Tag Archives: nội tiết

Những điều chưa biết về sức khỏe tình dục phụ nữ

Nhiều chị em cho rằng các vấn đề về sức khỏe tình dục liên quan đến phụ nữ không còn xa lạ với mình. Thực tế thì có nhiều điều cần thiết mà nhiều người chưa biết hoặc đang có những quan niệm cực sai lầm.

1. Không có phương pháp tránh thai nào hoàn hảo
Mặc dù các nhà sản xuất luôn quảng cáo rằng tỷ lệ thất bại ở bao cao su là 3-4% và thuốc tránh thai thì đạt hiệu quả gần như 100%, nhưng điều đó không có nghĩa bạn có thể an toàn với các phương pháp tránh thai đó. Bởi điều giúp tránh thai hiệu quả nhất là việc bạn có sử dụng đúng cách hay không.

Nếu lỡ quên uống một viên tránh thai, bạn vẫn có nguy cơ dính bầu. Hoặc không sử dụng bao cao su đúng cách thì bạn cũng có nguy cơ có thai với tỷ lệ 15-17%. Vì thế, hãy đảm bảo rằng bạn sử dụng phương pháp tránh thai chính xác như hướng dẫn.

nhung-dieu-chua-biet-ve-suc-khoe-tinh-duc-phu-nu

2. Không chỉ thụ thai khi trứng rụng
Phụ nữ có thể có thai ngay cả trước hay sau khi rụng trứng. Bởi tinh trùng có thể sống 2-3 ngày. Vì thế ngay khi bạn có quan hệ tình dục trước hay sau khi trứng rụng 1-2 ngày, tinh trùng có thể vẫn chờ đợi và thụ tinh cho trứng. Vì vậy, nếu bạn không muốn mang thai, hãy cẩn thận không chỉ ở thời điểm rụng trứng mà cả các giai đoạn trước hay sau đó.

3. Một nửa số phụ nữ bị mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục
HPV là một trong các virus gây bệnh lây truyền qua đường tình dục. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 50% nam giới và phụ nữ có thể mắc bệnh này. Một số tuýp virus này thậm chí có thể gây ung thư cổ tử cung.
Chính vì thế nếu có hoạt động tình dục, bạn nên thường xuyên khám định kỳ, đồng thời hãy luôn bảo vệ bản thân bằng cách quan hệ tình dục an toàn.

4. Phụ nữ nên đi vệ sinh ngay sau khi sex
Niêm mạc đường tiết niệu có thể bị tổn thương trong quá trình sex và làm lây lan vi trùng khiến cho chị em dễ bị mắc bệnh viêm đường tiết niệu. Việc đi tiểu ngay sau khi sex sẽ giúp thải hết vi trùng đang có trong đường tiết niệu của bạn và ngăn viêm nhiễm.
Ngoài ra uống nhiều nước cũng là một cách giúp bạn hạn chế gặp phiền toái vì tình trạng viêm đường tiết niệu.

5. Hoóc môn ảnh hưởng đến ham muốn của bạn
Sự biến động của nội tiết tố khiến cho nhu cầu của chị em bị ảnh hưởng. Điều này làm tăng hoặc giảm cảm giác ham muốn yêu của phụ nữ.

Ngoài những thay đổi về nội tiết tố, mối quan hệ giữa bạn và nửa kia cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển ham muốn. Vì thế, nếu bạn muốn đam mê cháy bỏng, hãy luôn duy trì tình cảm gắn bó, tốt đẹp giữa hai vợ chồng.

6. Không nên uống thuốc tránh thai khẩn cấp thường xuyên

nhung-dieu-chua-biet-ve-suc-khoe-tinh-duc-phu-nu1
Hiện nay đã có thuốc tránh thai khẩn cấp, có thể giúp bạn tránh thai nếu quan hệ tình dục không an toàn. Thuốc có thể sử dụng trong vòng 72 giờ để ngăn mang thai ngoài ý muốn. Tuy nhiên, bạn hãy lưu ý bởi đây chỉ là phương pháp phòng tránh thai trong tình trạng khẩn cấp nên sử dụng hạn chế vì có nhiều tác dụng phụ.

7. Khả năng sinh sản giảm nhanh hơn bạn tưởng
Khả năng sinh sản của phụ nữ giảm theo độ tuổi. Tuy nhiên tốc độ này diễn ra nhanh hơn bạn tưởng. Khi vừa qua tuổi 30, khả năng sinh sản của phụ nữ đã không còn cao như những năm cuối tuổi 20. Thực tế, sau tuổi 34, thì khả năng sinh sản của nữ giới xuống dốc cực kỳ nhanh.

Mặc dù hiện nay với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, có rất nhiều phương pháp hỗ trợ sinh sản. Tuy nhiên ở những phụ nữ trong giai đoạn cuối 30 tuổi thì hiệu quả không còn cao. Vì vậy, nếu bạn muốn sinh con, hãy biết rằng đồng hồ sinh học của bạn chạy nhanh hơn bạn nghĩ để có kế hoạch phù hợp cho cuộc sống của mình.

8. Đừng quá tin vào việc tự kiểm tra vú
Mặc dù các bác sỹ khuyến cáo là nên tự kiểm tra vú để phát hiện sớm khả năng ung thư vú ở chị em. Tuy nhiên bạn không thể chỉ dựa vào phương pháp để kiểm soát bệnh tật. Bạn vẫn cần đi khám bác sĩ và chụp quang tuyến vú hằng năm sau tuổi 30.

9. Tập thể dục giúp cải thiện chứng tiền kinh nguyệt
Tập thể dục là cách tốt nhất để giảm những triệu chứng khó chịu do chứng tiền kinh nguyệt gây ra. Tuy nhiên, đây thường lại là cách cuối cùng chị em muốn thực hiện khi trải qua những ngày tồi tệ trong chu kỳ nguyệt san.

nhung-dieu-chua-biet-ve-suc-khoe-tinh-duc-phu-nu2

10. Không nhất thiết tháng nào bạn cũng phải có kinh nguyệt
Nếu đang dùng viên uống tránh thai, bạn thường mất khoảng một tuần sử dụng viên giả dược rồi mới đến kỳ đèn đỏ. Tuy nhiên, đó không phải một chu kỳ tự nhiên mà là sự chảy máu theo “lập trình”. Thuốc tránh thai được thiết kế nhằm tạo ra việc chảy máu hằng tháng vì tất cả chị em đều tin rằng phụ nữ thì phải có kinh nguyệt mỗi tháng, nếu không sẽ là bất thường.

Tuy nhiên, trong tương lai gần, thuốc tránh thai thế hệ tiếp theo sẽ có khả năng giúp bạn không cần lúc nào cũng phải có kinh nguyệt theo cách này. Lý do là khi uống thuốc, niêm mạc tử cung của bạn không dày lên và vì vậy không phải bong ra mỗi tháng nữa.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những thói quen làm rụng tóc mỗi ngày

Theo các chuyên gia chăm sóc tóc, thói quen ăn uống, lối sống của mỗi người có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của tóc. Để tóc dày, khỏe hơn, đơn giản là thay đổi một số thói quen gây hại cho mái tóc của bạn.

Dùng thuốc tránh thai

Khi dùng thuốc tránh thai sẽ làm thay đổi nội tiết tố khiến tóc suy yếu, dễ gãy rụng. Một viên thuốc tránh thai có chứa nội tiết tố androgen có thể gây rụng tóc cho người nhạy cảm với androgen.

Lạm dụng dụng cụ tạo kiểu tóc

Nhiệt độ từ dụng cụ làm tóc có thể phá hủy các protein tạo nên tóc và lớp biểu bì bảo vệ. Khi các lớp biểu bì bị hư hỏng, cân bằng độ ẩm bị phá vỡ và mái tóc của bạn dễ bị gãy.

nhung-thoi-quen-lam-rung-toc-moi-ngay

Dùng một số thuốc

Một số thuốc (như thuốc statin, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo âu, thuốc chống tăng huyết áp) hoặc kích thích tố (như thuốc thay thế tuyến giáp) có thể gây ra rụng tóc. Nguyên nhân là do gián đoạn chu kỳ bình thường của sự phát triển tóc, làm tóc ngừng phát triển và rụng sớm.

Gội nước quá nóng

Cũng giống như da, khi tắm nước quá nóng có thể làm khô da thì tóc cũng vậy. Gội đầu bằng nước quá nóng sẽ khiến da đầu khô, tóc dễ gãy, rụng. Nước nóng có thể khiến lỗ chân tóc giãn ra gây hại chân tóc. Vì vậy, cố gắng gội đầu với nước có nhiệt độ vừa là tốt nhất.

Chải tóc khi ướt

Sợi tóc của chúng ta trở nên mỏng manh và dễ đứt gãy hơn bao giờ hết khi bị ướt. Chải tóc khi ướt sẽ khiến tóc dễ bị gãy rụng, vì vậy thay vì dùng lược, hãy lau khô tóc bằng một chiếc khăn mềm.

Buộc tóc quá chặt

Buộc tóc quá chặt sẽ khiến sợi tóc bị căng ra, ảnh hưởng các nang tóc, làm tổn hại đến tóc, dẫn đến rụng tóc, khiến tóc rất khó phát triển. Hãy thả tóc bất cứ lúc nào có thể như khi ngủ hay dựa đầu trên một
chiếc gối.

Các sản phẩm tạo kiểu tóc

Các loại keo xịt tóc hoặc gel làm cho tóc khô và dễ gãy. Khi bạn chải tóc, những chất còn lưu lại từ những sản phẩm này sẽ khiến tóc bị gãy, rụng. Nên tránh những sản phẩm tạo kiểu tóc khiến tóc bị cứng hoặc dính, thay vào đó, lựa chọn các loại kem tạo kiểu tóc nhẹ nhàng, giữ ẩm tóc và không tạo ra ma sát khi chải.

Gãi đầu

Viêm da tiết bã gây ngứa da đầu và khi bạn gãi có thể dẫn đến rụng tóc. Một khi lớp biểu bì bị hư hỏng, sợi tóc dễ bị vỡ.

Ăn kiêng quá mức

Chúng ta thường nghĩ khi bị đói quá, sẽ không đủ năng lượng cung cấp cho cơ thể và ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của tim, não mà ít người nghĩ nó cũng ảnh hưởng tới tóc. Trong thực tế, khi chẩn đoán chứng biếng ăn, một trong những triệu chứng đầu tiên là rụng tóc nghiêm trọng. Bởi tóc chủ yếu được tạo nên từ protein vì vậy bạn nên có chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều protein như cá, thịt gà, và đậu.

Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời

Thường chúng ta bảo vệ làn da dưới ánh nắng mặt trời mà ít nghĩ đến việc phải bảo vệ tóc. Khi tiếp xúc với tia cực tím sẽ ăn mòn sức mạnh và độ đàn hồi của tóc, tiếp xúc kéo dài làm suy yếu và phá vỡ các lớp biểu bì, kết quả là tóc dễ gãy có thể dẫn đến rụng tóc.

Không gội đầu thường xuyên

Sự tích tụ của sản phẩm chăm sóc tóc hoặc gàu quá mức trên da đầu làm tắc nghẽn nang lông, ảnh hưởng đến sự phát triển của tóc. Bạn nên gội đầu 2 ngày/lần, đặc biệt là nếu bạn hay bị đổ mồ hôi hoặc sử dụng nhiều sản phẩm tạo kiểu tóc.

