Tag Archives: nôn

Dinh dưỡng cho người dạ dày mãn tính

Viêm dạ dày mạn tính là bệnh phổ biến với triệu chứng lâm sàng đa dạng nhưng chủ yếu là khó chịu hoặc đau vùng thượng vị, đau âm ỉ, đau nhói hoặc cảm giác rát bỏng, kèm theo các triệu chứng ăn không ngon, ợ hơi, buồn nôn, nôn, mệt mỏi…

Để chữa trị hiệu quả phải kết hợp dùng thuốc và chế độ ăn uống phù hợp. Trước hết người bệnh cần tránh sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê đặc hoặc trà đặc. Ăn uống phải đúng giờ, ăn những thứ dễ tiêu hóa. Không nên ăn chua, ăn nguội, quá nóng, quá cay và đồ khô rắn, tránh để đói hoặc no quá. Khi ăn phải nhai chậm, nhai kỹ. Nên ăn nhiều bữa và số lượng thức ăn trong mỗi bữa có thể ít đi. Hạn chế ăn các thực phẩm ướp hoặc xào rán, ít ăn các thực phẩm mặn và các loại bánh quá ngọt.

dinh-duong-cho-nguoi-da-day-man-tinh

Món ăn, bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm dạ dày mạn tính

Bài 1:Tiểu hồi hương 6g, gừng tươi 6g, sắc lấy nước, cho thêm 100g gạo tẻ nấu thành cháo loãng. Dùng cho người bị viêm dạ dày mạn tính, yếu lạnh đau bụng.

Bài 2: Dạ dày lợn 1 bộ, rửa sạch, đậu tương 100g, thêm nước vừa đủ, đun nhừ chia bữa ăn. Dùng cho người viêm dạ dày mạn tính, sức khỏe kém.

Bài 3: Hoài sơn dược 100g, kê nội kim sống 100g, bán hạ ngâm dấm 60g, triết bối mẫu 40g, nghiền thành bột, mỗi lần 3g, uống với nước, ngày 3 lần.

Bài 4: Dạ dày dê một cái hầm với gừng tươi, riềng và nhục quế (lượng vừa đủ), chia ăn vài lần trong ngày.Dùng cho người bị viêm dạ dày mạn tính thể tỳ vị hư hàn.

Bài 5: Một ít hạt súng, hạt sen, hồng táo, hoài sơn dược, ý dĩ nhân, đẳng sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo nghiền thành bột, mỗi lần lấy 30g, cho vào nước để nóng hoặc cho vào cháo ăn.

Các món ăn, bài thuốc trên có thể ăn 3 – 5 lần, sau đó nghỉ 1 tuần lại dùng tiếp.

Nguồn giáo dục

Nhận biết bệnh viêm xoang ở con trẻ

Viêm xoang ở trẻ em (VXTE) là một bệnh khá thường gặp. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh này ở trẻ em khác với viêm xoang ở người lớn. Trong thực tế, bệnh thường rất dễ nhầm lẫn với bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên.

Hệ thống các xoang ở trẻ phát triển đầy đủ cho đến khi trẻ tròn 10 tuổi. Mặc dù xoang hàm và xoang sàng là nhỏ nhưng đã có ngay sau sinh, do đó viêm hai xoang này thường gặp nhất.

viem-xoang

Phân biệt trẻ bị viêm xoang và nhiễm khuẩn hô hấp trên
Trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên thường có các triệu chứng: sốt, ho, sổ mũi, quấy khóc. Các triệu chứng này thường giảm và tự khỏi sau 5 – 7 ngày. Bệnh thường do virút nên không cần sử dụng kháng sinh.

Nghĩ đến VXTE khi trẻ có các triệu chứng sau:
– “Cảm cúm” kéo dài 10 – 14 ngày có thể kèm sốt hoặc không.
– Sổ mũi đục, xanh hoặc vàng.
– Chảy mũi sau đôi khi dẫn đến đau họng, ho, khạc đờm, khò khè, khó thở, nôn, buồn nôn.
– Quấy khóc, mệt mỏi.
– Sưng quanh mắt.

Các triệu chứng này thường kéo dài 10 – 14 ngày hoặc hơn. Tuy nhiên, với các triệu chứng trên kéo dài dưới 10 ngày vẫn có thể là viêm xoang nếu các triệu chứng này là trầm trọng và sốt cao trên 4 ngày. Một số trường hợp bệnh kéo dài 10 – 14 ngày nhưng bắt đầu giảm dần, tuy hơi chậm, cũng không hẳn là viêm xoang, đôi khi cũng chỉ là nhiễm khuẩn hô hấp trên do virút.
Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, chẩn đoán VXTE chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng nêu trên, không nhất thiết phải chụp X-quang, đặc biệt ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Điều trị như thế nào?
– Viêm xoang cấp tính: hầu hết VXTE đều đáp ứng tốt với kháng sinh, các kháng sinh thường được sử dụng an toàn và hiệu quả cho trẻ là nhóm betalactam. Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, việc sử dụng kháng sinh kéo dài ít nhất 7 ngày sau khi các triệu chứng khỏi hoàn toàn.
Các thuốc chống sung huyết mũi dạng phun sương hoặc nước muối sinh lý cũng được sử dụng.
– Viêm xoang mạn tính: khi các triệu chứng của viêm xoang kéo dài trên 12 tuần, hoặc viêm xoang cấp tái phát trên 4 – 6 lần/năm thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để có chỉ định điều trị nội khoa hay phẫu thuật.

Khi nào thì cần phẫu thuật?
Phẫu thuật xoang ở trẻ em chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chỉ định khi trẻ bị viêm xoang nặng, hoặc thường hay tái phát, viêm xoang mạn tính không đáp ứng điều trị nội khoa.

Những tương tác nguy hiểm giữa rượu và thuốc

Rượu là một dung môi hữu cơ. Thuốc cũng phần lớn là các chất hữu cơ, rất dễ hòa tan vào nhau, tạo nên một hỗn dịch có thể là tương hợp hoặc tương kỵ trong cơ thể con người.

Theo các nhà tương tác học thì rượu có tương tác với hàng trăm thuốc và dẫn xuất của nó. Có rất nhiều tương kỵ gây nên nhiều triệu chứng, bệnh lý như ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp, tăng hoặc hạ huyết áp, giãn mạch, tim đập nhanh, tăng hoặc hạ thân nhiệt, buồn nôn, ban đỏ, trụy tim mạch, thiểu năng tế bào gan, độc với gan, hạ đường huyết, tăng acid uric máu, xơ hóa gan, kích ứng tiêu hóa gây xuất huyết…

Tùy thuộc vào lượng rượu uống có thể đưa đến những triệu chứng lâm sàng, bệnh lý nặng nề có thể gây tử vong.

nhung-tuong-tac-nguy-hiem-giua-ruou-va-thuoc

Dưới đây là một số tương kỵ thường gặp khi uống thuốc đồng thời uống rượu và ngược lại:

Hiệu ứng antabuse: Rượu tạo nên một tỷ lệ bất thường acetaldehyd tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo các dấu hiệu làm tăng như cơn vận mạch, giãn mạch nặng, nhịp tim nhanh, thân nhiệt tăng cao, buồn nôn, nôn, phát ban da, có thể gây hạ huyết áp, trụy tim mạch có thể đưa đến tử vong. Hiệu ứng này xảy ra với các thuốc sau đây:

