Tag Archives: niệu đạo

Dị tật thận – niệu quản đôi ở trẻ

Bệnh nhân thận – niệu quản đôi có thể bình thường hoặc gầy sút, mệt mỏi, đôi khi phù nhẹ toàn thân. Để xác định bệnh, ngoài khám lâm sàng, người bệnh cần được xét nghiệm máu, nước tiểu, siêu âm, chụp X-quang thận – niệu quản và bàng quang.

Thận – niệu quản đôi có thể bị cả hai bên (tức là bệnh nhân có bốn thận) hoặc chỉ một bên (có ba thận). Cặp thận đôi gắn vào nhau thành một khối nhưng vẫn có ranh giới. Thận ở trên là phụ nên thường nhỏ hơn thận chính nằm dưới. Hai niệu quản của thận đôi thường tách rời nhau và đổ vào bàng quang. Có trường hợp chỉ niệu quản của thận chính đổ vào bàng quang còn niệu quản kia đổ ra ngoài, gây nên hiện tượng đái rỉ.

Có khi cả hai niệu quản đều đổ vào bàng quang nhưng không đúng vị trí. Lỗ niệu quản trên thường đổ vào vị trí cao hơn bình thường và lỗ niệu quản dưới ở vị trí thấp (gần cổ bàng quang, ngay dưới cổ bàng quang, niệu đạo; ở nữ thì đổ ra ngoài niệu đạo, thậm chí âm đạo).

di-tat-than

Lỗ niệu quản của thận phụ có thể có kích thước bình thường hoặc bị chít hẹp, tạo thành túi sa niệu quản, gây giãn đoạn niệu quản phía bên trên, ứ đọng nước tiểu và nhiễm trùng, dẫn đến viêm và suy thận.
Lỗ niệu quản của thận chính do nằm ở vị trí cao nên có thể mở rộng và bị nước tiểu trào ngược lên thường xuyên, gây giãn niệu quản và nhiễm trùng nước tiểu.

Các biểu hiện của thận – niệu quản đôi

– Nhiễm trùng đường tiết niệu: Là trường hợp hay gặp. Bệnh nhân có thể sốt nóng rồi rét run, nhiệt độ có khi lên tới 39-40 độ C; nước tiểu đục.

– Đái rỉ: Ngoài những lần tiểu thành bãi bình thường, nước tiểu cứ rỉ ra liên tục từ lỗ niệu. Ở trẻ gái, nước tiểu rỉ ra từ chỗ cạnh lỗ niệu hay từ âm đạo. Tình trạng này gây ra sự ẩm ướt và mùi khai khó chịu. Ở trẻ nhỏ, nước tiểu gây hăm, loét vùng sinh dục ngoài và bẹn.

– Tiểu khó hoặc không tiểu được: Bệnh nhân rất khó chịu và đau tức. Ở trẻ gái, có thể thấy một khối tròn nhỏ chui ra từ lỗ tiểu, bịt kín lỗ này.

– Bàng quang căng to: Nhìn vùng dưới rốn thấy có một khối nổi lên, nắn vào thì bệnh nhân rất đau tức và muốn tiểu, nhưng không tiểu được.

– Thận – niệu quản giãn căng: Nhìn thấy một bên mạn sườn căng phồng, to hơn bên đối diện. Nắn thấy một khối u mềm, căng.

Bệnh nhân thận – niệu quản đôi có thể bình thường hoặc gầy sút, mệt mỏi, đôi khi phù nhẹ toàn thân. Để xác định bệnh, ngoài khám lâm sàng, người bệnh cần được xét nghiệm máu, nước tiểu, siêu âm, chụp X-quang thận – niệu quản và bàng quang.

Tùy theo chức năng của thận đôi, bác sĩ sẽ chọn cách xử trí như: bảo vệ thận đôi bằng cách chỉ mở túi sa niệu quản; nối lại niệu quản của thận phụ vào bàng quang; cắt bỏ đi thận và niệu quản phụ.

TS. Trần Ngọc Bích
Theo sức Khoẻ & Đời Sống

Sự khác biệt về bệnh lậu giữa nam và nữ

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo nên mức độ phức tạp của bệnh lậu cũng khác nhau.

Bệnh lậu được biết từ lâu, nhưng mãi đến năm 1897 mới được Neisser tìm ra, có tên khoa học là Neisseria Gonorrhoeae. Đây là bệnh cần được điều trị càng sớm càng tốt.

