Tag Archives: nội soi

Nguy cơ viêm thanh quản cấp

Viêm thanh quản cấp là một bệnh phổ biến, thường xảy ra vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết chuyển lạnh. Tuy nhiên hiện nay, do kinh tế phát triển cùng với sự nóng lên của trái đất dẫn đến việc sử dụng điều hòa và dùng nước đá giải khát cũng là nguy cơ dẫn đến viêm thanh quản cấp.

Thủ phạm gây viêm thanh quản cấp
Như chúng ta đã biết, họng và thanh quản đem lại tiếng nói cho bạn nhờ sự rung động của hai dây thanh khi luồng không khí đi ra từ phổi. Khi bạn bị mất tiếng hoặc nói khàn tức bộ phận này đã bị tổn thương, y học gọi viêm thanh quản cấp. Qua nghiên cứu, người ta phát hiện nguyên nhân gây viêm thanh quản cấp chủ yếu là do virut: influenza, virut APC, myxovirut, virut cúm, á cúm. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác như stress (căng thẳng thần kinh, mệt mỏi về thể chất, dị ứng hay hít phải chất lạ nào đó).

nguy-co-viem-thanh-quan-cap

Khởi đầu của viêm thanh quản cấp thường do bị viêm mũi hoặc viêm mũi – họng xuất tiết với dấu hiệu chính là khàn tiếng hay mất tiếng đột ngột. Triệu chứng ban đầu, người bệnh thấy nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, ngấy sốt sau đó đau họng, có cảm giác nóng và khô hoặc rấm rứt như có dị vật trong cổ họng, kích thích ho (lúc đầu ho từng cơn, ho khan, sau đó ho có đờm nhầy). Tiếp đến, giọng nói bị khàn, đôi khi khàn đặc, thậm chí mất tiếng. Những triệu chứng trên của bệnh thường kéo dài trong vài ngày. Sau đó, các triệu chứng giảm dần, khoảng sau 7 ngày thì khỏi. Ban đầu có thể chỉ khỏi cơn ho, sốt, chảy mũi nhưng khàn tiếng có thể kéo dài thêm một vài ngày nữa mới khỏi hẳn.

Làm gì khi bị viêm thanh quản?
Bệnh diễn biến trong vòng 5 – 7 ngày rồi tự khỏi nếu không có biến chứng. Tuy nhiên, viêm thanh quản cấp có thể gây biến chứng, nhất là những trường hợp bội nhiễm dẫn đến những bệnh nhiễm khuẩn do sức đề kháng chung của cơ thể giảm sút như viêm tai, viêm phổi… Chính vì thế, cần phải theo dõi sát, điều trị đúng và kịp thời, nếu thấy xuất hiện các triệu chứng của biến chứng như đau tai, chảy dịch ở tai, khó thở…, phải đưa người bệnh vào viện ngay. Điều trị toàn thân dùng kháng sinh phòng bội nhiễm: nhóm b lac-tam như amoxilin, taxetil dạng viêm hoặc siro với liều theo cân nặng.

Nếu dị ứng với nhóm kháng sinh này thường được thay thế bằng kháng sinh nhóm macrolid như davercine… Có thể dùng thuốc chống viêm, giảm phù nề bằng liệu pháp corticoid (hít): solumedrol hoặc depersolon hoặc corticoid đường uống, chymotrypsin choay dạng viên nén ngậm dưới lưỡi hoặc uống phối hợp với các thuốc giảm ho, kháng histamin uống.

Dân gian thường sử dụng chanh tươi thái lát mỏng, nghệ tươi, đường phèn hấp cách thủy ngậm nhiều lần trong ngày. Dùng một số thảo dược như húng chanh, mật ong, quất, gừng, tía tô, ngải cứu, bạc hà… trong điều trị viêm thanh quản cũng cho kết quả tốt.

Thuốc ngậm tại chỗ cũng rất hữu ích trong viêm thanh quản, tuy nhiên, thuốc sử dụng, liều dùng cũng như thời gian sử dụng phải theo chỉ định của thầy thuốc, tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.
Điều trị hỗ trợ viêm mũi họng bằng cách nhỏ mũi, súc họng bằng dung dịch kiềm nhẹ. Khí dung mũi họng cùng với làm thuốc thanh quản thực hiện bởi các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

nguy-co-viem-thanh-quan-cap1

Đối với những bệnh nhân viêm thanh quản, điều quan trọng nhất trong điều trị là kiêng nói để dây thanh có thể phục hồi sớm nhất. Nếu thực hiện được kiêng nói trong vài ngày (thường khoảng 3 – 5 ngày), bệnh sẽ khỏi rất nhanh. Ngoài ra, cần bổ sung vitamin, ăn nhiều hoa quả tươi, nằm nghỉ ngơi, không hút thuốc lá, uống rượu và các gia vị kích thích như ớt, hạt tiêu…

Để phòng viêm thanh quản cấp
Khi đi đường, làm việc trong môi trường bụi, nên đeo khẩu trang, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho cơ thể để chống lại sự thâm nhập của virut, vi khuẩn. Trước khi đi ngủ, nên nhỏ mũi, súc miệng bằng nước muối sinh lý. Khi có những triệu chứng sớm của viêm mũi, viêm họng cấp, cần điều trị ngay. Hạn chế tối đa việc hút thuốc, không uống nước đá…

