Tag Archives: phấn hoa

Dị ứng – sự thật cần biết

Trẻ béo phì thường có nguy cơ bị dị ứng, con đầu lòng cũng dễ mắc bệnh này hơn con thứ, dị ứng có thể tự biến mất…

Dị ứng xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mức với các tác nhân vô hại từ môi trường như phấn hoa, bụi nhà, một số thức ăn… Phản ứng này làm giải phóng nhiều loại hóa chất trung gian như histamine, serotonin… là những tác nhân trực tiếp gây ra các triệu chứng dị ứng như nổi ban đỏ, phù nề mắt môi, khó thở, ngạt sổ mũi… Sự phiền toái của các bệnh dị ứng là điều dễ nhận thấy, tuy nhiên, có những sự thật về dị ứng có thể khiến nhiều người ngạc nhiên.

di-ung-su-that-can-biet1

Dị ứng có tính di truyền
Mặc dù các nhà khoa học chưa thể xác định chính xác gene gây ra tình trạng dị ứng nhưng có thể khẳng định cơ địa dị ứng có tính di truyền rõ rệt. Trong một gia đình, nếu bố hoặc mẹ có cơ địa dị ứng thì các con của họ có 30% nguy cơ mắc các bệnh này, nhưng nếu cả bố và mẹ cùng bị dị ứng thì nguy cơ mắc tình trạng này ở những đứa con lên tới 70%.

Dị ứng có thể gây ra do mọi tác nhân
Không chỉ do nguyên nhân quen thuộc như phấn hoa, thuốc, hải sản…, các bệnh dị ứng còn có thể gây ra do những nguyên nhân khó tin như nước, ánh nắng mặt trời, hơi lạnh… Mặc dù hiếm gặp nhưng các trường hợp dị ứng này có thể rất nguy hiểm và khó đề phòng.

di-ung-su-that-can-biet

Những trẻ béo phì thường có nguy cơ bị dị ứng
Hầu hết mọi người mới biết đến tác động của béo phì với các bệnh lý về tim mạch, chuyển hóa, tuy nhiên các nghiên cứu khoa học còn cho thấy một sự thật rất đáng ngạc nhiên là béo phì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh dị ứng ở trẻ em. Trẻ béo phì có tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng nói chung cao hơn 26% và dị ứng thức ăn cao hơn 59% so với tỷ lệ chung trong cộng đồng.

Dị ứng có thể xuất hiện đột ngột ở tuổi trưởng thành
Dị ứng thường xuất hiện từ nhỏ và có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, dị ứng có thể xuất hiện khá muộn ở tuổi trưởng thành, mặc dù trước đó họ chưa từng mắc. Nguyên nhân vì sao dị ứng xuất hiện muộn trong những trường hợp này còn chưa được hiểu rõ.

Con đầu lòng thường có tỷ lệ dị ứng cao hơn
Thứ tự sinh có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc các bệnh dị ứng. Một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, những đứa con đầu lòng có tỷ lệ mắc bệnh dị ứng cao hơn những đứa con đẻ sau. Nguyên nhân vì sao có sự khác biệt này còn chưa được hiểu rõ nhưng một giả thuyết được đưa ra là sự khác biệt về tình trạng trong buồng tử cung ở đứa trẻ đẻ đầu tiên.

Dị ứng là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu của các bệnh mạn tính trên thế giới
Các bệnh dị ứng như hen phế quản, viêm mũi dị ứng là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây nghỉ học, nghỉ làm và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Có thể có mối liên quan giữa dị ứng và trầm cảm
Khi đi tìm nguyên nhân của trầm cảm, các thầy thuốc thường ít nghĩ đến các bệnh dị ứng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, có mối liên quan giữa dị ứng theo mùa và trầm cảm. Theo đó, các triệu chứng trầm cảm thường nặng lên vào giữa mùa phấn hoa.

Tình trạng dị ứng có thể tự biến mất
Diễn biến của tình trạng dị ứng thường khó đoán trước, nó có thể biến mất ở một số trẻ em và người trưởng thành. Trẻ em có nhiều khả năng thoát khỏi bệnh dị ứng, đặc biệt là dị ứng sữa. Mặc dù khả năng biến mất của các bệnh dị ứng là có thể nhưng sự thận trọng của người bệnh và gia đình luôn là điều cần thiết. Không nên coi mọi bệnh dị ứng đều có thể khỏi hoàn toàn.

