Tag Archives: phụ nữ

Điều chưa biết về độ cực khoái ở phụ nữ

Nàng cần bao nhiêu thời gian để lên đỉnh? Có phải lần nào yêu cũng thăng hoa? Nàng có thể đạt cực khoái liên tục không. Dưới đây là 15 sự thật về cực khoái ở phụ nữ mà không phải ai cũng biết:

dieu-chua-biet-ve-do-cuc-khoai-o-phu-nu-1

1. Phụ nữ có thể đạt khoái cảm nhiều lần, không giống như nam giới, họ không phải nghỉ ngơi trước khi bước vào “hiệp hai”.

2. Cách biểu cảm của phụ nữ mỗi khi lên đỉnh không phải luôn giống nhau mà theo nhiều mức độ: nhẹ nhàng, ngọt ngào cho đến hoang dã.

3. Phụ nữ không nhất thiết phải giao hợp mới đạt khoái cảm. Họ dễ dàng đạt khoái cảm khi được kích thích vào “núi đôi” và thậm chí chỉ là bằng những nụ hôn nồng nàn và mãnh liệt.

4. Trung bình mỗi lần khoái cảm kéo dài khoảng 20 giây. Nó có thể ngắn hoặc kéo dài hơn phụ thuộc màn dạo đầu.

5. Bạn có biết rằng bạn cũng có thể đạt cực khoái khi đang tập luyện. Bởi tập luyện cũng kích thích “cô bé” và khiến bạn lên đỉnh.

6. Bạn đã nghe đến khoái cảm trong tư tưởng? Tơ tưởng đến những chuyện ấy sẽ khiến cuộc yêu nóng bỏng và viên mãn hơn sau khi kết thúc một ngày dài.

7. Những tiếng rên hay la hét sẽ giúp phụ nữ đạt khoái cảm nhiều hơn. Vì vậy, đừng ngại thốt ra những âm thanh ồn ào khi gần gũi bên người ấy.

8. Khoái cảm có thể chữa trị những cơn đau hiệu quả. Nếu bạn bị đau đầu hoặc bị đau bụng vì sắp đến kỳ đèn đỏ, không nhất thiết phải dùng đến thuốc mà nửa kia chính là liều thuốc hữu hiệu dành cho bạn.

9. Những phụ nữ có mối quan hệ lâu bền thường sẽ đạt cực khoái thường xuyên hơn người chỉ tin vào tình một đêm.

10. Khoảng 10-15% phụ nữ không thể đạt khoái cảm bằng bất cứ giá nào.

11. Yêu “cửa sau” chính là tư thế yêu để đạt khoái cảm tốt nhất.

12. Khoái cảm tỷ lệ thuận với độ tuổi. Khi bạn lớn tuổi hơn đồng nghĩa với việc bạn sẽ đạt khoái cảm mạnh mẽ và viên mãn hơn trong chuyện ấy.

13. Cả hai cùng đạt khoái cảm một lúc là điều hoàn toàn có thể. Khi bạn và nửa kia yêu nhau say đắm thường sẽ hứa hẹn cuộc yêu thăng hoa. Do đó, khả năng cả hai cùng đạt khoái cảm là rất cao.

14. Trung bình một phụ nữ sẽ mất 8 phút để lên đỉnh. Nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nhiều phụ nữ chỉ cần 1-2 phút cũng có thể đạt khoái cảm.

Theo VNExpress/SKDS

Xem tướng phụ nữ đoán giới tính thai nhi

Trong đời sống hiện đại, việc xác định giới tính thai nhi qua siêu âm rất dễ dàng. Tuy nhiên, theo nhân tướng học, muốn biết sinh trai hay gái mọi người có thể dựa vào khí sắc, tướng mặt, dáng đi để nhận biết.
1. Nữ mặt quá nhọn, cộng thêm tai nhỏ không những thai đầu là con gái mà phần lớn toàn là con gái.

2. Nữ mặt nhọn không cân đối, tức địa các (cằm) bạnh, thiên đình (giữa trán) nhỏ thì thai đầu là nữ.

3. Nữ tóc thô vàng, thai đầu là nữ.

4. Trán hói không nên kết hôn muộn, sau 25 tuổi mới kết hôn cơ hội sinh con trai thấp.

xem-tuong-phu-nu-doan-gioi-tinh-thai-nhi-1

5. Xương lưỡng quyền (gò má) hai bên nên cân đối. Nữ có lưỡng quyền to rộng, má hóp, thai đầu là con gái.

6. Chủ nhân của lông mày thưa hoặc lông mày cứng, không mềm thì khả năng sinh con trai ít. Nữ không lông mày khó có con trai.

7. Nếu vị trí dưới mắt đầy đặn, bóng thì thai đầu là con trai.

8. Nữ mắt sâu khó có con trai, nếu sinh nam tỷ lệ bị thiểu năng về trí tuệ khá lớn.

9. Tai không cân xứng, tai trái to, thai đầu con gái.

10. Sống mũi không có (mũi tẹt), sơn căn (khoảng cách giữa hai đầu mắt) không nổi sinh con gái. Đứa trẻ được sinh ra là con trai thhì mệnh tốt, là con gái thì mệnh xấu.

11. Niên Thượng và Thọ Thương (nằm giữa hai cánh mũi, dưới Sơn Căn) có vân móc câu, thai đầu sinh con gái.

12. Nhân Trung (phần ngấn rãnh môi trên thẳng từ mũi xuống) sâu dài, trên nhỏ dưới rộng, sắc nét thì sinh con trai. Nhân trung đầy phẳng hoặc sâu nhưng không nét, phần lớn sinh con gái.

Nhân Trung tốt nhất là sâu thẳng, trên hẹp dưới rộng; có nốt ruồi hoặc có vết ngang khó sinh con trai; có hai nốt ruồi thì dễ sinh đôi; có đường vân dọc thường là người nuôi con người khác; ngắn thì con cái ít; dẹt bên trái thì có con đầu là trai; dẹt bên phải, có con đầu là gái.

13. Môi nhiều đường vân, sinh nhiều con trai. Môi không đường vân, phần nhiều không có con trai. Miệng như miệng khỉ, khó sinh con trai. Môi trên của nữ to, thai đầu con gái. Môi trề, có sắc trắng hoặc xanh, da nhăn sinh con gái.

14. Vú đầy đặn dễ sinh con trai; vú nhỏ thường sinh con gái; vú dẹt, cong, không cân, thai đầu thường là con gái. xem-tuong-phu-nu-doan-gioi-tinh-thai-nhi-2

15. Nữ rốn sâu 0,3 cm sinh con trai. Nếu rốn to dễ sinh con trai; rốn bé sinh con gái. Nữ mang thai 3-4 tháng thì rốn lồi dễ sinh con gái, 7-8 tháng rốn mới lồi thì khả năng sinh con trai lớn.

16. Da phù, thịt nhiều xương ít, tay mềm, thai đầu con gái.

17. Da mỏng, xương bé, yểu điệu, thai đầu là gái.

18. Khí sắc dưới mắt nếu có màu vàng sáng bóng hoặc hồng thì sinh con trai, màu xanh sinh con gái.

19. Nữ tay trái có màu hồng sinh trai, tay phải màu xanh sinh con gái.

20. Có thai khi đi mà bước chân trái trước sinh trai, bước chân phải lên trước là sinh gái.

21. Khi nghe người khác gọi, đầu quay về bên trái sinh trai, quay về phía phải sinh gái.

Sưu tầm

Theo SKDS

Thuốc Nam trị kinh nguyệt không đều ở phụ nữ

Kinh nguyệt không đều là một chứng bệnh xảy ra ở nữ giới khi đến tuổi dậy thì đã có hành kinh nay bị rối loạn không theo chu kỳ bình thường hoặc rối loạn về lượng và chất.

Rối loạn về chu kỳ: Ngắn quá hoặc dài quá theo chu kỳ chung (tháng/lần) hoặc theo chu kỳ đặc thù riêng của cá thể phụ nữ; hoặc thất thường khi có, khi mất. Kinh nguyệt đến trước kỳ (kinh sớm, kinh trồi) thường do thực, do nhiệt; kinh nguyệt đến sau kỳ (kinh muộn, kinh sụt) thường do hư, do hàn.

thuoc-nam-tri-kinh-nguyet-khong-deu-o-tre-nho-1

Rối loạn về lượng và chất:

lượng kinh khi nhiều, khi ít hoặc ngày hành kinh quá dài, quá ngắn… không theo hằng định của mỗi cơ thể. Nguyên nhân không ngoài nội thương thất tình, ngoại cảm lục dâm, ăn uống ẩm thực… Một số nguyên nhân khác như chế độ vệ sinh kinh nguyệt, tập tục sinh hoạt, phòng dục… cũng gây bệnh lý nghiêm trọng.

Có thể dùng các bài thuốc Nam đơn giản điều trị cũng cho kết quả tốt:

Dây dưa hấu 120g, đường đỏ 150g. Dây dưa hấu phơi hay sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với đường đỏ, chia làm 3 phần, mỗi ngày uống 1 phần, chia làm 2 lần với nước sôi để nguội, trước kỳ kinh 5 – 7 ngày.

Cỏ roi ngựa 30g, lá ngải cứu 20g, mía 30g. Cỏ roi ngựa, lá ngải cứu, rửa sạch, cắt nhỏ, mía rửa sạch, tiện thành khúc, chẻ làm 4, tất cả cho vào nồi thêm 300ml nước, đun nhỏ lửa cho sôi kỹ, khi còn 150ml chắt lấy nước bỏ bã, chia 2 lần uống trong ngày, cần uống 5 – 7 ngày, uống trước kỳ kinh 10 ngày.

Cây ích mẫu 100g, đậu đen 20g, đường đỏ 50g. Cây ích mẫu chọn phần non, rửa sạch, thái nhỏ, cùng đậu đen và 250ml nước ninh thật nhừ, trước khi ăn cho đường đỏ vào quấy cho tan đều, ngày ăn 1 lần cả nước lẫn cái, cần ăn liền 5 ngày. thuoc-nam-tri-kinh-nguyet-khong-deu-o-tre-nho-2

Hạt bông 250g, đường đỏ vừa đủ. Hạt bông rang vàng, tán thành bột mịn, chia uống trong 14 ngày, mỗi ngày 1 lần trước lúc đi ngủ, dùng 1 thìa cà phê đường đỏ pha với 100ml nước sôi để làm nước uống với bột hạt bông.

Hoa mào gà đỏ 10g, hoa mào gà trắng 10g, rượu trắng 2 thìa canh. Hoa mào gà rửa sạch, cắt nhỏ cho vào nồi, thêm 200ml nước, đun nhỏ lửa cho sôi kỹ, chắt lấy 100ml nước đặc, cho 2 thìa rượu trắng vào cốc, thêm 4 thìa nước sôi, cho vào thuốc, chia 2 lần uống trong ngày, uống trước kỳ kinh 2 ngày.

Củ ấu 120g, đậu đỏ nhỏ hạt 30g, lá sen 10g. Củ ấu lấy phần thịt củ sao nóng, cùng đậu đỏ, lá sen cho vào nồi, thêm 300ml nước, đun sôi kỹ, chắt lấy 150ml nước thuốc chia 2 lần uống trong ngày, cần uống liền 3 – 5 ngày, trước kỳ kinh 3 ngày.

Lương y Quốc Trung

Theo SKDS

Món ăn thuốc trị khí hư ở phụ nữ

Khi thấy khí hư có mùi, chuyển màu và ra nhiều bất thường thì lúc đó là khí hư bệnh lý. Ngoài việc đến bác sĩ chuyên khoa khám, tư vấn và dùng thuốc điều trị thì Đông y cũng có những liệu pháp ăn uống để giúp khí hư… không hư.

Canh thịt lợn nấu hoa mào gà:

thịt nạc thăn 100g, hoa mào gà 30g, kim anh tử 15g, bạch quả 10 quả, nước, gia vị đủ dùng. Thịt lợn rửa sạch, thái miếng. Các vị hoa mào gà, kim anh tử, bạch quả rửa sạch, bọc vào túi vải buộc kín đem đun với nước trong vòng 30 phút, bắc ra bỏ bã lấy nước. Sau đó, thả thịt lợn vào nước đun tới khi thịt chín, nêm gia vị là được. Ăn cả cái lẫn nước, ăn liên tục trong 5 ngày, mỗi ngày 1 lần. Món ăn có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, chữa được các bệnh ra nhiều khí hư.

mon-an-thuoc-tri-khi-hu-o-phu-nu-1

Gà đen hầm hoàng kỳ:

gà đen 1 con, hoàng kỳ 60g, gừng tươi, gia vị, nước đủ dùng. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, rửa sạch. Hoàng kỳ rửa sạch, thái miếng nhỏ nhồi vào bụng gà rồi khâu chặt lại. Đem gà hấp cách thủy, khi hấp cho gừng lên trên gà. Ăn 3 thang, cách nhật. Món ăn này phù hợp với người suy nhược thần kinh, băng huyết, tiêu chảy, người mệt mỏi do khí hư gây nên. mon-an-thuoc-tri-khi-hu-o-phu-nu-2

Cháo gạo nếp, hạt sen, hạt súng:
gạo nếp 100g, hạt sen, hạt súng đều 50g, lá sen tươi 50g, đường trắng, nước đủ dùng. Hạt sen bỏ màng và tâm, hạt súng, lá sen rửa sạch, gạo vo sạch. Lấy lá sen, gói hạt súng vào buộc chặt, đun với nước trong vòng 30 phút, bỏ bã lấy nước. Cho hạt sen và gạo nếp vào nước thuốc đó đun nhừ thành cháo, nêm đường vào là được. Mỗi ngày ăn 1 lần vào buổi sáng sớm, ăn liên tục trong 4 ngày. Món cháo có tác dụng ngăn ra khí hư, chữa rong huyết, đại tiện ra máu.

BS.Nguyễn Nghiêm Huệ

Theo SKDS

Có thể bị ung thư vú vì ít cho con bú

Một nghiên cứu của Hong Kong cho hay bệnh ung thư vú, căn bệnh gây chết người nguy hiểm nhất ở khu hành chính đặc biệt này, dường như dễ dàng tấn công những phụ nữ ít tập luyện hoặc những người không cho con bú trước đó.

Hiệp hội Ung thư vú Hong Kong vừa đưa ra báo cáo đầu tiên của thành phố về bệnh ung thư vú. Theo đó, 74% số người mắc bệnh ung thư vú là những phụ nữ chỉ vận động thể dục thể thao dưới 3 tiếng một tuần, và 64% là những người không cho con bú. Số liệu trên được lấy từ 1.006 ca bệnh ở Hong Kong.

co-the-bi-ung-thu-vu-vi-it-cho-con-bu

Độ tuổi trung bình của các bệnh nhân ung thư vú ở Hong Kong là 47,6, thấp hơn nhiều so với độ tuổi trung bình của các bệnh nhân cùng loại ở Mỹ (61 tuổi), Australia (62), và Singapore (50).

Tiến sỹ Polly Cheung Suk-yee, Chủ tịch hiệp hội trên, cho biết bệnh ung thư vú đã tăng rất mạnh ở Hong Kong trong thời gian qua, với tốc độ tăng trung bình hằng năm là 6,5%, gần gấp đôi so với ở Trung Quốc đại lục.

