Tag Archives: phòng ngừa

Trinh nữ hoàng cung với tác dụng trong việc chữa phụ khoa

Trinh nữ hoàng cung là vị thuốc được nhân dân ta thường dùng để điều trị một số bệnh của phụ nữ rất hiệu quả, trong đó có u xơ tử cung.

Trong Y học cổ truyền Việt Nam, từ lâu trinh nữ hoàng cung đã được coi là vị thuốc quý. Trước đây, trinh nữ hoàng cung chỉ được dành riêng cho hoàng tộc, vì thế nó thường được gọi với các tên như “cây thuốc của hoàng cung” hay “cây thuốc dành cho nữ giới trong hoàng cung”. Nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã chứng minh trinh nữ hoàng cung có chứa 32 loại alkaloids, trong đó một số alkaloids có tác dụng chống sự phát triển của tế bào khối u, kháng khuẩn,… từ đó giúp phòng ngừa và điều trị các bệnh như u nang buồng trứng, u xơ tử cung, tăng cường sức khỏe, miễn dịch, đẩy lùi những rối loạn ở nữ giới. Sau đây là một số bài thuốc đơn giản, hiệu quả từ cây trinh nữ hoàng cung:

trinh nữ hoàng cung

trinh nữ hoàng cung

Bài thuốc dùng trong hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt: Lá trinh nữ hoàng cung thái nhỏ, sao vàng sắc uống: mỗi ngày dùng 3-5 lá.

Bài thuốc chữa u nang buồng trứng, u xơ tử cung và u tuyến tiền liệt: Ba lá trinh nữ hoàng cung tươi, thái ngắn từ 1 đến 2 cm, sao khô đến khi có màu hơi vàng, đem sắc với nước, uống thành 3 đợt, mỗi đợt 7 ngày, thời gian nghỉ giữa hai đợt là 7 ngày.

Tác dụng chữa bệnh u xơ tử cung, u nang buồng trứng, phì đại tuyến tiền liệt càng được tăng cường khi trinh nữ hoàng cung được sử dụng làm thành phần chính phối hợp với các dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, hoàng cầm, khương hoàng để bào chế ra viên nang thực phẩm chức năng Nga Phụ Khang. Sản phẩm này có tác dụng ức chế phát triển của tế bào khối u, thu nhỏ kích thước khối u; giúp tăng cường hệ miễn dịch, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị u xơ tử cung, u nang buồng trứng hiệu quả mà bệnh nhân không cần phải đun sắc cầu kỳ. Sản phẩm này ra đời cũng đáp ứng được xu hướng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, hiệu quả bền vững, an toàn khi dùng lâu dài và đã được chứng minh qua nhiều hội thảo khoa học uy tín đang được nhiều bác sĩ, bệnh nhân tin tưởng lựa chọn.

Bên cạnh duy trì sử dụng Nga Phụ Khang – sản phẩm điển hình chứa trinh nữ hoàng cung, bệnh nhân u xơ tử cung cần giữ tâm lý thoải mái, lạc quan, thực hiện khám sức khỏe định kỳ để được bác sĩ theo dõi và có hướng điều trị thích hợp.

Theo sức khỏe gia đình

Phục hồi di chứng sau tai biến mạch máu não

Theo thống kê, tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não) là một trong những “kẻ giết người” mạnh tay nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật nghiêm trọng cho người cao tuổi ở nước Anh. Cứ 5 phút trôi qua, lại có một người bị tai biến mạch máu não lần đầu tiên.
Tai biến mạch máu não gồm 2 loại: 80% là nhồi máu não (do các cục máu đông gây tắc mạch máu não) và 20% là xuất huyết não (do vỡ mạch máu trong não). Tổn thương này làm giảm đột ngột hoặc ngưng hoàn toàn việc cung cấp máu đến não. Biểu hiện của bệnh thường là đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân, tê tay chân, liệt nửa người, mờ hoặc mất thị lực… Một số người còn có dấu hiệu buồn nôn, chóng mặt ù tai…

phuc-hoi-di-chung-sau-tai-bien-mach-mau-nao

Tai biến mạch máu não để lại những di chứng rất nặng nề như: liệt nửa người, nói ngọng, méo miệng, đời sống thực vật, thậm chí là tử vong… Nghiên cứu cho thấy, khoảng 20% bệnh nhân tai biến mạch máu não tử vong trong vòng 1 tháng, 5-10% trong vòng 1 năm; khoảng 10% phục hồi không di chứng; 25-30% tự đi lại phục vụ bản thân; 20-25% đi lại khó khăn, cần sự hỗ trợ của người khác trong sinh hoạt; 15-25% phải nhờ hoàn toàn vào người khác. Di chứng của tai biến mạch máu não khiến bệnh nhân trở thành gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội, nên việc chăm sóc phục hồi vận động, ý thức sau tai biến có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt, với bệnh nhân bị liệt nửa người, việc chăm sóc đúng cách có thể giúp hạn chế được những biến chứng nguy hiểm khác như: viêm loét da do nằm lâu, viêm phổi, táo bón,… Nếu tập luyện sớm với phương pháp đúng đắn thì sẽ giúp bệnh nhân phục hồi tốt nhất, giảm biến chứng và di chứng ngay trong năm đầu tiên sau tai biến.

Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị tai biến mạch máu não nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều người nhà bệnh nhân vẫn chưa nắm được tầm quan trọng cũng như phương pháp chăm sóc phục hồi vận động, ý thức cho người thân sau cơn tai biến mạch máu não.
Do vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về căn bệnh này. Các chuyên gia khuyến cáo, khi bệnh nhân đã qua được giai đoạn nguy hiểm, bước sang khoảng thời gian phục hồi, bệnh nhân cần được người nhà chăm sóc và giúp đỡ tập luyện, phục hồi vận động, ý thức một cách hợp lý.

Theo gia đình

Đau thắt lưng do thoái hóa cột sống

Đau thắt lưng là biểu hiện thường gặp ở hầu hết những người mắc thoái hoá cột sống – yếu tố chính gây ra thoát vị đĩa đệm, gai cột sống, đau thần kinh toạ. Bệnh có thể dẫn tới tàn phế nếu không được điều trị kịp thời. Mong muốn cắt được cơn đau, trở lại cuộc sống, sinh hoạt thường ngày là niềm mơ ước của nhiều bệnh nhân và thực tế, không ít trường hợp đã tìm được hướng điều trị hợp lý.

Từ năm 2003, ông Ngô Văn Bảy (Hồng Dân, Bạc Liêu) bắt đầu bị đau nhức ngang thắt lưng do thoái hóa cột sống, gai đốt sống, thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ). Đầu năm 2011, ông Bảy bị đau dữ dội, nhức ngang lưng, không thể đi lại hay thực hiện được các động tác: xoay, cúi, gập người,… Còn với Nhà giáo ưu tú Châu An (85 tuổi, TP Hồ Chí Minh), ông mắc TVĐĐ, dây thần kinh bị chèn ép, gây đau chân, đau thắt lưng và cột sống, đi lại khó khăn, không ngồi được,… Tình trạng đau nhức kéo dài khiến mọi sinh hoạt của hai bệnh nhân này đều phải nhờ người nhà trợ giúp, họ đã nghĩ tới cảnh phải sống chung với các cơn đau đến hết đời.

dau-that-lung-do-thoai-hoa-cot-song

Tuy nhiên, may mắn đã đến với ông Bảy và ông An khi biết đến thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương. Sản phẩm này có thành phần chính là dầu vẹm xanh với tác dụng tăng cường sức đề kháng và độ chắc khỏe của xương, kết hợp cùng nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… nên có tác dụng giảm đau nhức, tê mỏi, cải thiện khả năng vận động, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị các bệnh lý về cột sống như thoái hoá cột sống, TVĐĐ, gai cột sống, đau thần kinh toạ,…

Chỉ sau một thời gian uống Cốt Thoái Vương, ông Bảy cảm thấy đã đỡ nhiều, người không còn đau nhức, đi lại dễ dàng và sinh hoạt bình thường mà không thấy có tác dụng phụ nào. Còn với Nhà giáo Châu An, uống Cốt Thoái Vương đến hộp thứ 6, tình trạng đau gần như hết hẳn, ông có thể đi lại, vận động.

Kinh nghiệm của ông Bảy và ông An là “cứu cánh” cho nhiều bệnh nhân bị đau thắt lưng do thoái hoá cột sống hiện nay. Với ưu điểm dẫn đầu dòng sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, an toàn, Cốt Thoái Vương là một lựa chọn phù hợp để cải thiện tình trạng thoái hoá cột sống, TVĐĐ.

Ngọc Hà

Nguồn sức khỏe đời sống

Chiết xuất từ nho có thể phòng ngừa ung thư

Một thành phần trong chiết xuất hạt nho là B2G2 có thể chống các tế bào ung thư, theo nghiên cứu được đăng trên chuyên san Nutrition and Cancer.

chiet-xuat-tu-nho-co-the-phong-ngua-ung-thu

Các nhà khoa học thuộc Đại học Colorado (Mỹ) phát hiện rằng B2G2 có thể điều khiển các tế bào ung thư tuyến tiền liệt tự tìm đến cái chết, đồng thời không gây hại các tế bào khỏe mạnh. “Nay chúng ta biết rằng B2G2 là thành phần sinh học hoạt tính nhất trong chiết xuất hạt nho, có thể được tổng hợp với số lượng đủ để chúng ta nghiên cứu chi tiết cơ chế tự hủy hoại của các tế bào ung thư”, tiến sĩ Alpna Tyagi thuộc đại học trên cho biết. Nghiên cứu trước đây cho thấy hạt nho có thể giúp duy trì huyết áp khỏe mạnh.

