉ 10g, xích thược 10g, tiểu hồi 30g, lá ngải cứu tươi 30g. Cho các vị thuốc vào túi vải dài 21mm, rộng 15mm đặt lên bụng dưới, bên trên đặt túi nước nóng chườm, mỗi tối 1 lần, mỗi lần 20 phút, 30 ngày là 1 đợt điều trị. Công dụng: Hoạt huyết, thông lạc, tiêu u.

7_bai_thuoc_phong_chong_u_xo_tu_cung_02

Kinh giới.

Bài 4:

Đương quy 24g, xuyên khung 15g, ích mẫu 30g, đào nhân 9g, vừng đen 6g, hoa kinh giới sao 6g, chích cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : hoạt huyết, hóa ứ, chỉ thống.

Bài 5:  Quế chi 12g, bạch linh 12g, xích thược 12g, đan bì 9g, đào nhân 9g, ngưu tất 9g, mẫu lệ 15g, đan sâm 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : hoạt huyết, hóa ứ, tiêu u, dùng thích hợp cho những bệnh nhân u xơ tử cung kèm theo hành kinh sắc huyết đỏ sẫm, có cục, bụng dưới đau nhói.

Bài 6: Vương bất lưu hành 100g, hạ khô thảo 30g, sinh mẫu lệ 30g, tô tử 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, 30 thang là 1 liệu trình. Công dụng: thông lạc, phá ứ, tiêu u.

Bài 7:  Trinh nữ hoàng cung tươi 30g (nếu khô dùng 15g) sắc kỹ lấy nước uống cùng với 7g tam thất sống, sấy khô, tán bột. Công dụng: hoạt huyết, bổ huyết, phá ứ, tiêu u.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Tổng quan về u xơ tử cung

 I. Đại cương

Có 5-10% u xơ tử cung dẫn đến vô sinh.

U xơ tử cung, hay còn gọi là nhân xơ tử cung, là một loại u lành tính gặp ở 20% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

U xơ tử cung có thể là một khối duy nhất hoặc nhiều khối khác nhau, kích thước có thể chỉ vài milimet, nhưng cũng có thể phát triển to gần đến xương ức, chiếm gần hết tử cung. Khối u xơ có thể phát triển chậm chạp, nhưng đôi khi lại rất nhanh.

Vị trí của u xơ có thể: dưới niêm mạc tử cung (nằm ở mặt trong tử cung), trong lớp cơ tử cung, dưới thanh mạc tử cung (nằm ở mặt ngoài tử cung), ở đáy, thân, eo hay cổ tử cung.

tong_quan_ve_u_xo_tu_cung

II. Nguyên nhân

Hiện nay nguyên nhân còn chưa rõ ràng. Yếu tố di truyền có lẽ đóng một vai trò nào đó trong bệnh này.

Sự phát triển của u xơ dường như cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố hormone, nhất là estrogen. Khi estrogen trong cơ thể tăng cao, u xơ tử cung thường to ra do sự tăng sinh các sơi cơ, mô cơ ở thành tử cung. U xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ của người phụ nữ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất. Sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm. Một số hormone khác, như progesterone, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.

Nghiên cứu cho thấy phụ nữ béo phì, phụ nữ độc thân, hay có ít con, có kinh sớm (trước 12 tuổi) có nguy cơ bị u xơ cao hơn, phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai uống và nữ vận động viên điền kinh ít có nguy cơ bị u xơ

III. Triệu chứng

Đến hơn 50% phụ nữ bị u xơ không biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các u xơ tử cung được phát hiện tình cờ khi thăm khám vùng chậu định kỳ hoặc theo dõi trước khi sanh.

Triệu chứng đầu tiên của u xơ tử cung là ra khí hư nhiều do niêm mạc tử cung bị kích thích. Khí hư thường trong, đôi khi loãng như nước và ngày một nhiều hơn.

Tiếp đó, bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt, thời gian hành kinh kéo dài hơn bình thường hoặc lượng máu kinh nhiều hơn, có máu cục. Khi khối u xơ đã lớn, máu kinh không ra theo chu kỳ nữa mà có thể xuất hiện bất cứ lúc nào gọi là rong huyết. Tình trạng ra huyết kéo dài dẫn đến thiếu máu, khiến bệnh nhân xanh xao, choáng váng, hồi hộp, mệt mỏi, suy kiệt… Không ít trường hợp ra máu rất nhiều khi hành kinh do khối u xơ cản trở sự co bóp của tử cung, khiến tử cung bị đờ và máu chảy nhiều, gọi là băng kinh, nếu không được xử trí kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Kèm theo bệnh nhân có thể đau bụng dưới do tử cung co bóp mạnh để đẩy máu kinh ra ngoài hoặc đau lưng vùng thấp.

Khối u phát triển quá to (lớn hơn 5 cm) gây chèn ép các cơ quan bên cạnh, gây đau, bí tiểu, táo bón, rối loạn tiêu hóa…

Nhiều người có thể sờ thấy nhân xơ tử cung chắc ở vùng bụng dưới vào ban đêm khi các cơ bụng được thả lỏng.

Trường hợp nặng hơn là khi khối nhan xơ tạo thành polyp tụt xuống âm đạo có thể sờ thấy khiến bệnh nhân bị ra máu nhiều và có cảm giác đau vướng mỗi khi sinh hoạt tình dục. Nếu lâu ngày polyp bị nhiễm khuẩn, âm đạo sẽ tăng tiết dịch, lẫn máu và mủ nên rất hôi; tình trạng nhiễm khuẩn có khi lan ngược lên tử cung, gây biến chứng nguy hiểm.

IV. Biến chứng

Bệnh nhân khó có thai do u xơ gây chèn ép, làm gập vòi trứng hoặc làm bít lỗ cổ tử cung, ảnh hưởng đến sự di chuyển của tinh trùng, ngăn cản trứng thụ thai. Mặt khác khối u có thể làm biến dạng tử cung và lớp nội mạc tử cung, gây bất lợi cho sự làm tổ của trứng.

Thai phụ có u xơ tử cung có thể sẩy thai liên tiếp do lớp nội mạc không phát triển đầy đủ, và do buồng tử cung bị chèn ép, không phát triẻn to ra được hoặc sinh non, ngôi thai bất thường, rau bám ở vị trí bất thường (rau tiền đạo, rau cài răng lược). Thậm chí, những khối u to, nằm ở vị trí như eo tử cung, có thể làm cản trở hoặc tắc nghẽn gây khó khăn cho cuộc sinh, kéo dài cơn chuyển dạ có khi sản phụ không sinh được, phải mổ và có nguy cơ bị băng huyết cao hơn (do u xơ cản trở tử cung co hồi, đờ tử cung).

Trong thời kỳ hậu sản, thường là u xơ sẽ nhỏ lại, không gây biến chứng gì. Tuy nhiên, cũng có khi nó gây nhiễm khuẩn, nhất là đối với các u xơ dưới niêm mạc.