Trong khi đó, theo bộ phận đăng ký ung thư thuộc cơ quan y tế Hong Kong, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất trong phụ nữ Hong Kong, tiếp đến là ung thư đường ruột và phổi. Ngoài ra, mỗi ngày có thêm 7 phụ nữ bị xác định ung thư vú ở Hong Kong, và cứ 20 phụ nữ thì có một người có thể bị nhiễm căn bệnh chết người này trong vòng đời của họ.

Theo báo cáo này, một số nhân tố vốn được coi là nguyên nhân dẫn tới ung thư thì lại ít xảy ra đối với các bệnh nhân ung thư vú ở Hong Kong. Theo con số thống kê, chỉ 4% số ca bệnh là người nghiện thuốc lá và 15% là những người phải ăn kiêng chất giàu đạm.

Để ngăn ngừa căn bệnh này, Tiến sỹ Cheung cho rằng phụ nữ trưởng thành phải tập luyện ít nhất năm lần và mỗi lần trung bình 30 phút trong một tuần, ăn rau hoặc hoa quả ít nhất 5 lần trong mỗi ngày, đồng thời duy trì trọng lượng ở mức hợp lý. Ngoài ra, phụ nữ từ độ tuổi 20 trở lên phải kiểm tra ngực của mình hằng tháng, trong khi những người ở độ tuổi ngoài 40 phải kiểm tra X quang và khám bệnh ít nhất hai năm một lần.

Theo TTXVN/Vietnam+, Vietnamnet

Những lưu ý trước khi đi khám phụ khoa

Khám phụ khoa không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn. Bạn gái sau 18 tuổi, cơ quan sinh dục phát triển đầy đủ, đều có thể mắc bệnh phụ khoa. Nếu có sinh hoạt tình dục, tỷ lệ mắc bệnh sẽ càng cao.

Vì vậy, khám phụ khoa định kỳ là điều cần thiết với XX bước vào tuổi trưởng thành. Ngoài ra, phụ nữ sau 35 tuổi, thể chất suy giảm nhanh cũng rất dễ mắc bệnh phụ khoa, nên khám định kỳ nửa năm một lần

1. Không nên quan hệ trước khi khám một ngày

Nếu có quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su, tinh dịch sẽ xâm nhập vào cơ thể, ảnh hưởng đến việc lấy mẫu sinh thiết và kết quả kiểm tra. Nếu sử dụng bao cao su, chất nhờn trên bề mặt bao sẽ phá hủy độ pH trong âm đạo, khiến cho kết quả kiểm tra cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.

nhung-luu-y-truoc-khi-di-kham-phu-khoa

2. Không sử dụng thuốc đặt âm đạo trước khi khám

Nếu sử dụng thuốc đặt âm đạo, khi kiểm tra âm đạo và xương chậu, bác sĩ có thể sẽ không nhìn rõ bên trong, che phủ các tế bào bất thường. Hơn nữa, việc đặt thuốc cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc lấy mẫu sinh thiết.

3. Hai ngày trước khi khám không thụt rửa âm đạo

Cũng như trên, việc thụt rửa âm đạo quá mức sẽ ảnh hưởng đến việc lấy mẫu sinh thiết, dễ làm sai lệch kết quả kiểm tra.

4. Trang phục thuận tiện cho việc khám

Khi đi khám, bạn nên mặc váy rời áo là tốt nhất; không nên mặc áo liền váy dài, jumpsuit, tất liền quần. Những chi tiết nhỏ này sẽ khiến bạn cảm thấy thuận tiện hơn khi trong quá trình khám phụ khoa.

Theo VnExpress

Bí quyết giúp giảm thiểu ung thư cổ tử cung

Phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ, tập thể dục.

Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học của Trường Imperial Luân Đôn, Anh tiến hành chỉ ra rằng, phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ để có được chỉ số trọng lượng cơ thể bình thường, tập thể dục ít nhất 40 phút mỗi ngày và uống cà phê. Theo các nhà nghiên cứu, con số ung thư cổ tử cung có thể giảm đến một nửa nếu các chị em theo được những quy tắc sống đơn giản trên.

bi-quyet-giup-giam-thieu-ung-thu-co-tu-cung

Với hơn 6.500 trường hợp chẩn đoán mỗi năm, ung thư cổ tử cung, đôi khi còn gọi là ung thư màng trong tử cung, là một trong những loại ung thư phụ khoa thường gặp nhất. Ung thư cổ tử cung thường liên quan đến việc xuất hiện của một lượng estrogen quá lớn trong cơ thể, tạo ra sự mất cân bằng màng tử cung, màng nhầy bao phủ phía trong tử cung.

Theo TS. Teresa Norat, phụ trách nghiên cứu này: “Nếu bạn tập thể dục hàng ngày và không bị quá cân, như thế bạn giảm được đáng kể nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, bạn sẽ cải thiện được nhiều tình trạng sức khỏe nói chung, điều mà không thể bỏ qua. Tuy vậy, ở Anh, chỉ có 56% phụ nữ làm theo những lời khuyên này và chỉ có 39% phụ nữ không bị thừa cân”.

Đây không phải lần đầu một nghiên cứu tìm ra tác dụng chống ung thư của cà phê. Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ đã cho biết rằng, cứ uống 3 tách cà phê mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ ung thư da. Mới đây hơn, một nghiên cứu của Mỹ đã chỉ ra rằng, cà phê không khử có một tác dụng bảo vệ họng của chúng ta. Còn theo các nhà khoa học Thụy Điển, trong trường hợp ung thư cổ tử cung, các bệnh nhân nữ có thể giảm nguy cơ tái nhiễm bằng cách uống cà phê. Như vậy, cà phê có nhiều tác dụng trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung.

Theo Sức khỏe đời sống

Tìm hiểu về viêm lộ tuyến cổ tử cung

Lộ tuyến là một tổn thương lành tính ở cổ tử cung, hay gặp ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, do các tế bào tuyến trong ống cổ tử cung phát triển lan ra phía ngoài.

Viêm lộ tuyến cổ tử cung tuy không nguy hiểm đến tính mạng của người phụ nữ, nó lại gây ra những khó chịu như: Ngứa ngáy, ẩm ướt khó chịu, mùi hôi gây mất tự tin, ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng,.…Tuy nhiên, viêm lộ tuyến cổ tử cung vẫn có thể gây nhiều nguy hại cho chị em phụ nữ nếu không được điều trị kịp thời.

Bệnh không khó chữa nhưng các phương pháp truyền thống thường không chữa dứt hẳn bệnh, hoặc bệnh dễ tái phát và dễ tái nhiễm nhiều lần, thường làm cho người bệnh chán nản. Đặc biệt, rất nhiều chị em phụ nữ mắc bệnh này, mà không biết là mình đang mang bệnh.

Lộ tuyến cổ tử cung
viem-lo-tuyen-tu-cung
Tuyến cổ tử cung là những tuyến nằm dưới lớp mạc của tử cung, có nhiệm vụ tiết những dịch nhờn bôi trơn. Lộ tuyến cổ tử cung (còn gọi là lạc chỗ hay lộn niêm mạc) thực chất là phần biểu mô tiết ra niêm dịch bên trong cổ tử cung bị lộn ra ngoài, cũng có khi là sự phát triển lớp biểu mô mỏng chưa hoàn thiện và không bình thường ở cổ tử cung

Nguyên nhân lộ tuyến: Cho đến nay, người ta vẫn chữa rõ nguyên nhân nào gây hiện tượng lộ tuyến, nhưng lộ tuyến thường gặp ở những phụ nữ có:

– Thay đổi môi trường kiềm-axit của âm đạo
– Cường estrogen làm tăng sinh các tế bào
– Hoạt dộng tình dục mạnh bạo
– Dùng thuốc ngừa thai có nhiều estrogen
– Sinh đẻ nhiều
– Tổn thương đến niêm mạc tử cung, như do nạo hút thai, sảy thai,….

Lộ tuyến cổ tử cung thường gặp hơn ở những phụ nữ đã sinh nở, đang có sinh hoạt tình dục, trong thời kỳ buồng trứng còn hoạt động mạnh, cũng rất hay gặp ở những người hay nạo hút hoặc sảy thai….

Viêm lộ tuyến cổ tử cung

Viêm lộ tuyến cổ tử cung là tình trạng các lộ tuyến bị viêm nhiễm. Vì bị bộc lộ ra ngoài niêm mạc nên các tuyến dể bị viêm nhiễm do vi trùng, do nấm, do ký sinh trùng hay các tạp trùng.

Viêm lộ tuyến tạo nên một tình trạng giống như viêm cổ tử cung (cervicitis) hay viêm âm đạo với các triệu chứng như nhiều chất tiết từ âm đạo (còn gọi là huyết trắng), có mùi hôi.

Tình trạng lộ tuyến cổ tử cung rất dễ dẫn đến viêm cổ tử cung.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, nếu bị viêm nhiễm kéo dài, chị em cần điều trị tích cực, dứt điểm cho bệnh khỏi hoàn toàn, ngăn ngừa vô sinh hoặc mắc căn bệnh gây tử vong thuộc hàng đầu ở nữ giới.

Để điều trị viêm lộ tuyến cổ tử cung thì có thể sử dụng một số biện pháp như đặt thuốc ở âm đạo (sát cổ tử cung), uống thuốc hoặc phải dùng các biện pháp diệt tuyến như đốt điện, áp lạnh… bởi nếu lộ tuyến không được điều trị khỏi thì viêm nhiễm rất dễ tái phá. Tuy là tổn thương lành tính nhưng sự nguy hại của lộ tuyến là có thể đẩy nhanh sự phát triển của nhiễm khuẩn ở cổ tử cung vì cổ tử cung là vị trí ưa thích để một số vi khuẩn tấn công (trong khi âm đạo không bị nhiễm), ví dụ nhiễm vi khuẩn chlamydia, vi khuẩn lậu, vi rút gây mụn giộp. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục đều là nguyên nhân chính gây viêm cổ tử cung, sau đó nhiễm khuẩn đi lên gây viêm nội mạc tử cung và viêm tiểu khung.

Với những nguy cơ như thế nên lộ tuyến có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Ở một số trường hợp, lộ tuyến cổ tử cung có thể gây vô sinh. Ngoài ra, bị lộ tuyến kèm viêm cổ tử cung, nếu kéo dài, sẽ làm cho cổ tử cung to và dài ra, nên nhiều khi tưởng lầm là sa dạ con. Vì vậy việc điều trị sớm lộ tuyến rất là cần thiết.

Nguồn vnmedia

Mối liên quan giữa tuổi tác và khả năng sinh sản của phụ nữ

Khả năng sinh sản của phụ nữ giảm dần theo tuổi. Ở phụ nữ trên 35 tuổi khả năng có thai giảm nhiều, các tai biến khi mang thai và sinh nở cao hơn. Trẻ sinh ra từ bà mẹ lớn tuổi, trên 35 tuổi, có tỉ lệ dị tật, tỉ lệ bất thường về phát triển tâm sinh lý cao hơn trẻ bình thường. Người ta thấy rằng khả năng có thai giảm và tỉ lệ bất thường ở trẻ sinh ra tăng ở phụ nữ lớn tuổi chủ yếu do sự suy giảm chức năng của buồng trứng theo thời gian. Đồng thời các nhà khoa học cho rằng về mặt sinh lý, phụ nữ có thai và sinh đẻ tốt nhất vào tuổi từ 19 – 29 tuổi.

Ảnh hưởng của tuổi người phụ nữ  lên kết quả kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)

Kết quả điều trị kỹ thuật IUI tại Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Phụ Sản năm 2001 cho thấy tỉ lệ có thai cao nhất ở nhóm nhỏ hơn 25 tuổi và chỉ thay đổi ít từ trên 25 đến 30 tuổi. Trong khi đó, tỉ lệ có thai giảm rõ rệt khi phụ nữ bắt đầu trên 35 tuổi. Khả năng thành công tiếp tục giảm dần sau đó và xuống rất thấp khi người phụ nữ trên 40 tuổi.
phu-nu-lon-tuoi
Ngoài ra, phụ nữ trẻ tuổi thường sử dụng ít thuốc để kích thích buồng trứng hơn, chi phí điều trị thấp hơn. Một số phụ nữ trẻ tuổi, có thể có thai khi bơm tinh trùng với chu kỳ tự nhiên, không cần kích thích buồng trứng.

Với các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm, tỉ lệ có thai đạt xấp xỉ 50% đối với bệnh nhân từ 30 tuổi trở xuống. Tỉ lệ này giảm chỉ còn khoảng 20% nếu bệnh nhân vượt quá 35 tuổi. Không có bệnh nhân nào trên 45 tuổi có thai.

Tỉ lệ có thai cũng giảm rõ rệt theo tuổi vợ đối với các trường hợp ICSI. Với những trường hợp từ 30 tuổi trở xuống khả năng có thai sau mỗi lần điều trị là 50%. Khả năng có thai giảm xuống dưới 20% nếu bệnh nhân trên 40 tuổi.

Các trường hợp người vợ lớn tuổi còn gặp một số bất lợi khác khi điều trị thụ tinh trong ống nghiệm và ICSI do:

– Phụ nữ lớn tuổi có tỉ lệ sảy thai và sinh non cao hơn dẫn đến tỉ lệ có con sống, khỏe mạnh về sau còn giảm hơn nhiều.

– Phụ nữ lớn tuổi có tỉ lệ đáp ứng kém với thuốc, phải ngưng điều trị cao hơn. Tỉ lệ có thai trên chỉ tính trên các trường hợp có chuyển phôi, nếu tính tổng cộng trên các trường hợp ban đầu, tỉ lệ này còn thấp hơn.

– Phụ nữ lớn tuổi cần tiêm số lượng thuốc nhiều hơn để kích thích buồng trứng, dẫn đến chi phí cho một lần điều trị có thể tăng lên gấp đôi.

– Phụ nữ lớn tuổi khi đi điều trị vô sinh thường gặp nhiều bất lợi khi chi phí cao, tỉ lệ thành công thấp. Khi có thai, tỉ lệ tai biến, biến chứng khi mang thai và khi sinh tăng, đồng thời tỉ lệ trẻ sinh ra bất thường cũng tăng. Các vấn đề trên thường do phụ nữ càng lớn tuổi, buồng trứng càng bị lão hóa.

Để khắc phục các vấn đề trên có thể có các biện pháp sau:

– Phụ nữ sau khi lặp gia đình nên có con trước 35 tuổi, tốt nhất trước 30 tuổi, đừng để quá lớn tuổi mới tính đến việc có con.

– Phụ nữ lớn tuổi (xấp xỉ 35 tuổi), khi chậm có con, nên đi điều trị sớm. Nếu đã biết được nguyên nhân, nên chọn những phương pháp có thể đạt tỉ lệ thành công cao trong thời gian ngắn để tranh thủ quỹ thời gian.

– Xin trứng của người trẻ tuổi và làm thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng chồng. Người vợ vẫn có thể mang thai và sinh đẻ bình thường, chi phí điều trị thấp hơn, tỉ lệ thành công cao hơn và tỉ lệ trẻ sinh ra bất thường cũng giảm.