Gia Bảo
(Theo Prevention)

Ung thư do các thuốc nội tiết gây nên

Điều trị thay thế estrogen người ta dùng để giảm các triệu chứng mãn kinh, để giảm nguy cơ bệnh tim do mạch vành bằng cách làm tăng lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao và để bảo tồn nồng độ muối khoáng trong xương ngừa chứng loãng xương và gãy xương. Liệu pháp này làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Việc sử dụng thuốc ngừa thai uống có gây ung thư vú hay không vẫn còn đang bàn cãi, mặc dù có vẻ nguy cơ ung thư vú tăng cao ở các phụ nữ trẻ và phụ nữ sớm sử dụng thuốc ngừa thai đường uống loại phối hợp trong đời sống sinh dục của họ.

Người ta thấy các kiểu hóa trị ung thư khác nhau rõ ràng đã làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân còn sống hơn một năm sau khi được chẩn đoán.

Các thuốc chống ung thư quan trọng khác như adriamycin và cisplatin cũng có tính sinh ung thư ở động vật thực nghiệm, nhưng cho đến nay vẫn không thấy có tính sinh ung thư ở người. Mặc dù nguy cơ bệnh bạch cầu tăng cao sau khi điều trị một số ung thư chọn lọc nhưng người ta vẫn so sánh điều này với thuận lợi điều trị hóa chất các bệnh như bệnh bạch cầu limphô ở trẻ em, bệnh hodgkin và ung thư tinh hoàn loại tế bào mầm.

 Dùng thuốc nội tiết không đúng cách có thể gây ung thư vú.

Dùng thuốc nội tiết không đúng cách có thể gây ung thư vú.

Tuy nhiên, quan trọng là sự quan tâm nguy cơ mắc bệnh ác tính thứ hai khi đánh giá trong một thời gian dài các phác đồ hóa trị ung thư và tìm kiếm các cách điều trị xen kẽ làm giảm mối nguy cơ này.

Vấn đề áp dụng đặc biệt cho các bệnh như là hodgkin vì loại bệnh này có tiên lượng rất tốt với cách điều trị hiện nay.

Các ung thư phụ khác được báo cáo ở bệnh nhân sống sót lâu dài sau hóa trị ung thư như limphô không hodgkin sau bệnh hodgkin, ung thư phổi và bàng quang sau điều trị bằng cyclophosphamid bệnh limphô không hodgkin.

Các loại thuốc khác gây ung thư ở bệnh nhân được điều trị là các hỗn hợp giảm đau chứa phenacetin, chúng làm tăng nguy cơ ung thư thận và ung thư biểu mô đường niệu khác; thuốc ức chế miễn dịch azaathioprien gây các u da, limphô không hodgkin và các bệnh ác tính hiếm gặp khác; và sự phối hợp 8 – methoxypsoralen và tia cực tím loại A có thể gây ung thư da sau khi dùng để điều trị các rối loạn ở da như bệnh vẩy nến.

Sự ức chế miễn dịch sau khi cấy ghép cơ quan cũng làm bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư. Tuy nhiên, vai trò sinh ung của các thuốc dùng để làm ức chế miễn dịch vẫn còn được bàn cãi.

Một số loại nội tiết tố được dùng trong các lĩnh vực thực hành y khoa khác nhau, thực tế một số nhóm nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư sau khi dùng chúng. Người ta xác định rằng, thuốc diethylstillbestrol (DES) đã từng được dùng rộng rãi vào đầu thai kỳ để giảm cơn buồn nôn và ngừa dọa sẩy thai thì có thể gây ung thư âm đạo ở các con gái của bệnh nhân được điều trị và làm tăng nguy cơ bị ung thư tinh hoàn cho các con trai của họ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng ngừa bệnh nội tiết khi mang thai

Bước 1

Rửa mặt mỗi buổi sáng và buổi chiều với xà bông nhẹ không chứ hoặc chứa rất ít hương liệu và phụ gia. Hormone sản sinh ra khi phụ nữ mang thai có thể làm da chị em sinh dầu nhiều quá mức, vì vậy, việc giữ da khô thoáng sạch sẽ là rất quan trọng. Ngoài sáng và chiều, những giờ khác bạn cũng có thể rửa mặt bằng nước ấm.

Bước 2

Lau mặt bằng khăn lông khô và mềm mại, nên nhớ rằng trong giai đoạn này da của bạn rất nhạy cảm. Thoa một lớp mỏng kem dưỡng ẩm làm sáng da lên vùng mặt và cổ. Việc dùng kem dưỡng ẩm cũng có thể ngăn ngừa việc da sản sinh dầu thừa.

phong-ngua-benh-noi-tiet-khi-mang-thai

hình minh họa

Bước 3

Thay đổi thói quen trang điểm của bạn, chỉ sử dụng phấn make-up vào những thời điểm nhất định, và chỉ khi thật cần thiết. Chọn phấn trang điểm không chứa dầu là cách an toàn nhất để không làm tắc nghẽn lỗ chân lông. Tránh sử dụng phấn hàng ngày chỉ để trang điểm che mụn trứng cá, vì một số mỹ phẩm có thể làm cho tình trạng mụn tồi tệ hơn.

Bước 4

Tránh dùng tay sờ lên vùng da mặt, tay có rất nhiều vi khuẩn, có thể lây sang da mặt và làm tình trạng mụn nặng hơn. Ngoài việc giữ bàn tay xa khỏi gương mặt bạn, nên nhớ cột tóc gọn gàng, việc tóc bẩn chạm vào da cũng là nguyên nhân khiến da bị kích ứng và sinh mụn. Vệ sinh điện thoại và gối nằm cũng là việc cần thiết nếu bạn muốn ngừa mụn triệt để.

Bước 5

Một lời khuyên cũ nhưng luôn đúng, hãy uống ít nhất 8 ly nước mỗi ngày. Ăn nhiều rau xanh và các loại hoa quả để bổ sung vitamin và bảo vệ làn da của bạn. Tránh ăn các thực phẩm cay và đồ chiên xào hoặc các món ngọt như socola vì chúng có thể khiến việc tiết chất nhờn trên da trầm trọng hơn.

Bước 6

Nếu sau khi áp dụng các biện pháp trên từ 3-4 tuần mà không thấy làn da có tiến triển tốt hơn thì bạn nên đến gặp bác sĩ da liễu. Có thể tình trạng mụn của bạn cần đến sự cang thiệp như uống thuốc, khi ấy bạn cần được bác sĩ chuyên khoa tư vấn loại thuốc không gây hại cho thai nhi.

Nguồn afamily

Mất cân bằng nội tiết do quá căng thẳng

Sự mất cân bằng nội tiết tố có thể được chữa được bằng thuốc hoặc thay đổi trong lối sống.

5 dấu hiệu dưới đây sẽ giúp bạn nhận thấy mình đang bị mất cân bằng nội tiết tố.

1. Căng thẳng hoặc trầm cảm

Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất khi bạn bị mất cân bằng nội tiết tố đó là tình trạng cơ thể khởi phát đột ngột căng thẳng hoặc trầm cảm. Điều này có thể là do mức độ hormone melatonin trong cơ thể của bạn thấp. Hormone này là yếu tố quan trọng để giúp cơ thể bạn cân bằng nhịp điệu hàng ngày.

Do đó nếu lượng hormone melatonin giảm – thấp, sẽ dẫn đến sự trì trệ, căng thẳng, mệt mỏi kéo dài. Điều này thường xảy ra khi bạn có tuổi.

Sự mất cân bằng nội tiết có thể do các yếu tố như lối sống, dinh dưỡng, ô nhiễm, rối loạn cảm xúc và tuổi tác… gây ra. Ảnh minh họa

Sự mất cân bằng nội tiết có thể do các yếu tố như lối sống, dinh dưỡng, ô nhiễm, rối loạn cảm xúc và tuổi tác… gây ra. Ảnh minh họa

2. Huyết áp cao

Tỷ lệ giữa natri và nước trong cơ thể của bạn ổn định là do sự cân bằng của hormone aldosterone. Và tuyến thượng thận vốn là nơi sản xuất ra aldosterone. Nếu thận của bạn có vấn đề, khiến lượng kali và natri không ổn định. Natri dư thừa sẽ làm tăng tình trạng trữ nước trong cơ thể, từ đó dẫn đến tăng huyết áp. Do đó khi cơ thể mất cân bằng hormone aldosterone thì cơ thể bạn bị tăng huyết áp (huyết áp cao).

3. Giảm ham muốn tình dục

Nếu bạn nhận thấy ham muốn tình dục của mình có dấu hiệu kém đi, thì nguyên nhân có thể là sự mất cân bằng của nội tiết tố. Nói chung, trước khi mãn kinh, phụ nữ có thể bị sụt giảm testosterone do chức năng của buồng trứng giảm và tuyến thượng thận không duy trì được tốc độ sản xuất hormone sinh dục, kéo theo việc ảnh hưởng đến sự ham muốn tình dục của mình.

Vấn đề rối loạn nội tiết tố cũng có thể dẫn đến khô âm đạo và kinh nguyệt không đều ở nhiều chị em.

4. Cảm thấy nóng ran và ớn lạnh

Đây là một trong những triệu chứng thường gặp ở phụ nữ trung niên thời kỳ mãn kinh và sau mãn kinh. Cơ thể họ sẽ thường xuyên gặp triệu trứng lúc ớn lạnh lúc lại nóng ran bất kể khoảng thời gian nào trong ngày và đặc biệt là vào ban đêm.

Trong thời kỳ mãn kinh, sự suy giảm của estrogen kéo theo sự rối loạn điều hoà vận mạch. Quá trình này dẫn đến các mạch máu mở rộng, giải phóng nhiệt và gây nóng bừng, đổ mồ hôi và ớn lạnh.

5. Tăng cân

Sự mất cân bằng hormone trong cơ thể của bạn có thể dẫn đến tăng cân. Nếu cơ thể của bạn mức độ hormone cortisol và insulin cao, sẽ khiến bạn ăn nhiều hơn và tăng cân nhanh hơn. Hãy nhớ rằng, tăng cân có thể dẫn đến sự thay đổi lớn các hormone sinh dục như estrogen và testosterone. Và sự mất cân bằng này có thể dẫn đến thừa cân, đặc biệt là ở giai đoạn sau khi mãn kinh.

Ngoài năm có dấu hiệu đã nói ở trên, bạn có thể sẽ gặp phải các triệu chứng khác khi mất sự cân bằng nội tiết tố do thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt như bị mụn trứng cá, nhức đầu… Do đó, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ nếu bạn có những triệu chứng gây khó chịu khiến cuộc sống hàng ngày của bạn bị đảo lộn.

Theo afamily

Những biến chứng có thể gặp do sỏi bàng quan

Sỏi bàng quang là một khối bao gồm các chất hóa học khác nhau được hình thành từ thận, niệu quản hay tạo ra ngay ở bàng quang. Khi bị sỏi bàng quang tùy theo kích thước của viên sỏi, số lượng sỏi và một số yếu tố khác mà có thể đưa đến một số biến chứng từ đơn giản đến phức tạp, nguy hiểm.