Những u xơ có cuống sẽ gây biến chứng xoắn và phải phẫu thuật cấp cứu

V. Điều trị

Thuốc ngừa thai uống hoặc các hormone sinh dục giúp kiểm soát triệu chứng cường kinh, có thể làm teo u. Nhưng nội tiết tố chủ yếu là thuốc ngừa thai đường uống. Điều đó đồng nghĩa với việc không thể thụ thai.

Một số thuốc khác có thể làm giảm kích thước khối u xơ do hạ thấp nồng độ estrogen nhưng gây ra nhiều triệu chứng của mãn kinh như cơn nóng bừng, tính khí nóng nảy, nhức đầu, khô âm đạo và mất xương nên không thể dùng lâu dài. Khối u xơ thường tái phát sau khi ngưng thuốc.

Hầu hết các thuốc điều trị u xơ được sử dụng như một liệu pháp tạm thời trong mãn kinh sớm hoặc chuẩn bị cho phẫu thuật.

Phương pháp phẫu thuật thường dùng là thủ thuật cắt bỏ u xơ, trong thủ thuật này người ta chỉ cắt bỏ khối u và giữ nguyên tử cung. Nếu chỉ cắt khối u xơ, tỷ lệ tái phát khoảng 10%.

Nếu phẫu thuật nội soi, sự lành vết thương hết sức mau chóng và để lại sẹo nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chúng chỉ được áp dụng cho các u xơ nhỏ hoặc các u xơ mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Nói chung phẫu thuật qua nội soi hiếm khi cần vì thường các u xơ nhỏ không cần điều trị.

Một phẫu thuật khác là cắt tử cung. Biện pháp này điều trị u xơ hữu hiệu nhất, nhưng chỉ nên thực hiện nếu u xơ có khả năng gây biến chứng. Phẫu thuật cắt tử cung ít biến chứng hơn phẫu thuật cắt khối u xơ và đó là giải pháp điều trị tận gốc. Nhưng bệnh nhân vĩnh viễn không thể mang thai

Gây tắc động mạch nuôi khối u là phương pháp không phẫu thuật và rất ít xâm nhập nhất có thể là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Sau một thời gian, u xơ không được cấp máu sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng, dẫn đến hoại tử vô trùng. Từ đó chúng dần dần teo nhỏ trở thành sẹo không có mạch máu hoặc biến mất hoàn toàn. 85% phụ nữ được điều trị theo phương pháp này hoàn toàn không còn các triệu chứng đau hoặc các triệu chứng do khối u. Tỷ lệ sang chấn tử cung cũng như nhiễm trùng rất thấp. Các nghiên cứu về khả năng có thai trở lại sau thủ thuật hiện chưa hoàn thành. Tỷ lệ tái phát u xơ cũng chưa được biết rõ, và những ảnh hưởng lâu dài của thủ thuật còn phải được nghiên cứu thêm.

Theo uxotucung.com.vn/ Theo Thầy thuốc của bạn

Biến chứng của u xơ tử cung: Băng kinh

U xơ tử cung (UXTC) là những khối u lành tính, tuy nhiên, nếu điều trị muộn sẽ gây nhiều biến chứng, trong đó có băng kinh.

Trong chương trình “Sức khỏe cho mọi người” (phát trên sóng VTV2), PGS.TS Nguyễn Viết Tiến cho biết: UXTC thường được phát hiện tình cờ khi chị em đi khám bệnh định kỳ hoặc theo dõi sản phụ khoa. Bệnh có thể gây những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng tới chức năng sinh sản của chị em như: khó có thai, sảy thai, sinh non, khó đẻ, băng kinh, băng huyết sau sinh,… thậm chí là vô sinh.

bien_chung_cua_u_xo_tu_cung_bang_kinh

Triệu chứng đầu tiên của UXTC là ra khí hư nhiều do niêm mạc tử cung bị kích thích. Sau đó, bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt, thời gian hành kinh kéo dài hơn bình thường. Khi khối u xơ đã lớn, huyết không ra theo chu kỳ nữa mà có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, gọi là rong huyết, dẫn đến thiếu máu, khiến bệnh nhân xanh xao, mệt mỏi… Nếu khối u xơ tạo thành pôlyp (bướu thịt) tụt vào âm đạo, mức độ ra máu sẽ nặng hơn. Mỗi khi sinh hoạt tình dục, bệnh nhân cảm thấy đau và ra máu nhiều…

UXTC có thể gây nhiều biến chứng, thường gặp và nguy hiểm nhất là chảy máu. Không ít trường hợp ra máu rất nhiều trong kỳ kinh gọi là băng kinh, nếu không được xử trí kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng do bị mất máu.

Thông thường, việc điều trị UXTC phụ thuộc vào kích thước, tính chất của khối u, tuổi và nhu cầu sinh con của người phụ nữ. Nếu bệnh nhân còn có nhu cầu sinh con, khối u nhỏ (đường kính dưới 5 cm) thì có thể điều trị nội khoa, dùng các loại thuốc progesterone. Nếu khối u lớn thì mổ bóc tách, bảo tồn tử cung. Trường hợp bệnh nhân đã nhiều tuổi, đủ số con mong muốn hoặc khối u quá lớn thì phải mổ cắt tử cung. Trên thực tế, phương pháp phẫu thuật bóc tách khối u chi phí tốn kém nhưng lại không tác động được lên căn nguyên của bệnh nên dễ gây tái phát. Cũng cần lưu ý, việc sử dụng nhóm thuốc progesterone có thể gây nên một số tác dụng phụ như: khô da, giảm ham muốn tình dục, vô kinh,… Vì vậy, để phát hiện sớm UXTC, chị em nên đi khám sản phụ khoa định kỳ 6 tháng một lần.

Hiện nay, việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, an toàn trong hỗ trợ điều trị UXTC ngày càng được đông đảo bác sĩ và bệnh nhân tin dùng. Tiêu biểu cho xu hướng này là thực phẩm chức năng Nga Phụ Khang. Với thành phần chính là trinh nữ hoàng cung giúp tăng cường sức khỏe buồng trứng, tử cung, kết hợp với một số thảo dược khác như: hoàng kỳ, hoàng cầm, khương hoàng,… có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của tế bào khối u, tăng cường hệ miễn dịch cơ thể, cải thiện các triệu chứng lâm sàng, thu nhỏ dần kích thước UXTC, u nang buồng trứng và đặc biệt không có tác dụng phụ khi sử dụng lâu dài.

Để tránh những biến chứng của UXTC, người bệnh nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa sớm như uống Nga Phụ Khang thường xuyên, cần theo dõi, phát hiện và điều trị kịp thời để ngăn chặn những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Nguyễn Hạnh

Bài thuốc trị kinh nguyệt không đều

Rối loạn kinh nguyệt hay còn gọi là kinh nguyệt không đều là tình trạng ở người phụ nữ còn trong độ tuổi sinh nở, nhưng kinh nguyệt không điều hoà (kinh đến sớm, kinh đến muộn, kinh ra ngắn ngày, kinh ra dài ngày, lượng kinh ít, lượng kinh nhiều, màu kinh nhạt, chất kinh loãng, sẫm màu, chất kinh đặc…).