(Theo BV Tu Du)

Thực phẩm có hại cho làn da của chị em phụ nữ

Có thể bạn không biết rằng một số thực phẩm thực sự không tốt cho làn da của bạn, khiến cho bạn già đi trước tuổi. Vậy, để cải thiện sức khỏe nói chung và bảo vệ làn da và không bị già nhanh bạn cần phải suy nghĩ trước khi sử dụng các loại thực phẩm sau đây.

Muối

Theo nghiên cứu các chuyên gia dinh dưỡng, nếu cơ thể bạn hấp thu nhiều natri mỗi ngày thì bạn có thể phải đối mặt với nguy cơ huyết áp cao, thậm chí có thể làm da yếu bởi khi đó các collagen trong da bị tác động mạnh.

Bên cạnh đó, nó có thể gây ra nếp nhăn, đặc biệt là với những vùng da mỏng như xung quanh mắt. Ngoài ra, ăn nhiều muối cũng có thể gây ra bọng mắt, làm cho mắt sưng phồng. Vì thế, để bảo vệ làn da bạn hãy ăn nhiều rau, ăn ít muối.

Đường
dinh-duong
Những đồ ăn ngọt như bánh, kẹo … là những đồ ăn ngọt được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, ăn đồ ngọt quá thường xuyên có thể khiến bạn già nhanh hơn.

Quá trình lão hóa của các tế bào là do viêm. Do đó, nếu muốn có vẻ trẻ trung, bạn phải tránh những yếu tố có thể gây ra viêm, bạn nên hạn chế những món ăn có chứa nhiều đường.

Cà phê

Cà phê không chỉ làm xỉn bộ răng của bạn mà chúng còn khử nước của cơ thể, khiến da bạn khô và nhanh già. Thêm vào đó, những nếp nhăn xung quanh mắt càng ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng cà phê có thể là một điều cần thiết của một cuộc sống bận rộn, vì vậy nếu bạn không tỉnh táo, hãy nghĩ đến chuyện uống trà xanh. Đây là một chất chống oxy hóa tuyệt vời và giữ cho da ít bị mất nước, nhờ hàm lượng caffeine thấp hơn so với cà phê. Do vậy, bạn không nên uống quá nhiều cà phê mỗi ngày.

Thịt đỏ

Theo nghiên  cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy rằng, ăn thịt đỏ nhiều hơn một tuần có liên quan đến sự xuất hiện của các nếp nhăn, cũng như nguy cơ về sức khỏe.

Theo nghiên cứu, mức độ cao của carnitine, một hợp chất dồi dào có trong chất đạm động vật, có thể làm cứng thành mạch máu, làm cho da nhăn sớm, mất đi sự trẻ trung. Thịt đỏ có thể là một nguồn cung cấp vitamin B12, mà là rất quan trọng cho tế bào hồng cầu và chức năng của não. Vì vậy, nếu bạn là một người thích thịt đỏ thì hãy ăn một cách hạn chế.

Chất cồn

Trừ rượu vang đỏ, chất cồn có thể gây hư hại cho da của bạn. Chất cồn làm khử nước trong cơ thể, dẫn đến hậu quả là để lại làn da khô và không mịn màng. Do quá trình chuyển hóa rượu mà gan cũng giải phóng các gốc tự do lão hóa ra da, càng làm cho da xấu hơn và nhanh lão hóa hơn.

Chất béo bão hòa

Chất béo bão hóa có nhiều trong thịt lẫn mỡ và các sản phẩm sữa còn nguyên chất béo, chất béo no (hay chất béo bão hòa) có thể khiến bạn trông già hơn. Các chuyên gia cho biết ăn quá nhiều chất béo no có thể gây ra chứng viêm lão hóa da, đồng thời tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ.

Nếu muốn giảm được nguy cơ trên, bạn hãy ăn thực phẩm như dầu ôliu, dầu lạc, dầu ngũ cốc… Trong những loại dầu này có chứa nhiều chất béo no đơn chất, là chất béo có lợi cho cơ thể.

Để làn da tươi trẻ, bạn nên hạn chế tối đa việc dùng chất béo nguồn động vật như mỡ heo, bò, gà…Hạn chế dùng các thực phẩm chế biến sẵn có sử dụng các loại bơ thực vật (margarin). Thay vào đó, dùng các dầu có lợi như dầu ô liu, dầu mè, dầu đậu nành…; Hoàn toàn không dùng thực phẩm chứa chất béo dạng trans trên mức cho phép.

Ngoài ra, trong bữa ăn hàng ngày nếu bạn ăn quá nhiều thực phẩm cay có  thể sẽ gây hại cho da của bạn. Thức ăn cay có thể làm giãn mạch máu ở những người dễ bị mụn trứng cá – căn bệnh viêm nhiễm da mãn tính, xuất hiện các mụn đỏ tấy trên da, làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp thẩm mỹ hoặc phụ nữ đang trải qua thời kỳ mãn kinh.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, để giữ làn da luôn khỏe khoắn và trẻ trung đó chính là việc nuôi dưỡng từ bên trong. Chế độ ăn uống hợp lý, trong đó có chứa các loại thực phẩm chống oxy hóa có thể giúp làn da bạn luôn tươi khỏe.

Nguồn vnmedia

Giảm thiểu ung thư cổ tử cung ở phụ nữ

Phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ, tập thể dục.

Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học của Trường Imperial Luân Đôn, Anh tiến hành chỉ ra rằng, phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ để có được chỉ số trọng lượng cơ thể bình thường, tập thể dục ít nhất 40 phút mỗi ngày và uống cà phê. Theo các nhà nghiên cứu, con số ung thư cổ tử cung có thể giảm đến một nửa nếu các chị em theo được những quy tắc sống đơn giản trên.
3-bi-quyet-giup-giam-thieu-ung-thu-co-tu-cung
Với hơn 6.500 trường hợp chẩn đoán mỗi năm, ung thư cổ tử cung, đôi khi còn gọi là ung thư màng trong tử cung, là một trong những loại ung thư phụ khoa thường gặp nhất. Ung thư cổ tử cung thường liên quan đến việc xuất hiện của một lượng estrogen quá lớn trong cơ thể, tạo ra sự mất cân bằng màng tử cung, màng nhầy bao phủ phía trong tử cung.

Theo TS. Teresa Norat, phụ trách nghiên cứu này: “Nếu bạn tập thể dục hàng ngày và không bị quá cân, như thế bạn giảm được đáng kể nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, bạn sẽ cải thiện được nhiều tình trạng sức khỏe nói chung, điều mà không thể bỏ qua. Tuy vậy, ở Anh, chỉ có 56% phụ nữ làm theo những lời khuyên này và chỉ có 39% phụ nữ không bị thừa cân”.

Đây không phải lần đầu một nghiên cứu tìm ra tác dụng chống ung thư của cà phê. Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ đã cho biết rằng, cứ uống 3 tách cà phê mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ ung thư da. Mới đây hơn, một nghiên cứu của Mỹ đã chỉ ra rằng, cà phê không khử có một tác dụng bảo vệ họng của chúng ta. Còn theo các nhà khoa học Thụy Điển, trong trường hợp ung thư cổ tử cung, các bệnh nhân nữ có thể giảm nguy cơ tái nhiễm bằng cách uống cà phê. Như vậy, cà phê có nhiều tác dụng trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung.

Nguồn afamily

3 bí quyết giúp giảm thiểu ung thư cổ tử cung

Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học của Trường Imperial Luân Đôn, Anh tiến hành chỉ ra rằng, phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ để có được chỉ số trọng lượng cơ thể bình thường, tập thể dục ít nhất 40 phút mỗi ngày và uống cà phê.

Theo các nhà nghiên cứu, con số ung thư cổ tử cung có thể giảm đến một nửa nếu các chị em theo được những quy tắc sống đơn giản trên.
ung thu-tu-cung
Với hơn 6.500 trường hợp chẩn đoán mỗi năm, ung thư cổ tử cung, đôi khi còn gọi là ung thư màng trong tử cung, là một trong những loại ung thư phụ khoa thường gặp nhất. Ung thư cổ tử cung thường liên quan đến việc xuất hiện của một lượng estrogen quá lớn trong cơ thể, tạo ra sự mất cân bằng màng tử cung, màng nhầy bao phủ phía trong tử cung.

Theo TS. Teresa Norat, phụ trách nghiên cứu này: “Nếu bạn tập thể dục hàng ngày và không bị quá cân, như thế bạn giảm được đáng kể nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, bạn sẽ cải thiện được nhiều tình trạng sức khỏe nói chung, điều mà không thể bỏ qua. Tuy vậy, ở Anh, chỉ có 56% phụ nữ làm theo những lời khuyên này và chỉ có 39% phụ nữ không bị thừa cân”.

Đây không phải lần đầu một nghiên cứu tìm ra tác dụng chống ung thư của cà phê. Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ đã cho biết rằng, cứ uống 3 tách cà phê mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ ung thư da. Mới đây hơn, một nghiên cứu của Mỹ đã chỉ ra rằng, cà phê không khử có một tác dụng bảo vệ họng của chúng ta. Còn theo các nhà khoa học Thụy Điển, trong trường hợp ung thư cổ tử cung, các bệnh nhân nữ có thể giảm nguy cơ tái nhiễm bằng cách uống cà phê. Như vậy, cà phê có nhiều tác dụng trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung.

Theo SKĐS

Những bệnh ung thư chị em hay mắc phải

Dưới đây là 5 bệnh ung thư chị em cần hết sức chú ý và đi kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu có dấu hiệu nghi ngờ.

Theo Giáo sư Jeff Sisler tại Đại học Manitoba: “Tầm soát ung thư cần thiết cho bất kỳ ai, kể cả những người khỏe mạnh và không có dấu hiệu bị bệnh”. Ông đặc biệt nhấn mạnh việc tầm soát ung thư cần thiết cho cả những người khỏe mạnh, chứ không phải cho những người đã nổi hạch hay ho ra máu, bởi theo ông “đó đã là dấu hiệu chung của người bị bệnh, không cần phải kiểm tra nữa.”

Dưới đây là 5 bệnh ung thư chị em cần hết sức chú ý và đi kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu có dấu hiệu nghi ngờ.

1. Ung thư vú

Theo Giáo sư Sisler, phụ nữ nên thực hiện tầm soát ung thư vú từ độ tuổi 50 và nên tiếp tục thực hiện 2 năm một lần. Tuy nhiên cũng có một số khuyến cáo cho rằng, bạn nên thực hiện việc tầm soát ung thư khi bạn bước vào độ tuổi 40.

Bạn có nên làm xét nghiệm kiểm tra? “Nhìn chung, với mọi loại ung thư, yếu tố nguy cơ lớn nhất là tuổi tác”, theo quan điểm của giáo sư Sisler, “yếu tố thứ hai là lịch sử gia đình. Bạn sẽ có nguy cơ mặc bệnh cao hơn nếu trong gia đình bạn có người đã bị ung thư”.  Vì vậy, nếu gia đình bạn đã có người bị ung thư vú, thì bạn nên thực hiện xét nghiệm sàng lọc ung thư vú sớm hơn.

2. Ung thư ruột kết và ung thư trực tràng

Cũng như ung thư vú, các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư ruột kết và ung thư trực tràng là tuổi tác, lịch sử gia đình và béo phì. Vì vậy bạn nên làm tầm soát ung thư ruột kết và ung thư trực tràng khi bạn 50 tuổi và nên tiếp thực hiện hai năm một lần cho đến khi bạn 70 tuổi.

5-benh-ung-thu-chi-em-can-het-suc-chu-y

Nhưng hãy nhớ rằng, nếu gia đình bạn đã có người bị hai loại ung thư này, thì bạn nên thực nghiệm xét nghiệm sàng lọc sớm hơn vì như vậy có nghĩa là bạn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người không có tiền sử bệnh trong gia đình.

3. Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 10 đối với mọi phụ nữ và là ung thư phổ biến thứ 3 đối với phụ nữ từ 29- 40 tuổi. Ung thư cổ tử cung có thể dễ dàng được phát hiện qua việc xét nghiệm sàng lọc tế bào cổ tử cung (pap smear) thường xuyên.

Sàng lọc ung thư cổ tử cung nên thực hiện sớm hơn so với các loại ung thư khác. Bạn  nên bắt đầu thực hiện việc sàng lọc này từ 2-3 năm sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên và nên thực hiện hai năm một lần cho đến khi bạn 70 tuổi.

4. Ung thư phổi

Chụp cộng hưởng từ là phương pháp chính để phát hiện ung thư phổi. Nhưng đến nay, do chi phí và có một số ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe nên phương pháp này đã bị cấm.

Theo Giáo sư Sisler, hiện chưa có phương pháp tầm soát nào đối với ung thư phổi, ngay cả đối với những người nghiện thuốc lá. Vì vậy, biện pháp tốt nhất để phòng ngừa ung thư phổi là không hút thuốc lá, hạn chế tiếp xúc với các hóa chất độc hại.

Nếu bạn thấy có đồng thời có các dấu hiệu như ho, ho ra máu, viêm phế quản, viêm phổi tái diễn nhiều lần, khó thở, đau ngực, khàn giọng, khó nuốt… thì bạn nên đi khám ngay vì đó hoàn toàn có thể là những triệu chứng bất thường ở phổi, nếu không điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ dẫn đến ung thư phổi.

Theo afamily

Những bệnh tình dục cực kỳ nguy hiểm

Những người có sinh hoạt tình dục không an toàn rất có thể mắc các bệnh tình dục hiếm gặp khác như bệnh hạ cam mềm, u mềm lây, bệnh hột xoài.

Bạn đã từng nghe nói đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục (bệnh tình dục) như: lậu, giang mai, mụn cóc, HIV… Đây là những bệnh tình dục khá phổ biến và có thể gặp ở bất kì đối tượng nào có quan hệ tình dục dưới mọi hình thức. Đây cũng chính là lý do tại sao những người đã có quan hệ tình dục thường chỉ nghi ngờ mình mắc một trong số các bệnh trên khi phát hiện thấy những biểu hiện lạ trên cơ thể.

Ngoài những bệnh nói trên, những người có sinh hoạt tình dục không an toàn còn có thể mắc các bệnh tình dục hiếm gặp khác như bệnh hạ cam mềm, u mềm lây, bệnh hột xoài… Các bệnh này không phổ biến bởi những người mắc bệnh không nhiều. Tuy nhiên, biết về các triệu chứng và mức độ nguy hiểm của bệnh để phòng tránh là điều vô cùng cần thiết.

nhung-benh-tinh-duc-hiem-gap-nhung-khong-kem-phan-nguy-hiem

Dưới đây là những điều bạn cần biết liên quan đến các bệnh này:

Bệnh hạ cam mềm (Chancroid)

Hạ cam mềm là bệnh loét vùng sinh dục do vi khuẩn hình que Gram Haemophilus ducreyi gây ra. Biểu hiện lâm sàng là loét đau tại vị trí nhiễm trùng thường khu trú ở bộ phận sinh dục ngoài.