Theo thanh niên

Bổ sung hàm lượng Vitamin cho sức khỏe

Khi thiếu hay thừa những chất này sẽ gây ra nhiều bệnh cảnh khác nhau và đôi khi cũng nguy hiểm đến tính mạng.

Vitamin và chất khoáng là những chất có tỷ lệ thấp trong cơ thể. Nhưng là những chất rất quan trọng trong hoạt động sống còn của cơ thể. Khi thiếu hay thừa những chất này sẽ gây ra nhiều bệnh cảnh khác nhau và đôi khi cũng nguy hiểm đến tính mạng.

Vitamin có nhiều loại, dựa vào tính chất vật lý người ta phân các vitamin này thành hai nhóm. Nhóm tan trong nước như vitamin B, C… nhóm tan trong mỡ như A, D, E…

bo-sung-ham-luong-vitamin-cho-suc-khoe

Chất khoáng là những chất như: sắt, kẽm, đồng, vàng, canxi, magiê, natri, kali, chlor, phosphat, sulphat… Chất khoáng chiếm khoảng 4% trọng lượng cơ thể, người nặng 50kg thì chất khoáng khoảng 2kg.

Mỗi ngày cơ thể phải cần một lượng tối thiểu về chất khoáng. Các chất này phải được cung cấp qua thức ăn, nước uống hay dưới dạng thuốc khi cần thiết vì cơ thể không tổng hợp được các chất này.

Không phải nhiều là tốt

Nhiều người trong chúng ta nghĩ dùng vitamin liều cao như là thuốc tăng lực. Nhưng chúng ta quên rằng vitamin cũng là thuốc, là chất hóa học nghĩa là khi dùng quá liều cũng sẽ bị ngộ độc. Vitamin A, D là hai vitamin tan trong mỡ hay gây ngộ độc khi dùng liều cao kéo dài. Vitamin A được biết là có vai trò quan trọng với thị lực và da, màng tế bào, có thể dùng điều trị các bệnh như vẩy nến, mụn, trứng cá, chứng tóc khô, dễ gãy… Thuốc dùng dễ dàng qua đường uống và người ta đã quan sát được khi ngộ độc vitamin A có thể gây ra phù não, tổn thương trầm trọng ở gan. Cả hai biến chứng này đều có thể nguy hiểm đến tính mạng nên chúng ta phải thận trọng khi dùng vitamin A liều cao kéo dài. Tốt nhất là khi dùng phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ.

Pyridoxine hay còn gọi là vitamin B6 thường dùng để điều trị tình trạng chóng mặt và rối loạn tiền mãn kinh. Khi dùng quá liều kéo dài có thể bị ngộ độc gây tổn hại hệ thần kinh trung ương.

Acid ascortbic hay còn gọi là vitamin C được biết như là thuốc làm tăng sức đề kháng. Khi thiếu vitamin C thì mạch máu dễ vỡ gây xuất huyết dưới da. Trước đây, bệnh được mô tả ở những thủy thủ lênh đênh trên biển nhiều tháng liên tục không ăn rau, trái cây tươi. Vitamin C mang nhiều lợi ích khi ta biết cách sử dụng. Vitamin C có nhiều trong cây xanh, rau quả như chanh, cam, quýt, bưởi, bắp cải… Nhu cầu cơ thể về vitaminn C cao hơn các loại vitamin khác rất nhiều. Người lớn cần khoảng 50-100mg, nghĩa là 1mg/kg thể trọng mỗi ngày; đối với trẻ con và phụ nữ có thai cần 100-200mg mỗi ngày. Vitamin C ngoài tác dụng tốt cho tim mạch còn có tác dụng tăng sức đề kháng chống lại bệnh cảm, cúm, điều này đã được biết từ vài chục năm trước đây: với liều dùng khá cao 1-4g/ngày trong vài ngày người ta có thể rút ngắn được 30% thời gian mắc bệnh cúm. Ngược lại, nếu chúng ta không biết cách sử dụng, dùng liều quá cao trên 2g/ngày kéo dài trong nhiều tháng có thể gây hại cho dạ dày vì bản thân vitamin là acid – là chất chua. Tệ hại hơn là liều cao vitamin C làm tăng oxalate canxi trong nước tiểu, những tinh thể này sẽ lắng đọng tại thận tạo thành sạn thận. Chỉ nên dùng khoảng 0,5-1g vitamin C mỗi ngày sẽ rất có lợi cho sức khỏe và chống được chứng xơ vữa động mạch… khi cần dùng lâu dài cũng nên hỏi qua ý kiến bác sĩ.
bo-sung-ham-luong-vitamin-cho-suc-khoe1
Thiếu lại càng nguy hiểm