Các thuốc chống nấm dẫn xuất imidzol, đặc biệt với các loại thuốc uống (ketoconazol, miconazol, tinidazol…).
Các thuốc biguanid và dẫn xuất trị tăng đường huyết như buformin, metformin.
Các cephalosporin có cấu trúc nhân tetrazol như cefamandol, latamoxef, cefoperazon, cefmenoxim…
Các sulfamid trị tăng đường huyết như glibenclamid, gliclazid, glipizid, gliquidon, tolbutamid…
Với các thuốc khác như isoniazid (trị lao), griseofulvin (thuốc trị nấm), nitrofural (kháng sinh tổng hợp nhóm nitrofuran), các phenicol (kháng sinh như chloramphenicol), procarbazin (tác nhân kìm tế bào tân sinh) cũng gây hiệu ứng antabuse.
Ức chế thần kinh trung ương, gây tăng an thần, ngủ sâu đến hôn mê với các thuốc sau đây:

Amantadin, thuốc trị virut cúm típ A2 và trị triệu chứng Parkinson; các chất chủ vận morphin; thuốc trầm cảm 3 vòng; thuốc chống động kinh không barbituric như natri valproat; các thuốc kháng histamin H1 làm dịu; barbituric (thuốc ngủ); các benzodiazepin gây an thần, giải lo âu gây ngủ, giãn cơ chống co giật; các carbamat; carbamazepin (thuốc trị động kinh); dantrolen (thuốc thư giãn cơ); dextropropoxyphen (thuốc giảm đau); fluoxetin (thuốc trị trầm cảm); fluvoxamin (thuốc trị trầm cảm không an thần); glutethimid (an thần, gây ngủ); interferon alfa (thuốc trị virut); mianserin (thuốc trị trầm cảm); medifoxamin (thuốc trị trầm cảm); methyldopa (trị tăng huyết áp); oxaflozan (thuốc trị trầm cảm); primidon (thuốc trị động kinh).

Có thể nói để dễ nhớ, tương kỵ giữa rượu (kể cả những chế phẩm có chứa rượu) và các thuốc gây nên ức chế thần kinh trung ương đến mức chống chỉ định tuyệt đối là các thuốc gây ngủ, an thần, thuốc trị động kinh, thuốc chống trầm cảm và thuốc kháng histamin H1 làm dịu.

Lại càng phải được chú ý với người đứng máy, người lái xe, người làm việc trên cao hoặc làm việc nơi nguy hiểm, người đang cần tập trung tinh thần, tư tưởng cho công việc.

Độc với gan: Gan là cơ quan có nhiều chức năng đối với quá trình chuyển hóa, tham gia vào nhiều cơ chế duy trì và điều hòa hoạt động của cơ thể để duy trì sự hằng định (tương đối) ở máu, nhất là vai trò thải độc của cơ thể.

Rượu, bản thân nó đã là kẻ thù của gan, nếu dùng cùng lúc với các dẫn xuất imidazol, đặc biệt với ketoconazol (thuốc chống nấm) nguy cơ độc với gan tăng rất cao, với các dẫn xuất biguanid (thuốc trị đái tháo đường) gây thiểu năng tế bào gan. Hầu hết các thuốc gây hiệu ứng antabuse trên đây đều cũng gây độc với gan. Ngoài ra còn methotrexat do cộng hợp tác dụng phụ rất độc với gan gây xơ hóa gan, với paracetamol dùng liều cao và dài ngày làm tăng chất chuyển hóa độc với gan.

Hạ đường huyết quá mức: Nhất là uống rượu lúc đói trong khi có dùng các biguanid (metformin, buformin…) các sulffamid hạ đường huyết (xem trên đây), đặc biệt insulin sẽ gây hạ đường huyết nặng nề biểu hiện toát mồ hôi, chóng mặt, đánh trống ngực, đói cồn cào, run rẩy, bồn chồn, tê tay chân, lưỡi, môi, choáng váng, nhức đầu, lơ mơ, mắt mờ. Có thể bị kích thích bất thường, nặng hơn có thể dẫn đến hôn mê, co giật và nguy cơ tử vong.

Hạ huyết áp: Rượu cùng với các thuốc chủ vận morphin không những gây ức chế thần kinh trung ương, tăng an thần, ức chế hô hấp mà còn gây hạ huyết áp. Các thuốc dẫn xuất nitrat như nitroglycelin và các thuốc trị tăng huyết áp gây giãn mạch, chống đau thắt ngực đều làm hạ huyết áp quá mức. Với guanethidin gây hạ huyết áp thế đứng, có thể ngã, với viloxazin, nicorandil không những gây hạ huyết áp mà còn có thể dẫn tới sốc rất nguy hiểm.

Độc tính với dạ dày: Bản thân rượu cũng đã độc với dạ dày. Thật sai lầm là một số người dùng aspirin để giải những cơn say. Xin lưu ý rằng các dẫn xuất của salicylat (như aspirin) trong môi trường rượu sẽ gây kích ứng tiêu hóa dẫn đến xuất huyết. Với colchicin, một thuốc đặc hiệu trị bệnh gút, cùng với rượu không những độc với dạ dày ruột mà còn làm giảm tác dụng điều trị kèm theo tăng acid uric máu.

Còn khá nhiều thuốc khác nữa nên tránh dùng đồng thời với rượu như thuốc chống đông máu kháng vitamin K (làm giảm tác dụng), với etretinat gây tăng lipid máu, với các thuốc ức chế monoamino oxydase không chọn lọc gây hiệp đồng ức chế thần kinh trung ương, với các thuốc mê bay hơi halogen gây đối kháng tác dụng gây ngủ…

Trên đây là nói tương kỵ giữa thuốc và rượu nhưng là rượu “sạch”. Nhưng nếu lại dùng phải rượu “bẩn”, rượu có nhiều tạp chất như ceton, aldehyd, chất bay hơi, đặc biệt là methanol và các chất khác lạ làm cho nó bốc thì sự nguy hại ấy sẽ tăng lên gấp bội.

Nguồn khoa học

Bệnh rối loạn tiêu hóa

Không phải là bệnh chết người, nhưng rối loạn tiêu hóa đem đến cho bạn nỗi khổ sở, khó chịu thường xuyên và dai dẳng.

Đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện do sự co thắt không đều của các cơ vòng trong ống tiêu hóa chính là tình trạng rối loạn tiêu hóa. Nguyên nhân của rối loạn tiêu hóa được cho là sự bài tiết setoronin, hay việc sinh ra nhiều khí methan trong ruột và liên quan mật thiết đến chế độ ăn uống.

Giảm chất lượng cuộc sống

Hai triệu chứng đặc trưng nhất của rối loạn tiêu hóa là đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện. Cơn đau bụng có thể âm ỉ hoặc dữ dội, đau thành từng cơn, có thể đau ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi cơn đau từ bụng lan ra sau lưng.

roi-loan-tieu-hoa
“Lịch” đại tiện “quy củ’ trước đây hoàn toàn đảo lộn, mất hẳn tính đều đặn, khi thì tiêu chảy, lúc lại táo bón (tùy từng người mà tình trạng táo bón hay tiêu chảy nổi bật hơn).

Phần lớn bệnh nhân thường xuyên bị chướng căng bụng, hay ợ hơi và trung tiện. Ngoài ra, buồn nôn, nôn, hôi miệng, đắng miệng, ợ chua cũng có thể xảy ra.