Vết loét của bệnh có thể xuất hiện ở bờ của bao quy đầu, rãnh quy đầu, quy đầu, thân dương vật đối với nam giới và ở âm hộ, môi lớn, môi nhỏ, âm đạo đối với nữ giới.

– Dấu hiệu nhận biết bệnh: Người bị bệnh hạ cam mềm có thể có thời gian ủ bệnh từ 4-10 ngày, trung bình là 7 ngày.

Ở giai đoạn đầu, bệnh nhân có dấu hiệu là ban đỏ, nốt mụn có thể có mủ, vỡ thành vết loét có đặc điểm: Hình tròn, kích thước 1-2cm, bờ vết loét rõ, có thể chợt, bờ đôi có hai viền (bên trong vàng, viền ngoài đỏ), bề mặt vết loét có mủ vàng, đáy vết loét không bằng phẳng và có những chồi thịt.

Sau 2 tuần, bệnh nhân có thể thấy nổi hạch, thường là hạch ở bẹn. Hạch có thể sưng to, bị viêm, chảy mủ gây áp xe hoặc viêm đường bạch huyết, dẫn đến phù to bộ phận sinh dục và phù to ở chân, gây ảnh hưởng đến việc sinh sản bình thường, thậm chí gây vô sinh…

– Điều trị bệnh: Bệnh có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, lần đầu tiên của điều trị không phải lúc nào cũng thành công.

Bệnh u mềm lây (Molluscum Contagiosum)

Bệnh u mềm lây cũng có thể lây truyền qua đường tình dục nên nó cũng bị coi là bệnh lây truyền qua đường tình dục. U mềm lây là bệnh nhiễm trùng da do virus gây ra với biểu hiện là các mụn rời rạc trên da, ở giữa các mụn bị lõm. Bệnh sẽ càng lan rộng nếu các nốt mụn bị vỡ hoặc xước trên da.

Dấu hiệu nhận biết bệnh: Hầu hết các bác sĩ có thể chẩn đoán một bệnh u mềm dựa trên sự xuất hiện của các mụn nước. Trong trường hợp phức tạp thì người bệnh sẽ được cho làm sinh thiết để chẩn đoán chắc chắn.

Dấu hiệu ban đầu của bệnh là, người bệnh nổi các nốt mụn tròn, gồ cao trên da, chắc, bề mặt nhẵn, lõm bên trong. Các nốt mụn thường tập trung thành nhóm và chủ yếu xuất hiện ở vùng mu sinh dục.

Điều trị bệnh: Trong hầu hết các trường hợp, nhiễm trùng u mềm có thể tự khỏi. Trong trường hợp không phát hiện và điều trị kịp thời, đúng bệnh có thể khiến bệnh nặng thêm, các mụn trên da dễ bị vỡ, gây viêm nhiễm, nhiễm trùng ở vùng sinh dục, về lâu dài có thể dẫn đến viêm nhiễm trong cơ quan sinh dục, gây ảnh hưởng đến việc thụ thai.

Bệnh hột xoài (Lymphogranuloma Venerum – LGV)

LGV thực ra là một bệnh gây ra do nhiễm trùng nấm chlamydia và có các triệu chứng tương tự như đối với bệnh giang mai. Bệnh còn gọi là u lympo sinh dục và là bệnh tình dục khá nguy hiểm, có thể gây tổn thương nặng ở cơ quan sinh dục.

Bệnh hột soài thường gặp ở những người trong độ tuổi 20-40, chủ yếu lây qua đường tình dục, ít lây gián tiếp qua quần áo, đồ dùng…

Dấu hiệu nhận biết bệnh: Bệnh thường xuất hiện ở quy đầu hoặc bao quy đầu đối với nam giới và ở môi lớn, môi bé, thành âm đạo, cổ tử cung đối với nữ giới. Khi mới bị bệnh, người bệnh có thể thấy xuất hiện nốt mẩn hoặc vết xước nhỏ, mềm, không đau. Vết xước hoặc mẩn này sẽ tự biến mất sau vài ngày, vậy nên, nếu không chú ý, người bệnh khó có thể phát hiện ra dấu hiệu này.

Trong giai đoạn này, bệnh nhân nam có thể cảm thấy như bị kim châm hay đau rát nhẹ ở đường tiểu, đau ở tinh hoàn, hoặc sùi, loét ở hậu môn, chít hẹp trực tràng, còn bệnh nhân nữ có thể thấy đau khi đi tiểu và khi giao hợp, cũng có thể thấy đau vùng chậu, xuất huyết âm đạo, huyết trắng, mệt mỏi… do có viêm ở âm đạo, cổ từ cung và vòi trứng.

Khoảng 1-2 tuần sau khi có tổn thương đầu tiên, sẽ dẫn đến xuất hiện hạch ở bên, có thể nhiều hạch liên kết với nhau thành một mảng dài. Các hạch này sưng lên rồi vỡ mủ làm thành các lỗ rò. Đồng thời, vi khuẩn vào máu và lan tỏa theo đường máu. Sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng, các lỗ rò thành sẹo làm tắc nghẽn hệ thống bạch mạch, gây phù nề, xơ hóa và hình thành các vết loét ở da và niêm mạc..

Điều trị bệnh hột xoài: Bệnh hột xoài tuy không gây chết người nhưng có thể để lại các biến chứng nguy hiểm sau này như vô sinh, viêm đa khớp, hẹp trực tràng, viêm niệu đạo, viêm màng não, viêm kết mạc, viêm mống mắt…

Bệnh có thể được điều trị bằng kháng sinh, tuy nhiên phải nhiều tuần bệnh mới khỏi. Vì vậy, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định dùng thuốc của bác sĩ.

Theo afamily

Dấu hiệu cảnh báo nguy cơ phải cắt bỏ tử cung ở chị em

Có rất nhiều lý do để bác sĩ phụ khoa kết luận cần phải cắt bỏ tử cung. Và điều này cần phải được chẩn đoán chính xác từ bác sĩ.

Cắt bỏ tử cung được các bác sĩ phụ khoa thực hiện và đã trở thành một trong những loại phẫu thuật khá phổ biến ở phụ nữ mãn kinh.

Dưới đây là một vài điều bạn nên biết về việc cắt bỏ tử cung.

1. Lý do phải cắt bỏ tử cung

co-tu-cung

Có rất nhiều lý do để bác sĩ phụ khoa kết luận cần phải cắt bỏ tử cung. Và điều này cần phải được chẩn đoán chính xác từ bác sĩ. Đa phần những người phụ nữ được chỉ định cắt bỏ tử cung là do:

+ Xuất huyết âm đạo quá mức dẫn tới thiếu máu và không thể khắc phục được.

+ Vỡ tử cung trong khi sinh hoặc do gặp chấn thương đủ nặng để gây trở ngại cho chức năng ruột và bàng quang.

+ U xơ tử cung.

+ Sa tử cung.

+ Lạc nội mạc tử cung nghiêm trọng.

+ Nhiễm trùng tử cung.

+ Viêm vùng chậu hoặc sự phát triển của khối u ung ở các cơ quan trong khung chậu.

2. Những kiểu cắt bỏ tử cung

Cắt bỏ tử cung thường được các bác sĩ chỉ định khi tổn thương ở phần tử cung gây nguy hiểm đến tính mạng cho bệnh nhân. Bác sĩ phụ khoa sẽ lựa chọn phương pháp cắt tử cung tùy theo điều kiện sức khỏe cũng như vùng tổn thương của bạn. Cắt bỏ tử cung là cuộc đại phẫu thuật bao gồm cắt bỏ hoàn toàn tử cung hoặc cắt bỏ một phần tử cung.

Cắt bỏ tử cung hoàn toàn bao gồm việc loại bỏ các ống dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung cùng với buồng trứng nếu được yêu cầu. Và cắt bỏ một phần tử tức là chỉ cắt bỏ tử cung, để lại cổ tử cung. Đôi khi việc cắt bỏ không hoàn toàn cũng cần cắt bỏ phần phụ (một hay cả hai buồng trứng).

3. Tác dụng phụ của phẫu thuật

Cắt tử cung có thể giúp chị em giảm thiểu sự phát của các tế bào ung thư trong tử cung hoặc tránh gây xuất huyết không kiểm soát được cho những phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh. Tuy nhiên, loại phẫu thuật này cũng có những tác dụng phụ lâu dài. Những tác dụng phụ đó có thể là: gây tính khí thất thường do sự mất cân bằng nội tiết tố gây ra, nhiễm trùng đường tiết niệu, loãng xương, tăng cân, bệnh tim và mệt mỏi tổng thể.

4. Cắt tử cung có thể ảnh hưởng đến buồng trứng

Buồng trứng là cơ quan sinh sản quan trọng ở cơ thể người phụ nữ. Vì thế, cắt bỏ tử cung tác động trực tiếp đến buồng trứng của chị em. Khi một người phụ nữ dưới độ tuổi mãn kinh, trong quá trình cắt tử cung thì buồng trứng thường có khả năng không bị loại bỏ, trừ khi bị chẩn đoán có tế bào ung thư đang phát triển hoặc một người phụ nữ đó có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư buồng trứng.

Một khi phát hiện các tế bào ung thư và tốc độ phát triển nhanh chóng thì buồng trứng có thể sẽ phải cắt bỏ và lúc này người phụ nữ có thể được khuyến cáo liệu pháp thay thế hormone.

5. Các biến chứng có thể gặp trong phẫu thuật

Luôn có nguy cơ xảy ra những biến chứng trong bất kì loại phẫu thuật nào và cắt tử cung cũng vậy. Khi người phụ nữ quyết đinh cắt tử cung, họ có thể sẽ phải đối diện với một số rủi ro như: Nhiễm trùng vết thương, chảy máu quá nhiều, bàng quang bị tổn thương, tụ máu ở chân, chấn thương ruột hoặc vỡ mạch máu… Điều quan trọng cần lưu ý rằng rủi ro và biến chứng liên quan đến cắt bỏ tử cung phụ thuộc vào từng trường hợp.

6. Chăm sóc hậu phẫu
Nếu bạn đã trải qua cuộc phẫu thuật cắt tử cung, bạn nên làm theo các hướng dẫn được các bác sĩ đưa ra và thực hiện đầy đủ những thao tác chăm sóc hậu phẫu. Hãy chắc chắn rằng bạn không nâng vác nhưng vật nặng sau khi giải phẫu. Hãy nghỉ ngơi đầy đủ, uống nhiều nước để tránh táo bón và tạo cho mình thói quen tập thể dục theo đề nghị của bác sĩ để phục hồi nhanh chóng.

Theo Tri thức trẻ

Nữ giới nhịn tiểu gây ra vô sinh

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

nhin-tieu

Nếu thường xuyên nhịn tiểu, tử cung đổ về phía sau rất khó trở lại vị trí cũ. Khi bàng quang chèn ép tử cung nhiều, ép vào dây thần kinh ở trước xương cùng, làm cho phần xương cùng đau nhức, nặng sẽ gây ra vô sinh.

Nhịn tiểu gây ra tiểu dắt

Không có 2 vòng cơ thắt bằng cơ vân như nam giới, phụ nữ chỉ có 1 vòng cơ thắt do đó nếu thời gian dài nhịn tiểu, cơ vòng sẽ mệt mỏi, nhão, từ đó dẫn đến tiểu dắt; lâu dài gây lão hóa, dễ viêm nhiễm hệ tiết niệu.

Ngoài ra, do kết cấu các bộ phận trong bàng quang của nữ khá phức tạp, hệ thống tiết niệu dễ bị vi khuẩn xâm hại hơn nam giới. Nhịn tiểu không chỉ ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang, gây viêm nhiễm đường niệu đạo mà còn gây tiểu nhiều, tiểu ra máu, tiểu khó, tiểu buốt và cả bụng dưới khó chịu vv.

Thường ngày chú ý uống nhiều nước, đi tiểu nhiều

Chuyên gia đặc biệt khuyến cáo phụ nữ không nên chờ khát mới uống nước, đặc biệt là những người vận động nhiều.

Nên chú ý ăn nhạt, thanh đạm, ít dầu mỡ. Nếu ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ hoặc ăn mặn, nên uống nhiều nước hơn thường ngày. Trời lạnh nên uống nước ấm, trước khi ngủ và sau khi thức dậy nên uống 2 cốc nước lọc, trời lạnh cũng nên uống để giúp cho nước tiểu kịp thời đẩy ra ngoài, tránh vi khuẩn ở trong đường tiết niệu phát triển.

Theo Dân trí

Trị nám: Biết “địch” biết ta, trăm trận trăm thắng!

 Nhiều chị em mất ăn mất ngủ, tìm đủ mọi cách để cải thiện tình hình vì “bỗng xuất hiện các vệt đen nhỏ li ti trên mặt, nhất là hai bên gò má, rồi ngày càng đậm lên và lan ra”. Trong khi những vệt nám, sạm, tàn nhang đó không tự dưng mà đến.

Chiến thuật biết “địch” biết “ta”:

“Quân địch” trực tiếp chính là hiện tượng “các vệt đen nhỏ, chấm  li ti trên mặt”, đây là tình trạng gia tăng hắc sắc tố melanin ở da, tạo ra các đốm có màu từ nâu đến đen, thường xuất hiện trên gò má, trán hoặc các vùng tiếp xúc với ánh sáng khác.

Tình trạng này do nhiều nguyên nhân gây ra: Thay đổi nội tiết tố, Do tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, lão hóa da theo tuổi tác, máu  xấu, lưu thông máu kém, lạm dụng mỹ phẩm…Đặc biệt, tình trạng mất cân bằng nội tiết tố nữ estrogen ở phụ nữ sau sinh, tiền mãn kinh, mãn kinh.

Nám da, sạm da hay tàn nhang để càng lâu càng khó khắc phục, đó là chưa kể đến yếu tố nám có thể tái lại nếu không được can thiệp tận gốc.

Về phía ta: Những chị em nào dễ bị nám, sạm “tấn công”?

Phụ nữ sau sinh, sau 30 tuổi, giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh: Nội tiết tố thường bị rối loạn. Đây chính là yếu tố kích thích cơ thể tăng sản xuất các hắc sắc tố gây nám da, sạm da và tàn nhang.
tri-nam

Phụ nữ máu xấu, lưu thông máu kém: Lượng ôxy trong máu bị suy giảm, điều này khiến da trở nên không đều màu, tạo ra các vết nám, sạm, tàn nhang, các đốm đen hoặc da bị thâm.

Phụ nữ thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng: Các tia UVA, UVB trong ánh nắng chính là kẻ thù số một của làn da vì chúng có khả năng “tấn công” vào từng tế bào da, kích thích cơ thể sinh Melanin.

Phụ nữ lạm dụng mỹ phẩm: mỹ phẩm  như con dai hai lưỡi, nếu lạm dụng sẽ khiến da bị bào mòn, da mỏng hơn đồng nghĩa với việc dễ bị bắt nắng gây nám, mụn, tàn nhang.

Trăm trận trăm thắng:

Đối với những người đã bị nám: Cần ngăn chặn, không cho vệt nám mới hình thành và làm mờ những vết nám cũ.

Đối với những đối tượng nguy cơ cao như phụ nữ sau khi sinh, phụ nữ độ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh… cần ngăn ngừa không cho nám mới hình thành bằng cách ngăn chặn hiện tượng rối loạn nội tiết estrogen.