Tại sao có sỏi bàng quang?
Bàng quang nằm ở vùng hạ vị, được cấu tạo từ các cơ trơn, có tính chất đàn hồi và có hệ thống thần kinh điều khiển trong việc đào thải nước tiểu ra ngoài (tiểu tiện). Sự hình thành sỏi chủ yếu là do hiện tượng ứ đọng nước tiểu trong bàng quang. Có 2 loại sỏi được hình thành, sỏi từ hệ tiết niệu trên (thận, niệu quản) rơi xuống; sỏi sinh ra tại bàng quang bởi các dị vật, đầu ống thông nước tiểu (do bí đái, tắc đái ở bệnh nhân hẹp niệu đạo, u tuyến tiền liệt, chít hẹp cổ bàng quang), túi thừa bàng quang hoặc sau phẫu thuật đường tiết niệu (mổ lấy sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang).

nhung-bien-chung-co-the-gap-do-soi-bang-quan

Thành phần hóa học của sỏi đường tiết niệu nói chung và sỏi bàng quang nói riêng chủ yếu là chất canxi và amoni – magiê – photphat hoặc photphat canxi hoặc oxalic hoặc xystin, nhưng thường là sỏi hỗn hợp và được bao bọc xung quanh bởi một lớp nhân tơ huyết – bạch cầu. Sỏi bàng quang đôi khi chỉ có 1 viên nhưng cũng có thể là nhiều viên sỏi. Kích thước của sỏi bàng quang cũng khác nhau, đôi khi chỉ nhỏ bằng hạt ngô, đốt ngón tay nhưng có trường hợp to bằng quả trứng gà, đặc biệt có những trường hợp sỏi bàng quang nặng tới 1kg.
Phòng bệnh sỏi bàng quang

Đây là việc làm vô cùng cần thiết, vì nguyên nhân gây bệnh thường là do ứ đọng nước tiểu lâu ngày. Do vậy, hằng ngày cần uống đủ nước (1,5 lít/ngày) và tránh thói quen nhịn tiểu. Ngoài ra khi có biểu hiện của rối loạn tiểu tiện (đái dắt, đái buốt hay đái ra máu cuối bãi) nên đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa tiết niệu để phát hiện và điều trị sớm sẽ mang lại kết quả rất tốt, bệnh nhân sẽ tránh được những biến chứng không đáng có do bệnh sỏi bàng quang gây ra.

Sự nguy hại của sỏi bàng quang là nếu không phát hiện và xử trí thích hợp thì khi sỏi ở lại bàng quang lâu sẽ làm tổn thương niêm mạc bàng quang do lượng nước tiểu thay đổi liên tục (trước khi đi tiểu và ngay sau khi đi tiểu) và do sự co bóp của thành bàng quang làm cho viên sỏi cọ sát nhiều lần vào niêm mạc gây viêm, loét và nhiễm khuẩn, chảy máu và sẽ biến chứng viêm bàng quang cấp, nếu không được điều trị sẽ dẫn đến viêm bàng quang mạn tính và sau đó có thể là teo bàng quang hoặc rò bàng quang.

Rò bàng quang là một biến chứng rất phức tạp bởi vì nước tiểu sẽ chảy vào tầng sinh môn hoặc âm đạo. Nước tiểu chảy ri rỉ qua âm đạo hoặc hậu môn gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt và lâu ngày gây nhiễm khuẩn. Ngoài ra, sỏi bàng quang còn có thể gây nên các biến chứng rất nguy hiểm là viêm thận do nhiễm khuẩn ngược dòng và suy thận. Các biến chứng này gây khó khăn cho việc điều trị và cũng rất tốn kém về thời gian và tiền bạc, thậm chí có thể gây nguy hiểm tới tính mạng.

Nguyên nhân của sỏi bàng quang

Sỏi được hình thành có thể là do ngay tại bàng quang (viêm nhiễm, thần kinh bàng quang, túi thừa bàng quang…), có thể do rối loạn chuyển hóa, có thể là do sự cản trở lưu thông nước tiểu ở trong bàng quang, niệu đạo (sỏi, u xơ tiền liệt tuyến…). Sỏi bàng quang cũng có thể là do sỏi từ thận, từ niệu quản rơi xuống. Một số trường hợp sự hình thành sỏi bàng quang có thể do áp dụng một số thao tác thủ thuật y tế như nong niệu đạo, thăm dò bàng quang. Tuổi tác và giới tính cũng có liên quan đến mắc bệnh sỏi bàng quang vì hầu hết gặp sỏi bàng quang ở lứa tuổi trên 50 và chủ yếu ở nam giới. Tuy vậy, ở các nước đang phát triển thì người ta thấy sỏi bàng quang có thể gặp ở trẻ em do chế độ ăn thiếu protein.

Biểu hiện của sỏi bàng quang
Một số người bị sỏi bàng quang nhưng không có biểu hiện gì đặc biệt chỉ khi vì một lý do nào đó tình cờ phát hiện (khám bệnh định kỳ). Đa số sỏi bàng quang có đái dắt nhiều lần, nhất là ban ngày do đi lại, vận động nhiều. Có thể đái đục (nhiễm khuẩn), đái máu. Có thể đau bụng dưới, đái khó, đau, gián đoạn tiểu tiện bởi các các nguyên nhân khác kèm theo (u xơ tiền liệt tuyến, chít hẹp niệu đạo…). Trong trường hợp nhiễm khuẩn thì có sốt nhẹ.

Các triệu chứng của sỏi bàng quang có nhiều đặc điểm lâm sàng dễ nhầm lẫn với các bệnh như  u xơ tuyến tiền liệt, u bàng quang, lao bàng quang, ung thư bàng quang (đái máu). Chính vì thế, để chẩn đoán chính xác bệnh và phòng các biến chứng, khi thấy xuất hiện những dấu hiệu của bệnh như đã kể trên, phải đi khám ngay ở các chuyên khoa tiết niệu.

Điều trị có khó?

Sỏi bàng quang nhỏ từ đường tiết niệu trên rơi xuống có thể điều trị kháng sinh chống viêm, giảm đau, giãn cơ trơn để bệnh nhân đái ra sỏi. Việc điều trị sỏi bàng quang bằng nội soi đã giúp ích rất nhiều cho việc điều trị những viên sỏi bàng quang không đái ra được hay sỏi kích thước nhỏ hơn 3cm. Có thể sử dụng máy tán sỏi cơ học, máy tán sỏi sử dụng sóng xung thủy điện lực (Urat 1) hay máy tán sỏi bằng sóng siêu âm, laser. Mục đích điều trị của máy tán sỏi là tán sỏi thành những mảnh nhỏ để bài xuất ra ngoài. Cũng có thể dùng dụng cụ cơ học để bóp nát sỏi dưới sự giám sát của camera đặt ở đầu ống soi.

Việc điều trị phẫu thuật được chỉ định cho những trường hợp sỏi to – sỏi không thể tán được hay sỏi bàng quang có kèm theo hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang, u xơ tiền liệt tuyến, túi thừa bàng quang. Mổ bàng quang lấy sỏi là phẫu thuật đơn giản, ít tốn thời gian nhưng thời gian hậu phẫu thường kéo dài hơn nhiều so với phương pháp tán sỏi nội soi.

Nguồn báo sức khỏe

Viêm âm đạo do thiếu nội tiết ở phụ nữ

Viêm âm đạo (VAĐ) là một bệnh lý phổ biến thường gặp nhất trong các bệnh lý phụ khoa, trong đó có rất nhiều nhóm nguyên nhân gây ra VAĐ, có thể do vi trùng, do nấm, do ký sinh trùng… Hiện nay VAĐ còn do nguyên nhân thiếu nội tiết cũng thường gặp trên lâm sàng.

Bệnh lý này gặp ở nữ phụ nữ có phẫu thuật cắt bỏ hai buồng trứng, có điều trị xạ trị hay điều trị hóa chất và ở những phụ nữ trong tuổi mãn kinh.

VAĐ do thiếu nội tiết xảy ra như thế nào?

Niêm mạc âm đạo có nhiều nếp gấp ngang, chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố nữ và thường hơi ẩm do các chất dịch tiết ra từ các tuyến như tế bào biểu mô tuyến ở âm đạo, tuyến Bartholin, tuyến Skene và dịch nhầy từ cổ tử cung, tạo nên chất dịch nhầy định vị trong âm đạo. Dịch tiết âm đạo bình thường có màu trắng đục, mịn như bông và tập trung ở túi cùng sau. Vi trùng thường trú trong âm đạo phần lớn các vi trùng ái khí, chủ yếu là các lactobacilli có khả năng chuyển hóa glycogen trong tế bào thành acid lactic giữ cho pH âm đạo ở mức < 4,5. Khi cơ thể thiếu nội tiết tố nữ các tuyến và cấu trúc của thành âm đạo không phát triển do đó chất dịch âm đạo không xuất hiện. Chính điều này làm rối loạn môi trường âm đạo, cũng như thành âm đạo không được bảo vệ. Đây là mấu chốt làm cho âm đạo bị tổn thương biểu hiện sự viêm do thiếu hụt nội tiết tố nữ bao gồm chất thiếu chất là estrogen và progesterone.

viem-am-dao-do-thieu-noi-tiet-1

Cách xác định VAĐ do thiếu nội tiết

Các triệu chứng thường là viêm không đặc hiệu, huyết trắng ít, có thể thấy có mủ hôi, đôi khi lẫn máu, cảm giác của người bệnh đau trằn bụng dưới, nóng rát âm hộ, âm đạo. Có thể đi kèm về rối loạn đường tiểu như tiểu lắt nhắt, tiểu buốt. Khi thăm khám bằng tay hay đặt mỏ vịt vào âm đạo người bệnh, than đau nhiều, kiểm tra thấy niêm mạc thành âm đạo nhợt nhạt, có thể có những chấm xuất huyết đỏ.

Lấy huyết trắng để soi tươi, kết quả thấy tế bào trung gian, không thấy tế bào bề mặt, có thể có vi trùng hay vùng xuất huyết.

Những ảnh hưởng

Bình thường âm đạo chịu sự ảnh hưởng và chi phối của nội tiết tố sinh dục nữ, giúp cho vai trò của âm đạo duy trì tính sinh lý của cơ quan này trong quá trình bảo đảm chức năng tình dục và khả năng tránh được nhiễm trùng.

Một khi nội tiết tố sinh dục nữ bị thiếu hụt hay mất đi, chức năng của âm đạo bị ảnh hưởng rất nhiều. Người bệnh không còn cảm giác hứng thú trong sinh hoạt “vợ chồng”, cảm giác khó chịu thường xuyên xảy ra, một khi vệ sinh không tốt hay có các bệnh lý đi kèm làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm thì nguy cơ nhiễm trùng luôn luôn rình rập.

Cách điều trị VAĐ do thiếu nội tiết

Điều trị chủ yếu là tại chỗ, sử dụng dưới dạng kem thoa vào thành âm đạo hay viên nang đặt vào trong âm đạo, với thời gian điều trị 15 – 20 ngày. Thuốc thường được dùng là một trong các loại thuốc sau đây: thuốc dạng kem thoa, như cream estrogen, cream promestriene, thuốc dạng kem có thể thoa vào âm đạo ngày 1 lần. Thuốc dạng viên nang đặt trong âm đạo như Estriol 0,5mg, Promestriene 10mg, dùng 1 viên ngày, nên đặt vào lúc tối trước khi đi ngủ.

Khi có bội nhiễm đi kèm hay có nhiễm trùng đường tiểu, phải kết hợp thuốc kháng sinh toàn thân như: Cephalexin, Ofloxacin, Doxycycilin. Thường dùng thêm các loại thuốc chống co thắt như Spasmaverin, NO-SPA, Spasless.

Ngoài ra, cần kết hợp chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo đầy đủ các thành phần dinh dưỡng, chất đạm, chất béo, chất bột, chất xơ, vitamin và muối khoáng, tránh ăn kiêng hay ăn không đủ chất. Có một chế độ nghỉ ngơi hợp lý và rèn luyện thân thể hàng ngày bằng các phương pháp tập thể dục…

Chế độ vệ sinh rất cần thiết, không nên lạm dụng thuốc rửa vệ sinh phụ nữ hàng ngày, chỉ cần sử dụng thuốc vệ sinh khi có nhiễm trùng, huyết trắng hôi, hay huyết trắng chuyển màu, không dùng liên tục hàng ngày vì trong thuốc rửa vệ sinh làm bào mòn niêm mạc thành âm đạo và làm mất cân đối môi trường âm đạo. Chỉ cần rửa nước sạch sau mỗi lần vệ sinh và thấm khô bằng khăn giấy là đủ.