Với người cao tuổi, rối loạn tiêu hóa là tình trạng phổ biến do sự xuống cấp của cơ quan này theo thời gian. Nước bọt, dịch dạ dày, ruột và dịch mật đều giảm mạnh. Hệ thống men tiêu hóa cũng chỉ còn một lượng nhỏ so với trước.

Rất nhiều bệnh của hệ tiêu hóa có từ trước như viêm loét dạ dày, tá tràng… không được điều trị dứt điểm, làm giảm hiệu quả việc “xử lý” thức ăn. Tất cả những yếu tố này khiến nhiều người cao tuổi dễ bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên.

Rối loạn tiêu hóa không gây nguy hiểm tính mạng nhưng thực sự làm bệnh nhân thấy mệt mỏi, kém thoải mái, thường xuyên trong tình trạng khó chịu. Vì thế, bệnh nhân nên đến bác sĩ để khám và điều trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Mặt khác, theo các chuyên gia, nhiều triệu chứng rối loạn tiêu hóa trùng với một số bệnh nguy hiểm như ung thư đường ruột, loét đường tiêu hóa, viêm đại tràng, viêm tụy mạn… Do đó, việc đi khám, làm các xét nghiệm là cực kỳ cần thiết.

“Giảm tải” cho đường ruột

Để giúp hệ tiêu hóa hồi phục và cân bằng trở lại, điều quan trọng nhất là thay đổi chế độ ăn. Ngoài việc đảm bảo tối đa vệ sinh thực phẩm để tránh “nhập khẩu” các vi sinh vật gây hại, bạn cần lưu ý tránh những thực phẩm tuy tốt với người bình thường nhưng lại tai hại với những người rối loạn tiêu hóa.

Đó là những thực phẩm gây đầy hơi như tỏi, hành, đậu, bắp cải, húng quế, cần tây, chuối, mận, nho khô… Sữa cũng là thứ bạn không nên dùng nhiều vì đường lactose là thứ “khó nhằn” đối với bộ máy tiêu hóa kém khỏe mạnh. Các món ăn có nhiều mỡ cũng vậy, quá “nặng” với đường ruột đang có vấn đề của bạn.

Bạn cũng cần hạn chế cà phê, kẹo cao su, các loại nước ngọt có gas, các loại hoa quả hay bánh kẹo nhiều đường fructose, thực phẩm chế biến sẵn… Đồ ăn chua và cay cũng không phù hợp với bạn.

Còn thuốc lá và đồ uống có cồn thì dĩ nhiên là bạn nên tránh xa vì chúng làm giảm khả năng làm việc của đường tiêu hóa.

Hãy kiềm chế trước các bữa tiệc thịnh soạn bởi những người bị rối loạn tiêu hóa không bao giờ nên ăn quá no, càng không nên nạp quá nhiều thức ăn giàu đạm và chất béo cùng lúc. Hãy ăn vừa đủ, ăn chậm và nhai kỹ.

Tốt nhất là hãy đảm bảo ăn uống đúng giờ giấc, thức ăn cần nóng sốt. Nên ăn nhiều rau, uống nhiều nước, nhất là khi triệu chứng táo bón nổi trội ở bạn.

Ngoài chuyện ăn uống thì việc vận động thể chất cực kỳ có lợi cho người bị rối loạn tiêu hóa. Đừng tưởng tập thể dục chỉ tốt cho cơ bắp hay tim mạch, mà nó còn giúp cân bằng hoạt động bài tiết các men tiêu hóa cũng như cân bằng nhu động ruột.

Vận động còn giúp bạn giải tỏa sự căng thẳng tinh thần, vốn khiến cho tình trạng rối loạn tiêu hóa trở nên trầm trọng hơn.

Dùng thuốc cũng là một trong các giải pháp khắc phục rối loạn tiêu hóa, nhưng tuyệt đối bạn đừng tự ý uống hay chỉ “tham vấn” người bán thuốc, vì dùng thuốc gì và như thế nào còn tùy thuộc vào tình trạng, đặc điểm của từng bệnh nhân, vốn rất đa dạng.

Mặt khác, trong việc điều trị rối loạn tiêu hóa, thuốc chỉ đóng vai trò nhỏ, càng ít phải dùng càng hay.

Nguồn sức khỏe đời sống

Ngộ độc thịt cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Hiện nay Tây Y không còn dùng cóc và nhựa cóc để chữa bệnh vì độc tính của nhựa cóc rất cao. Tuy nhiên, Đông Y lại dùng cóc trong chữa một số bệnh hiểm nghèo: nhựa cóc là 1 trong 6 vị của đơn thuốc “Lục thần hoàn”. Trong nhân dân dùng nhựa cóc chữa giảm đau, tán thuỷ, dùng chữa phát bối, đinh độc, yết hầu sưng đau, đau răng. Thịt cóc khô dùng với liều 2 – 3g tán bột uống hoặc làm thành thuốc viên, chữa gầy còm, chậm lớn, kém ăn, suy dinh dưỡng,…

Giá trị dinh dưỡng của thịt cóc

Thịt cóc rất giầu dinh dưỡng, cao hơn thịt bò, thịt lợn (53,37% protit, 12,66% lipit, rất ít gluxit), đặc biệt có nhiều a xít amin cần thiết (Asparagine, Histidine, Tyrosine, Methionine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Tryptophan, Cystein, Threonine..) và nhiều chất vi lượng (Mangan, Kẽm…)

Thịt cóc được dùng làm thực phẩm bổ dưỡng cho người già; hỗ trợ, tăng cường dinh dưỡng sau ốm dậy; hỗ trợ điều trị trẻ em suy dinh dưỡng, chán ăn, chậm lớn, còi xương, cam tích, lở ngứa… dưới dạng ruốc, bột hoặc thịt tươi dùng để nấu cháo, làm chả cóc…

Trong cơ cóc  hay còn gọi là thịt cóc không có chất độc.

ngo-doc-thit-coc

Độc tố trong thịt cóc

Độc tố chỉ có một số bộ phận cơ thể như nhựa cóc (ở tuyến sau tai, tuyến trên mắt và các tuyến trên da cóc), trong gan và buồng trứng.

Độc tố của cóc là hợp chất Bufotoxin gồm nhiều chất như 5-MeO-DMT, Bufagin, Bufotaline, Bufogenine, Bufothionine, Epinephrine, Norepinephrine, Serotonin…

Tác động sinh học của độc tố tùy theo cấu trúc hoá học: Bufagin tác động đến tim mạch như nhóm Glycoside tim mạch; Bufotenine gây ảo giác; Serotonin gây hạ huyết áp… Thành phần độc tố thay đổi tuỳ theo loài cóc. Độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa gây ra ngộ độc cấp tính. Độc tố hấp thu qua da bình thường, nhưng gây ra dị ứng, bỏng rát ở mắt, niêm mạc người.

Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Triệu chứng ngộ độc

– Thời gian nung bệnh từ 1-2 giờ sau khi ăn cóc.

– Hội chứng tiêu hoá: Buồn nôn, nôn, mửa, đau và chướng bụng.

– Hội chứng tim mạch: Lúc đầu bệnh nhân cảm thấy hồi hộp, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, sau đó rối loạn nhịp: Ngoại tâm thu, cơn nhịp nhanh thất, rung thất đôi khi có bloc nhĩ thất, nhịp nút, dẫn đến truỵ mạch. Với người bị nặng: sự dẫn truyền ở tâm thất bị ngưng trệ, rung tâm thất, huyết áp tụt, chân tay lạnh.