Dị ứng có thể giúp giảm nguy cơ xuất hiện u não
Bên cạnh việc gây nhiều phiền toái cho người bệnh, dị ứng có thể đem lại những lợi ích. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những người bị dị ứng giảm được 33% nguy cơ mắc một số loại u não. Nguyên nhân của điều này được cho là do kháng thể dị ứng IgE có một vai trò nào đó trong việc làm giảm sự tạo thành của u não.

Theo VNE

Bệnh dị ứng tăng vì biến đổi khí hậu

Lượng phấn hoa của thực vật tăng lên trong mấy thập kỷ qua do hiệu ứng nhà kính, khiến số người bị dị ứng phấn tăng lên.

Tiến sĩ Renato Ariano, giám đốc dịch vụ chống dị ứng của bệnh viện Bordighera, Italy cho biết, khi nhiệt độ tăng, thời gian tạo phấn của nhiều loài thực vật cũng dài hơn. Bên cạnh đó lượng phấn hoa mà cây cối sản xuất cũng tăng. Lượng phấn hoa và thời gian phơi nhiễm với phấn đều tăng khiến số lượng người bị dị ứng phấn cũng tăng.

benh-di-ung-tang-vi-bien-doi-khi-hau

Healthday cho biết, trong gần 30 năm qua các chuyên gia của bệnh viện Bordighera đã theo dõi tình hình sản xuất phấn hoa ở thực vật và số lượng người bị dị ứng với phấn của 5 loài cây: bách, ô liu, bulô, cỏ và cây gai tường. Đây là những loài cây mà phấn của chúng gây dị ứng nhiều nhất ở vùng Bordighera, Italy.

Trong khoảng thời gian từ năm 1981 tới 2007, nhóm nghiên cứu nhận thấy mùa tạo phấn của thực vật bắt đầu sớm hơn trước kia. Riêng đối với cây gai tường và ôliu thì vào cuối giai đoạn nghiên cứu mùa tạo phấn của chúng bắt đầu sớm hơn lần lượt là 80 ngày và 30 ngày so với giai đoạn đầu.

Cũng trong gần 30 năm đó, các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra mức độ nhạy cảm đối với phấn của 5 loài cây nói trên.

“Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ người dị ứng với phấn của cây ôliu, gai tường và bách tăng liên tục, nhưng tỷ lệ người dị ứng với bụi vẫn không đổi trong suốt 27 năm”, Giovanni Passalacqua, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu.

Giáo sư Estelle Levetin, trưởng khoa Sinh học của Đại học Tulsa tại Mỹ nhận xét rằng kết quả nghiên cứu của nhóm Passalacqua chứng minh rằng các mùa tạo phấn của thực vật có thể kéo dài và lượng phấn có thể tăng lên do hiệu ứng nhà kính. Theo Levetin, lượng khí thải CO2 tăng khiến cây sinh trưởng nhanh hơn, nhờ đó tạo ra nhiều phấn hơn.

Vị giáo sư cho rằng những người bị dị ứng phấn hoa nên bắt đầu dùng thuốc hoặc áp dụng những biện pháp điều trị sớm hơn so với trước kia, đồng thời duy trì nỗ lực điều trị trong thời gian dài hơn.

Theo VnExpress

Tiêm phòng bệnh dị ứng ở trẻ em

Với hầu hết các bậc phụ huynh, tiêm phòng cho trẻ quá nhiều mũi đã khiến họ mệt mỏi, mất nhiều công sức. Nhưng, nếu không may con trẻ hay mắc những biểu hiện dị ứng nghiêm trọng thì việc tiêm phòng thêm mũi phòng dị ứng sẽ rất có giá trị và không nên trì hoãn.

Trẻ dị ứng thường xuyên hay bị viêm tai và nhiễm trùng xoang, các vấn đề về da, hen suyễn và những biểu hiện khó chịu khác. Những triệu chứng này có thể xuất hiện quanh năm tùy thuộc vào từng loại dị ứng. Nếu con bạn bị dị ứng thì việc tiêm phòng có thể là cách hỗ trợ tốt nhất.
Dị ứng do đâu?