Sau khi dùng thuốc dạng kem hay dạng viên đặt thường phải duy trì thường xuyên, có thể nghỉ 3 – 4 tuần rồi duy trì 2 tuần. Cần đi khám phụ khoa định kỳ mỗi 3 tháng 1 lần;  tái khám ngay khi có dấu hiệu lạ.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Theo SKDS

Suy giảm thính lực ở người cao tuổi

Giảm thính lực là sự giảm hoặc mất cảm giác thính giác. Giảm thính lực là hiện tượng rất hay gặp ở người cao tuổi. Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, tuổi thọ con người ngày càng cao nhưng đồng nghĩa với nó là quá trình lão hóa – nguyên nhân chính gây nên các bệnh tim mạch, tiêu hóa, nội tiết và các rối loạn chức năng trong đó có chức năng nghe.

Suy giảm thính giác chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức từ mọi phía. Về phía người bệnh họ không ý thức được đầy đủ về tầm quan trọng cũng như khả năng điều trị y tế. Về phía người thân cho rằng các cụ già nặng tai là chuyện bình thường, nên ít quan tâm để đưa các cụ đi chữa bệnh cũng như ngại tiếp xúc với họ do phải nói to, điều này gián tiếp làm tăng thêm sự mặc cảm vốn đã ngày càng trầm trọng ở người cao tuổi. Việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi là mối quan tâm của toàn xã hội, vì thế việc phòng và điều trị sự giảm thính lực ở nhóm đối tượng này có vai trò rất quan trọng.

suy_giam_thinh_luc_o_nguoi_cao_tuoi

Suy giảm thính giác ở người cao tuổi do đâu?

Từ năm 1934, Crowe và cộng sự lần đầu tiên chứng minh được sự liên quan giữa hiện tượng teo đét của cơ quan Corti vùng loa đạo ở tai trong và sự giảm thính lực ở người cao tuổi. Khi tuổi trên 50, da ống tai ngoài dần dần bị teo, mất nước, ứ đọng dáy tai tạo thành nút dáy trong khi đó màng nhĩ dày đục, mất bóng, xuất hiện các mảng xơ nhĩ, chuỗi xương con nằm trong tai giữa bị xốp, có hiện tượng canxi hóa các khớp xương làm cho việc dẫn truyền âm thanh bị giảm. Quá trình lão hóa làm tổn thương các tế bào nghe tại tai trong ngày càng nặng lên theo tuổi. Dây thần kinh thính giác và các mạch máu nuôi dưỡng cũng bị thoái hóa kết hợp với sự đặc dần của các ống xương mà nó đi qua làm cho chúng bị kẹp lại, mà hậu quả đem lại là quá trình lão hóa ngày một nhanh chóng. Người cao tuổi hay phàn nàn rằng họ rất khó nghe trong môi trường ồn ào hay khi nói chuyện với nhiều người một lúc dẫn đến việc giao tiếp xã hội bị cản trở. Việc suy giảm thính giác ở người cao tuổi cũng bị ảnh hưởng do rất nhiều yếu tố như sự xơ cứng của các mạch máu trong ốc tai gây rối loạn sinh hóa nội dịch tai trong làm ảnh hưởng tới hoạt động giác quan của ốc tai. Các yếu tố di truyền thúc đẩy nhanh quá trình lão hóa chung của toàn cơ thể. Sự giảm sút của các hormon tuyến thượng thận và sinh dục làm gia tăng sự giảm thính lực ở người cao tuổi. Nếu người cao tuổi làm việc hoặc sinh sống trong môi trường tiếng ồn làm trầm trọng thêm điếc tuổi già và tiến triển điếc sẽ nhanh hơn. Việc sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá kéo dài là tác nhân của vô số bệnh tim mạch, ung thư phổi, ung thư đường hô hấp, tiêu hóa trên đồng thời cũng là tác nhân làm nặng thêm sự giảm thính lực ở người cao tuổi. Người cao tuổi cũng đã dùng nhiều loại thuốc chữa các bệnh khác trong cuộc đời, trong đó có rất nhiều thuốc gây nhiễm độc tai trong như các kháng sinh nhóm aminoglycosid, các thuốc lợi tiểu (furosemid), giảm đau (aspirin), chống loạn nhịp (quinidin), thuốc hạ huyết áp (reserpin). Các bệnh cũ đã mắc để lại di chứng đối với sức nghe như viêm màng não, quai bị, zonna tai…

Suy giảm thính lực ảnh hưởng như thế nào đến người cao tuổi?

Suy giảm thính lực ở người cao tuổi ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nhiều cụ muốn xem chương trình thời sự ưa thích nhưng lại phải bật tiếng thật to, hàng xóm cũng khó chịu chứ chưa nói đến người nhà nên ảnh hưởng lớn đến tâm sinh lý của các cụ, các cụ cảm thấy cô lập, ai nói cũng không nghe thấy, nói to làm mọi người đều khó chịu từ đó dẫn đến ngại tiếp xúc, hay nói cách khác chủ động cô lập mình vào cuộc sống câm lặng.

Các biện pháp cải thiện sự suy giảm thính lực

Sử dụng các thuốc tăng tưới máu vi mạch và tăng sử dụng ôxy ở các tế bào thần kinh…

Nhóm thuốc nội tiết: Estrogen với phụ nữ mãn kinh, testosteron với nam, các hormon tuyến yên… để bù lại sự thiếu hụt ở người cao tuổi.

Nhóm vitamin: Vitamin A chống tiếng ồn và tạo thuận lợi cho sự tái sinh của các mô liên kết nói chung cũng như của cơ quan thính giác nói riêng. Có thể kết hợp với vitamin B, vitamin E…

Máy trợ thính là một biện pháp quan trong trong việc cải thiện thính lực, tuy nhiên việc đeo máy trợ thính có thể gây khó chịu nếu không đúng chỉ định và sử dụng đúng cách, vì thế phải có chỉ định và hiệu chỉnh máy nghe phù hợp với từng bệnh nhân.

Ngoài ra, một số trường hợp đặc biệt mà người cao tuổi vẫn cần đến sức nghe để làm việc như những chính khách, nhà ngoại giao… không muốn sử dụng máy nghe có thể phẫu thuật để cấy điện cực ốc tai hoặc điện cực thân  não. Bên cạnh những biện pháp làm cho quá trình suy giảm thính lực tiến triển chậm, giúp cho chất lượng cuộc sống luôn được đảm bảo thì việc duy trì một cuộc sống lành mạnh kể cả về thể chất và tinh thần là một yếu tố được đề cao.

Theo SKĐS

Tuổi mãn kinh – Những chuyện khó nói

Cái gọi là tuổi mãn kinh (MK) là thời kỳ chuyển đổi chức năng của người phụ nữ, từ chỗ hoạt động mạnh mẽ sang trạng thái giảm dần rồi kết thúc. Trong giai đoạn này, sinh hoạt tình dục (TD) tương đối mang tính ổn định về nhận thức, kinh nghiệm cũng như ổn định về kinh tế. Giai đoạn này chủ yếu làm cho cân bằng TD, duy trì TD với tình yêu, làm cho TD trở thành hơi ấm của cuộc đời. Về tâm lý thì chín chắn, đi vào trạng thái ổn định, bền vững về TD, quan tâm chăm óc nhau về thể xác lẫn tâm hồn.

Đa số phụ nữ đi vào thời kỳ MK có nhu cầu TD ít hơn so với thời trẻ tuổi. Nguyên nhân là do có sự giảm nội tiết tố sinh dục, từ đó dẫn đến giảm khả năng bài tiết chất nhờn ở âm đạo, khiến cho sinh hoạt TD trở nên khó khăn hơn, cảm thấy đau rát do tổn thương niêm mạc, hoặc dễ mắc bệnh phụ khoa thông thường khiến chị em không muốn sinh hoạt TD. Trên thực tế, qua nghiên cứu của các nhà khoa học thấy rằng, không ít nữ giới khi đi vào giai đoạn MK lại cảm thấy nhu cầu TD tăng lên, cảm thấy thoải mái hơn khi còn trẻ vì không sợ mang thai, không phải tính toán chu kỳ rụng trứng, không phải chịu sự quấy rầy của con cái. Vì vậy, có người cho rằng, thời gian này là thời kỳ vàng son của cuộc sống chăn gối vợ chồng. Sinh hoạt TD của họ không những không giảm mà còn tăng lên, thoải mái hơn, hấp dẫn và quyến rũ hơn.

tuoi_man_kinh_nhung_chuyen_kho_noi

Về nội tiết tố giúp cho sự ham muốn về TD cho cả hai giới là testosterone. Testosterone ở nữ giới có nguồn gốc phần lớn từ tuyến thượng thận, cho dù ở tuổi MK, người nữ vẫn còn ham muốn TD, đó cũng là điều bình thường. Và cũng nên nhớ rằng, sinh hoạt TD giai đoạn này cũng cần có sự điều hỉnh cho hợp lý hơn so với thời trẻ. Cần kéo dài khúc dạo đầu hơn, cần âu yếm vỗ về để đánh thức tâm lý TD, cần sử dụng chất bơi trơn.

Đi vào giai đoạn MK, việc duy trì sinh hoạt TD là việc làm hết sức cần thiết vì đây là hình thức giúp cơ thể vận động, có tác dụng lên toàn diện các cơ bắp, gia tăng hoạt động vừa phải của tim, gia tăng nhịp thở vận động các khớp xương hay chân và cột sống, giúp cải thiện cho sức khỏe. Đặc biệt là giao hợp sẽ tạo nên hưng phấn, quan hệ TD đầy tình yêu sẽ giúp phục hồi nhanh chóng những khả năng đã bị đánh mất. Nó đem lại bình an và hạnh phúc, mang lại niềm vui tinh thần, thỏa mãn về mặt tâm lý cho người lớn tuổi và có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống của họ.

TD không chỉ đơn thuần là niềm vui mà còn giúp cải thiện sức khỏe của bạn một cách đáng kể, cả về mặt thể chất lẫn tâm lý, là liều thuốc chữa đau đầu cực kỳ công hiệu, giảm stress, điều chỉnh giấc ngủ. Sinh hoạt chăn gối đều đặn sẽ làm tăng cao mức testosteron lẫn estrogen trong cơ thể. Testosteron không chỉ giúp thêm hưng phấn TD mà còn khiến cho xương và cơ trở nên rắn chắc hơn, đồng thời duy trì khả năng làm việc của tim.

Thời kỳ MK được chia ra làm 3 giai đoạn, thời kỳ tiền MK, thời kỳ tắt kinh và thời kỳ hậu MK. Tuổi MK thường ở vào độ tuổi khoảng 45 – 50, trung bình 47. Thời kỳ MK chỉ ghi nhận qua hồi cứu sau 12 tháng liên tục không hành kinh, chịu những xáo trộn của thời kỳ này như: mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ, hay quên, tê các đầu chi, nôn mửa, giảm thị lực, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, chán ăn, có khi trầm uất diễn đạt tư duy trầm lặng, cảm thấy lo lắng, đa nghi phiền muộn.

Khoa học có đủ bằng chứng để kết luận rằng TD rất có lợi, nó có thể làm tăng khả năng hoạt động của não, tăng nhịp tim, phòng chống bệnh tật, ốm đau và giúp cho mỗi người cảm nhận tốt hơn về bản thân.

Trong xã hội căng thẳng ngày nay, thật khó để có một cuộc sống TD đắm say, nhưng chỉ cần không ngừng cố gắng, miễn rằng ham muốn, mơ ước duy trì TD giống như thèm ăn các món ngon, thay đổi món ngon như thời trẻ, thì sẽ nhận thấy rằng những nỗ lực của mình sẽ được bù đắp.

