Tag Archives: phụ nữ trung niên

Nguyên nhân gây rối loạn ăn uống ở phụ nữ tuổi trung niên

Chứng biếng ăn và cuồng ăn từng được xem là những vấn đề sức khỏe làm các cô gái tuổi thiếu niên phải ưu phiền. Tuy nhiên, các bác sĩ phát hiện rằng hiện ngày càng có nhiều phụ nữ lớn tuổi hơn cũng được chẩn đoán bị một dạng rối loạn ăn uống nào đó.

Bác sĩ Alexander Sackeyfio, một chuyên gia về tâm thần học và rối loạn ăn uống thuộc Bệnh viện Beaumont ở Royal Oak, bang Michigan nói rằng: “Chứng rối loạn ăn uống có thể xảy đến với bất kỳ ai vào bất kỳ giai đoạn nào trong đời. Tôi nghĩ rằng chúng ta ngày càng biết đến chứng này nhiều hơn và có thể chẩn đoán nó tốt hơn.”

Ông Doug Bunnell, giám đốc lâm sàng thuộc Trung tâm Renfrew ở Wilton, bang Connecticut nói rằng: Người ta thường có khuynh hướng mắc phải một sai lầm khác trong việc nhận thức về các rối loạn ăn uống là: họ cho rằng đó là các bệnh tâm lý nhưng lành tính có thể được điều trị dễ dàng và không để lại những ảnh hưởng nào lâu dài về thể chất.

roi-loan-an-uong

Ông Bunnel cũng là một thành viên trong ban giám đốc của Hiệp hội về các Rối loạn Ăn uống Quốc gia. Ông nói: “Người ta thường ngạc nhiên khi biết rằng các rối loạn ăn uống này có tử suất cao nhất, khoảng 10-15% trong các chẩn đoán về bệnh tâm thần.”

Theo Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia thì chứng biếng ăn làm người ta giảm cân đáng kể do chế độ ăn uống quá ép buộc hoặc cực đoan. Có khoảng 0,5-3,7% phụ nữ bị chứng biếng ăn tâm lý vào một thời điểm nào đó trong đời.

Những người bị chứng biếng ăn thường tự cho rằng mình bị quá cân mặc dù họ ốm đến mức nguy hiểm. Việc ăn uống trở nên nỗi ám ảnh kinh hoàng và hình thành các thói quen ăn uống bất thường như chỉ ăn một ít thức ăn, và ăn từng miếng nhỏ với số lượng được cân đo kỹ càng.

Chứng cuồng ăn có đặc trưng là ăn uống no say vô độ để rồi sau đó tống tháo ra bằng cách nôn mửa, dùng thuốc nhuận tràng hoặc tập thể dục quá độ. Có khoảng 1,1-4,2% phụ nữ Mỹ sẽ bị chứng cuồng ăn tâm lý trong đời.

Do tống tháo thức ăn ra ngoài nên người bị chứng cuồng ăn thường cân nặng trong giới hạn bình thường tính theo tuổi và chiều cao của họ. Tuy nhiên, họ cũng sợ bị tăng cân như người bị chứng biếng ăn. Do đó, họ thường có những hành vi ăn uống vô độ bí mật, cảm thấy bị ghét và hổ thẹn khi ăn uống như vậy, nhưng lại cảm thấy nhẹ nhõm sau khi họ tống tháo được hết ra ngoài.

Ông Bunnel nói rằng ông nhận thấy ngày càng có nhiều phụ nữ tuổi trung niên hoặc thậm chí lớn hơn đến điều trị chứng rối loạn ăn uống. Tuy nhiên, ông không chắc là tất cả có phải là những ca mới phát bệnh sau này hay không.

Ông nói: “Kinh nghiệm của tôi là hầu hết tất cả những phụ nữ ở độ tuổi 30 và 40 mà tôi đã gặp có những triệu chứng của rối loạn ăn uống đều đã từng có một vài biểu hiện của chứng này trước đây khi họ còn ở độ tuổi thường mắc bệnh. Có thể lúc đó bệnh không được chẩn đoán, hoặc không nghiêm trọng lắm. Tuy nhiên, họ đã từng có lúc phải thật sự chịu đựng căn bệnh này. Chúng tôi thường không gặp nhiều ca bị rối loạn ăn uống chỉ mới phát bệnh hoặc bệnh ngoài dự đoán ở phụ nữ lớn tuổi.”