Vi khuẩn lậu có hình hạt cà phê xếp thành từng cặp nên còn gọi là song cầu, có chiều dài 1,6µm, rộng 0,8µm. Trên kính hiển vi, vi khuẩn bắt màu gram âm.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Lậu cầu rất yếu khi ra ngoài cơ thể, và chết nhanh ở nhiệt độ thường; ngược lại sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ thể, cho nên giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu. Tuy nhiên, lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng chung.

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo. Niệu đạo của nữ giới tương đối ngắn so với nam giới, khoảng 3cm, vì vậy bệnh lậu ít rầm rộ hơn, có nhiều tuyến quanh niệu đạo là nơi ẩn náu của vi khuẩn như tuyến Skène, tuyến Bartholine ở 1/3 trước của môi lớn và môi bé.

Niệu đạo của nam giới chia làm 2 phần gồm niệu đạo trước và niệu đạo sau, được ngăn cách bởi cơ thắt niệu đạo, có chiều dài từ 14 – 16cm; niệu đạo trước có nhiều hang, là nơi trú ẩn của lậu cầu; niệu đạo sau càng phức tạp hơn cũng có nhiều ngóc ngách, xuyên qua tuyến tiền liệt, thông với túi tinh, ống dẫn tinh, mào tinh và tinh hoàn. Ngoài ra, còn có tuyến Morgagni và tuyến Littr cũng thuận lợi cho lậu cầu sinh sôi và phát triển.

Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niêm mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhân đến để thực bào, từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, lậu cầu tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó.

Về triệu chứng, bệnh lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam giới dài, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm rộ, còn ở nữ thì âm thầm dễ bỏ qua, vì thế là nguồn lây nhiễm rất đáng quan tâm. Thời gian ủ bệnh trung bình 3-5 ngày, nhưng có thể kéo dài 2-3 tuần.

Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng, triệu chứng thường âm thầm, không rõ. Theo thống kê, có khoảng 97% số ca bệnh không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, khó chịu, nếu không điều trị bệnh sẽ đi vào giai đoạn mãn tính không có biểu hiện gì đặc biệt, mà thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng như viêm tuyến Bartholin, tuyến Skene, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm bàng quang, viêm vùng chậu, viêm trực tràng. Viêm ống dẫn trứng có thể dày dính, gây thai ngoài tử cung, hoặc tắc tai vòi gây vô sinh.

Về điều trị, lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần do đó lan nhanh.Vì vậy, cần điều trị càng sớm càng tốt, điều trị đúng thuốc – đủ liều; điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý. Thuốc hiện nay được chọn ưu tiên là spectinomycine với tên biệt dược là Trobicin hay Kirin, 4g – tiêm bắp một liều duy nhất; trường hợp bệnh mãn tính, tiêm liên tiếp 2 ngày, với nữ giới thì dùng liều gấp đôi nam giới.

Nếu không tiện tiêm thuốc có thể chọn giải pháp uống nhưng thường tỉ lệ thành công sẽ thấp hơn, thuốc thường dùng azithromycin (Zithromax) 250mg x 4 viên uống liều duy nhất. Nếu điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm hơn sau 48 – 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.

Về phòng bệnh, cho đến hôm nay, dùng bao cao su được xem như là phương tiện duy nhất để phòng bệnh lậu, tuy nhiên đó chưa phải là phương pháp đảm bảo tuyệt đối.

Nguồn giáo dục

Những cách phòng và “ngừa” U nang buồng trứng

Chiếm tỷ lệ gần 80% các khối u buồng trứng, u nang buồng trứng có thể gặp ở mọi phụ nữ, ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời. Bệnh thường “đánh lừa” chị em bằng các triệu trứng mơ hồ nên nếu không được chữa trị kịp thời, khối u có thể biến thành ung thư buồng trứng gây ảnh hưởng tới khả năng có con, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng người phụ nữ.

