Tag Archives: phổi

Nguy cơ viêm thanh quản cấp

Viêm thanh quản cấp là một bệnh phổ biến, thường xảy ra vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết chuyển lạnh. Tuy nhiên hiện nay, do kinh tế phát triển cùng với sự nóng lên của trái đất dẫn đến việc sử dụng điều hòa và dùng nước đá giải khát cũng là nguy cơ dẫn đến viêm thanh quản cấp.

Thủ phạm gây viêm thanh quản cấp
Như chúng ta đã biết, họng và thanh quản đem lại tiếng nói cho bạn nhờ sự rung động của hai dây thanh khi luồng không khí đi ra từ phổi. Khi bạn bị mất tiếng hoặc nói khàn tức bộ phận này đã bị tổn thương, y học gọi viêm thanh quản cấp. Qua nghiên cứu, người ta phát hiện nguyên nhân gây viêm thanh quản cấp chủ yếu là do virut: influenza, virut APC, myxovirut, virut cúm, á cúm. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác như stress (căng thẳng thần kinh, mệt mỏi về thể chất, dị ứng hay hít phải chất lạ nào đó).

nguy-co-viem-thanh-quan-cap

Khởi đầu của viêm thanh quản cấp thường do bị viêm mũi hoặc viêm mũi – họng xuất tiết với dấu hiệu chính là khàn tiếng hay mất tiếng đột ngột. Triệu chứng ban đầu, người bệnh thấy nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, ngấy sốt sau đó đau họng, có cảm giác nóng và khô hoặc rấm rứt như có dị vật trong cổ họng, kích thích ho (lúc đầu ho từng cơn, ho khan, sau đó ho có đờm nhầy). Tiếp đến, giọng nói bị khàn, đôi khi khàn đặc, thậm chí mất tiếng. Những triệu chứng trên của bệnh thường kéo dài trong vài ngày. Sau đó, các triệu chứng giảm dần, khoảng sau 7 ngày thì khỏi. Ban đầu có thể chỉ khỏi cơn ho, sốt, chảy mũi nhưng khàn tiếng có thể kéo dài thêm một vài ngày nữa mới khỏi hẳn.

Làm gì khi bị viêm thanh quản?
Bệnh diễn biến trong vòng 5 – 7 ngày rồi tự khỏi nếu không có biến chứng. Tuy nhiên, viêm thanh quản cấp có thể gây biến chứng, nhất là những trường hợp bội nhiễm dẫn đến những bệnh nhiễm khuẩn do sức đề kháng chung của cơ thể giảm sút như viêm tai, viêm phổi… Chính vì thế, cần phải theo dõi sát, điều trị đúng và kịp thời, nếu thấy xuất hiện các triệu chứng của biến chứng như đau tai, chảy dịch ở tai, khó thở…, phải đưa người bệnh vào viện ngay. Điều trị toàn thân dùng kháng sinh phòng bội nhiễm: nhóm b lac-tam như amoxilin, taxetil dạng viêm hoặc siro với liều theo cân nặng.

Nếu dị ứng với nhóm kháng sinh này thường được thay thế bằng kháng sinh nhóm macrolid như davercine… Có thể dùng thuốc chống viêm, giảm phù nề bằng liệu pháp corticoid (hít): solumedrol hoặc depersolon hoặc corticoid đường uống, chymotrypsin choay dạng viên nén ngậm dưới lưỡi hoặc uống phối hợp với các thuốc giảm ho, kháng histamin uống.

Dân gian thường sử dụng chanh tươi thái lát mỏng, nghệ tươi, đường phèn hấp cách thủy ngậm nhiều lần trong ngày. Dùng một số thảo dược như húng chanh, mật ong, quất, gừng, tía tô, ngải cứu, bạc hà… trong điều trị viêm thanh quản cũng cho kết quả tốt.

Thuốc ngậm tại chỗ cũng rất hữu ích trong viêm thanh quản, tuy nhiên, thuốc sử dụng, liều dùng cũng như thời gian sử dụng phải theo chỉ định của thầy thuốc, tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.
Điều trị hỗ trợ viêm mũi họng bằng cách nhỏ mũi, súc họng bằng dung dịch kiềm nhẹ. Khí dung mũi họng cùng với làm thuốc thanh quản thực hiện bởi các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

nguy-co-viem-thanh-quan-cap1

Đối với những bệnh nhân viêm thanh quản, điều quan trọng nhất trong điều trị là kiêng nói để dây thanh có thể phục hồi sớm nhất. Nếu thực hiện được kiêng nói trong vài ngày (thường khoảng 3 – 5 ngày), bệnh sẽ khỏi rất nhanh. Ngoài ra, cần bổ sung vitamin, ăn nhiều hoa quả tươi, nằm nghỉ ngơi, không hút thuốc lá, uống rượu và các gia vị kích thích như ớt, hạt tiêu…

Để phòng viêm thanh quản cấp
Khi đi đường, làm việc trong môi trường bụi, nên đeo khẩu trang, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho cơ thể để chống lại sự thâm nhập của virut, vi khuẩn. Trước khi đi ngủ, nên nhỏ mũi, súc miệng bằng nước muối sinh lý. Khi có những triệu chứng sớm của viêm mũi, viêm họng cấp, cần điều trị ngay. Hạn chế tối đa việc hút thuốc, không uống nước đá…

Lời khuyên của thầy thuốc
Có nhiều trường hợp khi bị viêm thanh quản cấp do chủ quan nghĩ chỉ bị viêm họng nhẹ nên không đi khám mà tự điều trị ở nhà, khi bệnh không đỡ mới đến cơ sở y tế. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân tới khám đã bị viêm khí – phế quản, viêm phổi… gây khó thở nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng và cũng do tự điều trị ở nhà, lạm dụng nhiều thuốc, nhất là kháng sinh nên gây khó khăn trong quá trình điều trị. Chính vì thế, khi có những dấu hiệu của bệnh như mất tiếng hoặc giọng khàn, nói khó khăn kèm theo hiện tượng ho, sốt, nhiều đờm; khó thở, hít vào có tiếng rít; tiếng ho khàn, người mệt nhiều và gần như không nói được; khàn tiếng kéo dài dùng thuốc không thấy đỡ (có thể là biểu hiện của chứng ung thư các dây thanh âm)…, cần đi khám chuyên khoa tai – mũi – họng để tìm nguyên nhân và phương pháp điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Bạn biết gì về bệnh phổi biệt lập?

