Tag Archives: phẩu thuật

5 sự thật về ‘dao kéo’ ít người quan tâm

Trước khi quyết định làm đẹp bằng ‘dao kéo’, bạn hãy chắc rằng bạn biết rõ những vấn đề, nguy cơ có thể xảy ra do phẫu thuật thẩm mỹ

Phẫu thuật thẩm mĩ ngày càng trở nên hiện đại và phổ biến hơn nhưng dường như điều này cũng đang tỉ lệ nghịch với độ an toàn của việc trùng tu sắc đẹp. Càng đơn giản, nhanh gọn thì cả người làm và người “được làm” đều coi thường việc xem xét kĩ lưỡng các yếu tố quan trọng trước khi quyết định có bước chân lên bàn mổ sắc đẹp hay không. Hôm nay Eva xin giới thiệu với phái đẹp những yếu tố trọng yếu ảnh hướng tới kết quả sau cùng của mỗi cuộc phẫu thuật. Chị em hãy cũng tham khảo thật cẩn thận để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra.

5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-8 Bác sĩ là yếu tố quan trọng hàng đầu

Hầu hết phái đẹp Việt lại không chịu để tâm tới yếu tố hàng đầu này. Theo khảo sát, phần lớn các Eva Việt chọn thẩm mĩ viện dựa theo lời khuyên của bạn bè, cơ sở vật chất hoành tráng, thậm chí là vì…giá rẻ. Tuy nhiên, điều này là sai lầm đặc biệt nghiêm trọng. PTTM tiềm ẩn rủi ro rất lớn, và bác sĩ chính là người trực tiếp quyết định tỉ lệ này.

Có những chị em cho biết lý do chọn thẩm mĩ viên là vì: “Bạn của tôi đã từng nâng mũi ở đây, vì vậy hôm nay tôi đến đây để..bơm ngực” hay “Thẩm mĩ viện to, cơ sở vật chất hiện đại là được rồi”. Và điều này đã dẫn tới những cuộc PTTM không được như mong đợi. Hãy dành một chút thời gian tìm hiểu về khả năng, kinh nghiệm của vị bác sĩ sẽ sửa sang sắc đẹp cho bạn, chắc chắn nó sẽ giúp bạn có những lựa chọn sáng suốt hơn.

5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-7

Các vấn đề về sẹo

Khi tiến hành hút mỡ bụng hay nâng ngực, đa phần phái đẹp thường nghĩ rằng đã là PTTM thì hiển nhiên trách nhiệm “xóa sẹo” sẽ thuộc vể bác sĩ. Tuy nhiên điều này không hoàn toàn đúng. Bởi tay nghề của bác sĩ chỉ là tiền đề cho sự thành công của cuộc phẫu thuật. Ngay cả khi bạn chi một số tiền khổng lồ để phẫu thuật tại các thẩm mĩ viện chất lượng nhất, thì sức khỏe và cơ địa của bạn vẫn luôn ảnh hưởng rất lớn tới kết quả sau cùng.

Bác sĩ có thể thực hiện những quy trình phẫu thuật y như nhau cho hai người, nhưng sau một thời gian hồi phục, kết quả đạt được lại hoàn toàn trái ngược. Những người có da sẫm màu, nói cách khác là có sắc tố da cao, khả năng để lại sẹo sau phẫu thuật gần như là rất cao. 5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-6

5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-5

Hút mỡ xong bạn lại có thể bị…’phì’ ra

Rất nhiều các Eva chủ động tiến hành hút mỡ các bộ phận trên cơ thể với suy nghĩ sai lầm rằng: sau phẫu thuật, mỡ sẽ tự động…chuyển sang bộ phận khác. Tuy nhiên khoa học đã chứng minh rằng việc hút mỡ chẳng hề có ảnh hưởng gì tới quy trình phân bố chất béo sau này. Thậm chí, cơ thể còn có xu hướng “truyền” chất béo tới những vùng có ít mỡ hơn. Điều này có nghĩa rằng, mỗi khi hút mỡ, bạn luôn luôn đối mặt với nguy cơ “phì nhiêu” trở lại nếu không đảm bảo được chế độ ăn kiêng và tập luyện hợp lí. 5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-4 5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-3

Nâng ngực xấu hay đẹp thường phụ thuộc vào chính cấu tạo cơ thể bạn.

Nâng ngực là một trong những lĩnh vực siêu hot của ngành công nghiệp trùng tu sắc đẹp. Tuy nhiên, nó đang được phổ biến với nhiều cách hiểu không đúng. Các chị em coi đây là thần dược có thể khiến mọi bộ ngực trở nên căng tràn quyến rũ. Nhưng sự thật không hẳn như thế. Có rất nhiều phái đẹp sở hữu vòng 1 không như ý mà nguyên nhân chính là do kết cấu xương.

Ví dụ điển hình là trường hợp của Bayati Spelling tại Mỹ. Mặc dù đã trải qua rất nhiều cuộc phẫu thuật nâng ngực nhưng vòng 1 của cô vẫn “xấu tệ”. Các bác sĩ phát hiện ra việc này là do phần xương ức của Spelling, cụ thể là khoảng cách giữa hai bên ngực của cô quá lớn. Vì vậy, trước khi quyết định liều mình bước lên bàn mổ sắc đẹp, các Eva nên hiểu rõ về các trạng thái cơ thể của mình đã.

5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-2

Phụ nữ hút thuốc không nên phẫu thuật thẩm mỹ

Đây là một sự thật mà rất ít người biết tới trong khi nó lại vô cùng quan trọng. Tại Việt Nam, không có nhiều chị em hay thậm chí cả các thẩm mĩ viện tên tuổi quan tâm tới vấn đề này.

Tuy nhiên, các chuyên gia tại Mỹ đã chứng minh rằng các ca PTTM như hút mỡ bụng, nâng ngực và căng da mặt không thể thực hiện trên những người có thói quen hút thuốc lá. Điều này được lí giải bởi lượng oxy trong máu của những người nghiện thuốc thường rất thấp và ảnh hưởng xấu tới quá trình liền sẹo, tái tạo da. Trong trường hợp xấu, thậm chí sẽ có những người phải đối mặt với nguy cơ bị hoại tử hoặc là vết thương hở. 5-su-that-ve-dao-keo-it-nguoi-quan-tam-1

Theo Eva.vn/SKDS

Khắc phục cười hở lợi bằng phẫu thuật

Về mặt giải phẫu học, cười hở lợi được xem là bình thường, nhưng trên phương diện thẩm mỹ, cười hở lợi là một khiếm khuyết cần được sửa chữa. Những người có tình trạng cười hở lợi thường thiếu tự tin, cười nói không thoải mái, thậm chí còn hình thành thói quen lấy tay che miệng khi nói, khi cười. Sự hài hòa giữa môi, lợi và răng ở vùng miệng tạo nên nét sinh động cũng như nụ cười duyên dáng, đó là mong muốn chính đáng của mọi người, nhất là những người có tình trạng cười hở lợi.

Cười hở lợi là gì?

Ở người bình thường, môi trên che gần hết răng cửa; khi cười, do hoạt động phối hợp của nhóm cơ vùng môi, môi trên được kéo lên trên và sang hai bên, răng hàm trên lộ ra, tuy nhiên lợi vẫn được môi che lấp. Cười hở lợi là khi cười hết cỡ, không chỉ có răng lộ mà lợi cũng bị lộ ra một phần đáng kể (>3mm tính từ viền cổ răng của đến vành môi trên). Tùy mức độ hở của lợi mà người ta phân ra làm 4 độ nặng nhẹ:

- Cười hở lợi nhẹ: Phần lợi lộ ra nhỏ hơn 25% chiều cao thân răng cửa giữa.

- Cười hở lợi mức độ trung bình: Phần lợi lộ ra trong khoảng 25%-50% chiều cao thần răng cửa giữa.

- Cười hở lợi nặng: Phần lợi bị lộ ra trong khoảng 50%-100% chiều cao than răng cửa giữa.

- Cười hở lợi nghiêm trọng: Phần lợi lộ ra lớn hơn chiều cao thân răng của giữa (>100%).

khac-phuc-nu-cuoi-ho-loi-bang-phau-thuat

Nguyên nhân của cười hở lợi

Có một vài nguyên ngân gây ra tình trạng cười hở lợi:

- Do răng: mất cân đối chiều cao và chiều rộng của thân răng, răng rất ngắn khiến cho phần lợi hở khi cười có cảm giác dài bất thường.

- Do lợi: lợi viêm hoặc lợi phì đại

- Do quá phát xương hàm trên: xương hàm trên phát triến quá mức, có khi vồng lên ngay dưới môi, khiến lợi bị hở rộng mỗi khi cười

- Do cơ: do trương lực và hoạt động của nhóm cơ nâng môi quá mạnh, làm cho môi trên bị kéo lên nhiều gây hở lợi.

Tình trạng cười hở lợi thường do một vài nguyên nhân phối hợp gây nên, do đó điều trị cười hở lợi cũng có nhiều lựa chọn tùy thuộc nguyên nhân gây nên:

- Nắn chỉnh răng trong trường hợp sang chấn khớp cắn khiến răng ngắn giả, thời gian điều trị kéo dài 12-24 tháng tùy mức độ lệch lạc của răng.

- Tiêm Botilinum Toxin vào nhóm cơ nâng môi trên, làm yếu nhóm cơ này, khiến cho môi trên không bị kéo lên quá nhiều khi cười. Tuy nhiên, tác dụng của thuốc chỉ là tạm thời, thường chỉ kéo dài được 6 – 8 tháng.

- Phẫu thuật mở xương, tạo hình xương trong trường hợp xương hàm trên bị quá phát. Đây là một phẫu thuật lớn, bệnh nhân cần được gây mê, phải can thiệp nhiều vào xương hàm và đòi hỏi chăm sóc hậu phẫu tỉ mỉ.

- Phẫu thuật cắt lợi phì đại.

- Phẫu thuật can thiệp vào nhóm cơ nâng môi trên (phẫu thuật cười hở lợi): Đây là một tiểu phẫu thuật, bệnh nhân được gây tê tại chỗ để không thấy đau mà không cần gây mê. Bác sĩ bộc lộ và can thiệp vào nhóm cơ nâng môi nhắm làm giảm chức năng của nhóm cơ này. Sau phẫu thuật, khi bệnh nhân cười, môi trên sẽ bị kéo sang hai bên là chủ yếu, không bị kéo lên nhiều, do đó không làm lợi bị lộ. Giải pháp này rất hiệu quả ngay cả với những trường hợp bệnh nhân bị quá phát xương hàm trên mà không cần can thiệp đến xương hàm.

Phẫu thuật cười hở lợi là một phẫu thuật không phức tạp, ít biến chứng, chăm sóc sau mổ nhẹ nhàng, mang lại hiệu quả cao và được duy trì suốt đời.

Với uy tín, kinh nghiệm của một bệnh viện đầu ngành về Răng – Hàm Mặt, cùng với đội ngũ bác sĩ được đào tạo bài bản về chuyên ngành phẫu thuật tạo hình – thẩm mỹ, chúng tôi đã và đang trả lại sự tự tin, mang lại sự hài lòng và nụ cười rạng ngời cho những bệnh nhân cười hở lợi.

BS. Bùi Hữu Phước

Theo SKDS

Răng mọc lệch

rang-moc-lech

Có những người mất tự tin vì răng không đẹp, bị các dị tật về răng. Họ rất mong mỏi chỉnh sửa răng cho đẹp hơn, trả răng về đúng “trật tự”. Với sự tiến bộ của chuyên ngành răng hàm mặt, điều này thực hiện không mấy khó khăn.

Mất tự tin vì răng xấu

Một ngày ở khoa nắn chỉnh răng có rất nhiều trường hợp đến khám và điều trị bệnh. Người bị vẩu, người răng khấp khểnh, người răng mọc sai vị trí. Điểm chung của mọi người khi đến đây là… hạn chế cười vì ngại.

rang-moc-lech

Theo ThS. Hoàng Thị Bạch Dương, Phó khoa Nắn chỉnh răng, Viện Răng hàm mặt Quốc gia, những trường hợp đến nắn chỉnh răng tại khoa phổ biến trong độ tuổi từ 10-25. Các trường hợp đến khám nhiều nhất là răng xoay, răng khấp khểnh chật chỗ, răng vẩu, răng bị ngược (nhân dân gọi là răng móm), bệnh nhân có khe hở môi vòm miệng (sứt môi hở hàm ếch), răng mọc ngầm, răng lạc chỗ, thay đổi chỗ, răng thưa. Bệnh nhân đến phần lớn vì nhu cầu thẩm mỹ, nhưng trong quá trình chỉnh sửa, các bác sĩ sẽ vừa lưu ý đến mặt thẩm mỹ, vừa bảo đảm chức năng cho răng.

Nguyên nhân bị bệnh và cách điều trị

Bệnh nhân muốn điều trị bệnh thì phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa về răng hàm mặt. Các bác sĩ sẽ khám, chụp phim, lấy mẫu in dấu răng hai hàm. Tùy loại bệnh, các bác sĩ sẽ sử dụng các dụng cụ điều trị như chỉnh lực ngoài miệng, hàm chống thói quen xấu, hàm tháo lắp hoặc hàm gắn chặt để điều chỉnh răng cho bệnh nhân. Điểm chung của các dụng cụ điều chỉnh răng là có phần nhựa, các dây tạo lực và chốt gắn vào răng.

Thời gian điều trị chia làm hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất từ 1-2,5 năm, thời kỳ thứ 2 là đeo hàm giữ kết quả trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Trong một số trường hợp đặc biệt, thời gian điều trị có thể trải qua nhiều giai đoạn, kéo dài và cần sự hợp tác của các chuyên ngành khác về răng như nha chu, phẫu thuật, tạo răng giả.

Sau khi gắn hàm, bệnh nhân cần tuyệt đối tuân thủ sự hướng dẫn của bác sĩ cả về vệ sinh, ăn uống và tái khám. Trong thực tế, có nhiều bệnh nhân làm trái ngược hẳn với sự hướng dẫn của bác sĩ. Ví dụ bệnh nhân sử dụng hàm tháo lắp thì tuyệt đối không được tháo bỏ tùy tiện. Nhưng thời gian đầu mới lắp, bệnh nhân thường gặp vướng víu và khó khăn trong ăn uống nên nhiều người đã tự động tháo ra lắp vào.

ThS. Dương hướng dẫn các bệnh nhân, giống như mình đun một ấm nước, nếu cứ để lửa cháy nhỏ thì không bao giờ có ấm nước sôi, gắn hàm chỉnh răng cũng vậy. Nếu tháo lắp hàm không đúng hướng dẫn sẽ không tạo được lực để điều chỉnh răng. Đã có những trường hợp bị xê dịch hàm hoặc làm cho răng xấu hơn cả trước khi điều trị.

Cần tránh những quan niệm sai lầm

Thứ nhất là nên nắn chỉnh răng đúng các địa chỉ có chuyên khoa răng hàm mặt, tránh điều trị ở những nơi không có bác sĩ chuyên khoa. Có bệnh nhân nắn răng không theo đúng quy trình nên răng bị rụng, bị tiêu nhiều xương, có người lệch cả hàm. Bệnh nhân càng được nắn chỉnh sớm càng tốt, ngay cả khi chưa cần mọc hết răng, nhất là đối với các trường hợp sứt môi hở hàm ếch.

Bên cạnh đó, có những trường hợp cần phải nhổ bớt răng khi nắn chỉnh để “trả lại không gian” cho các răng khác, nhưng bệnh nhân nằng nặc từ chối vì sợ nhổ răng sẽ ảnh hưởng sức khỏe. Theo ThS. Dương, đây là điều hết sức bình thường, không có gì đáng lo ngại.

Và cuối cùng là lưu ý cho các bà mẹ có con nhỏ. Nhiều người quan niệm răng sữa sâu không ảnh hưởng gì đến hàm răng sau này của bé. Quan niệm này rất nguy hại, bởi vì mỗi người đều có 2 loại răng, một loại răng sữa và một loại răng vĩnh viễn. Răng vĩnh viễn nằm dưới răng sữa. Chính vì vậy, khi răng sữa bị sâu sẽ ảnh hưởng đến hàm răng vĩnh viễn. Nếu răng sữa bị nhổ quá sớm, hàm răng vĩnh viễn không có gì để định hướng sẽ mọc không theo trật tự và có trường hợp còn bị tiêu xương răng.

Nhìn chung, để phòng răng mọc “mất trật tự”, việc giữ gìn vệ sinh răng miệng sạch sẽ vẫn là yếu tố quyết định. Bạn nên kiểm tra răng miệng một năm 2 lần. Nếu phát hiện bị các bệnh liên quan đến răng cần điều trị ngay để tránh các biến chứng. Nhiều biến chứng dẫn đến xô lệch hàm răng, phải điều trị rất tốn kém.

Cảnh báo nguy cơ mắc ung thư tụy tạng

canh-bao-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-tang

Ung thư tuỵ tạng hay những bệnh liên quan đến tuỵ tạng đều rất nguy hiểm và bệnh nhân phải chịu đau đớn vô cùng. Ung thư tuỵ tạng hiếm khi gặp ở tuổi dưới 45, nhưng xuất độ sẽ tăng sau độ tuổi đó, đỉnh điểm ở tuổi 70. Các số liệu ghi nhận của Mỹ cho biết, xuất độ chuẩn/tuổi ở nam giới cao hơn nữ giới 30%; và 50% cao hơn ở người da đen.