Ai cũng có thể là “nạn nhân” của U nang buồng trứng

Theo đúng giấy hẹn, chị Trần Thị Minh (Từ Sơn – Bắc Ninh) đi khám thai định kỳ ở tháng thứ 3, thời gian khám kéo dài hơn mọi lần bởi chị phải làm thêm một số xét nghiệm. Linh tính có chuyện chẳng lành, chị Minh bàng hoàng khi được thông báo bị u nang buồng trứng. Dù được bác sỹ trấn an là khối u lành tính và mới chớm bị nhưng chị Minh vẫn không khỏi lo lắng bởi chị đang ở giai đoạn thai kỳ nên sẽ dễ đến những biến chứng khó lường cho cả thai phụ và thai nhi. Nguy hiểm hơn, chị cũng có thể đối mặt với việc sẩy thai, xuất huyết âm đạo, sinh non, băng huyết hoặc sót nhau sau sinh.
u-nang-buong-trung
Là sinh viên năm 2 của một trường ĐH ở Hà Nội, chị Trần Thanh Phương (Đan Phượng – Hà Nội) thời gian này bỗng xuất hiện những cơn đau âm ỉ bên hố chậu và trong những ngày kinh nguyệt. Kết quả kiểm tra cho thấy buồng trứng phải của chị xuất hiện khối u nang. Tai chị Phương như ù đi khi hay tin dữ. Chị Phương bảo từ trước đến giờ mình rất khỏe mạnh, lại chưa từng quan hệ tình dục bao giờ, làm sao lại bị u nang buồng trứng được.

U nang buồng trứng được hình thành bên trong buồng trứng và là bao nang chứa đầy dịch. Bệnh không trừ một ai bao gồm cả những phụ nữ đã từng hoặc chưa từng có quan hệ tình dục, đã có gia đình hay còn độc thân. Tuy nhiên, u nang buồng trứng vẫn thường gặp nhất ở chị em trong độ tuổi sinh sản. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Phó giám đốc Bệnh viện K: “Khối u phụ khoa gặp rất nhiều ở chị em phụ nữ Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Đặc biệt, rất nhiều phụ nữ trẻ hiện nay đã có khối u ở buồng trứng, có thể u nang, có thể u đặc, có thể u ác tính ở buồng trứng”.
U nang buồng trứng được chia làm 2 loại là: u cơ năng và u thực thể. U cơ năng thường do rối loạn chức năng của buồng trứng gây ra, nó có thể tự mất đi sau một thời gian mà không cần bất cứ phương pháp điều trị nào. Đối với những khối u nang buồng trứng thực thể thì phương pháp điều trị hiệu quả nhất là phẫu thuật bóc tách và cắt bỏ. Nếu không được điều trị kịp thời các khối u này sẽ biến chứng: “xoắn” hoặc “khoá”.

Cũng giống như nhiều bệnh phụ khoa khác, u nang buồng trứng có các triệu chứng rất mơ hồ, khó phán đoán. Người bệnh vẫn có cuộc sống bình thường, vẫn có hành kinh và sinh đẻ bình thường. Đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng hay khi khám phụ khoa định kỳ.

90% u nang buồng trứng là u lành nhưng cũng có tới 10% là ác tính. Nếu không kịp thời chữa trị có thể chuyển sang ung thư buồng trứng, đe dọa rất lớn đến khả năng phát triển và rụng trứng, gây khó khăn trong quá trình thụ thai và có con của chị em.

Ngoài ra, u nang buồng trứng còn có thể dẫn đến biến chứng xoắn u gây đau quặn bụng cấp tính, vỡ u, chèn ép gây rối loạn tiêu hoá, đường tiết niệu, dẫn tới suy thận hoặc thành u ác tính.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, lạm dụng quá nhiều thuốc, làm việc quá sức, stress, tình trạng béo phì cùng chế độ ăn uống mất cân bằng là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng u nang buồng trứng ở chị em.

Khám phụ khoa định kỳ hàng năm hoặc 6 tháng/lần là một trong những cách tốt nhất để chị em kịp thời phát hiện và điều trị sớm u nang buồng trứng. Bởi u nang buồng trứng càng được phát hiện sớm thì càng ít có nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng làm mẹ của người phụ nữ.
Bên cạnh đó, chị em cần có chế độ ăn uống sinh hoạt khoa học, điều chỉnh cân nặng phù hợp, tránh hút thuốc và bổ sung thêm các sản phẩm thảo dược có nguồn gốc thiên nhiên để ngăn chặn sự “hoành hành” của u nang buồng trứng. Khi phát hiện u nang buồng trứng, chị em cần điều trị ngay nhằm hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Nguồn gia đình

Nữ giới nhịn tiểu gây ra vô sinh

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

nhin-tieu

Nếu thường xuyên nhịn tiểu, tử cung đổ về phía sau rất khó trở lại vị trí cũ. Khi bàng quang chèn ép tử cung nhiều, ép vào dây thần kinh ở trước xương cùng, làm cho phần xương cùng đau nhức, nặng sẽ gây ra vô sinh.

