Tag Archives: nội mạc tử cung

Ra huyết – Chuyện phòng the khó nói

Ra máu sau quan hệ tình dục bao giờ cũng làm cho phụ nữ lo lắng, sự cố này không nên coi thường có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân:

– Loạn sản tế bào cổ tử cung là tổn thương tiền ung thư ở lớp tế bào bề mặt cổ tử cung là nguy cơ cần quan tâm trước tiên: nguy cơ này tăng lên ở những phụ nữ có nhiều bạn tình, có quan hệ tình dục trước tuổi 18, sinh đẻ trước tuổi 16 hoặc có tiền sử bị các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Thường điều trị bằng phương pháp cắt đông lạnh (cryosurgery) hay khoét chóp.

ra_huyet_chuyen_phong_the_kho_noi

– Nhiễm khuẩn Chlamydia là bệnh lây truyền qua đường tình dục hay do tiếp xúc với tinh dịch, dịch âm đạo hay máu.

– Nhiễm lậu cầu khuẩn vẫn còn dễ xảy ra ở những người có hành vi tình dục không an toàn và ngày nay đã có nhiều loại thuốc để điều trị.

– Viêm âm đạo hay viêm cổ tử cung, thường gặp và điều trị tùy theo từng nguyên nhân.

– Pôlíp cổ tử cung: Là mô sùi phát triển từ lớp niêm mạc của cổ tử cung hay từ ống cổ tử cung và lồi ra ngoài, thường có hình như ngón tay, bề mặt nhẵn, màu đỏ hay hơi tím, rất dễ xây sát và cũng dễ xoắn để lấy đi mà không gây đau.

– Nhiễm ký sinh trùng roi trichomonas, là nguyên nhân gây viêm âm đạo. Mẹ bị bệnh có thể lây truyền cho con khi sinh ra theo đường âm đạo. Dù hiếm nhưng sự lây nhiễm bệnh có thể xảy ra khi phụ nữ dùng nước máy, tắm ở bể bơi, ngồi trên ghế bệt nhà vệ sinh.

– Nhiễm nấm âm đạo: Nấm bình thường vẫn có ở âm đạo nhưng lại phát triển quá nhiều gây ngứa, cảm giác nóng rát, dịch xuất tiết giống như bột trắng, không có mùi nếu như không bị bội nhiễm.

– Viêm màng trong tử cung hoặc viêm cơ – tuyến: Viêm màng trong tử cung được định nghĩa là tình trạng viêm ở lớp sâu nhất của tử cung, cả hai thể bệnh này hay gặp khi bị lạc nội mạc tử cung. Viêm cơ-tuyến xảy ra khi mô nội mạc phát triển ở ngay tử cung hoặc ở các cơ quan khác ngoài tử cung như buồng trứng.

– Pôlíp tử cung xảy ra khi lớp nội mạc tử cung quá phát triển và lồi vào buồng tử cung: Phụ nữ bị pôlíp tử cung hay bị rong huyết (chảy máu giữa 2 kỳ kinh), ngoài ra còn bị ra máu sau quan hệ tình dục, ra máu ít rải rác, ra kinh nhiều, ra máu khi đã mãn kinh, ra máu khi dùng liệu pháp hormon. Nạo buồng tử  cung có hướng dẫn bằng soi tử cung là cách điều trị thường được các thầy thuốc ưa làm vì nếu chỉ nong nạo như bình thường có thể bỏ sót pôlíp.

– U xơ tử cung: Thường là u lành, là khối rắn do mô xơ tạo nên, hiếm khi thành ung thư. Triệu chứng u xơ rất khác nhau, có phụ nữ không thể hiện triệu chứng gì. Đến tuổi mãn kinh, u xơ co lại và biến mất khi cơ thể không bài tiết estrogen nữa. Phụ nữ có u xơ tử cung không bao giờ nên dùng estrogen kể cả viên thuốc tránh thai vì estrogen làm cho u xơ phát triển. Hiện nay có nhiều cách điều trị u xơ tử cung từ bóc tách nhân xơ, làm tắc mạch máu nuôi u xơ cho đến phương pháp cắt tử cung truyền thống.

Chẩn đoán nguyên nhân chảy máu sau quan hệ tình dục thường là vấn đề phải loại trừ, do đó cần gặp thầy thuốc phụ khoa khi nhận thấy dấu hiệu bất thường.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Lạc nội mạc tử cung là bệnh gì?