Những yếu tố nguy cơ

Khoảng 5-10% ung thư tuỵ tạng liên quan đến yếu tố gia đình hay di truyền. Độ tuổi mắc bệnh sớm hơn ở những trường hợp không có tính di truyền. Hút thuốc lá làm thúc đẩy bệnh tiến triển nhanh, người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư tuỵ tạng cao hơn 1,5 lần. Béo phì và tình trạng thiếu vận động cũng liên quan đến ung thư tuỵ tạng: người có chỉ số BMI ≥ 30 dễ mắc bệnh hơn người có chỉ số BMI ≤ 23.

canh-bao-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-tang

Chế độ ăn nhiều thịt, mỡ, thịt xông khói theo kiểu phương Tây cũng làm tăng nguy cơ ung thư này. Người thường ăn trái cây tươi, rau tươi thì ít thấy bị ung thư tuỵ tạng. Ngoài ra, lượng lycopen (carotenoid có trong trái cây) và selenium trong huyết thanh thấp cũng dễ gây ung thư tuỵ tạng.

Yếu tố nguy cơ còn gặp ở những người có bệnh viêm tuỵ mạn tính, người bị nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, những người có tiền sử cắt dạ dày hay cắt túi mật…

Triệu chứng thường gặp

Đau: thường gặp nhất, do khối bướu xâm lấn trực tiếp vào các mạng thần kinh của mạc treo ruột. Đau ở vùng bụng trên, đau như dao đâm, hướng đau vắt ngang lưng. Đau từng cơn, kèm cảm giác ăn mất ngon. Khoảng 80 – 85% bệnh nhân có triệu chứng đau được chẩn đoán ở giai đoạn trễ.

Sụt cân: do chán ăn, tiêu chảy, vã mồ hôi đầu.

Vàng da: vàng mắt, kèm theo ngứa ngáy, đi tiêu phân trắng, nước tiểu sậm màu.

Các triệu chứng biểu hiện đầu tiên còn tuỳ thuộc vị trí khối bướu. Bướu xuất hiện ở thân và đuôi tuỵ thường gây triệu chứng đau và sụt cân, trong khi bướu ở đầu tuỵ thường tạo triệu chứng vã mồ hôi đầu, sụt cân và vàng da. Khám lâm sàng, sờ thấy khối bướu hay tình trạng bụng báng, sờ chạm túi mật dưới bờ sườn phải, hoặc hạch trên đòn trái.

Làm sao phát hiện?

Khi bệnh nhân đến khám đã bị vàng da, siêu âm bụng là phương tiện hình ảnh đầu tiên thường được sử dụng. Những hình ảnh như giãn đường mật, khối bướu vùng đầu tuỵ sẽ gợi ý cho chẩn đoán.

Kỹ thuật chụp cắt lớp CT với độ nhạy và độ chuyên biệt cao có thể phát hiện bệnh ngay khi bệnh nhân chưa có triệu chứng vàng da, hình ảnh qua chụp cắt lớp cho biết sự lan rộng tại chỗ hoặc di căn như hạch bạch huyết, di căn gan… Các bác sĩ còn thực hiện kỹ thuật chụp đường mật tuỵ ngược dòng qua nội soi – ERCP, nội soi dạ dày và qua đó dùng chất cản quang bơm vào đường mật, chụp X-quang để khảo sát.

Những kỹ thuật khác cũng hiệu quả trong việc cho hình ảnh để chẩn đoán là siêu âm qua nội soi – EUS (có độ chính xác cao); chụp cộng hưởng từ – MRI; chụp cắt lớp bởi bức xạ pôsitrôn; xét nghiệm “chất đánh dấu bướu” trong huyết thanh CA19 – 9 (có giá trị trong việc theo dõi sau mổ và tiên lượng bệnh)…

Phẫu thuật sớm, sống lâu hơn

Ung thư tuỵ là bệnh lý ác tính khó phát hiện sớm, tiên lượng sống năm năm rất thấp. Tại Mỹ, phẫu thuật có thể trị khỏi ung thư này, nhưng không may là bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn trễ, chỉ 15 – 20% bệnh nhân còn mổ được với tiên lượng rất xấu. Sống còn năm năm khoảng 25 – 30% khi hạch chưa bị di căn, và chỉ còn 10% khi đã có di căn hạch.

Hiện cách điều trị gồm các phối hợp đa mô thức: phẫu trị – hoá trị – xạ trị. Trong đó, phẫu thuật được chỉ định khi bệnh còn khu trú tại chỗ và ở giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến xa hoặc di căn (di căn gan, lan tràn trong ổ bụng, bụng có dịch báng, đã có hạch trên đòn trái), là chống chỉ định mổ. Phẫu thuật thường được thực hiện gồm cắt khối tá tuỵ tiêu chuẩn (phẫu thuật Whipple), phẫu thuật có tính rộng lớn như phải cắt bỏ phần đầu tuỵ và khối bướu, cắt bỏ túi mật, cắt bỏ phần dưới của dạ dày và toàn bộ khung tá tràng, sau đó tái lập sự lưu thông của đường mật và dịch tuỵ.

Loại phẫu thuật thứ hai là cắt khối tá tuỵ biến đổi, phương pháp này có sự khác biệt là giữ lại cơ vòng môn vị. Khi bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, thể trạng bệnh nhân suy sụp kèm theo vàng da vàng mắt (do bị tắc mật bởi khối bướu ở đầu tuỵ). Bệnh nhân được các bác sĩ thực hiện nội soi dạ dày và qua đó sẽ đặt một ống thông (stent) vào trong đường mật, hoặc được phẫu thuật nối thông mật – ruột, hoặc mở túi mật ra da nhằm giảm ứ mật trong gan.

Hoá trị hỗ trợ hay xạ trị hỗ trợ, hoặc kết hợp hoá/xạ trị có thể cải thiện thời gian sống còn cho bệnh nhân. Hiện nay, điều trị hỗ trợ sau mổ với sự kết hợp giữa các thuốc đặc trị ung thư cùng tia phóng xạ, cho thấy thời gian sống còn của bệnh nhân kéo dài hơn.

Nguồn giáo dục

Lãng phí khi dùng vitamin tổng hợp

lang-phi-khi-dung-vitamin-tong-hop

Các chuyên gia cảnh báo, uống bổ sung vitamin và các khoáng chất tổng hợp dài hạn là một cách lãng phí tiền bạc, do loại thuốc bổ này không giúp bảo vệ những người có nguy cơ cao bị mắc bệnh nặng.

Kết luận trên được rút ra sau 2 nghiên cứu lớn gần đây, đều được đăng tải trên tạp chí Annals Of Internal Medicine.

Trong một nghiên cứu, các chuyên gia đến từ Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ đã kê cho hơn 1.700 người từ 50 tuổi trở lên, từng bị đau tim 6 tuần trước thử nghiệm sử dụng liều lượng lớn thuốc bổ sung vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, chỉ một nửa trong số này được cho dùng các viên thuốc bổ hàng ngày, chứa 28 thành phần khác nhau, trong khi nửa còn lại chỉ uống giả dược.

lang-phi-khi-dung-vitamin-tong-hop

Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp dữ liệu về số trường hợp tử vong, bị đau tim lần tiếp theo, đột quỵ hoặc nhập viện vì viêm họng hay phẫu thuật. Sau 4 năm rưỡi, họ phát hiện không có bất kỳ khác biệt nào giữa 2 nhóm đối tượng nghiên cứu.

Trong một thử nghiệm riêng rẽ, kéo dài 12 năm, các nhà nghiên cứu thuộc Trường Y, Đại học Havard (Mỹ) đã đề nghị gần 6.000 bác sĩ nam ở độ tuổi ít nhất 65, uống thuốc bổ hàng ngày hoặc giả dược. Nghiên cứu này nhằm kiểm tra quan điểm cho rằng, thuốc uống bổ sung vitamin và khóang chất tổng hợp có thể ngăn chặn việc thoái hóa trí não và các bệnh liên quan đến suy chức năng não do tuổi tác, chẳng hạn như mất trí nhớ.

Sau lần đánh giá chức năng não đầu tiên, những người tình nguyện được tiếp tục kiểm tra sau 2 năm, 4 năm và 10 năm tiếp theo. Kết quả cho thấy, chức năng não của nhóm người lớn tuổi đã uống thuốc bổ suốt 12 năm, không tốt hơn nhóm không dùng thuốc.

Theo các chuyên gia, thuốc bổ sung vitamin và khoáng chất ra đời nhằm duy trì sức khỏe, thay vì kiểm soát hoặc giúp chống lại những căn bệnh đã có từ trước và thường được điều trị bằng biệt dược hoặc phẫu thuật. Họ khuyến cáo, hầu hết các loại thuốc bổ không ngăn chặn được bệnh mãn tính hoặc tử vong, trong khi tác dụng của chúng vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ, nên mọi người cần tránh việc uống chúng dài hạn để tránh lãng phí tiền bạc và các nguy cơ khác.

Theo VietNamNet

Chỉnh hình răng bằng kỹ thuật hiện đại mới

chinh-hinh-rang-bang-ky-thuat-hien-dai-moi

Một kỹ thuật mới trong chỉnh răng vừa được các bác sĩ Mỹ chuyển giao cho bác sĩ Việt Nam. Kỹ thuật mới này sẽ giúp chỉnh lại răng những người có đôi hàm răng bị lệch (hô, móm…). Ưu điểm của kỹ thuật mới này là giảm thiểu 30% chi phí và thời gian điều trị so với các phương pháp cũ.

chinh-hinh-rang-bang-ky-thuat-hien-dai-moi

Nhiều kỹ thuật mới đang được áp dụng trong nha khoa giúp điều trị bệnh nhân ngày càng hiệu quả hơn. Trong ảnh: Một phòng khám nha hiện nay. (Ảnh: H.Cát)

Ngày 14/9, khoảng 100 bác sĩ nha khoa tại TP.HCM và các khu vực lân cận đã tham gia một lớp tập huấn về kỹ thuật mới trong chỉnh răng. Lớp tập huấn này kéo dài 3 ngày từ ngày 14 – 16/9, do GS. Nelson Oppermann, một chuyên gia Mỹ trong lĩnh vực chỉnh nha chủ trì.

Chỉnh răng (còn gọi là niềng răng) là một kỹ thuật mà các bác sĩ nha khoa thường sử dụng. Các bác sĩ sẽ đặt các mắc cài bằng hợp kim, sứ, inox, hay composite… lên đôi hàm răng và dùng một dây đàn hồi để cột các mắc cài lại với nhau.

Trong quá trình cài đặt mắc cài lên đôi hàm răng, bệnh nhân vẫn có thể nhai, nuốt bình thường và sau một thời gian, đôi hàm răng bị lệch sẽ được chỉnh lại bình thường.

Kỹ thuật mới hiện nay là dùng mắc cài có độ ma sát thấp kết hợp với dây cung siêu đàn hồi cho từng giai đoạn điều trị, gọi theo chuyên môn là “Dây thẳng lực ma sát thấp” (Straigt Wire Low Friction – SWLF).

Nhờ loại dây siêu đàn hồi bằng nhiệt dẻo, khi người bệnh cử động nhai, nuốt… dây vẫn có thể tạo ra lực nhẹ, liên tục trong thời gian dài hơn. Vì thế, sẽ làm giảm được thời gian chỉnh lại đôi hàm răng bị lệch.

Thời gian và chi phí niềng răng phụ thuộc vào tình trạng răng của từng bệnh nhân. Tuy nhiên, theo khảo sát, SWLF giúp bệnh nhân giảm thiểu được 30% chi phí và thời gian điều trị.

Các chuyên gia trong lĩnh vực nha cũng cho biết, chỉnh răng hàm mặt có thể thực hiện ở mọi lứa tuổi. Nhưng thời điểm tốt nhất để điều trị chỉnh răng hàm mặt là khi các răng vĩnh viễn đã mọc (10 – 12 tuổi). Ở lứa tuổi này, xương hàm đang phát triển, rất thuật lợi cho việc nới rộng và sắp xếp lại răng.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ đôi hàm răng bị lệch (hô, móm…) mà chuyên môn gọi là “sai khớp cắn” ở người Việt Nam lên đến 80%.

Việc chỉnh hình răng hàm mặt có thể làm giúp xương hàm phát triển hài hòa với khuôn mặt, hài hòa khớp cắn giữa hai xương hàm, giúp răng mọc đúng vị trí, hạn chế chấn thương do các răng nhô ra phía trước, sắp xếp ngay ngắn các răng mà không cần nhổ.

H.Cát
Theo Vietnamnet

Cần theo dõi tình trạng tái phát ung thư vú

can-theo-doi-tinh-trang-tai-phat-ung-thu-vu

Theo báo cáo của tổ chức từ thiện tại Anh cho thấy 10 năm qua khoảng 15.000 phụ nữ đã tử vong sớm hơn do việc điều trị ung thư vú chưa được chính xác.

Nhiều bệnh nhân ung thư vú được điều trị lần đầu, sau đó bệnh tái phát. Nhưng vì nhiều lý do họ không được thực hiện đầy đủ các xét nghiệm (như sinh thiết) dẫn đến việc điều trị không chính xác. Nghiên cứu cho thấy khoảng 17% phụ nữ bị ung thư vú tái phát nhưng khác loại so với lần đầu được phát hiện qua sinh thiết. Nếu những bệnh nhân này được dùng thuốc giống lần đầu sẽ không hiệu quả.

can-theo-doi-tinh-trang-tai-phat-ung-thu-vu

Các chuyên gia cho rằng sinh thiết kiểm tra là xét nghiệm quan trọng giúp điều trị đúng hướng cho phụ nữ mắc ung thư vú tái phát

Theo tuổi trẻ

Điều trị ung thư không cần phẫu thuật

dieu-tri-ung-thu-khong-can-phau-thuat

Các bác sỹ tại một số bệnh viện ở Canada đang thử nghiệm robot bức xạ, cho phép họ dùng các liều xạ trị lớn hơn bình thường để điều trị cho các khối u không thể phẫu thuật.

Theo phóng viên tại Ottawa, mặc dù được gọi là “cyberknife”, công nghệ này không liên quan đến việc cắt bỏ khối u, mà là cách tiếp cận không xâm lấn, không phẫu thuật và tập trung điều trị bệnh nhân với liều bức xạ lớn hơn nhiều so với bình thường.

dieu-tri-ung-thu-khong-can-phau-thuat

Hệ thống cyberknife bao gồm một cánh tay robot có khả năng chuyển động xung quanh khối u của bệnh nhân để chiếu xạ tập trung từ nhiều hướng và một máy quay camera giúp theo dõi sự chuyển động của khối u trong quá trình hô hấp của bệnh nhân. Ngoài ra, do liều xạ trị lớn hơn bình thường, nên các bệnh nhân phải tiếp nhận ít các đợt xạ trị hơn.

Tiến sỹ Shawn Malone thuộc Bệnh viện Ottawa dẫn ví dụ cụ thể trong trường hợp điều trị ung thư thận cho biết với công nghệ “cyberknife”, cánh tay robot có thể di chuyển liên tục xung quanh khối u, cung cấp liều xạ trị cực cao, giúp tiêu diệt khối u trong khi vẫn bảo vệ các mô khỏe mạnh xung quanh.

Do công nghệ này có thể điều trị những khối u với ít các đợt hóa trị hơn và ít tác dụng phụ hơn, các bác sĩ hiện đang thử nghiệm công nghệ này cho những bệnh nhân ung thư có khối u không thể phẫu thuật hoặc phẫu thuật khó khăn như u não, u cột sống, u phổi và u tuyến tiền liệt.

Theo TTXVN/Vietnam+

Cần sớm điều trị chứng mắt lác ở trẻ

mat-lac-o-tre

 Lác là tình trạng lệch trục của nhãn cầu do sự mất cân bằng của các cơ vận nhãn. Lác vừa ảnh hưởng đến thẩm mỹ vừa ảnh hưởng lớn đến chức năng của mắt bị lác và chức năng phối hợp giữa hai mắt. Lác có thể có tính di truyền vì vậy trong gia đình bố hoặc mẹ cũng có thể bị lác. Lác thường kèm theo nhược thị, tật khúc xạ và bệnh toàn thân.

Trường hợp độ lác rất ít, còn gọi là vi lác rất khó phát hiện cả khi bác sĩ mắt có kinh nghiệm khám, mà chỉ phát hiện được khi kiểm tra thị lực.

mat-lac-o-tre

Điều trị lác rất phức tạp, gồm một phức hợp chỉnh quang, chỉnh thị và chỉnh lệch trục nhãn cầu. Chỉnh thị là các phương pháp tập luyện như bịt mắt lành để thị lực của mắt bị bệnh được cải thiện. Chỉnh quang là quá trình điều chỉnh tật khúc xạ, thường là đeo kính để điều chỉnh. Điều trị chỉnh thị chỉnh quang có thể trước và cả sau khi phẫu thuật và mất rất nhiều thời gian và công sức. Một số người lác không cần đến phẫu thuật mà chỉ cần điều chỉnh bằng kính và tập luyện. Còn hầu hết các trường hợp lác cần đến phẫu thuật để điều chỉnh lệch trục nhãn cầu.

Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị lác cần tuân thủ quy trình khám, điều trị và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa. Bạn nên cho con khám và điều trị ở bệnh viện chuyên khoa mắt.

Theo giáo dục

Không thể chủ quan với viêm loét dạ dày

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

iêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở nước ta. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, viêm dạ dày, nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân đa dạng

Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do  nhiễm vi khuẩn HP – đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thuỷ ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp. Những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do ure máu tăng cao.

Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường grain có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử exam ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Hẹp môn vị: Biểu hiện đau bụng và nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.

Thủng dạ dày: Bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Xuất huyết tiêu hóa: Là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện ói ra máu và đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị triệt để.

Điều trị bệnh có khó?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, highlight kéo dài.

Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.