Tiếp đó, ngay khi những đốm sẫm màu xuất hiện, chị em cần khắc phục ngay và phải tìm biện pháp đúng đắn . Việc kết hợp bảo vệ da từ bên ngoài và cải thiện nám từ bên trong sẽ mang lại hiệu quả lớn.

Bảo vệ da từ bên ngoài cần hạn chế tiếp xúc với ánh nắng. Khi ra ngoài cần bao bọc, che chắn kĩ cho làn da, sử dụng kem chống nắng có chỉ số SPF từ 30-40, không lạm dụng mỹ phẩm, đặc biệt là mỹ phẩm làm trắng.

Bảo vệ da từ bên trong bằng cách bổ sung cho cơ thể:

Isoflavone trong mầm đậu nành: Có tác dụng ngăn ngừa quá trình hình thành Melanin và giúp cân bằng nội tiết tố nữ, không cho vệt nám mới xuất hiện, đồng thời tránh được nguyên nhân gây nám do mất cân bằng nội tiết tố thường gặp.

L- cystine trong nhưng hươu: Có tác dụng đưa sắc tố màu đen (melanin) sâu bên trong da ra bên ngoài da để đào thải cùng lớp sừng. Do vậy xóa mờ các vết nám cũ.

Như vậy với sự kết hợp của Isoflavone (Ngăn cản tạo thành sắc tố Melanin và tăng cường tạo Collagen làm tăng độ dày và bảo vệ da) + L-cystine (ngăn cản quá trình tạo thành và tăng cường đào thải Melanin ra bên ngoài) sẽ khắc phục tình trạng nám hiệu quả.

Ngoài ra, 4 vị dược liệu quý Quy râu – Ngưu tất – Thục địa – Ích mẫu: Có tác dụng bổ huyết, điều kinh rất tốt. Giúp lưu thông khí huyết, tăng lượng máu đến nuôi dưỡng da, giúp da hồng hào, phòng ngừa nguy cơ gây nám da, sạm da.

TPCN Sắc Ngọc Khang – gồm Tinh chất mầm đậu nành, L – cystine, dầu gấc… giúp cải thiện tình trạng nám, sạm, tàn nhang bởi hiệu quả và tính an toàn của sản phẩm.

Theo dân trí

Mãn kinh và những thay đổi về xương ở phụ nữ

Tuổi càng cao, sức khỏe cũng như vóc dáng của con người sẽ thay đổi. Ở độ tuổi 40-50, đối với phụ nữ cơ thể sẽ “xuống dốc không phanh” với những biểu hiện: da nhăn nheo, vòng 2 biến dạng trong khi vòng 1 lại nhỏ đi… Nhưng có một sự thay đổi lớn mà ít người nhận ra đó là sự thay đổi về xương, nhất là ở phụ nữ tuổi mãn kinh.

Từ nhỏ cho đến khi lớn lên lượng xương trong cơ thể người phụ nữ tăng dần, khoảng 25-30 tuổi thì đạt đến đỉnh cao. Nhân tố di truyền có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xương (80%), 20% là do chế độ ăn uống, vận động, hormon, thuốc và bệnh mạn tính quyết định.

Trong giai đoạn phát dục, cơ thể cần bổ sung lượng canxi thích hợp để phát triển xương. Vì thế, nếu không chú ý bồi dưỡng sức khỏe ở giai đoạn này thì hệ xương kém phát triển mà biểu hiện cụ thể nhất là chiều cao phát triển kém. Phụ nữ có mật độ xương ở mức cao nhất ở lứa tuổi 30 và họ cần phải có đủ lượng canxi để tạo xương và duy trì sức khỏe ở giai đoạn còn lại. Ngoài 30 tuổi, lượng xương của người phụ nữ dần dần thoái hóa (mỗi năm giảm 0,25%-1%), và sau khi mãn kinh (trong vòng 15 năm đầu) do lượng oestrogen giảm nên tốc độ thoái hóa xương khá nhanh, mỗi năm giảm 1%-5%. Trong khoảng thời gian 3-5 năm đầu sau khi mãn kinh, sự thoái hóa xương xảy ra nhanh nhất, với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng xốp xương. Thêm vào đó là quá trình già hóa nên công năng của tế bào xương giảm, sự hấp thụ canxi và sự tổng hợp vitamin D kém đi… làm ảnh hưởng xấu đến cấu trúc của xương.

man_kinh_va_nhung_thay_doi_ve_xuong_o_phu_nu

Mật độ xương chỏm xương đùi giảm rõ rệt trước và sau mãn kinh.

Bước sang tuổi 60-70, xương của người phụ nữ yếu hẳn, sụn và các đĩa đệm xẹp xuống, biểu hiện rõ nhất là lưng bị còng. Theo thống kê, có tới 40% phụ nữ ở độ tuổi trên 50 mắc các chứng bệnh về xương như đau lưng, đau vai, mỏi gối, gãy xương… Sau mãn kinh, loãng xương tiến triển theo thời gian, xương mất nhiều lên. Kết quả là một hoặc nhiều xương bị gãy, và sau đó là đau kéo dài và tàn tật. Chẩn đoán loãng xương càng sớm càng tốt là bước rất quan trọng để giúp hạn chế mất xương ở giai đoạn sớm nhất có thể. Mãn kinh là nguyên nhân quan trọng nhất gây loãng xương. Tuy nhiên không phải người phụ nữ nào ở tuổi mãn kinh cũng bị loãng xương mà chỉ có khoảng 30% số người bị bệnh loãng xương, và ở độ tuổi ngoài 75 thì tỷ lệ này chiếm tới 40%-60%.

Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, những nhân tố dễ gây loãng xương là: di truyền, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, dùng đồ uống có hàm lượng caffein quá cao, ít vận động mạnh, thiếu canxi, mãn kinh quá sớm… Ngoài ra, tác dụng phụ của một số loại thuốc cũng có thể gây loãng xương.

Để hạn chế những tác động xấu do loãng xương ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh. Cần có một chế độ ăn uống đủ chất: canxi, florua, magiê, và bổ sung vitamin D bằng cả việc ăn uống kết hợp với hoạt động ngoài trời, tăng cơ hội sưởi nắng để làm tăng lượng vitamin D3 tổng hợp ở tế bào da, làm tăng khả năng hấp thụ canxi qua đường tiêu hóa, làm cho xương chắc hơn. Bạn cũng nên bổ sung đầy đủ canxi tối thiểu 1.000mg/ngày; sử dụng liệu pháp nội tiết tố thay thế ở giai đoạn mãn kinh theo chỉ định của bác sĩ. Đối với một số trường hợp cần phải được bổ sung oestrogen và canxi, hạn chế tối thiểu hiện tượng gãy xương. Để tránh phát sinh hiện tượng gãy xương, phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh nên chú ý đề phòng trượt ngã. Muốn giảm chứng loãng xương, ngoài việc kết hợp ăn uống, bạn cũng phải có một chế độ luyện tập thích hợp như chơi thể thao (bóng bàn, cầu lông, tennis…), đi bộ đúng cách. Nên tránh những môn thể thao hay ngã như đạp xe ở địa hình gồ ghề, đấu vật, thể hình… Hạn chế đưa vào cơ thể những chất góp phần làm mất canxi và magiê như đồ uống có caffein, nước ngọt có gas, chất cồn và muối. Thừa cân cũng làm bộ xương mỏng mảnh chịu lực nhiều hơn. Vì thế, bạn phải giữ ổn định trọng lượng. Các sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp canxi rất tốt. Lưu ý, bạn chỉ nên dùng các loại sữa và sản phẩm từ sữa có lượng chất béo thấp.

BS. Hà Hùng Thủy
Theo SKĐS

Tê tay và hội chứng ống cổ tay

Hội chứng ống cổ tay là một trong các nguyên nhân gây tê tay, làm cho người bệnh rất khó chịu, có thể gây teo bàn tay. Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 35, phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Những người lao động sử dụng nhiều cử động cổ tay và một số bệnh có thể gây nên hội chứng ống cổ tay.

te_tay_va_hoi_chung_ong_co_tay

Nguyên nhân gây bệnh tê tay là gì?

Nhiều nguyên nhân có thể gây tê tay: hay gặp nhất là hội chứng ống cổ tay, co thắt mạch máu ngoại vi, rối loạn canxi huyết. Hội chứng ống cổ tay xuất hiện là do dây thần kinh giữa bị chèn ép ở cổ tay. Ở cổ tay, dây thần kinh giữa đi trong một bao, gọi là ống cổ tay (carpal tunnel). Ống cổ tay được tạo bởi phía dưới và hai bên là các xương của cổ tay; phía trên có một tấm gân rộng gọi là cân ngang của cổ tay phủ lên như một cái mái. Dây thần kinh giữa có chức năng nhận cảm giác ngoài da của ngón trỏ, ngón giữa và gan bàn tay ở phía dưới 2 ngón tay đó và điều khiển vận động các cơ của các ngón tay. Do ống cổ tay khá chật, khi nó chít hẹp lại thì dây thần kinh giữa bị chèn gây ra hội chứng ống cổ tay. Bệnh thường gặp ở những người lao động dùng nhiều động tác lắc cổ tay như băm chặt, quay guồng dây câu cá… Một số bệnh như chấn thương vùng cổ tay, viêm đa dây thần kinh, viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cũng gây hội chứng ống cổ tay.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Dấu hiệu ban đầu là tê tay, tê ở gan bàn tay, cùng với ngón trỏ và ngón giữa (vùng dây thần kinh giữa chi phối cảm giác). Hay gặp nhất là người bệnh chỉ thấy tê ngón trỏ và ngón giữa. Tuy nhiên cũng có những trường hợp người bệnh cảm thấy tê ở tất cả các ngón tay, và tê nhiều hơn ở hai ngón trỏ và giữa. Tê tay thường xuất hiện khi cử động bàn ngón tay như: cầm nắm dụng cụ lao động lâu; lái xe máy đi xa, có khi đang đi xe phải dừng lại và vẩy tay mấy cái cho đỡ tê rồi mới đi tiếp được; có khi tê tay xuất hiện trong lúc nghỉ ngơi như khi đang ngủ bị thức giấc vì tê và đau các ngón tay, người bệnh phải dậy đi lại và vẩy tay một lúc cho đỡ tê mới ngủ tiếp. Thời gian đầu, bệnh chỉ xuất hiện ở một tay và thường là ở tay thuận hay làm động tác lắc cổ tay. Nhưng về sau có thể tay bên kia cũng bị tê. Khi khám bệnh, dùng búa cao su gõ vào cổ tay, người bệnh thấy tê lan xuống các ngón tay, gọi là dấu hiệu tinnel. Nếu sau một thời gian không được điều trị, bệnh sẽ tiến triển nặng gây rối loạn vận động, tay cử động yếu và teo khối cơ ô mô cái. Nếu cố làm động tác quá gấp hay quá ưỡn cổ tay thấy các triệu chứng tê tay và đau tăng lên. Hội chứng ống cổ tay không những gây tê tay mà còn làm teo bàn tay nếu để muộn. Muốn chẩn đoán chính xác hội chứng ống cổ tay người ta sử dụng phương pháp đo điện cơ. Một công trình nghiên cứu trong nước đã xác định những tiêu chuẩn chẩn đoán phù hợp với người Việt Nam và hiện đã áp dụng ở một số bệnh viện. Máy đo điện cơ cũng đã được trang bị ở nhiều bệnh viện.

Chữa trị bệnh ra sao?

Tùy theo mức độ tổn thương và thời gian bị bệnh có thể áp dụng các phương pháp điều trị như sau:

– Điều trị nội khoa: sử dụng các thuốc giảm đau chống viêm uống; dùng thuốc corticoid tiêm vào trong ống cổ tay để chống viêm, kết quả bệnh có thể khỏi từ vài tháng đến nhiều năm, tùy thuộc vào việc bệnh được phát hiện càng sớm thì thời gian càng khỏi được lâu. Chú ý điều trị tích cực các bệnh là nguyên nhân có thể gây ra hội chứng ống cổ tay như: viêm đa dây thần kinh, viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm, chấn thương cổ tay.

– Điều trị phẫu thuật: khi điều trị nội khoa không kết quả hoặc kết quả rất hạn chế nên phẫu thuật để giải phóng dây thần kinh ra khỏi ống cổ tay. Thủ thuật này chỉ cần gây tê tại chỗ, bệnh nhân có thể không cần nằm viện, kết quả đa số bệnh nhân khỏi vĩnh viễn.

Để phòng bệnh, cần chú ý thực hiện: làm động tác khởi động cổ tay (và toàn thân) trước khi lao động đối với các công việc phải thường xuyên sử dụng động tác lắc cổ tay như: băm, chặt, quay cổ tay để guồng dây câu cá, lái xe máy đi xa…  Có khởi động như vậy, các cơ và khớp ở cổ tay mới được hoạt động nhịp nhàng, tránh các chứng  bong gân, phù nề ở vùng cổ tay. Khi thấy bị tê tay, tê tăng lên khi lao động, lái xe máy, hoặc bị tê khi đang ngủ, tê nhiều ở ngón trỏ và ngón giữa nên đi khám ngay để  làm chẩn đoán điện xác định bệnh. Phát hiện và khám sớm rất có lợi, vì khi đã chẩn đoán chính xác là hội chứng ống cổ tay thì việc điều trị tê tay sớm có kết quả tốt.

Theo SKĐS

Dược liệu dành cho phụ nữ tiền mãn kinh

Ở độ tuổi 45-55, do chức năng buồng trứng suy giảm nên 85% phụ nữ mắc hội chứng tiền mãn kinh với mức độ khác nhau, biểu hiện bằng các triệu chứng: rối loạn kinh nguyệt, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ, tim đập nhanh, có các cơn bốc hỏa, thay đổi tính tình… Theo y học cổ truyền, đây là hậu quả của tình trạng thận khí suy nhược, tinh huyết sút kém, kinh mạch hư tổn, công năng tạng phủ rối loạn, dẫn đến mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Sau đây là một số món ăn bài thuốc hiệu quả cho chị em:

duoc_lieu_danh_cho_phu_nu_tien_man_kinh

Thể thận dương hư:

– Đông trùng hạ thảo 10g, thịt gà 250g. Thịt gà rửa sạch, cho vào nồi, đun sôi, hớt bọt. Cho đông trùng hạ thảo vào, hầm nhỏ lửa cho nhừ, chia làm 2 lần ăn trong ngày.

– Tôm nõn loại to 10 con, gạo kê 100g, dầu vừng, gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, thái nhỏ, nấu với gạo kê thành cháo, thêm gia vị, ăn vài lần trong ngày.

Thể can thận âm hư:

– Táo nhân 30g, sinh địa 30g, gạo tẻ 100g. Táo nhân đập vụn, sinh địa thái phiến, sắc kỹ cả hai vị lấy 200ml nước thuốc rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Tang thầm (quả dâu chín) 50g, đường trắng 200g, bột mì 300g, trứng gà 5 quả. Tang thầm rửa sạch, sắc lửa nhỏ trong 20 phút rồi lọc bỏ bã lấy nước, cho đường, bột mì, trứng gà vào trộn đều, nặn thành bánh, nướng chín dùng dần. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 50-100g.