Tùy theo chứng trạng và nguyên nhân mà dẫn đến các tình trạng kinh nguyệt như nêu ở trên. Kinh đến sớm thuộc về nhiệt, kinh đến chậm thuộc hàn, thuộc hư, huyết uất thì kinh đến sớm, lượng ít màu đỏ, nếu huyết nhiệt kinh nguyệt có màu đỏ, lượng nhiều, bồn chồn bứt rứt không yên. Một số người bị rối loạn kinh nguyệt là do huyết ứ với đặc điểm là “kinh ra sau kỳ (chậm), lượng ít, màu tím đen, đóng cục, sắc mặt tím xám, bụng dưới trướng đau nhưng không thích xoa bóp (cự án), sau khi hành kinh ra huyết thì bớt đau, ngực bụng đầy trướng, đại tiện táo bón, nước tiểu ít và đỏ lưỡi xám”.

bai_thuoc_tri_kinh_nguyet_khong_deu

Nếu thấy da thâm sạm, mí mắt và môi thâm quầng đó là biểu hiện của huyết ứ. Huyết ứ tức là huyết không lưu thông, bị dồn ứ lại. Trong trường hợp này phải dùng phương pháp hoạt huyết, khứ ứ điều kinh, dùng các vị thuốc có tác dụng hoạt huyết như đào nhân, hồng hoa, xích thược… Có thể dùng 1 trong 2 bài thuốc sau để chữa rối loạn kinh nguyệt thể huyết ứ.

Bài 1: sinh địa 12g, xuyên khung 8g, kê huyết đằng 16g, uất kim 8g, đào nhân 8g, ích mẫu 16g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Sinh địa 12g, bạch thược 12g, đương quy 8g, xuyên khung 8g, đào nhân 8g, hồng hoa 6g. Sắc uống ngày một thang.

Trường hợp kèm theo cơ thể mệt mỏi, kém ăn, kém ngủ bạn có thể dùng bài “Quy tỳ thang gia giảm” có tác dụng bổ tỳ, ích khí, điều kinh với các vị thuốc sau: bạch truật 12g, phục thần 12g, hoàng kỳ 12g, long nhãn 12g, toan táo nhân 12g, nhân sâm 8g, mộc hương 4g, cam thảo 8g, đương quy 10g, viễn chí 8g, đào nhân 8g, hồng hoa 8g. Cho 750ml nước, sắc lấy 250ml nước thuốc, chia uống 3 lần trong ngày.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Lương y Hoài  Vũ

Trị rối loạn kinh nguyệt bằng bạch đồng nữ

Bạch đồng nữ còn có tên gọi khác là mò trắng, mò hoa trắng, bấn trắng. Là loại cây nhỏ, cao khoảng 1m, lá đơn mọc đối, hình tim mép khía răng nhỏ thưa, màu xanh nhạt, mặt trên màu sẫm, mặt dưới nhạt màu hơn, có lông ở cả hai mặt lá. Cuống lá dài khoảng 8cm. Khi vò nát lá có thấy mùi hôi. Hoa màu trắng ngà vàng, nhị dài thò ra ngoài hoa. Quả mọng hình cầu. Cây mọc hoang khắp nơi trên nước ta. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ và lá. Thu hái vào lúc cây đang và sắp ra hoa, sấy khô phơi âm can (phơi khô trong mát, nơi có nhiều gió không phơi ra nắng), hoặc có thể dùng rễ rửa sạch, phơi khô dùng dần.

Bạch đồng nữ có vị hơi đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khu phong, trừ thấp, tiêu viêm. Thường dùng chữa bạch đới khí hư, viêm loét tử cung, kinh nguyệt không đều, mụn nhọt lở ngứa, viêm mật vàng da, gân xương đau nhức, tăng huyết áp.

tri_roi_loan_kinh_nguyet_bang_bach_dong_nu

Bạch đồng nữ. Ảnh: MH

Những bài thuốc dùng bạch đồng nữ

Bài 1: Chữa khí hư bạch đới (biểu hiện là khí hư có màu trắng, đôi khi vàng, vàng xanh, có mùi hôi… kèm theo là các triệu chứng đau mỏi lưng, hông, mệt mỏi toàn thân): Bạch đồng nữ, ích mẫu, ngải cứu, hương phụ, trần bì, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 – 3 tuần sau chu kỳ kinh nguyệt. Dùng nhắc lại liệu trình thứ hai vào sau kỳ kinh tháng sau.

Bài 2: Rối loạn kinh nguyệt, kinh không đều, đau bụng kinh: Lá bạch đồng nữ, hương phụ, ngải cứu, ích mẫu, mỗi vị 10 – 12g (khô). Sắc uống, ngày 1 thang, khi uống có thể cho thêm ít đường cho dễ uống. Uống sau khi hết kinh độ 5 – 7 ngày. Uống liền 2 – 3 tuần lễ.

Bài 3: Chữa kiết lỵ, đi ngoài ra máu. Lá bạch đồng nữ non 20 – 30g, rau sam 30g, 2 thứ rửa sạch thái nhỏ luộc ăn cả cái lẫn nước. Có thể sắc uống 1- 2 lần trong ngày. Uống liên tục 5 – 7 ngày.

Bài 4: Chữa tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu: Bạch đồng nữ, xích đồng nam, cỏ chỉ thiên, rễ tranh, cỏ bấc, thịt ốc bươu, mỗi thứ khoảng 16-20g. Sắc với 1 lít nước, còn lại 300ml, chia 2 lần uống lúc đói. Uống từ 3-5 ngày.

Bài 5: Chữa viêm mật, vàng da. Rễ bạch đồng nữ, rễ xích đồng nam, mỗi thứ 20-30g. Sắc với 650ml nước,còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước ăn. Uống 7-10 ngày.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Lương y Vũ Nam

Chữa rối loạn kinh nguyệt bằng đông y

Theo Ðông y, nguyên nhân chủ yếu gây ra rối loạn kinh nguyệt là chức năng tiêu hóa bị trục trặc, cản trở sự hấp thu dinh dưỡng, khiến cơ thể phát dục không đầy đủ, chức năng sinh sản chậm hoàn thiện. Các chấn động về tinh thần, tình cảm cũng dẫn đến rối loạn kinh nguyệt.

Từ 14 tuổi, đông y cho rằng phụ nữ thiên quí đã đầy đủ nên cơ thể lớn nhanh – tính tình thay đổi, có kinh. 49 tuổi thiên quí bắt đầu cạn dần, tính tình cũng lại thay đổi, sức khỏe thay đổi và  hết kinh.

Ngày nay, do nhiều tác động của đời sống kinh tế xã hội, hành kinh có thể xuất hiện từ tuổi 12 – 13 và kéo dài đến độ tuổi  54 – 55. Kinh mỗi tháng thấy một lần nên gọi là kinh nguyệt. Bình thường kinh nguyệt trong 3 ngày thì sạch. Nếu quá 10 ngày gọi là kinh nguyệt kéo dài – gây mất máu nhiều, ảnh hưởng tới sức khỏe. Các kỳ kinh thường kéo dài từ 28 – 30 ngày.

chua_roi_loan_kinh_nguyet_bang_dong_y

Nếu chu kỳ kinh chênh nhau trên 5 – 10 ngày gọi là không đều hay rối loạn kinh nguyệt.