Nếu chúng ta không cung cấp đủ vitamin thì sẽ gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như: thiếu vitamin A gây bệnh quáng gà, giảm sức đề kháng, thiếu vitamin C gây chứng chảy máu dưới da, thiếu vitamin B1 gây phù, suy tim, thiếu vitamin D gây còi xương, thiếu vitamin B12 gây thiếu máu, viêm dây thần kinh…

Chất khoáng cũng rất quan trọng tham gia vào nhiều phản ứng hóa học quyết định sự sống còn trong cơ thể và là thành phần cấu tạo chủ yếu của một vài cơ quan trong cơ thể như: canxi là thành phần cấu tạo chủ yếu của xương, sắt là thành phần cấu tạo chủ yếu của hemoglobin trong hồng cầu – là chất có chức năng vận chuyển oxygen trong máu.

Thiếu chất khoáng gây nhiều tác hại cho sức khỏe: thiếu canxi gây co giật tay chân, thiếu kali gây chuột rút, rối loạn nhịp tim…

Phòng ngừa thiếu vitamin và chất khoáng bằng cách nào?

Để phòng ngừa những tình trạng này chúng ta nên ăn uống thức ăn có chứa đầy đủ chất khoáng và vitamin cần thiết cho cơ thể. Còn trong điều kiện sức khỏe suy giảm, người già, người bệnh nặng kéo dài chúng ta nên dùng thêm thuốc có chứa đầy đủ các thành phần vitamin và chất khoáng cần thiết cho nhu cầu cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở những người ở độ tuổi trung bình từ 48-78 tuổi thì sau 4-10 tuần bổ sung vitamin và chất khoáng có cải thiện rõ rệt về sức khỏe như: giảm được mệt mỏi, tập trung tư tưởng tốt hơn, ăn ngon miệng hơn, dễ ngủ và thời gian ngủ kéo dài hơn…
Vitamin và chất khoáng là những chất nền tảng của sự sống, chúng được cung cấp hàng ngày qua thức ăn, nước uống dễ dàng đến độ có lúc chúng ta quên đi sự cần thiết thực sự của nó. Cho đến khi sự thiếu thốn tích lũy lâu dần theo thời gian trở thành bệnh lý tức là lúc sức khoẻ suy giảm nhiều đôi khi đã khá muộn. Hãy cung cấp kịp thời những gì cơ thể cần.

Theo SKĐS

Nguyên nhân người béo phì rất khó giảm cân

Ngay cả khi không béo phì, việc duy trì trọng lượng cơ thể đã có thể là một cuộc đấu tranh bởi sự cám dỗ của những món ăn ngon hay làm sao để tập thể dục đều đặn. Nhưng đối với người béo phì “cuộc chiến” này còn cam go hơn rất nhiều.

Theo một nghiên cứu mới đây, sau một thời gian tiêu thụ quá nhiều chất béo, cơ chế hoạt động của dạ dày cũng khó để trở lại như bình thường

nguyen-nhan-nguoi-beo-phi-rat-kho-giam-can

Nghiên cứu được thực hiện ở chuột để biết rằng cuối cùng, việc tiêu thụ nhiều chất béo có ảnh hưởng như thế nào trong việc giảm cân. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những tác động từ Leptin-kích thích tố giúp cân bằng năng lượng và có nhiệm vụ ra tín hiệu cho não biết cơ thể đã no, từ đó, giúp kiềm chế lượng thức ăn vào cơ thể.

Tác giả chính của nghiên cứu này, GS. Amanda Page cho biết: “Với những con chuột có chế độ ăn giàu chất béo, kích thích tố Leptin đã bớt nhạy trong việc ra tín hiệu cho não biết là cơ thể đã no. Có nghĩa là những người béo phì sẽ phải ăn nhiều hơn người bình thường thì mới có cảm giác no, vì thế họ rất khó giảm cân”.

Các nhà nghiên cứu đã chia chuột thành 3 nhóm và thử nghiệm trong 24 tuần. Một nhóm chuột được nuôi với chế độ ăn uống đạt chuẩn, một nhóm tiêu thụ nhiều chất béo, còn một nhóm tiêu thụ nhiều chất béo trong thời 12 tuần đầu, sau đó, tiêu thụ một chế độ ăn đạt chuẩn trong 12 tuần tiếp theo. Kết quả cho thấy rằng tác dụng của Leptin đã bớt nhạy ở những con chuột có chế độ ăn giàu chất béo sau đó chuyển sang chế độ ăn đạt chuẩn.