– Hội chứng rối loạn thần kinh-tâm thần: chất Bufotenin trong nhựa cóc có thể gây ảo giác, ảo tưởng, rối loạn nhân cách, chảy rãi, thèm ngủ, mồm miệng và tứ chi tê dại, đổ mồ hôi. Năng hơn nữa có thể gây ức chế trung khu hô hấp dẫn tới ngừng thở và tử vong.

Ngoài ra, còn gây tổn thương thận, vô niệu, viêm ống thận và gây tróc da, viêm da.

Chất độc ở cóc chỉ có ở nhựa cóc và nội tạng (gan, trứng).

Xử lý ngộ độc thịt cóc

Chủ yếu là điều trị triệu chứng, nếu phát hiện sớm thì gây nôn và chuyển nhanh đến bệnh viện.

– Thải trừ chất độc: Rửa dạ dày bằng dung dịch thuốc tím 1/5.000, uống tanin 4g, lợi tiểu bằng Furosemid.

– Chống loạn nhịp tim: Nhịp nhanh dùng Propranolon, nhịp chậm dùng isoproterenon. Tốt nhất là đặt máy tạo nhịp tim có xông điện cực buồng tim.

–  Chống tăng huyết áp: Cho ngậm Adalat.

– Chống rối loạn thần kinh và tâm thần: Dùng Diazepam, Phenobacbital.

– Chống rối loạn hô hấp: Thở máy, thở oxy.

– Chống suy thận cấp: Lọc ngoài thận (thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng).

Đề phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do cóc: Tốt nhất và an toàn nhất là không ăn cóc và sản phẩm tự chế biến từ cóc. Nhưng nếu vẫn muốn sử dụng cóc làm thực phẩm thì tuyệt đối không ăn trứng và gan cóc. Trong quá trình chế biến, tuyệt đối không để  da cóc, nội tạng cóc, nhựa cóc lẫn vào cơ cóc hay thịt cóc. Đặc biệt cho đến nay, khoa học chưa chứng minh được nuốt cóc sống có thể điều trị được bệnh ung thư.

Nguy cơ ngộ độc khi dùng thuốc bổ thông thường

Nguy cơ xuất hiện phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction – ADR) là hậu quả không thể tránh khỏi khi dùng thuốc, có rất nhiều nguyên nhân làm xuất hiện ADR, trong đó có một nguyên nhân cần phải nhắc tới đó là tương tác giữa các thuốc với nhau. Đặc biệt là loại thuốc bổ sung hàng ngày lại đang ít được quan tâm.

Vitamin A

Vitamin A là dạng vitamin tan trong dầu, có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể giúp tế bào thực hiện hoạt động sao chép bình thường, cần thiết cho sức khỏe thị giác, giúp các tế bào trong một loạt cấu trúc của mắt luôn khỏe mạnh. Ngoài ra, nó còn rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển bình thường của phôi thai và thai nhi, cần thiết cho chức năng sinh sản.

nguy-co-ngo-doc-khi-dung-thuoc-bo-thong-thuong
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nếu như sử dụng không đúng cách, chúng ta sẽ gặp phải những tác dụng bất lợi của vitamin A mà điển hình là tình trạng viêm gan cấp hoặc mạn do dùng liều cao kéo dài, đặc biệt với trẻ em. Ở trẻ em, có hai lý do dễ dẫn tới ngộ độc vitamin A, đó là trẻ đang uống sữa công thức (bởi vì bản thân trong sữa công thức mà bé đang dùng đã có một lượng vitamin A phù hợp) và trẻ được bà mẹ cho uống các loại vitamin bổ sung khác mà không biết trong thuốc bổ sung này cũng có lượng vitamin A. Tất cả tình huống này nếu tiếp tục bổ sung mà không có ý kiến của bác sĩ sẽ dẫn tới tình trạng tích tụ vitamin A trong gan.

Cần lưu ý một số tương tác thuốc có thể xảy ra như dùng vitamin A với các thuốc hạ huyết áp có thể làm tăng tác dụng của các thuốc này và dẫn tới hạ huyết áp quá mức; dùng vitamin A cùng thuốc tránh thai sẽ làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai; dùng vitamin A với thuốc chống đông sẽ làm tăng nguy cơ chảy máu.

Vitamin D

Vitamin D là một vitamin có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ thể người. Tuy vậy, uống nhiều vitamin D quá không tốt cho cơ thể, thậm chí là gây nguy hại. Dùng vitamin D liều cao dài ngày gây tích lũy thuốc, làm tăng calci trong máu, gây mệt mỏi, chán ăn, nôn, tiêu chảy, đau nhức xương khớp. Ngoài ra còn có thể gây tổn thương thận, tăng huyết áp.

Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ rất nhạy cảm với sự thừa vitamin D. Trẻ em dưới 1 tuổi cho ăn các hỗn hợp thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D ở liều không thích hợp với lứa tuổi có thể bị thừa vitamin này. Việc bổ sung thường xuyên vitamin D với liều > 400 IU/ngày cho trẻ dưới 1 tuổi khỏe mạnh làm tăng canxi trong máu, thậm chí còn có thể gây suy thận và tử vong. Trẻ nhỏ bị ngộ độc vitamin D sẽ biếng ăn, buồn nôn và ói mửa. Trẻ luôn khát nước và tiểu nhiều. Ngộ độc vitamin D ở trẻ thường do cha mẹ tùy tiện cho uống dài ngày các loại thuốc bổ sung vitamin và chất khoáng, trong đó có chứa vitamin D liều cao hoặc cho trẻ uống cùng lúc các loại thuốc có chứa vitamin D.

Ngoài ra cần lưu ý, vitamin D có thể làm giảm hiệu quả của thuốc làm hạ cholesterol khi cùng sử dụng. Dùng vitamin D liều cao cùng với một loại thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến tăng đào thải calci qua nước tiểu dẫn tới sỏi thận.

Calci

Calci là chất cần thiết cho sự phát triển của bộ xương. Tuy nhiên, khi bổ sung calci cần lưu ý: để calci hấp thụ tốt cần phải có vitamin D, vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… tắm nắng là nguồn cung cấp vitamin D quan trọng cho cơ thể.

Bên cạnh các ưu điểm, khi bổ sung calci cần hết sức lưu ý, chia nhỏ liều và uống với nhiều nước; nếu sử dụng cùng các thực phẩm bổ sung khác cũng có calci sẽ dễ dẫn tới nguy cơ gây táo bón hoặc dễ kết tủa gây sỏi thận. Đặc biệt với những người đang bổ sung calci mà có chế độ ăn nhiều đạm sẽ làm gia tăng lượng bài tiết calci qua nước tiểu và do đó dẫn tới sỏi thận. Ngoài ra, nếu uống calci mà có sử dụng cafein và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải calci qua đường nước tiểu.

Lưu ý: Calci có thể làm giảm sự hấp thu của cơ thể đối với nhiều loại thuốc, bao gồm cả thuốc theo toa loãng xương được gọi là bisphosphonates, thuốc kháng sinh tetracycline fluoroquinolone và levothyroxine.

Nếu không cẩn thận khi dùng calci chung với các loại thuốc khác, bạn có thể bị sỏi do các thuốc tác dụng với nhau gây kết tủa.