Nội mạc tử cung là lớp lót bên trong tử cung, lớp này thường bong ra khi hành kinh và được tái tạo lại sau khi sạch kinh. Nội mạc tử cung đóng vai trò như một tấm nệm giúp thai nhi nằm ở đó. Lạc nội mạc tử cung là sự di chuyển của nội mạc tử dung đến một nơi khác ngoài buồng tử cung. Hiện tượng này xảy ra là do máu kinh có lẫn những mảng nội mạc tử cung bong ra khi hành kinh chảy ngược trở lại, chúng có thể đi vào khoang bụng, bàng quang, trực tràng và có thể di chuyển đến buồng trứng. Tại những nơi này, nội mạc tử cung vẫn chịu ảnh hưởng của nội tiết tố sinh dục và tiếp tục phát triển.

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi

Nguyên nhân

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi_02

Nguyên nhân chính gây LNMTC vẫn chưa được biết rõ.

Cho đến nay, giới chuyên môn vẫn chưa thực sự hiểu rõ cơ chế gây lạc nội mạc tử cung, nhưng có 3 giả thiết về nguyên nhân gây bệnh.

Giả thiết thứ nhất cho rằng lạc nội mạc tử cung là do hiện tượng hành kinh ngược chiều, máu kinh chảy ngược qua vòi tử cung vào ổ bụng. Các mảnh nội mạc tử cung tiếp tục bám vào các cơ quan khác trong ổ bụng và gây nên chứng lạc nội mạc tử cung. Tất cả những yếu tố làm máu kinh chảy ngược đều có thể là nguyên nhân gây bệnh. Ở các bé gái phụ nữ chưa quan hệ, có thể là do cổ tử cung lẽ ra phải hé mỡ để máu kinh ra ngoài, nhưng lại đóng kín khiến máu kinh chảy ngược. Đối với các phụ nữ đã có chồng, nguyên nhân có thể là do quan hệ trong ngày hành kinh khiến máu kinh bị đẩy ngược vào trong.

Giả thiết thứ 2 cho rằng nguyên nhân gây bậnh là các tế bào phôi còn tồn tại biệt hóa thành tổ chức của ống Muller.

Giả thiết thứ 3 là do tắc nghẽn bạch mạch hay nghẽn mạch khi di chuyển. Trong trường hợp này, có một số yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc bệnh lạc nội mạc tử cung như tắc nghẽn đường sinh dục bẩm sinh, đặt vòng tránh thai…

Triệu chứng

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi_03

Đau bụng dữ dội trước và sau khi hành kinh là một trong những triệu chứng của LNMTC.

Khi nội mạc tử cung phát triển trở lại sau khi hành kinh thì những mảnh nội mạc tử cung đi lạc cũng to ra, trương lên và chứa đầy máu, đây là nguyên nhân gây đau trước ngày hành kinh. Khi nội mạc tử cung chảy máu, các mảnh lạc này cũng chảy máu mà không có đường thoát ra, việc này khiến bạn cảm thấy đau dữ dội trong những ngày hành kinh. Máu ứ sẽ tạo thành một môi trường lí tưởng cho các vi khuẩn gây viêm nhiễm phát triển và gây dính các cơ quan này. Khi hết kinh, các mảnh lạc này tạo thành những mô sẹo, và đến chu kì kinh tiếp theo thì tình trạng cũ lại tái phát. Số lượng các mô lạc không có đường ra nên chỉ tăng lên chứ không giảm đi.

LNMTC là căn bệnh thường hay gặp ở người trẻ, bệnh thường gây đau vùng bụng dưới, đau khi giao hợp, đau trước và sau khi hành kinh. Ngoài ra nhhững người bị LNMTC còn có thể gặp phải các vấn đề về tiêu hóa.

Điều trị

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi_04

Ảnh minh họa.

Trong trường hợp bệnh nhẹ và trung bình, nếu người bệnh vẫn mong muốn có con thì bác sĩ có thể cho dùng thuốc. Trong các trường hợp bệnh nặng, việc điều trị bằng thuốc không khả quan, người bệnh có thể phải phẫu thuật để cắt bỏ các mảnh nội mạc đi lạc, thậm chí có trường hợp sẽ phải cắt bỏ toàn bộ tử cung và buồng trứng.

Thuốc điều trị LNMTC đều là các loại thuốc nội tiết nhằm làm giảm sự phát triển của các mảnh nội mạc. Và khi các mảnh nội mạc lạc bị ức chế phát triển thì cả lớp nội mạc trong tử cung cũng bị ảnh hưởng nên có thể dẫn đến hiếm muộn, thậm chí vô sinh. Vì vậy việc dùng thuốc phải hết sức thận trong và có sự chỉ định của bác sĩ.

Theo Khỏe mỗi ngày

Giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, buồng trứng bằng đậu nành

Theo kết quả nghiên cứu mới đây, những phụ nữ ăn nhiều thực phẩm nguồn gốc đậu nành sẽ giảm nguy cơ bị ung thư buồng trứng và nội mạc tử cung.