Lời khuyên của thầy thuốc
Có nhiều trường hợp khi bị viêm thanh quản cấp do chủ quan nghĩ chỉ bị viêm họng nhẹ nên không đi khám mà tự điều trị ở nhà, khi bệnh không đỡ mới đến cơ sở y tế. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân tới khám đã bị viêm khí – phế quản, viêm phổi… gây khó thở nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng và cũng do tự điều trị ở nhà, lạm dụng nhiều thuốc, nhất là kháng sinh nên gây khó khăn trong quá trình điều trị. Chính vì thế, khi có những dấu hiệu của bệnh như mất tiếng hoặc giọng khàn, nói khó khăn kèm theo hiện tượng ho, sốt, nhiều đờm; khó thở, hít vào có tiếng rít; tiếng ho khàn, người mệt nhiều và gần như không nói được; khàn tiếng kéo dài dùng thuốc không thấy đỡ (có thể là biểu hiện của chứng ung thư các dây thanh âm)…, cần đi khám chuyên khoa tai – mũi – họng để tìm nguyên nhân và phương pháp điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Ung thư túi mật

Đây là một loại ung thư hiếm gặp nhưng điều trị khó do ung thư lan rộng, nhanh và thường di căn vào các cơ quan kế cận.

Ung thư túi mật là một bệnh lý tương đối hiếm gặp và có dự hậu xấu. Ở Việt Nam trước đây, ung thư túi mật ít được đề cập đến do thiếu phương tiện phát hiện, chỉ có một số trường hợp phát hiện qua phẫu thuật đường mật tụy; hiện nay nhờ phương tiện siêu âm, chụp cắt lớp tỉ trọng, chụp đường mật ngược và đặc biệt với sự phổ biến của phẫu thuật nội soi, ngày càng có nhiều báo cáo về ung thư mà trước đó hoàn toàn không có dấu hiệu nào nghi ngờ trước và trong khi mổ.

Dấu hiệu nhận biết thường không đặc hiệu

Về lâm sàng không có một triệu chứng đặc hiệu nào giúp chẩn đoán được ung thư túi mật. Những ung thư túi mật khi còn nhỏ thường không có triệu chứng, nó có thể được phát hiện tình cờ trong mảnh sinh thiết túi mật do viêm vả sỏi.

ung-thu-tui-mat

Khi ung thư túi mật đã có triệu chứng thì triệu chứng thường gặp nhất là đau hạ sườn phải thường xuất hiện trong 3/4 trường hợp hoặc đau vùng 1/4 trên bên phải, kế đến là bệnh nhân nhập viện trong tình trạng vàng da và gầy sút hoặc bệnh nhân nhập viện trong tình trạng buồn nôn và nôn.

Khoảng 10% bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng gợi ý như viêm túi mật hoặc được phát hiện trong hoặc sau khi mổ túi mật.

Khám lâm sàng có thể phát hiện dấu hiệu vàng da, vàng mắt, sờ được khối hoặc mảng cứng nằm ở hạ sườn phải ngay dưới gan và di động theo nhịp thở trong khoảng 40% trường hợp. Triệu chứng cổ trướng hoặc các dấu hiệu của một ung thư màng bụng hoặc gan to do di căn ung thư xuất hiện trong khoảng 10% trường hợp.

Làm gì để chẩn đoán?

Siêu âm: Giúp chẩn đoán trong khoảng 70% trường hợp với các biểu hiện sau: dày thành túi mật, khối u trong túi mật kèm túi mật to với cấu trúc tăng âm hoặc hỗn hợp, đôi khi thấy được hình ảnh sỏi với bóng lưng.

CT scanner bụng giúp cho việc chẩn đoán với hình ảnh khối u ở vùng túi mật với bờ không đều hoặc hình ảnh di căn vào gan.

Ngoài ra, siêu âm và CT scanner còn giúp hướng dẫn chọc kim sinh thiết khối u giúp chẩn đoán tế bào học.

Nếu có điều kiện thì tiến hành siêu âm nội soi, độ nhạy của kỹ thuật này cao hơn hẳn siêu âm thông thường, ngoài ra, kỹ thuật này cũng giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán sự lan rộng của ung thư, đặc biệt là phát hiện các hạch di căn quanh tế bào gan hoặc di căn vào đường dẫn mật chính.

Cần phân biệt với bệnh gì?

Các tổn thương túi mật sau đây có thể nhầm với ung thư túi mật:

Adenome túi mật, u mỡ, ứ đọng trong túi mật chất dạng cholesterol, polyp túi mật.

Trong trường hợp ung thư túi mật lan vào đường mật chính thì cần phân biệt với ung thư đường mật và ung thư đầu tụy.

Để phân biệt cần làm các xét nghiệm như siêu âm, CT scanner, chụp đường mật có cản quang hoặc nội soi ổ bụng.

Phương pháp điều trị

Do phần lớn trường hợp ung thư túi mật không được chẩn đoán sớm, do đó việc cắt bỏ để điều trị triệt để chỉ thực hiện được trong khoảng 15-30% trường hợp và hiện nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn trong việc cắt bỏ đến một mức độ nào. Sau cắt bỏ túi mật có thể bổ sung bằng chiếu xạ vùng quanh túi mật.

Trường hợp ung thư túi mật không cắt bỏ được mà có kèm theo vàng da thì một điều trị tạm thời được đề nghị là: đặt ống dẫn lưu qua nội soi hoặc qua gan hoặc xạ trị liệu cũng làm giảm đau và giảm vàng da vàng mắt trong 50% trường hợp, tuy nhiên, nó cũng không làm cải thiện được thời gian sống của bệnh nhân.