Phổi biệt lập là một rối loạn phát triển thời kỳ bào thai dẫn đến hình thành một khối kén mô phổi không có chức năng, khối này được nuôi dưỡng bởi một động mạch bất thường.

Có hai loại phổi biệt lập: trong thùy chiếm khoảng 75% và ngoài thùy chiếm khoảng 25%.

Phổi biệt lập trong thùy: được giới hạn trong nhu mô phổi bình thường, hay gặp ở vị trí phân thùy đáy sau của thùy dưới cạnh cột sống cũng có thể lan tới các phân thùy  phổi liền kề và không có màng phổi riêng bao bọc. Khối kén mô phổi này không có chức năng, được nuôi dưỡng bởi một động mạch hệ thống bất thường xuất phát từ động mạch chủ bụng. Tĩnh mạch hồi lưu đổ về nhĩ trái qua hệ tĩnh mạch phổi. Tổn thương do mắc phải, có thể do tắc nghẽn phế quản và viêm phổi sau tắc nghẽn mạn tính.

ban-biet-gi-ve-benh-phoi-biet-lap

Phổi biệt lập ngoài thùy: là tổn thương kiểu thùy phổi phụ được bao bọc bởi màng phổi riêng. Có sự phân chia hoàn toàn giữa tổn thương và nhu mô phổi xung quanh. Vị trí tổn thương có thể nằm giữa thùy dưới và vòm hoành bên trái (90% số trường hợp) hoặc phần trên của bụng. Tổn thương ở phổi trái gặp nhiều hơn phổi phải, có khi tiếp giáp với thực quản và  có thể có đường rò. Khối mô phổi biệt lập được cấp máu bởi động mạch bất thường, thường là động mạch lạc chỗ xuất phát từ động mạch chủ ngực.

Thể bệnh này cũng thường đi kèm với các bất thường khác của cơ thể như thoát vị hoành bẩm sinh bệnh tim bẩm sinh, bất thường cột sống… Do khối kén mô phổi được bao bọc bởi màng phổi riêng, vì vậy ít xuất hiện tình trạng nhiễm khuẩn, hầu như chỉ biểu hiện là một khối mô mềm thuần nhất. Bệnh có thể chẩn đoán được trước sinh bằng siêu âm.

Trên phim chụp Xquang, biểu hiện điển hình của phổi biệt lập là đám mờ khu trú ở thùy đáy sau của phổi, gặp ở bên trái nhiều hơn bên phải. Phổi biệt lập trong thùy thường ở trên vòm hoành, là một đám mờ thuần nhất hình tròn hoặc bờ có nhiều thùy múi giống một khối ở trong nhu mô phổi, có thể chứa khí ở trong, ranh giới không rõ, hình ảnh giống viêm phổi hoặc áp-xe phổi, hiếm khi gặp hình ảnh mức nước hơi trong tổn thương ngoại trừ một số trường hợp có lỗ rò giữa tổn thương và phế quản liền kề. Phổi biệt lập ngoài thùy biểu hiện là khối tỷ trọng thuần nhất, bờ được xác định rõ bởi có màng phổi riêng bao bọc, có thể xuất hiện ở một số vị trí khác như màng ngoài tim, trung thất, vòm hoành, khoang sau phúc mạc.

Phương pháp điều trị

Điều trị phổi biệt lập trong thùy nói riêng và phổi biệt lập nói chung thì phương pháp điều trị phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập là phương pháp duy nhất và triệt để nhất.

Nguyên tắc phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập trong thùy: cắt bỏ tổ chức phổi biệt lập cùng với thùy mà phổi biệt lập nằm trong đó. Người ta có thể cắt riêng tổ chức phổi biệt lập mà vẫn giữ lại tổ chức phổi lành xung quanh, nhất là trong trường hợp tổ chức phổi biệt lập chưa có nhiễm khuẩn. Phải cắt cả phổi biệt lập lẫn thùy phổi chứa phổi biệt lập khi phổi biệt lập đã bị nhiễm khuẩn lan ra xung quanh phần thùy phổi khác.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh phổi biệt lập thường chỉ có các triệu chứng không đặc hiệu như ho, ho ra máu, đau ngực, vì vậy, bệnh nhân cần phối hợp tốt với thầy thuốc thực hiện thêm các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ để phát hiện sự hiện diện của động mạch nuôi khối kén mô phổi là chẩn đoán xác định bệnh. Khi đã phát hiện được bệnh thì cần mổ sớm để tránh nhiễm khuẩn, ảnh hưởng đến các vùng phổi bình thường vì có thể phải cắt bỏ cả phần phổi lành bị viêm nhiễm này.

BS. Đinh Lan Anh

Phòng bệnh phổi tắc mãn tính

 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh có ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe người bệnh, là một trong những bệnh gây tàn phế (suy hô hấp) và có tỉ lệ tử vong cao. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng mùa lạnh, bệnh rất dễ xuất hiện, tuy vậy, có thể phòng ngừa để hạn chế  sự có mặt của nó.

Đâu là nguyên  nhân?

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tình trạng bệnh lý xảy ra ở phổi, làm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường xuyên, ngày một nặng thêm và khó hồi phục. Nguyên nhân gây bệnh COPD chủ yếu là do hút thuốc lá (có khoảng 5 người nghiện thuốc lá thì sẽ có 1 người mắc COPD) và có khoảng 80 – 90% bệnh nhân COPD đang hút hoặc có tiền sử hút thuốc lá. Bên cạnh đó, các chất kích thích khác có thể gây COPD bao gồm cả khói xì gà, khói thuốc lào, khói của nhà máy, ô nhiễm không khí và khói hóa chất. Một số bệnh về phổi mạn tính kéo dài như viêm phế quản mạn tính (làm tăng sản xuất chất nhờn và có thể thu hẹp các ống phế quản), giãn phế quản, giãn phế nang, hen suyễn (gây co thắt của sợi cơ trong lớp màng của đường hô hấp: co thắt phế quản) cũng gây nên COPD. Một số trường hợp trào ngược dạ dày thực quản làm gia tăng thêm bệnh COPD hoặc tạo điều kiện cho COPD xuất hiện. Một số trường hợp hít phải khói thuốc một cách thường xuyên do người khác trong gia đình hút thuốc, một số trường hợp do nghề nghiệp tiếp xúc với bụi hoặc hóa chất thường xuyên gây kích ứng, viêm phổi, gây ứ đọng dẫn đến COPD.