Chính vì sự “lợi bất cập hại” như trên, nên khi sử dụng thuốc để điều trị, phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của thuốc để lựa chọn thuốc phù hợp với đặc điểm bệnh nhân và tình trạng bệnh tật. Nếu hiểu biết đầy đủ về thuốc sử dụng, đặc điểm người bệnh và các yếu tố ảnh hưởng làm tăng nguy cơ ADR thì có thể hạn chế được ADR. Tuyệt đối không nên tự ý dùng thuốc, chỉ dùng thuốc khi có ý kiến của bác sĩ.

(theo SK&ĐS)

Biến chứng và cách điều trị ruột thừa

Nhiều trẻ em gặp phải bệnh viêm ruột thừa vì vậy cần coi chừng biến chứng của nó.

Viêm ruột thừa là một bệnh khá phổ biến, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3 – 4 tuổi. Có những trường hợp viêm ruột thừa chưa biến chứng, việc xử trí đơn giản, nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, áp-xe ruột thừa, mủ tràn khắp ổ bụng, sau khi mổ, hậu phẫu vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

Viêm ruột thừa là gì?

Ruột thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già), dài khoảng 5 – 6cm. Ruột thừa nằm ở phần dưới phải của ổ bụng, có thể thay đổi vị trí. Theo các chuyên gia tiêu hóa, ruột thừa không có chức năng gì nên việc cắt bỏ nó không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của cơ thể.

bien-chung-va-cach-dieu-tri-ruot-thua

Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, các vi khuẩn bình thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là “sỏi phân” (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa gây viêm.

Những triệu chứng của viêm ruột thừa đôi khi rất mơ hồ, nhất là ở trẻ em và người già nên một số người chủ quan đã tự mua thuốc về cho bệnh nhân uống vì tưởng bị rối loạn tiêu hóa… Điều này càng làm lu mờ các triệu chứng của bệnh, gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán. Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì viêm ruột thừa nếu xử lý chậm sẽ bị vỡ, gây viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử trí bệnh kịp thời là điều vô cùng quan trọng để giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa có thể xảy ra.

Triệu chứng phát hiện bệnh

Các triệu chứng ban đầu của viêm ruột thừa rất dễ nhầm với nhiễm virut đường ruột. Các triệu chứng bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn. Khi nhiễm khuẩn nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần phải của bụng dưới. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và chán ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run kèm theo căng cứng cơ bụng.

Mức độ đau tăng lên khi người bệnh di chuyển, ho, ngáy, hắt hơi và thở sâu. Nếu bụng mềm, phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) bị đau khi ấn vào, thân nhiệt không cao thì chứng viêm còn nhẹ. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử, hoặc đã thủng thì bệnh nhân đau bụng dữ dội, phạm vi bị đau cũng mở rộng kèm theo sốt cao. Khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng hoặc sờ thấy có cục cứng phía bên phải bụng dưới.

Những triệu chứng này tiến triển từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không có đủ các triệu chứng trên. Vì thế việc chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường gặp khó khăn. Đặc biệt là ở trẻ em và người cao tuổi.

Cần phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh cảnh khác có thể giống như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường tiểu, u nang buồng trứng và nhiễm khuẩn khung chậu… Nếu viêm ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp-xe ruột thừa và tắc ruột.

Làm thế nào để phát hiện?

Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, đây là phương tiện phát hiện cận lâm sàng tốt, không gây hại. Siêu âm có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, thấy được dịch trong ổ bụng… giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là đau bụng.

Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là một công cụ hỗ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa.

Chẩn đoán viêm ruột thừa chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ. Ở những nơi có trang bị CTscan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa dùng. Phim chụp cắt lớp CTscan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%.

Điều trị thế nào?

Nếu viêm ruột thừa, tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất tùy vào từng đối tượng bệnh nhân.

Nếu ruột thừa viêm không bị vỡ tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được xuất viện trong vòng 1 – 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 – 7 ngày, tùy vào mức độ trầm trọng của bệnh. Kháng sinh đường tĩnh mạch được chỉ định trong khi nằm viện để giúp tránh  nhiễm khuẩn thêm và tạo áp-xe.

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có thể biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp (mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ chưa vỡ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì nguy cơ biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Nguyễn Bá Khang
Theo Bs Sức khỏe đời sống

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ung-thu-thuc-quan

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.

Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Nguồn sức khỏe đời sống

Sai lầm trong ăn uống hàng ngày

Cuộc sống hiện đại, con người ngày càng đặc biệt chú ý chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho cơ thể. Tuy nhiên, không ít người có quan điểm sai lầm trong chế độ ăn uống hàng ngày.

Điều này gây ảnh hưởng và đe dọa sức khỏe của cơ thể. Dưới đây là một số lỗi thường gặp trong chế độ ăn uống hàng ngày:

Ăn 2 bữa một ngày có thể giúp giảm cân

Để có một ngoại eo thon , một số phụ nữ chỉ ăn hai bữa một ngày và nghĩ rằng nó có thể giúp họ giảm cân. Thực tế, ngược lại nếu chỉ ăn 2 bữa một ngày thì cơ thể dễ dàng tích tụ mỡ. Các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, các đô vật sumo Nhật Bản chỉ ăn hai bữa một ngày. Bạn có muốn trở sumo như họ?

Sữa sẽ làm tăng cholesterol

Theo nghiên cứu, việc tiêu thụ sữa của người dân Trung Quốc là ít hơn 1/ 3 của các nước phát triển. Nhiều người không uống sữa vì họ nghĩ rằng sữa sẽ làm tăng cholesterol. Trong thực tế, điều này hoàn toàn không đúng. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng lượng cholesterol trong sữa không phải là cao. Thay vào đó, sữa có chứa một số yếu tố mà có thể ức chế cholesterol. Nghiên cứu y học cũng đã xác nhận rằng uống sữa có thể giúp giảm bệnh tim mạch và cao huyết áp.

nhung-loi-khong-ngo-trong-che-do-an-uong-hang-ngay

Thích ăn thực phẩm muối

Các loại thực phẩm muối là món ăn ưa thích của nhiều người bởi vì thực phẩm ướp muối ngon và có thể giúp cải thiện sự thèm ăn, rất nhiều người thích ăn. Tuy nhiên, các loại thực phẩm muối có chứa rất nhiều chất nitrosamine và polycyclic aromatic hydrocarbons và là chất gây ung thư. Vì vậy, tốt hơn là ăn các loại thực phẩm ít muối .

Sữa đậu nành không nên được đun sôi

Chúng ta nên ăn một số sản phẩm đậu nành mỗi ngày, điều này rất có lợi cho sức khỏe của cơ thể. Nhưng sữa đậu nành phải được đun sôi trước khi uống. Nếu sữa đậu nành chưa được nấu chín hoàn toàn hoặc đun sôi, các chất ức chế trypsin chứa trong nó không thể bị phá hủy, sẽ không chỉ làm cho sữa đậu nành khó tiêu hóa, cũng có thể gây ra buồn nôn, nôn và tiêu chảy.

Ăn trái cây có thể làm sạch miệng

Một số người thích và có thói quen ăn một số loại trái cây sau bữa ăn với mục đích làm sạch miệng. Trong thực tế, các loại trái cây có chứa nhiều đường . Những đường và trái cây dư lượng sẽ lên men và acidize trong miệng, sau đó ăn mòn răng, dẫn đến sự hình thành sâu răng. Do vậy, sau khi ăn trái cây, bạn vẫn nên đánh răng hoặc súc miệng.