Rối loạn chu kỳ kinh cần tìm nguyên nhân để chữa trị.

Nguyên nhân gây rối loạn kinh nguyệt

Do căng thẳng trong cuộc sống

Điều khiển hoạt động của cơ thể có hai hệ thống và hai hệ thống này liên quan chặt chẽ với nhau. Khi căng thẳng, thần kinh tiết chất kích thích, buồng trứng bị rối loạn. Do vậy hoạt động của buồng trứng cũng bị rối loạn, dẫn đến kinh nguyệt không đều.

Tạng người

Béo quá hay gầy quá cũng làm thay đổi hoạt động của buồng trứng, gây rối loạn chu kỳ kinh. Người bị nhiễm trùng hay nhiễm độc đặc biệt là nhiễm trùng đường sinh dục (tử cung, buồng trứng).

Tạng thận

Chức năng tạng thận là tàng tinh sinh tinh.

Thiên quí đầy đủ, kinh nguyệt đều. Thiên quí thiếu, thận hoạt động yếu thì kinh nguyệt rối loạn.

Phòng và chữa rối loạn kinh nguyệt

Cách phòng và chữa bệnh của đông y là:

Một là: không lao động quá nặng, quá mệt, kéo dài. Không chơi bời quá mức sẽ hao tinh. Tinh hao kinh nguyệt rối loạn.

Hai là: trong quan hệ cuộc sống cần biết đủ (chi túc), có lòng vị tha để hòa đồng, giải tỏa uất ức buồn phiền cùng người thân, kinh nguyệt sẽ đều.

Ba là: ăn uống đủ ngũ vị: cay, chua, mặn, đắng, ngọt. Không quá nhiều vị nào trong bữa ăn hàng ngày. Trên mâm cơm đủ ngũ sắc là màu xanh, màu đỏ, màu vàng, màu đen và màu trắng. Đủ ngũ vị và ngũ sắc khí huyết sẽ đầy đủ và lưu thông, kinh nguyệt sẽ đều.

Để chữa bệnh, thầy thuốc cần khám để tìm nguyên nhân – thuốc chữa tùy địa phương, tùy kinh nghiệm mỗi thầy thuốc – nhưng đều tuân theo các quy luật chung là:

Nếu khí huyết kém dùng bài: xuyên khung, đương quy, thục địa, bạch thược, đảng sâm.

Nếu có yếu tố buồn phiền uất ức, dùng các vị: sài hồ, bạch thược, đan bì, hoàng cầm, đương quy, tô ngạch, hương phụ chế.

Nếu đau bụng khi hành kinh dùng các vị tăng lưu thông khí huyết như: đan sâm, hồng hoa, ích mẫu, ngải cứu.

Nếu kinh ra nhiều kéo dài 6, 7 ngày, dùng các vị bổ máu và cầm máu như: đương quy, ngải diệp xao đen, hòe hoa, cỏ nhọ nồi, azao…

Nếu kinh nguyệt ra quá ít có thể tăng bổ thận và bổ huyết dùng các vị như: thục địa, hoài sơn, sơn thù, đan bì, hoàng kỳ, ích mẫu, ngải diệp, xuyên khung.

Nếu chậm kinh, kinh quá 5 – 10 ngày không ra, (nhưng không phải do có thai) thì dùng thêm các vị ích mẫu, hồng hoa, đào nhân, đan sâm…

Nếu kinh nguyệt không đều có thể dùng bài xuyên khung, đương quy, thục địa, bạch thược, hương phụ, ích mẫu, ngải cứu.

Nếu có khí hư ra nhiều, mùi hôi; khí hư màu vàng hay đen, cần dùng thêm thuốc ngâm rửa dùng bài: hoàng bá, phèn phi, lá móng, tô mộc, linh lang – đun ngâm rửa 7 đến 10 ngày liền.

Tóm lại, phòng chữa bệnh không quá khó. Cần người bệnh có hiểu biết để phối hợp với thầy thuốc.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ GS.TS. Dương Trọng Hiếu

Tìm hiểu kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt

Rối loạn kinh nguyệt (RLKN) hay kinh nguyệt (KN) không đều là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bệnh ảnh hưởng không nhỏ tới sinh hoạt cũng như sức khỏe, nặng hơn có thể gây vô sinh.

tim_hieu_kinh_nguyet_va_roi_loan_kinh_nguyet

Thế nào là RLKN

Chu kỳ KN thường kéo dài từ 21 – 35 ngày, trong đó 3 – 5 ngày có kinh. Lượng máu trung bình mất đi sau mỗi lần hành kinh là từ 50 – 150ml. Chu kỳ KN không đều và không ổn định, lượng máu mất đi sau những ngày hành kinh quá ít hoặc quá nhiều, mức độ huyết sắc tố sau chu kỳ kinh thấp hơn mức kinh thường (120g/l) là những biểu hiện thường thấy ở những phụ nữ bị RLKN.

Những nguyên nhân của RLKN là gì?

Có thể do nhiều nguyên nhân, thường gặp nhất là: stress (nghĩa là trong cuộc sống có nhiều yếu tố gây căng thẳng, lo phiền, đau khổ…), rối loạn tiêu hóa (ăn quá nhiều), nhiễm khuẩn (ví dụ bị viêm cổ tử cung), lao động hoặc luyện tập thể thao quá nhiều, tụt cân (có thể mất nhiều mỡ), thai ngoài tử cung. Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn cần được thầy thuốc xem xét như: bệnh lý ở tuyến nội tiết, bệnh về máu, bệnh giảm tiểu cầu.

Những RLKN thường gặp

Chu kỳ kinh ngắn, nhiều, kéo dài: chu kỳ KN ít hơn 21 ngày gọi là “chu kỳ kinh ngắn”, ngày hành kinh kéo dài 7 ngày gọi là “kỳ kinh kéo dài”. Còn về lượng kinh thì thông thường chỉ có thể dựa vào số băng vệ sinh dùng để phán đoán. Nếu máu hành kinh chảy ra quá nhiều, có những cục máu lớn; sau chu kỳ kinh, mức độ huyết sắc tố thấp hơn mức bình thường (120g/l) thì được coi là lượng KN nhiều.

Xuất huyết không theo quy luật: KN hoàn toàn không có tính quy luật, thời gian giữa 2 kỳ kinh có thể kéo dài vài tháng mà cũng có thể là dăm ngày. Lượng KN có lúc nhiều nhưng cũng có lúc ít.

Xuất huyết giữa kỳ kinh: thường bị xuất huyết vài ngày trong thời gian giãn cách giữa hai chu kỳ (lượng máu thường là tương đối ít).

KN thưa, ít: chu kỳ KN ở trong khoảng từ 36 ngày đến 6 tháng thì gọi là KN thưa. Thời gian hành kinh ít hơn 3 ngày, lượng băng vệ sinh dùng rất ít hoặc thậm chí không cần dùng thì gọi là KN ít (dân gian còn gọi máu bồ câu).

Vô kinh: chỉ KN ngừng từ 6 tháng trở lên.