BS.Nguyễn Thị Phương Anh – skđs

Rối loạn nuốt và hậu quả

roi-loan-nuot-va-hau-qua

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn nuốt ở người già. Hàng đầu là các thương tổn thần kinh – cơ như nhồi máu não, xuất huyết não, bệnh Parkinson, xơ cứng cột bên teo cơ, đa u tủy xương, nhược cơ, sa sút trí tuệ. Tiếp đến là nhóm nguyên nhân do tổn thương cấu trúc như tuyến giáp to, phì đại đốt sống cổ, túi thừa Zenker, ung thư…; các rối loạn tâm lý, bệnh mô liên kết (viêm đa cơ, loạn dưỡng cơ…), các nguyên nhân do thầy thuốc (phẫu thuật vùng hầu họng, xạ trị, thuốc…) cũng có thể gây những rối loạn nuốt ở người già.

Nuốt là một quá trình sinh lý nhằm đưa thức ăn, các chất dinh dưỡng, nước… vào đường tiêu hóa. Nuốt gồm bốn giai đoạn: sự chuẩn bị của khoang miệng, quá trình đẩy thức ăn xuống của khoang miệng, hầu họng và thực quản. Các giai đoạn này có sự tham gia phối hợp của miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản.

Việc suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt là não bộ ở người già thường gây rối loạn quá trình nuốt như việc suy giảm hoặc mất các phản xạ bảo vệ trong đó có phản xạ đóng nắp thanh môn khi nuốt.

roi-loan-nuot-va-hau-qua

Biểu hiện của các rối loạn về nuốt ở người già rất phong phú và đa dạng. Rối loạn nuốt do miệng và hầu họng thường gây ho, nghẹn, khó nuốt, cảm giác thức ăn vướng ở họng… Rối loạn nuốt do thực quản thường có cảm giác vướng thức ăn trong họng hoặc trong ngực dọc theo xương ức, nghẹn trong ngực. Bên cạnh đó, rối loạn nuốt nói chung thường gây tăng tiết nước bọt, sặc thức ăn lên mũi, ho sặc do thức ăn rơi vào khí quản…

Rối loạn nuốt ở người già có thể gây nhiều hậu quả từ nhẹ đến nặng. Nhẹ nhất cũng là viêm mũi họng, nói khàn, thay đổi thói quen ăn uống. Nếu nặng hơn, bệnh nhân sợ ăn, uống, thậm chí sợ cả nuốt… nước bọt. Điều này sẽ dẫn đến mất nước, điện giải, sụt cân, suy kiệt nặng. Nhưng nguy hiểm nhất là bệnh nhân bị sặc thức ăn, nước, nước bọt…vào phổi gây nên ho, viêm phổi kéo dài và tái đi tái lại. Nhiều trường hợp, lượng dị vật vào phổi quá nhiều gây ho dữ dội, co thắt thanh quản, suy hô hấp cấp và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Trước khi điều trị các rối loạn nuốt, phải đánh giá thật cụ thể mức độ và vị trí tổn thương cũng như nguyên nhân gây ra rối loạn nuốt. Việc đánh giá dựa vào thăm khám kỹ lưỡng vùng họng miệng, thanh quản, khám phát hiện các tổn thương phổi (thường là phổi phải). “Nuốt đồ ký – ghi hình quá trình nuốt” có cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các rối loạn về nuốt. Có thể nội soi thực quản, làm điện cơ, chụp CT, MRI sọ não… để xác định nguyên nhân.

Mục tiêu điều trị rối loạn nuốt là tránh viêm phổi hít phải (do sặc), cải thiện khả năng ăn uống để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân. Các biện pháp bao gồm tìm dạng thức ăn thích hợp, ví dụ bệnh nhân khó nuốt thức ăn cứng thì chuyển chế độ thức ăn mềm hơn, bệnh nhân grain sặc chất lỏng thì chuyển chế độ ăn đặc…

Điều trị phục hồi chức năng nuốt bằng “liệu pháp nuốt” gồm ba phương pháp: hỗ trợ bù khi nuốt, luyện tập tăng cường chức năng các cơ nhai – nuốt và luyện tập khi đang trong quá trình nuốt. Liệu pháp này nhằm làm giảm khả năng sặc thức ăn vào phổi và tránh ứ đọng thức ăn trong miệng. Phẫu thuật cắt cơ nhẫn – hầu để làm thông thoáng đường thức ăn xuống thực quản cũng có thể được áp dụng. Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, mở thông dạ dày – hỗng tràng qua nội soi được chỉ định cho một số trường hợp nặng.

Dự phòng bằng cách nào?

Dự phòng viêm phổi do rối loạn nuốt ở người già bằng cách: nghỉ ngơi trước ăn 30 phút; ngồi khi ăn; ăn miếng nhỏ, thức ăn mềm thích hợp; không nói chuyện, xem ti vi, đọc báo… làm mất tập trung khi đang ăn. Tránh dùng các thuốc an thần, gây ngủ ngoài chỉ định. Làm rỗng dạ dày bằng các thuốc như erythromycin, motilium… Vệ sinh răng miệng thường xuyên để tránh viêm phổi hít phải và hết sức chú ý nếu bệnh nhân đang ăn bị sặc phải biết cách cấp cứu như một hội chứng dị vật thâm nhập đường thở.

Nguồn sức khỏe đời sống

Điều cần biết trước khi phẫu thuật amidan

amidan

Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, đặc biệt là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan.

Theo số liệu của Viện Hàn lâm Tai Mũi Họng Mỹ, hơn 530.000 trẻ em dưới 15 tuổi nước này đã cắt bỏ amidan mỗi năm. Khoảng 80% trẻ có vấn đề khi ngủ như ngáy, thở không đều do nhiễm trùng. Có một số phương pháp các bác sĩ sử dụng cắt bỏ amidan, phổ biến nhất là phương pháp đốt điện. Tuy nhiên, do sử dụng nhiệt, các mô mềm của cổ họng bị đốt cháy, gây đau nhiều hơn và hồi phục lâu hơn.
amidan
Trong vòng 10 năm trở lại đây, các bác sĩ đã sử dụng một phương pháp ít gây đau đớn. Các bác sĩ phẫu thuật “cạo” các amidan với một lưỡi dao quay và sử dụng ống hút để cầm máu. Phương pháp này ít ảnh hưởng đến vòm họng, ít đau, ít bị chảy máu và thời gian hồi phục nhanh hơn.

Sau khi phẫu thuật, amidan có thể phát triển trở lại? Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, đặc biệt là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan. Theo các nhà nghiên cứu, ước tính 10% khả năng amidan sẽ phát triển trở lại trong vòng 2-3 năm sau. Khi quyết định cho trẻ cắt amidan, bạn cần sự tư vấn của bác sĩ để lựa chọn phương pháp phù hợp và biện pháp để tránh amidan tái phát.

Theo ANTĐ

Sỏi đường tiết niệu

nuoc-uong4-90ffd

Sỏi tiết niệu là nguyên nhân thứ ba gây suy thận mạn tính. Thống kê trung bình tại bệnh viện Bạch Mai, khoa Tiết niệu Việt Đức, học viện Quân y cho thấy từ 25 – gần 30% bệnh nhân bị cắt thận trong số những người mắc sỏi thận gây viêm thận, bể thận. Tỉ lệ tái phát của sỏi thận là từ 10 – 50%.
Nguyên nhân, triệu chứng của bệnh

Sỏi tiết niệu là những khối tinh thể kết tụ một số thành phần trong nước tiểu ở đường niệu trên (chủ yếu từ can-xi). Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 – 60, trong đó, nam dễ mắc bệnh hơn nữ.

Bệnh thường do các dị tật bẩm sinh làm ứ đọng nước tiểu như bệnh Cacchi-Ricci, hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, thận đa nang, sa niệu quản, niệu quản đôi… hoặc do nhiễm khuẩn đường niệu; mất mồ hôi nhiều, mắc bệnh tiêu chảy mạn… Bệnh cũng khởi phát từ chế độ ăn uống, sinh hoạt không hợp lý. Ví dụ như, uống quá ít nước, ăn quá nhiều thức ăn giàu protein, đường, natri, oxalat…

nuoc-uong4-90ffd

Cơn đau của bệnh này thường đến đột ngột, rất dữ dội và chỉ ở một bên. Đau bắt đầu ở vùng thắt lưng rồi lan sang phía bụng, nách và các cơ quan sinh dục. Có lúc đau giảm đi nhưng sau đó lại xuất hiện cơn khác dữ dội hơn. Bệnh nhân có thể nôn, buồn nôn, ra mồ hôi, mạch nhanh nhưng không sốt; buồn tiểu nhưng lại không cảm thấy dễ chịu sau khi tiểu.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Để phòng bệnh, cần bắt đầu từ nguyên nhân gây bệnh mà chủ yếu bắt nguồn từ lối sống, thói quen ăn uống và sinh hoạt. Cụ thể là: Hạn chế chất can-xi, protein, oxalat, purin, thức ăn mặn… Nên uống từ 2 – 3 lít nước mỗi ngày, bảo đảm bài tiết 1,5 lít nước tiểu hằng ngày và nên dành thời gian vận động. Không nên ăn quá nhiều đậu nành vì nó chứa rất nhiều oxalat, ăn quá nhiều sẽ khiến can-xi và oxalat kết dính thành khối gây ra sỏi thận.

Tùy theo nguyên nhân gây sỏi, người bệnh cần có chế độ ăn khác nhau:

Sỏi canxi: Giới hạn lượng can-xi đưa vào <600 mg/ngày, gia tăng chất xơ (từ rau và trái cây). Không nên dùng các loại nước “cứng”.

Sỏi oxalat: Không ăn măng tây, đậu cô ve, củ cải đường, đào lộn hột, rau diếp, đậu bắp, nho, mận, khoai lang và trà. Cảnh giác với thức ăn chua hay các viên vitamin C liều cao.

Sỏi axit uric: Các sỏi này liên quan đến chuyển hóa purin và đôi khi là một biến chứng của bệnh gút. Nên giảm ăn những chất có purin (thức ăn quá nhiều đạm).

Sử dụng liệu pháp đến từ thiên nhiên để điều trị

Các nguyên tắc chính trong điều trị sỏi đường tiết niệu như sau: Điều trị nội khoa (không cần mổ) được áp dụng đối với sỏi không gây bế tắc, không gây triệu chứng, không có nhiễm trùng. Sỏi nhỏ hơn 4-5mm có thể tự ra theo dòng nước tiểu, bệnh nhân được khuyên nên uống nhiều nước. Sỏi niệu quản có kích thước nhỏ hơn 4mm thì 90% sẽ tự tiểu ra. Sỏi lớn hơn 6mm thì khả năng tiểu ra sỏi chỉ khoảng 20%. Sỏi đường tiết niệu gây nhiễm trùng hoặc bế tắc có chỉ định can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Tùy kích thước và vị trí của sỏi trên đường tiết niệu và đặc điểm bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị khác nhau như: mổ mở, tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL), phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da (PCNL), nội soi bàng quang niệu quản tán sỏi, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản. Mỗi phương pháp có những chỉ định cũng như ưu nhược điểm khác nhau.

Xu hướng trở về với thiên nhiên trong chữa trị bệnh đã và đang được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới bởi giá thành điều trị thấp, tránh được các biến chứng xấu của phẫu thuật, giảm tác dụng phụ so với các thuốc sử dụng nguyên liệu tổng hợp nhưng vẫn đạt hiệu quả mĩ mãn.

Chữa ung thư tiền liệt tuyến không phẫu thuật

ung-thu-tien-tuyen-liet

Mới đây, tại Bệnh viện Đại học Y Dược (TP.HCM), một số bác sĩ đã hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật mới trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến: Phương pháp HIFU – điều trị không qua phẫu thuật.

Khó phát hiện bệnh lúc ban đầu

Tiền liệt tuyến nằm sau bàng quang, nặng khoảng 20-30g, là một trong những bộ phận góp phần sản xuất ra tinh dịch. Bướu tiền liệt tuyến thường gặp ở những người đàn ông từ độ tuổi 50 trở lên. Có hai dạng: bướu lành (chiếm phần lớn) và bướu ác (do sự phát triển của các tế bào ung thư). Những triệu chứng như: hay đi tiểu đêm, đau buốt khi đi tiểu, són tiểu… là lý do khiến người bệnh phải đến bệnh viện.

ung-thu-tien-tuyen-liet
Theo báo cáo tại hội nghị, ung thư tuyến tiền liệt là bệnh lý xảy ra ở đàn ông trung niên và lớn tuổi. Tính chung trên toàn thế giới, những loại ung thư xảy ra ở nam giới, bệnh ung thư tiền liệt tuyến chiếm khoảng trên dưới 10%. Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh có thể là: tuổi tác, việc tiếp xúc nhiều với các chất phóng xạ, thắt ống dẫn tinh, chế độ dinh dưỡng…

Phần lớn các trường hợp, người bệnh không nhận biết được bệnh sớm, bởi triệu chứng ban đầu ít khi thể hiện rõ ràng, mà phát hiện được là qua khám bệnh, siêu âm, và làm sinh thiết. Theo các bác sĩ, người bệnh cần lưu ý những triệu chứng sau: tự nhiên tiểu khó, bí tiểu (khối ung thư xâm lấn, chèn ép gây khó hoặc bí tiểu), hay triệu chứng đau nhức xương chậu, xương cột sống (có thể do ung thư tiền liệt tuyến đã di căn qua xương).

Chữa trị

BS Nguyễn Hoàng Đức (phân khoa Niệu – Thận, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM) cho biết: Nếu phát hiện sớm và điều trị tích cực, căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt có thể chữa khỏi, hoặc kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Hiện tại, ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm có thể điều trị bằng: phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc, xạ trị (trong và ngoài), hoặc sử dụng phương pháp HIFU (High Intensity Focused Ultrasound). Nguyên lý của HIFU là sử dụng sóng siêu âm (nguồn phát sóng đặt trong trực tràng ngay dưới tuyến tiền liệt) tập trung chính xác vào mô tuyến, làm nhiệt độ ở vùng mô này tăng lên 80 – 1000C. Nhiệt độ cao này sẽ hủy tế bào ung thư. Vì sóng siêu âm không có tác dụng ion hóa nên không làm tổn thương mô xung quanh. Đây là ưu thế tuyệt đối của HIFU so với điều trị bằng tia xạ.

Theo báo cáo, trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt, HIFU là kỹ thuật ít tai biến và biến chứng so với phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc. HIFU là thủ thuật đơn giản, bệnh nhân chỉ cần gây tê, không phức tạp. Nhưng để thuần thục với phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc, phẫu thuật viên phải thực hiện hàng trăm ca mổ trở lên. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho biết, có một số tỷ lệ biến chứng có thể gặp sau khi làm thủ thuật HIFU, mặc dù biến chứng này không đáng kể. Cụ thể là: rò trực tràng (chiếm 0,5-5%); tiểu không kiểm soát (0-2%) và rối loạn cương (khoảng 18%).

Theo Thanh niên

Những kỳ vọng vào kỹ thuật thay khớp

Thời gian và tuổi tác lấy dần đi tuổi trẻ và sức khỏe của con người, thoái hóa khớp cũng không nằm ngoài quy luật. Sự phát triển của nhiều lĩnh vực y học đang giúp cho con người trẻ lâu hơn, sống thọ hơn, trong đó những tiến bộ phẫu thuật thay khớp đang làm thay đổi rõ rệt chất lượng sống của người bệnh.

Vận động là nhu cầu không thể thiếu của con người

Đồng thời với sự tăng cao của tuổi thọ, sự gia tăng các bệnh lý liên quan đến yếu tố tuổi già ngày càng tăng như tim mạch, hô hấp, các bệnh lý thần kinh… và bệnh lý khớp. Sự lão hóa của khớp ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người: gây nên đau đớn, ảnh hưởng đến việc đi lại từ mức độ đi lại khó khăn cho đến không đi lại được, gây biến dạng chi ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Phục hồi lại khả năng vận động của khớp và cải thiện các triệu chứng là mong mỏi của không chỉ bệnh nhân mà của cả các bác sĩ. Việc phòng ngừa, phát hiện sớm nhằm kéo dài tuổi thọ của các khớp bằng các biện pháp nội khoa, vật lý trị liệu, thay đổi lối sống… là cần thiết nhưng khi tổn thương thoái hóa của khớp quá nặng gây biến dạng và ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt và làm việc của bệnh nhân thì phẫu thuật thay thế các khớp là giải pháp được cân nhắc lựa chọn. Kể từ khi những ca phẫu thuật thay khớp đầu tiên được thực hiện cho đến nay, phẫu thuật thay khớp không ngừng có những cải tiến, giúp cho người bệnh có cuộc sống khỏe mạnh và có chất lượng.

nhung_ky_vong_vao_ky_thuat_thay_khop

Khớp nhân tạo thế hệ mới

Những hy vọng đầu tiên về thế hệ khớp nhân tạo

Những thế hệ khớp nhân tạo đầu tiên có thể kể đến là chỏm Moore. Chỏm làm bằng kim loại đầu tiên do bác sĩ Austin Moore thực hiện năm 1940. Chỏm Moore có thể coi là thế hệ khớp đầu tiên, có cấu trúc đơn giản, tương tự như chỏm xương đùi, gọi là thế hệ chỏm đơn cực. Tuổi thọ của chỏm Moore rất ngắn, khoảng 3 – 5 năm, tuy nhiên, ở vào thời điểm đó, sự ra đời của chỏm Moore đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống một cách đáng kể cho các bệnh nhân. Về sau này, các khớp nhân tạo có cấu trúc đa cực, giúp cho việc cải thiện biên độ vận động của bệnh nhân tốt hơn. Những hiểu biết về động học, giải phẫu của khớp đã giúp tạo ra các thế hệ khớp tốt hơn, dễ thao tác phẫu thuật hơn, phù hợp hơn với cơ thể người bệnh và giúp cho khả năng vận động của bệnh nhân sau phẫu thuật tăng cao hơn.

nhung_ky_vong_vao_ky_thuat_thay_khop2

Khớp nhân tạo mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh

Làm thay đổi chất lượng sống của nhiều người bệnh

Để thực hiện phẫu thuật thay khớp, phải can thiệp vào phần mềm quanh khớp và đây chính là yếu tố làm kéo dài sự khó chịu sau phẫu thuật. Trong quá khứ, để thực hiện phẫu thuật thay khớp háng, phải sử dụng đường rạch có thể dài 12 cho đến 20cm nhưng xu thế hiện nay, với sự hỗ trợ của trang thiết bị kỹ thuật, việc phẫu thuật được thực hiện với các đường mổ tối thiểu < 6cm, đảm bảo can thiệp ít nhất có thể vào phần mềm xung quanh, giúp cho sự hồi phục sau phẫu thuật của bệnh nhân nhanh hơn. Bên cạnh đó, để đảm bảo độ chính xác của vị trí khớp nhân tạo so với khớp bình thường của bệnh nhân, các công cụ hỗ trợ khác ra đời như hệ thống định vị (navigation) giúp phẫu thuật có thể đạt đến độ chính xác gần như tuyệt đối.