Không ăn mỡ không tốt cho sức khỏe

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mỡ động vật vẫn có những tác dụng nhất định với cơ thể nên chúng ta vẫn cần dùng đến trong thực đơn hàng ngày. Mỡ động vật cung cấp lipit để cấu tạo nên các bộ phận trong cơ thể, cung cấp cholesterol cho cơ thể mặc dù số lượng không nhiều. Chúng ta thường nghĩ cholesterol là kẻ thù của sức khoẻ, nhưng điều này chỉ đúng khi nó có quá nhiều trong cơ thể.

Do vậy, nếu ở những gia đình mọi người đều có sức khoẻ bình thường thì khi nấu ăn tốt nhất nên dùng cả dầu thực vật và mỡ động vật để chế biến thức ăn. Với người bị xơ vữa động mạch đã có biểu hiện ra thành bệnh tim mạch thì phải ăn hoàn toàn dầu thực vật. Đối với trẻ em đang độ phát triển thì cần dùng chủ yếu là mỡ động vật.

Để đảm bảo sức khỏe của bản thân và gia đình bạn nên chú ý các lỗi trên và thận trọng hơn trong chế độ ăn uống hàng ngày.

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần cuối

Chấn thương do tai nạn giao thông: trong những ngày Tết trẻ thường được bố mẹ chở đi chúc Tết hoặc đi chơi, do mật độ giao thông dày đặc là một trong những nguyên nhân gây tai nạn. Nhiều bố mẹ chở con không chú ý để trẻ ngủ gật hay gặp phương tiện lưu thông ẩu va chạm sẽ làm các bé ngã và bị chấn thương.

Khi đó cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay khi xảy ra sự cố để trẻ được chăm sóc tốt nhất. Phòng ngừa: khi chở con đi du xuân, bố mẹ cần tuân thủ tốt luật giao thông, cho trẻ ngồi trên ghế riêng, có dây an toàn buộc ngang người đề phòng bé ngủ gật.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_cuoi

Bị bỏng do điện, nước sôi: những ánh đèn nhấp nháy để trang trí trên các cây mai, đào rất dễ lôi kéo trẻ khám phá; nếu những dây điện này bị hở thì đó là một nguy cơ cao cho sự an toàn của trẻ. Bình thủy đựng nước sôi, ấm trà nóng pha sẵn đặt trên bàn chờ đón khách cũng là những nguyên nhân gây bỏng cho nhiều trẻ trong mùa Tết. Triệu chứng và hướng xử trí: nếu trẻ bị bỏng điện thì ngắt ngay nguồn điện, sau đó đưa trẻ đến bệnh viện. Nếu bị bỏng nước sôi thì cần sơ cứu ngay tại chỗ bằng cách làm giảm nhiệt độ chỗ bé bị bỏng (rửa vùng bị bỏng dưới vòi nước) rồi dùng khăn hay vải sạch để băng vùng da này lại, sau đó đưa bé đến bậnh viện để được điều trị. Phòng ngừa: luôn để mắt đến trẻ, không cho trẻ chạm vào dây điện, không để bình trà, bình thủy ở tầm mắt, tầm với của trẻ mà nên để ở nơi an toàn.

Hạ đường huyết: ngày Tết là những ngày mà các bậc phụ huynh thường cho trẻ vui chơi thoải mái với suy nghĩ “học cả năm chơi có mấy ngày không sao”. Vì vậy, có không ít trẻ mê chơi điện tử quên cả ngủ và bỏ cả bữa ăn. Một số trẻ đã ngồi chơi nhiều giờ liền mà không ăn uống gì nên dễ bị hạ đường huyết. Ngoài ra, có một số trẻ bị “bỏ đói” do bố thì nghĩ mẹ đã cho ăn còn mẹ lại nghĩ bố đã cho ăn. Việc bị “bỏ đói” cũng có thể khiến bé bị hạ đường huyết. Triệu chứng và hướng xử trí: trẻ bị hạ đường huyết thường có biểu hiện chóng mặt, vã mồ hồi, tay chây lạnh ngắt, hoặc thậm chí ngất xỉu. Cần nới lỏng quần áo, cho trẻ nằm đầu bằng (không gối), uống ngay một ly nước ấm pha đường, khi trẻ đã tỉnh thì cho trẻ ăn một chén cháo hay súp nóng. Phòng ngừa: nên duy trì lịch ăn uống hàng ngày cho trẻ một cách nghiêm túc. Có thể cho trẻ vui chơi nhiều hơn thường ngày một chút nhưng phải đảm bảo trẻ ngủ đủ giấc, nhất là giấc ngủ đêm.

Ngoài những bệnh và tai nạn nêu trên, ở trẻ em còn có thể gặp một số bệnh trong những ngày lạnh cuối năm như quai bị, thủy đậu, viêm màng não. Bệnh quai bị, thủy đậu ít khi gây ra các biến chứng nguy hiểm nhưng rất dễ lây lan cho những người trong gia đình và ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe và học hành của các cháu. Hiện tại đã có vắc xin phòng ngừa hai bệnh này.

Trẻ trẻ bị viêm màng não thường có các triệu chứng sốt, ói, bỏ bú, kích thích, quấy khóc, bức rức, hay nhức đầu (nếu trẻ lớn có thể nói được). Các phụ huynh cần nghi ngờ trẻ có thể bị viêm màng não khi thấy trẻ có sốt kèm bỏ bú, nôn ói liên tục, co giật, li bì, cổ cứng hoặc thóp phồng. Khi nghi ngờ cần cho trẻ đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần 2

Do tiết trời ẩm và không khí lạnh, trẻ em dễ bị cảm lạnh hoặc cúm, hoặc nặng sẽ dẫn đến viêm phổi, viêm phế quản, lên cơn hen suyễn… Ngày Tết, thời tiết ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta thường lạnh, thậm chí có nơi còn có mưa phùn. Các hoạt động du xuân và chúc Tết họ hàng sẽ khiến các bé phải đi lại và di chuyển thường xuyên ngoài đường do đó cơ thể sẽ rất dễ bị nhiễm sương, không tốt cho sức khỏe của trẻ em. Bên cạnh đó, mọi ăn uống sinh hoạt của trẻ còn bị thay đổi cho phù hợp với các hoạt động của gia đình. Do đó, có không ít trẻ nhập viện vì nhiễm lạnh dẫn đến viêm đường hô hấp cấp. Triệu chứng hay gặp nhất là bé hắt hơi, sổ mũi, họng bị viêm tấy đỏ… Thông thường, bệnh sẽ tự khỏi sau vài ngày ngày nếu bớt tiếp xúc với không khí lạnh. Tuy nhiên, nếu bệnh kéo dài thì cũng có nguy cơ bị bội nhiễm với vi trùng dẫn đến viêm họng, viêm phổi, viêm phế quản hay viêm xoang cần phải được các Bác sĩ điều trị bằng kháng sinh. Khi bị cảm lạnh nên giữ ấm cho trẻ, bổ sung thêm vitamin C, hạn chế đưa trẻ đến nơi đông người hoặc khu vực ô nhiễm, khói bụi, và cho trẻ đi khám ngay nếu có dấu hiệu sốt cao, khó thở, ho nhiều, khò khè. Phòng ngừa: cần chú ý giữ ấm cho trẻ khi có việc phải đi ra ngoài. Không cho trẻ ra khỏi nhà khi nhiệt độ dưới 10 độ C. Cần giữ ấm thân thể cho trẻ, nên che khẩu trang và choàng khăn cho trẻ khi đi ra ngoài, nhất là phần cổ, ngực, chân tay, không dùng chung khăn mặt với người khác, che miệng khi ho và hắt hơi.. Không cho trẻ ra đường khi quá sớm và về nhà quá trễ vì dễ bị nhiễm lạnh do sương.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_2