Thống kinh: trong thời kỳ KN, bụng dưới đau dữ dội, ảnh hưởng đến công tác và sinh hoạt. Trước khi vào viện, nếu người bệnh đã uống một loại thuốc gì và liều lượng ra sao thì cần phải nói rõ với bác sĩ, bởi vì có một số loại thuốc hormone nếu dùng không đúng sẽ dẫn đến RLKN.

RLKN ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe?

Cơ thể phát triển bình thường, vòng kinh đều đặn và ổn định là yếu tố vô cùng quan trọng đối với khả năng sinh sản của phụ nữ. Chu kỳ kinh quá dài hay quá ngắn cũng gây khó khăn cho việc thụ thai.

Chu kỳ kinh kéo dài gây bất tiện cho sinh hoạt hàng ngày. Đó cũng là giai đoạn nhạy cảm của cơ thể. Vi khuẩn dễ dàng tấn công gây nên những bệnh viêm nhiễm “vùng kín” như: viêm âm đạo, u màng trong tử cung, viêm buồng trứng… Nếu lượng máu trong những ngày có kinh mất đi quá nhiều sẽ gây nên bệnh thiếu máu, cơ thể sẽ dễ mệt mỏi, cáu gắt, khó chịu.

Khi nào thì cần đi khám bác sĩ?

Nên thường xuyên theo dõi chu kỳ KN của mình. Khi vòng kinh của bạn dài, ngắn bất thường hay lượng máu mất đi trong những ngày có kinh quá nhiều, hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu để quá lâu sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như khả năng sinh sản.

Ăn uống và sinh hoạt thế nào khi RLKN?

Khi bị RLKN, cơ thể bạn thường mệt mỏi, khó chịu. Hãy bổ sung vào thành phần bữa ăn hàng ngày các nhóm thực phẩm giàu vitamin nhóm B như: cá, thịt, bò, trứng, sữa, pho mát… Nên ăn nhiều các loại rau và hoa quả, đặc biệt là những loại rau quả có màu đỏ đậm như: cà chua, cà rốt… Hạn chế dùng các loại đồ ăn nhiều chất béo và các loại nước uống có chất kích thích như: rượu, bia, cà phê, thuốc lá…

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. TRẦN DUY THỰC

Rối loạn kinh nguyệt ở trẻ vị thành niên

Kinh nguyệt là gì?

Kinh nguyệt là biểu hiện sự trưởng thành và bắt đầu hoạt động của buồng trứng và người phụ nữ bắt đầu có khả năng có thai. Tuổi có kinh lần đầu của các trẻ gái thường là 13-16 tuổi. Những năm gần đây, xu hướng có kinh sớm hơn, có trẻ hành kinh lúc 11-12 tuổi. Nếu có kinh trước 10 tuổi gọi là hành kinh sớm và thường là bệnh lý. Nếu có kinh sau 16 tuổi là có kinh muộn. Nếu sau 18 tuổi chưa có kinh thì được gọi là vô kinh nguyên phát. Nếu hành kinh mà thời gian ra huyết kéo dài hơn 7 ngày gọi là rong kinh.

Một vòng kinh hay còn gọi là chu kỳ kinh từ 28-30 ngày. Thời gian hành kinh 3-4 ngày. Lượng huyết kinh thường nhiều vào ngày thứ nhất và thứ hai. Tổng số huyết kinh khoảng 60-80ml.

roi_loan_kinh_nguyet_o_tre_vi_thanh_nien

Muộn có kinh là gì?

Là những trường hợp trên 16 tuổi mới hành kinh lần đầu tiên. Có thể lượng huyết kinh ít hơn so với những người khác. Nguyên do dậy thì muộn, buồng trứng kém phát triển, hoặc do dinh dưỡng kém, người bé nhỏ, gầy yếu hoặc do bệnh tật nên cơ thể kém phát triển.

Rong kinh tuổi dậy thì là gì?

Rong kinh tuổi dậy thì là những trường hợp thời gian hành kinh kéo dài trên 7 ngày, hậu quả làm cho các em xanh xao thiếu máu, người mệt mỏi. Vì ra huyết kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nên các em dễ bị viêm đường sinh dục. Viêm nhiễm có thể lan tỏa lên hai vòi tử cung (trước đây gọi là vòi trứng) làm hẹp hoặc tắc, dễ bị thai ngoài tử cung hoặc vô sinh sau này. Mặt khác, rong kinh có thể gây rối loạn phóng noãn (rụng trứng) cũng là một nguyên nhân gây vô sinh.

Vô kinh tuổi dậy thì là gì?

Vô kinh tuổi dậy thì là quá 18 tuổi mà vẫn chưa hành kinh. Có hai loại nguyên nhân:

Rối loạn nội tiết: đây là một hội chứng liên quan chặt chẽ từ não đến buồng trứng, rất khó điều trị mà biểu hiện bên ngoài là cơ quan sinh dục phụ không phát triển như: vú nhỏ, không có lông mu, lông nách, âm hộ nhỏ bé. Cũng có thể là do rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thường gặp ở những người nam giả nam hoặc nữ giả nữ.Bất thường về phát triển của bộ phận sinh dục: là những trường hợp không phát triển một phần hoặc toàn bộ phận sinh dục. Nếu bộ phận sinh dục không phát triển hoàn toàn thì không có hiện tượng kinh nguyệt, ví như không có tử cung hoặc không có buồng trứng. Nếu bộ phận sinh dục không phát triển một phần thì vẫn có hiện tượng kinh nguyệt, nhưng vì huyết kinh bị ứ lại không chảy ra ngoài được nên gọi là bế kinh.

Những triệu chứng gợi ý bế kinh

Đến tuổi dậy thì có đau bụng vùng dưới đều đặn hằng tháng, mỗi lần đau kéo dài 3-4 ngày, sau đó trở lại bình thường.

Những lần sau đau tăng hơn lần trước.

5, 6 lần đau như vậy sẽ thấy một khối ở trên xương mu, nhiều khi đau căng, quằn quại, các cháu kêu khóc do quá sức chịu đựng.

Nếu bế kinh do màng trinh không thủng thì thấy nặng, căng tức ở âm hộ. Khi khám 2 môi bé ở âm hộ thấy huyết kinh làm giãn màng trinh và có màu tím.

Hậu quả của bế kinh

Do huyết kinh không thoát ra được, ứ đọng lại làm tử cung và vòi tử cung dãn căng, phá hủy niêm mạc của tử cung và vòi tử cung nên không thể có thai được. Là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, có thể làm nhiễm khuẩn rồi vỡ và sẽ gây viêm phúc mạc ổ bụng. Có thể vỡ vòi tử cung do căng giãn quá mức.

Phòng tránh những bất thường kinh nguyệt tuổi vị thành niên

Bố mẹ và các thành viên trong gia đình nên quan tâm đến hiện tượng đau bụng, đặc biệt là đau bụng diễn ra hằng tháng có tính chất chu kỳ mà không hành kinh phải đưa các em đi khám bệnh.

Cho ăn nhiều hoa quả, đủ dinh dưỡng để các cháu phát triển tốt về thể chất.