Người ta đã biết, ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng tác động bởi các hormon như estrogen. Trong khi một số hợp chất trong đậu nành có tác động như estrogen liên quan tới tỷ lệ ung thư vú cao thì nghiên cứu này cho thấy chúng giúp làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng.

dau_nanh_giam_ung_thu

Tiến sĩ Kwon Myung và cộng sự thuộc Trung tâm ung thư Quốc gia (Hàn Quốc) đã phân tích 7 nghiên cứu gồm hơn 169.000 phụ nữ, trong đó 3.516 người bị 1 trong 2 ung thư. Hầu hết các nghiên cứu này đánh giá mức độ ăn đậu nành hoặc chế phẩm từ đậu nành như sữa đậu nành, protein đậu nành. Kết quả, tỷ lệ bị ung thư giảm 40% ở nhóm phụ nữ ăn nhiều nhất những thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành.

Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, cần nghiên cứu thêm để xác định hàm lượng tối ưu thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống – Đức Trọng
(Theo International Journal of Obstetrics and Gynaecology, 12/2009)

Tìm hiểu bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung đứng thứ 12 trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ và đứng thứ 3 trong các loại ung thư bộ phận sinh dục nữ, sau ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng. Đa số trường hợp ung thư nội mạc tử cung xảy ra ở bệnh nhân trên 50 tuổi. Ngày nay tuổi thọ của phụ nữ tăng lên, nên ung thư nội mạc tử cung cũng gia tăng theo tuổi. Dưới đây là những điều cần biết về ng thư cổ tử cung.

roi-loan-kinh-nguyet-1_0

Triệu chứng thường gặp của ung thư nội mạc tử cung

Ở giai đoạn sớm, có triệu chứng ra dịch âm đạo bất thường như huyết trắng hay ra máu ngoài kỳ kinh. Ở giai đoạn trễ: xuất huyết âm đạo dai dẳng hay ra dịch hôi, đau tức vùng hạ vị (do tử cung ứ dịch), tiểu khó, đi tiêu khó (do tử cung chèn ép bàng quang và trực tràng). Muộn hơn có thể gây dò bàng quang – âm đạo, hoặc trực tràng – âm đạo hoặc dò bàng bàng quang – âm đạo – trực tràng.

Phần lớn ung thư xuất phát từ những tuyến của nội mạc, khởi đầu có dạng như những chồi, polyp trong lòng tử cung, bề mặt bướu có phần hoại tử và xuất huyết gây chảy máu âm đạo đến 90% các trường hợp.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp chảy máu âm đạo bất thường đều có nguyên nhân từ ung thư nội mạc tử cung. Nhưng người bệnh cũng không nên chủ quan bỏ qua triệu chứng này, khi có xuất huyết âm đạo ở tuổi mãn kinh hay chảy máu ngoài chu kỳ kinh, nên đi khám chuyên khoa để được khám và làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Các xét nghiệm náo có thể chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung

Chỉ 1/3 số trường hợp xuất huyết âm đạo là do ung thư nội mạc tử cung, 1/3 do nguyên nhân lành tính và 1/3 là không rõ nguyên do. Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Hình ảnh học: siêu âm, CT scanner, cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện những bất thường trong lòng tử cung (dầy nội mạc tử cung, sang thương nội mạc tử cung, hay ứ dịch trong lòng tử cung…).

Giải phẫu bệnh: nạo sinh thiết lòng tử cung trước khi điều trị để biết tuýp mô học và mức độ biệt hóa của tế bào ung thư.

Xét nghiệm thụ thể: estrogen (ER) và thụ thể progesteron (PR) giúp hướng dẫn điều trị nội tiết sau mổ. Nếu ER (+) và PR (+) thì sẽ điều trị nội tiết sau mổ (dùng progesteron dạng uống  hoặc chích) và tiên lượng tốt hơn.
Phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

Giai đoạn sớm:

Ung thư còn khu trú tại nhân tử cung, mổ cắt tử cung và hai phần phụ, có thể nạp hạch chậu hai bên hoặc không, nếu hạch chậu có di căn thì xạ trị thêm.

Giai đoạn muộn:

Ung thư xâm lấn ra khỏi tử cung, ăn lan các xơ lân cận như bàng quang, trực tràng, ruột, vạch hậu… Nếu còn cắt được tử cung thì phẩu thuật, sau đó xạ trị và hóa trị. Nếu không cắt được tử cung thì xạ trị và hóa trị.

Theo Bác sĩ Phạm Văn Bùng – Thuốc & SK