Với những trẻ có cơ địa hen suyễn, thời tiết lạnh giá mùa Tết là điều kiện thuận lợi cho bệnh hen suyễn “hoành hành”. Để phòng ngừa căn bệnh này cho trẻ, hãy tuân thủ theo các nguyên tắc dưới đây: tránh xa khói thuốc lá, hạn chế cho trẻ đi ra ngoài khi thời tiết trở lạnh, sương, gió hay mưa, không nên ngủ chung với chó hoặc mèo, tránh cho trẻ ăn những loại thực phẩm dễ gây dị ứng như đậu phộng, hải sản, dâu tây, trứng, dùng kháng sinh không đúng cách và không phù hợp sẽ khiến cho tình trạng của bệnh sẽ ngày càng trở nên xấu hơn, tránh xa những loại thức ăn có chứa phẩm màu.

Dị vật đường hô hấp: các loại thức ăn bày biện nhiều màu sắc như mức tết, hạt dưa hấu, hạt bí, hạt đậu phộng…rất hấp dẫn trẻ, có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng tắt nghẽn đường hô hấp khi vô tình rơi vào đường hô hấp của trẻ. Dị vật đường hô hấp thường gặp ở trẻ lứa tuổi ăn dặm đến khoảng 3 tuổi, ở lứa tuổi này trẻ thường hay tò mò. Thấy người lớn cắn hạt dưa, hạt bí, hạt dẻ, hướng dương, đậu phộng… trẻ cũng tò mò bắt chước theo, thích nhét các loại đồ vật lạ vào miệng hoặc mũi. Ngoài ra, đồng tiền xu, đồ chơi có kích thước nhỏ cũng là một trong những thứ có thể khiến bé bị hóc dị vật. Do phản xạ đóng, mở thanh quản để bảo vệ đường thở chưa hoàn thiện nên trẻ rất dễ bị dị vật xâm nhập vào đường thở, gây khó thở đôi khi dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng là tử vong. Triệu chứng và hướng xử trí: dị vật đường thở cần được cấp cứu ngay vì có thể dẫn đến tử vong do ngạt hoặc viêm phổi kéo dài nếu dị vật bị bỏ sót. Thông thường, trẻ sẽ bị ho sặc sụa một cách đột ngột, khó thở, mặt tím tái, trợn mắt sau đó ngưng thở do tắc nghẽn đường thở cấp. Nếu dị vật gây tắc nghẽn đường thở hoàn toàn, tiếng thở của trẻ thường hay rít có kèm những cơn ho rũ rượi, mặt đỏ bừng. Vì vậy, cần đưa trẻ đến ngay bệnh viện để khám và gắp dị vật ra. Nếu thấy trẻ khó thở nặng, tím tái, hãy áp dụng phương pháp vỗ lưng ấn ngực để giúp trẻ không bị ngạt thở, sau đó  cho trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời. Phụ huynh nên chú ý hơn đến sinh hoạt, vui chơi của trẻ trong những ngày Tết là cách phòng ngừa dị vật đường hô hấp cho trẻ thiết thực nhất. Phòng ngừa: không cho trẻ ăn các loại hạt trên và trái cây khi chưa lấy hạt. Để những hạt này cách xa tầm nhìn, tầm với của trẻ. Nên có một dụng cụ đựng vỏ các loại hạt, tránh vứt lung tung trên sàn nhà vì trẻ cũng có thể nhặt lên bỏ vào miệng. Nếu thấy trẻ cho những thứ trên vào miệng thì nên nhẹ nhàng lấy lại, không la hét khiến trẻ hoảng sợ có thể nuốt vào gây tắc đường thở (Còn tiếp).

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần 1

Ăn ngon, mặc đẹp là những nhu cầu cơ bản của cuộc sống con người, nhất là trẻ em. Vào những ngày Tết, việc chuẩn bị những món ăn ngon nhất để đón năm mới là một nét đẹp văn hóa, truyền thống của người Việt nam chúng ta. Tuy nhiên, việc ăn uống ở trẻ em nếu không thận trọng sẽ gặp những phiền toái khó lường, làm cho không khí vui xuân của gia đình không được trọn vẹn.

Mặc khác, Tết là thời điểm chuyển mùa, mà đặc biệt năm nay tiết trời trở lạnh hơn mọi năm trẻ em rất dễ dàng nhiễm bệnh nếu không biết giữ gìn cẩn thận. Đồng thời do bận rộn trong những ngày Tết nên các bậc phụ huynh cũng hay lơ là trong việc chăm sóc các cháu, do đó các cháu cũng có thể gặp một số tai nạn đáng tiếc trong sinh hoạt.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_1

Do đó để có được một mùa vui xuân trọn vẹn, các bậc phụ huynh cần phải phòng ngừa những bệnh tật cũng như một số tai nạn có thể xảy ra cho các cháu như sau: ngộ độc thức ăn hay tiêu chảy cấp, đặc biệt và nặng hơn là dịch tả; các  bệnh lý đường hô hấp như cảm cúm, viêm phế quản, viêm phổi hay hen suyễn, chấn thương do tai nạn giao thông, dị vật đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa, bị bỏng do điện hoặc nước sôi, hạ đường huyết. Ngoài ra, ở trẻ em còn có thể gặp một số bệnh trong những ngày lạnh cuối năm như quai bị, thủy đậu, viêm màng não.

Tiêu chảy cấp thường do trẻ ăn những loại thực phẩm chế biến sẵn không đảm bảo vệ sinh, thức ăn dự trữ lâu ngày hoặc sữa pha sẵn để quá lâu…bệnh gặp nhiều ở trẻ dưới 2 tuổi. Tác nhân gây bệnh thường là do Rotavirus, E.coli, Shigella… Triệu chứng gồm tiêu phân lỏng nhiều lần trong ngày, phân có màu vàng hoặc vàng xanh, có thể kèm nôn hoặc buồn nôn, đau bụng hoặc sốt. Nếu bị mất nước nhiều trẻ có thể bị mệt lả, chân tay lạnh, mắt trũng, da khô, tiểu ít. Xử trí tại nhà cần bù dịch cho trẻ bằng dung dịch ORS, và cho ăn thức ăn dễ tiêu nhưng phải đầy đủ chất đạm.