Tóm lại, TD nói chung, sinh hoạt TD ở tuổi MK nói riêng, là một khía cạnh của hạnh phúc, giúp cho chúng ta thoát khỏi sự cô đơn, yêu đời hơn và khỏe mạnh. Nó còn biểu thị những tình cảm mà thời thanh niên và trung niên chưa hiểu hết được.

Từ tuổi MK đến tuổi xế chiều vẫn tiếp tục sinh hoạt TD bằng những cảm nhận TD nhẹ nhàng hơn và cũng thỏa mãn thông qua các hình thức như vỗ về, ôm ấp, quan tâm và tha thứ cho nhau.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.CKII. TRẦN QUỐC LONG

Kiến thức cho tuổi tiền mãn kinh

Trong đời sống sinh lý người phụ nữ, từ lúc sinh ra đến khi xế chiều, thì sự thay đổi của hệ thống cơ thể đều diễn ra nhiều giai đoạn, từ tuổi ấu thơ, tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành, tuổi mãn kinh và tuổi già. Tuổi mãn kinh là thời kỳ chuyển đổi chức năng của người phụ nữ, từ chỗ hoạt động mạnh mẽ sang trạng thái thoái dần rồi kết thúc.

kien_thuc_cho_tuoi_tien_man_kinh

1. Thời kỳ mãn kinh được diễn biến qua ba giai đoạn, thời kỳ tiền mãn kinh, thời kỳ tắt kinh và thời kỳ hậu mãn kinh.

Trong thời kỳ tiền mãn kinh do nang noãn trong buồng trứng không còn nhạy cảm với nội tiết tố, cho nên nang noãn bị giảm hẳn ít đi và phát dục không đầy đủ, thậm chí không chín được để rụng thành trứng, vì thế chu kỳ kinh nguyệt bị rối loạn, kỳ kinh và lượng kinh cũng biến đổi khác nhau, sau đó chức năng của buồng trứng ngày càng yếu đi, lượng estrogene tiết ra giảm đi đến mức không đủ để làm cho nội mạc tử cung bong ra và dẫn đến tình trạng tắt kinh.

Tuổi mãn kinh thường ở tuổi khoảng 45 đến 50, trung bình là 47, tuy nhiên có người tắt kinh sớm ở độ tuổi 40, cá biệt sớm nhất là 35, cũng có người kéo dài đến tận 55-56, vào cuối thời kỳ tắt kinh, buồng trứng người phụ nữ bị xơ hóa, teo nhỏ và mất hẳn chức năng nội tiết.

Thời kỳ mãn kinh chỉ ghi nhận qua hồi cứu sau 12 tháng liên tục không hành kinh, chịu những xáo trộn của thời kỳ này như mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ, hay quên, tê các đầu chi, nôn mửa, giảm thị lực, ù tai hoa mắt, chóng mặt, chán ăn, bốc hỏa, có khi trầm uất diễn đạt tư duy trầm lặng, cảm thấy mình bị suy sụp, bị oan, thất vọng, chán nản, đa nghi phiền muộn, lo lắng…

Niêm mạc sinh dục teo mỏng dần, khô âm hộ – âm đạo, ngứa, rát, giao hợp đau, dễ bị xây xước và nhiễm trùng, dễ sa sinh dục do cơ, dây chằng vùng chậu bị nhão hơn, tiết niệu có thể đi tiểu nhiều lần, đôi khi không đi tự chủ, da, tóc thì kém mềm mại, khô và nhăn, trổ đồi mồi, tóc khô, rụng, dễ gãy, tăng trọng lượng dễ dẫn đến thừa cân hay béo phì, mỡ tích tụ nhiều ở vùng bụng và đùi, dễ bị loãng xương do thiếu nội tiết, mất dần canxi và chất khoáng.

2. Để khắc phục tình trạng trên, với những biểu hiện của một số triệu chứng bất lợi cho cơ thể, trước hết người phụ nữ cần trang bị cho mình kiến thức khoa học nhất định và xem đây là tiến trình diễn tiến bình thường.

Về tâm sinh lý, cần tạo cho mình có một cuộc sống với môi trường vui tươi – thoải mái, tránh những lo âu phiền muộn, xây dựng một kế hoạch làm việc thật khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi để không ngoài mục đích bảo vệ sức khỏe. Để tránh những cơn bốc hỏa là triệu chứng thường gặp ở tuổi mãn kinh, ta cần uống nhiều nước, đủ lượng nước trong ngày từ 1 đến 2 lít, tránh ăn nhiều chất béo như sôcôla, phô mai, đồ uống có cồn hay cà phê vì chúng làm tăng mức độ khó chịu của cơn bốc hỏa, mặc quần áo thoáng mát.

Về rối loạn kinh nguyệt, có những biểu hiện như vòng kinh ngắn hay dài, đôi khi xuất huyết một cách bất thường, chỉ xử trí khi nào ra huyết nhiều gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Cần cân bằng chế độ dinh dưỡng, ăn uống đầy đủ các chất, nên ăn cơm gạo trắng thường ngày có xen lẫn gạo lức để bổ sung nhiều vitamin nhóm B, bổ sung lượng calcium có trong bơ sữa, yaourt giúp làm giảm thay đổi tính khí, đau đầu, tăng lượng magnesium có trong trái cây, rau quả, đồng thời qua đó tăng lượng serotonin giúp giảm stress. Nên ăn dưa hấu để cung cấp một phần chất xơ và nước sẽ giúp cơ thể chống được táo bón và đặc biệt cơ thể cần một lượng nước cho cơ thể.

Tránh các thức ăn có nhiều muối, dùng nhiều thức ăn giàu kali như cam, quýt, chuối, tránh các chất kích thích như rượu, bia, cà phê, thuốc lá. Cần tập thể dục thể thao thường xuyên để duy trì sự dẻo dai của hệ xương cơ và giúp máu tuần hoàn đều khắp cơ thể. Thể dục với các bài tập phù hợp sẽ giúp duy trì vóc dáng gọn gàng, giúp tinh thần minh mẫn, lạc quan…

3. Trong đời sống vợ chồng, có thể dùng các chất bôi trơn như KY để tăng độ cảm giác, tránh được tổn thương niêm mạc gây đau do khô teo ở âm hộ – âm đạo. Hai vợ chồng nên trao đổi thẳng thắn và chân tình về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này, trên cơ sở đó chồng sẽ có trách nhiệm, cảm thông để cùng chia sẻ về những trạng thái sinh lý nói trên.

Chị em cần khám phụ khoa định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện và xử trí kịp thời khi có các bệnh phụ khoa. Việc dùng nội tiết thay thế phải hết sức thận trọng. Với liệu pháp này, có thể làm giảm những triệu chứng tiền mãn kinh, nhưng bên cạnh đó cũng có những ảnh hưởng không nhỏ như nguy cơ ung thư vú và buồng trứng sẽ gia tăng. Vì vậy, tuyệt đối không được tự ý sử dụng mà khi cần thiết phải được tư vấn bởi thầy thuốc chuyên khoa.

Tóm lại, hội chứng tiền mãn kinh là một phần trong đời sống sinh lý bình thường của người phụ nữ, vì vậy mỗi chúng ta cần trang bị những kiến thức cơ bản này để tự chăm sóc mình, và những biểu hiện của hội chứng tiền mãn kinh là bình thường, mà sống vui, sống khỏe, cuộc sống đầy ý nghĩa.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo BS.CKI. Trần Quốc Long

Thuốc trị mãn kinh sớm ở phụ nữ ung thư

Mãn kinh sớm là một biến chứng thường gặp ở những phụ nữ phải điều trị hoá chất chống ung thư vú. Những phụ nữ này sẽ bị rối loạn hormon sinh dục nữ và do đó bị rối loạn kinh nguyệt. Nhưng người ta có thể khắc phục được biến chứng này bằng triptorelin, một hormon sinh dục của vùng dưới đồi.

thuoc_tri_man_kinh_som_o_phu_nu_ung_thu

Đó là phát hiện mới nhất về nội tiết do các nhà khoa học Mỹ tìm ra được đăng tải trên tạp chí Y học Mỹ. Trong công trình này người ta nghiên cứu trên 281 phụ nữ bị ung thư vú và được điều trị kết hợp với triptorelin một các ngẫu nhiên. Kết quả là có tới 63% phụ nữ được điều trị kết hợp với triptorelin còn kinh nguyệt sau hoá trị liệu. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm người không sử dụng triptorelin chỉ là 40%.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Hồng Phong(Theo Healthday, 7/2011)

Tuổi mãn kinh có nên dùng thuốc nội tiết?

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu việc dùng thuốc nội tiết có thể cải thiện đáng kể rối loạn nào ở lứa tuổi mãn kinh không hay chỉ là việc dùng cho có? Nhằm kiểm chứng lại điều này người ta xem xét tới các tác dụng và mức độ nguy cơ của việc dùng này. Kết quả cuối cùng xem ra không phải là bức tranh đồng nhất…

tuoi_man_kinh_co_nen_dung_thuoc_noi_tiet

Lý do chỉ định

Sự thay đổi của thời kỳ mãn kinh mang tính chất rõ nét nhất là sự suy giảm hormon nữ giới trong cơ thể của chị em. Đó là estrogen và progesteron. Để tiện cho việc nghiên cứu và xem xét, người ta thường gọi hormon con gái là estrogen, còn chất progesteron thường được gọi là hormon mang thai.

Điều người ta phải chú ý đến nhiều nhất là sự suy giảm rõ rệt của estrogen. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi của hormon này liên quan khá chặt chẽ với các biểu hiện phát ra ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Chính sự thay đổi của hormon này mà trong nhiều trường hợp đã buộc phải sử dụng hormon thay thế.

Tại sao hormon lại giảm?

Việc giải thích cho câu hỏi tại sao vào thời kỳ mãn kinh hormon lại suy giảm có thể được đơn giản hoá như sau: Estrogen là chất do các tế bào hạt ở “vỏ trứng” tiết ra do tác động của FSH và LH (hai hormon tuyến yên) sẽ được duy trì vào những ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt và đạt đỉnh vào gần ngày rụng trứng. Sự phối hợp của hai hormon này, sự nhạy cảm hoá của buồng trứng là cơ sở thiết yếu tạo nên sự điều hoà hormon estrogen.

Khi con người bước sang độ tuổi mãn kinh, buồng trứng bắt đầu thoái hoá, số lượng các nang trứng giảm, buồng trứng lại bắt đầu trơ ra với các chất FSH và LH. Điều tất yếu này đã đưa đến một hậu quả là estrogen mất nguồn tổng hợp. Chuyện sụt giảm gần như là tất nhiên và không thể tránh. Mặc dù estrogen còn một số nguồn khác tổng hợp song sự bù đắp này chẳng thấm vào đâu.

Bằng những nghiên cứu tỉ mỉ và công phu, người ta thấy trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, sự thay đổi nồng độ estrogen chưa phải là suy giảm ngay mà chính xác là dao động quá mức, gây ra những hậu quả mang tính chất đặc thù chỉ có ở tuổi mãn kinh.

Hệ lụy của sự thay đổi

Lượng estrogen giảm, chị em chúng ta sẽ không còn được thừa hưởng những tác dụng mà estrogen đem lại. Những tác dụng đó là: kích thích tăng tạo mỡ làm da đẹp và mịn màng, kích thích tuyến vú to, kích thích tử cung to, âm đạo nở nang, nang trứng phát triển, kích thích nhu cầu tình dục ở nữ giới… Và tất nhiên, những tác dụng mong muốn này của estrogen sẽ không còn được đầy đủ trong thời kỳ mãn kinh.