phong-benh-phoi-tac-man-tinh

Không nên chủ quan với biểu hiện của bệnh

Triệu chứng của COPD phát triển chậm. Những triệu chứng đầu tiên có vẻ nhẹ, vì vậy, bệnh nhân thường cho rằng đây là chuyện không đáng quan tâm cho nên càng ngày bệnh càng nặng dần. Triệu chứng thường gặp nhất là khó thở, ho, khò khè và có hiện tượng tăng tiết chất nhày và đờm. Khó thở lúc đầu chỉ thỉnh thoảng. Khi bệnh nặng, người bệnh luôn luôn thấy khó thở và đôi khi phải dùng mặt nạ để thở ôxy. Thở khò khè giống như hen suyễn vì phế nang bị sưng nề và xuất tiết nhiều (đờm) làm nghẽn đường dẫn khí. Ho lúc đầu vào buổi sáng, sau đó dần dần ho nhiều suốt ngày đêm. Ho ra đờm, lúc đầu ít, lỏng, càng về sau càng đặc quánh. Đờm trong hoặc hơi đục, đôi khi đờm có màu hơi vàng. Người bệnh luôn luôn cảm thấy mệt mỏi, lười vận động, chán ăn do thiếu dưỡng khí. Một người bệnh được chẩn đoán là COPD khi có biểu hiện ho, khạc đờm trên 3 tháng trong 1 năm và biểu hiện liên tiếp như vậy trong vòng 2 năm trở lên; đồng thời khó thở càng ngày càng tăng. Bệnh nhân thường phải gắng sức để thở hoặc thở hổn hển. COPD dễ nhầm với hen suyễn. Phân biệt bằng cách: Bệnh hen suyễn sẽ lên cơn hen cấp tính mỗi khi gặp phải chất gây dị ứng (dị ứng nguyên) hoặc chất kích thích, trong khi đó, COPD không nhất thiết như vậy. Tuy vậy, bệnh hen suyễn dẫn đến suy hô hấp chậm hơn COPD. Với bệnh COPD mà khi đã có ho nhiều, khó thở nặng và tăng tiết chất nhày nhiều thì bệnh đã ở giai đoạn nặng.

Điều trị và phòng bệnh thế nào?

COPD là một bệnh trường diễn, vì vậy, việc điều trị gặp không ít khó khăn. Các thuốc corticosteroid có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh hen suyễn cấp tính rất hiệu nghiệm nhưng lại tác dụng hạn chế trong COPD giai đoạn ổn định. Trong khi đó, thuốc anticholinnergic dạng bơm đem lại hiệu quả khá cao trong COPD. Nhiều tác giả khuyến nghị nên dùng các thuốc anticholinergic là thuốc điều trị duy trì đối với COPD và khi bệnh tiến triển xấu, cần kết hợp với các thuốc chủ vận bêta hoặc một số thuốc khác. Khi bệnh tái phát nặng thì nên dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn (nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn) từ 10 – 14 ngày, đồng thời dùng thuốc giãn phế quản (atrovent, diaphylin) khí dung hoặc uống hay tiêm theo chỉ định của bác sĩ điều trị và thuốc long đờm. Trong trường hợp cần thiết và có điều kiện, nên cho thở ôxy.

BS. Việt Bắc

Nguồn sức khỏe đời sống

Công ty DAIBIO + Phòng chẩn trị Y học cổ truyền ĐẠI GIA …

Địa chỉ: Số 38 Ngõ Thái Thịnh 1 – Đống Đa – Hà Nội

Điện thoại: 84 – 04 – 6275 4799

Wesite: http://www.daibio.com.vn/

Nhóm địa điểm: Phòng khám Đông y

Công ty DAIBIO và Phòng Chẩn Trị Y Học Cổ Truyền Đại Gia Đình – DAIBIO là tập hợp các Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thạc sỹ, Bác sỹ, Lương Y, Dược Sỹ, Kỹ sư trong tập thể Đại Gia Đình có truyền thống làm Nghề Y đã trên 300 năm nay. Nối tiếp dòng dõi lịch sử của dòng họ Lê với các bậc Khai Quốc Công Thần như Hoàng Đế Lê Thái Tổ, Hoàng Đế Lê Thánh Tông…, dòng họ Lê tại Sơn An Hương Sơn Hà Tĩnh cùng các dòng họ nổi tiếng hiếu học ở Việt Nam như Nguyễn Khắc, Đái Duy… đã có rất nhiều bậc Danh Y của Việt Nam như Lương Y Hàn Lâm Viện Lê Nguyễn Lệ, Lương Y Tham Biện Tiểu Phủ Sứ Lê Kinh Hạp, Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm, Tham Tri Bộ Lễ Lê Khánh Lam Lê Quý Bác, Lương Y Lê Khánh Quyền, Nhà Văn Hóa Bác Sỹ Nguyễn Khắc Viện, Giáo Sư Bác Sỹ Lê Kinh Duệ, Bác Sỹ Lê Khánh Đồng, Đại Tá Bác Sỹ Lê Khắc Thiền, Giáo Sư Viện Sỹ Tiến Sỹ Khoa Học Bác Sỹ Đái Duy Ban,…http://www.daibio.com.vn/
http://www.dongtrunghathaovietnam.com/http://facebook.com/DaibioVietnamhttp://daibio.com.vn/truyen-thong-gia-dinh-dong-y/cuoc-doi-gs-vs-tskh-dai-duy-ban.daibioTiền thân là Trung Tâm Sản Xuất Thuốc Y Học Cổ Truyền Đông Y 893 với các sản phẩm có uy tín đã đăng ký với Bộ Y Tế như Thang Thuốc Đại Bổ 893 và Thang Thuốc Bổ Khí Huyết 893 ra đời năm 1989 đã có tiếng vang trong ngành dược cổ truyền những năm 90 của thế kỷ trước. Lần đầu tiên tại Việt Nam, sau thời gian nghiên cứu miệt mài trong nhiều năm, GS. VS. TSKH. BS. Đái Duy Ban cùng với các nhà nghiên cứu uy tín và đội ngũ các nhà khoa học của Công Ty Daibio đã tìm ra giống Đông Trùng Hạ Thảo của Việt Nam và nhân nuôi được thành công giống Đông Trùng Hạ Thảo tại Việt Nam Cordyceps sinensis trên sâu nhộng xén tóc Isaria cerambycidae và phát triển thành Đông Trùng Hạ Thảo Daibio. Kế thừa và phát triển Y Học Cổ Truyền kết hợp Y Học hiện đại qua nhiều thế hệ hơn 300 năm qua, Đại Gia Đình DAIBIO đầy tâm huyết theo đuổi mục tiêu:Bệnh nhân làm trung tâm, khoa học công nghệ làm động lực, chất lượng để đảm bảo.