Cùng với sự hỗ trợ của chuyên ngành gây mê hồi sức và chống đau, phẫu thuật thay khớp đã có những tiến bộ không ngừng nhằm đạt đến mong muốn của cả bệnh nhân và bác sĩ là có được khả năng vận động gần như khớp tự nhiên của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân cao tuổi vẫn có thể vượt qua cuộc phẫu thuật thay khớp háng, khớp gối một cách dễ dàng, sống thọ hơn và có ý nghĩa hơn.

Cuộc cách mạng về vật liệu khớp nhân tạo

Việc kết nối giữa khớp nhân tạo và xương bệnh nhân có thể bằng xi măng sinh học hoặc bằng công nghệ không xi măng. Công nghệ không xi măng đòi hỏi cấu trúc bề mặt của khớp nhân tạo phải được bao phủ bằng một chất liệu đặc biệt hoặc có cấu trúc đặc biệt giúp cho tổ chức xương có thể phát triển vào và do đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ và lâu bền giữa khớp nhân tạo và xương của bệnh nhân. Vật liệu khớp chuyển từ vật liệu thép ở giai đoạn đầu sang vật liệu titan, giúp cho khả năng tương thích cơ thể người bệnh tốt hơn đồng thời kéo dài tuổi thọ của khớp. Bề mặt tiếp xúc của khớp nhân tạo chuyển từ “nhựa với kim loại” sang “gốm với gốm” hoặc “kim loại với kim loại” để gia tăng khả năng chống mài mòn cho khớp. Với những cải tiến này, tuổi thọ của khớp có thể kéo dài đến 30 năm hoặc lâu hơn nữa.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Trượt đốt sống: Bệnh không nên xem thường

Trượt đốt sống là bệnh thường gặp, xảy ra chủ yếu ở vùng cột sống thắt lưng. Bệnh có thể do bẩm sinh, thoái hoá, chấn thương, bệnh lý gây ra, trong đó hay gặp nhất là trượt đốt sống do hở eo và do thoái hóa.

Vì sao bị trượt đốt sống?

Một người có thể bị trượt đốt sống do một trong các nguyên nhân sau đây: bẩm sinh, bị rối loạn phát triển, với đặc điểm là các khiếm khuyết về giải phẫu của mấu khớp như: thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng ra sau, thường có dị tật gai đôi cột sống; thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng vào trong. Do khe hở eo, khuyết eo do gãy, do hiện tượng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo; chấn thương làm gãy eo gây trượt. Do thoái hoá chủ yếu ở vị trí L4-5, thường gặp ở phụ nữ tuổi từ 40-50; thoái hoá cột sống, nhất là thoái hoá đĩa đệm và các mấu khớp, làm mất tính vững chắc của cột sống gây nên. Do bệnh lý như: nhiễm khuẩn, ung thư làm hoại tử hay phá hủy các cấu trúc của cột sống; bệnh vôi hóa đốt sống. Do chấn thương làm gãy cuống, gãy mấu khớp dẫn tới mất vững cột sống. Do phẫu thuật cắt cung sau kèm theo cắt bỏ các mấu khớp.

truot_dot_song_benh_khong_nen_xem_thuong_01

Các mức độ tổn thương trượt đốt sống do thoái hóa.

Phát hiện bệnh có khó không?

Bạn có thể phát hiện được bệnh trượt đốt sống căn cứ vào các dấu hiệu sau: bệnh nhân có biểu hiện mất vững cột sống và chèn ép các rễ thần kinh. Người bệnh đau cột sống thắt lưng âm ỉ liên tục, đau tăng khi cột sống phải chịu lực như khi đứng, đi bộ, lao động…nhưng nằm nghỉ thì hết đau hoặc đau giảm hẳn. Khi bệnh nhân thay đổi tư thế cũng gây đau cột sống, phải chống tay vào đùi khi đứng lên. Nếu bệnh nặng thường có thay đổi tư thế thân người và dáng đi. Ở vùng cột sống thắt lưng có thể có biến dạng lõm, gọi là dấu hiệu bậc thang, dấu hiệu nhát rìu… Có bệnh nhân bị đau cách hồi, đây là triệu chứng đau đặc trưng của bệnh: đau khi đi bộ, vì đau phải dừng lại, hết đau mới đi tiếp, đang đi vì đau lại phải nghỉ, hết đau lại đi. Đối với bệnh nhân bị chèn ép rễ thần kinh, họ thường đau cả khi nằm nghỉ. Bệnh nhân bị hẹp lỗ ghép thần kinh được cho là nguyên nhân chèn ép rễ hay gặp nhất. Lỗ ghép hẹp là do các yếu tố như sự lồi vào của bờ sau thân đốt và đĩa đệm, tình trạng khớp giả và tổ chức xơ từ khe hở eo, một phần do cột sống thường xoay nhẹ làm cho lỗ ghép hẹp hơn ở một bên. Số ít bệnh nhân vì tổ chức xơ quá phát từ khe eo rất nhiều trở thành nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh. Các nguyên nhân chèn ép rễ khác ít gặp hơn như thoát vị đĩa đệm tại mức trượt hay là ở vị trí lân cận các đốt sống trượt. Đối với bệnh nhân trượt đốt sống do thoái hoá, tình trạng chèn ép rễ thần kinh do hẹp lỗ ghép khá phổ biến.

Chụp Xquang, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ xác định được mức độ trượt, mức độ thoái hoá của cột sống và nguyên nhân gây chèn ép thần kinh. Chụp cộng hưởng từ còn đánh giá được tình trạng hẹp lỗ ghép.

truot_dot_song_benh_khong_nen_xem_thuong_02

Sử dụng thực phẩm chứa nhiều canxi để hạn chế thoái hóa cột sống

Về điều trị

Hầu hết bệnh nhân bị trượt đốt sống được điều trị nội khoa. Những bệnh nhân ở tuổi thiếu niên, chỉ cần nằm nghỉ, mặc áo cố định ngoài và hạn chế các hoạt động gây đau là có thể cải thiện được các triệu chứng của bệnh. Đối với bệnh nhân là người trưởng thành, trong những đợt đau cấp phải được nằm nghỉ, tránh mọi hoạt động hay lao động; dùng các thuốc chống viêm, giảm đau như paracetamol, aspirin, diclofenac, ibusprophen… sử dụng vật lý trị liệu, các phương pháp phục hồi chức năng, hướng dẫn bệnh nhân tập các bài thể dục tăng cường các cơ lưng, cơ bụng và cơ đùi; thực hiện ăn uống và các tập luyện nhằm giảm cân đối với người béo.

Điều trị bằng phẫu thuật trong các trường hợp: trượt đốt sống có tổn thương rễ thần kinh; có đau cột sống thắt lưng điều trị nội khoa nhưng không đỡ; trượt đốt sống tiến triển ngày càng nặng. Phẫu thuật ghép xương làm liền xương vững chắc giữa các đốt sống, loại bỏ chuyển động bất thường giữa các đốt sống kém vững.

Theo dõi và điều trị sau mổ: sau mổ, bệnh nhân cần được bất động tại giường từ 5-7 ngày. Nếu bệnh nhân hết đau có thể cho ngồi dậy sớm hơn. Chú ý phát hiện biến chứng sớm: nhiễm khuẩn, tổn thương rễ… Cần chụp Xquang trước khi bệnh nhân ra viện để đánh giá vị trí của vít; đánh giá di lệch trượt sau mổ…

Phòng bệnh cần tránh các cử động nặng vùng thắt lưng để tránh tình trạng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo. Phòng tránh các chấn thương làm gãy eo gây trượt đốt sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn trong luyện tập thể thao. Dùng thức ăn chứa nhiều canxi để phòng tránh bệnh loãng xương, hạn chế sự thoái hoá cột sống, nhất là ở phụ nữ từ 40-50 tuổi. Điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn để phòng biến chứng trượt đốt sống. Đối với bệnh nhân đã mổ điều trị trượt đốt sống, sau khi ra viện, cần kiểm tra định kỳ theo hẹn để đánh giá kết quả mổ, sự phục hồi chức năng cột sống, phát hiện sớm di lệch trượt…

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Nguyên nhân và cách điều trị đau quanh vai

Đau vùng quanh vai là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là nguyên nhân tương đối thường gặp.

Hội chứng này là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị thu hẹp, tình trạng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai như: viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay.

Chẩn đoán

Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, người bệnh có biểu hiện đau ở khớp vai khi dang tay hay đưa cánh tay ra phía trước. Khi mắc hội chứng này, hầu hết người bệnh đều than phiền về giấc ngủ, vì khi nằm nghiêng qua bên vai đau thì sẽ bị đau nhói làm thức giấc nên mất ngủ và khó ngủ.

nguyen_nhan_va_cach_dieu_tri_dau_quanh_vai

Điều trị đau vai bằng hồng ngoại

Dấu hiệu ban đầu để nhận biết hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là khi cố gắng xoay tay ra phía sau mông thì sẽ xuất hiện cơn đau nhói ở vùng vai. Đây là dấu hiệu chính để xác định hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Từ đó trở về sau, các cơn đau trở nên nhiều hơn và nặng hơn làm cho người bệnh không dám cử động vai và có rất nhiều trường hợp dẫn đến khớp vai bị cứng. Ngoài ra, nếu người bệnh bị đau vai không thể tự dang tay được thì có thể gân chóp xoay đã bị rách.

Để giúp xác định hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là dùng hình ảnh X-quang khớp vai. Hình ảnh X-quang giúp tìm các dấu hiệu bất thường của cấu trúc xương hoặc hình ảnh của viêm khớp. Ngoài ra, hình ảnh X-quang còn có thể xác định được tình trạng mỏm cùng hạ thấp hơn so với bình thường làm hẹp khoang dưới mỏm cùng hoặc gai xương nếu có cũng sẽ thấy rõ trên X-quang.

Chụp MRI được chỉ định khi nghi ngờ có tổn thương rách chóp xoay, viêm gân hay bệnh lý ở sụn viền. Đôi khi siêu âm vùng vai cũng cho thấy được hình ảnh rách chóp xoay.

Hiện nay các bác sĩ chuyên khoa dùng nghiệm pháp “tiêm một lượng thuốc tê nhất định vào khoang dưới mỏm cùng, nếu người bệnh đỡ đau ngay thì nguyên nhân gây đau vai là do hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai” và đây cũng là nghiệm pháp dùng để loại trừ các bệnh lý khác ở vùng cổ gây đau ở khớp vai.

Các động tác của khớp vai, nhất là động tác đưa tay quá đầu được thực hiện bởi 2 nhóm cơ chính là cơ delta và nhóm các cơ chóp xoay. Khi thực hiện động tác dạng cánh tay quá đầu, các cơ này trượt trong khoang dưới mỏm cùng vai mà khoang này lại nằm dưới mỏm cùng vai và trong khoang thì có gân chóp xoay và các túi hoạt dịch để bôi trơn khi gân cơ chóp xoay di chuyển. Nguyên nhân gây hẹp khoang này thường gặp trong thoái hoá hoặc chấn thương làm cho gân cơ chóp xoay và các túi hoạt dịch bị chèn ép, từ đó sẽ dẫn đến viêm túi hoạt dịch, viêm gân chóp xoay, cũng có thể dẫn đến rách chóp xoay.

Các nguyên nhân dẫn đến hẹp khoang dưới mỏm cùng vai có thể là chấn thương, các động tác lặp đi lặp lại như những người chơi các môn thể thao phải đưa tay quá đầu như bóng chuyền, bóng rổ… hoặc người lao động thường xuyên phải có các động tác dang tay quá đầu như khuân vác, nâng vật nặng lên cao. Một nguyên nhân khác cũng tương đối thường gặp là sự hình thành các chồi xương trong tổn thương của bệnh lý thoái hóa.

Điều trị ra sao?

Điều trị nội khoa:

Giai đoạn đầu của liệu trình điều trị sẽ là dùng các loại thuốc kháng viêm, giảm đau thông thường kết hợp với các phương pháp như: nghỉ ngơi, chườm lạnh… và phải được theo dõi đánh giá mức độ đáp ứng với điều trị, trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp khác như siêu âm sóng cao tần chiếu tia hồng ngoại để tăng cường lượng máu tới các mô ở khớp vai và khi có đáp ứng tốt với điều trị thì sẽ thực hiện các bài tập vật lý trị liệu.

Phẫu thuật:

Phẫu thuật được chỉ định khi không có cải thiện nào sau 6 tháng đến 1 năm điều trị nội khoa bảo tồn. Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm làm rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay bằng cách làm sạch các tổn thương thoái hóa, các chồi xương và một phần của mỏm cùng vai. Nếu có tổn thương rách chóp xoay có thể sẽ được phục hồi.

nguyen_nhan_va_cach_dieu_tri_dau_quanh_vai2

Phẫu thuật khớp vai bằng nội soi

Có hai phương pháp hiện đang được sử dụng là mổ hở và mổ nội soi, cả hai phương pháp đều có thể sửa chữa các tổn thương và làm giảm áp lực đè ép lên túi hoạt dịch và chóp xoay.

Sau mổ, cánh tay sẽ được treo hay mang nẹp để bất động. Tuy nhiên, phải tiến hành tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp và hạn chế phù nề sau mổ. Bên cạnh đó, việc chườm lạnh sau mổ cũng cần chú trọng vì nó giúp co mạch máu làm hạn chế phản ứng viêm sau mổ, tiếp đến giai đoạn sau là tập vật lý trị liệu để làm mạnh gân cơ chóp xoay dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.

Điều trị phục hồi chức năng:

Điều trị phục hồi chức năng có vai trò rất quan trọng, không chỉ trong các trường hợp không phẫu thuật mà ngay cả trong trường hợp sau phẫu thuật. Phục hồi chức năng nhằm mục đích tránh teo cơ và cứng khớp, đồng thời phục hồi sức mạnh của các cơ sau một thời gian bị bệnh.

Phục hồi chức năng của khớp vai sẽ bắt đầu bằng những bài tập vận động thụ động kéo dài trong vài tuần. Sau đó là những bài tập chủ động có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, tùy thuộc việc có thực hiện phẫu thuật tạo hình lại gân chóp xoay hay không.

Tuy nhiên, nếu tổn thương của chóp xoay lớn hoặc bệnh diễn biến quá lâu, tình trạng cơ yếu kéo dài thì việc phục hồi chức năng có thể chỉ cải thiện một phần thì người bệnh phải tập để thay đổi thói quen sử dụng cánh tay bị tổn thương.

BS. HỒ VĂN CƯNG
Theo SKĐS

Trật khớp khuỷu có thể gây tàn tật

Trật khớp khuỷu là một chấn thương hay gặp, là loại trật khớp nhiều nhất ở trẻ em trên 5 tuổi. Tổn thương trật khớp có khi còn kèm theo gãy xương phải phẫu thuật để điều trị. Có những trường hợp trật khớp nặng làm mất khả năng vận động của bệnh nhân.

trat_khop_khuyu_co_the_gay_tan_tat

Ngã chống tay hoặc do chấn thương gây ra trật khớp khuỷu

Khớp khuỷu được cấu tạo bởi đầu dưới xương cánh tay và đầu trên của xương trụ và xương quay: phần ngoài là lồi cầu tiếp nối với chỏm quay tạo thành khớp cánh tay – quay; phần trong là ròng rọc tiếp nối với hõm xích-ma lớn tạo thành khớp cánh tay – trụ. Xương quay và xương trụ tiếp với nhau tạo thành khớp quay- trụ trên. Gấp, duỗi là hai  động tác quan trọng và duy nhất của khớp khuỷu; còn sấp, ngửa là động tác của cẳng tay.

Trật khớp khuỷu là cả hai xương cẳng tay: hõm xích-ma lớn và chỏm quay, trật ra khỏi đầu dưới xương cánh tay chỗ ròng dọc và lồi cầu. Nguyên nhân gây trật khớp có thể do ngã chống tay, khuỷu duỗi tối đa, cẳng tay ngửa hoặc chấn thương gián tiếp.

 Làm sao biết bị trật khớp khuỷu?

Sau một chấn thương, bệnh nhân thấy đau vùng khuỷu, không gấp hay duỗi được cẳng tay. Thông thường khi trật khớp khuỷu chúng ta thấy cẳng tay bệnh nhân ở tư thế gấp chừng 45 độ, cẳng tay trông như ngắn lại, trái lại cánh tay trông như dài ra. Sờ nắn nhẹ nhàng trước nếp khuỷu thấy bờ xương tròn của đầu dưới xương cánh tay. Sờ phía sau thấy mỏm khuỷu nhô ra sau, gân cơ tam đầu cánh tay căng cứng, gấp khuỷu nhẹ, thả ra có dấu hiệu lò xo tức là cẳng tay tự động bật trở về vị trí ban đầu trước khi gấp khuỷu. Thầy thuốc nhìn thấy mỏm khuỷu và hai mỏm trên lồi cầu và trên ròng rọc không còn quan hệ tam giác mà ngang nhau. Sờ được chỏm xương quay phía sau ngoài khớp. Có thể các dây chằng ở trước trong bị đứt, nhưng rất hiếm khi gặp đứt dây chằng  vòng quanh chỏm quay, bao khớp bị rách. Có thể gặp gãy xương như vỡ một phần của đầu dưới xương cánh tay (vỡ lồi cầu ngoài hay lồi cầu trong), mỏm khuỷu. Nếu bệnh nhân đến khám sớm ngay sau chấn thương, chẩn đoán thường dễ, do sờ thấy các mốc xương. Trường hợp bệnh nhân đến muộn thì vùng khuỷu sưng nề. Trật khớp khuỷu ra sau là hay gặp nhất chiếm 90% các trường hợp trật khớp khuỷu ra trước do vỡ mỏm khuỷu; trật khớp khuỷu sang bên: do vỡ các lồi cầu.