Điều này có thể giải thích tại sao người béo lại thường quay lại với chế độ ăn giàu chất béo như trước.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh(CDC), hơn 1/3 người Mỹ được coi là béo phì. CDC cho rằng việc nắm được chỉ số khối của cơ thể sẽ tìm ra cách để đạt được và duy trì một trọng lượng khỏe mạnh và hoạt động thể chất thường xuyên có thể giúp chống lại béo phì. Nhưng trên hết, người béo phì cần có mục tiêu để có thể giảm cân dễ dàng hơn.

Mai Phương

Theo Medicaldaily

Chống xơ vữa động mạch, giảm nguy cơ đột quỵ não

Đột quỵ não (ĐQN) có hai dạng là nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh là do xơ vữa động mạch và tăng huyết áp, khiến các cục huyết khối gây thuyên tắc động mạch não. Do đó, việc ngăn ngừa bệnh xơ vữa động mạch cũng là biện pháp cần thiết nhằm giảm nguy cơ ĐQN.

Các mảng xơ vữa được hình thành từ rối loạn chuyển hóa lipid trong cơ thể như tăng nồng độ cholesterol “xấu” hoặc triglyceride (chất béo trung tính) trong máu; khi một mảng vữa xơ (tích tụ chất béo vào thành mạch máu) tách khỏi thành mạch, di chuyển theo dòng máu tới các động mạch nhỏ hơn và tắc lại ở đó hoặc do cục huyết khối hình thành làm cản trở sự lưu thông của dòng máu. Đây là nguyên nhân nền tảng quan trọng dẫn tới ĐQN, ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng người bệnh.
xo-vua-dong-mach
Do đó, những người bị xơ vữa động mạch cần lưu ý một số dấu hiệu đặc trưng của ĐQN như: đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân, giảm thị lực, nói ngọng, yếu hoặc liệt một bên tay (chân), buồn nôn, chóng mặt ù tai,… Khi không được cấp cứu kịp thời, bệnh nhân có thể bị hôn mê, thậm chí tử vong. Nếu sống sót, người bệnh có thể phải chịu hậu quả nặng nề như: tàn phế, liệt… Do vậy, khi thấy xuất hiện những triệu chứng của ĐQN cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh enzym nattokinase chiết xuất từ đậu tương lên men có tác dụng làm mềm mại thành mạch, ngăn ngừa, phục hồi nhanh chóng tổn thương thành mạch, giảm độ nhớt, độ dính của máu, từ đó chống xơ vữa mạch, ngăn ngừa hình thành và làm tan huyết khối, ổn định huyết áp và phòng ngừa ĐQN. Tại Việt Nam, sản phẩm có chứa nattokinase được chứng minh qua nhiều nghiên cứu lâm sàng là Nattospes. Sản phẩm này giúp phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, cải thiện di chứng do ĐQN và ngăn bệnh tái phát.

Bên cạnh sử dụng Nattospes hàng ngày, những người có nguy cơ bị ĐQN như người cao tuổi, mắc bệnh xơ vữa động mạch, tăng huyết áp,… cần thường xuyên khám sức khỏe định kỳ kết hợp với việc thực hiện chế độ dinh dưỡng khoa học, uống nhiều nước, không hút thuốc lá, cai rượu bia,…

Nguồn gia đình

Ảnh hưởng của bệnh viêm vùng chậu với chị em

Nếu bệnh viêm vùng chậu (PID) “tấn công” chị em nhiều hơn một lần thì nó có thể tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh, và tăng gấp bốn lần nguy cơ đau vùng chậu mãn tính.

Các nhà nghiên cứu ở Baltimore cũng phát hiện ra rằng các cô gái trẻ bị mắc bệnh này tái đi tái lại nhiều lần có thể tăng nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp năm lần.

Để nghiên cứu những hậu quả lâu dài của bệnh, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm trẻ em Johns Hopkins ở Baltimore đã theo dõi 831 phụ nữ lứa tuổi từ 14 tuổi và 38 trong bảy năm, sau chẩn đoán PID ban đầu của họ. Những người tham gia ban đầu bị mắc PID mức độ từ nhẹ đến trung bình và một số đã mắc PID mãn tính.

viem-vung-chau-benh-nguy-hiem-de-doa-chi-em

Kết quả cho thấy gần một phần năm trong số đó bị vô sinh và 43% bị đau vùng chậu mãn tính. Phụ nữ mắc PID thường xuyên thì khả năng bị đau vùng chậu mãn tính tăng gấp bốn lần, cũng như tăng gấp đôi khả năng vô sinh so với những người phụ nữ chỉ mắc PID một lần.