Những thực phẩm giúp phổi luôn khỏe mạnh

Không khí ngày càng ô nhiễm là nguyên nhân vì sao bạn nên dành nhiều sự quan tâm cho sức khỏe của phổi nhiều hơn. Phổi giữ vai trò như 2 “nhà máy” lọc thải các chất, khí độc hại trong cơ thể và đẩy ra ngoài cơ thể.

Nếu phổi khỏe mạnh thì việc lọc thải các chất độc mới đạt hiệu quả cao, giảm thiểu nguy cơ tích tụ chất độc hại trong cơ thể và giảm nguy cơ gây bệnh.

Để phổi luôn khỏe mạnh, bạn đừng bỏ qua các loại thực phẩm sau đây nhé:

1. Táo

Một nhóm nghiên cứu từ trường St George thuộc Bệnh viện Y khoa London đã tiến hành nghiên cứu mối liên hệ giữa chế độ ăn và chức năng phổi trên hơn 2.500 người trong độ tuổi 45-49.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc phổi có thực hiện tốt các chức năng hay không có liên quan mật thiết với nồng độ các vitamin C, E và beta-carotene. Và táo là một loại quả rất giàu các vitamin nói trên. Những người ăn nhiều táo thì phổi của họ cũng hoạt động tốt hơn.

2. Cam

Cam cung cấp vitamin C, sắt và vitamin B6. Các dưỡng chất này giúp phổi chuyển oxy đến các tế bào hiệu quả hơn. Cam cũng chứa beta-cryptoxanthin, một chất chống oxy hóa tự nhiên.

Sự kết hợp của các chất dinh dưỡng tự nhiên làm cho cam trở thành một thực phẩm rất tốt cho phổi.

3. Hành tây

hanh-tay

Hành tây cung cấp vitamin C, vitamin B6, và các chất dinh dưỡng quan trọng khác. Các chất dinh dưỡng này vô cùng quan trọng vì không những hỗ trợ quá trình tự chữa lành các thương tổn của cơ thể mà còn có đặc tính chống ung thư.

Một thành phần khác có trong hành là quercetin, một chất chống oxy hóa tự nhiên. Qua nhiều năm nghiên cứu, người ta đã công nhận quercetin giúp ngăn ngừa các bệnh về phổi bao gồm cả ung thư phổi.

4. Trà xanh

Đây là một trong những thực phẩm phổ biến nhất được các bác sĩ khuyên dùng giúp phòng ngừa nhiều bệnh tật. Trà xanh có thể ngăn chặn không chỉ ung thư phổi mà còn một loạt các bệnh khác nữa.

Nó rất giàu chất chống oxy hóa, đặc biệt là catechin và có thể hỗ trợ trong việc thúc đẩy hệ thống miễn dịch, tăng cường quá trình trao đổi chất của cơ thể bạn, kể cả quá trình lọc thải ở phổi.

5. Tỏi

Trong khi hầu hết mọi người không yêu thích tỏi vì nó khá nặng mùi thì các nhà khoa học lại hết sức thích thú với loại gia vị nấu ăn đến từ các nước Châu Á này. Tỏi tươi có chứa nhiều chất chống oxy hóa và có thể giúp ngăn ngừa các bệnh về đường hô hấp , ung thư phổi và nhiều loại ung thư khác.

Theo các nhà khoa học ở Birmingham (Anh), chỉ cần một liều nhỏ allicin – một hoạt chất trong tỏi – có thể cải thiện tình trạng máu lưu thông trong tổ chức phổi, giúp cho hoạt động hô hấp trở nên dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng nhấn mạnh, khi bạn chế biến tỏi theo các cách khác nhau thì những dưỡng chất có giá trị sẽ mất đi.

6. Cá

Cá cung cấp vitamin D. Vitamin D có một liên kết trực tiếp đến sức khỏe của. Sự thiếu hụt vitamin này làm tăng nguy cơ suy giảm chức năng phổi. Mỡ cá và dầu cá là nguồn cung cấp vitamin D phong phú, do đó rất tốt cho phổi.

Cá cũng rất giàu axit béo omega-3, một loại axit béo tốt cho hệ tim mạch cũng như ngăn ngừa nhiều bệnh tật có liên quan đến hệ hô hấp.

7. Cà rốt

thuc-pham
Cà rốt rất giàu vitamin A và vitamin C. Vitamin A đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phổi.

Nghiên cứu khoa học trên chuột cho thấy những con được cung cấp đủ vitamin A ít có nguy cơ phát triển bệnh phổi hơn so với những con thiếu hụt chất dinh dưỡng thiết yếu này.

Vitamin C là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ, có khả năng giúp phổi tự chữa lành các tổn thương nhỏ. Cà rốt cũng có lycopene, falcarinol, beta-carotene, lutein và zeaxanthin, tất cả các chất này đều là tác nhân chống ung thư mạnh mẽ, trong đó có cả ung thư phổi.

Theo sức khỏe

Lao xương khớp: Cách điều trị

Lao xương khớp được coi là lao thứ phát, do vi khuẩn lao sau khi qua phổi hoặc hệ thống tiêu hóa sẽ theo đường máu hoặc bạch huyết đến khu trú tại một bộ phận nào đó của hệ thống cơ xương khớp gây bệnh. Bệnh lao xương khớp có thể bị đơn độc hoặc kèm theo lao tại phổi hay tại các cơ quan khác.

Nguyên nhân và triệu chứng

Lao xương khớp là tình trạng nhiễm khuẩn của hệ thống xương khớp do trực khuẩn lao có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Đây là tình trạng lao ngoài phổi phổ biến, chiếm khoảng 7% tổng số các thể lao. Lao xương khớp có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, tất cả các xương khớp trong cơ thể; trong đó lao cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60-70% tổng số lao xương khớp, sau đó đến lao khớp háng (10%), khớp gối (5%)…

Lao cột sống còn gọi là bệnh Pott, là tình trạng viêm đốt sống – đĩa đệm do lao hay gặp nhất. Biểu hiện toàn thân: bệnh nhân sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi, gầy sút, da xanh xao, ăn uống kém. Biểu hiện tại chỗ: thường bệnh nhân đau cột sống âm ỉ liên tục, đau tăng về đêm. Khi bị lâu có thể dẫn đến xẹp đốt sống gây gù nhọn. Lao có thể rò mủ ra ngoài, chất mủ giống như bã đậu. Cũng có khi lao tạo thành ổ áp-xe lạnh cạnh cột sống. Khi để muộn có thể gặp một số biến chứng chèn ép thần kinh xung quanh do xẹp đốt sống, thoát vị đĩa đệm, do áp-xe lạnh, do viêm màng nhện tủy. Nếu chèn ép thần kinh ở vùng cột sống thắt lưng gây yếu liệt hai chân, rối loạn cảm giác vùng hậu môn sinh dục, đại tiểu tiện không tự chủ. Nếu chèn ép ở cột sống cổ có thể gây liệt tứ chi. Chèn ép vùng ngực gây đau thần kinh liên sườn, rối loạn cảm giác, yếu liệt hai chân… Trường hợp lao cột sống có áp-xe lạnh, khối áp-xe có thể vỡ vào trung thất  gây hội chứng trung thất, hoặc vỡ vào màng tim, màng phổi gây chèn ép tim, phổi cấp dẫn đến suy hô hấp, trụy tim mạch. Nếu áp-xe vỡ vào cơ thắt lưng chậu gây viêm cơ thắt lưng chậu.

Lao khớp ngoại biên hay gặp là lao khớp háng, khớp gối và một số khớp khác ít gặp hơn như khuỷu tay, cổ tay, cổ chân… Biểu hiện tại chỗ là tình trạng viêm khớp: sưng, nóng, đỏ đau tại chỗ thường ở một khớp đơn độc; khớp bị tổn thương hạn chế vận động, có thể có lỗ rò ra chất hoại tử bã đậu hay mảnh xương chết. Lâu ngày cơ quanh khớp viêm bị teo, hạn chế vận động. Biểu hiện toàn thân của lao khớp ngoại biên cũng tương tự như lao cột sống. Cần lưu ý hiện nay lao nói chung và lao xương khớp nói riêng thường phối hợp với các bệnh suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, đái tháo đường…

lao_xuong_khop_cach_dieu_tri

Xét nghiệm tìm vi khuẩn lao

Vấn đề điều trị

Điều trị lao xương khớp bao gồm điều trị cơ bản tức điều trị nguyên nhân bệnh và điều trị phối hợp.

Điều trị cơ bản, tức là dùng thuốc chống lao điều trị nguyên nhân theo các nguyên tắc sau: phối hợp các thuốc chống lao với ít nhất 3 loại thuốc trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì. Dùng thuốc đúng liều: liều thấp không hiệu quả, dễ tạo vi khuẩn kháng thuốc, ngược lại liều cao dễ gây tai biến. Dùng thuốc đều đặn đặn để đạt sự hấp thu thuốc tối đa. Dùng thuốc đủ thời gian, theo 2 giai đoạn: tấn công từ 2-3 tháng và duy trì từ 4-6 tháng. Cần theo dõi quản lý bệnh theo nguyên tắc DOST (Directly Observed Treatment, Short course) tức là điều trị phác đồ ngắn ngày có theo dõi, kiểm soát trực tiếp việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng toàn thân, tại chỗ, tiến triển của bệnh cũng như các tai biến có thể xảy ra khi dùng thuốc.

Các thuốc chống lao thường dùng và liều lượng thuốc khi dùng hàng ngày là: Streptomycin (S), Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazynamid (Z), Ethambutol (E). Trong trường hợp dùng phác đồ 3 lần một tuần thì liều lượng có sự thay đổi, thường là cao hơn liều hằng ngày.

Các phác đồ chuẩn: đối với lao xương khớp mới phát hiện: dùng phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE hoặc 2S(E)RHZ/4RH. Phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 4 loại kháng sinh phối hợp: streptomycin hoặc ethambutol, isoniazid, rifampicin, pyrazynamid; 4 tháng sau dùng hai loại thuốc là isoniazid và ethambutol hằng ngày. Phác đồ này chỉ áp dụng khi kiểm soát trực tiếp được bệnh nhân ở cả giai đoạn duy trì.

Với lao xương khớp tái phát, hoặc thất bại sau phác đồ trên, hoặc điều trị lại sau bỏ thuốc hoặc với thể lao nặng thì áp dụng phác đồ: 2SHRZE/1HRZE/5H3R3E3, có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 5 loại thuốc phối hợp, tháng thứ ba dùng 4 loại thuốc, 5 tháng tiếp theo dùng 3 loại thuốc mỗi tuần 3 ngày.

Một số trường hợp lao xương khớp đặc biệt như lao ở trẻ em, người già, phụ nữ có thai hay cho con bú, người suy gan thận cần đặc biệt chú ý và có những hướng dẫn điều trị, theo dõi riêng.

Khi sử dụng thuốc chống lao kéo dài cần đặc biệt chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng), đau khớp, rối loạn về thần kinh ngoại biên (tê bì, bỏng rát ở chân), mẩn ngứa phát ban… Trường hợp nặng có thể có ù tai, chóng mặt hay điếc do dùng streptomycin; xuất huyết dưới da, thiếu máu huyết tán do dùng rifampicin, giảm thị lực do dùng ethambutol; vàng da viêm gan do R, H, Z…, hay có thể sốc phản vệ do thuốc. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ về lâm sàng, xét nghiệm máu để có thái độ xử trí thích hợp.

Điều trị phối hợp: Ngoài điều trị thuốc cơ bản, đặc hiệu thì trong lao xương khớp, việc điều trị phối hợp rất quan trọng.

Bất động tương đối vùng tổn thương: bất động trong thời gian tiến triển của bệnh bằng máng bột, áo bột, nẹp bột hay áo, nẹp chỉnh hình; sau đó nếu có thể thì vận động trở lại sớm để tránh dính, cứng khớp.

Điều trị tốt bệnh phối hợp: HIV, đái tháo đường…

Phòng, điều trị các tác dụng phụ của thuốc.

Nghỉ ngơi hợp lý, nâng cao thể trạng, chế độ ăn uống nhiều đạm, vitamin.

Kết hợp thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ nếu đau nhiều.

Điều trị ngoại khoa phối hợp trong các trường hợp cần thiết: phẫu thuật loại bỏ ổ tổn thương, giải phóng chèn ép, điều trị chỉnh hình…

Phòng bệnh

Cách ly người bệnh, tránh lây nhiễm. Những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân lao cần được khám và chụp Xquang phổi để phát hiện sớm tình trạng nhiễm lao, từ đó có biện pháp điều trị và quản lý hợp lý, tránh lây lan.

Người bệnh cần được theo dõi quản lý chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc điều trị bệnh nhằm tránh hiện tượng lao tái phát, lao kháng thuốc.

ThS. Bùi Hải Bình
Theo SKĐS

Phát hiện viêm phổi ở trẻ bằng cách đếm nhịp thở

Thở nhanh là một phản ứng của cơ thể đối với hiện tượng thiếu ôxy trong viêm phổi, đồng thời khi bị viêm, phổi sẽ mất tính mềm mại và sự giãn nở sẽ yếu đi.

Do vậy khi bị viêm phổi, bắt buộc nhịp thở phải tăng lên. Ðây là dấu hiệu quan trọng và có giá trị để phát hiện sớm bệnh để điều trị kịp thời, tránh diễn biến nặng dẫn đến tử vong, nhất là đối với trẻ nhỏ.
phat-hien-viem-phoi-o-tre-bang-cach-dem-nhip-tho1
Để phát hiện thở nhanh, phải đếm nhịp thở trẻ trong vòng một phút. Cách đếm như sau: Người lớn ngồi ôm trẻ vào lòng, giữ trẻ ở trạng thái yên tĩnh, không kích thích, không để quấy khóc. Vén áo trẻ lên cho phần bụng và phần ngực được phơi trần. Nhìn vào bụng hoặc ngực của trẻ để đếm. Mỗi lần hít vào và thở ra một nhịp. Tính thời gian dựa vào kim giây của đồng hồ.

Để lấy số chính xác của số lần thở trong 1 phút có thể 2 người cùng phối hợp đếm nhịp thở: Một người đếm và một người theo dõi đồng hồ trong vòng 1 phút. Nếu nghi ngờ có thể đếm lại lần thứ 2. Dựa vào số nhịp thở và tuổi của trẻ để kết luận trẻ có thở nhanh hay không? Nếu trẻ thở nhanh có nghĩa là trẻ đang bị viêm phổi.

– Trẻ dưới 2 tháng tuổi, nhịp thở 60 lần/phút là thở nhanh.

– Trẻ từ 2 tháng tuổi đến 11 tháng tuổi, nhịp thở 50 lần/phút là thở nhanh.

– Trẻ từ 12 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi, nhịp thở 40 lần/phút là thở nhanh.

Khi trẻ bị viêm phổi, nhất là trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi, cha mẹ không được tự ý mua thuốc điều trị cho trẻ mà phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế để khám và dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Ngoài ra cần lưu ý, trường hợp ho, sổ mũi có kèm theo một trong những dấu hiệu sau đây phải ngay lập tức đưa trẻ đến vào bệnh viện:

– Co lõm ngực (phần giữa bụng và ngực lõm vào khi trẻ hít vào).

– Thở mệt, cánh mũi phập phồng, tím tái.

– Thở khò khè hay thở rít khi nằm yên.

– Không uống được, co giật hoặc li bì khó đánh thức.

Nguồn st

Bệnh phổi ở trẻ nhỏ

Trẻ sơ sinh dễ bị viêm phổi, bệnh nặng có thể gây tử vong nếu không điều trị kịp thời. Triệu chứng bệnh không rõ ràng nên nhiều trường hợp đến BV thì đã rất nặng.

Nguyên nhân gây viêm phổi có thể là do vi khuẩn, virus, đôi khi vì ký sinh trùng, nấm dù hiếm gặp. Tùy theo từng mức độ nặng nhẹ của bệnh mà các bác sĩ sẽ có chỉ định phù hợp.

cach-nhan-biet-som-tre-bi-viem-phoi

Dưới dây, PGS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai (Hà Nội) chia sẻ một số biểu hiện chính của bệnh viêm phổi ở trẻ:

1. Thở nhanh

Trong tất cả các dấu hiệu lâm sàng thì thở nhanh là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Tiêu chuẩn thở nhanh theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới là: hơn 60 lần trong một phút đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, hơn 50 lần một phút với trẻ 2 tháng đến 12 tháng tuổi và hơn 40 lần một phút với trẻ 1-5 tuổi.

Tuy nhiên, đếm nhịp thở cũng gặp khó khăn đối với một số trẻ nhỏ hay sợ, kích thích hoặc quấy khóc. Khi đó nhịp thở có thể tăng lên, vì vậy phải đếm khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong một phút. Đối với trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi nếu lần đếm thứ nhất nhịp thở 60 lần một phút trở lên thì cần phải đếm lần 2 vì ở tuổi này trẻ thường thở không đều. Nếu vẫn trên 60 lần một phút thì mới coi là thở nhanh.