Theo Hiệp hội hen suyễn và dị ứng của Mỹ, khoảng 20% ​​người Mỹ bị dị ứng. Dị ứng và hen suyễn thường diễn ra song song.

tiem-phong-cho-chau

AAFA trích dẫn rằng khoảng 80% trẻ em bị suyễn đều có các biểu hiện dị ứng. Nếu bác sĩ nghi ngờ dị ứng, con bạn thường sẽ phải khám và xét nghiệm da để xác định chất gây dị ứng gây ra triệu chứng của trẻ.

Các thử nghiệm trên da khó chịu nhưng không gây đau đớn. Những chất gây dị ứng có thể được tìm thấy trong nhà và ngoài trời. Tác nhân dị ứng thường gặp bao gồm bụi, phấn hoa và lông thú vật nuôi.

Ai có thể tiêm phòng dị ứng?

Hiệu quả của liệu pháp miễn dịch khác nhau ở mỗi người. Nhiều trẻ em có thể kiểm soát các biểu hiện dị ứng thông qua đơn thuốc kết hợp và các loại thuốc phòng ngừa, đặc biệt là nếu dị ứng chỉ bùng phát theo mùa hoặc sau khi tiếp xúc với chất gây dị ứng cụ thể như lông mèo.

Đối với trẻ bị dị ứng, các loại thuốc phòng không thể phát huy hiệu quả liên tục và triệu chứng có thể xuất hiện quanh năm.

Tùy thuộc vào bảo hiểm y tế, tiêm phòng dị ứng có thể rất tốn kém. Vì thế, các bậc phụ huynh nên tìm hiểu kỹ trước khi quyết định tiêm và cần tham vấn ý kiến bác sỹ.
Thuốc phòng dị ứng tác động ra sao?

Liệu pháp miễn dịch tùy biến ở mỗi đứa trẻ. Vì vậy, việc kiểm tra da và thể trạng của bé thường được các bác sỹ tiến hành trước khi tiêm phòng.

Tùy thuộc vào lịch khám của bác sĩ và chứng dị ứng của trẻ, con bạn sẽ được tiêm một lần hoặc hai lần một tuần trong vòng 4 tháng đến 1 năm. Lượng dị ứng nguyên trong mỗi liều ít và tăng dần cho đến liều duy trì. Khi đó, con bạn sẽ không phải tiêm thường xuyên nữa.

Trẻ bị nhiều chứng dị ứng có thể phải tiêm nhiều mũi tiêm. Tuy nhiên, tiêm phòng dị ứng không đau như các loại vaccine khác.
Tiêm phòng dị ứng có giá trị thế nào?

Đối với trẻ em bị dị ứng trước một số tác nhân môi trường nghiêm trọng thì việc tiêm phòng có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu các triệu chứng.

Nhiều trẻ bị dị ứng và hen suyễn rất muốn có cách nào giảm ngứa, hắt hơi và thở khò khè do dị ứng, kể cả tiêm phòng.

Cha mẹ là những người đưa ra quyết định cuối cùng về việc tiêm phòng dị ứng cho trẻ sau khi tham vấn bác sỹ và xem xét hoàn cảnh kinh tế của gia đình. Bên cạnh đó, bạn nên giải thích cho con biết chính xác liệu pháp tiêm phòng có tác dụng như thế nào với trẻ.

Theo sức khỏe đời sống

Các bệnh hô hấp thường gặp ở trẻ trong mùa xuân

Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp Tết, số trẻ mắc bệnh đường hô hấp thường tăng cao. Bệnh thường phát sinh và lây truyền nhanh trong những ngày Tết vì mật độ người đông, nhất là ở những nơi vui chơi công cộng. Khi bị ốm, trẻ thường quấy khóc, ho, hắt hơi… sẽ làm bắn nước bọt, đờm dãi ra xung quanh có kèm theo vi khuẩn hoặc virut gây bệnh, trẻ khỏe hít thở phải nên bị lây nhiễm.

Nghe tiếng ho, đoán bệnh của trẻ

Ở người bình thường, đường hô hấp luôn luôn được giữ gìn sạch sẽ do có những lớp lông nhỏ phủ trên lòng ống không ngừng chuyển động để đẩy các chất bẩn ra ngoài. Ho là triệu chứng chủ yếu của các bệnh đường hô hấp ở trẻ em cũng như ở người lớn. Ho có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như viêm đường hô hấp trên, ho gà, hen, viêm phế quản, viêm phổi…

ho-hap

Ðể tìm nguyên nhân các bệnh gây ho, các bậc cha mẹ cần xem trẻ ho nhiều vào lúc nào? Tiếng ho vang hay khàn khàn? Kèm với ho, trẻ có sốt không, có chảy nước mũi không, có khó thở không?… Cần phân biệt nhiều chứng ho khác nhau: Ho cấp tính thường kèm theo sốt ở trẻ em bị viêm đường hô hấp trên. Ho không kèm theo sốt có thể do dị ứng như hen; trẻ thường ho khan và ho từng cơn.