Thêm vào đó, sự dao động mạnh mẽ của estrogen đã gây ra cho cơ thể một số triệu chứng khác nữa mà người ta gọi là những triệu chứng đặc thù của thời kỳ mãn kinh. Những triệu chứng đó là sự rối loạn điều hoà vận mạch, lão hoá da, suy giảm hình thể và chức năng của cơ quan sinh dục, thay đổi tính tình, loãng xương, nguy cơ bệnh tim mạch, mất ngủ, mệt mỏi, ra mồ hôi đêm, suy giảm trí nhớ và tập trung…

Những biểu hiện này ở một số người là không rõ ràng nhưng ở một số người lại rất rõ nét. Ví dụ như rối loạn điều hoà vận mạch, nhiều người thấy hồi hộp, nóng bừng mặt, cơn bốc hoả rất đáng ngại. Sự lão hoá da làm da bị teo đi và mỏng xuống, da nhăn nheo và chảy xệ. Loãng xương làm tỷ trọng xương bị giảm, chuyển hoá can xi giảm.. Vì thế mà nhiều khi người ta phải cân nhắc sử dụng liệu pháp hormon nhằm can thiệp.

Dùng liệu pháp hormon như thế nào?

Liệu pháp hormon có tên cũ là liệu pháp thay thế hormon là một liệu pháp quan trọng áp dụng trong thời kỳ mãn kinh. Bản chất của liệu pháp này là sử dụng hormon nữ giới (estrogen) tổng hợp bên ngoài để bù đắp phần hormon thiếu hụt. Việc sử dụng hormon thay thế nhằm hai mục đích: bù trừ hóa hormon thiếu và hoá giải tình trạng dao động của estrogen.

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu sự bổ sung này có những cải thiện đáng kể nào không hay chỉ là việc dùng cho có. Nhằm để kiểm chứng lại điều này người ta xem xét tới các tác dụng và mức độ bệnh tật. Kết quả cuối cùng xem ra không phải là bức tranh đồng nhất.

Nói về tác dụng điều hoà vận mạch thì không có gì cần phải bàn hơn. Vì rằng đồng loạt các dấu hiệu bên ngoài của rối loạn vận mạch như nóng bừng, hồi hộp, đỏ mặt, bốc hoả đều có thể được giải quyết trọn vẹn khi sử dụng liệu pháp hormon. Có lẽ sự dao động hormon quá mạnh đã gây ra những biến đổi này nên chỉ cần được bổ sung một cách phù hợp thì mọi chuyện phức tạp được hoá giáng. Người bệnh không còn cảm thấy xấu hổ quá mức vì tự nhiên mặt đỏ như gấc chín, không còn cảm thấy phiền hà khi tự nhiên thấy người nóng bừng như bốc hoả. Tác dụng tuyệt diệu này của nó đã được người ta ấn định là chỉ định đầu tay khi người phụ nữ có triệu chứng rối loạn điều hoà vận mạch điển hỉnh.

Trên loãng xương, nhiều công trình nghiên cứu có chỉ ra là có sự cải thiện rối loạn này. Cụ thể, năm 2001, Grady và Cummings đã nghiên cứu những phụ nữ mãn kinh có và không có sử dụng hormon thay thế. Các tác giả này đã chỉ ra là những người được sử dụng hormon thay thế thì giảm được 27% nguy cơ loãng xương ở các đốt sống và giảm được 40% tình trạng loãng xương ở xương chậu và xương cổ tay.

Theo những con số tính toán thu thập được, người ta thấy tỷ trọng xương có thể bị hao hụt mất tới 20% trong những năm ở độ tuổi mãn kinh. Người ta không dám chắc là tình trạng này là do sự già hoá của xương hay là do sự rối loạn hormon gây ra nhưng có một điều mà người ta thấy là sử dụng hormon thay thế có thể cải thiện được loãng xương do mãn kinh gây ra.

Trên vấn đề bệnh lý mạch vành ở lứa tuổi mãn kinh, liệu pháp hormon xem ra cũng có những thành tựu lưu ý. Mặc dù cả nam giới và nữ giới cao tuổi đều có nguy cơ bị bệnh mạch vành như nhau do những tác động của yếu tố tuổi, chuyển hoá và mức độ vận động. Song, cho đến nay khoa học đã công nhận một điều là dù ít hay nhiều, sự suy giảm của hormon đã gây ra những tác động một cách độc lập với tuổi trong tiến trình gây ra bệnh lý mạch vành.

Mặc dù còn nhiều vấn đề tranh cãi về hiệu quả của liệu pháp hormon nhưng nhìn chung người ta đều đồng ý ở một khía cạnh, liệu pháp hormon có thể làm giảm bớt nguy cơ của bệnh mạch vành ở lứa tuổi mãn kinh. Kết luận này được dựa trên công trình nghiên cứu của Viện Điều dưỡng Hoa Kỳ. Họ tiến hành nghiên cứu và rút ra được kết luận là liệu pháp hormon có thể làm giảm 11% nguy cơ bị bệnh mạch vành tiền mãn kinh và sau mãn kinh. Song đây là vấn đề còn khá phức tạp vì bản thân khoa học chưa tìm ra được cách giải thích thoả đáng tác dụng này.

Và những góc tối…

Ðiều người ta phải chú ý đến nhiều nhất là sự suy giảm rõ rệt của estrogen. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi của hormon này liên quan khá chặt chẽ với các biểu hiện phát ra ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Chính sự thay đổi của hormon này mà trong nhiều trường hợp đã buộc phải sử dụng hormon thay thế.

Những kết quả thú vị trên không thể đủ lớn để xoá đi những góc tối của bức tranh liệu pháp hormon. Những mảng màu tối vẫn tồn tại như một thực thể không thể khắc phục được đã tạo ra những phần không đồng nhất trong tiến trình điều trị.

Điều đáng ngại thứ nhất mà người ta lo lắng đó là nguy cơ ung thư vú. Mặc dù còn nhiều tranh cãi, nhưng một số lượng lớn công trình nghiên cứu đã chỉ ra có một mối liên quan nào đó giữa liệu pháp hormon và ung thư vú ở phụ nữ mãn kinh. Bằng chứng thực nghiệm lý giải điều này thì chưa có nhưng bằng chứng thực tế thì đã có. Những phụ nữ mà có độ tuổi có kinh sớm (trước 12 tuổi) và những người có độ tuổi mãn kinh muộn (sau tuổi 55) là những người có nguy cơ cao bị ung thư. Trên cả hai đối tượng này, thời kỳ có estrogen là kéo dài. Sự kiện này khiến người ta nghi ngại sự kéo dài thời kỳ estrogen đã liên kết với khả năng ung thư của phụ nữ. Do đó mà liệu pháp hormon cần được sử dụng rất thận trọng.

Điều đáng lo ngại thứ hai là gia tăng biến cố tắc mạch trên những người có nguy cơ cao. Dựa trên những dữ liệu lâm sàng người ta thấy rằng estrogen có một tác dụng phụ là gây ra rối loạn đông máu và hình thành những cục máu đông trong lòng mạch. Nguy cơ càng cao khi chúng ta dùng càng kéo dài. Tần suất càng lớn khi chúng ta càng dùng liều cao.

Nhiều ca bệnh nhồi máu não, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu cơ tim đã được báo cáo ở những người lạm dụng estrogen hay dùng bừa bãi liệu pháp hormon. Điều này còn đáng sợ hơn khi bản thân những người dùng estrogen lại có sẵn các nguy cơ nhồi máu như tăng huyết áp, rối loạn đông máu. Vì thế mà việc cân nhắc sử dụng là chuyện không thể không tính đến.

Bên cạnh các tác hại trên, liệu pháp hormon đang bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ra hàng loạt các rắc rối như làm tăng chảy máu và kéo dài chảy máu âm đạo, làm tăng mức độ trầm trọng của bệnh lý viêm gan, làm tăng nguy cơ ung thư tử cung, gây ra ung thư vú ở những người có tiền sử gia đình, sưng phù, đau đầu nghiêm trọng…

Đứng trước những thay đổi cơ thể như trên, liệu pháp hormon chưa có một số phận chắc chắn. Không thể vì nó có một số tác dụng khá tốt trên hệ thống da, xương, mạch vành, các rối loạn vận mạch mà chúng ta cứ chỉ định hết sức thoải mái. Song ngược lại, không thể vì một vài tác hại của estrogen mà chúng ta lại phủ nhận đi những công hiệu của nó trong điều trị.

Liệu pháp hormon từ trước đến nay vẫn được coi là một chỉ định đầu tay với những người có rối loạn điều hoà mạch điển hình như bốc hoả, nóng bừng, đỏ mặt…  Song chỉ định thế nào, dùng dạng ra sao, liều bao nhiêu là đủ là những quyết định hết sức cân nhắc của bác sỹ.  Vì rằng mãn kinh không phải là một bệnh nên việc điều trị không phải là một quy định bắt buộc.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Yên Lâm Phúc

Các rối loạn sau mãn kinh

Mãn kinh là một hiện tượng sinh lý tự nhiên, thường xảy ra ở phụ nữ lứa tuổi từ 50 – 55. Trong quá trình mãn kinh, người phụ nữ thường có những thay đổi về tâm – sinh lý có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, hạnh phúc, cũng như có những nguy cơ mới về sức khỏe có thể xảy ra.

Mãn kinh là gì?

Mãn kinh là giai đoạn chuyển tiếp lần thứ hai trong đời sống sinh dục của người phụ nữ (lần thứ nhất xảy ra ở tuổi dậy thì). Mãn kinh xảy ra do sự suy giảm chức năng dần dẫn đến ngừng hoạt động và ngừng tiết các nội tiết tố nữ của buồng trứng, biểu hiện bằng việc ngừng hành kinh mỗi tháng, và chấm dứt khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Mãn kinh diễn tiến từ từ theo tuổi tác, thường qua 2 giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh thực sự.

–  Tiền mãn kinh thường xảy ra ở độ tuổi từ 45-50, do hoạt động buồng trứng bắt đầu suy giảm và có sự mất cân bằng các nội tiết tố nữ (Estrogen và Progesteron), dẫn đến kinh nguyệt không đều, kéo dài, dây dưa. Giai đoạn này có thể kéo dài 2-3 đến 5 năm tùy theo từng người.

–  Mãn kinh thật sự, khi buồng trứng ngừng hẳn hoạt động và ngừng tiết nội tiết tố nữ, dẫn đến kinh nguyệt mất hẳn. Mãn kinh thực sự thường ở lứa tuổi từ 50-55 và chỉ được xác nhận khi kinh nguyệt mất hẳn trên 12 tháng. Nếu chỉ mới mất kinh vài ba tháng, phải cẩn thận để tránh có thai ngoài ý muốn.

Ngoài ra có một số trường hợp mãn kinh bất thường có thể là quá sớm hoặc quá muộn.

– Mãn kinh sớm: là mãn kinh trước 40 tuổi. Khi đó, người phụ nữ không còn khả năng có thai được nữa, do không còn có nang noãn chín hoặc noãn không thể phóng được (không rụng trứng). Mãn kinh sớm xảy ra ở những phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, chiếu tia xạ trị bệnh, bị rối loạn miễn dịch, đã được phẫu thuật cắt tử cung nhưng còn chừa 2 buồng trứng…

– Mãn kinh muộn: là mãn kinh sau 55 tuổi.

cac_roi_loan_sau_man_kinh

Phụ nữ tuổi mãn kinh cần khám sức khỏe định kỳ.

Những rối loạn trước và sau mãn kinh

–  Rối loạn kinh nguyệt là biểu hiện chủ yếu nhất trong thời kỳ tiền mãn kinh với các biểu hiện như vòng kinh dài, ngắn và ra huyết bất thường.