Trật khớp có thể gây tổn thương mạch máu và thần kinh nên cần khám mạch máu và thần kinh: bắt mạch quay, mạch trụ ở cổ tay xem còn đập không, nếu không là bị rách ở vùng trật khớp, khám vận động và cảm giác ở đầu chi để đánh giá có hay không tổn thương các dây thần kinh. Nhiều trường hợp trật khớp động mạch cánh tay thường bị căng giãn, có khi bị chèn ép có thể bị tắc mạch muộn do bị giập nội mạc. Chụp Xquang khuỷu để xác định kiểu trật và xem có gãy xương kèm theo hay không.

Chữa trị trật khớp khuỷu thế nào?

Trường hợp trật khớp khuỷu mới (dưới 3 tuần): phải kéo nắn khớp và nẹp bột. Thường nẹp bột khoảng 10 ngày thì tập vận động. Các bệnh nhân mà nắn khớp được rồi nhưng kém vững do rách phần mềm nhiều phải cho bất động 3-4 tuần, sau đó mới tập vận động. Cần lưu ý cho bệnh nhân tập duỗi cho hết. Trường hợp không nắn vào được là do kẹt khớp, bị gãy xương nội khớp, chèn phần mềm, khi đó phải phẫu thuật đưa về vị trí giải phẫu.

Nếu sau nắn trật, kiểm tra mạch không bình thường cũng cần phẫu thuật để kiểm tra, cắt nối chỗ giập, ghép tĩnh mạch. Tổn thương thần kinh có thể bị một trong ba sợi là thần kinh giữa, thần kinh trụ và thần kinh liên cốt trước. Hầu hết các trường hợp thần kinh chỉ bị đụng giập nhẹ, hồi phục nhanh. Tuy nhiên khi gặp bệnh nhân bị liệt quá 3 tháng cần phẫu thuật thăm dò thần kinh, hoặc bị liệt sau nắn khớp cần mổ thăm dò ngay.

Trật khớp kèm gãy xương: gãy mỏm trên lồi cầu trong, mảnh gãy rất hay bị kẹt vào khớp. Phát hiện được nhờ vào dấu hiệu: sau khi nắn xong thì cử động khớp không mềm mại. Lúc này cần kiểm tra Xquang để phát hiện mảnh xương kẹt vào khớp, nếu thấy thì mổ lấy bỏ mảnh xương kẹt.

Trật khớp kèm gãy mỏm khuỷu: gãy không lệch, bó bột để khuỷu duỗi. Gãy có di lệch thì mổ kết hợp xương mỏm khuỷu.

Trật khuỷu kèm gãy mỏm vẹt: độ 1, bất động 3-4 tuần rồi tập phục hồi chức năng ; độ 2-3: phẫu thuật cố định mảnh gãy với lỗ khâu xuyên xương, vỡ mảnh to cố định với vít.

Trật khuỷ kèm gãy chỏm xương quay: nếu mảnh gãy di lệch dưới 2mm thì điều trị bảo tồn. Nếu gãy vụn chỏm thì cắt bỏ chỏm ở người lớn, hoặc thay bằng chỏm kim loại. Ở trẻ em cố gắng bảo tồn bằng kết hợp xương với vít cỡ bé.

Điều trị trật khớp khuỷu cũ (trật khớp trên 3 tuần).

Trật khớp khuỷu cũ thường ở tư thế xấu, khuỷu duỗi 0 độ, cẳng tay mất chức năng, do đó phải phẫu thuật để điều trị. Phẫu thuật đặt lại xương nếu thời gian dưới 3 tháng; hoặc làm cứng khớp ở tư thế cơ năng: để khuỷu gấp 90 độ, cẳng tay trung gian, vì trật khớp quá lâu nếu đặt lại khớp sẽ biến dạng ở tư thế xấu và giảm cơ năng vận động.

Một nghiên cứu cho thấy: trật khớp khuỷu gặp thứ 3 sau trật khớp vai và trật khớp ngón tay, chiếm 20-25% tổng số trật khớp. Bệnh gặp nhiều ở trẻ em trên 5 tuổi: 68%,  nữ nhiều hơn nam, tay trái nhiều hơn tay phải. Ở người dưới 20 tuổi, trật khớp khuỷu gặp nhiều hơn trật khớp vai 7 lần. Trật khớp kèm gãy xương chiếm khoảng 12% các trường hợp.

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Đau vùng cổ tay và hội chứng De Quervain

Đau vùng cổ tay là một dấu hiệu thường gặp, do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó có tình trạng viêm của bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón cái gọi là hội chứng De Quervain. Tình trạng này tương đối thường gặp và gây nên những biểu hiện đau của vùng cổ tay và phần dưới cẳng tay ngay phía trên ngón cái.

Thế nào là hội chứng De Quervain?

Hội chứng De Quervain ảnh hưởng đến hai gân chi phối vận động ngón cái, đó là gân cơ duỗi ngắn ngón cái và gân cơ dạng dài ngón cái. Hai gân này chi phối hai động tác rất quan trọng của ngón cái là duỗi và dạng ngón cái. Khi thực hiện động tác, hai gân này trượt đi trượt lại dọc theo bờ bên của khớp cổ tay. Ở vùng cổ tay, cả hai gân trượt trong một đường hầm nằm sát đầu dưới của xương quay. Chính vì vậy, một số trường hợp chẩn đoán nhầm với viêm mỏm trâm quay. Đường hầm này có tác dụng giữ cho gân và chuyển hướng lực thực hiện động tác.

Hai gân trượt trong đường hầm được bao bọc bởi bao hoạt dịch gân, có tác dụng làm trơn để hai gân trượt được dễ dàng. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân và gân dẫn đến hạn chế vận động của gân trong đường hầm gọi là hội chứng De Quervain.

Những dấu hiệu nào cần nghĩ đến bệnh?

Khởi đầu, có thể chỉ là các biểu hiện khó chịu của ngón cái, ngay vị trí cổ tay, có thể là đau. Nếu không được điều trị, triệu chứng đau có thể lan lên cẳng tay và lan xuống ngón cái. Khi tình trạng ma sát tăng lên, hai gân này có thể cọ xát vào nhau khi di chuyển trong đường hầm dẫn đến các tiếng “lục cục”. Nếu tình trạng này tiếp tục, có thể sẽ có biểu hiện sưng nề nhẹ vùng cổ tay dọc theo đường hầm, các động tác của ngón cái sẽ bị hạn chế do đau.

dau_vung_co_tay_va_hoi_chung_de_quervain

Gân tay bình thường (trên) – Gân tay bị viêm (dưới)

Tại sao lại bị tổn thương này?

Những động tác lặp lại nhiều lần như cầm, nắm, xoay, vặn của cổ tay và ngón cái sẽ là điều kiện thuận lợi để tiến triển tổn thương này. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân trong đường hầm sẽ dẫn đến sưng nề, cản trở vận động của gân. Các tình trạng tổn thương viêm khớp như thấp khớp, thoái hoá sẽ ảnh hưởng đến tình trạng viêm của bao gân và gân ngón cái. Một số yếu tố thuận lợi khác như chấn thương dẫn đến hình thành các sẹo cũng ảnh hưởng đến sự trượt của gân này.

Làm thế nào có thể cải thiện triệu chứng đau?

Điều trị nội khoa: Nếu có thể, bạn nên ngừng lại tất cả các động tác gây đau. Nên có thời gian nghỉ giữa chừng nếu bạn phải thực hiện các động tác lặp đi lặp lại của cổ tay. Tránh những động tác phải sử dụng cổ tay lặp đi lặp lại như nắm, duỗi, cầm, xoắn… Nên để cổ tay ở tư thế trung gian. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn mang nẹp để bất động cổ và bàn tay. Nẹp này cho phép bàn tay bạn nghỉ ngơi, tạo thuận lợi để cải thiện các triệu chứng viêm. Các thuốc điều trị có thể giúp kiểm soát triệu chứng viêm và các triệu chứng đau. Những thuốc này có thể là các thuốc chống viêm giảm đau thông thường như ibuprofen và aspirin.

Nếu các biện pháp này không cải thiện, bác sĩ có thể sẽ đề nghị với bạn kế hoạch điều trị tiêm corticoid tại chỗ vào đường hầm. Thuốc này có tác dụng giảm viêm tại chỗ và có thể cải thiện triệu chứng ngay lập tức.

Việc tập phục hồi chức năng là cần thiết, mục đích chính là giảm hoặc loại trừ nguyên nhân gây viêm gân. Bác sĩ phục hồi chức năng có thể kiểm tra lại công việc của bạn, cách thức bạn sử dụng cổ và bàn tay khi làm việc và gợi ý cho bạn về việc sử dụng cổ tay và bàn tay đúng và hợp lý, tránh tư thế xấu, các động tác để tập luyện và các cách để ngăn ngừa triệu chứng tái phát.

Phẫu thuật: Nếu tất cả các biện pháp trên không hiệu quả, bạn có thể cần đến can thiệp phẫu thuật. Mục tiêu của phẫu thuật là tạo ra nhiều không gian hơn cho gân hoạt động để gân không bị cọ xát vào đường hầm nữa. Phẫu thuật này có thể thực hiện dưới gây mê toàn thân hoặc tại chỗ. Bác sĩ sẽ thực hiện đường rạch mở đường hầm để  loại bỏ tất cả tổ chức xơ bên trong đường hầm và tạo ra nhiều khoảng trống để gân di chuyển.

Các biện pháp phục hồi chức năng

Nếu không cần can thiệp phẫu thuật, triệu chứng của bạn sẽ cải thiện trong vòng 4 -6 tuần. Bạn có thể phải đeo nẹp tiếp tục và hạn chế các vận động có hại đến cổ và bàn tay.

Phục hồi chức năng sau phẫu thuật đóng vai trò quan trọng. Quá trình này có thể kéo dài vài tháng. Đau và các triệu chứng toàn thân sẽ cải thiện sau phẫu thuật nhưng việc sưng nề sẽ còn kéo dài vài tháng sau mổ. Cắt chỉ sau 14 ngày, luôn giữ tay cao trong thời gian sau mổ. Cử động cổ và bàn tay thường xuyên. Sau mổ, bạn có thể tham gia phục hồi chức năng. Các bài tập chủ động thường bắt đầu sau khi cắt chỉ và là các bài tập tăng dần biên độ và sức mạnh của các cơ.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Phương pháp điều trị gãy xương hàm

Một trong những cấp cứu mà các bệnh viện hiện nay gặp ngày càng nhiều là gãy xương hàm. Đây thường là hậu quả của các tai nạn giao thông. Từ khi mũ bảo hiểm được sử dụng rộng rãi, tỉ lệ này đã giảm xuống. Dù vậy gãy xương hàm cũng vẫn là những thách thức thực sự cho các đơn vị y tế đặc biệt là nơi không có chuyên ngành răng hàm mặt. Những di chứng lâu dài do điều trị không đúng cách không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ của người bệnh mà còn tác động sâu sắc tới chức năng của “cửa ngõ” hệ tiêu hóa cơ thể.

Thế nào là gãy xương hàm?

Người ta thường chia gãy xương hàm làm hai loại: gãy xương hàm trên và gãy xương hàm dưới. Trong gãy xương hàm dưới lại có gãy từng phần: gãy xương ổ răng, vỡ lồi cầu, mỏm vẹt, bờ dưới xương hàm dưới, xuyên thủng xương; gãy toàn bộ: một đường: gãy vùng giữa, vùng bên, vùng góc hàm, cành lên, lồi cầu; hai đường: gãy đối xứng, không đối xứng ; ba đường, phức tạp.

phuong_phap_dieu_tri_gay_xuong_ham

Xương hàm bị vỡ

Các phương pháp điều trị hiện nay

Điều trị bằng chỉnh hình: Chỉnh hình trong miệng là kỹ thuật ra đời sớm, được nhiều người ứng dụng và hiện nay vẫn là một phương pháp thông dụng ở nhiều nơi. Kết quả điều trị cho những trường hợp đường gãy đi qua vùng còn răng, di lệch ít. Nắn chỉnh xương gãy: bằng tay hoặc bằng lực kéo. Cố định xương gãy: cố định hai hàm bằng phương pháp trong miệng: buộc dây thép, nẹp, cung cố định hàm, làm máng… và phương pháp ngoài miệng: băng cầm đầu, các khí cụ tựa vào sọ.

Điều trị phẫu thuật: Điều trị chỉnh hình không thực hiện được trong một số trường hợp đặc biệt: ở bệnh nhân mất nhiều răng, bệnh nhân có nhiều răng bị lung lay và bệnh nhân là trẻ em còn nhiều răng sữa. Trong các trường hợp di lệch nhiều, có thể để lại sự tiếp xúc hai đầu gãy không tốt thì phương pháp chỉnh hình sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Vì vậy, cần thiết phải có các chỉ định phẫu thuật cố định xương hàm, gồm hai phương pháp:

- Phương pháp phẫu thuật cố định xương bằng chỉ thép: Phương pháp điều trị này được áp dụng từ rất sớm (năm 1847) trong ngành phẫu thuật chỉnh hình do Gordon Buck đề xuất. Sử dụng kỹ thuật khâu kết hợp xương bằng chỉ thép để điều trị gãy xương hàm dưới.

- Phẫu thuật cố định xương bằng nẹp vít: Cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật trên thế giới, nẹp vít cũng được các nhà khoa học sáng chế thành nhiều loại khác nhau cả về kích thước, kiểu dáng và chất liệu.

- Nẹp vít lớn tạo sức ép đầu gãy (Dynamic compression Plate).

- Loại vít tạo sức ép dọc trục (Axial dynamic compression Plate).

- Loại vít tạo sức ép lệch trục (Excentric compression Plate).

- Loại vít xuyên ép (Lag screw).

Nẹp vít nhỏ (mini plate) sử dụng trong điều trị gãy xương gồm hai loại: tạo sức ép đầu gãy và không tạo sức ép đầu gãy.

Vị trí đặt nẹp (xem hình).

phuong_phap_dieu_tri_gay_xuong_ham2

Các vị trí đặt nẹp theo vị trí gãy xương

Nẹp vít được chế tạo bằng các chất liệu như vitallium, tantalium,

Zirconium là kim loại dung nạp được lâu trong cơ thể. Ngoài ra còn có loại nẹp vít tự tiêu khi xương đã liền.

Nẹp cố định tự tiêu: Cấu tạo của các nẹp tự tiêu được tổng hợp từ phản ứng polyme hóa các dẫn xuất cacbon từ thiên nhiên. Đây là dạng vật liệu ưu việt nhất hiện nay dùng cho chấn thương chỉnh hình, với các ưu điểm là không gây độc và không bị biến dạng và ăn mòn, có tính tương thích sinh học cao, có độ bền cơ học tốt.

Kỹ thuật nẹp kết hợp xương bằng nẹp tổ hợp cacbon cũng tương tự các bước như với nẹp kim loại, nhưng không cần dùng dụng cụ tạo nén ép các đoạn gãy, không phải dùng loại đinh ốc nén ép (lagscrew) và  không cần ghép xương bổ sung mà hiệu quả vẫn cao.

Hiện nay ở Việt Nam cũng đã sản xuất được nẹp vít có cấu trúc dạng cacbon này, đã đưa sản phẩm ra thị trường, điều trị an toàn và hiệu quả hàng nghìn trường hợp phẫu thuật thay thế nẹp vít bằng kim loại, giá thành rẻ, chất lượng ngang bằng các loại ngoại nhập. Do đó, việc thay thế nẹp vít tự tiêu chắc chắn sẽ là lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong chuyên ngành chấn thương, chỉnh hình.

Một số biến chứng của mổ kết hợp xương

Giảm hay mất cảm giác vùng do dây thần kinh ổ mắt chi phối. Lõm mắt xảy ra cao trong các trường hợp gãy tầng mặt giữa, liên quan đến tổn thương thành ổ mắt, gây tăng thể tích hốc mắt, nhiễm khuẩn, xương không tiếp hợp tốt sau khi nắn chỉnh. Di lệch khớp cắn khá phổ biến. Hội chứng khe ổ mắt trên và hội chứng đỉnh ổ mắt . Song thị: Theo một số tác giả, song thị có thể tự hết trong vài tuần đến 6 tháng.

ThS. Trần Quốc Khánh (Bệnh viện E)
Theo SKĐS

Bị đau quanh vai: Chữa thế nào?

Đau vùng quanh vai là triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây nên trong đó hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là nguyên nhân tương đối thường gặp, đặc biệt ở bệnh nhân tuổi trung niên và quan trọng hơn là có thể điều trị có hiệu quả. Hội chứng này là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị thu hẹp, tình trạng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai như: viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay.