Thể tâm tỳ lưỡng hư.

– Thịt gà ác 200g, hà thủ ô 20g, hoàng kỳ 15g, đại táo 10 quả. Thịt gà rửa sạch, thái miếng, đại táo bỏ hạt, hà thủ ô và hoàng kỳ cho vào túi vải, buộc kín. Tất cả cho vào nồi đất, chế nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm kỹ trong 2 giờ, bỏ túi thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.

– Long nhãn 30g, nhân sâm 3g, nấm linh chi 5g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà hằng ngày. Có thể chế thêm một chút đường phèn cho dễ uống.

– Nấm linh chi 5g, viễn chí 10g, tam thất 10g, ngũ vị tử 4g, hạt sen 10g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường, uống thay trà trong ngày.

ThS. Hoàng Khánh Toàn
Theo SKĐS

Dinh dưỡng phòng ngừa loãng xương

Loãng xương hiện nay đang là một trong những căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi, nhất là phụ nữ. Hậu quả gãy xương hoặc gãy lún cột sống… do loãng xương thường khá nặng nề với sức khỏe người cao tuổi vì xương rất lâu liền, điều trị tốn kém, người bệnh phải nằm lâu ngày nên dễ bị bội nhiễm (viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét mục…), là gánh nặng cho người bệnh, gia đình và cả xã hội. Nhưng nhiều người không để ý đến một điều rất quan trọng để phòng ngừa loãng xương, đó là chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho một bộ xương chắc khoẻ ngày từ những năm đầu đời.

dinh_duong_phong_ngua_loang_xuong

“Kẻ cắp thầm lặng”

Theo tổng kết của Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM, loãng xương là nguyên nhân của hơn 90% trường hợp người cao tuổi bị gãy xương sau những cú ngã nhẹ. Hiện tại Việt Nam, ước tính có 2,5 triệu người bị loãng xương và trên 150.000 trường hợp gãy xương do loãng xương.

Xương chắc khoẻ nhất ở thời kỳ đầu trưởng thành. Hàm lượng chất khoáng trong xương cao nhất ở tuổi 25, sau đó giảm xuống ở nữ vào tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi. Tỷ lệ khối lượng giảm hàng năm thay đổi từ 0,5 đến 2% tùy theo từng người. Những người có chế độ dinh dưỡng cân đối và thói quen tập thể dục từ khi còn trẻ thì có ít nguy cơ bị bệnh này hơn vì xương vẫn duy trì khoẻ mạnh khi được vận động.

Loãng xương là một căn bệnh diễn biến từ từ và không có triệu chứng rõ rệt, khiến người bị loãng xương thường không biết mình bị bệnh. Căn bệnh này được ví như “một kẻ cắp thầm lặng”, từng chút một, đánh cắp đi các khoáng chất trong ngân hàng xương của cơ thể. Khi xương bị loãng, cơ thể sẽ mất đi một số lượng lớn tổ chức xương trong toàn bộ thể tích xương, làm độ đặc của tổ chức xương giảm đi. Các yếu tố có ảnh hưởng tới độ đặc của xương bao gồm: Thiếu oestrogen (xuất hiện ở phụ nữ tuổi mãn kinh); thiếu hoạt động; hút thuốc lá; uống rượu; chế độ dinh dưỡng thấp, nhất là nghèo canxi.

Bệnh loãng xương gây gãy xương sau những va chạm rất nhẹ ở người cao tuổi, khi  xương bị gãy sẽ rất khó và rất lâu liền trở lại. Người bệnh phải nằm một chỗ, điều trị dài ngày trong bệnh viện, tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc và công sức của người nhà. Nguy hiểm hơn, khi phải nằm lâu để điều trị sẽ kéo theo nhiều biến chứng bất lợi như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các nơi tì, đè… có thể gây tàn phế suốt đời và giảm tuổi thọ của người bệnh.

Vai trò của dinh dưỡng phòng ngừa loãng xương

Việc điều trị bệnh loãng xương khó khăn và tốn kém nên chúng ta cần biện pháp phòng ngừa bằng cách xây dựng chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho xương chắc khỏe bằng cách bổ sung lượng canxi và vitamin D phù hợp trong suốt tuổi ấu thơ, tuổi dậy thì và trưởng thành.

Canxi: Canxi cần cho tim, cơ bắp, và thần kinh để hoạt động bình thường và giúp máu đông. Thiếu canxi là nguyên nhân chính gây ra loãng xương. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, chế độ ăn ít canxi có liên quan đến khối xương thấp và tỷ lệ gãy xương cao. Do đó cần xây dựng những bữa ăn giàu canxi. Thực phẩm giàu canxi bao gồm: sữa và các chế phẩm từ sữa, tôm, cua, tép (nhất là tôm, cua đồng), ốc, lòng đỏ trứng, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, rau ngót, đậu nành, vừng,… Ngoài ra cần chú ý lượng protein (chất đạm) trong khẩu phần nên vừa phải, vì chế độ ăn nhiều đạm làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Nếu không ăn đủ canxi trong chế độ ăn, cần bổ sung thêm canxi. Lượng canxi bổ sung tùy thuộc vào lượng canxi hấp thu được từ thức ăn. Tất cả các dạng canxi đều được hấp thu như nhau khi dùng chung với thức ăn trừ khi người bệnh có vấn đề về đường tiêu hóa. Thuốc bổ sung canxi được hấp thu tốt hơn ở liều nhỏ (<=500mg) nhiều lần trong ngày.

Vitamin D: Cơ thể cần vitamin D để hấp thu canxi. Thiếu vitamin D sẽ không thể tạo đủ hormone calcitriol (dạng vitamin D có hoạt tính), dẫn đến không hấp thu đủ canxi từ thức ăn. Trong trường hợp này, cơ thể sẽ lấy canxi từ nơi dự trữ là xương, làm cho xương bị yếu đi và ngăn chặn việc tạo xương mới.

Có 3 cách thu nhận vitamin D: qua da, từ thức ăn và từ thuốc. Vitamin D được hình thành một cách tự nhiên bởi cơ thể sau khi phơi nắng. Phơi nắng trực tiếp 15 phút vài lần trong tuần là đủ để tạo được lượng vitamin D cần thiết. Các chuyên gia y tế khuyến cáo dùng mỗi ngày 400 – 600 IU vitamin D, từ thuốc hay thực phẩm giàu vitamin D như: lòng đỏ trứng, cá biển, gan và sữa bổ sung vitamin D.

Cần ăn nhiều rau và trái cây, các thức ăn có chứa nhiều oestrogen thực vật như: giá đỗ, đậu nành, bắp cải, cà chua, dưa chuột, tỏi… cũng làm giảm mất xương và làm tăng chất khoáng trong xương.

Tóm lại, bệnh loãng xương có thể được phòng ngừa tốt bằng việc duy trì một chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý ngay từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời. Riêng ở phụ nữ sau khi mãn kinh, khi lượng oestrogen giảm loãng xương sẽ được phòng ngừa tốt nhất bằng liệu pháp hormon thay thế (nếu có chỉ định và điều kiện) kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý.

BS. Thu Lan
Theo SKĐS

Điều trị gãy xương và tái gãy xương do loãng xương

Không tuân thủ phác đồ điều trị là một trong những lý do thường thấy dẫn đến thất bại trong điều trị bệnh loãng xương. Tại sao bệnh nhân thường không tuân thủ phác đồ điều trị và làm thế nào và tái gãy xương do loãng xương có hiệu quả hơn?

Những biến cố không kiểm soát!

Vài tháng trước, cứ thay đổi thời tiết là bác Trần Thị Minh, 63 tuổi ở số 2 ngõ 40 Phan Đình Giót Hà Nội lại thấy nóng âm ỉ trong xương, đau mỏi trong các khớp, cột sống, đau cơ, co cứng cơ… Đi đo mật độ xương tại khoa Cơ Xương khớp BV. Bạch Mai, bác được chẩn đoán là LX và được chỉ định dùng thuốc ức chế hủy xương dạng viên uống tuần/lần cùng với một số thuốc khác. Bác Minh cho biết: “Từ khi phải điều trị LX, tôi thấy rất phiền phức. Về quê giỗ, tết đều phải mang thuốc. Mặc dù đã phải ghi chép, đánh dấu cẩn thận vậy mà vẫn có lúc quên. Chưa kể, mỗi lần uống thuốc phải đứng thẳng hơn nửa tiếng… Thế mà đợt kiểm tra này bác sĩ cho biết, mật độ xương của tôi vẫn ở tình trạng báo động”.

dieu_tri_gay_xuong_va_tai_gay_xuong_do_loang_xuong

Biến chứng gãy cổ xương đùi do loãng xương.

PGS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan (Trưởng khoa Cơ Xương Khớp BV. Bạch Mai, Hà Nội cho biết, các loại thuốc ức chế hủy xương như Alendronat, Risedronate, Zoledronate là những thuốc điều trị LX khá hiệu quả, được sử dụng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Song thuốc cần phải dùng kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt đời nên việc tuân thủ điều trị khá khó khăn. Nhiều BN tưởng là đã khỏi bệnh nên ngưng thuốc (do LX thường không có triệu chứng). Những BN có tuổi thường quên uống thuốc, đến khi biến chứng gãy xương thì đã muộn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sau điều trị, người bệnh LX chỉ có thể giảm được 50% nguy cơ bị gãy xương và tỷ lệ tái gãy xương là rất cao, gấp 2,5 lần so với người không mắc bệnh.

Phòng ngừa và điều trị bằng dịch truyền

PGS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan cho biết, hiện khoa Xương Khớp BV. Bạch Mai đang triển khai phương pháp điều trị mới cho BN LX và gãy xương bằng thuốc ức chế hủy xương zoledronic acid 5mg dạng tiêm truyền tĩnh mạch. Thuốc được truyền trực tiếp vào tĩnh mạch bệnh nhân trong vòng ít nhất 15 phút. Bước đầu sử dụng tại khoa Cơ Xương Khớp BV. Bạch Mai cho thấy hiệu quả tốt. Dưới 10% BN gặp tác dụng phụ như: sốt, đau mình mẩy, đau xương khớp… (xuất hiện trong vòng 1-3 ngày đầu). Tuy nhiên, những BN đau cột sống do lún xẹp đốt sống (biến chứng của LX) được truyền zoledronic acid 5mg đạt hiệu quả giảm đau nhanh chóng (trong vòng 24 giờ sau truyền, BN đã thấy giảm đau rõ rệt). Điều này giúp BN phục hồi chức năng vận động, tránh các biến chứng có thể gây tử vong cho người cao tuổi như: viêm phổi chẳng hạn… Cần lưu ý các chống chỉ định của thuốc là các BN suy thận nặng (có hệ số thanh thải creatinine < 35 ml/phút). Tuy nhiên, thuốc không cần chỉnh liều ở BN suy gan hoặc người cao tuổi (trên 65 tuổi).

Khác với các thuốc ức chế hủy xương dạng uống khác, zoledronic acid 5mg đảm bảo tốt hơn sự tuân thủ điều trị của BN vì chỉ cần truyền 1 liều duy nhất mỗi năm. Bác Nguyễn Văn Khải, 54 tuổi (Bắc Giang) đã điều trị LX bằng Aclasta cho biết: “Tôi có tiền sử bệnh dạ dày. Trước đây, tôi dùng thuốc LX dạng viên nên hay bị đau bụng và cơ thể bứt rứt, khó chịu. Sau khi được bác sĩ thay đổi phác đồ điều trị, chỉ cần truyền thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch một lần mỗi năm để bảo vệ xương, tôi thấy nhẹ cả người”.

Theo GS.TS Trần Ngọc Ân, Chủ tịch Hội Khớp học Việt Nam, zoledronic acid 5mg đã được y học thế giới chứng minh về hiệu quả: giảm tỷ lệ gãy xương như: gãy xương hông, gãy xương đốt sống (lún xẹp đốt sống) và gãy các xương khác; tăng mật độ chất khoáng của xương; phòng ngừa gãy xương lâm sàng mới sau gãy xương hông cả ở nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên, phương pháp này cần có sự chỉ định và theo dõi sát sao của bác sĩ, BN tuyệt đối không được tự ý sử dụng. Ngoài ra, để phòng ngừa tình trạng LX và điều trị LX, tránh biến chứng gãy xương, BN cần duy trì các bài tập thể dục thông thường có chịu đựng sức nặng của cơ thể (đi bộ, chạy bộ, khiêu vũ, tennis), các bài tập tăng sức mạnh của cơ (bài tập kháng lực, nhấc vật nặng, cử tạ…) nếu không có chống chỉ định (lưu ý là bơi không có tác dụng phòng chống LX). Ngoài ra, cần đảm bảo chế độ ăn giàu canxi trong suốt cuộc đời. Các BN đã LX cần phải tránh ngã. Nếu cần thiết có thể mặc “quần đùi” bảo vệ khớp háng để tránh gãy cổ xương đùi. Khi đã có biến dạng cột sống (gù, vẹo), cần đeo thắt lưng cố định cột sống để trợ giúp cột sống. cột sống để trợ giúp cột sống.

TUYẾT VÂN
Theo SKĐS

Bệnh loãng xương: Những quan niệm sai lầm

“Lớn tuổi rồi, đương nhiên là xương phải yếu, ăn nhiều tôm cua hoặc uống sữa sẽ không bị loãng (LX)…” là những quan niệm thường thấy của mọi người khi nói về LX. Thậm chí, rất nhiều người không nghĩ rằng, LX là bệnh mà chỉ là những triệu chứng chung chung của tuổi già mà thôi.

Những sai lầm phổ biến

BS. Trần Thanh Mỹ, Giám đốc Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM cho biết, thực tế có rất nhiều quan niệm chưa đúng trong việc nhận thức về bệnh LX cũng như trong việc phòng ngừa, phát hiện và điều trị bệnh. Trong đó, có những quan niệm sai lầm nhiều đến mức phổ biến.

benh_loang_xuong_nhung_quan_niem_sai_lam

Thường xuyên vận động, tập thể dục để duy trì hệ xương chắc khỏe.

Sai lầm nghiêm trọng nhất, theo BS. Mỹ là việc cho rằng: “Tôi không thể bị LX được vì tôi còn trẻ” hay “LX là căn bệnh của phụ nữ”. Thậm chí khi người có tuổi bị đau nhức, hoặc té gãy xương thì chỉ chặc lưỡi: “Già rồi còn gì!”… Nhưng, chúng ta cần hiểu rằng, LX là một loại bệnh không chừa một ai và mọi lứa tuổi đều có thể mắc phải, nhất là đối tượng trung niên và người cao tuổi. Ở phụ nữ, canxi bị thất thoát nhiều hơn trong giai đoạn tiền mãn kinh và sau mãn kinh, khi lượng hócmôn sinh dục nữ estrogen giảm, làm cho canxi không được giữ lại ở xương nên xương trở nên xốp, giòn hơn.