Nếu các cháu bị rong kinh, phải đưa các cháu đến khám bệnh ở những phòng khám chuyên khoa để điều trị sớm, tránh rối loạn phóng noãn sẽ gây vô sinh.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Vương Tiến Hòa

Chữa rối loạn kinh nguyệt bằng xoa bóp

Kinh nguyệt là hiện tượng xuất huyết tử cung theo chu kỳ. Thời gian giữa hai kỳ kinh gọi là chu kỳ kinh nguyệt. Chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ nói chung khoảng 28 ngày (trước hoặc sau 5 ngày vẫn là bình thường). Thời gian mỗi lần thấy kinh từ 3 – 7 ngày, lượng huyết khoảng 100ml. Rối loạn kinh nguyệt là bệnh thường gặp nhất của phụ khoa. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể là do nhiễm lạnh khi hành kinh dẫn đến ứ trệ; hoặc do cơ thể hư nhược, ốm lâu ngày làm tổn thương khí huyết; hoặc do uất ức, buồn phiền, căng thẳng thần kinh. Các chấn động về tinh thần, tình cảm cũng dẫn đến rối loạn kinh nguyệt. Biểu hiện là kinh nguyệt đến sớm hoặc đến muộn 1 tuần trở lên, lượng kinh quá nhiều hoặc quá ít, máu kinh sẫm màu, có khi vón cục hoặc nhớt loãng…, bụng dưới trướng đau nhiều, đau từng cơn, xoa nắn thì đỡ đau, có thể đau thắt lưng. Kèm theo người bệnh thấy váng đầu, hồi hộp, ăn uống kém… Để điều trị, có thể dùng các bài thuốc sắc, châm cứu bấm huyệt, món ăn – bài thuốc… Sau đây xin  giới thiệu cách xoa bóp bấm huyệt để chị em có thể tham khảo.

chua_roi_loan_kinh_nguyet_bang_xoa_bop

– Day huyệt quan nguyên trong khoảng 1 – 2 phút.

– Xoa day bụng dưới: Tay trái để lên mu bàn tay phải, úp vào bụng xoa theo chiều kim đồng hồ khoảng 2 phút, thấy nóng ấm là được.

– Véo nắn da thịt hai bên cột sống từ đại chuỳ đến mệnh môn khoảng 20 lần.

– Day bấm huyệt thận du khoảng 1 – 2 phút.

– Day bấm huyệt mệnh môn khoảng 1 –  2 phút.

– Day bấm huyệt huyết hải khoảng 1 – 2 phút.

– Day bấm huyệt tam âm giao khoảng 1 – 2 phút.

Lưu ý: – Nếu người bệnh bụng trướng đau nặng thì thủ pháp phải nhẹ nhàng.

– Xoa bóp bấm huyệt có hiệu quả tốt đối với những trường hợp rối loạn kinh nguyệt tương đối nhẹ. Nếu bệnh nặng và kéo dài, cần đến bệnh viện để xác định chính xác nguyên nhân, từ đó mới có thể tìm ra phương pháp chữa trị hữu hiệu.

– Cần có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý tránh căng thẳng thần kinh. ăn uống đủ chất dinh dưỡng để đảm bảo sức khoẻ,  nên kiêng ăn các đồ sống lạnh. Không rửa bằng nước lạnh, không ngâm người trong nước lâu.

– Giữ vệ sinh bộ phận sinh dục. Tránh quan hệ tình dục trong kỳ kinh.

– Nếu có các bệnh ở hệ thống sinh dục cần điều trị sớm.

Vị trí huyệt

– Quan nguyên: dưới rốn 3 tấc, trên đường giữa bụng.

– Mệnh môn: dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 2.

– Ðại chuỳ: giữa đốt sống cổ cổ 7 và đốt sống lưng 1.

– Thận du: dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 2 sang ngang 1,5 tấc.

– Huyết hải: mặt trước trong đùi, từ xương bánh chè đầu gối đo lên 2 tấc, huyệt nằm trong khe lõm giữa cơ may và cơ rộng trong, ấn vào có cảm giác ê tức.

– Tam âm giao: mắt cá trong đo thẳng lên 3 tấc, chỗ bờ sau xương chày.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Lương y Đình Thuấn

Món ăn giúp tuổi mãn kinh vẫn sung

Hội chứng tiền mãn kinh thường gặp ở phụ nữ tuổi trung niên (45 – 50 tuổi). Biểu hiện là đau đầu váng đầu, ngủ hay mơ hay giật mình, có những cơn bốc hỏa, đổ mồ hôi trộm, đau ở các khớp, khó thở, bức bách trong lồng ngực, da khô và nếp nhăn nhiều hơn, tính tình dễ thay đổi, tiểu vặt, tiểu không kiểm soát…

Để ngăn chặn và khắc phục những biểu hiện trên, từ trước đến nay người ta vẫn dùng thuốc, luyện tập, nghỉ ngơi, dưỡng sinh… nhưng ăn uống như thế nào trong giai đoạn này thì ít người nghĩ tới. Liệu pháp này có nhiều mặt tích cực, hiệu quả. Xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc để bạn đọc có thể tham khảo và áp dụng khi cần.

mon_an_giup_tuoi_man_kinh_van_sung

Cháo tim lợn, táo nhân viễn chí: Tim lợn 1 quả, gạo tẻ 100g; táo nhân, viễn chí, đan sâm mỗi vị 20g, gia vị vừa đủ. Tim lợn thái mỏng ướp gia vị. Táo nhân (sao đen) rồi cùng với viễn chí, đan sâm sắc kĩ lọc lấy nước. Lấy nước này cùng gạo nấu thành cháo. Khi cháo chín kỹ cho tim lợn vào nấu thêm ít phút cho chín đều, nêm rau thơm, chanh ớt, mì chính ăn nóng.

Công dụng: Tim lợn bổ tâm bổ huyết, táo nhân, viễn chí dưỡng tâm an thần; đan sâm bổ khí hoạt huyết. Món ăn này phù hợp với phụ nữ đang trong tình trạng tiền mãn kinh có những triệu chứng: đau đầu, lồng ngực bức bách, ngủ hay mơ hay giật mình, toát mồ hôi, rối loạn kinh nguyệt…

Cháo biển đậu, chim bồ câu: Chim bồ câu 1 con, gạo tẻ 100g, biển đậu 25g, hạt sen 25g, gia vị vừa đủ. Chim bồ câu làm thịt bỏ nội tạng, băm nhỏ, nêm gia vị, phi hành mỡ cho thơm rồi bỏ thịt chim vào xào chín kỹ. Biển đậu, hạt sen cùng với gạo nấu thành cháo. Khi cháo chín kỹ thì cho thịt chim vào, nấu thêm một lát cho chín đều, tra gia vị ăn nóng.