Triệu chứng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai

Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, bệnh nhân có biểu hiện đau ở khớp vai khi dang tay hay đưa trước cánh tay. Hầu hết bệnh nhân than phiền bị khó ngủ do bị đau khi nằm nghiêng qua bên vai bị đau. Khi có cơn đau chói xuất hiện khi cố gắng xoay tay ra túi quần phía sau là dấu hiệu khá rõ ràng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Dần dần các cơn đau trở nên nặng hơn, bệnh nhân không dám cử động vai dẫn đến khớp vai bị cứng. Nếu vai trở nên yếu và bệnh nhân không thể tự dang tay được thì có thể gân chóp xoay đã bị rách.

bi_dau_quanh_vai_chua_the_nao

Chụp Xquang khớp vai là cần thiết để tìm các dấu hiệu bất thường của cấu trúc xương hay viêm khớp. Một số người có tình trạng mỏm cùng hạ thấp hơn so với bình thường làm hẹp khoang dưới mỏm cùng được xác định trên Xquang. Gai xương nếu có cũng sẽ thấy rõ trên Xquang.

Chụp MRI được chỉ định khi nghi ngờ có tổn thương rách chóp xoay, viêm gân hay bệnh lý ở sụn viền. Đôi khi siêu âm vùng vai cũng cho thấy được hình ảnh rách chóp xoay.

Một nghiệm pháp được sử dụng nhằm loại trừ các bệnh lý ở vùng cổ gây đau ở khớp vai: tiêm một lượng thuốc tê nhất định vào khoang dưới mỏm cùng, nếu bệnh nhân đỡ đau ngay thì nguyên nhân gây đau vai là do hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai.

Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai, do đâu?

Các động tác của khớp vai, đặc biệt là động tác đưa tay quá đầu được thực hiện bởi 2 nhóm cơ chính là: cơ delta và nhóm các cơ chóp xoay (gồm có 4 cơ là cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ dưới vai và cơ tròn bé). Nhóm các cơ chóp xoay hợp với nhau tạo thành một gân rất chắc bám vào đầu trên xương cánh tay gọi là gân cơ chóp xoay. Khi thực hiện động tác dạng cánh tay quá đầu, các cơ này trượt trong khoang dưới mỏm cùng vai. Khoang này nằm dưới mỏm cùng vai, trong khoang có gân chóp xoay và các túi hoạt dịch có tác dụng bôi trơn khi gân cơ chóp xoay di chuyển. Khi khoang này bị hẹp lại, thường do nguyên nhân thoái hoá hoặc chấn thương, gân cơ chóp xoay và các túi hoạt dịch bị chèn ép, từ đó sẽ dẫn đến viêm túi hoạt dịch, viêm gân chóp xoay. Nặng hơn sẽ dẫn đến rách chóp xoay.

Các nguyên nhân dẫn đến hẹp khoang dưới mỏm cùng vai có thể là chấn thương, các động tác lặp đi lặp lại (thường gặp ở những người chơi các môn thể thao phải đưa tay quá đầu hoặc người lao động thường xuyên phải có các động tác dang tay quá đầu). Một nguyên nhân khác cũng tương đối thường gặp là sự hình thành các chồi xương trong tổn thương của bệnh lý thoái hoá.

Khi nào cần phải phẫu thuật?

Giai đoạn đầu điều trị sẽ là điều trị giảm đau, kháng viêm. Các phương pháp thường sử dụng là nghỉ ngơi, chườm đá phối hợp với thuốc kháng viêm như aspirin, naproxen, diclofenac… Bác sĩ sẽ theo dõi đáp ứng của bệnh nhân, trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp như siêu âm, chiếu tia hồng ngoại để tăng cường lượng máu tới các mô ở khớp vai. Khi bệnh nhân đỡ đau sẽ tiến hành các bài tập vật lý trị liệu.

Nếu các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, bác sĩ có thể tiêm steroid trực tiếp vào khoang dưới mỏm cùng. Tuy nhiên steroid có thể gây đứt gân cũng như các tác dụng phụ về lâu dài nên nó không phải là phương pháp điều trị lâu dài cho hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai cũng như các bệnh lý khác ở vùng khớp vai.

Phẫu thuật được chỉ định khi không có cải thiện nào sau 6 tháng đến 1 năm điều trị bảo tồn.  Có hai phương pháp hiện đang được sử dụng là mổ mở và mổ nội soi, cả hai phương pháp đều có thể sửa chữa các tổn thương và làm giảm áp lực đè ép lên túi hoạt dịch và chóp xoay. Ngày nay, phẫu thuật với kỹ thuật nội soi phổ biến hơn do những ưu việt trong việc cải thiện các triệu chứng đau và tính thẩm mỹ. Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm làm rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay bằng cách làm sạch các tổn thương thoái hoá, các chồi xương và một phần của mỏm cùng vai. Nếu có tổn thương rách chóp xoay có thể sẽ được phục hồi đồng thời. Sau mổ cánh tay sẽ được treo hay mang nẹp để bất động. Hầu hết các trường hợp sẽ được tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp, hạn chế phù nề sau mổ. Chườm lạnh sau mổ giúp co mạch máu làm hạn chế phản ứng viêm đau sau mổ. Giai đoạn sau là tập mạnh gân cơ chóp xoay. Cần tập phục hồi chức năng theo sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.

Điều trị phục hồi chức năng

Điều trị phục hồi chức năng đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ trong các trường hợp không phẫu thuật mà ngay cả trong trường hợp sau phẫu thuật. Phục hồi chức năng nhằm mục đích tránh teo cơ và cứng khớp đồng thời phục hồi sức mạnh của các cơ sau một thời gian bị bệnh đã bị kém đi. Đối với phục hồi chức năng khớp vai, quá trình này sẽ diễn ra rất chậm, bắt đầu là những bài tập vận động thụ động kéo dài trong vài tuần, sau đó mới là những bài tập chủ động. Quá trình tập này có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng tuỳ theo việc có thực hiện phẫu thuật tạo hình lại gân chóp xoay hay không.

Trong một số trường hợp, tổn thương của chóp xoay lớn hoặc là diễn biến đã lâu, tình trạng cơ yếu kéo dài, việc phục hồi chức năng có thể chỉ cải thiện một phần, đôi khi bệnh nhân phải tập để thay đổi thói quen sử dụng cánh tay bị tổn thương.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Chất nhờn giúp điều trị thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là một vị trí thường gặp nhất của bệnh thoái hóa khớp. Trong những đợt cấp của bệnh, có thể dùng các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau đơn thuần, nhưng các thuốc này có nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa. Một số thuốc chống viêm không steroid như indometacin về lâu dài lại có tác dụng có hại lên sụn khớp, làm trầm trọng thêm quá trình thoái hoá khớp (THK). Biện pháp cuối cùng là phải phẫu thuật thay khớp giả, rất tốn kém. Để khắc phục những nhược điểm này, hiện nay, biện pháp sử dụng chất nhờn (như acid hyaluronic hay dẫn xuất của nó) đã được ứng dụng rộng rãi vì tính an toàn và hiệu quả kéo dài.

Acid hyaluronic và THK

Bình thường khớp gối chứa khoảng 2ml dịch khớp. Acid hyaluronic (AH) là một polysacharid có trong thành phần dịch khớp, với hàm lượng từ 2,5 – 4,0mg/ml. Nó bôi trơn mô mềm và phủ trên bề mặt sụn khớp và được tổng hợp bởi tế bào sụn. AH có nhiệm vụ đệm giảm xóc, bôi trơn và bảo vệ khớp. Nó có các tính chất nhớt và đàn hồi tùy thuộc vào lực tác động. Nếu lực tác động lên mạnh, nó có tính chất đàn hồi, còn nếu lực tác động nhẹ thì nó như là dầu bôi trơn. Khi khớp bị thoái hóa, số lượng acid hyaluronic và chất lượng chất này trong dịch khớp bị giảm. Ở bệnh nhân THK gối, lượng acid  hyaluronic chỉ còn một nửa đến hai phần ba so với bình thường, do đó có hiện tượng dịch khớp giảm độ nhớt, mất khả năng bảo vệ sụn khớp, dẫn đến tiến triển huỷ hoại khớp.

chat_nhon_giup_dieu_tri_thoai_hoa_khop_goi

Tiêm AH vào khớp

Tác dụng điều trị của AH trong thoái hóa khớp

Sự bổ sung AH trong thoái hoá khớp dẫn đến tăng kéo dài nồng độ và trọng lượng phân tử của AH nội sinh, làm cải thiện đáng kể chức năng khớp, giảm đau và tác dụng này có thể kéo dài hàng tháng. Thuốc có tác dụng giảm đau do khi tiêm vào trong khớp, nó làm giảm sản sinh các hóa chất gây viêm trong dịch khớp (PE G2, bradykinin), ức chế cảm thụ đau ở bệnh nhân THK. AH có tác dụng kháng viêm do ngăn chặn tác dụng của cytokyne và ngăn chặn sinh tổng hợp PGE2. Tuy chỉ lưu trong dịch khớp 7 ngày nhưng duy trì tác dụng trong 6 tháng do kích thích sản xuất AH nội sinh. Các thử nghiệm trên lâm sàng đã chứng tỏ, ở người THK, việc bổ sung acid hyaluronic nội khớp có tác dụng giảm đau tốt hơn giả dược. Thuốc đạt hiệu quả tương tự khi tiêm corticoid nội khớp song tác dụng bền vững hơn. Trong thí nghiệm trên động vật, tiêm AH còn có tác dụng bảo vệ và sửa chữa lại các tế bào sụn. AH ức chế thoái hoá sụn khớp do gia tăng hoạt tính của men TIMP (tisue inhibitor metalloprotease), kết khối các proteoglycan và tăng sinh tổng hợp của tế bào sụn khớp. Thuốc có hiệu quả tác dụng rõ rệt đối với bệnh nhân THK trên nhiều mặt, đặc biệt là cải thiện chức năng khớp.

Những trường hợp THK nào được sử dụng AH?

Liệu pháp tiêm sodium hyaluronate vào khớp gối có tác dụng trong điều trị THK gối từ mức độ từ trung bình đến nặng vừa. Nó có ích lợi đặc biệt đối với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị thông thường, không dung nạp được thuốc đặc biệt là thuốc chống viêm không steroid, cũng như  giúp trì hoãn thời gian thực hiện phẫu thuật thay khớp vốn khó khăn và tốn kém. Có nhiều loại thuốc chứa AH. Thường là hộp 5 ống chứa 2- 2,5ml AH, AH tiêm nội khớp gối 1 ống/tuần trong 5 tuần liên tục. Khi tiêm nội khớp AH cần đảm bảo vô khuẩn khi tiến hành thủ thuật. Khi đã bóc hộp bơm tiêm ra rồi phải tiêm ngay. Nếu khớp có dịch phải hút ra rồi mới tiêm. Thuốc chỉ có hiệu quả khi tiêm hết 3 lần (synvic) hoặc 5 tuần (hyalgan). Thuốc có độ dung nạp khá tốt. Trong một số ít trường hợp chỉ gặp đau nơi tiêm, phản ứng viêm tại chỗ, đau cơ, đau khớp, cảm giác mệt mỏi. Các triệu chứng này chỉ thoáng qua, sau 2-3 ngày là biến mất và thường chỉ gặp trong lần tiêm đầu tiên.

PGS.TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Giải pháp mới cho người bị tổn thương cột sống

Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, đã ứng dụng thành công phương pháp mới điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến cột sống như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống thắt lưng, đau thần kinh tọa… cho nhiều trường hợp bằng thiết bị silicon (DIAM) giúp cột sống vững chắc, tránh cho bệnh nhân khỏi bị liệt, gù, hết đau và cử động bình thường. Đây là một phương pháp tiên tiến, hiện đang áp dụng nhiều ở các nước trên thế giới như: Mỹ, châu Âu và một số nước châu Á… Bệnh viện Việt Đức là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật này.

Trả lại sự mềm mại cho cột sống lưng người bệnh

Sau nhiều năm sống chung với chứng đau lưng và đau bại một bên chân, bệnh nhân Ngô Thanh V., 54 tuổi (thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) chạy chữa nhiều phương pháp nhưng chẳng đỡ được là bao. Gần đây, bệnh nhân đau nhiều và khó khăn trong việc đi lại. Kết quả chiếu chụp cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống L4-L5 và hẹp thân đốt sống L3 bị phù nề. Sau khi thăm khám, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật cột sống – Bệnh viện Việt Đức quyết định dùng phương pháp cố định động cột sống liên gai sau bằng thiết bị silicon (còn gọi là DIAM) để xử trí những đau đớn cho bệnh nhân V. Chỉ sau vài ngày đặt DIAM, bệnh nhân đã giảm đau rất nhiều và đi lại được.

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch, Phó Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa Phẫu thuật cột sống cho biết, trước đây đối với các trường hợp này thường được mổ mở giải hẹp, rồi nẹp vít để cố định cột sống. Tuy bệnh nhân cũng hết đau nhưng nẹp vít lại khiến bệnh nhân rất khó cử động, chỉ có ưỡn mà không thể gập được người. Hơn nữa, qua thời gian có thể mòn và gãy dễ gây tai biến, còn các trường hợp bị xẹp do loãng xương hoặc vừa loãng xương vừa chấn thương do thoát vị đĩa đệm… thì phải sống chung với đau đớn suốt phần đời còn lại do xương của bệnh nhân giòn, dễ vỡ. Còn DIAM là loại dụng cụ được đưa vào khe giữa hai mỏm gai sau đốt sống thắt lưng nhằm làm giãn và cố định động 2 đốt sống. Ưu điểm của phương pháp này không những cố định được cột sống và giải ép các nguyên nhân chèn ép thần kinh mà còn đảm bảo độ mềm dẻo của cột sống, giúp bệnh nhân cúi và ưỡn thoải mái. Đặc biệt, DIAM còn có tác dụng hữu hiệu khi phối hợp với vít cố định cột sống hoặc trên các bệnh nhân bị lấy nhân đĩa đệm… giúp bệnh nhân khỏi bị xẹp đĩa đệm, làm chậm quá trình thoái hoá diện khớp và đĩa đệm liền kề chỗ cố định. Với phương pháp này, bệnh nhân hầu như không còn cảm thấy đau, rất ít biến chứng, có thể đi lại sau 1 – 2 ngày phẫu thuật.

Theo TS. Thạch, phương pháp này ít gây tai biến cho bệnh nhân vì silicon tương thích với cơ thể con người, có độ đàn hồi tốt nên hiếm khi gây ra các biến chứng như tuột hoặc đứt…. Hơn nữa, đây là dạng phẫu thuật can thiệp tối thiểu không đụng chạm trực tiếp đến cấu trúc thần kinh vào rễ thần kinh tủy sống nên không gây ảnh hưởng đến chức năng quan trọng của vùng cột sống và phần mềm ít bị phá huỷ. Tuy nhiên, theo TS. Thạch, không phải ai cũng thực hiện được kỹ thuật này. Để tiến hành, cần phải có phẫu thuật viên chuyên khoa, được đào tạo bài bản. Kỹ thuật này không áp dụng được đối với các bệnh nhân bị trượt đốt sống mất vững, gãy đốt sống, khuyết hở eo đốt sống, vẹo cột sống bẩm sinh, khối u vùng cột sống. Trong 1 – 2 tháng đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân cần làm việc nhẹ nhàng, không mang vác nặng.

giai_phap_moi_cho_nguoi_bi_ton_thuong_cot_song

Phẫu thuật cố định cột sống ở BV Việt Đức

TS. Thạch cho biết các bệnh lý cột sống nếu được phát hiện sớm bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc kết hợp các bài tập phục hồi chức năng, điều chỉnh những thói quen trong sinh hoạt ảnh hưởng đến bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân bị bệnh thường cố gắng chịu đựng, chỉ khi không thể chịu nổi họ mới tìm đến bệnh viện, khi đó bệnh đã nặng, có thể đã xuất hiện nhiều biến chứng. Việc điều trị nội khoa lúc này không đạt hiệu quả mà phải tính đến giải pháp can thiệp bằng phẫu thuật. Thành công của phương pháp điều trị mới này hy vọng sẽ là một giải pháp tốt cho nhiều người bệnh.

Các bệnh lý cột sống đang ngày càng trở nên phổ biến

Các chuyên gia về cột sống cho hay, các bệnh lý liên quan đến cột sống rất phổ biến, đặc biệt là người luống tuổi, bị loãng xương gây hẹp ống sống. Ống sống là khoang rỗng của đốt sống, trong đó có tuỷ sống và các rễ thần kinh. Nếu ống sống bị hẹp sẽ chèn ép rễ tủy sống và các rễ thần kinh tương ứng gây ra nhiều biến chứng. Chẳng hạn hẹp ống sống thắt lưng sẽ gây đau lưng và đau dây thần kinh hông to lan xuống cả hai chân gây phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn… Trong khi đó, có rất nhiều nguyên nhân gây hẹp ống sống thắt lưng như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn dưỡng sụn, dị dạng đốt sống, hẹp ống sống nguyên phát, quá ưỡn cột sống thắt lưng, gai đôi cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống sau chấn thương, biến đổi thoái hoá… Ngoài ra, hẹp ống sống có thể do xương (cung, thân đốt sống), cũng có thể do tổ chức mềm gây nên (đĩa đệm, tổ chức liên kết). Tùy theo nguyên nhân, hẹp ống sống có thể ở từng đoạn hay cả toàn bộ ống sống. Khi bị hẹp ống sống thắt lưng, bệnh nhân thường đau lưng, đau dây thần kinh hông to trong nhiều năm và đã điều trị nhiều không khỏi. Đau đa dạng, trải qua đau mạn tính lan sang 2 bên đùi, xuống chân, gây liệt. Hơn nữa, trong quá trình bị bệnh duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước và xảy ra hiện tượng gù… Các tổn thương này không chỉ ảnh hưởng đến sự vận động của các bệnh nhân mà liệt và gù còn là gánh năng cho gia đình và xã hội.