PID là một biến chứng của bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI), và được đặc trưng bởi viêm tử cung, ống dẫn trứng hoặc cơ quan sinh sản khác. Nó cũng có thể gây ra đau vùng chậu mãn tính và thai ngoài tử cung.

Trước đây, Chlamydia và bệnh lậu là nguyên nhân chính của PID, nhưng nghiên cứu gần gây cho thấy những bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm khoảng 1/3 các trường hợp PID và các tác nhân gây bệnh khác như Mycoplasma genitalium cũng đang gây ra rất nhiều trường hợp mắc PID.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, PID ảnh hưởng đến hơn 800.000 phụ nữ Mỹ mỗi năm, trong đó tỷ lệ mắc vô sinh là 1/10. “Khi nói đến PID, chúng ta phải luôn thận trọng hơn bao giờ hết” Tiến sĩ Maria Trent, nghiên cứu viên ở Trung tâm Trẻ em Johns Hopkins đã cho biết. “Mặc dù PID đã thay đổi theo thời gian, nó vẫn còn là một căn bệnh có thể gây ra những hậu quả bất lợi đến khả năng sinh đẻ của người phụ nữ và có thể dẫn đến đau vùng chậu mạn tính”, ông nhấn mạnh.

Trong số những người tham gia ở độ tuổi thiếu niên, theo những phát hiện này thì gần 40% bị đau vùng chậu mãn tính (kết quả được công bố vào tháng 9/2011 trong tạp chí Sexually Transmitted Diseases). Những phụ nữ trẻ bị mắc PID thường xuyên cũng có nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp 5 lần so với bạn tình của họ.

Trent cho biết: “Thực tế là gần 1/5 những cô gái này đã có dấu hiệu vô sinh là khá đáng báo động, và có nghĩa rằng những con số sẽ tăng lên khi các cô gái lớn tuổi hơn và tích cực cố gắng để có thai”.

Theo afamily

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa

Người xưa có câu “giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.  Bàn tay rất khéo léo, linh hoạt và là một công cụ lao động vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, thoái hóa khớp bàn tay (THKBT) là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người có tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THKBT chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí thoái hóa khớp thường gặp.

Thoái hóa khớp thường đi kèm với tuổi tác
tay-binh-thuong-va-tay-bi-viem-khop-97f4d
Tuổi trung bình của bệnh nhân THKBT là 60 – 65 tuổi. Tuy nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THKBT. Tỷ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 – 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, có thể nói rằng tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hóa sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc thêm để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác, họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho THK phát triển. Thứ hai, bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen, dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp. Thứ ba, những người béo phì cũng dễ bị THKBT. Có tới 1/3 bệnh nhân THKBT bị béo phì. Thứ tư là THKBT thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường…

Dấu hiệu của THKBT thế nào?

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn, vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất, do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất như khi cầm,  nắm, mang, vác, hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay, người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay 1 bên hoặc cả 2 bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài Tkhuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 – 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ. Ở các giai đoạn muộn, 1/3 số người bệnh có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Khoảng 50% số bệnh nhân THKBT gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hàng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn, uống, chăm sóc con cháu, bế cháu. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THKBT là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương. Có thể chụp thêm Xquang bàn tay để chẩn đoán xác định.

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa 2Người cao tuổi tránh bê vật nặng để phòng thoái hóa khớp bàn tay.

Làm gì để phòng THKBT?

Cần tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài.  Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng máy móc hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt nếu có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết, vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay thì nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được tư vấn và điều trị kịp thời.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)

Phòng ngừa viêm tiểu phế quản ở trẻ

Viêm tiểu phế quản là bệnh phổ biến ở trẻ, thường gia tăng vào thời điểm giao mùa, khi thời tiết chuyển lạnh – yếu tố thuận lợi cho virut gây bệnh phát triển tấn công trẻ nhỏ có sức đề kháng yếu.

Nguyên nhân và biểu hiện

Viêm tiểu phế quản là bệnh viêm nhiễm cấp tính của các phế quản kích thước nhỏ, thường là do các virut, đứng hàng đầu là virut hợp bào hô hấp (virut Respiratoire Syncytial), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh.
phong-ngua-viem-tieu-phe-quan-o-tre
Viêm tiểu phế quản thường xảy ra ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, chủ yếu là trẻ dưới 6 tháng tuổi, vì giai đoạn này phổi và hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển hoàn thiện.