Trong nhà ngày Tết thường dự trữ nhiều thức ăn, được chế biến sẵn như: bánh mứt, thịt, cá, bánh chưng, giò chả… nếu không được bảo quản kỹ sẽ là môi trường thuận lợi cho những loại vi trùng sinh sôi và phát triển như E.coli, Shigella…. đồng thời là lúc các em được nghỉ học, vui chơi, ăn uống nhiều hơn ngày thường. Do đó cũng là thời điểm dễ xảy ra ngộ độc thức ăn ở trẻ em. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, triệu chứng thường gặp là trẻ bị đau quặn bụng, nôn ói nhiều lần, tiêu chảy, xuất hiện trong khoảng 1-6 giờ sau khi trẻ sử dụng các loại thức ăn bị nhiễm khuẩn này. Chăm sóc tại nhà nên chú ý cho trẻ nghỉ ngơi, ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, bù dịch cho trẻ bằng dung dịch ORS như trên. Nếu tình trạng không cải thiện nên sớm đưa trẻ đến bệnh viện để được cứu chữa kịp thời. Để phòng ngừa nên cho trẻ ăn những loại thức ăn hợp vệ sinh, giàu dinh dưỡng, hạn chế sử dụng thức ăn dự trữ lâu ngày, trẻ bú bình nên chú ý vệ sinh bình sữa, không cho trẻ uống sữa đã pha để quá 1 giờ.(còn tiếp)

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

Đề phòng bệnh viêm tai giữa ở trẻ nhỏ

Viêm tai giữa (VTG) là bệnh viêm cấp tính ở lớp niêm mạc lót trong tai giữa, thường xuất phát sau viêm mũi họng. Bệnh có thể diễn tiến dẫn đến nhiều bệnh lý tai giữa khác như VTG thanh dịch, VTG mạn cholesteatoma và VTG mủ, VTG biến chứng. Vậy khi nào trẻ VTG cấp cần nhập viện để điều trị?

de_phong_benh_viem_tai_giua_o_tre_nho

Giải phẫu tai.

Nguyên nhân VTG cấp: VTG cấp thường do vi khuẩn từ vòm họng theo vòi nhĩ lên tai giữa gây nên, do cơ chế bảo vệ của lớp niêm mạc vòi nhĩ không còn hoạt động hiệu quả hoặc lỗ vòi nhĩ bị tắc nghẽn do các khối choán chỗ tại vùng vòm họng (VA trẻ em).

Ai có thể bị VTG?

Nghiên cứu tại các nước công nghiệp cho thấy rằng, trẻ bú mẹ có tác dụng phòng chống VTG trong năm đầu. Bú mẹ cũng là biện pháp phòng bệnh tốt nhất ở các nước phát triển như nước ta. Các yếu tố làm trẻ dễ bị mắc VTG là: không được bú mẹ; bị VTG cấp trong 6 tháng đầu đời; cha mẹ hoặc anh chị có tiền sử viêm tai, trẻ sứt môi, ở hàm ếch kể cả đã được vá chỉnh. Trẻ em có nguy cơ bị VTG cao hơn người lớn vì ở trẻ em sụn vòi nhĩ còn mềm, dễ bị xẹp, vòi nhĩ ở trẻ em ngắn và nằm ngang hơn người lớn, hệ miễn dịch chưa phát triển hoàn chỉnh, trẻ dễ có nguy cơ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên. Đặc biệt, tình trạng viêm VA phổ biến ở trẻ em cũng dễ dẫn đến bệnh VTG.

Làm sao biết tai giữa bị viêm?

Khi VTG thường có biểu hiện đặc trưng: chảy mủ tai và đau nên trẻ nhũ nhi hay quấy khóc, đưa tay dụi hoặc cấu tai, chán ăn, nôn hoặc tiêu chảy, có thể sốt cao. Khi ấn vào vùng tai hoặc kéo vành tai bệnh nhân đau nhói. Trẻ nhỏ khóc thét. Ở trẻ lớn còn kêu đau đầu, nghe kém. Dấu hiệu đặc trưng của VTG là soi thấy màng nhĩ đỏ, không di động hoặc căng phồng… Nhưng chảy mủ và đau tai là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán.

de_phong_benh_viem_tai_giua_o_tre_nho_02

Viêm tai giữa mủ.

Khi nào trẻ bị VTG cần nhập viện điều trị?

Khi có các biểu hiện xấu như sốt, nôn nhiều, nhức đầu, rét run, tổng trạng suy sụp, trẻ lớn kêu chóng mặt. Những trẻ dưới 4 tháng tuổi khi có biểu hiện của VTG nên nhập viện để điều trị và theo dõi vì hệ thống miễn dịch của bé chưa phát triển hoàn chỉnh, dễ có biến chứng nặng và nguy hiểm. Thường viêm tai xuất phát sau viêm mũi họng. Khoảng 2/3 số trường hợp VTG cấp là do vi khuẩn trong đó hay gặp nhất là phế cầu, đó cũng chính là những vi khuẩn gây viêm phổi, vì thế phải dùng kháng sinh để điều trị ngay. Kết hợp các thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm, các thuốc nhỏ mũi kết hợp nhỏ tai.

Bệnh nhân viêm tai khi khám thấy màng nhĩ căng phồng, các bác sĩ sẽ trích màng nhĩ để giúp mủ thoát ra hoặc đặt ống thông khí ở tai để dẫn lưu. Trường hợp tai chảy mủ, ngoài việc dùng thuốc, các bà mẹ cũng có thể tự làm khô tai cho trẻ bằng giấy quấn sâu kèn như sau:

– Gấp và cuộn tờ giấy thấm hoặc mảnh vải bông sạch lại thành sâu kèn (không dùng tăm bông, tăm que hoặc giấy viết vì cứng, chạm vào thành tai gây đau tai).

– Đặt sâu kèn vào tai trẻ cho đến khi thấm ướt mủ, lấy sâu kèn ra và đặt tiếp một sâu kèn mới khác, làm như vậy cho đến khi tai khô. Ngày thay 3 – 4 lần. Thường phải làm 1 – 2 tuần tai mới khô hẳn. Việc phát hiện sớm các dấu hiệu viêm tai để điều trị sớm và triệt để sẽ tránh biến chứng viêm tai xương chũm. Đây là biến chứng rất nguy hiểm thường gặp sau VTG 1 – 2 tuần.

Dấu hiệu viêm tai xương chũm: Tiền sử VTG đã 1 – 2 tuần và đã điều trị nhưng không đến nơi đến chốn hoặc không điều trị, đột nhiên xuất hiện các triệu chứng cấp tính của tai.

Biểu hiện: Bệnh nhân sốt cao trở lại, toàn trạng hốc hác do nhiễm khuẩn, nhiễm độc. Người bệnh thấy đau tai và vùng xương chũm, đau lan lên nửa đầu, ù tai và nghe kém tăng dần, chảy mủ tai tăng hoặc đột nhiên ngừng chảy mủ, có thể chóng mặt.

Ấn vùng xương chũm (ấn vào sau tai hoặc kéo vành tai) bệnh nhân đau buốt (phản ứng xương chũm dương tính). Cần cho đi khám chuyên khoa tai mũi họng ngay vì nếu viêm tai xương chũm không điều trị đúng cách lại dẫn đến viêm tai xương chũm mạn tính hồi viêm. Đây là một bệnh cấp cứu trong tai mũi họng. Nếu không điều kịp thời sẽ gây ra biến chứng nguy hiểm thậm chí tử vong.

Phòng bệnh: Nghiên cứu cho thấy, trẻ bú mẹ ít bị VTG vì trong sữa mẹ có kháng thể giúp bé có sức đề kháng tốt. Thứ hai, vấn đề vệ sinh cho trẻ như khi tắm không để nước vào tai giữa, vệ sinh mũi họng để trẻ không bị viêm hô hấp trên, amidan, VA vì giữa mũi họng và tai trong có ống thông nhau nên vi khuẩn vùng mũi họng qua đó mà lan sang tai. Khi đã bị bệnh cần được bác sĩ thăm khám và chỉ định điều trị, theo dõi chặt chẽ các biến chứng. Người có yếu tố nguy cơ (gia đình có anh chị em bị viêm tai giữa) càng cần chú ý khi có dấu hiệu đau tai và sốt.

BS.Trần Mạnh Toàn
Theo SKDS