Ho về đêm ở trẻ sơ sinh do các chất nhầy tích tụ làm tắc các đường dẫn khí; Để trẻ khỏi ho, chỉ cần nâng trẻ dậy và bế theo chiều đứng để các chất nhầy tích tụ trong các đường dẫn khí chảy thoát đi. Ho tiếng ông ổng kèm theo giọng nói khàn có thể do viêm thanh quản. Ho từng cơn dài có thể là ho gà. Nếu đột ngột thấy trẻ ho sặc sụa, không bị sốt nhưng khó thở, mặt tái đi thì có thể do trẻ đã bị một dị vật vào đường hô hấp.

Các bệnh hô hấp thường gặp

Viêm đường hô hấp trên (viêm mũi họng cấp) là bệnh phổ biến nhất ở trẻ em trong mùa xuân. Trẻ thường ho kèm theo chảy nước mũi, có thể kèm theo sốt nhưng không khó thở.

Cách xử lý: Ho là một phản ứng của cơ thể để tống các chất lạ hoặc chất nhầy tiết nhiều quá ra khỏi các ống dẫn khí. Bởi vậy, ho là một phản ứng bảo vệ cần thiết của cơ thể nên nhiều khi không nên tìm cách ngăn cản triệu chứng ho.

Một số thuốc an thần, giảm ho có khi lại có hại, làm cho trẻ khó thở. Nên cho trẻ dùng các loại thuốc có tác dụng làm loãng cả chất nhầy để dễ tống chúng ra ngoài (nhỏ mũi bằng natriclorua 0,9%). Chỉ khi trẻ ho khan nhiều quá, bị mất sức vì ho ban đêm thì mới cho uống thuốc ho và an thần (như theralene…) để làm dịu cơn ho như trong trường hợp bị ho gà.
Bệnh ho gà: Nhờ tiêm phòng vaccin nên ngày nay ít trẻ bị bệnh ho gà. Tuy nhiên, nếu trẻ không được tiêm chủng đầy đủ thì ho gà vẫn là một bệnh nguy hiểm. Triệu chứng bao gồm: sốt nhẹ, ho từng cơn. Mỗi cơn ho làm trẻ đỏ mặt, chảy nước mắt. Sau cơn ho, trẻ hít thở từng hơi dài nên nghe có những tiếng rít. Ðôi khi miệng trẻ có nhiều đờm dãi dính không nhổ ra được. Mỗi ngày trẻ có thể ho vài chục cơn, số cơn càng nhiều thì bệnh càng nặng. Ho kéo dài từ 2 – 3 tuần rồi giảm dần. Nếu trẻ vừa ho vừa sốt thì có thể trẻ bị viêm phế quản phổi kèm theo.

Viêm amidan hốc mủ.

Ngoài thuốc kháng sinh, nên dùng thuốc an thần để giúp trẻ đỡ ho và ngủ được. Vì những cơn ho tới bất thường nên phải thay đổi cách ăn của trẻ. Lúc nào trẻ ngớt cơn ho thì tranh thủ cho ăn ngay, không kể giờ giấc. Ðối với trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, ho gà có thể biểu hiện bằng cơn ngừng thở, tím tái, nếu không xử trí kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Vì vậy, phải cho trẻ nằm bệnh viện để được săn sóc, theo dõi. Nếu trẻ đã đi nhà trẻ hay tới trường mà bị ho gà, cần phải để trẻ nghỉ ở nhà 1 tháng kể từ khi trẻ bị cơn ho đầu tiên. Việc cách ly trẻ bị bệnh với anh, chị em trong nhà cũng rất cần thiết.