Nhịn tiểu gây ra tiểu dắt

Không có 2 vòng cơ thắt bằng cơ vân như nam giới, phụ nữ chỉ có 1 vòng cơ thắt do đó nếu thời gian dài nhịn tiểu, cơ vòng sẽ mệt mỏi, nhão, từ đó dẫn đến tiểu dắt; lâu dài gây lão hóa, dễ viêm nhiễm hệ tiết niệu.

Ngoài ra, do kết cấu các bộ phận trong bàng quang của nữ khá phức tạp, hệ thống tiết niệu dễ bị vi khuẩn xâm hại hơn nam giới. Nhịn tiểu không chỉ ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang, gây viêm nhiễm đường niệu đạo mà còn gây tiểu nhiều, tiểu ra máu, tiểu khó, tiểu buốt và cả bụng dưới khó chịu vv.

Thường ngày chú ý uống nhiều nước, đi tiểu nhiều

Chuyên gia đặc biệt khuyến cáo phụ nữ không nên chờ khát mới uống nước, đặc biệt là những người vận động nhiều.

Nên chú ý ăn nhạt, thanh đạm, ít dầu mỡ. Nếu ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ hoặc ăn mặn, nên uống nhiều nước hơn thường ngày. Trời lạnh nên uống nước ấm, trước khi ngủ và sau khi thức dậy nên uống 2 cốc nước lọc, trời lạnh cũng nên uống để giúp cho nước tiểu kịp thời đẩy ra ngoài, tránh vi khuẩn ở trong đường tiết niệu phát triển.

Theo Dân trí

Những điều cần biết về viêm niệu đạo ở nam giới

Nguyên nhân gây viêm niệu đạo

– Niệu đạo là một ống nối bàng quang ra bên ngoài cơ thể. Cả nước tiểu và tinh dịch đều đi qua niệu đạo.

– Viêm niệu đạo là: hiện tượng niệu đạo bị sưng viêm có thể do các nguyên nhân sau :

+ Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh lậu và nhiễm khuẩn chlamydia gây ra phần lớn các trường hợp viêm niệu đạo nhiễm trùng. Các loại virus gây mụn rộp và các nhiễm trùng khác lây truyền trong quá trình hoạt động tình dục cũng có thể gây ra viêm niệu đạo.

nhung-dieu-can-biet-ve-viem-nieu-dao-o-nam-gioi

+ Sự kích thích với hóa chất như tiếp xúc với xà phòng, lotion và nước hoa có thể gây ra cơn đau tạm thời trong niệu đạo. Chất diệt tinh trùng trong bao cao su và thuốc mỡ, kem hoặc bọt tránh thai cũng có thể gây ra kích ứng.

+ Thao tác cơ học của dương vật hay chấn thương nhẹ có thể dẫn đến viêm niệu đạo. Tiến trình y tế, sự ma sát vào quần áo thô, cũng như hoạt động tình dục mạnh mẽ hoặc thủ dâm cũng có thể gây ra kích thích tạm thời của niệu đạo.

+ Đôi khi xuất tinh cũng có thể gây ra một cảm giác tạm thời tương tự như viêm niệu đạo. Điều này thường tự biến mất trong một thời gian ngắn mà không cần bất kỳ điều trị nào.

+ Viêm niệu đạo mãn tính (khi căn bệnh kéo dài vài tuần hoặc vài tháng hoặc biến mất và trở lại) có thể do vi khuẩn gây ra. Nhưng cũng có thể là do sự thu hẹp của chính bản thân ống niệu đạo.

Triệu chứng và dấu hiệu viêm niệu đạo ở nam giới :

Cảm giác bỏng rát và đau khi đi tiểu là triệu chứng cổ điển của viêm niệu đạo. Bạn cũng có thể cảm giác muốn đi tiểu nhiều hơn bình thường. Các triệu chứng khác có thể bao gồm ngứa, đau hoặc sưng ở dương vật, đau khi giao hợp hoặc có máu trong nước tiểu hoặc tinh dịch.