Công dụng: Chim bồ câu bổ ngũ tạng. Biển đậu, hạt sen bổ tỳ bổ tâm, nhằm điều hòa âm dương, cân bằng thủy hỏa, hạn chế những rối loạn đang diễn ra như: toát mồ hôi, đau nhức xương khớp, rạo rực khó ngủ, đau đầu choáng váng, tiểu vặt, tiểu không kiểm soát…

Cháo lươn: Lươn 1kg, gạo tẻ 120g, gia vị vừa đủ. Lươn làm thịt bỏ ruột, sau đó chần nước sôi vừa chín tới thì vớt ra, gỡ lấy thịt, phi hành mỡ cho thơm, cho thịt lươn vào xào cho chín ngấm gia vị. Gạo nấu thành cháo. Xương lươn giã bằng cối đá cho nhỏ, lọc lấy nước cho vào nồi cháo, cho thịt lươn vào, quấy đều, tra gia vị ăn nóng. Cháo lươn cần những gia vị như rau răm, rau ngổ, mùi tàu, chanh ớt, nước mắm ngon. Khi ăn có thể cho thêm bánh đa vừng.

Công dụng: Cháo lươn bổ âm,  phù hợp với phụ nữ đang trong giai đoạn tiền mãn kinh thể âm hư với những triệu chứng: người gay da xanh, mệt mỏi, ăn yếu, táo nhiệt, họng khô miệng ráo, viêm lợi, khó ngủ, tim hồi hộp.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Lương y Trịnh Văn Sỹ

U nang buồng trứng đe dọa tính mạng bệnh nhân

U nang buồng trứng là tên thường gọi để chỉ một khối phát triển bất thường trên buồng trứng. U nang buồng trứng có thể phát triển từ các mô của buồng trứng hay từ mô của các cơ quan khác trong cơ thể. U nang buồng trứng tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau với nhiều biến chứng khác nhau, trong đó xoắn u nang buồng trứng là dạng biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là phụ nữ lứa tuổi 30 trở lên.

u_nang_buong_trung_de_doa_tinh_mang_benh_nhan

Để phát hiện sớm u nang buồng trứng

Khi chưa có biến chứng, khối u nang buồng trứng thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Các triệu chứng có thể gặp:

– Sờ thấy khối u trên bụng.

– Đau bụng.

– Rối loạn kinh nguyệt.

– Rối loạn đi tiêu hay đi tiểu.

Các triệu chứng này có thể là triệu chứng của một bệnh lý khác như bệnh phụ khoa (viêm nhiễm, u xơ tử cung) hoặc khối u của một bệnh lý khác ở vùng bụng. U nang buồng trứng có thể dẫn tới biến chứng xoắn u với các triệu chứng như đau quặn bụng cấp tính, đau thành từng cơn, diễn biến ngày càng dồn dập và gia tăng về cường độ, thường kèm nôn mửa, nhiều khi trầm trọng dẫn đến mất nước và các chất điện giải hoặc dẫn tới suy thận. Khám phụ khoa định kỳ có thể giúp phát hiện được khối u buồng trứng, kết hợp với siêu âm bụng sẽ cho biết thêm tính chất khối u. Ngoài ra, có thể làm thêm một số xét nghiệm máu để giúp định hướng tính chất lành hay ác của khối u như xét nghiệm máu đo lượng chất Alpha Feto Protein (CA 125).

Các diễn biến tự nhiên có thể xảy ra

– Khối u không gia tăng thêm kích thước: thường hiếm gặp.

– Khối u biến mất: thường xảy ra đối với những khối u cơ năng sau theo dõi từ 2-3 tháng.

– Khối u ngày càng to ra: bụng ngày càng to, có thể kèm thêm các biến chứng do chèn ép như đau bụng dưới, bí tiểu, rối loạn tiêu hóa, trướng bụng…

Điều trị u nang buồng trứng

Điều trị u nang buồng trứng phụ thuộc vào kích thước của khối u, có thể uống thuốc, chích nang, mổ nội soi hay mổ mở. Trong trường hợp khối u nang quá lớn, xâm lấn toàn bộ cả hai bên buồng trứng phải phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên. Nếu là khối u cơ năng thì nên chờ vài tháng để có chẩn đoán rõ ràng trong khi một khối u thực thể (do bệnh lý) thì cần được xử trí sớm nhằm xác định rõ tính chất lành hay ác, cũng như tránh các biến chứng có thể xảy ra. Một khối u nếu để quá to sẽ gây khó khăn cho phẫu thuật, gây mất nhiều máu và có nhiều nguy cơ tổn thương đến các cơ quan lân cận.

Phương pháp điều trị chủ yếu đối với u nang buồng trứng là phẫu thuật. Có thể phẫu thuật qua nội soi ổ bụng hay mổ bụng hở tùy theo kích thước và tính chất của khối u. Thuốc chỉ được dùng trong một vài trường hợp đặc biệt hoặc trong thời gian chờ đợi làm phẫu thuật đối với các trường hợp đã có chỉ định mổ.

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp

Nang lạc tuyến buồng trứng

 Xoắn cuống nang là một biến chứng thường gặp của xoắn u nang, hay xảy ra ở u có cuống dài, đường kính khoảng 8 – 10cm. Vì khối u nhỏ lại có cuống dài nên dễ di động và bị xoắn. Xoắn hay vỡ là tình trạng cấp cứu cần phải được phẫu thuật ngay. Dễ xoắn nhất là u nang bì, nếu được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời, tiên lượng sẽ tốt. Nếu muộn, khối u hoại tử vỡ, bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Ngoài ra, không có hiện tượng một khối u nang buồng trứng để lâu ngày sẽ trở thành ung thư buồng trứng mà chỉ có tình trạng ung thư buồng trứng không được chẩn đoán và xử trí sớm để khối ung thư ngày càng phát triển trầm trọng thêm.

Hay gọi đúng hơn là lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng. Nội mạc tử cung là lớp màng trong của tử cung, gồm 2 phần, phần nền hầu như không thay đổi và phần tăng trưởng là phần sẽ thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, trong quá trình mang thai và khi sinh nở. Thông thường, theo chu kỳ kinh nguyệt, phần tăng trưởng này sẽ phát triển ngày càng dày lên, tích tụ nhiều chất dinh dưỡng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để trứng thụ tinh sẽ đến làm tổ khi có thai. Gần hết chu kỳ kinh, do thay đổi nội tiết tố sinh dục nữ, lớp tăng trưởng này sẽ bong ra và tạo ra hiện tượng hành kinh, sau đó phần này lại tiếp tục tăng trưởng vào chu kỳ kinh sau và cứ thế duy trì suốt giai đoạn tuổi sinh sản. Trong bệnh lý lạc nội mạc tử cung, nội mạc tử cung sẽ hiện diện ở nhiều nơi khác ngoài lòng tử cung như trong ổ bụng, tại vòi trứng, tại buồng trứng hoặc bám trên thành ruột… Mặc dù nằm lạc chỗ nhưng các phần nội mạc này vẫn bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh dục nên vẫn phát triển dày lên, cương tụ rồi bong ra và gây xuất tiết vào ngày hành kinh. Tuy nhiên, dịch xuất tiết và xuất huyết từ đám nội mạc này sẽ không được tống ra ngoài như máu kinh mà bị tích tụ lại tại chỗ và ngày càng nhiều lên. Khối lạc chỗ sẽ ngày càng to ra và tạo thành các khối nang chứa dịch, máu và nội mạc tử cung. Nguyên nhân của bệnh cho tới nay vẫn còn chưa rõ ràng, được giải thích là do nội mạc tử cung khi sinh ra đã có mặt ở các vị trí bất thường, hoặc do hiện tượng nội mạc bong ra khi hành kinh đã đi ngược dòng từ lòng tử cung trở ngược ra vòi trứng và có mặt tại các nơi khác trong ổ bụng.