Bệnh hen: Đây là một bệnh có liên quan tới các phế quản và biểu hiện từng cơn do các phế quản co thắt lại làm cho trẻ không thở ra được. Nguyên nhân có thể do dị ứng với bụi, phấn hoa, lông súc vật, một số vi sinh vật… Cơn hen cũng thường gặp trong dịp Tết vì thời tiết lạnh là yếu tố thuận lợi làm khởi phát cơn. Hen là một bệnh có tính chất gia đình: ông, bà, cha, mẹ, họ hàng có người hen thì các con cháu sau cũng dễ mắc bệnh. Cơn hen nặng hay nhẹ tùy ở từng trẻ.

Trong cơn hen nặng, trẻ thường phải ngồi, mặt tím tái, vã mồ hôi, hít thở khó khăn với những tiếng rít đặc trưng của bệnh. Các thuốc chữa hen (salbutamon,ventolin…) có tác dụng chủ yếu làm giãn phế quản để cho cơn hen dịu đi. Nếu cơn hen vẫn tiếp diễn thì cần phải cho trẻ vào bệnh viện. Hen là một bệnh phải chữa trị lâu dài. Các cơn hen không giống nhau, có thể một năm xảy ra đôi lần, nhưng cũng có thể xảy ra nhiều lần trong một tháng, ảnh hưởng tới việc học hành và cuộc sống của trẻ. Tâm lý bi quan của trẻ bị bệnh cũng như sự lo âu của các bậc cha mẹ có ảnh hưởng xấu tới tinh thần và làm bệnh nặng thêm. Việc động viên, khuyến khích, an ủi trẻ là rất cần thiết.

Viêm phế quản: Là bệnh hay gặp ở trẻ lớn trên 5 tuổi. Trẻ thường có các triệu chứng như sốt, ho nhưng không thở nhanh hoặc co rút lồng ngực nếu được chữa trị sớm bằng một thuốc kháng sinh. Thường thì bệnh khỏi trong vòng vài ngày nhưng cũng có khi kéo dài tới 1-2 tuần, nhất là với các cháu chưa biết cách khạc đờm.
Viêm phổi: Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi. Trẻ bị viêm phổi thường có các triệu chứng như: sốt cao, ho, thở nhanh, trường hợp nặng, cánh mũi trẻ phập phồng hoặc co rút lồng ngực. Cần phải đưa trẻ tới cơ sở y tế khám và chữa trị  kịp thời bằng thuốc kháng sinh, trẻ sẽ nhanh khỏi.

Biện pháp chung phòng bệnh hô hấp cho trẻ

Những ngày lạnh, không nên cho trẻ nhỏ đi chơi xa, đi tàu xe dài ngày. Các bậc cha mẹ cần nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm sóc trẻ chu đáo. Đảm bảo chế độ ăn uống vệ sinh, cho trẻ mặc đủ ấm. Khi trẻ mắc bệnh, phải điều trị kịp thời, dùng thuốc đủ liều lượng theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

Trong tủ thuốc gia đình nên có sẵn nhiệt kế, thuốc hạ sốt, dung dịch nhỏ mũi, mắt, gói oresol… để dùng khi cần thiết.Ngoài chăm sóc ăn uống và phòng chống lạnh, tránh gió lùa, có thể nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch sunfarin hoặc natriclorid 0,9%, không cho trẻ ốm đi nhà trẻ, mẫu giáo để tránh lây lan cho trẻ khác.

Theo SK&ĐS

Kiến thức viêm kết mạc dị ứng

Tháng 4, 5, 6 và 7 là những tháng đỉnh điểm hoành hành của căn bệnh viêm kết mạc dị ứng bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh. Tất cả bệnh nhân đều khiếp sợ kiểu thời tiết trước cơn mưa. Ở xứ nhiệt đới nóng ẩm như nước ta, tỷ lệ căn bệnh này rất cao. Thêm nữa có tới 90% bệnh nhân sẽ kèm thêm những bệnh lý dị ứng tại các cơ quan khác như viêm mũi – xoang dị ứng, hen suyễn, người bệnh thường có ngứa mắt, sổ mũi, hắt hơi, khó thở… Chỉ có 10% “may mắn” là bị dị ứng đơn thuần tại mắt.

kien_thuc_viem_ket_mac_di_ung

Viêm kết mạc dị ứng dễ nhầm với pemphigoide mắt.