Liên quan đến tuổi, xương có 2 quá trình xảy ra song song là tiêu hủy xương và tái tạo xương. Ở người trẻ tuổi, phần xương bị mất đi sẽ được bù đắp dễ dàng. Ở tuổi 30, bộ xương đạt độ vững chắc nhất. Ở người lớn tuổi, mỗi ngày lượng xương được tạo ra ít hơn so với lượng xương mất đi, do đó dẫn đến tình trạng LX. Đặc biệt BS. Mỹ cho rằng, đối với người cao tuổi, không mấy người biết những dấu hiệu đặc trưng của bệnh LX. Có rất nhiều nguyên nhân gây gãy xương ở người cao tuổi nhưng nguyên nhân do LX chiếm tỉ lệ rất cao. Trong tổng kết mới đây tại TP.HCM và BV. Chấn Thương Chỉnh Hình cho thấy, có 85 – 95% người cao tuổi gãy xương là do LX, chỉ cần té nhẹ là có thể gãy xương rồi. Phổ biến nhất là: xẹp cột sống, gãy cổ xương đùi và đầu dưới xương quay.

Sai lầm thứ hai là nhiều người vẫn chỉ dựa vào nguồn canxi có trong thực phẩm để kiểm soát khả năng mắc bệnh LX. Thực ra, ăn uống đủ chất với thực phẩm bổ sung canxi chỉ là điều kiện cần để phòng ngừa LX, điều kiện đủ phải là vận động, vì qua vận động, canxi mới có thể được đưa vào xương. Ngoài ra, mật độ xương còn phụ thuộc vào một số thành phần khác như: phốt-pho, hormone, vitamin D… Và việc “ăn” canxi cũng có nguy cơ mắc bệnh LX, nếu điều này không được thực hiện đều đặn hàng ngày.

Bệnh diễn biến âm thầm và hậu quả nặng nề

Trên thực tế, LX có thể xảy ra với bất kỳ ai, lứa tuổi nào. Nhưng nhìn chung, bệnh thường tập trung vào người lớn tuổi, đặc biệt là phụ nữ. LX tiến triển âm thầm không gây đau đớn khiến người bệnh không hay biết để chữa trị, do đó, hậu quả để lại là rất nặng nề. Biến chứng của nó nguy hiểm không kém nhồi máu cơ tim và đột quị với tỷ lệ tử vong 20% và đến 50% bị thương tật vĩnh viễn. Và phần đông những bệnh nhân chưa có dấu hiệu lại khá chủ quan trong việc điều trị. “Vấn đề này thực sự khiến các bác sĩ chúng tôi phải lo lắng vì nếu không điều trị, bệnh sẽ nặng dần và gãy xương có thể xảy ra”, BS. Mỹ cho biết.

Biến chứng nặng nhất của LX là gãy xương mà điều trị gãy xương do LX là rất khó khăn và phức tạp. Tùy theo vị trí xương, loại xương bị gãy mà điều trị hoặc thay thế. Đặc biệt, các xương lớn như cổ xương đùi bị gãy thì việc điều trị trở nên vô cùng khó, mất nhiều thời gian và chi phí rất tốn kém. Do đó, có thể nói biến chứng của LX không chỉ nằm ở xương mà tác động tới toàn bộ cơ thể, làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng nguy cơ tử vong ở giai đoạn “hậu gãy xương”.

NGUYỄN TUÂN (ghi)
Theo SKĐS

Thuốc điều trị bệnh thoái hóa khớp gối và loãng xương

Phụ nữ sau mãn kinh do hiện tượng béo phì và giảm estrogen dễ mắc các bệnh như thoái hoá khớp gối và loãng xương. Không có đau nào giống đau nào, đau trong đợt tiến triển của thoái hoá khớp gối làm cản trở các hoạt động thường ngày của chị em, đau rút hai bên sườn làm các quý bà không thể ngồi lâu.

thuoc_dieu_tri_benh_thoai_hoa_khop_goi_va_loang_xuong

Bệnh thoái hóa khớp gối

Đây là bệnh rất thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh mà hậu quả dẫn đến tàn phế. Bệnh nhân đi lại khó khăn, bệnh nhân không thể ngồi xổm được, thậm chí có bệnh nhân không thể đứng được và phải ngồi xe lăn hoặc thay khớp gối. Giai đoạn sau mãn kinh, hiện tượng béo phì dễ xảy ra. Béo phì và giảm lượng estrogen trong máu sau mãn kinh là những yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp gối. Để khắc phục tình trạng này cần giảm cân nặng đối với người béo và có chế độ luyện tập đều đặn, điều trị thuốc hợp lý.

Các yếu tố nguy cơ gây thoái hoá khớp gối như béo phì, giảm hormon estrogen sau mãn kinh, người có lệch trục khớp (chân vòng kiềng hoặc chân chữ bát – H1). Ngoài ra còn do chấn thương, vi chấn thương khớp gối và yếu tố di truyền.

Điều trị thoái hoá khớp gối, ngoài việc giảm cân nặng với mục đích giảm quá tải lên khớp gối và giảm hiện tượng nứt sụn khớp. Tập luyện theo các bài tập cho khớp để chống cứng khớp gối ở tư thế gấp và để làm khoẻ các cơ quanh khớp. Phải sử dụng thuốc chống viêm trong đợt tiến triển của bệnh để ức chế các cytokine gây viêm màng hoạt dịch khớp. Ngày nay, ở nước ta có sản phẩm mới giúp ức chế interleukin-1 như artrodar, mỗi ngày có thể sử dụng từ 50 – 100 mg/ngày (uống 2 viên /ngày vào hai bữa ăn chính, từ 3 – 6 tháng). Artrodar có vai trò ức chế tổng hợp interleukine-1, ức chế sự hoạt hoá interleukine-1 và kích thích quá trình đồng hoá.

Cortiocoid tiêm nội khớp chỉ nên sử dụng trong trường hợp có tràn dịch khớp gối, dịch nhiều kích thích xương dưới sụn và gây đau, sau khi đã hút dịch khớp gối ở phòng đảm bảo vô trùng, thầy thuốc chuyên khoa sẽ chỉ định tiêm nội khớp. Corticoid dạng tiêm nội khớp cũng không được lạm dụng tiêm khớp quá nhiều lần có thể gây loãng xương.

Hiện nay, ở nước ta nhiều bệnh nhân thoái hoá khớp gối đã được điều trị với axit hyaluronic tiêm vào khớp gối. Axit hyaluroníc có trong thành phần dịch khớp, khi khớp gối khô bồi phụ thuốc này có tác dụng làm giảm đau, tác dụng đàn hồi và thay đổi độ nhớt, cải thiện vận động của khớp.

Điều trị ngoại khoa khi mà điều trị nội khoa không còn hiệu quả, có thể thay khớp gối hoặc cắt xương chỉnh trục.

Loãng xương

Bệnh này thường xuất hiện sau mãn kinh là do nồng độ estrogen của buồng trứng tiết ra bị giảm. Loãng xương là một bệnh được đặc trưng bởi giảm khối lượng xương của cơ thể, tổn hại vi cấu trúc của bè xương dẫn đến xương giòn và tăng nguy cơ gãy xương. Tốc độ mất xương giai đoạn mãn kinh từ 1 – 3% mỗi năm, kéo dài 5 – 10 năm sau khi mãn kinh. Vì vậy ở giai đoạn này người ta khuyên dùng liệu pháp hormon thay thế 17 beta estradiol dưới dạng viên uống với thời gian từ 7-9 năm phòng được xẹp đốt sống. Điều trị hormon thay thế cần theo dõi thường xuyên của thầy thuốc chuyên khoa để tránh các bệnh do thuốc gây ra. Bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép DEXA (Dual energy X ray absorptiometry) đo mật độ xương ở cột sống thắt lưng hoặc cổ xương đùi để biết được mật độ xương: bình thường, giảm mật độ xương hay loãng xương. Loãng xương thường không có biểu hiện gì, bệnh nhân xuất hiện đau nghĩa là đã có gãy xương như gãy đốt sống hoặc gãy cổ xương đùi.

Hoàn cảnh phát hiện loãng xương: gãy xương, đau cột sống thắt lưng, giảm chiều cao, biến dạng cột sống gù – vẹo.  Giảm chiều cao trong loãng xương (H2).

Các yếu tố dẫn đến nguy cơ loãng xương: mãn kinh sớm tự nhiên hoặc do mổ xẻ cắt tử cung, buồng trứng; tiền sử gia đình bị loãng xương, xẹp đốt sống; hoặc điều trị corticoid kéo dài liều mạnh; hoặc mắc bệnh cường giáp, hoặc cắt dạ dày, hoặc bất động kéo dài; hút thuốc lá, nghiện rượu, người gầy. Vị trí xương hay bị gãy: cột sống, cổ xương đùi, cổ tay.

Phòng bệnh: Loại bỏ các yếu tố nguy cơ loãng xương, hoạt động thể lực đều đặn, đi bộ ít nhất 1 giờ, 3 lần mỗi tuần. Bổ sung đủ canxi là để tránh cường cận giáp thứ phát ở trường hợp do thiếu canxi, lượng canxi tối thiểu 1.000mg/ngày. Liệu pháp hormon thay thế ở giai đoạn mãn kinh khi có chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa.

Điều trị loãng xương như tránh té ngã, bồi phụ calcium và vitamin D hàng ngày. Điều trị thuốc bisphosphonate theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ở Nhật và Canada sử dụng nhiều vitamin K2 (Glakay), ngoài tác dụng chống vôi hoá động mạch chủ còn có tác dụng phòng ngừa loãng xương.

TS. Mai Thị Minh Tâm
(Trung tâm Xương khớp – Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện E)
Theo SKĐS

Phụ nữ thành thị loãng xương nhiều hơn phụ nữ nông thôn

Loãng xương (LX) là một bệnh lão hóa của hệ thống xương của cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Do vậy bất kỳ phụ nữ nào khi bước vào tuổi 55-60 cũng có thể bị LX. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, quá trình lão hóa xương xuất hiện sớm hơn, thậm chí cả ở những người phụ nữ trẻ tuổi. LX có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì gãy xương do LX để lại những hậu quả nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

phu_nu_thanh_thi_loang_xuong_nhieu_hon_phu_nu_nong_thon

Loãng xương ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.

Các nguyên nhân gây LX ở phụ nữ thành thị

Chính sự thay đổi môi trường sống là một yếu tố nguy cơ gây LX. Hiện nay cùng với việc gia tăng tốc độ đô thị hóa đến chóng mặt, thì tỷ lệ LX ngày càng cao ở các đô thị. Phụ nữ ở thành thị có nguy cơ LX cao hơn ở nông thôn. Tuổi thọ đang cao lên cũng làm tăng gãy xương do LX ở châu Á. Các yếu tố sinh hoạt, ăn uống, vận động của từng cá nhân cũng làm gia tăng nguy cơ LX cho phụ nữ sống ở các đô thị. Phụ nữ bận rộn thường có chế độ ăn uống thất thường, do vậy lượng canxi đưa vào thấp mới chỉ 400mg trong khi đó cơ thể cần 800-1.000mg canxi hằng ngày. Cần chú ý rằng một số phụ nữ trẻ có chứng chán ăn do thần kinh, do áp dụng một số biện pháp nhịn ăn để giữ eo. Do vậy thường xảy ra sự thiếu hụt canxi cũng như cả các chất đạm cần thiết cho xây dựng khung xương của cơ thể. Phơi nắng là một yếu tố vô cùng quan trọng để cơ thể có thể tự sản xuất ra vitanin D, cần thiết cho hấp thu canxi vào xương. Cần chú ý rằng lạm dụng việc sử dụng kem chống nắng cũng làm giảm hấp thu vitamin D từ đó lượng vitamin D cần thiết là 400-1.000UI. Ở miền Bắc Ấn Độ có tới hơn 40% dân chúng bị thiếu hụt vitamin D. Lối sống tĩnh tại như ngồi lâu trong văn phòng, ít đi lại cũng gây LX. Cần chú ý rằng tập thể lực quá mức dẫn đến vô kinh. Tình trạng mất kinh xảy ra cả ở các nữ vận động viên điền kinh. Chế độ làm việc căng thẳng bận rộn, nhiều stress gây đau dạ dày, khiến cơ thể kém hấp thu các chất, kể cả canxi và vitamin D rất cần cho khung xương của cơ thể. Stress cũng gây rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh sớm, là yếu tố nguy cơ cao gây LX. Hiện nay phụ nữ có xu hướng gia tăng hút thuốc lá và uống rượu, đặc biệt ở các vùng núi và uống cà phê ở thành phố. Chính các thói quen xấu này cũng làm gia tăng nguy cơ LX. Hút thuốc lá một bao mỗi ngày trong suốt giai đoạn trưởng thành có thể làm mất từ 5-10% khối lượng xương của cơ thể.

Phòng ngừa loãng xương như thế nào?

Chế độ ăn cần đa dạng, bảo đảm đầy đủ đạm và khoáng chất đặc biệt là canxi. Sữa và các sản phẩm chế tiến từ sữa (bơ, phomat, yaourt…), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Các thực phẩm như tôm, tép, cua, cá, vừng, rau ngót, rau thơm, rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, tào phớ, xúp lơ… đều giàu canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Ngoài ra cần bổ sung vitamin D, có trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, trai, sò… để cơ thể hấp thu được canxi. Nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, bắp cải, tỏi, yến mạch, lạc… vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương. Uống trà thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ LX do trong trà có nhiều hợp chất tạo xương. Cần có chế độ tập luyện thường xuyên  phù hợp với sức khỏe và từng lứa tuổi. Cần tập thể dục đều đặn 30 phút mỗi ngày, đi bộ nhanh, chạy chậm, tập thể dục thẩm mỹ. Ngoài ra cần tăng thời gian hoạt động ngoài trời hoặc tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Để duy trì mật độ xương hợp lý cần tránh các thói quen xấu như uống rượu, cà phê, hút thuốc lá.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Khoa khớp – BV Bạch Mai
Theo SKĐS

Bệnh loãng xương và người cao tuổi

Người cao tuổi phải đối đầu với vấn đề giảm sút sức khỏe và có nguy cơ mắc khá nhiều bệnh lý, đặc biệt là bệnh loãng xương (LX). LX hiện là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Số người bị bệnh LX ngày càng tăng trên khắp thế giới, đặc biệt người Việt Nam với chế độ ăn nghèo canxi nên nguy cơ bị LX tăng cao. Ước tính trung bình có 1/3 phụ nữ và 1/5 nam giới trên thế giới bị LX.