Biểu hiện ban đầu thường là ho, chảy nước mũi trong, sốt, sau đó trẻ có triệu chứng khò khè, thở nhanh nông, bú càng ngày càng kém… Biến chứng thường gặp của bệnh là suy hô hấp, viêm phổi xẹp phổi, viêm tai giữa.

Nếu không được điều trị bệnh sẽ diễn tiến nặng, trẻ khó thở, bỏ bú, tím tái, suy hô hấp và có thể tử vong. Đặc biệt, đối với trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non – nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ bị bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch thì nguy cơ càng cao.

Chăm sóc tốt để phòng bệnh cho trẻ

Để phòng ngừa viêm tiểu phế quản ở trẻ cần chăm sóc trẻ đúng cách, tăng cường sức đề kháng cho trẻ:

Cho trẻ bú mẹ ngay từ lúc mới sinh đến 2 tuổi. Điều quan trọng là người mẹ cần duy trì một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh nhằm đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng và năng lượng. Người mẹ sẽ cần ít nhất thêm 500kcal so với mức năng lượng thường ngày trong giai đoạn cho con bú. Trong suốt thời kỳ cho con bú, cần lưu ý đặc biệt tới các loại đồ ăn giàu canxi như các chế phẩm từ sữa, ngũ cốc, ngũ cốc nguyên cám, rau lá xanh, các loại hạt hay các loại cá. Các chế phẩm bổ sung vitamin sẽ giúp tăng thêm nguồn vitamin trong sữa mẹ.

Chú ý dinh dưỡng cho trẻ, ăn dặm đúng cách. Tùy thể trạng từng bé, có thể tập cho trẻ ăn dặm từ từ, bắt đầu từ 5 – 6 tháng tuổi trở đi, bữa ăn của trẻ phải bao gồm đầy đủ bốn nhóm dinh dưỡng chính: Tinh bột; chất đạm; rau, trái cây; dầu thực vật.

Cho trẻ uống đủ nước. Chú ý mặc quần áo thích hợp cho trẻ, thoáng mát về mùa hè, giữ ấm trong mùa đông, không để trẻ bị lạnh hay ra quá nhiều mồ hôi. Giữ cho môi trường trẻ ở được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá. Cha mẹ và người chăm sóc trẻ cần rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ. Tránh để trẻ tiếp xúc với người bệnh bị viêm đường hô hấp và tiêm phòng đầy đủ.

Đối với trẻ bị bệnh tim, phổi bẩm sinh càng cần được chăm sóc và lưu ý kỹ hơn vì trẻ dễ mắc bệnh và tiến triển xấu. Đối với trẻ bình thường, khi có những biểu hiện sốt, ho, sổ mũi, bú kém, bỏ bú… cần đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

(Bác sĩ Vũ Minh)

Dễ nầm bệnh zona với viêm da do côn trùng gây

Khoảng một tháng nay trên địa bàn các tỉnh phía Bắc, số bệnh nhân đến khám tại các phòng khám da liễu và Viện Da liễu Quốc gia rất đông, nhiều bệnh nhân có các biểu hiện đau rát tấy đỏ từng đám, từng vết dài trên da vùng mặt, cổ, chân và tay mà căn nguyên chính là do độc tố của côn trùng gây nên. Nhiều người hoang mang cho là dịch zona thần kinh, tự mua thuốc chữa zona làm cho bệnh trầm trọng hơn.

viem_da_do_tiep_xuc_con_trung

Bệnh rải rác trong cả năm. Tuy nhiên thời điểm này là mùa côn trùng phát triển, nông dân mới thu hoạch mùa làm mất nơi cư trú của côn trùng, cộng với mưa lũ làm cho côn trùng theo ánh sáng đèn vào nhà trong số đó có những côn trùng rất độc gây bệnh cho người. Thực tế cho thấy có hai loại côn trùng gây bệnh chủ yếu là ấu trùng bướm hay còn gọi là bướm đêm và kiến khoang.

Viêm da do ấu trùng bướm (carterpillar dermatitis)

Carterpillar là ấu trùng của bướm hoặc bướm đêm. Ấu trùng này có lông ngắn, chính lông đó có thể kích thích da gây viêm da. Viêm da do ấu trùng bướm xuất hiện theo mùa trong thời gian ngắn sau khi ấu trùng non xuất hiện. Do tiếp xúc trực tiếp với lông bướm hay lông phát tán trong gió. Tuy nhiên phản ứng ngứa của da sau khi tiếp xúc là thứ phát do kích thích cơ học, nhiễm chất giãn mạch hoặc phản ứng tăng mẫn cảm vẫn còn chưa rõ. Ấu trùng bướm đuôi nâu và ấu trùng bướm lông đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới, các nhà khoa học đã phát hiện được trên lông ấu trùng bướm tiết ra một chất giống như histamin là căn nguyên chính gây nên ngứa. Ấu trùng có thể bò trực tiếp trên da hoặc gián tiếp do gió thổi đưa lông dính vào quần áo khi mặc vào sẽ bị bệnh.