Một số bệnh nhiễm trùng cũng có thể được kết hợp với dịch tiết ra từ dương vật. Loét đau ở bộ phận sinh dục có thể có sự hiện diện của mụn rộp viêm niệu đạo, một căn bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.

Viêm niệu đạo đơn giản không gây sốt hoặc bệnh tật nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu bệnh lây lan đến các cơ quan khác trong đường sinh dục hoặc đường tiểu hoặc đường máu, nó có thể có các dấu hiệu sau đây: Đau lưng, đau bụng, sốt cao, buồn nôn, nôn mửa, sưng khớp và các triệu chứng bệnh khác khắp cơ thể.

Khám,và điều trị viêm niệu đạo:

Nhiễm trùng gây ra hầu hết các trường hợp viêm niệu đạo. Có nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Đôi khi bạn sẽ được tiêm kháng sinh. Thời gian điều trị khoảng từ một đến 14 ngày.

Trong trường hợp nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, thuốc kháng sinh sẽ được sử dụng thường xuyên, và cần phải điều trị cả 2 người mới mong sớm khỏi bệnh. Các chuyên gia phòng khám chúng tôi khuyên bạn không nên quan hệ tình dục hoặc nếu có quan hệ nên sử dụng bao cao su cho đến khi đã điều trị khỏi hẳn.

Theo báo sức khỏe

Hẹp niệu đạo ở nam giới

Hẹp niệu đạo là một bệnh lý niệu khoa thường gặp, bệnh biểu hiện sau một viêm nhiễm hay sau một chấn thương hệ niệu. Cần hiểu rõ căn nguyên bệnh để có hướng xử trí kịp thời nhằm tránh những biến chứng.

Cấu trúc niệu đạo nam giới

Niệu đạo được chia ra 2 phần: niệu đạo trước và niệu đạo sau. Niệu đạo trước có chiều dài 12 – 15cm, được bao bọc bởi vật xốp, gồm phần cố định hay còn gọi là niệu đạo hành và phần di động gọi là niệu đạo dương vật. Niệu đạo sau có chiều dài 4,5 – 5cm, gồm niệu đạo màng đi qua cân đáy chậu và niệu đạo tiền liệt tuyến. Đường kính niệu đạo trung bình 4 – 6mm, khi nong giãn độ 8 – 10 mm, niệu đạo không phải là một ống tròn đều xuyên suốt mà có những chỗ hẹp và chỗ rộng.

Hẹp niệu đạo xảy ra như thế nào?
hep-nieu-dao-o-nam-gioi
Hẹp niệu đạo thường là hậu quả sau đợt viêm nhiễm niệu đạo, xuất phát từ các ổ trong tuyến littre do vi khuẩn lậu cầu trú ẩn và gây bệnh, lâu ngày gây xơ sẹo làm chít hẹp niệu đạo nhiều chỗ; do nhiễm khuẩn bao quy đầu thường xảy ra sự lây chéo sau giao hợp, làm chít hẹp và có thể lan tới tiền liệt tuyến và niệu đạo hành; do bệnh lý toàn thân tổn thương của lao thận, lao bàng quang rồi lan đến lao niệu đạo. Hẹp niệu đạo còn do di chứng của chấn thương niệu đạo; sau những thủ thuật lấy sỏi niệu đạo làm tổn thương niêm mạc niệu đạo, sau mổ cắt u xơ tiền liệt tuyến.

Các biểu hiện hẹp niệu đạo

Sau đợt điều trị viêm nhiễm hay sau chấn thương, người bệnh than phiền đi tiểu khó, lúc tiểu tia nước tiểu yếu dần, xoắn tia và nhỏ giọt. Thời gian đi tiểu lâu hơn 30 giây đến 1 phút, cảm giác còn muốn đi tiểu nữa, kích thích rặn nhiều trong lúc tiểu.

Trường hợp bí tiểu thật sự, khi có kèm bội nhiễm hay sỏi kẹt làm chít hẹp hoàn toàn niệu đạo làm người bệnh rất khó chịu, căng trướng bàng quang, vật vã cần tiểu liền.