Các bác sĩ khác tin rằng sự thay đổi kích thích tố gần giai đoạn mãn kinh cũng như những thay đổi ở tuổi trung niên như ly dị hoặc con cái trưởng thành ra ở riêng có thể gây ra chứng rối loạn ăn uống. Khi gia đình thay đổi, một số phụ nữ nhận thấy họ vẫn còn muốn có cảm giác nắm quyền và đó là một trong những nhu cầu mà chứng rối loạn ăn uống có thể đáp ứng.

Bác sĩ Sackeyfio nói rằng vấn đề rắc rối đối với những bệnh nhân nữ lớn tuổi đến điều trị bệnh ở tuổi xế chiều là họ có thể khó có được sự giúp đỡ mà họ cần. Trong nhiều thập niên qua, việc điều trị chỉ nhắm đến phụ nữ trẻ, và chỉ trong thời gian gần đây mới bắt đầu mở rộng lĩnh vực trị liệu bệnh này sang điều trị cho cả phụ nữ lớn tuổi, và nam giới.

Ông nói: “Không ai đáp ứng các nhu cầu của họ. Đôi khi đó cũng là vấn đề mà nam giới gặp phải.”

Ông Bunnel cho biết những người biếng ăn có khuynh hướng lo lắng về vóc dáng và cân nặng của họ, và họ thường hay lo lắng, cầu toàn và bị rối loạn về ám ảnh-ép buộc. Ngược lại, người cuồng ăn có khuynh hướng bị trầm cảm và bốc đồng và thường phải khổ sở với những vấn đề về dinh dưỡng – lạm dụng

Ông Bunnel nói: “Biếng ăn thường kiểm soát thái quá, căng thẳng và cứng nhắc, còn cuồng ăn ít được kiểm soát hơn, bốc đồng và không điều chỉnh được.”

Bác sĩ Sackeyfio nói rằng phươngpháp điều trị các rối loạn ăn uống cũng có nhiều tiến bộ và ngày nay các Bác sĩ nhấn mạnh hướng làm việc theo nhóm. Ông nói: “Lúc đầu, người ta xem chứng rối loạn ăn uống là một vấn đề tâm lý, nhưng nó nhanh chóng trở thành một vấn đề thuộc thể chất. Bạn cần có một người nào đó hiểu được những thay đổi về thể chất này để cùng làm việc nếu bạn là một nhà trị liệu.”

Bác sĩ Sackeyfio cho biết: Lý tưởng nhất là một người nào đó bị rối loạn ăn uống cần phải làm việc với một nhóm bao gồm bác sĩ tâm thần, bác sĩ dinh dưỡng và bác sĩ nội tổng quát.

Ông nói rằng điếu quan trọng nhất là những người xung quanh người bị rối loạn ăn uống cần phải hiểu rằng người bệnh thật sự bị mất kiểm soát và cần được giúp đỡ.

Ông nói: “Họ không phải là những đứa bé hư hỏng đang cố gắng gây khó khăn cho những người xung quanh. Họ hầu như không kiểm soát được những thay đổi về thể chất mà họ gây ra trong cơ thể mình.”

Theo HealthDay News

Bệnh hay gặp ở phụ nữ trung niên

Phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên thường gặp những bệnh bỗng từ đâu đến khiến họ bối rối và khó khăn khi xử trí. Ðó là những cơn bốc hỏa đột ngột, chân tay nhức mỏi thường xuyên, đau đầu triền miên, hay bị hồi hộp, khó thở…

Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người, nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Tuổi mãn kinh, phụ nữ rất dễ bị loãng xương, đặc biệt những người nhỏ bé, người tiền căn gia đình bị loãng xương, mãn kinh sớm hay bị cắt buồng trứng. Khi bị loãng xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hông, xương đùi, cổ xương đùi, xương cẳng chân, bị đau lưng và còng lưng do cột sống bị sụp. Loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu canxi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng thuốc có chứa chất steroid… cũng dễ bị loãng xương.

Phòng ngừa: Cần có chế độ ăn uống tăng canxi ngay từ tuổi vị thành niên, vận động và tập thể dục vừa sức, đồng thời tránh các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu, dùng thuốc corticoid. Nên bổ sung 1.000mg canxi và 200 – 4.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D để giúp xương phát triển tốt, nhất là từ nguồn thực phẩm, thức ăn hàng ngày. Nên dùng sữa có hàm lượng chất béo thấp (3 cốc/ngày). Việc khám sức khỏe định kỳ là hết sức cần thiết với phụ nữ trung niên. Để sống khỏe mạnh ở tuổi mãn kinh, cần giữ cân nặng bình thường, ổn định huyết áp, giảm mỡ máu, vận động nhiều, ăn ít chất béo, tăng cường rau xanh, trái cây, chất xơ, tập thể dục đều đặn.

benh-hay-gap-o-phu-nu-trung-nien

Hội chứng tiền mãn kinh

Người phụ nữ trong thời kỳ phát triển, cơ thể liên tục tiết ra estrogen – nội tiết tố nữ – để tạo ra các đặc tính của phái nữ. Sang tuổi mãn kinh, buồng trứng trong cơ thể phụ nữ không phát triển, nội tiết tố không tiết ra nữa, bắt đầu thiếu hụt estrogen. Vùng khung chậu bị ảnh hưởng, rất dễ sinh ra các bệnh viêm âm đạo, ngứa âm hộ, rong kinh, âm đạo khô, giao hợp khó khăn…, có thể dẫn đến bệnh sa sinh dục, sa bàng quang, són tiểu. Thiếu estrogen cũng ảnh hưởng tới tâm thần kinh, tuyến nội tiết, hệ vận mạch, gây ra nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, bị bốc hỏa từng cơn, chóng mặt, hồi hộp không lý do, đau nhiều nơi trên cơ thể, dễ cáu gắt, sinh ra những lo âu, dễ buồn tủi… Phòng ngừa: Có thể uống estrogen thay thế nội tiết buồng trứng khi mãn kinh để điều hòa cơ thể, song phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Ung thư vú

Đây là nỗi ám ảnh của phụ nữ tuổi trung niên – căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Có tới 18% phụ nữ tuổi 40 chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, tăng 77% ở tuổi trên 50. Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ trung niên: gia đình có mẹ hoặc chị em ruột bị ung thư vú, nguy cơ tăng gấp 3 – 5 lần; béo phì: nguy cơ gấp 3 lần; không cho con bú sữa mẹ hoặc không sinh con, hoặc có con đầu lòng quá muộn; dậy thì sớm và mãn kinh muộn.

Để phòng bệnh này, ngoài thực hiện lối sống lành mạnh; hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ, thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo; không nên uống rượu, đồ uống kích thích, không hút thuốc lá; tăng cường luyện tập… chị em nên tự khám mỗi tháng xem có gì bất thường ở ngực, nhũ hoa… đồng thời cần được khám định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa mỗi năm một lần. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đổi kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực… thì có thể là dấu hiệu ung thư vú, hãy nhanh chóng đến các cơ sở khám bệnh chuyên khoa để kiểm tra và điều trị khi khối u còn nhỏ.

Bệnh tim mạch

Ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormon sinh dục nữ (estrogen), các hormon sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Khi đến tuổi tiền mãn kinh, lượng hormon sinh dục bị giảm đáng kể và bắt đầu giai đoạn bùng nổ các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành…) ở phái nữ với diễn biến rất phức tạp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu người ta thấy rằng, liệu pháp hormon thay thế không thể giúp được phụ nữ ở tuổi mãn kinh phòng ngừa được sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Ngoài sự thay đổi nội tiết, nguyên nhân khiến phụ nữ ở độ tuổi này mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với các độ tuổi khác và nhiều hơn nam giới là do tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 cao hơn, hay bị các rối loạn tuyến giáp hơn, có nhiều vấn đề (áp lực) trong gia đình và công việc hơn so với nam. Hệ thống tim mạch ở phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi có tác động của các tác nhân độc hại, ví dụ thuốc lá, rượu bia… Bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành ở phụ nữ diễn biến phức tạp hơn, hiệu quả chữa trị kém hơn (các phương pháp can thiệp mạch vành hiện đại như thông mạch vành bằng cách đặt stent, nong mạch và nối mạch thông đạt hiệu quả thấp ở phụ nữ), nên vấn đề phòng bệnh, phát hiện và chữa trị kịp thời các bệnh này là quan trọng hàng đầu.

Những biện pháp phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ là giảm cân nếu bị thừa cân, luôn duy trì cân nặng ở mức hợp lý; không nên uống rượu bia, hút thuốc lá; tăng cường rèn luyện thể dục thể thao; chế độ ăn uống phải hợp lý; không ăn quá 5 – 6g muối/ngày; tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic và axít béo không no Omega-3 để bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ hình thành các mảng xơ vữa; hạn chế ăn thịt mỡ, da động vật và các đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla; tăng số ngày ăn cá, đậu trong tuần, dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn…; luôn kiểm soát hàm lượng cholesterol, glucoza trong máu và các chỉ số huyết áp ở mức độ cho phép; giảm căng thẳng thần kinh…

ThS. Hà Hùng Thủy

Theo SKDS