Bài và ảnh: Hà Anh
Theo SKĐS

Đứt dây chằng chéo trước: Những câu hỏi thường gặp

Dây chằng chéo trước (DCCT) nằm ở trung tâm khớp gối, đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững khớp gối, ngăn cản việc đầu gối bị trượt ra trước. Khi bị đứt, DCCT không tự lành lại như cũ được, và làm lỏng lẻo khớp gối khi đi lại, lên xuống cầu thang, chơi thể thao hoặc làm những công việc quá sức.

Tình huống nào bị đứt DCCT?

Trong 1 pha đuổi theo trái bóng đầu gối bị xoắn một cách quá mức, nghe 1 tiếng rắc, té nằm xuống đau đớn dữ dội, đầu gối sưng lên, đi tập tễnh (hoặc được cán ra sân). Sau đó vài ngày đến vài tuần, đi cảm giác thấy lỏng lẻo khớp gối, cảm thấy yếu và không an tâm ở khớp gối, đùi có vẻ bị teo nhỏ hơn bên chân lành. Tóm lại, khi khớp gối bị xoắn vặn mạnh một cách quá mức, dù có hay không có va chạm trực tiếp, nguy cơ bị đứt DCCT xảy ra rất cao.

dut_day_chang_cheo_truoc_nhung_cau_hoi_thuong_gap

Chẩn đoán đứt DCCT như thế nào?

Bác sĩ sẽ làm một số nghiệm pháp để khẳng định đứt DCCT như: dấu hiệu ngăn kéo trước, test Lachman, và một số nghiệm pháp khác để xác định các tổn thương phối hợp với đứt DCCT như: rách sụn chêm (trong, ngoài) hay đứt dây chằng bên (trong, ngoài)…

Ngoài ra, có thể chụp phim MRI (cộng hưởng từ), phim X-quang để xác định rõ toàn bộ tổn thương khi đứt DCCT.

Có cần thiết phải mổ hay không?

Đứt DCCT không phải mổ cấp cứu. Thời điểm phẫu thuật tốt thường sau 2 -3 tuần bị chấn thương. Các phương pháp phẫu thuật cũng sẽ được đưa ra để người bệnh hiểu rõ hơn về việc tạo hình lại DCCT của mình như thế nào.

Trước khi mổ có cần tập luyện không?

Chắc chắn phải có. Sau khi chấn thương, đầu gối bớt sưng, người bệnh có thể tập những bài tập tạ vùng đùi và cẳng chân để duy trì không để teo cơ đùi một cách nhanh chóng, ngoài ra có thể đi bơi và đạp xe đạp tại chỗ. Các bài tập để kéo giãn các nhóm cơ cũng cần phải thực hiện.

Khi lấy mảnh gân ghép để tạo hình DCCT, chân có bị yếu đi không?

Gân cơ chân ngỗng thường được các bác sĩ chọn để tạo hình lại DCCT, theo các nghiên cứu gần đây cho thấy chân người bệnh sẽ không bị yếu đi khi phải lấy gân này để tạo hình lại DCCT của mình.

Phương pháp mổ như thế nào?

Bác sĩ sẽ tư vấn các phương pháp mổ tùy vào tình trạng chấn thương của người bệnh, khả năng để quay lại chơi thể thao, chi phí… Hiện nay kỹ thuật mổ nội soi tạo hình lại DCCT đã trở thành một kỹ thuật rất phổ biến, tỷ lệ thành công tuyệt vời lên đến hơn 96%, giúp cho người bệnh có một khớp gối vững chắc, vận động dễ dàng, quay lại chơi môn thể thao yêu thích.

BS. PHẠM NGUYỄN THANH TRUNG
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm: Nguyên nhân gây đau lưng

Trong các nguyên nhân gây đau lưng do căng cơ thắt lưng, hẹp ống sống, viêm khớp cột sống thắt lưng, trượt đốt sống, loãng xương thì thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân thường gặp nhất.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Những đốt sống tạo thành cột sống ở sau lưng được chêm bởi những đĩa nhỏ gọi là đĩa đệm có tác dụng như một miếng đệm giữa hai đốt sống. Khi bị chấn thương hoặc do tiến trình thoái hóa tự nhiên, đĩa đệm bị trượt ra ngoài chèn ép vào các rễ thần kinh cột sống và gây đau.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm rất đa dạng. Thứ nhất là do các chấn thương cột sống. Thứ hai là do tư thế xấu trong lao động. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh.

thoat_vi_dia_dem_nguyen_nhan_gay_dau_lung

Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cột sống. Hơn 90% thoát vị đĩa đệm xảy ra ở cột sống thắt lưng.

Thoát vị đĩa đệm nếu không điều trị có thể khiến người bệnh bị tàn phế suốt đời do bị liệt, có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ…

Dấu hiệu nhận biết

Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Phần lớn thoát vị đĩa đệm là ở vùng thắt lưng. Triệu chứng điển hình gồm đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân đến mặt lòng bàn chân đến ngón út mặt lưng bàn chân đến ngón cái. Hoặc đôi khi triệu chứng không điển hình như chỉ tê hoặc mỏi ở cẳng chân, đùi hay đau ở vùng bẹn. Trong một số trường hợp nặng có thể bị yếu liệt chân, teo cơ hoặc rối loạn tiêu tiểu.

thoat_vi_dia_dem_nguyen_nhan_gay_dau_lung2

Hình ảnh thoát vị đĩa đệm

Điều trị thoát vị đĩa đệm thế nào?

Hiện nay, điều trị thoát vị đĩa đệm bao gồm điều trị bảo tồn và các phẫu thuật can thiệp. Điều trị bảo tồn bao gồm: nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau, kháng viêm không steroide (NSAIDS), vật lý trị liệu… Khi điều trị bảo tồn không đáp ứng – từ 6 tuần đến 6 tháng – có thể thực hiện các phẫu thuật can thiệp.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cũng như xu hướng can thiệp tối thiểu bảo tồn cấu trúc giải phẫu học bình thường, hiện nay phương pháp phẫu thuật nội soi cột sống lấy nhân thoát vị là một hướng đi mới với nhiều hứa hẹn. Ưu điểm của phương pháp này là không có sự can thiệp nhiều đến cơ, xương khớp hoặc lôi kéo thần kinh ở cổ, những nguy cơ của hàm xương, không có nguy cơ để lại sẹo sau mổ của thần kinh. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân vẫn còn khoảng 98% chiều cao của đĩa đệm. Quá trình diễn biến sau phẫu thuật bệnh nhân cảm thấy giảm đau ngay tức thì, có thể đi lại được trong ngày và có thể tập vật lý trị liệu ở nhà. Hầu hết bệnh nhân được vận động bình thường có thể bắt đầu lại trong vòng 1 đến 6 tuần sau phẫu thuật.

Bác sĩ   Trần Quốc Ninh
Theo SKĐS

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh (neuropathic arthropathy) là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Điển hình trên phim chụp Xquang là tổn thương hủy hoại bề mặt sụn khớp, đặc xương dưới sụn, hẹp khe khớp, biến dạng khớp, trật khớp.

Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường, giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% bệnh  nhân đái tháo đường, 10 – 20% bệnh nhân giang mai và 20 – 25% bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh. Ngoài ra triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh

Bệnh khớp do thần kinh ở giai đoạn muộn

Dấu hiệu bệnh rất đa dạng

Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh.  Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh đái tháo đường các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.

Cách phân biệt với các bệnh khớp khác

Chụp Xquang khớp bị tổn thương: Có thể phát hiện giai đoạn sớm hay muộn của bệnh. Trên Xquang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tinh thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…

Siêu âm khớp: Có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như đái tháo đường, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp Xquang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm. Ví dụ trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên Xquang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp. Tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên Xquang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên Xquang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có hướng điều trị thích hợp.

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh2

Tổn thương bàn chân ở người bệnh khớp do thần kinh trước và sau phẫu thuật

Bệnh khớp do thần kinh được điều trị như thế nào?

Điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Dùng các thuốc giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật – các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.

Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.

ThS. Bùi Hải Bình (Khoa cơ xương khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bóc vỏ xương: Cứu cánh cho nhiều người bệnh bị gãy xương

Viện Chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đang ứng dụng kỹ thuật bóc vỏ xương điều trị cho những trường hợp gẫy thân xương dài, xương không liền tạo thành các khớp giả gây tàn phế. Với những hiệu quả mang lại, phương pháp này đang là cứu cánh cho nhiều bệnh nhân tránh cho họ khỏi cuộc phẫu thuật phải lấy xương mào chậu để ghép.

Nhiều trường hợp tàn tật sau gãy xương

Sau một năm bị tai nạn gãy xương hở, mặc dù đã được bó bột và khâu vết thương, song ông Trần Mạnh Huy, 45 tuổi (Văn Quán – Hà Nội) vẫn đau đớn không đi lại được. Ổ gãy ở cẳng chân vẫn chưa liền và cong vẹo. Tại Bệnh viện Quân y 108, bệnh nhân được chẩn đoán bị khớp giả thân xương dài. Ông Huy đã được thực hiện phẫu thuật bóc vỏ xương (đây chính là ghép xương tại chỗ) kết hợp với kết xương bằng đinh nội tủy có chốt. Sau 4 tháng, xương liền và bệnh nhân đi đứng bình thường.

TS. Nguyễn Lâm Bình, người trực tiếp điều trị cho bệnh nhân Huy cho biết, trường hợp như của ông Huy không phải là hiếm và được gọi là khớp giả thân xương dài. Bệnh chiếm tỷ lệ từ 2 – 5% ở các trường hợp sau gãy thân các xương dài ở cánh tay, cẳng tay, đùi, cẳng chân. Bệnh nhân thường đã được điều trị mổ kết xương hay bó bột, bó thuốc nam… nhưng sau 6 tháng vẫn không đi đứng hoặc không vận động cánh tay, cẳng tay được. Chụp phim Xquang kiểm tra thấy ổ gãy xương chưa liền, đó chính là khớp giả. Những trường hợp này cần phải được can thiệp phẫu thuật kết xương để cố định vững ổ gãy (thường kèm theo tháo phương tiện kết xương cũ), đồng thời kết hợp với làm mới ổ gãy, ghép xương… mới có thể liền xương. Nếu không điều trị bệnh nhân sẽ tàn phế.

boc_vo_xuong_cuu_canh_cho_nhieu_nguoi_benh_bi_gay_xuong_01 boc_vo_xuong_cuu_canh_cho_nhieu_nguoi_benh_bi_gay_xuong_02

Chân bệnh nhân sau khi được phẫu thuật bóc vỏ xương

TS. Nguyễn Văn Tín, Phó Viện trưởng Viện Chấn thương chỉnh hình cho hay, hiện có rất nhiều phương pháp điều trị khớp giả không nhiễm khuẩn ở các xương dài, mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm nhất định. Ở hầu hết các bệnh viện trong nước, phương pháp điều trị phổ biến nhất là phẫu thuật kết xương kết hợp với ghép xương mào chậu tự thân. Đây là một phương pháp điều trị có tính kinh điển, đạt tỷ lệ liền xương từ 85 – 95%. Tuy nhiên, bệnh nhân phải chịu thêm một thì mổ lấy xương ghép ở xương mào chậu. Ghép xương đồng loại hay ghép chất liệu thay thế xương ghép ít được ứng dụng do những nhược điểm về tỷ lệ thành công thấp, giá thành cao hoặc chất liệu không sẵn có… Vì vậy, bóc vỏ xương là một phương pháp rất hiệu quả đối với bệnh nhân.

Chi phí thấp nhưng hiệu quả cao

Theo TS. Bình, bóc vỏ xương là một phương pháp điều trị khớp giả thân xương dài đạt tỷ lệ liền xương cao, kỹ thuật không phức tạp, trang bị đơn giản mà lại giúp cho bệnh nhân giảm được một thì mổ lấy xương mào chậu như trong kỹ thuật ghép xương mào chậu tự thân. Khi mổ vào khớp giả, bác sĩ đục 1 lớp vỏ xương quanh chu vi thân xương, có độ dày từ 1 – 2mm, trên một đoạn dài từ 8 – 15cm bắc qua khe khớp giả. Lớp vỏ xương vẫn dính cốt mạc, cơ và phần mềm quanh xương. Các mảnh vỏ xương này sẽ là những mảnh xương ghép có mạch máu nuôi dưỡng đến từ cốt mạc cơ, tạo ra những mảnh xương ghép tại chỗ, có nguồn mạch máu nuôi dưỡng bao ôm quanh ổ khớp giả. Chính vì vậy, khả năng liền xương là rất cao, đạt tỷ lệ 95 – 98% trên hàng nghìn ca. Đặc biệt, không gặp những biến chứng đáng kể nào từ kỹ thuật bóc vỏ xương, kể cả tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trên những khớp giả có tiền sử nhiễm khuẩn. Đồng thời trong phẫu thuật bóc vỏ xương, bệnh nhân sẽ được kết xương vững chắc để đảm bảo cố định tốt ổ khớp giả.

Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã nghiên cứu và ứng dụng phương pháp bóc vỏ xương điều trị khớp giả thân xương dài (chủ yếu ở đùi và cẳng chân, một số ít ở cánh tay và cẳng tay) đạt tỷ lệ liền xương 96,7%, kết quả liền xương vững với thời gian trung bình là 6,3 tháng đối với xương đùi và 4,7 tháng đối với xương chày. Kỹ thuật bóc vỏ xương được thực hiện thuận lợi, an toàn cho cả những trường hợp khớp giả có phần mềm sẹo xấu dính xương mà cần bộc lộ đầu khớp giả. Bệnh nhân có thể tập vận động sớm sau mổ. Đối với khớp giả ở đùi, cẳng chân thường được kết hợp với kết xương vững chắc bằng đinh nội tủy có chốt. Đa số bệnh nhân được đi, đứng không cần chống nạng từ sau khi cắt chỉ liền sẹo vết mổ.

Hà Anh
Theo SKĐS

Hàng trăm viên sỏi trong khớp vai người bệnh được phát hiện

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vừa phát hiện và xử trí thành công ca bệnh hiếm gặp. Đó là một trường hợp có hàng trăm viên sỏi trong khớp vai. Điều đáng nói là quan điểm điều trị mới đã mang lại kết quả khả quan cho người bệnh.

Người bệnh bất ngờ

Đang ở tuổi thanh niên nhưng đã 5 năm nay bệnh nhân Nguyễn Văn Cường, 24 tuổi (Hà Tĩnh) luôn phải rón rén trong mọi sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là khi cần phải sử dụng đến vận động của cánh tay trái, khiến cuộc sống của anh gặp nhiều trở ngại. Ban đầu chỉ là mỏi, nhức, sau đó các cơn đau tăng dần và người bệnh cảm giác như khớp vai bị cứng lại. Khi mới có những dấu hiệu bệnh, anh Cường cho rằng có lẽ do mình vận động quá sức. Sau một thời gian, những cơn đau đến nhiều hơn và khó cử động hơn thì anh tìm đến những biện pháp điều trị dân gian và đông y như xoa bóp, bấm huyệt, chườm nóng… nhưng vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Anh Cường đi khám bệnh nhưng được chẩn đoán là đau khớp và dùng thuốc nhưng cũng không có kết quả tốt. Thời gian gần đây, các biểu hiện bệnh càng nặng nề, thậm chí anh còn cảm thấy khớp vai lạo xạo như xương bị vỡ ra.

hang_tram_vien_soi_trong_khop_vai_nguoi_benh_duoc_phat_hien

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ca bệnh sỏi trong khớp vai

Kết quả chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội khiến người bệnh rất bất ngờ, trong khớp vai của bệnh nhân có rất nhiều sỏi, ước tính đến hàng trăm viên. Bệnh nhân Cường cho hay, trước đây anh chỉ nghe nói đến sỏi trong gan, mật, thận, bàng quang… chứ chưa từng biết có sỏi trong vai bao giờ. Theo các bác sĩ, trong trường hợp này, dùng thuốc hầu như không có tác dụng, mà cần phải được xử trí bằng phẫu thuật để lấy hết hết sỏi ra mới trả lại sự vận động bình thường cho khớp vai.

Truy tìm nguồn gốc của các viên sỏi trong vai

ThS. Trần Trung Dũng, người phẫu thuật cho bệnh nhân Cường cho biết, những viên sỏi trong khớp vai người bệnh có đường kính từ 0,5 – 1,5cm, các bác sĩ cũng khá bất ngờ vì số sỏi nhiều quá, phải mất 1 giờ 30 phút mới lấy hết số sỏi ra, ước tính đến gần 200 viên. Những viên sỏi này là do u xương sụn màng hoạt dịch sinh ra. Màng hoạt dịch là màng trong cùng của bao khớp, có vai trò tiết dịch làm trơn bề mặt hoạt động của khớp. U xương sụn màng hoạt dịch xuất hiện là do sự phát triển bất thường của cấu trúc sụn trong màng hoạt dịch và lắng đọng canxi. Một số cấu trúc này phát triển lên chỉ dính vào màng hoạt dịch bằng một cái cuống giống như chùm nho, các quả nho là những hạt canxi lắng đọng. Trong quá trình phát triển, các hạt canxi này một phần vẫn nằm trong bao hoạt dịch, một phần khác rơi vào trong khớp. Bệnh lý này chỉ biểu hiện ở một khớp, như khớp háng, gối, vai. Khi các hạt canxi lắng đọng này rơi vào khớp sẽ cọ sát, chèn ép vào sụn, gây tổn thương bề mặt sụn khớp, thoái hóa khớp làm người bệnh đau, hạn chế vận động.