Trị liệu phối hợp nhiều thuốc cũng ít có kết quả trong trường hợp ung thư đường mật.

Tiên lượng ung thư túi mật phụ thuộc vào mức độ lan rộng của ung thư. Phần lớn ung thư túi mật khi phát hiện (75%) là đã quá giai đoạn mổ được. Trong trường hợp ung thư còn trong niêm mạc túi mật thì thời gian sống sót trên 5 năm lên đến 85%.

Khi ung thư chưa vượt quá lớp cơ thành túi mật thì thời gian sống sót trên 5 năm lên đến 70%, nhưng khi ung thư đã lan đến lớp thanh mạc thì thời gian sống trên 5 năm chỉ còn dưới 5% và khi ung thư đã lan đến hạch quanh túi mật thì không có trường hợp nào thời gian sống trên 5 năm. Khi không cắt bỏ được thì tỉ lệ tử vong sau 1 năm lên đến 95%, chỉ có khoảng 5% là có thể sống sót sau 5 năm.

Nguồn giáo dục

Cảnh báo nguy cơ mắc ung thư tụy tạng

Ung thư tuỵ tạng hay những bệnh liên quan đến tuỵ tạng đều rất nguy hiểm và bệnh nhân phải chịu đau đớn vô cùng. Ung thư tuỵ tạng hiếm khi gặp ở tuổi dưới 45, nhưng xuất độ sẽ tăng sau độ tuổi đó, đỉnh điểm ở tuổi 70. Các số liệu ghi nhận của Mỹ cho biết, xuất độ chuẩn/tuổi ở nam giới cao hơn nữ giới 30%; và 50% cao hơn ở người da đen.

Những yếu tố nguy cơ

Khoảng 5-10% ung thư tuỵ tạng liên quan đến yếu tố gia đình hay di truyền. Độ tuổi mắc bệnh sớm hơn ở những trường hợp không có tính di truyền. Hút thuốc lá làm thúc đẩy bệnh tiến triển nhanh, người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư tuỵ tạng cao hơn 1,5 lần. Béo phì và tình trạng thiếu vận động cũng liên quan đến ung thư tuỵ tạng: người có chỉ số BMI ≥ 30 dễ mắc bệnh hơn người có chỉ số BMI ≤ 23.

canh-bao-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-tang

Chế độ ăn nhiều thịt, mỡ, thịt xông khói theo kiểu phương Tây cũng làm tăng nguy cơ ung thư này. Người thường ăn trái cây tươi, rau tươi thì ít thấy bị ung thư tuỵ tạng. Ngoài ra, lượng lycopen (carotenoid có trong trái cây) và selenium trong huyết thanh thấp cũng dễ gây ung thư tuỵ tạng.

Yếu tố nguy cơ còn gặp ở những người có bệnh viêm tuỵ mạn tính, người bị nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, những người có tiền sử cắt dạ dày hay cắt túi mật…

Triệu chứng thường gặp

Đau: thường gặp nhất, do khối bướu xâm lấn trực tiếp vào các mạng thần kinh của mạc treo ruột. Đau ở vùng bụng trên, đau như dao đâm, hướng đau vắt ngang lưng. Đau từng cơn, kèm cảm giác ăn mất ngon. Khoảng 80 – 85% bệnh nhân có triệu chứng đau được chẩn đoán ở giai đoạn trễ.

Sụt cân: do chán ăn, tiêu chảy, vã mồ hôi đầu.

Vàng da: vàng mắt, kèm theo ngứa ngáy, đi tiêu phân trắng, nước tiểu sậm màu.

Các triệu chứng biểu hiện đầu tiên còn tuỳ thuộc vị trí khối bướu. Bướu xuất hiện ở thân và đuôi tuỵ thường gây triệu chứng đau và sụt cân, trong khi bướu ở đầu tuỵ thường tạo triệu chứng vã mồ hôi đầu, sụt cân và vàng da. Khám lâm sàng, sờ thấy khối bướu hay tình trạng bụng báng, sờ chạm túi mật dưới bờ sườn phải, hoặc hạch trên đòn trái.

Làm sao phát hiện?

Khi bệnh nhân đến khám đã bị vàng da, siêu âm bụng là phương tiện hình ảnh đầu tiên thường được sử dụng. Những hình ảnh như giãn đường mật, khối bướu vùng đầu tuỵ sẽ gợi ý cho chẩn đoán.

Kỹ thuật chụp cắt lớp CT với độ nhạy và độ chuyên biệt cao có thể phát hiện bệnh ngay khi bệnh nhân chưa có triệu chứng vàng da, hình ảnh qua chụp cắt lớp cho biết sự lan rộng tại chỗ hoặc di căn như hạch bạch huyết, di căn gan… Các bác sĩ còn thực hiện kỹ thuật chụp đường mật tuỵ ngược dòng qua nội soi – ERCP, nội soi dạ dày và qua đó dùng chất cản quang bơm vào đường mật, chụp X-quang để khảo sát.