– Giảm ham muốn tình dục, âm đạo khô do các tuyến sinh dục giảm tiết dịch, mụn trứng cá, tóc rụng, mệt mỏi kéo dài, da khô, nhám, nhăn nheo do mất dần lớp mỡ dưới da, tuyến vú trở nên mềm nhão, giọng nói bị ồ… âm đạo khô teo gây đau khi giao hợp. Nhiễm trùng tiết niệu và són tiểu do niêm mạc đường tiết niệu cũng bị khô teo. Một số người đi tiểu nhiều lần, tiểu khó vì niệu đạo bị xơ cứng.

– Cơn bốc hỏa thỉnh thoảng xảy ra, do rối loạn vận mạch làm nóng bừng ở ngực, lưng, cổ, đỏ mặt, đổ mồ hôi, nhiều nhất là về đêm, gây khó chịu, mất ngủ. Có thể kèm cảm giác nặng chân, chuột rút…

– Tâm sinh lý thay đổi đa dạng, có người tính tình trở nên trầm mặc, lo âu, băn khoăn, chán nản hay thất vọng, thường không vừa lòng với môi trường xung quanh. Người ta nhận thấy có đến 46% phụ nữ bị mất ngủ, mệt nhọc trong thời kỳ mãn kinh, vận động chậm chạp, mất hứng thú trong quan hệ vợ chồng. Trạng thái dễ kích động, cáu gắt, hay gây gổ.

Các triệu chứng này kéo dài độ vài năm rồi tự hết, do cơ thể đã quen dần với tình trạng thiếu hụt Estrogen. Tuy nhiên, cũng có người thấy những triệu chứng này nặng hơn khi đã chuyển sang giai đoạn mãn kinh thật sự.

Thời kì sau mãn kinh, có thể có nhiều thay đổi nhưng lại diễn tiến trầm lặng, kéo dài nhiều năm trước khi có những rối loạn rõ ràng.

– Niêm mạc sinh dục dần dần teo mỏng, làm âm hộ, âm đạo khô, ngứa, rát, giao hợp đau, dễ bị xây xước và nhiễm trùng.

– Sa sinh dục do cơ, dây chằng vùng chậu bị nhão hơn. Âm đạo, tử cung tụt xuống thấp và có thể lộ ra ngoài.

– Tiết niệu có hiện tượng tiểu nhiều lần, đôi khi không tự chủ được (tiểu són), tiểu buốt dù nước tiểu vẫn trong, và không có dấu hiệu nhiễm trùng.

– Da  kém mềm mại, khô nhăn, có đốm đồi mồi, tóc khô, rụng, dễ gãy…

– Tăng trọng, do mỡ tích tụ nhiều ở vùng bụng và đùi

– Thiếu nội tiết tố khiến xương mất dần canxi và chất khoáng, dẫn đến loãng xương, xương giòn, dễ gãy. Tuy nhiên, phụ nữ mãn kinh ít có cảm giác về loãng xương cho đến khi bị gãy xương tự nhiên (không có va chạm, chấn thương), thường gặp nhất là gãy đầu dưới xương cẳng tay, gãy cổ xương đùi. Ngoài ra, còn có thể bị vẹo cột sống, đau vùng thắt lưng, đau thần kinh tọa… Nếu cuộc sống kéo dài đến 80 tuổi thì ít nhất đã có 50% khối lượng xương bị mất đi. Thời gian sau mãn kinh càng kéo dài hay buồng trứng bị cắt bỏ quá sớm không được trị liệu gì thì chất xương càng bị mất nhiều.

– Thành mạch máu xơ cứng, gây thiếu máu ở một số cơ quan bộ phận chủ yếu là nguy cơ bệnh mạch vành hay nhồi máu cơ tim.

– Ung thư sinh dục, thiếu nội tiết tố buồng trứng là yếu tố khơi dậy một vài ung thư sẵn có nơi bộ phận sinh dục.

Làm gì để phòng ngừa các rối loạn sau mãn kinh?

Chị em cần được trang bị những hiểu biết cần thiết về tuổi mãn kinh, nên vận dụng những tri thức khoa học hiện đại, tự giác duy trì sức khỏe bản thân, giữ được thái độ lạc quan để giúp cho tinh thần thoải mái, tư duy nhẹ nhàng, trí năng tốt, làm chậm sự suy thoái, lão hóa công năng sinh lý của cơ quan sinh sản nói riêng cũng như cơ thể nói chung, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống.

– Một số ít phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh có những thay đổi về tính cách hoặc hành vi. Bình thường vốn rất hòa nhã, khoan dung, độ lượng, bỗng trở nên nóng tính, nổi cáu bất thường, hoặc suy nghĩ hẹp hòi, hay đa nghi, đố kỵ, lãnh cảm… Có những người lại thích giãi bày tâm sự với người khác. Những biến đổi tâm lý theo hướng tiêu cực này sẽ tạo ra sự cản trở, ức chế chức năng sinh lý bình thường của các bộ phận khác, dẫn đến tiêu hóa không tốt, chán ăn uống, huyết áp tăng, nếu lâu dài có thể gây bệnh. Vì vậy, bản thân người phụ nữ và những người thân trong gia đình cần có những hiểu biết đúng đắn về giai đoạn này và có cách thích nghi phù hợp để giúp người phụ nữ an tâm vượt qua những khó khăn và phòng ngừa tốt những vấn đề sức khỏe của lứa tuổi. Nên có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi, thư giãn thích hợp để giúp tinh thần được thư thái, bình ổn.

– Rối loạn kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý bình thường không gây nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe người phụ nữ, vì vậy chỉ khi nào ra huyết nhiều quá, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt thì mới cần nhờ đến sự can thiệp của nhân viên y tế để cầm máu, nếu không cứ để tự nhiên, giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt tốt, sẽ đến lúc kinh ngừng hẳn.

– Các biện pháp ngăn ngừa cơn bốc hỏa: Uống một cốc nước lạnh khi bắt đầu cơn bốc hỏa. Tránh dùng đồ uống có cồn hoặc cà phê vì chúng làm tăng mức độ khó chịu của cơn bốc hỏa.  Giảm lượng rượu vang đỏ (rượu nho), sô-cô-la và phô-mai vì những hóa chất trong đó có thể ảnh hưởng tới thân nhiệt, làm khởi phát cơn bốc hỏa. Không hút thuốc vì nó làm trầm trọng thêm cơn bốc hỏa. Mặc quần áo rộng rãi, thoáng mát làm từ vải sợi tự nhiên. Nên mặc nhiều lớp để có thể tháo bớt khi cơn bốc hỏa xuất hiện.  Lúc ở nhà, hãy hạ thấp nhiệt độ của máy điều hòa.

– Dinh dưỡng: dinh dưỡng tốt ngay khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh: ăn uống đầy đủ, cân đối các chất. Cần ăn nhiều rau quả, đặc biệt là các sản phẩm từ đậu nành hoặc cỏ linh lăng (vì có chứa nội tiết tố Estrogen tự nhiên). Các thức ăn có nhiều canxi (chất vôi) như sữa không béo, thủy hải sản (cá, tôm, cua…), vitamin D có trong sữa, cá hồi, cá ngừ. Axit béo có trong các loại quả, hạt và dầu cá tốt cho những phụ nữ có làn da trở nên khô hoặc có dấu hiệu mỏi các khớp. Axit béo tốt nhất là Omega-3 và Omega-6, có trong hạt vừng, quả óc chó, đậu nành, hạt hướng dương, các loại rau quả họ đậu, các loại cá, rong biển… giúp tránh được tình trạng khô âm đạo và chứng nhiễm trùng đường tiểu, làm tăng thêm sự hưng phấn về mặt tinh thần và năng lượng sống cho cơ thể.

– Ðối với phụ nữ ở tuổi mãn kinh, cần thường xuyên tập thể dục thể thao để duy trì sự dẻo dai của hệ xương cơ và giúp máu tuần hoàn đều khắp cơ thể. Thể dục với các bài tập phù hợp sẽ giúp duy trì vóc dáng gọn gàng, giúp tinh thần minh mẫn, lạc quan.

– Trong quan hệ tình dục, có thể dùng các chất bôi trơn để làm cảm giác đau vì sự khô teo của âm đạo

– Khám phụ khoa định kỳ mỗi 6 tháng một lần để phát hiện và xử trí sớm các bệnh phụ khoa, trong đó có ung thư.

–  Sử dụng thuốc: Dùng bổ sung thuốc có canxi và vitamin D để hạn chế rối loạn loãng xương. Cần dùng vitamin E mỗi ngày. Việc điều trị bằng  sử dụng liệu pháp nội tiết tố thay thế lâu dài phải được bác sĩ chuyên khoa phụ sản khám chọn lọc hướng dẫn và theo dõi phù hợp cho mỗi người, không có công thức chung cho hàm lượng và thời gian sử dụng vì nội tiết tố Estrogen còn có thể gây ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú.

Chị em cần được trang bị những hiểu biết cần thiết về tuổi mãn kinh, nên vận dụng những tri thức khoa học hiện đại, tự giác duy trì sức khỏe bản thân, giữ được thái độ lạc quan để giúp cho tinh thần thoải mái, tư duy nhẹ nhàng, trí năng tốt, làm chậm sự suy thoái, lão hóa công năng sinh lý của cơ quan sinh sản nói riêng cũng như cơ thể nói chung, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống.

Về phía gia đình và cộng đồng cũng phải có tránh nhiệm tạo cho họ có một cuộc sống với môi trường vui vẻ lành mạnh, thân ái, tránh những nỗi buồn tủi, lo âu, cảm giác mất mát. Tạo một không khí làm việc phù hợp là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ sức khỏe và đảm bảo một cuộc sống về tinh thần, tình cảm thoải mái cho những người trong độ tuổi xế chiều để họ có thể tiếp tục đóng góp phần có ích cho xã hội.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Vũ Cường

Tình trạng mãn kinh và bốc hỏa ở phụ nữ

Menopause là thuật ngữ tiếng Anh nói về tình trạng mãn kinh ở phụ nữ, giai đoạn diễn ra hàng loạt các biến đổi liên quan đến nội tiết, tâm sinh lý. Và tuy không phải bệnh lý nhưng mãn kinh là lúc cơ thể tạo ra những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

tinh_trang_man_kinh_va_boc_hoa_o_phu_nu

Đôi nét về mãn kinh

Y học định nghĩa mãn kinh là một năm không có kinh. Đây là biến đổi thông thường và lâu dài, nó bắt đầu ngay từ tuổi 30 – 40 và kéo dài đến tuổi 50 – 60. Nếu sau 1 năm không có kinh tự nhiên thấy có máu là dấu hiệu không bình thường nên đi khám và tư vấn bác sĩ ngay.

Tuổi mãn kinh tại Mỹ là 51 nhưng cũng có người sớm hơn, bình quân trong độ tuổi 45 – 55. Mãn kinh tạo ra những hội chứng lạ, nhất là bốc hỏa, gây nóng bừng từ ngực lên vai, cổ, đầu, gây khó chịu, mệt mỏi. Mồ hôi thoát ra nhiều rồi khô đi làm cho da tổn thất nhiệt, khiến cơ thể ớn lạnh, mệt mỏi và uể oải. Cơn bốc hỏa có thể kéo dài từ 30 giây đến 30 phút, thường gặp nhất khoảng 2 – 3 phút. Tần suất cũng không đồng nhất, có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, cả ngày lẫn đêm, có thể trong một vài năm hoặc có người lại không hề có triệu chứng này. Mãn kinh được chia thành hai giai đoạn là kỳ tiền mãn kinh (premenopause) và hậu mãn kinh (postmenopause).