Đây là triệu chứng hay gặp của viêm phổi ở trẻ 1-3 tuổi. Đối với trẻ trên 3 tuổi thì độ nhạy của dấu hiệu thở nhanh lại tương đối thấp. Với trẻ dưới 1 tuổi mà nhịp thở trên 70 lần một phút thì thường là triệu chứng của viêm phổi nặng.

2. Rút lõm lồng ngực

Đây là biểu hiện của viêm phổi nặng. Để phát hiện, cha mẹ có thể nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực. Trẻ dưới 2 tháng tuổi, chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại vì lồng ngực ở trẻ còn mềm, khi thở bình thường hơi cũng có thể rút lõm. Trường hợp thấy rõ lõm sâu và dễ nhìn thấy, chắc chắn trẻ bị viêm phổi.

3. Một số dấu hiệu khác

– Sốt cao: Đây là một triệu chứng thường gặp trong viêm phổi ở trẻ.

– Khò khè: Có thể có khoảng 30% ở trẻ lớn bị viêm phổi do mycoplasma. Bệnh này dễ nhầm với hen nếu không chụp X-quang phổi.

– Các biểu hiện như phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích… có thể thay đổi phụ thuộc và tuổi trẻ và độ nặng của bệnh.

Trẻ có một số biểu hiện như: ho, chảy mũi, thở bằng miệng, sốt, không có các dấu hiệu như: thở nhanh, co rút lồng ngực, thở rít khi nằm yên…, nhiều khả năng không bị viêm phổi mà chỉ ho cảm thông thường. Một số có thể khò khè. Các bé này thường do virus, không cần dùng kháng sinh mà chỉ điều trị triệu chứng, bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần.

Nguồn st

Cách chữa ho cho bé

Đây là nhóm bệnh hay bị lạm dụng kháng sinh trong điều trị nhiều nhất do cha mẹ thấy trẻ có biểu hiện sốt, ho nên nghĩ rằng con bị viêm họng.

Trong khi đó, kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng với virus.

Chị Yến ở Hà Nội cho biết, hễ thay đổi thời tiết là cậu con trai 14 tháng tuổi của chị lại bị sổ mũi, sau đó chuyển thành ho. Thấy con bị sổ mũi, ho liên tục nên chị… chán không đưa đi khám mà cho dùng si-rô hoặc kháng sinh do bác sĩ kê cho ở những lần trước đó. Thế nhưng, cháu bé không khỏi dứt điểm mà chỉ đỡ được vài ngày rồi lại ho trở lại. Ốm đau liên tục nên suốt mấy tháng con chị không tăng được lạng nào.
chua-ho-cho-be
PGS-TS. Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, hiện nay sai lầm của nhiều bậc cha mẹ là hễ thấy con ho là cho sử dụng kháng sinh, nhất là khi kèm theo sốt cao. Thậm chí cả các bác sĩ cũng đang có hiện tượng quá lạm dụng thuốc kháng sinh do ngộ nhận kháng sinh khỏi nhanh hơn. Thực chất đó chỉ là cảm giác của bà mẹ chứ không có gì chứng minh được. Mặt khác, kháng sinh làm trẻ kém ăn, chán ăn, có thể dẫn đến tiêu chảy, sức đề kháng của trẻ kém đi nhiều, làm bệnh lâu khỏi.

Tuy nhiên, mọi người không biết ho là biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau ở trẻ và không phải lúc nào những thuốc này cũng có tác dụng. Ho và sốt có thể là biểu hiện của viêm mũi họng cấp hoặc nhiễm khuẩn hô hấp trên. Đây là bệnh hay gặp ở trẻ. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do virus, trong đó chủ yếu là adenovirus, cúm A và B, rhinovirus…

Bệnh hay xảy ra lúc chuyển mùa, khí hậu nóng-ẩm, mật độ virus nhiều, cơ thể trẻ không thích nghi kịp, chênh lệch nhiệt độ sáng chiều quá lớn. Đây là nhóm bệnh hay bị lạm dụng kháng sinh trong điều trị nhiều nhất do cha mẹ thấy trẻ có biểu hiện sốt, ho nên nghĩ rằng con bị viêm họng. Trong khi đó, kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng với virus.

Bên cạnh đó, nhiều người chưa hiểu biết về cơ chế gây bệnh nên chỉ chữa ho khi con bị ho mà không biết cách phòng tránh khi con bị viêm mũi. Nhiều khi virus xâm nhập vào mũi trước, nếu nước mũi chảy ra ngoài nhiều thì trẻ ho ít nhưng khi nước mũi chảy xuống họng ứ đọng ở họng gây ho dữ dội cho trẻ-nhất là khi trẻ nằm xuống thì dịch chảy vào họng, kích thích gây ho. Lúc đó nguyên nhân trẻ bị ho là do viêm mũi chứ không phải viêm họng. Vì vậy, việc điều trị cho trẻ lúc này lại là điều trị viêm mũi bằng các thuốc giảm chảy nước mũi, chống tắc mũi. Không nên dùng kháng sinh trong trường hợp này. Bệnh thường tự khỏi sau 3-7 ngày.

Để tránh sử dụng thuốc không đúng cách và mang lại hiệu quả chữa bệnh cao, TS. Dũng cho biết: Cha mẹ cần thường xuyên vệ sinh mũi, họng cho trẻ. Khi trẻ bị ho, sổ mũi, đau họng, cha mẹ nên dùng nước muối sinh lý Natri clorid 0,9% để rửa mũi họng cho trẻ. Trong một số trường hợp chỉ bằng những cách đơn giản này trẻ có thể khỏi bệnh mà không cần dùng đến thuốc kháng sinh.

Ngoài ra, cha mẹ có thể cho trẻ uống một số loại thuốc ho có tác dụng long đờm. Nếu trẻ ho, sốt, sổ mũi mà vẫn ăn, chơi bình thường thì cha mẹ không cần quá lo lắng bởi các triệu chứng này đều có lợi cho cơ thể. Ho nhiều là phản xạ khạc nhổ các dịch chất tiết (đờm), chất nhày từ mũi xuống họng, ho là phản xạ tốt của cơ thể, ho được là nhanh khỏi bệnh, sốt cũng là một phản xạ của cơ thể, huy động cả hệ thống miễn dịch loại trừ virus ra ngoài.