Các hình thái lâm sàng của viêm kết mạc dị ứng bao gồm: viêm kết mạc theo mùa, viêm kết mạc mùa xuân, viêm kết mạc cơ địa, viêm kết mạc có nhú khổng lồ. Thể viêm kết mạc theo mùa hay gặp nhất và có xu hướng tiến triển thành viêm kết mạc quanh năm, mạn tính. Viêm kết mạc mùa xuân dai dẳng và khó điều trị nhất. Viêm kết mạc cơ địa đi kèm với viêm da cơ địa, còn viêm có nhú khổng lồ lại xảy ra ở những người mang kính tiếp xúc.

Điều đặc biệt là viêm kết mạc dị ứng hay đi kèm với khô mắt. Mối liên hệ bệnh lý giữa chúng khá phức tạp, đâu là nguyên nhân, đâu là hậu quả còn đang tranh cãi. Vì thế, biểu hiện chủ quan của viêm kết mạc dị ứng rất đa dạng: nhìn mờ nhất thời; cảm giác khô rát; khó mở mắt buổi sáng; thấy bất ổn khi đeo kính tiếp xúc; chảy nước mắt, ra gỉ nhiều; mắt bị ngứa, kích thích; cảm giác có sạn trong mắt; sợ sáng. 80% bệnh nhân than phiền là ngứa mắt không chịu nổi, bắt buộc phải day dụi hoặc gãi. Đây là điểm then chốt trong chẩn đoán.

Khi thăm khám, các bác sĩ mắt có thể phát hiện thấy các tổn thương từ nhẹ đến nặng tuỳ vào hình thái lâm sàng, có biến chứng hay chưa. Nhẹ thì phù kết mạc hay cương tụ kết mạc khu trú, chủ yếu là mi dưới, có thể có bọng kết mạc. Nặng hơn là phù toàn bộ diện kết mạc sụn, có nhú viêm. Giác mạc có thể viêm vùng rìa, có tân mạch, loét vô khuẩn hình khiên. Biến chứng gây giảm thị lực chỉ do sẹo hay loét giác mạc. Thế nhưng dùng thuốc không có kiểm soát  lại gây ra vô số nguy hiểm cho mắt, đôi khi là vô phương cứu chữa: glôcôm do corticoid, đục thể thuỷ tinh, nhiễm khuẩn cơ hội hay phối hợp.

Viêm kết mạc dị ứng dễ nhầm với bệnh gì?

Chẩn đoán thường chỉ dựa vào hỏi bệnh và lâm sàng, hầu như không cần xét nghiệm labo. Tuy nhiên cũng nên thận trọng để khỏi chẩn đoán nhầm với một số bệnh khác như viêm bờ mi cơ địa, viêm kết mạc do chlamydia hoặc virut, viêm củng mạc và thượng củng mạc, viêm giác mạc rìa do tụ cầu, pemphigoide mắt.

Điều trị viêm kết mạc dị ứng không chỉ dựa vào thuốc men mà phải là giải pháp tổng thể, kiên trì, đôi khi tốn kém nữa.

Giải pháp về môi trường:  Tránh tiếp xúc với dị nguyên; Tìm hiểu về địa lý học xem vùng bạn sinh sống có những dị nguyên gì, nên ở trong nhà nhiều hơn vào mùa có nhiều dị nguyên; Năng xem thời tiết: mùa nhiều gió khiến dị nguyên gây bệnh mạnh hơn, mùa mưa làm trôi đi phấn hoa, bụi bẩn có thể làm bệnh dịu đi, đừng nên dậy sớm quá vì phấn hoa có đậm độ rất cao vào đầu ngày; Năng đeo kính bảo vệ mắt, vệ sinh cá nhân tốt, đừng day dụi mắt, thận trọng khi dùng hoá chất, mỹ phẩm; Làm sạch không khí, không lạm dụng kính tiếp xúc.

Giải pháp thuốc men: Thuốc men giúp bạn sống thoải mái hơn với dị ứng chứ không giải quyết tận gốc vấn đề. Đa phần các bệnh nhân hài lòng với các thuốc kháng histamin và bền màng mastocyte. Kết hợp với nước mắt nhân tạo các loại, các sản phẩm bôi trơn bề mặt nhãn cầu luôn là sự lựa chọn đúng cho căn bệnh này, vừa điều trị dị ứng, vừa chống khô mắt. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng của chúng như: glôcôm, đục thể thuỷ tinh. Rất ít bệnh nhân phải dùng thuốc đường toàn thân trừ phi họ bị kèm theo viêm mũi xoang hay hen suyễn.

BS. Hoàng Cương(Bệnh viện Mắt Trung ương)
Theo SKDS