Nguyên nhân gây bốc hỏa

Theo thống kê thì có tới 75% số phụ nữ Mỹ có hiện tượng này. Về nguyên nhân, cho đến nay khoa học cũng chưa hiểu hết, trong đó có nguyên nhân dao động hoóc-môn estrogen trong não phụ nữ trước khi mãn kinh xảy ra. Khi bốc hỏa cơ thể nóng bừng, mồ hôi toát ra nhưng nhiệt độ cơ thể lại không thay đổi, riêng nhiệt độ da lại tăng tới 4 – 70C  sau đó nhiệt độ da lại trở lại bình thường. Thời gian bốc hỏa tồn tại khoảng vài năm nghĩa là khi estrogen còn dao động thì cơ thể còn bị bốc hỏa. Nói chung sau khi mãn kinh, bốc hỏa thường tự mất trong thực tế có người vẫn còn rơi rớt hiện tượng này trong nhiều năm.

Muốn giảm bốc hỏa, không nên hút thuốc, giảm cân, năng luyện tập, giảm stress, tránh dùng đồ ăn thức uống có chứa chất kích thích cao dễ gây bốc hỏa như thực phẩm cay nóng, cà phê, rượu bia… Nếu không đỡ nên áp dụng liệu pháp hoóc-môn. Đây là liệu pháp lợi – hại song hành vì vậy cần tư vấn kỹ trước khi điều trị.

Những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn sau mãn kinh

Ngoài các dấu hiệu dễ nhận biết như giảm khả năng sinh sản, biến đổi âm đạo, rối loạn giấc ngủ, thay đổi bề ngoài, thay đổi tính khí, mãn kinh có thể tạo ra những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe do sự suy giảm estrogen và progesterone.

Ảnh hưởng đến sức khỏe da: ở nhóm phụ nữ mãn kinh, da là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là sự đàn hồi của da giảm mạnh. Sự lão hóa da nhiều hay ít còn có yếu tố di truyền. Ví dụ những người sinh ra trong gia đình cha mẹ có làn da tốt thì bản thân họ cũng được hưởng vẻ đẹp này. Ngược lại, sinh ra từ gia đình mắc chứng nhăn da thì bản thân lại càng bị ảnh hưởng, nhất là giai đoạn mãn kinh do thay đổi estrogen. Ngoài ra, sức khỏe da còn ảnh hưởng bởi môi trường như ánh nắng mặt trời thói quen hút thuốc, ăn uống thiếu khoa học, ít vận động. Phụ nữ mãn kinh nếu dùng liệu pháp hoóc-môn cũng có tác dụng tích cực nhưng liệu pháp này hiện đang tranh cãi vì lợi hại song hành. Người mắc bệnh rối loạn tuyến giáp, đái tháo đường nếu mãn kinh làn da cũng chóng bị lão hóa.

Rụng tóc: khi mãn kinh phụ nữ thường mắc chứng rụng tóc. Lý do, hoóc-môn nam tính suy giảm chức năng gây ảnh hưởng đến tóc, tuy nhiên mức độ rụng tóc của phụ nữ khác với đàn ông. Ngoài thay đổi hoóc-môn còn nhiều nguyên nhân khác trong đó có lý do mắc bệnh, đặc biệt là bệnh đái tháo đường, tuyến giáp, bệnh stress hoặc do việc chăm sóc tóc không đúng quy cách.

Mãn kinh sớm và rủi ro bệnh tim mạch: tạp chí Menopause của Mỹ số ra mới đây đã công bố một nghiên cứu do các chuyên gia ở viện y học Mỹ (NIH) ở 2.500 phụ nữ có nguồn gốc, địa bàn sinh sống khác nhau và phát hiện thấy mãn kinh tuổi 46 thì có rủi ro mắc bệnh tim mạch vành và đột quỵ cao so với nhóm mãn kinh ngoài 50, bất kể mãn kinh tự nhiên hoặc cắt bỏ buồng trứng. Cụ thể, khi nghiên cứu trên kết thúc có 28% số phụ nữ mãn kinh, kể cả tự nhiên lẫn cắt bỏ buồng trứng mắc bệnh tim vành và đột quỵ. Do chưa có điều kiện tìm ra nguyên nhân cụ thể, song các nhà khoa học đã khuyến cáo nhóm phụ nữ mãn kinh sớm nên tư vấn bác sĩ để biết trước tình trạng sức khỏe của mình để can thiệp sớm.

Loãng xương: sau mãn kinh, cơ thể bị suy giảm canxi xương dẫn đến loãng xương, xương giòn và dễ gãy. Vì vậy giai đoạn này phụ nữ rất cần bổ sung khoáng chất canxi với mức 1.200 – 1.500mg mỗi ngày và vitamin D từ 400 đến 800 IU (đơn vị quốc tế)/mỗi ngày.

Són tiểu: do mô vùng âm đạo và niệu đạo bị suy giảm đàn hồi, nên phụ nữ mãn kinh dễ bị són tiểu  mỗi khi ho, hắt hơi hay cười to.

Tăng cân: do tốc độ chuyển hóa của cơ thể giảm, năng lượng dư thừa nhiều nên tuy ăn ít vẫn tăng cân Giải pháp: nên ăn uống cân bằng khoa học, chia nhỏ bữa, tăng cường rau xanh, trái cây, thực phẩm giàu chất xơ, tăng cường luyện tập để duy trì trọng lượng cơ thể ở ngưỡng hợp lý.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo HO-10/2012

Nội mạc tử cung lạc chỗ

Lạc nội mạc tử cung là do các tế bào của niêm mạc tử cung đã không chỉ nằm trong lòng tử cung mà còn phát triển ở những nơi khác thuộc hệ thống sinh dục và cả những bộ phận khác trong cơ thể người phụ nữ. Bệnh có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

Lạc nội mạc tử cung

Kinh nguyệt ở phụ nữ là kết quả của sự thay đổi có chu kỳ của niêm mạc tử cung dưới tác động của các chất nội tiết buồng trứng. Lạc nội mạc tử cung là tình trạng các tế bào của lớp niêm mạc này, ngoài vị trí trong buồng tử cung còn nằm rải rác ở các vị trí khác trong cơ thể người phụ nữ.

Thường gặp nhất là các tế bào niêm mạc tử cung nằm lẫn trong lớp cơ của tử cung. Có trường hợp các tế bào nội mạc tử cung lại có mặt trong ổ bụng, thường ở vùng tiểu khung (bụng dưới), bám vào màng bụng, các tạng trong ổ bụng như ruột, bàng quang, vòi trứng, buồng trứng.

Lại có trường hợp các tế bào lạc chỗ nằm trong âm đạo hoặc ở vùng tầng sinh môn (phía sau âm hộ và trước hậu môn) thường được giải thích là do bị rách khi sang chấn hoặc khi đẻ, những tế bào niêm mạc tử cung đã “rơi” vào các vết rách đó, tồn tại và phát triển gây nên.

noi_mac_tu_cung_lac_cho

Phẫu thuật nội soi điều trị lạc nội mạc tử cung.

Và những biến chứng

Những đám tế bào niêm mạc tử cung này tuy “lạc chỗ” nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của các nội tiết sinh dục do buồng trứng tiết ra giống như các tế bào niêm mạc nằm trong lòng tử cung nghĩa là cũng phát triển dưới tác động của nội tiết buồng trứng theo chu kỳ và khi các nội tiết này giảm sút thì đám tế bào đó ngừng phát triển và gây chảy máu tại chỗ.

Khác với các niêm mạc trong buồng tử cung khi bong sẽ được tử cung đẩy ra ngoài cùng với máu kinh, các đám “lạc nội mạc” này vẫn nằm nguyên tại chỗ, máu kinh cũng không thoát được ra ngoài vì thế gây nên đau đớn. Lạc nội mạc tử cung là nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh (đau bụng kinh).

Triệu chứng thống kinh của lạc nội mạc tử cung là đau bụng kéo dài, có thể xuất hiện sớm trước khi hành kinh (do các tế bào niêm mạc lạc chỗ phát triển) hoặc khi bắt đầu ra máu kinh (do niêm mạc lạc chỗ bong ra, chảy máu) và có thể kéo dài đến cả sau hành kinh (do máu ứ đọng tại chỗ chưa “tiêu” đi được). Thường ở người bị thống kinh do lạc nội mạc tử cung thì những kỳ kinh sau nhiều khả năng mức độ đau bụng kinh tăng hơn trước.

Có trường hợp đau kéo dài tới mức khi giảm được đau hoặc hết đau thì đã lại đến một kỳ kinh mới. Trường hợp người phụ nữ đã mãn kinh nghĩa là không còn kinh nguyệt nữa thì chứng đau bụng do lạc nội mạc tử cung cũng kết thúc.

Trong số phụ nữ bị vô sinh, có tới 30 -50% có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Cơ chế gây vô sinh của lạc nội mạc tử cung là do: biến dạng các tổ chức vùng chậu gây dính, co kéo, ảnh hưởng đến chức năng vòi trứng, buồng trứng, tử cung.

Ðiều trị

Điều trị chứng đau bụng kinh do lạc nội mạc tử cung có thể dùng biện pháp nội khoa bằng cách dùng các loại thuốc progestagen tổng hợp để làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Có thể dùng thuốc tránh thai chứa nhiều progestagen và ít estrogen uống liên tục từ 6 tháng đến một năm. Có khi phải dùng biện pháp phẫu thuật để nạo vét những ổ lạc nội mạc tử cung trong cơ thể.

Với sự ra đời của phẫu thuật nội soi, điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung đã có những bước tiến mới. Phẫu thuật nội soi cho phép gỡ dính, phá hủy các tổn thương, tạo hình vòi trứng, đốt điện lưỡng cực hay đốt laser để phá hủy các tổn thương. Trong các trường hợp lạc nội mạc tử cung nặng, có thể phải cắt buồng trứng, cắt dây chằng tử cung – cùng, thậm chí cắt tử cung. Chỉ định điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung thường là khối lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng; dính nặng; lạc nội mạc tử cung sâu; lạc nội mạc tử cung độ III, IV.

Tóm lại, lạc nội mạc tử cung là một bệnh phổ biến thường gặp ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, nguyên nhân còn chưa rõ ràng, liên quan mật thiết đến vô sinh. Vì vậy, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, triệt để sẽ giúp cải thiện đáng kể khả năng sinh sản của người bệnh, tiết kiệm một phần không nhỏ chi phí chăm sóc y tế, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.  Phó Ðức Nhuận

5 bệnh chị em văn phòng thường gặp

Những phụ nữ công sở quá bận rộn, tham công tiếc việc hay quá say mê công việc, thường xuyên làm thêm giờ rất dễ mắc năm loại bệnh dưới đây.

1. Rối loạn kinh nguyệt

Làm việc thêm giờ, thời gian ngủ quá ít và không có lúc để nghỉ ngơi dễ dẫn đến rối loạn nội tiết, làm choc ho chu kỳ của bạn kéo dài hơn. Ban đầu chỉ vài ngày, sau tăng dần lên, kèm theo đó là chứng đau bụng kinh.

03

2. Các bệnh về tuyến vú

Nội tiết, khí huyết trong cơ thể đảo lộn làm cho quá trình lưu thông ở các tuyến vú bị chặn, dần dần xuất hiện chứng đau nhức ngực rồi kéo theo các bệnh khác.

3. Trí nhớ kém

Ăn uống thất thường, rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng kém, bộ nhớ sẽ giảm đi nhiều.

4. Các bệnh về mắt

Nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, vừa giảm thị lực vừa luôn cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, dễ làm mắt xuất hiện quầng thâm, mụn thịt, đỏ mắt… Tốt nhất, sau một giờ làm việc, hãy nhắm mắt thư giãn năm phút.

5. Chán ăn

Ăn uống không đúng bữa, dinh dưỡng mất cân bằng và sự thèm ăn cũng bị ảnh hưởng, thậm chí là chứng chán ăn.

Theo afamily