TS. Dũng cũng khuyến cáo, nếu triệu chứng ho kéo dài dù đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau thì cha mẹ nên đưa con đi khám để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh và điều trị kịp thời. Với trẻ càng nhỏ thì khi mắc bệnh càng dễ chuyển nặng vì biểu hiện bệnh ở các bé sơ sinh thường không rầm rộ, điển hình nên dễ bị bỏ sót. Vì thế, cha mẹ khi thấy bé ăn uống kém, bỏ bữa, sốt không rõ ràng, hay nôn trớ, giấc ngủ không ngon cần đưa đi khám ngay.

Bên cạnh đó, để phòng tránh bệnh tật cho trẻ cần tạo môi trường sạch sẽ, thoáng khí, ít bụi bặm, ẩm thấp. Cho trẻ ăn uống theo chế độ đầy đủ dinh dưỡng để có sức khỏe tốt, sức đề kháng cao, tránh được sự xâm nhập của virus.

Nguồn st

Tìm hiểu thêm về bệnh viêm phổi ở trẻ em

Viêm phổi là tình trạng tổn thương cấp tính, lan tỏa 2 bên phổi gây rối loạn trao đổi khí tại cơ quan này, dẫn đến suy hô hấp, tiến triển nặng. Bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa đông xuân, khi thời tiết thay đổi, trời lạnh, độ ẩm cao.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây nên như vi khuẩn (phế cầu, liên cầu, tụ cầu, hemophilus influense, e.coli, trực khuẩn mủ xanh…), virút (cúm, thủy đậu, sởi, SARS), nấm, ký sinh trùng… Bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác, từ súc vật sang người. Trẻ em có thể bị bệnh sau khi tiếp xúc với người lớn mắc bệnh 2 – 3 tuần.

Viêm phổi do virút có thể gây thành dịch nguy hiểm. Ở trẻ càng nhỏ, diễn biến bệnh càng nhanh và nặng. Những trẻ suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV/AIDS), có dị tật bẩm sinh về tim mạch, phổi, lồng ngực, đẻ thiếu cân… rất dễ mắc bệnh.

viem_phoi_tre_em

ảnh minh họa

Biểu hiện của bệnh

Các biểu hiện thường rất đa dạng và phức tạp:

– Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…

– Giai đoạn sau: nếu trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát thì sẽ diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi…

Ngoài ra, trẻ có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng, phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu oxy cung cấp cho não, trẻ sẽ li bì hoặc bị kích thích, co giật…

Nguyên tắc điều trị viêm phổi ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt:

– Ở tuyến cơ sở: nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ (natricloxit 9%o), súc miệng hằng ngày. Có thể dùng một số loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như: penixilin, amoxilin, erythromycin… (tốt nhất nên dùng đường uống, dạng siro). Khi tình trạng bệnh không cải thiện thì nên chuyển lên tuyến trên.

– Khi trẻ viêm phổi nặng: nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ thì dựa vào lứa tuổi, diễn biến của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamycin, amoxilin, cefotaxim, cefuroxim…

– Điều trị hỗ trợ: hạ nhiệt bằng paracetamon, chườm mát…, làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo. Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nếu tím tái nặng, ngừng thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao kéo dài, có biểu hiện mất nước, cần truyền dịch.

– Chăm sóc: cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải, tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và cần phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Để phòng viêm phổi ở trẻ

Nhằm giúp con trẻ không bị viêm phổi, các bậc cha mẹ cần chú ý:

– Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt, ấm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch.

– Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân…

– Đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt. Khi mang thai, bà mẹ phải khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, có chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng như protid, lipid, các loại vitamin, muối khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đến 2 tuổi để cơ thể trẻ phát triển toàn diện và khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn.

– Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vắc-xin phòng viêm đường hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hướng dẫn và tư vấn của cán bộ y tế nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

– Lập sổ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giữ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhân viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Theo suckhoevadoisong

Thuốc lá và các bệnh về đường hô hấp

Khói thuốc gây phá hủy phế nang, làm giảm tính đàn hồi của phổi và làm giảm khả năng trao đổi oxy. Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mạng mao mạch. Điều này làm cho dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm, dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và ôxy cần thiết cho cả nhu mô phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khoẻ mạnh và chức năng bình thường của chúng.

cac_benh_ve_duong_ho_hap_va_khoi_thuoc_la

Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ

Do ảnh huởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt Những trẻ em sống trong môi trường có khói thuốc dễ bị viêm họng, viêm tắc mũi, khàn tiếng và dễ bị cúm hơn những đứa trẻ khác. Những trẻ có tiếp xúc với thuốc lá thường phải nạo VA và cắt Amidan nhiều hơn những trẻ khác

Nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Trẻ em hít phải khói thuốc lá có nguy cơ lớn bị những bệnh lý đường hô hấp dưới bao gồm: viêm phế quản và viêm phổi, suyễn, ung thư. Các chuyên gia ước tính rằng mỗi năm khoảng 150.000 -300.000 trẻ em dưới 18 tháng tuổi bị viêm phế quản hoặc viêm phổi có liên quan đến khói thuốc. Những trẻ dưới một tuổi là con của những người hút thuốc bị viêm phế quản hoặc viêm phổi cao gấp đôi so với con của những người không hút thuốc. Những đứa trẻ này thường bị bệnh nặng hơn và thường phải nằm viện lâu hơn 20% thời gian so với con của người không hút thuốc.

Tỷ lệ mắc và mức độ nặng của bệnh hen (suyễn)

Người cha hút thuốc và đặc biệt là người mẹ hút thuốc cũng làm tăng tỉ lệ mắc và mức độ nặng của hen. Những đứa trẻ trong gia đình có người hút thuốc đòi hỏi chăm sóc y tế nhiều hơn, nguy cơ lên cơn hen tăng gấp 2 lần. Số lần phải nhập viện để điều trị cơn hen cũng nhiều hơn so với những đứa trẻ mà các thành viên trong gia đình không hút thuốc. Trên toàn thế giới có khoảng từ 200.000 – 1 triệu trẻ em bị hen đang phải chịu những tác động xấu do cha mẹ chúng hút thuốc.

Đăng bởi: Khoa Hô hấp
Theo benhviennhi.org.vn