Những kỹ thuật khác cũng hiệu quả trong việc cho hình ảnh để chẩn đoán là siêu âm qua nội soi – EUS (có độ chính xác cao); chụp cộng hưởng từ – MRI; chụp cắt lớp bởi bức xạ pôsitrôn; xét nghiệm “chất đánh dấu bướu” trong huyết thanh CA19 – 9 (có giá trị trong việc theo dõi sau mổ và tiên lượng bệnh)…

Phẫu thuật sớm, sống lâu hơn

Ung thư tuỵ là bệnh lý ác tính khó phát hiện sớm, tiên lượng sống năm năm rất thấp. Tại Mỹ, phẫu thuật có thể trị khỏi ung thư này, nhưng không may là bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn trễ, chỉ 15 – 20% bệnh nhân còn mổ được với tiên lượng rất xấu. Sống còn năm năm khoảng 25 – 30% khi hạch chưa bị di căn, và chỉ còn 10% khi đã có di căn hạch.

Hiện cách điều trị gồm các phối hợp đa mô thức: phẫu trị – hoá trị – xạ trị. Trong đó, phẫu thuật được chỉ định khi bệnh còn khu trú tại chỗ và ở giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến xa hoặc di căn (di căn gan, lan tràn trong ổ bụng, bụng có dịch báng, đã có hạch trên đòn trái), là chống chỉ định mổ. Phẫu thuật thường được thực hiện gồm cắt khối tá tuỵ tiêu chuẩn (phẫu thuật Whipple), phẫu thuật có tính rộng lớn như phải cắt bỏ phần đầu tuỵ và khối bướu, cắt bỏ túi mật, cắt bỏ phần dưới của dạ dày và toàn bộ khung tá tràng, sau đó tái lập sự lưu thông của đường mật và dịch tuỵ.

Loại phẫu thuật thứ hai là cắt khối tá tuỵ biến đổi, phương pháp này có sự khác biệt là giữ lại cơ vòng môn vị. Khi bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, thể trạng bệnh nhân suy sụp kèm theo vàng da vàng mắt (do bị tắc mật bởi khối bướu ở đầu tuỵ). Bệnh nhân được các bác sĩ thực hiện nội soi dạ dày và qua đó sẽ đặt một ống thông (stent) vào trong đường mật, hoặc được phẫu thuật nối thông mật – ruột, hoặc mở túi mật ra da nhằm giảm ứ mật trong gan.

Hoá trị hỗ trợ hay xạ trị hỗ trợ, hoặc kết hợp hoá/xạ trị có thể cải thiện thời gian sống còn cho bệnh nhân. Hiện nay, điều trị hỗ trợ sau mổ với sự kết hợp giữa các thuốc đặc trị ung thư cùng tia phóng xạ, cho thấy thời gian sống còn của bệnh nhân kéo dài hơn.

Nguồn giáo dục

Phòng và phát hiện ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.

Triệu chứng mơ hồ

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day1

Ung thư dạ dày nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trước khi lây lan sang các bộ phận khác thì cơ hội điều trị thành công sẽ cao hơn.

Tuy nhiên, các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Do đó, theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Bệnh viện K, để chẩn đoán đúng bệnh, bác sĩ cần phải khám kỹ càng; bệnh nhân được chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang, nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể được chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

Nếu có chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính, siêu âm để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day

Ung thư dạ dày có mối liên quan chặt chẽ với khẩu phần ăn chứa nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm và ít hàm lượng rau, hoa quả tươi.

Các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ và một số nước phương Tây cho thấy có mối liên quan nhân quả giữa chế độ ăn nhiều chất béo, ít rau với ung thư đại trực tràng.

Còn theo Ban điều hành dự án phòng chống ung thư thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án phòng chống ung thư, trong khẩu phần ăn có nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật đặc biệt là rau, hoa quả có màu xanh hoặc vàng giảm được nguy cơ mắc ung thư phổi, đại – trực tràng, thực quản và dạ dày.

Ngoài ra, cần tránh xa các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng; ăn nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm; lười vận động hoặc béo phì; cần điều trị viêm loét dạ dày triệt để cũng như  ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm khuẩn helicobacter pylori bằng cách chế biến thức ăn an toàn (VD: chỉ mua các loại sữa đã khử khuẩn và đóng chai lọ kín); nấu thức ăn chín kỹ; ăn thức ăn vừa nấu xong; bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín; nấu kỹ lại thức ăn chưa sử dụng hết; tránh để lâu thức ăn chín và sống; rửa tay nhiều lần (trước khi ăn, nấu ăn …); dùng nước sạch.

Nguồn dân trí

Rối loạn nuốt và hậu quả

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn nuốt ở người già. Hàng đầu là các thương tổn thần kinh – cơ như nhồi máu não, xuất huyết não, bệnh Parkinson, xơ cứng cột bên teo cơ, đa u tủy xương, nhược cơ, sa sút trí tuệ. Tiếp đến là nhóm nguyên nhân do tổn thương cấu trúc như tuyến giáp to, phì đại đốt sống cổ, túi thừa Zenker, ung thư…; các rối loạn tâm lý, bệnh mô liên kết (viêm đa cơ, loạn dưỡng cơ…), các nguyên nhân do thầy thuốc (phẫu thuật vùng hầu họng, xạ trị, thuốc…) cũng có thể gây những rối loạn nuốt ở người già.

Nuốt là một quá trình sinh lý nhằm đưa thức ăn, các chất dinh dưỡng, nước… vào đường tiêu hóa. Nuốt gồm bốn giai đoạn: sự chuẩn bị của khoang miệng, quá trình đẩy thức ăn xuống của khoang miệng, hầu họng và thực quản. Các giai đoạn này có sự tham gia phối hợp của miệng, hầu họng, thanh quản và thực quản.