Phương pháp xử trí mới làm thay đổi chất lượng điều trị

Các bác sĩ cho biết, khi các hạt canxi trông như những viên sỏi từ màng hoạt dịch rơi vào trong khớp thì biện pháp điều trị tốt nhất là phẫu thuật lấy chúng ra. Trước đây, để xử trí cho những trường hợp bệnh này phải phẫu thuật mở để gắp hết sỏi trong khớp ra và cắt toàn bộ màng hoạt dịch để tránh u xương sụn tái phát. Tuy nhiên kết quả không được như mong đợi. Bởi khi cắt toàn bộ màng hoạt dịch sẽ làm cho vận động càng khó hơn do khớp không còn bộ phận làm trơn láng bề mặt, hơn nữa khi phẫu thuật mở phải mở đường rạch lớn ở quanh khớp gây đau nhiều cho người bệnh. Chính vì hạn chế của phẫu thuật mở mà trước đây nếu có gặp những ca bệnh như vậy thì các bác sĩ rất cân nhắc khi quyết định mổ.

Giờ đây, quan điểm điều trị cho bệnh lý này đã thay đổi. Các bác sĩ thực hiện phẫu thuật nội soi để lấy hết sỏi trong khớp ra nhưng vẫn giữ nguyên màng hoạt dịch để đảm bảo sự vận hành dễ dàng của sụn khớp. Phẫu thuật nội soi sẽ không phải mở đường mổ lớn, người bệnh sẽ nhanh chóng xuất viện. Người ta cũng tính đến khả năng tái phát của bệnh nhưng sự lắng đọng các hạt canxi sẽ phải trải qua thời gian dài, nếu đến một lúc nào đó các hạt sỏi rơi vào khớp thì quá trình tái thực hiện lấy sỏi ra cũng dễ dàng vì chỉ cần nội soi, tránh được nguy cơ dính như thực hiện phẫu thuật mở trước đây.

Theo ThS. Dũng, đây là bệnh hiếm gặp, người bệnh đi khám thường đã có dấu hiệu khá điển hình. Các dấu hiệu đau, vận động khó dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác của khớp, nếu để quá lâu có thể làm tổn thương khớp nặng nề. Trên phim Xquang thấy được các viên sỏi nhưng không định lượng được mức độ các viên sỏi này trong khớp nhiều hay ít. Nhưng hình ảnh trên cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ thì đánh giá được cả mức độ u xương sụn trong màng hoạt dịch và những hạt đã rơi vào khớp.

Lê Hảo
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Hẹp ống sống thắt lưng

Ống sống là khoang rỗng của đốt sống, trong đó có tuỷ sống và các rễ thần kinh. Nếu ống sống bị hẹp sẽ chèn ép rễ tủy sống và các rễ thần kinh tương ứng gây ra nhiều biến chứng. Chẳng hạn hẹp ống sống thắt lưng sẽ gây đau lưng và đau dây thần kinh hông to lan xuống cả hai chân gây phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn…

Nguyên nhân gây hẹp ống sống

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_hep_ong_song_that_lung

Tổn thương cột sống gây hẹp ống sống

Trong lâm sàng đối với một thương tổn đĩa đệm không chỉ có mức độ thoát vị cỡ lớn của phần thoát vị là có ý nghĩa quyết định tất cả mà còn phải quan tâm đến ống sống, nơi đĩa đệm có thể tránh những đụng độ trong quá trình vận động cột sống. Nếu khoang ống sống hẹp thì ngay những biến dạng nhỏ nhất cũng có thể gây nên đau đớn. Trong phẫu thuật, người ta gặp những lồi đĩa đệm thắt lưng tương đối nhỏ, không đủ để giải thích mức độ nặng của các triệu chứng lâm sàng, khi đó cần lưu ý tới độ rộng của ống sống thắt lưng.

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã xác định nếu chỉ có hẹp ống sống thôi (nghĩa là không có thoát vị đĩa đệm) cũng có thể có các triệu chứng lâm sàng giống như bệnh do đĩa đệm.

Những nguyên nhân gây hẹp ống sống thắt lưng là: Bẩm sinh: loạn dưỡng sụn, dị dạng đốt sống, hẹp ống sống nguyên phát, quá ưỡn cột sống thắt lưng, gai đôi cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống sau chấn thương, biến đổi thoái hoá: phản ứng xương ở các cạnh và khớp đốt sống. Mắc phải: biến đổi thoái hoá như lồi đĩa đệm, giả trượt đốt sống; hẹp ống sống sau phẫu thuật: sau phẫu thuật cố định cứng, tổ chức sẹo; bệnh xương toàn thân: bệnh nhiễm độc flo (fluorose), bệnh Paget. Hỗn hợp: hẹp ống sống nguyên phát kết hợp với biến đổi thoái hoá. Hẹp ống sống là một thể biến dạng của cỡ kích thước ống sống bị hẹp so với cỡ kích thước bình thường, tương ứng với các tổ chức có liên quan, cùng lứa tuổi. Người ta không xếp vào đây quá trình viêm (viêm đốt sống) các u và thoát vị đĩa đệm hoàn toàn. Như vậy chỉ có nguyên nhân bẩm sinh và mắc phải gây nên hẹp lòng ống sống.

Ngoài ra hẹp ống sống có thể do xương (cung, thân đốt sống), cũng có thể do tổ chức mềm gây nên (đĩa đệm, tổ chức liên kết). Tùy theo nguyên nhân, hẹp ống sống có thể ở từng đoạn hay cả toàn bộ ống sống. Sau khi mổ ống sống thắt lưng, hẹp ống sống có thể xảy ra do các mảng sẹo hoặc do sự phát triển chồng áp lên nhau ở phía trong cung đốt sống sau phẫu thuật bất động cột sống ở phía sau. Các phẫu thuật làm cứng đốt sống cũng có thể xuất hiện tình huống tương tự. Trong các nguyên nhân gây hẹp ống sống, cần lưu ý dạng kết hợp hẹp ống sống trên cơ sở của quá trình thoái hoá do những phản ứng mọc gai xương ở các diện khớp nhỏ, những chỗ vồng lên của giới hạn sau của đĩa đệm và những dạng xô lệch giữa các đốt sống với nhau trong thoái hoá đĩa đệm cột sống thắt lưng, với tình trạng hẹp ống sống nguyên phát bẩm sinh. Dạng kết hợp gây hẹp ống ống này đã đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân của bệnh lý hẹp ống sống.

Một lồi đĩa đệm tương đối nhỏ của vòng sợi ở phía lưng hoặc những gai xương nhỏ ở bờ đốt sống trong thoái hoá cũng có thể gây đau đớn nặng nề do hẹp ống sống.

Hẹp ống sống nguyên phát có thể do các ngách bên của ống sống bị san phẳng (mất độ hõm) hoặc đường kính trước – sau của ống sống hay khoảng cách liên cuống đốt sống bị ngắn lại.

Như phần trên đã nêu, các rễ thần kinh ở cột sống thắt lưng dưới, sau khi đi ra khỏi bao cứng chạy trên mặt đĩa đệm ngay sát bên dưới, qua ngách bên của ống sống và ra lỗ liên đốt. Rễ thần kinh có khả năng bị cản ép ở tất cả các đoạn trên đường đi mà thường là do những nguyên nhân kết hợp.

Trong thoái hoá đĩa đệm, các đốt sống xích lại gần nhau hơn, khoang gian đốt sống bị mỏng đi chủ yếu ở phần sau. Do đó khớp phía trên của thân đốt sống thắt lưng cuối cùng xô dịch ra phía trước.

Trong hẹp ống sống bẩm sinh do ngách bên của ống sống nhỏ, có thể đĩa đệm bị kết thể, kèm theo những phản ứng gai xương áp chồng lên nhau nên không những nhiều rễ thần kinh mà đuôi ngựa cũng bị chèn đẩy. Vì những biến đổi này ở trong giai đoạn tiến triển của thoái hoá đĩa đệm nên những bệnh nhân có hội chứng hẹp ống sống thắt lưng thường gặp ở tuổi già.

Hiện nay bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh (chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ), hẹp ống sống được chẩn đoán rất chính xác. Theo Verbiest đường kính trước – sau của ống sống vùng thắt lưng nếu nhỏ hơn 10mm thì được coi như là hẹp tuyệt đối. Nếu 10 -12mm là hẹp tương đối.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_hep_ong_song_that_lung2

Chấn thương gây hẹp ống sống

Biểu hiện khi bị hẹp ống sống

Hẹp ống sống thắt lưng người ta thường gọi là hội chứng hẹp ống sống thắt lưng. Bệnh nhân thường than phiền về đau lưng và dây thần kinh hông to trong nhiều năm và đã điều trị nhiều không khỏi. Đau đa dạng, trải qua đau mạn tính đến đau dây thần kinh hông to, rồi đến đau dây thần kinh đùi cả ở hai bên và cuối cùng là cả đau rễ thần kinh kiểu lan xuyên xuống hai chân. Hai chân có phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn kiểu kín đáo. Duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước. Nếu đau thắt lưng và đau các rễ thần kinh khi đi hay đau tăng do đi lại và buộc bệnh nhân phải dừng lại thì được gọi là khập khễnh cách hồi rễ thần kinh. Nếu đuôi ngựa bị xâm phạm có thể xuất hiện khập khễnh cách hồi của đuôi ngựa (đuôi ngựa là nơi hội tụ của rất nhiều rễ thần kinh thắt lưng – cùng). Biểu hiện: giảm cảm giác, muộn hơn có đau và chuột rút cả hai chân sau khi đi một đoạn đường hoặc đứng lâu. Người ta cho rằng do hẹp ống sống nên dẫn đến thiếu máu cục bộ của rễ đuôi ngựa. Đau mang tính chất phụ thuộc vào tư thế và liên quan đến khoanh đoạn tủy tương ứng là những đặc điểm quan trọng để chẩn đoán đau do nguyên nhân mạch máu.

Khập khễnh cách hồi đuôi ngựa xuất hiện trước hết khi bị áp lực trọng tải trong tư thế ưỡn cột sống. Đặc trưng của đau đó là: đau chân tăng mạnh khi đi xuống dốc, xuống thang và lại ngừng đau khi cúi nhẹ ra trước. Chẩn đoán phân biệt với trượt đốt sống do tiêu eo đốt sống (lyse isthmique) vì cũng có hội chứng này và ngoài ra còn chẩn đoán phân biệt với suy yếu khớp.

Điều trị hẹp ống sống

Chỉ được đặt ra khi đã chẩn đoán xác định. Trước tiên cần phải áp dụng các biện pháp điều trị giống như chứng đau do đĩa đệm. Nếu điều trị bảo tồn không có kết quả thì chỉ định phẫu thuật. Phương pháp nới rộng bằng thủ thuật cắt nửa cung sau hoặc toàn bộ cung sau đốt sống ở đoạn có hẹp ống sống. Mục đích của phẫu thuật là giải phóng sự chèn đẩy. Nếu rễ thần kinh ở ngách bên bị chèn ép do ngách bên bị mất độ lõm sâu, có thể chỉ cần cắt bỏ một phần diện khớp trên. Trường hợp có hội chứng ở cả hai bên cần chỉ định cắt toàn bộ cung sau, kết quả điều trị phẫu thuật thường là tốt.

PGS. Vũ Quang Bích
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Đau lưng là một triệu chứng hay gặp, triệu chứng này không trừ một ai, từ trẻ đến già, người làm việc văn phòng cũng như người khuân vác. Chứng đau lưng gồm các nguyên nhân tại cột sống và ngoài cột sống. Tại cột sống có thoái hoá đĩa đệm, viêm đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), vôi hóa đĩa đệm, viêm cột sống dính khớp, thoái hoá cột sống thắt lưng, viêm cột sống… Bài viết này xin đề cập một nguyên nhân gây đau lưng hay gặp là TVĐĐ cột sống thắt lưng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_thoat_vi_dia_dem_cot_song_that_lung

Nguyên nhân gây đau lưng hay gặp là TVĐĐ cột sống thắt lưng. Ảnh minh họa.

Ai dễ bị TVĐĐ thắt lưng?

Theo thống kê cho thấy, TVĐĐ phụ thuộc các yếu tố như: nam giới bị nhiều hơn nữ. Thường gặp ở độ tuổi lao động từ 20 – 50 tuổi. Dưới 18 và trên 60 tuổi rất hiếm gặp. Những người làm việc nặng nhọc, tư thế làm việc buộc cột sống vận động quá giới hạn như quá ưỡn, quá khom người, vẹo cột sống; đặc biệt sự thoái hoá đĩa đệm. Nói chung theo thời gian đĩa đệm sẽ thoái hoá nhưng nhanh hay chậm tùy thuộc từng người, nếu chấn thương thì đĩa đệm thoái hoá nhanh hơn. Do đó có người thoát vị rất sớm dù không phải lao động nặng.

Điều trị bằng cách nào?

Phần lớn bệnh nhân được điều trị bằng nội khoa, chỉ khoảng 10% là cần can thiệp bằng phẫu thuật.

Điều trị nội khoa:

- Nghỉ ngơi: Trong giai đoạn cấp của bệnh thì nằm nghỉ là chính. Nằm ngửa trên giường có mặt phẳng cứng (tuyệt đối không nằm nệm); co nhẹ hai khớp gối và háng nhằm làm giảm áp lực nội đĩa đệm và làm chùng khối cơ thắt lưng. Có thể nằm 2 – 3 tuần nếu nặng, bình thường phải 1 tuần. Sau đó có thể vận động nhẹ nhàng bằng các bài tập thể dục, nhưng tuyệt đối không được cúi người nâng vật nặng, tránh mang xách không cân đối làm lệch người, hoặc lao động nặng. Sau 6 tháng có thể sinh hoạt và vận động bình thường.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_thoat_vi_dia_dem_cot_song_that_lung_02

Đĩa đệm thoát vị chèn ép dây thần kinh

Vật lý trị liệu: Giảm đau bằng chườm nóng (Đông y thường chườm bằng lá ngải sao nóng rất hiệu quả) hoặc dùng điện châm, châm cứu, laser…

- Các thuốc thường dùng giảm đau, chống viêm như aspirin, anagin, paracetamol kết hợp các thuốc chống viêm, giãn cơ, an thần nhẹ, vitamin nhóm B.

- Kéo giãn cột sống thắt lưng và nắn chỉnh cột sống, tiêm thuốc vào đĩa đệm được chỉ định và thực hiện ở các đơn vị chuyên khoa về xương khớp.

Phẫu thuật: mổ thoát vị khi các biện pháp điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc thoát vị gây chèn ép các rễ thần kinh chi phối vận động các vùng tương ứng gây biến chứng như bí đại tiểu tiện, liệt chi dưới…

Phòng bệnh

Các tư thế sinh hoạt, lao động, nghỉ ngơi không đúng đều là nguyên nhân dẫn tới bệnh và làm bệnh nặng thêm, do vậy để phòng ngừa chúng ta cần chú ý sửa những thói quen đi đứng không đúng cũng như chú ý thực hiện tốt những vấn đề sau:

- Điều trị các chứng bệnh gây ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm như các bệnh vẹo cột sống, chân ngắn chân dài, bụng phệ, thừa cân béo phì, ưỡn cột sống quá mức, gù vẹo cột sống do chấn thương.

- Ngồi: Tránh ngồi một cách gò ép vì đó là cơ chế chung gây tổn thương đĩa đệm, nhất là khi ngồi cúi ra trước thì áp lực nội đĩa đệm tăng cao dễ tổn thương.

Biểu hiện khi bị thoát vị đĩa đệm

Đau lưng là triệu chứng khiến người ta không chịu nổi phải đi khám bệnh. Đau có khi đột ngột, có khi sau một chấn thương hoặc vận động sai lệch cột sống. Đau tăng lên khi ho, hắt hơi, rặn, ngồi hoặc đứng lâu, nằm nghỉ thì bớt đau nhiều. Do đau quá nên bệnh nhân tự tìm tư thế giảm đau như đi nghiêng người về một bên, nằm cong vẹo người.

Quan trọng là triệu chứng đau lưng kèm theo dấu hiệu tổn thương rễ thần kinh: giảm hoặc mất cảm giác, giảm sức cơ và trương lực cơ chi dưới, có thể teo cơ ở chân, giảm hoặc mất phản xạ theo rễ thần kinh  bị tổn thương.

Để chẩn đoán xác định: ngoài các dấu hiệu trên cần đo điện cơ, xét nghiệm dịch não tủy, chụp Xquang cột sống, CT scanner, cộng hưởng từ, chụp tủy chụp đĩa đệm…

- Đứng: Đứng khom lưng lâu (cuốc đất, cấy lúa, làm cố) sẽ tác động xấu tới đĩa đệm, do vậy khi làm các công việc này nên dùng dụng cụ có cán dài. Không nên đứng nghiêng làm biến dạng cột sống, làm các đĩa đệm chịu một lực không đều và bị tổn thương. Không nên đứng lâu một vị trí mà nên đi lại, đánh tay, nhún người… làm dao động áp lực đĩa đệm, thúc đẩy trao đổi dịch thể trong khoang này phòng thoái hoá đĩa đệm.

- Tránh tư thế ưỡn quá mức khi đứng (như đi guốc, giày cao gót, làm việc với cao hơn tầm đầu, đi xuống dốc…). Tư thế đứng đúng là chân thẳng, đầu và thân thẳng, hai vai hơi mở ra sau, ngực ưỡn căng ra trước.

- Nằm: Tránh nằm sấp vì ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm. Nằm nệm mềm làm cột sống bị biến dạng nên dễ bị tổn thương đĩa đệm.

- Tập thể dục thể thao: Mục đích là làm chắc hơn các cơ và dây chằng nhằm ổn định tốt các đốt sống và đĩa đệm, hạn chế đi lệch. Tuy nhiên tuỳ theo cơ thể, năng khiếu, sở thích và các bệnh khác có hay không mà tập những môn thể thao khác nhau và nhất thiết phải có huấn luyện viên hướng dẫn nhằm tránh tập sai dẫn đến tác dụng ngược, những tác động làm ảnh hưởng xấu tư thế cột sống, chẳng hạn chơi tạ không đúng cách có thể gây hư đốt sống, môn bóng chuyền nếu tập quá mức, sai phương pháp sẽ gây các vi chấn thương lên đĩa đệm.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS