Tag Archives: phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai dễ tăng huyết áp cao nếu ngủ ngáy

Các bác sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu các dạng khủng hoảng liên quan đến hệ thần kinh tại Trường đại học Michigan, Mỹ cho biết: phụ nữ mang thai ngủ ngáy có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao gấp 2 lần so với người bình thường.

Nghiên cứu tập trung vào 1.700 phụ nữ mắc chứng ngủ ngáy khi mang thai (số này chiếm khoảng 1/4 số phụ nữ mang thai thông thường) tại Mỹ. Phần lớn trong số họ có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao gấp đôi so với những phụ nữ mang thai bình thường khác. Theo BS. Louise O’Brien, tình trạng này có thể dẫn tới chứng kinh giật nguy hiểm trong quá trình mang thai.  BS. O’Brien còn cho biết thêm: những phụ nữ này còn có nguy cơ sinh ra những đứa trẻ có cân nặng và kích thước nhỏ hơn bình thường.

phu-nu-mang-thai-de-tang-huyet-ap-cao-neu-ngu-ngay

Việc ngủ ngáy khi mang thai là điều rất khó xử lý, bởi nó liên quan đến tình trạng hẹp đường hô hấp ở người mẹ và rất nguy hiểm cho bào thai, thậm chí có thể gây tử vong cho đứa trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ do thiếu ôxy. Các chuyên gia cho rằng: phụ nữ mang thai nếu mắc phải chứng ngủ ngáy cần hết sức cẩn trọng trước các dấu hiệu về sức khoẻ, bất kỳ một biểu hiện bất thường về sức khoẻ của người mẹ đều có liên quan mật thiết đến tình trạng sức khoẻ của đứa trẻ trong bụng.

Theo y học cổ truyền

Không nên cho trẻ ăn kem trong mùa hè

Mùa hè, thời tiết trở nên ngày càng nóng vì vậy kem đã trở thành món ăn ưa thích cho rất nhiều người. Kem có thể mang lại cho chúng ta một cảm giác mát mẻ và tươi mới, nhưng không phải ai cũng thích hợp để ăn kem.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, bốn nhóm người sau đây không nên ăn kem, nếu không, nó có thể gây tác hại nghiêm trọng trên cơ thể của họ.

Nhóm người đang giảm cân

Kem có chứa một hàm lượng đường và chất béo, làm bạn dễ dàng tăng cân. Ngoài ra, một số kem có chứa axit béo trans. Theo nghiên cứu chỉ ra rằng, axit béo là một trong những nguyên nhân chính của bệnh béo phì. Tác dụng chính của nó là để tích lũy chất béo trên bụng. Do vậy, đối với những người muốn giảm cân thì không nên ăn kem.
06fd61suckhoe-tre-em
Phụ nữ mang thai

Tại sao phụ nữ mang thai không nên ăn kem? Điều này chủ yếu bởi vì khi phụ nữ trong thời kỳ mang thai, sự tiết nước tiêu hóa và men tiêu hóa sẽ giảm, và các chức năng tiêu hóa sẽ yếu đi. Nếu ăn kem lạnh quá nhiều, nó sẽ làm cho các mạch máu đường tiêu hóa đột nhiên thay đổi đột ngột và dẫn đến các triệu chứng như đau bụng và tiêu chảy. Hơn nữa, kem luôn luôn có chứa một số lượng lớn đường, chất béo và các chất phụ gia thực phẩm, nó cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của bào thai.

Trẻ em đang trong giai đoạn phát triển

Kem thuộc về thực phẩm có chứa nhiều đường và chất béo, có thể dễ dàng làm cho trẻ em tích tụ chất béo. Ngoài ra, trẻ em dễ bị dị ứng hơn với phụ gia thực phẩm có trong kem. Hơn nữa, ăn kem quá nhiều trước bữa ăn không chỉ có thể ảnh hưởng đến sự thèm ăn của trẻ mà còn có thể gây kích thích mạnh mẽ trên đường tiêu hóa, dẫn đến khó chịu đường tiêu hóa.

Bệnh nhân tiểu đường

Kem có chứa một hàm lượng đường cao, có thể làm cho mức độ đường trong máu tăng lên nhanh chóng trong các bệnh nhân tiểu đường, do đó làm trầm trọng thêm tình trạng của bệnh tiểu đường. Do vậy, các bác sĩ luôn khuyên bệnh nhân tiểu đường không nên ăn kem. Tuy nhiên, hiện nay có một số loại kem dành riêng cho bệnh nhân tiểu đường. Các loại kem không chứa đường mà chỉ có một số chất làm ngọt như sorbitol và maltitol. Bởi vì sorbitol và maltitol có một hương vị ngọt ngào, chúng chứa ít calo. Hơn nữa, sự trao đổi chất của sorbitol và maltitol không được kiểm soát bởi insulin.

Theo VnMedia.vn

Phòng ngừa loãng xương sau khi sinh

Tình trạng giảm mật độ khoáng xương (có thể hiểu là loãng xương) lúc mang thai và sau khi sinh cho em bé bú là tình trạng thiếu canxi sinh lý. Dấu hiệu cơ bản của chứng loãng xương là, sau khi sinh con từ 1-2 tháng,người me bắt đầu xuất hiện tình trạng đau nhức khắp người, nhất là khu vực vai, lưng, bàn chân.

Một số người không thấy có triệu chứng gì khi bị loãng xương hoặc bỏ qua những triệu chứng nhẹ như đau lưng âm ỉ.

phong-benh-loang-xuong-sau-khi-sinh

Nguyên nhân

– Do tình trạng mật độ xương trong khoảng thời gian mang thai và cho con bú.

– Do một lượng lớn vitamin D từ cơ thể mẹ đã bị tiêu hao vì phải nuôi dưỡng thai nhi.

– Khi mang thai, nồng độ estrogen trong cơ thể bạn tăng lên. Điều này có tác động đến sự hoạt động của các cơ, gân, dây chằng, đặc biệt là vùng khớp cùng của xương chậu (biểu hiện là tình trạng đau lưng, mỏi khớp khi mang thai và kéo dài đến khoảng thời gian sau sinh).

– Căng thẳng, bận rộn chăm con khiến cơ thể mệt mỏi và hay xuất hiện những cơn đau mỏi xương khớp.

Điều trị

Phần lớn các trường hợp loãng xương ở phụ nữ sau sinh là hội chứng loãng xương sinh lý (các bác sĩ đã tiến hành đo mật độ xương ở phụ nữ trong thời gian mang thai, kết quả cho thấy chỉ số này đều giảm). Tình trạng này sẽ được cải thiện đáng kể sau 6 – 12 tháng ngừng cho con bú.

Với những trường hợp loãng xương nghiêm trọng, khi ấy bạn có thể phải sử dụng thuốc giảm đau hoặc dùng các loại thuốc uống, thuốc bổ sung vitamin D, theo điều trị và chỉ định của bác sĩ…

Phòng chứng loãng xương sau sinh

Canxi là thành phần cấu trúc quan trọng của xương. Vì vậy, bạn nên cung cấp đầy đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua ăn uống và vận động hợp lý mỗi ngày. Hàm lượng canxi trong thời gian cho con bú luôn cao hơn bình thường, khoảng 1.500mg/ngày. Các thực phẩm giàu canxi là sữa, đậu tương, lòng đỏ trứng, rau cải, cá tôm… Nếu hết thời gian kiêng cữ sau sinh, bạn nên nhanh chóng quay lại chế độ dinh dưỡng như thường ngày, chỉ nên kiêng các chất kích thích, gia vị cay nóng, đồ uống có cồn hay thực phẩm chứa nhiều caffein…

Nên bổ sung các nguồn thực phẩm giàu vitamin D như trứng, nấm tươi, lươn, trai, sò…

Khi sinh con khoảng một tháng, sức khỏe của sản phụ đã phục hồi, có thể tham gia các hoạt động thể dục thể thao vừa sức, nhẹ nhàng. Không chỉ phòng được chứng loãng xương, vận động còn giúp bạn tăng cường sức khỏe và sớm lấy lại vóc dáng sau sinh.

Ngoài ra, bạn cũng nên sắp xếp công việc nhà, bao gồm cả việc chăm sóc bé một cách hợp lý để phòng tránh những cơn đau mỏi cơ do phải làm việc quá sức.

Tắm nắng cũng là cách giúp cơ thể bạn tổng hợp vitamin D tốt đồng thời cũng ngăn ngừa được tình trạng loãng xương.

BS. LÊ KHÁNH VÂN

Theo SKDS

Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai

Dân gian thường nói “mỗi đứa con một cái răng” – ý nói khi mang thai, răng của người mẹ sẽ bị ảnh hưởng. Bài biết này nhằm tìm hiểu những bệnh răng miệng thông thường ở phụ nữ mang thai, nguyên nhân cũng như những phương pháp có thể sử dụng để phòng và điều trị.

Những bệnh lý răng miệng thường thấy

Bệnh sâu răng: trong những tháng đầu tiên khi mang thai, bệnh răng miệng ở sản phụ chưa tăng đáng kể, nguyên nhân thường thấy có thể là do phụ nữ có thai hay nôn và buồn nôn (nhất là từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 12 của thai kỳ và nhất là ở những phụ nữ mang thai lần đầu). Chính điều này làm thay đổi môi trường pH trong khoang miệng, làm xáo trộn khả năng tự bảo vệ khiến dễ phát sinh bệnh lý. Các thay đổi sinh lý khác bao gồm cả sự thay đổi chế độ ăn như thèm ăn một số loại thức ăn đặc biệt, và thường xuyên ăn bữa phụ giữa các bữa ăn chính, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng, dễ gây sâu răng. Các thức ăn, thức uống dễ gây sâu răng là đồ ngọt và các nước uống có ga chứa carbonate. Các thức ăn này có thể làm dịu cảm giác buồn nôn, tuy nhiên nguy cơ sâu răng rất cao.

benh-ly-rang-mieng-o-phu-nu-mang-thai

Khi mang thai, do chứng ói, ợ chua khá thường gặp, acid từ dạ dày tiếp xúc với men và ngà răng, xói mòn mặt trong các răng cửa và mặt nhai răng hàm

Trong nước bọt chứa những chất làm chắc men răng, ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh sâu răng. Trong thời gian mang bầu, lượng nước bọt tiết ra giảm và hậu quả là bị sâu răng. Thêm nữa, ở tháng thứ 5 – 6 (thai nhi ở 24 – 25 tuần tuổi) là thời điểm hệ xương đang hình thành mạnh mẽ. Lượng canxi cần thiết để hình thành xương của trẻ được lấy từ cơ thể của mẹ. Trong máu của người mẹ khi ấy không đủ canxi và cơ thể đòi hỏi phải cung ứng thêm lượng canxi. Các nhà khoa học tin rằng những phụ nữ bị bệnh sâu răng có nguy cơ đẻ non cao gấp 3 lần so với những bà mẹ mang thai có sức khỏe răng miệng tốt. Họ cũng thống kê được rằng, 25% số những phụ nữ bị bệnh sâu răng được điều tra đẻ non trước tuần thứ 35.

Mòn răng: bình thường răng được bảo vệ bởi lớp men răng. Khi mang thai, do chứng ói, ợ chua khá thường gặp, acid từ dạ dày tiếp xúc với men và ngà răng, xói mòn mặt trong các răng cửa và mặt nhai răng hàm. Quá trình mòn răng diễn ra chậm, làm thai phụ ít để ý tuy nhiên rất khó hồi phục, có nguy cơ cao phải nhổ răng. Trong trường hợp mòn đến lộ ngà, thai phụ sẽ cảm giác ê buốt, đặc biệt khi uống nước đá, hay tiếp xúc không khí. Tình trạng này điều trị phục hồi khá phức tạp.