Thăm khám niệu đạo, phát hiện tổn thương như chít hẹp bao quy đầu, phát hiện những đoạn, cục xơ cứng niệu đạo khi nắn niệu đạo từ đầu đến gốc dương vật. Khi đặt ống sonde tiểu bằng ống sonde Nelaton 18 thì không qua được niệu đạo.

Diễn tiến và biến chứng

Sau khi bị hẹp niệu đạo, người bệnh vẫn chịu đựng, cố gắng đi tiểu theo đường tự nhiên trong một thời gian, tùy theo mức độ tổn thương, tiến triển đến hẹp hoàn toàn. Sự chịu đựng, cố gắng tiểu tự nhiên dần dần đưa đến biến chứng. Ứ đọng nước tiểu bàng quang gây nhiễm khuẩn ngược dòng lên niệu quản, thận. Do ứ trệ lâu ngày không có lối thoát, gây rò rỉ ra da tại vị trí tầng sinh môn hay vùng da bìu và ứ đọng kèm nhiễm khuẩn tạo thành ổ áp xe hình tổ ong, gây hình thành túi thừa bàng quang và lâu dài biến chứng suy thận.

Phân biệt các bệnh khác

Bệnh hẹp cổ bàng quang do viêm xơ cổ bàng quang: gặp trong trường hợp sau mổ u xơ tiền liệt tuyến. Người bệnh có triệu chứng khó đi tiểu, khi đặt sonde tiểu, ống thông dừng lại trước cổ bàng quang, chụp niệu đạo có cản quang, trên hình ảnh X-quang không thấy thuốc cản quang vào được bàng quang.

– U xơ tiền liệt tuyến: người bệnh tiểu khó, tiểu rắt, đang tiểu ngắt giữa dòng, dòng tiểu giảm đột ngột, khi khám thăm trực tràng sờ được khối u. Bệnh này thường gặp ở người già.

Xử trí hẹp niệu đạo

Tùy theo mức độ tổn thương, vị trí của bệnh mà ta có cách xử trí khác nhau. Trường hợp hẹp niệu đạo có viêm nhiễm tiến triển thành áp-xe, rò nước tiểu và bí đái cấp tính, phải mở thông bàng quang dẫn lưu nước tiểu ra da, điều trị hết viêm nhiễm bằng kháng sinh đồ hay kháng sinh liều cao, toàn thân như augmentin, ceftriaxon, tobramycin. Trường hợp do lao phải điều trị đặc hiệu.

Điều trị căn nguyên: nong niệu đạo, đây là phương pháp vẫn được áp dụng để nong niệu đạo và đặt ống sonde nong que nhỏ được dùng để dẫn đường qua chỗ hẹp chít rồi tiến hành nong rộng. Hiện nay có nhiều phương pháp nong bằng ống sonde có bóng chèn tại chỗ hẹp niệu đạo.

Phẫu thuật điều trị hẹp niệu đạo nhằm tái tạo niệu đạo. Trải qua năm tháng, các phương pháp phẫu thuật không ngừng được cải tiến, giúp khả năng tạo hình ống niệu đạo trở về đúng sinh lý ban đầu, nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Nguồn sk&đs

Chấn thương niệu đạo

Niệu đạo trước bao gồm niệu đạo dương vật và niệu đạo hành, bắt đầu từ miệng sáo đến cân đáy chậu. Toàn bộ chiều dài của niệu đạo trước được bao bọc bởi thể xốp.

Niệu đạo sau bao gồm niệu đạo màng và niệu đạo tiền liệt tuyến, bắt đầu từ cân đáy chậu đến cổ bàng quang. Niệu đạo màng được bao quanh bởi cơ thắt vân niệu đạo còn niệu đạo tiền liệt tuyến đươc bao bọc bởi tiền liệt tuyến

chan_thuong_nieu_dao

Cân Buck bao quanh thể hang và thể xốp, một đầu gắn vào mặt dưới của qui đầu ở rãnh vành, đầu còn lại bao lấy hai trụ của thể hang và phần hành của thể xốp. Khi vỡ niệu đạo trước, nếu cân Buck còn nguyên vẹn thì nước tiểu và máu thoát ra chỉ làm phù nề và bầm tím dương vật mà thôi.