Nguyên nhân gây LX

Bệnh LX thông thường do một số nguyên nhân gây nên như: suy giảm hormone sinh dục gặp ở phụ nữ tuổi mãn kinh; do chế độ ăn không cung cấp đủ canxi hoặc cơ thể không hấp thu được canxi như: ăn uống kiêng cử kéo dài, chế độ ăn nghèo nàn, kém chất lượng; do mắc một trong các bệnh hoặc yếu tố nguy cơ: bệnh tuyến thượng thận, cường giáp trạng, suy thận mãn tính, bệnh yếu liệt chi hoặc do chấn thương phải nằm bất động lâu dài; do lạm dụng thuốc có corticoid trong thời gian dài…

benh_loang_xuong_va_nguoi_cao_tuoi

Triệu chứng

Quá trình bệnh LX diễn ra âm thầm và có thể trong suốt một giai đoạn dài, người bệnh không có triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi có triệu chứng thì thường là bệnh đã nặng. Đau cột sống lưng hoặc cột sống thắt lưng cấp tính xảy ra, do nén cột sống đột ngột sau một gắng sức nhẹ. Lún đốt sống, gù còng, nứt hoặc gãy cổ xương đùi, xương cẳng tay, cổ tay xảy ra sau một va chạm mạnh hay chấn động nhẹ…

LX làm giảm chất lượng cuộc sống

Giảm mật độ xương và LX có thể gây đau lưng, đau chân tay, các khớp và mỏi bại hông và dễ dàng bị gãy xương do té ngã. Mỗi 30 giây, trên thế giới có 1 người bị gãy xương do LX. Người ta dự đoán đến năm 2050, các nước châu Á trong đó có Việt Nam sẽ chiếm 50% trường hợp tàn phế hoặc đe dọa tính mạng do gãy khớp háng vì LX.

Người cao tuổi bị gãy xương dễ tử vong và mắc nhiều bệnh sau gãy xương như: viêm đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa… và bị di chứng phải có người trợ giúp suốt đời.

Biện pháp hạn chế LX

Tăng thêm thức ăn giàu canxi: việc bổ sung canxi vào thức ăn hoặc sử dụng nguồn thức ăn giàu canxi (như: sữa và các chế phẩm từ sữa…) là rất cần thiết. Người cao tuổi cần nhiều lượng canxi hơn người trẻ, vì độ hấp thu của họ kém hơn.

Lượng protein trong khẩu phần ăn hàng ngày nên vừa phải, vì ăn nhiều protein sẽ làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Ăn thêm nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen thực vật (như giá đỗ…), vì chúng có tác dụng làm thay đổi sự chuyển hóa của xương: chúng làm giảm tốc độ mất xương và làm tăng khoáng chất trong xương.

Phải tăng cường thời gian hoạt động (hoặc tắm nắng…) để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể.

Hoạt động thể lực vừa phải, không nghiện rượu và duy trì cân nặng hợp lý, vì gầy cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh LX.

Đặc biệt ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh, có thể dùng liều estrogen (theo chỉ dẫn của bác sĩ) để phòng LX hoặc dùng canxitone thay thế, vì nó ức chế hoạt động của tế bào tiêu xương và ngăn cản chất xương bị hấp thụ.

Nhu cầu canxi hàng ngày của người cao tuổi là 1.200mg canxi. Các thực phẩm như: rau, cá, thịt, đậu hũ, tôm, cua… mà bạn ăn hàng ngày cung cấp cho bạn khoảng 300mg canxi. Như vậy, bạn cần phải bổ sung thêm khoảng 900mg canxi từ sữa và các sản phẩm sữa.

Biện pháp phát hiện LX

Để phát hiện sớm bệnh LX nếu có điều kiện các bạn cần khám sức khỏe định kỳ. Bác sĩ sẽ cho bạn làm một số xét nghiệm để phát hiện sớm bệnh LX và theo dõi tiến triển của bệnh, trong điều kiện hiện nay có thể làm 2 xét nghiệm là:

1. Chụp X-quang xương sống và xương tay chân, đây là xét nghiệm rẻ tiền và dễ thực hiện ở cơ sở y tế nào cũng có. Nhưng có hạn chế là khi thấy được LX trên phim X-quang thì bệnh đã trong giai đoạn muộn, xương đã bị mất khá nhiều.

2. Xét nghiệm đo mật độ xương, giúp đánh giá được khối lượng xương có thể phát hiện LX sớm hơn.

Ngoài ra, để khảo sát bệnh hoặc tìm nguyên nhân, bác sĩ có thể cho làm thêm nhiều xét nghiệm khác.

BS. Quốc Bảo
Theo SKĐS

Những yếu tố gây bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương xảy ra khi cơ thể không thể bù đắp lượng canxi xương tương xứng với lượng canxi đã mất. Bệnh thường diễn ra cùng với sự lão hóa của cơ thể, đặc biệt ở phụ nữ.

nhung_yeu_to_gay_benh_loang_xuong

Theo các chuyên gia, ước tính mỗi năm có hơn 1,5 triệu người Mỹ bị gãy xương liên quan tới bệnh loãng xương.

Hội phẫu thuật chỉnh hình Mỹ đã đưa ra một số yếu tố thường gặp có thể gây bệnh loãng xương, bao gồm: tuổi cao; chưa thực hiện đủ các bài tập giảm cân; thiếu hụt nồng độ estrogen sau mãn kinh; không bổ sung đủ canxi hoặc vitamin D trong chế độ ăn; mất sự cân bằng một số hormon; do yếu tố di truyền, trong đó có yếu tố chủng người da trắng hoặc người châu Á; thói quen uống rượu hoặc hút thuốc lá.

Minh Quang (Theo HealthDay News, 17/7/2008)
Theo SKĐS

Bệnh loãng xương và cách dùng thuốc

Loãng xương là căn bệnh rất phổ biến ở người cao tuổi, nhất là ở phụ nữ, thường từ thời kỳ mãn kinh trở đi. Bệnh tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng nếu không được phát hiện và có biện pháp theo dõi, đề phòng, chữa trị kịp thời, đúng mức, sẽ gây những hậu quả nặng nề: rạn vỡ, gãy xương (tay chân, cột sống, xương chậu, xương sườn…), gây gù vẹo, tật nguyền suốt đời, hạn chế khả năng lao động, suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống.

Căn bệnh này là căn bệnh mạn tính, tiến triển từ từ, âm thầm nên ít gây chú ý, khó tự phát hiện – khó chữa trị, chữa trị lâu dài, công phu, lại có tính chất rất phổ biến nên ngay cả ở các nước phát triển như các nước Âu , Mỹ…, ngành y tế, các tổ chức xã hội, hết sức chú ý quan tâm. Ở nước ta, do trình độ hiểu biết về bệnh tật còn hạn chế, điều kiện thăm khám, phát hiện sớm cũng như điều kiện chữa trị lâu dài có khó khăn nên nhiều người dân, nhất là ở nông thôn, miền núi, đã và đang là nạn nhân của căn bệnh này.

Loãng xương là một bệnh thường gặp trong các chứng bệnh về xương. Sự mỏng mảnh thái quá của xương sẽ gây ra gãy, rạn vỡ “tức khắc”  hoặc dần dần sau mỗi chấn thương nhỏ nhất như một cú ngã từ tư thế đứng chẳng hạn. Người ta ước lượng khoảng 30 – 40% những người trên 50 tuổi sẽ bị gãy xương do loãng xương cho đến khi mãn cuộc đời. Gãy xương cổ tay xảy ra sớm nhất (55 tuổi), sau 60 tuổi xuất hiện gãy cột sống, trước kia được gọi là chứng “dồn cột sống”. Từ tuổi 75 gãy cổ xương đùi thường gặp và nghiêm trọng hơn cả.

benh_loang_xuong_va_cach_dung_thuoc

Những đối tượng nào hay bị mắc chứng loãng xương?

Có 7 yếu tố chính tạo thuận lợi cho căn bệnh:

– Giới tính: phụ nữ thường bị nhiều hơn nam giới.

– Di truyền: đối tượng có mẹ đã bị gãy cổ xương đùi có nguy cơ nhiều hơn.

– Tuổi tác: nguy cơ loãng, gãy xương xuất hiện sau tuổi 50 và sẽ tăng gấp đôi ở 10 năm sau.

– Nhẹ cân: bệnh thường có ở những người có chỉ số khối lượng cơ thể đo bằng chỉ số IBM = Trọng lượng (kg)/ chiều cao (mét)2 – dưới 19.

– Bị nhiễm độc thuốc lá: từ lâu hoặc mới bị.

– Dùng các dược phẩm có corticoid kéo dài quá 3 tháng trở lên.

– Có một số bệnh về nội tiết, tiêu hóa, thận và hô hấp.

Triệu chứng và tiến triển của bệnh

Bệnh tiến triển thời kỳ đầu rất âm thầm. Mật độ xương giảm dần một cách tất yếu từ tuổi 50, nhưng không gây đau đớn gì. Vì vậy cần phải phát hiện bệnh bằng cách đo mật độ xương ở các cơ sở y tế có chuyên khoa xương. Ở một số nữ bệnh nhân, sự suy giảm mật độ xương là việc rất hệ trọng, thường đi kèm với sự rối loạn về chất lượng xương khiến cho bộ xương trở nên mỏng mảnh, rồi xuất hiện sự gãy xương đầu tiên. Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh tiến triển và làm tăng thêm nguy cơ gãy xương tiếp. Trong những thể nặng hơn, có thể phát hiện tới 3, 4, thậm chí 5 chỗ gãy. Gãy xương sống, gãy cổ xương đùi là trường hợp nghiêm trọng nhất thường thấy ở những người cao tuổi hoặc người có tình trạng sức khỏe kém. Một năm trên thế giới có khoảng 60.000 trường hợp thay chỏm xương đùi vì gãy cổ xương đùi.

Phòng ngừa và chữa trị loãng xương

Có thể phòng ngừa bệnh loãng xương nhưng cần được tiến hành sớm, ngay từ tuổi trưởng thành. Ở giai đoạn này của cuộc đời, có 3 nguyên tắc quan trọng cần tuân thủ:

1. Tiêu thụ 3 sản phẩm sữa trong một ngày.

2. Tập thể dục hoặc hoạt động thể chất ít nhất ba giờ một tuần.

3. Không hút thuốc lá.

– Với các phụ nữ có mật độ xương không quá thấp, chỉ cần hãy ngừng hút thuốc lá, tập thể dục và hoạt động thể lực đều đặn, tiêu thụ 3 sản phẩm sữa mỗi ngày và các loại nước khoáng giàu canxi là đủ.

– Với những phụ nữ mà mật độ xương thấp, lại có rối loạn của thời kỳ mãn kinh, bác sĩ có thể chỉ định từng thời kỳ, phương thức chữa trị nội tiết hỗ trợ có tác dụng bảo vệ hệ xương.

– Cuối cùng với những phụ nữ mà mật độ xương thấp rõ rệt, nhưng không có những rối loạn của thời kỳ mãn kinh hoặc không muốn sử dụng phương thức điều trị nội tiết ví dụ trong trường hợp đã phẫu thuật ung thư vú… bác sĩ có thể chỉ định phương thức điều trị bằng thuốc.

Các loại thuốc được sử dụng

– Raloxifen sẽ có tác dụng như một loại nội tiết tố sinh dục nữ oestrogen kích thích sự tạo xương trên bộ xương nhưng lại là một chất kháng đối với ung thư vú. Nó bình ổn “vốn xương” giảm nguy cơ gãy hệ cột sống nhưng đồng thời nó cũng làm tăng nguy cơ gây chứng viêm tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch. Vì vậy chống chỉ định với bệnh nhân có tiền sử về các vấn đề thuộc hệ tĩnh mạch và phải ngừng sử dụng trong trường hợp nằm viện kéo dài.

– Các biphosphonat bao gồm: alendronat và risesdronat có hiệu quả trong việc chữa trị giảm thiểu nguy cơ gãy xương cột sống và cổ xương đùi.

– Ranélate de strongtium cũng có hiệu quả đối với cột sống và cổ xương đùi, nhưng chống chỉ định trong các trường hợp có tiền sử viêm tắc tĩnh mạch.

Sau khi xảy ra gãy xương do chứng loãng xương việc sử dụng thuốc chữa trị còn tùy thuộc tuổi tác của người bệnh. Sau 70 tuổi người ta dùng chủ yếu hai loại biphosphonat, ranélate de strongtium vì tính hiệu quả của chúng đối với nguy cơ gãy cổ xương đùi. Với những phụ nữ bị loãng xương nghiêm trọng, có thể dùng một loại dược phẩm tiêm dưới da, đó là chất tériparatide 1 mũi tiêm/ ngày trong vòng 18 tháng. Cách điều trị này sẽ kích thích mạnh mẽ sự tái tạo xương của các “tế bào tạo xương”; cũng rất có lợi nếu dùng các sản phẩm dinh dưỡng bổ sung canxi và vitamin D.

Theo SKĐS

Trầm uất cũng có thể gây loãng xương

Như chúng ta đã biết một người bị bệnh trầm uất sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống và sức khỏe. Một trong những tác hại vừa được các nhà khoa học thuộc Trường đại học Case Western Reserve (Mỹ) đưa ra đó là có thể gây loãng xương cho phụ nữ.

tram_uat_cung_co_the_gay_loang_xuong

Để có được kết luận trên, các nhà khoa học đã tiến hành so sánh mật độ xương và số liệu về các yếu tố cấu thành xương và hoạt động hormon ở 89 phụ nữ tiền mãn kinh đang hoặc từng bị trầm uất nghiêm trọng và 44 phụ nữ mạnh khỏe không có tiền sử với căn bệnh này. Kết quả thu được là, ở nhóm phụ nữ bị trầm uất, 17% có mật độ khoáng trong xương thấp ở phần trên đùi, so với 2% ở nhóm không có tiền sử với trầm uất, trong khi 15% phụ nữ bị trầm uất có mật độ khoáng trong xương ở hông so với 2% ở nhóm đối chứng. Mật độ xương thấp ở phần dưới lưng được ghi nhận ở 20% phụ nữ bị trầm uất và 9% ở những người không bị trầm uất.

Hạnh Như (Theo AFP, 12/2007)
Theo SKĐS

Suy nhược thần kinh có thể làm tăng nguy cơ loãng xương ở phụ nữ

Một nghiên cứu tiến hành bởi Viện nghiên cứu sức khỏe tâm thần quốc gia, Mỹ thấy rằng, một căng thẳng thần kinh dù rất nhỏ cũng có thể làm tăng nguy cơ loãng xương ở phụ nữ chưa mãn kinh.

Nghiên cứu tiến hành bởi TS. Giovanni Gazza và TS. Fariheh Eskandari với 133 phụ nữ tuổi từ 21 – 45, có vị trí kinh tế, xã hội cao, dinh dưỡng tốt. Trong đó có 89 người bị suy nhược thần kinh các mức độ, còn lại không có bất kỳ căng thẳng thần kinh nào.

suy_nhuoc_than_kinh_co_the_lam_tang_nguy_co_loang_xuong_o_phu_nu

Tất cả những người tham gia đều được chụp Xquang kiểm tra xương với một phương pháp đặc biệt gọi là chụp PXA. Họ thấy rằng:

Trong nhóm phụ nữ bị căng thẳng thần kinh có 17% có dấu hiệu mất xương cổ xương đùi, trong khi chỉ 2% phụ nữ trong nhóm còn lại bị loãng xương tại vị trí này.

Trong nhóm phụ nữ căng thẳng thần kinh có 20% giảm khối lượng xương cột sống thắt lưng, trong khi nhóm còn lại chỉ là 9%.

Theo TS. Giovanni, tình trạng căng thẳng tâm lý do các stress khác nhau chính là lá cờ đỏ báo hiệu sớm tình trạng loãng xương cho phụ nữ chưa mãn kinh.

Đàm Chính (Theo Archives of Internal Medicine, 11/2007)
Theo SKĐS