Thương tổn hay thấy ở vị trí hở như mặt, cổ, tay, chân, đôi khi có viêm kết mạc mắt do đi đường bị ấu trùng bướm bay thẳng vào mắt, hoặc đêm ngủ ấu trùng bò lên vùng mắt.

Thương tổn do ấu trùng bướm thường là những ban đỏ phù nề, sẩn và mụn nước, mụn mủ, nóng, đau rát.

Viêm da do độc tố của kiến khoang

Kiến khoang là loại kiến có kích thước nhỏ hơn hạt thóc có cánh bay, bụng thon nhọn có một khoang màu đỏ trên nền đen, tối lại rất hay bay vào bóng đèn bám trên các bức tường, giường, màn và bò cả lên người. Kiến này đốt rất đau và trong bụng chứa một chất độc giống như chất piridin ở sâu ban miêu. Chất này khi tiếp xúc vào da tạo nên viêm da, thối thịt giống như bị tạt axít. Một số người không biết đã lấy tay giết kiến sau đó vô tình sờ lên mặt hoặc gãi lên da đã tạo thành những vết tổn thương dài, hoặc thương tổn ở cẳng tay khi ngủ vắt tay lên trán làm tổn thương lan sang trán, thương tổn ở bắp chân  lây sang mặt sau đùi khi ngồi xổm, những thương tổn dạng như trên được gọi là thương tổn hôn nhau (kissing lesson) là dấu hiệu đặc thù chỉ có trong viêm da tiếp xúc do côn trùng.

 Tính chất của thương tổn là những ban đỏ, mụn nước, mụn mủ, trợt loét nông trên da cũng giống như viêm da do ấu trùng bướm nhưng ở cấp độ nặng hơn, có thể bị nhiều tổn thương trên da. Đau rát nhiều làm bệnh nhân lầm tưởng là bệnh zona.

viem_da_do_tiep_xuc_con_trung_01

Sự khác biệt của bệnh zona

 Bệnh zona thực chất là do virut có ái tính với thần kinh gây nên: virut nhân lên trong các hạch thần kinh và theo các sợi thần kinh ra ngoài gây nên bệnh ngoài da, nên tổn thương chỉ bị một khúc bì do thần kinh đó chi phối và chỉ bị một bên rất hiếm khi bị 2 nơi hoặc đối xứng, hai bên. Còn viêm da do côn trùng thì tại vị trí tiếp xúc có thể bị nhiều nơi trên cơ thể.

Thương tổn của zona là những mụn nước, bọng nước thành chùm thành nhóm như chùm nho, đau xuất hiện trước khi mọc mụn nước 1-2 ngày và thường có hạch vùng lân cận. Đặc biệt là không có thương tổn hôn nhau như ở viêm da tiếp xúc, chỉ bị zona sau khi đã bị thủy đậu, hiếm khi lây lan nên không thể nói là dịch zona  và đời người cũng chỉ bị zona một lần, nếu ai đó bị zona lần thứ 2 thì nên kiểm tra tình trạng bệnh kỹ lưỡng xem có mắc bệnh khác không.

Tính chất đau của zona là đau như điện giật, đau từng cơn, khi tổn thương đã khỏi nhưng đau vẫn còn tồn tại khá lâu. Còn viêm da tiếp xúc thì chủ yếu là rát và ngứa âm ỉ không thành cơn và khi tổn thương thuyên giảm thì hết đau hoàn toàn.

Điều trị viêm da tiếp xúc do côn trùng

Phải loại bỏ căn nguyên càng sớm càng tốt bằng cách tắm rửa, thay quần áo. Tại chỗ bị tổn thương bôi các thuốc như hồ nước, hoặc thuốc kháng sinh có corticoid như: supricor-N, fusicort, fobancort. Uống thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng histamin trong 5 ngày bệnh sẽ khỏi.

Phòng bệnh

Hạn chế côn trùng vào nhà bằng cách đóng kín cửa kính, cửa chớp, tắt điện hoặc treo bóng điện ở ngoài sân, vườn để dụ côn trùng không vào nhà. Khi giặt, phơi quần áo không lộn trái, trước khi rửa mặt kiểm tra khăn mặt xem có sâu bọ bám trên khăn không? Khi nhìn thấy côn trùng bò trên người phải tìm cách xua, phủi côn trùng đi, không được giết côn trùng trực tiếp  trên da.

Theo suckhoevadoisong