Việc suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt là não bộ ở người già thường gây rối loạn quá trình nuốt như việc suy giảm hoặc mất các phản xạ bảo vệ trong đó có phản xạ đóng nắp thanh môn khi nuốt.

roi-loan-nuot-va-hau-qua

Biểu hiện của các rối loạn về nuốt ở người già rất phong phú và đa dạng. Rối loạn nuốt do miệng và hầu họng thường gây ho, nghẹn, khó nuốt, cảm giác thức ăn vướng ở họng… Rối loạn nuốt do thực quản thường có cảm giác vướng thức ăn trong họng hoặc trong ngực dọc theo xương ức, nghẹn trong ngực. Bên cạnh đó, rối loạn nuốt nói chung thường gây tăng tiết nước bọt, sặc thức ăn lên mũi, ho sặc do thức ăn rơi vào khí quản…

Rối loạn nuốt ở người già có thể gây nhiều hậu quả từ nhẹ đến nặng. Nhẹ nhất cũng là viêm mũi họng, nói khàn, thay đổi thói quen ăn uống. Nếu nặng hơn, bệnh nhân sợ ăn, uống, thậm chí sợ cả nuốt… nước bọt. Điều này sẽ dẫn đến mất nước, điện giải, sụt cân, suy kiệt nặng. Nhưng nguy hiểm nhất là bệnh nhân bị sặc thức ăn, nước, nước bọt…vào phổi gây nên ho, viêm phổi kéo dài và tái đi tái lại. Nhiều trường hợp, lượng dị vật vào phổi quá nhiều gây ho dữ dội, co thắt thanh quản, suy hô hấp cấp và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Trước khi điều trị các rối loạn nuốt, phải đánh giá thật cụ thể mức độ và vị trí tổn thương cũng như nguyên nhân gây ra rối loạn nuốt. Việc đánh giá dựa vào thăm khám kỹ lưỡng vùng họng miệng, thanh quản, khám phát hiện các tổn thương phổi (thường là phổi phải). “Nuốt đồ ký – ghi hình quá trình nuốt” có cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các rối loạn về nuốt. Có thể nội soi thực quản, làm điện cơ, chụp CT, MRI sọ não… để xác định nguyên nhân.

Mục tiêu điều trị rối loạn nuốt là tránh viêm phổi hít phải (do sặc), cải thiện khả năng ăn uống để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân. Các biện pháp bao gồm tìm dạng thức ăn thích hợp, ví dụ bệnh nhân khó nuốt thức ăn cứng thì chuyển chế độ thức ăn mềm hơn, bệnh nhân grain sặc chất lỏng thì chuyển chế độ ăn đặc…

Điều trị phục hồi chức năng nuốt bằng “liệu pháp nuốt” gồm ba phương pháp: hỗ trợ bù khi nuốt, luyện tập tăng cường chức năng các cơ nhai – nuốt và luyện tập khi đang trong quá trình nuốt. Liệu pháp này nhằm làm giảm khả năng sặc thức ăn vào phổi và tránh ứ đọng thức ăn trong miệng. Phẫu thuật cắt cơ nhẫn – hầu để làm thông thoáng đường thức ăn xuống thực quản cũng có thể được áp dụng. Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, mở thông dạ dày – hỗng tràng qua nội soi được chỉ định cho một số trường hợp nặng.

Dự phòng bằng cách nào?

Dự phòng viêm phổi do rối loạn nuốt ở người già bằng cách: nghỉ ngơi trước ăn 30 phút; ngồi khi ăn; ăn miếng nhỏ, thức ăn mềm thích hợp; không nói chuyện, xem ti vi, đọc báo… làm mất tập trung khi đang ăn. Tránh dùng các thuốc an thần, gây ngủ ngoài chỉ định. Làm rỗng dạ dày bằng các thuốc như erythromycin, motilium… Vệ sinh răng miệng thường xuyên để tránh viêm phổi hít phải và hết sức chú ý nếu bệnh nhân đang ăn bị sặc phải biết cách cấp cứu như một hội chứng dị vật thâm nhập đường thở.

Nguồn sức khỏe đời sống

Sỏi đường tiết niệu

Sỏi tiết niệu là nguyên nhân thứ ba gây suy thận mạn tính. Thống kê trung bình tại bệnh viện Bạch Mai, khoa Tiết niệu Việt Đức, học viện Quân y cho thấy từ 25 – gần 30% bệnh nhân bị cắt thận trong số những người mắc sỏi thận gây viêm thận, bể thận. Tỉ lệ tái phát của sỏi thận là từ 10 – 50%.
Nguyên nhân, triệu chứng của bệnh

Sỏi tiết niệu là những khối tinh thể kết tụ một số thành phần trong nước tiểu ở đường niệu trên (chủ yếu từ can-xi). Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 – 60, trong đó, nam dễ mắc bệnh hơn nữ.

Bệnh thường do các dị tật bẩm sinh làm ứ đọng nước tiểu như bệnh Cacchi-Ricci, hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, thận đa nang, sa niệu quản, niệu quản đôi… hoặc do nhiễm khuẩn đường niệu; mất mồ hôi nhiều, mắc bệnh tiêu chảy mạn… Bệnh cũng khởi phát từ chế độ ăn uống, sinh hoạt không hợp lý. Ví dụ như, uống quá ít nước, ăn quá nhiều thức ăn giàu protein, đường, natri, oxalat…

nuoc-uong4-90ffd

Cơn đau của bệnh này thường đến đột ngột, rất dữ dội và chỉ ở một bên. Đau bắt đầu ở vùng thắt lưng rồi lan sang phía bụng, nách và các cơ quan sinh dục. Có lúc đau giảm đi nhưng sau đó lại xuất hiện cơn khác dữ dội hơn. Bệnh nhân có thể nôn, buồn nôn, ra mồ hôi, mạch nhanh nhưng không sốt; buồn tiểu nhưng lại không cảm thấy dễ chịu sau khi tiểu.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Để phòng bệnh, cần bắt đầu từ nguyên nhân gây bệnh mà chủ yếu bắt nguồn từ lối sống, thói quen ăn uống và sinh hoạt. Cụ thể là: Hạn chế chất can-xi, protein, oxalat, purin, thức ăn mặn… Nên uống từ 2 – 3 lít nước mỗi ngày, bảo đảm bài tiết 1,5 lít nước tiểu hằng ngày và nên dành thời gian vận động. Không nên ăn quá nhiều đậu nành vì nó chứa rất nhiều oxalat, ăn quá nhiều sẽ khiến can-xi và oxalat kết dính thành khối gây ra sỏi thận.

Tùy theo nguyên nhân gây sỏi, người bệnh cần có chế độ ăn khác nhau:

Sỏi canxi: Giới hạn lượng can-xi đưa vào <600 mg/ngày, gia tăng chất xơ (từ rau và trái cây). Không nên dùng các loại nước “cứng”.

Sỏi oxalat: Không ăn măng tây, đậu cô ve, củ cải đường, đào lộn hột, rau diếp, đậu bắp, nho, mận, khoai lang và trà. Cảnh giác với thức ăn chua hay các viên vitamin C liều cao.

Sỏi axit uric: Các sỏi này liên quan đến chuyển hóa purin và đôi khi là một biến chứng của bệnh gút. Nên giảm ăn những chất có purin (thức ăn quá nhiều đạm).

Sử dụng liệu pháp đến từ thiên nhiên để điều trị

Các nguyên tắc chính trong điều trị sỏi đường tiết niệu như sau: Điều trị nội khoa (không cần mổ) được áp dụng đối với sỏi không gây bế tắc, không gây triệu chứng, không có nhiễm trùng. Sỏi nhỏ hơn 4-5mm có thể tự ra theo dòng nước tiểu, bệnh nhân được khuyên nên uống nhiều nước. Sỏi niệu quản có kích thước nhỏ hơn 4mm thì 90% sẽ tự tiểu ra. Sỏi lớn hơn 6mm thì khả năng tiểu ra sỏi chỉ khoảng 20%. Sỏi đường tiết niệu gây nhiễm trùng hoặc bế tắc có chỉ định can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Tùy kích thước và vị trí của sỏi trên đường tiết niệu và đặc điểm bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị khác nhau như: mổ mở, tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL), phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da (PCNL), nội soi bàng quang niệu quản tán sỏi, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản. Mỗi phương pháp có những chỉ định cũng như ưu nhược điểm khác nhau.

Xu hướng trở về với thiên nhiên trong chữa trị bệnh đã và đang được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới bởi giá thành điều trị thấp, tránh được các biến chứng xấu của phẫu thuật, giảm tác dụng phụ so với các thuốc sử dụng nguyên liệu tổng hợp nhưng vẫn đạt hiệu quả mĩ mãn.

Tiến bộ trong điều trị các bệnh lý khớp vai

Trước đây, khi nói đến nội soi nói chung và nội soi khớp nói riêng nhiều người vẫn cho rằng đó chỉ là một phong trào, một kiểu quảng cáo. Nhưng đến nay thì nội soi đã thật sự trở thành một phương pháp điều trị đem lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

tien_bo_trong_dieu_tri_cac_benh_ly_khop_vai_01

Mổ nội soi khớp vai tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.

Những năm 1990, ngành chỉnh hình chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phẫu thuật nội soi khớp vai, mở đầu cho hàng loạt những nghiên cứu sâu về các bệnh lý của khớp vai. Cũng như nội soi khớp gối, nội soi khớp vai cũng dùng 1 ống soi có gắn camera và nguồn sáng lạnh, để chuyển hình ảnh lên màn hình ti-vi và cho phép phẫu thuật viên quan sát các ngóc ngách của khớp vai vốn dĩ khá phức tạp về cấu trúc. Cho phép các bác sĩ phát hiện nhiều bệnh lý đi kèm với nhau hơn. Cho đến hiện tại, nội soi khớp vai đã được áp dụng cho các bệnh lý sau của khớp vai:

Trật khớp vai tái hồi

tien_bo_trong_dieu_tri_cac_benh_ly_khop_vai_02

Điều trị trật khớp vai qua nội soi.

Đây là tình trạng trật khớp vai nhiều lần sau lần trật đầu tiên. Bệnh nhân có thể chỉ có cảm giác đau vùng vai khi làm việc dạng tay và xoay tay ra ngoài, hay nặng hơn là có thể tự làm trật khớp vai của mình và tự nắn lại. Ban đầu loại tổn thương này được mổ mở để gắn 1 cục xương làm nút chặn không cho chỏm xương cánh tay trật ra, hoặc khâu bao khớp sụn viền. Dần dần các tác giả đã áp dụng kỹ thuật khâu qua nội soi và đã đạt được kết quả hết sức khả quan, mặc dù phải trải qua 1 thời gian khá dài để hoàn thiện dụng cụ và kỹ thuật khâu. Tuy vậy, các phương pháp mổ mở vẫn còn tác dụng, nhất là phương pháp lấy cục xương làm nút chặn, vì chi phí cuộc mổ rẻ hơn và là cứu cánh khi nội soi thất bại.

Rách chóp xoay

tien_bo_trong_dieu_tri_cac_benh_ly_khop_vai_03

Chóp xoay bị rách thấy qua nội soi vai.
tien_bo_trong_dieu_tri_cac_benh_ly_khop_vai_04

Khâu chóp xoay qua nội soi.

tien_bo_trong_dieu_tri_cac_benh_ly_khop_vai_05

Tạo hình mõm cùng vai qua nội soi trong bệnh lý chèn ép dưới mõm cùng vai.
tien_bo_trong_dieu_tri_cac_benh_ly_khop_vai_06

Khâu sụn viền trên qua nội soi.

Đây là loại bệnh mà nội soi đem lại lợi ích nhiều nhất do bệnh hay xảy ra trên người lớn tuổi, phẫu thuật nội soi nhẹ nhàng giúp hồi phục nhanh hơn so với mổ mở. Nội soi cho phép quan sát phẫu trường tốt hơn, kiểm soát thương tổn chính xác hơn. Qua nội soi khớp, các bác sĩ sẽ dùng chỉ khâu lại nơi rách của các sợi gân trong vai. Hoặc các bác sĩ nhờ quan sát bằng nội soi sẽ khâu gân bằng một đường mổ nhỏ khoảng 3-4cm.

Nhiễm trùng khớp vai

Với ưu điểm sử dụng trong khi để mổ nên khả năng bơm rửa khớp với số lượng nước lớn, giúp giảm thiểu nguy cơ tái phát nhiễm trùng do vi trùng bị pha loãng trong khối lượng nước lớn.

Hội chứng chèn ép dưới mõm cùng vai

Bệnh lý này gây ra do tình trạng thoái hóa của mõm cùng và khớp cùng đòn, tạo nên các “gai” xương chẹn vào các gân trong khớp vai gây đau và hạn chế vận động vai. Nội soi cho phép mài các “gai” xương này, làm rộng khoang dưới mõm cùng, lấy đi nguyên nhân chèn ép làm giảm đau khi mà các biện pháp điều trị khác không còn tác dụng.

Khâu lại sụn viền trên

Trong khớp vai có 1 sụn viền bám quanh ổ chảo cánh tay. Đây là tổn thương hay gặp ở những vận động viên chơi các môn phải sử dụng tay tư thế dạng xoay ngoài nhiều như: ném lao, ném đĩa, tennis… khiến cho sụn viền bị bong ra. Việc khâu qua nội soi cũng khá dễ dàng, đem lại hiệu quả điều trị cao.

Các ứng dụng khác

Hiện nay, nhiều tác giả đang đẩy ứng dụng của nội soi khớp vai đi xa hơn như trong điều trị trật khớp cùng đòn, giải phóng thần kinh trên vai bị kẹt, gãy ổ chảo xương bả vai, gãy mấu động ở chỏm xương cánh tay…

Tại Việt Nam, nội soi khớp vai tuy mới phát triển khoảng 3-4 năm lại đây nhưng đã có những bước tiến dài và gần như đã làm được hết các phẫu thuật kể trên. Một phần do các phẫu thuật viên được đào tạo tốt từ nước ngoài, lại được cập nhật kiến thức và tay nghề từ các buổi hội thảo với các chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên, số lượng bác sĩ thực hiện được phẫu thuật này và số cơ sở y tế thực hiện phẫu thuật này còn quá ít so với nhu cầu cần được điều trị của người dân. Hiện tại, các cơ sở đào tạo y khoa đang gấp rút lên kế hoạch đào tạo phẫu thuật viên để đáp ứng nhu cầu này, hy vọng sẽ có thêm nhiều bác sĩ phẫu thuật nội soi khớp vai.

BS. Tăng Hà Nam Anh
Theo SKĐS

Viêm tai giữa ứ dịch

Từ trước tới nay, mọi người luôn quan niệm rằng viêm tai giữa là phải có chảy mủ tai. Trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của thiết bị nội soi và máy đo nhĩ lượng, người ta đã phát hiện được ngày càng nhiều một loại viêm tai mà không hề có chảy mủ tai cũng như không có thủng màng nhĩ. Loại viêm tai này gọi là viêm tai giữa ứ dịch.

Viêm tai giữa ứ dịch là gì?

Viêm tai giữa ứ dịch (VTGƯD) là sự ứ dịch của tai giữa phía sau một màng tai không thủng, không có các triệu chứng viêm cấp. Dịch tai giữa có thể là thanh dịch, có thể là dịch nhầy, có thể là keo.

VTGƯD có thể dần dần tiến triển thành viêm tai giữa nguy hiểm, từ đó gây ra các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân. Vì vậy, tất cả các trường hợp VTGƯD cần phải được điều trị và theo dõi nhằm phục hồi lại sức nghe đồng thời ngăn ngừa các biến chứng và di chứng gây điếc nặng ở giai đoạn sau.

viem_tai_giua_u_dich_01

Cấu tạo tai giữa.

Nguyên nhân gây VTGƯD

Căn nguyên gây VTGƯD là đa yếu tố bao gồm nhiễm khuẩn, rối loạn chức năng vòi, dị ứng, giảm khả năng miễn  dịch và các yếu tố về xã hội và môi trường. Có lẽ yếu tố quan trọng nhất gây viêm tai giữa là do sự chưa trưởng thành về cấu trúc, chức năng của vòi nhĩ ở lứa tuổi và do sự chưa trưởng thành về hệ thống miễn dịch của chúng.