Triệu chứng của tình trạng này là xuất hiện cơn đau bụng kinh ngày càng gia tăng kèm một khối u vùng bụng ngày càng to ra. Điều trị thuốc được ưu tiên chỉ định khi khối u còn nhỏ hoặc trước và sau khi phẫu thuật nhằm tiêu diệt triệt để các khối lạc chỗ. Tuy nhiên, bệnh rất thường hay tái phát.

U bì buồng trứng

Đa số là u lành. Tổ chức u là tổ chức phát triển từ mô thượng bì trong thời phôi thai. Khi phẫu thuật sẽ thấy bên trong khối u có chất bã đậu vàng, nhiều lông tóc, xương, răng…

Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng cũng được xếp vào trong các dạng đặc biệt của u nang vì tính chất ung thư chỉ biết được sau khi phẫu thuật, còn trước đó, khi thăm khám vẫn chẩn đoán là u nang. Ung thư buồng trứng có thể phát triển trên mọi độ tuổi và thường được phát hiện muộn do triệu chứng của khối u buồng trứng thường rất mơ hồ. Hơn nữa, vị trí của buồng trứng tiếp xúc nhiều với ổ bụng, do đó thường có di căn xa từ rất sớm. Điều trị ung thư buồng trứng gồm phẫu thuật và hóa trị bổ sung sau đó. Tùy theo mức độ bệnh, có khi đòi hỏi phẫu thuật lấy hết cả 2 buồng trứng và cả tử cung, dù tuổi đời bệnh nhân còn rất trẻ.

U nang buồng trứng là một bệnh hay gặp của phụ nữ. Có thể đây chỉ là khối u cơ năng do hoạt động nội tiết của cơ thể hoặc cũng có thể là khối ung thư cần được phát hiện sớm và xử trí kịp thời nhằm bảo toàn mạng sống và duy trì chức năng cho người phụ nữ.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ TS. Trần Văn Việt

Tìm hiểu bệnh Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Thống kê cho thấy, ở Việt Nam, tử vong do ung thư buồng trứng đứng hàng thứ ba sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ có kết quả tốt nhưng hiện nay hầu hết các bệnh nhân nhập viện điều trị đều đã ở giai đoạn muộn do các biểu hiện của ung thư buồng trứng thường diễn biến âm thầm, không rõ ràng.

Buồng trứng là một trong các cơ quan sinh dục của người phụ nữ có chức năng phóng noãn và tiết ra các chất nội tiết (estrogen, progesteron) từ lúc dậy thì cho đến tuổi mãn kinh. Phụ nữ có 2 buồng trứng, mỗi cái ở mỗi bên của tử cung. Ung thư buồng trứng là khi tế bào buồng trứng phát triển một cách bất thường, tạo ra những khối u ác tính ở một hoặc 2 bên buồng trứng.

Nguyên nhân gây ung thư thư buồng trứng đến nay vẫn chưa được xác định rõ nhưng có thể xác định những yếu tố nguy cơ như: Sự thay đổi về gen di truyền, tiền sử gia đình có người bị ung thư buồng trứng (những người đã có mẹ, chị em gái hoặc con gái từng mắc thì có đến 5% nguy cơ mắc bệnh này), độ tuổi ( thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh và tăng lên khi tuổi càng cao), phụ nữ mất khả năng sinh sản, u nang buồng trứng ( nang hình thành sau khi mãn kinh có nhiều khả năng trở thành ung thư),…

07

Diễn biến âm thầm

Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm thường diễn biến âm thầm, không có dấu hiệu đặc biệt. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ có ý thức quan tâm đến sức khỏe của mình sẽ phát hiện ra những dấu hiệu có thể đã mắc ung thư buồng trứng như: Rối loạn kinh nguyệt, đau hoặc nặng ở vùng bụng dưới, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiểu (tiểu khó, són tiểu), mệt mỏi kéo dài, giảm cân, chán ăn, rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, khó tiêu, đại tiện táo hoặc tiêu chảy),…  Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu trên sẽ kéo dài và nặng hơn, thậm chí sờ được khối u ở vùng bụng dưới, di căn tới những bộ phận khác như tử cung, vòi trứng, màng bụng, hạch bạch huyết trong ổ bụng, các cơ quan ngoài ổ bụng,…

Điều trị như thế nào?

Khi có biểu hiện nghi ngờ các bác sĩ sẽ khám âm đạo, tử cung,… siêu âm để phát hiện khối u, làm các xét nghiệm khác như chụp Xquang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ,… để chẩn đoán ung thư. Điều trị ung thư buồng trứng bao gồm phẫu thuật kết hợp điều trị hóa chất. Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh sớm hay muộn bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Ở giai đoạn sớm khi tế bào ung thư khu trú ở buồng trứng chưa lan ra lớp vỏ của buồng trứng thì có thể sẽ phẫu thuật cắt tử cung và hai phần phụ. Ở giai đoạn muộn thì việc điều trị sẽ rất khó khăn vì tế bào ung thư đã di căn sang rất nhiều các cơ quan khác, tỷ lệ phẫu thuật thành công và thời gian sống sau phẫu thuật là rất ít. Do đó, khi thấy có những biểu hiện bất thường của cơ thể nghi ngờ ung thư thư buồng trứng như đã nêu trên cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị sớm.

Bác sĩ Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

5 bệnh chị em văn phòng thường gặp

Những phụ nữ công sở quá bận rộn, tham công tiếc việc hay quá say mê công việc, thường xuyên làm thêm giờ rất dễ mắc năm loại bệnh dưới đây.

1. Rối loạn kinh nguyệt

Làm việc thêm giờ, thời gian ngủ quá ít và không có lúc để nghỉ ngơi dễ dẫn đến rối loạn nội tiết, làm choc ho chu kỳ của bạn kéo dài hơn. Ban đầu chỉ vài ngày, sau tăng dần lên, kèm theo đó là chứng đau bụng kinh.

03

2. Các bệnh về tuyến vú

Nội tiết, khí huyết trong cơ thể đảo lộn làm cho quá trình lưu thông ở các tuyến vú bị chặn, dần dần xuất hiện chứng đau nhức ngực rồi kéo theo các bệnh khác.

3. Trí nhớ kém

Ăn uống thất thường, rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng kém, bộ nhớ sẽ giảm đi nhiều.

4. Các bệnh về mắt

Nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, vừa giảm thị lực vừa luôn cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, dễ làm mắt xuất hiện quầng thâm, mụn thịt, đỏ mắt… Tốt nhất, sau một giờ làm việc, hãy nhắm mắt thư giãn năm phút.

5. Chán ăn

Ăn uống không đúng bữa, dinh dưỡng mất cân bằng và sự thèm ăn cũng bị ảnh hưởng, thậm chí là chứng chán ăn.

Theo afamily