Cân Colles che phủ cân đáy chậu nông, hai bên gắn vào ụ ngồi, ngành dưới xương mu và cân nông của đùi. Phía trước cân Colles liên tục với cân Dartos của bìu và cân Scarpa của thành bụng. Khi cân Buck bị phá vỡ, máu và nước tiểu lan ra nằm trong cân Colles tạo ra hình cánh bướm, đôi khi có thể lan dọc ra thành bụng trước.

Các nguyên nhân thường gặp của vỡ niệu đạo trước? Chấn thương vùng đáy chậu là nguyên nhân thường gặp nhất gây vỡ niệu đạo trước. Các nguyên nhân khác bao gồm: vết thương niệu đạo do hoả khí hoặc do dao đâm, chấn thương niệu đạo sau các thủ thuật niệu khoa, chấn thương niệu đạo đi kèm với gãy dương vật

Nguyên nhân thường gặp của vỡ niệu đạo sau?- Ða số là do gãy khung chậu do tai nạn, thường nhất là tai nạn giao thông.

Các dấu hiệu gợi ý đến vỡ niệu đạo?- Tất cả các bệnh nhân có bệnh sử chấn thương vùng hội âm, đặc biệt nếu có gãy khung chậu, phải luôn luôn lưu ý đến tình trạng vỡ niệu đạo kèm theo. Hai dấu hiệu thường gặp nhất là ra máu ở lổ sáo và bệnh nhân không đi tiểu được. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có đủ hai dấu hiệu này. Những trường hợp chấn thương niệu đạo nặng có thể có mảng máu tụ lan rộng ở dương vật và / hoặc đáy chậu..?

Khi gãy khung chậu có vỡ niệu đạo sau, thăm khám trực tràng sẽ thầy gì? – Có thể thấy được tiền liệt tuyến bị đẩy lên cao do khối máu tụ ở vùng chậu. Trong những trường hợp vỡ niệu đạo sau phức tạp, có thể sờ được chỗ rách ở mặt trước trực tràng, qua chỗ rách này có thể sờ thấy mảnh xương gãy. Khi rút tay, có máu dính theo găng tay.

Cần làm gì khi nghi ngờ có vỡ niệu đạo? – Nếu các dấu hiệu lâm sàng gợi ý có vỡ niệu đạo, tuyệt đối không được đặt thông vào niệu đạo vì sẽ làm cho thương tổn niệu đạo càng nặng nề hơn. Việc cần làm là phải mở bàng quang ra da để chuyển lưu nước tiểu. Chỉ tiến hành chụp niệu đạo- bàng quang ngược chiều có cản quang khi các thương tổn niệu đạo đã ổ định và sẽ chụp trong vòng 24 giờ trước khi tiến hành phẫu thuật tái tạo niệu đạo.

Ðiều trị vỡ niệo đạo trước? – Xử trí ban đầu của một trường hợp vỡ niệu đạo trước, dù vỡ hoàn toàn hay vỡ không hoàn toàn bao giờ cũng là chuyển lưu nước tiểu bằng cách mở bàng quang ra da trên xương mu. Sau một vài tuần, bệnh nhân sẽ được đánh giá lại tình trạng niệu đạo bằng cách chụp niệu đạo- bàng quang ngược chiều. Nếu có hẹp niệu đạo thì sẽ điều trị tiếp theo như trong bài hẹp niệu đạo.

Các trường hợp vết thương niệu đạo trước phải được mổ ngay. Trước hết phải xử trí các thương tổn đi kèm. Nếu đoạn niệu đạo bị tổn thương ít thì có thể tiến hành tạo hình niệu đạo ngay thì đầu. Nếu đoạn niệu đạo bị tổn thương dài thì phải cắt lọc (cố gắng giữ lại mô niệu đạo càng nhiều càng tốt), chuyển lưu nước tiểu trên xương mu. Niệu đạo sẽ được mổ tạo hình thì hai?

Ðiều trị vỡ niệu đạo sau? – Ðiều trị ban đầu là chuyển lưu nước tiểu bằng cách mở bọng đái ra da trên xương mu. Trong lúc mở bàng quang, cần quan sát tình trạng của bàng quang để sửa chữa kịp thời các thương tổn. Sau 4 – 6 tháng, sẽ tiến hành tạo hình niệu đạo.

Đăng bởi: Ths.Bs.Phạm Ngọc Thạch – Khoa Ngoại Niệu
Theo benhviennhi.org.vn