Những rối loạn chức năng vòi nhĩ có thể gây ra VTGƯD là tắc vòi hay sự mở vòi bất thường. Tắc vòi nhĩ có thể là chức năng hay cơ học hoặc do cả hai. Tắc vòi chức năng gây ra do vòi nhĩ xẹp kéo dài, do vòi nhĩ quá mềm, do cơ chế mở vòi không bình thường hoặc do cả hai. Tắc vòi thường gặp ở trẻ nhũ nhi và trẻ bé do sụn vòi mềm hơn làm cho hoạt động mở vòi khó khăn. Hơn nữa, dường như có sự khác nhau giữa đáy sọ mặt trẻ em và người lớn làm cho cơ căng màn hầu hoạt động kém hiệu quả hơn ở trẻ em.

Nhận diện VTGƯD

VTGƯD là một bệnh đa hình thái, có thể có nhiều dạng lâm sàng rất khác nhau. Thường gặp nhất, VTGƯD chỉ biểu hiện bằng nghe kém, không có các dấu hiệu khác về bệnh học tai. Do vậy, bệnh thường tiềm tàng và bị bỏ qua trong nhiều tháng, nhiều năm. Sự giảm thính lực đại đa số gặp cả hai tai ở trẻ em. Trái lại, ở người lớn thường gặp nhất là bị một bên.

Mức độ suy giảm thính lực rất thay đổi, trung bình khoảng 28dB ở tần số tiếng nói. Sự suy giảm thính lực 30dB hoặc hơn ở cả hai tai có thể gây ra những hậu quả đáng lo ngại về sự phát triển tiếng nói, về việc học tập. Trong dạng tiềm tàng những triệu chứng khác hiếm gặp: cảm giác đầy tai, ít gặp và chỉ thấy ở người lớn; một số bệnh nhân phàn nàn có cảm giác dịch chuyển chỗ trong tai hoặc sự thay đổi về mức độ điếc theo vị trí của đầu.

Bệnh nhân thường nghe rõ hơn khi nằm nghiêng sang bên tai lành; trong một số trường hợp có thể có chóng mặt; đau tai là triệu chứng hiếm gặp và thường thấy trong hoặc ngay sau giai đoạn viêm cấp. VTGƯD có thể làm nền cho những đợt bội nhiễm tai tái phát làm người ta nghĩ rằng đó là viêm tai giữa cấp tái phát thông thường.

Ngoài những đợt viêm cấp, bệnh có tính chất tiềm tàng. Vì vậy, trước tất cả các viêm tai giữa cấp tái phát cần phải thăm khám tỉ mỉ màng nhĩ, nhĩ lượng trong một thời gian dài sau viêm tai giữa cấp. Việc phát hiện ra VTGƯD cho phép chỉ định điều trị và tránh được những viêm tai giữa cấp tái phát.

Ngoài ra, để chẩn đoán chính xác, cần thực hiện thêm một số phương pháp cận lâm sàng như đo thính lực, đo nhĩ lượng (một xét nghiệm bắt buộc trong chẩn đoán VTGƯD).

Hậu quả do VTGƯD

VTGƯD kéo dài nếu không được điều trị hoặc có khi dù đã được điều trị sẽ tiến triển đến túi co kéo, xẹp nhĩ, VTGƯD với màng nhĩ xanh vô căn, xơ nhĩ, viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma… VTGƯD là hậu quả của viêm nhiễm đường hô hấp trên bởi vi khuẩn và virut, chủ yếu là hậu quả của viêm tai giữa cấp. 65 – 78% bệnh nhân bị VTGƯD có nhiễm khuẩn đường hô hấp trên trong những ngày trước đó.

viem_tai_giua_u_dich_02

Đo thính lực và đo nhĩ lượng giúp chẩn đoán viêm tai giữa ứ dịch.

Người bệnh VTGƯD cần được điều trị như thế nào?

Điều trị VTGƯD nhằm 3 mục đích: phục hồi lại thính lực; ngăn chặn sự tiến triển đến bệnh lý mạn tính không hồi phục như: viêm tai dính, xơ nhĩ, túi co kéo màng nhĩ hay xẹp nhĩ, cholesteatoma, viêm tai giữa mạn tính; ngăn ngừa các viêm tai giữa cấp tái phát và biến chứng. Để đạt những mục đích này, tùy thuộc vào tình trạng bệnh cụ thể mà người bệnh có thể được điều trị nội khoa hoặc ngoại khoa.

Các thuốc được sử dụng điều trị nội khoa bao gồm kháng sinh, kháng histamin, thuốc chống phù nề, thuốc nhỏ mũi, corticoid; bơm hơi vòi nhĩ (biện pháp này thường cho phép cải thiện thính lực ngay nhưng chỉ được một thời gian rất hạn chế, không quá 1 giờ).

Do vậy, để thực hiện sự thông khí hiệu quả cho tai giữa, cần phải nhắc lại thường xuyên nghiệm pháp này, đó không phải là việc dễ dàng và có thể gây chấn thương loa vòi khi dùng ống thông cứng Itard hoặc gây nhiễm khuẩn ngược dòng. Đối với điều trị ngoại khoa, người bệnh được tiến hành nạo VA; cắt amidan khi có viêm amidan và viêm mũi họng tái đi tái lại; đặt ống thông khí là giải pháp điều trị hiệu quả nhất hiện nay.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài An
(Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương)
Theo SKDS