Viêm nướu và nha chu: phụ nữ có thai thường bị viêm nướu, khu trú hoặc toàn thể. Bệnh thường bắt đầu từ tháng thứ hai và tăng dần trong thai kỳ đến tháng thứ 8. Nguyên do những thay đổi nội tiết và mao mạch, làm cho mảng bám vi khuẩn và bệnh nha chu dễ xuất hiện. Các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng, sự tích lũy các loại hoóc-môn ở mô nướu ảnh hưởng đến hệ thống mạch máu ở nướu, hệ thống miễn dịch tại chỗ và phản ứng của nó với vi khuẩn trong mảng bám răng. Những thay đổi về miễn dịch trong suốt thai kỳ có liên quan đến sự giảm số lượng bạch cầu trung tính và hoạt động thực bào, giảm đáp ứng của lympho bào và làm giảm sinh kháng thể. Thai phụ có nguy cơ nhiễm trùng và có mối liên hệ giữa nhiễm trùng vùng miệng với nhiễm trùng toàn thân và ngược lại. Điều cần chú ý hơn cả, bệnh nha chu là một yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ của đẻ non và trẻ sơ sinh nhẹ cân.

Những tình trạng khác:

– U nướu thai nghén: một khối tăng sinh mềm, màu hồng ở nướu. Khối u thường phát triển nhanh trong 3 tháng giữa và nhỏ lại, mất hẳn sau khi sinh.

– Răng lung lay do tình trạng viêm nướu và viêm nha chu, đồng thời có mất khoáng ở xương ổ. Răng sẽ trở lại bình thường sau khi sinh.

Điều trị và phòng ngừa?

– Vệ sinh răng miệng đúng cách: mỗi ngày đánh răng ít nhất 2 lần, sau bữa ăn để giữ vệ sinh răng miệng. Thai phụ nên chọn bàn chải răng mềm vì nướu răng trong thời gian này dễ tổn thương hơn bình thường. Nếu ở giai đoạn ốm nghén, sau mỗi lần bị nôn cần súc miệng lại bằng nước sạch để giảm acid trong miệng. Nếu chải răng gây buồn nôn cho các bà mẹ mang thai, thì có thể đánh nhẹ nhàng sau đó xúc miệng lại bằng dung dịch vệ sinh.

Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai: Chuyện nhỏ mà không nhỏ! 2

Ở tháng thứ 5 – 6, lượng canxi cần thiết để hình thành xương của trẻ được lấy từ cơ thể của mẹ

– Khám răng định kỳ: khi mang thai, thai phụ nên khám răng định kỳ để có thể phát hiện và điều trị kịp thời, tốt nhất mỗi 3 tháng. Nếu phát hiện có vôi răng, nha sĩ có thể lấy sạch vôi răng và mảng bám.

– Trám răng và nhổ răng: nếu chỉ trám răng mà không dùng đến thuốc tê thì không ảnh hưởng nhiều. Răng sâu trong thời kỳ này hoàn toàn có thể và nên được trám sớm để tránh tình trạng sâu răng lan đến tủy gây viêm tủy. Tuy nhiên can thiệp nên nhẹ nhàng, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ vì sự hình thành nhau bám vào tử cung vẫn chưa hoàn toàn chắc. Khi thai được 5 tháng thì có thể can thiệp bình thường. Tuy nhiên, thường trong thời gian mang thai không nên nhổ răng vì có thể gây nhiễm trùng huyết ảnh hưởng đến thai nhi. Tuyệt đối hạn chế đến mức thấp nhất chụp X-quang cho thai phụ, đặc biệt trong 3 tháng đầu tiên hình thành cơ quan, bộ khung cho thai, vì có thể làm xáo trộn trong quá trình hình thành bào quan. Nếu phải dùng thuốc, không được tự ý dùng thuốc, phải theo chỉ định của thầy thuốc để đảm bảo thuốc tương đối an toàn cho thai.

Chế độ ăn uống: ăn thực phẩm giàu vitamin C, B12, canxi… và hạn chế ăn đồ ngọt, đồ có ga.

Thay lời kết

Các nhà khoa học khẳng định, những người mẹ có răng sâu sẽ sinh ra những đứa trẻ có hệ miễn dịch kém và bộ máy tiêu hóa làm việc không tốt, chưa kể còn xuất hiện một loạt các bệnh khác. Người mẹ bị sâu răng sẽ khiến trẻ cũng bị sâu răng và viêm vòm họng. Vì thế, đối với những phụ nữ mang bầu, điều quan trọng là phải thường xuyên đi khám răng miệng và có những biện pháp chữa trị kịp thời

BS. Dương Minh Hùng

Theo SKDS