Tag Archives: Nhức đầu

Đề phòng bệnh lỵ trực khuẩn

Bệnh lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa, do vi khuẩn Shigella gây ra. Bệnh nhân bị tiêu chảy nhiều lần, phân có nhầy, máu. Hậu quả là bệnh nhân bị mất nước và muối, dẫn đến hôn mê và tử vong. Tính chất nguy hiểm của lỵ trực khuẩn là có thể lây thành dịch. Mùa hè ruồi nhặng phát triển nhiều nên nguy cơ lây nhiễm bệnh càng cao.

Lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa
Người là nguồn lưu giữ mầm bệnh duy nhất, gồm các đối tượng: bệnh nhân đang mắc bệnh thể cấp, thể mạn tính; người lành mang vi khuẩn. Trong đó bệnh nhân mắc bệnh lỵ cấp tính là nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất, vì họ thải một khối lượng lớn phân chứa vi khuẩn ra ngoài. Song chúng ta cũng thiếu cảnh giác với những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ, nên không cách ly họ, không chẩn đoán và điều trị sớm, nên họ cũng là nguồn làm lây bệnh mà ít ai biết đến. Bệnh nhân mắc lỵ mạn tính, thường là trẻ em, cũng là nguồn gieo rắc mầm bệnh ở thời kỳ bộc phát.

Bệnh lỵ trực khuẩn lây trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường tiêu hóa. Lây trực tiếp là lây từ bệnh nhân sang người lành, thông qua bàn tay nhiễm khuẩn. Lây gián tiếp là lây qua thức ăn, nước uống. Các loại côn trùng như ruồi, nhặng, gián, thạch sùng… làm lây bệnh từ bệnh phẩm sang thức ăn. Mọi người đều có thể lây bệnh, trong đó trẻ em và người già dễ mắc bệnh lỵ nặng, dễ tử vong.

Nhiều thể bệnh lỵ trực khuẩn

de-phong-benh-ly-truc-khuan
Một người bị nhiễm vi khuẩn lỵ, thì thời gian ủ bệnh từ 1 – 7 ngày, sẽ phát bệnh một cách đột ngột, với 2 hội chứng: nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ. Hội chứng nhiễm khuẩn gồm các triệu chứng: sốt cao 38 – 39oC, rét run, nhức đầu, mệt mỏi, đau lưng, đau khớp, ở trẻ em có thể có cơn co giật, chán ăn, khát nước, đắng miệng, buồn nôn hoặc nôn. Hội chứng lỵ. gồm các triệu chứng: đau bụng, ban đầu đau âm ỉ quanh rốn, sau đau lan ra khắp bụng, cuối cùng là những cơn đau quặn bụng ở hố chậu trái. Các cơn đau quặn bụng làm bệnh nhân mót rặn muốn đi đại tiện ngay. Mới đầu phân sệt, sau loãng, rất thối, lẫn với nhầy và máu. Hoặc phân nhầy nhiều, thường đục nhờ nhờ, có khi phân vàng đục như mủ, máu sẫm như máu cá, nhầy và máu hòa loãng với nhau không có độ bám dính. Hội chứng lỵ có thể diễn ra từ 5 – 10 ngày hoặc hơn.

Trên thực tế người ta phân chia bệnh lỵ thành các thể bệnh như sau:
Thể nhẹ : bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn nhẹ hoặc không rõ, thân nhiệt 37,5 – 38oC, hơi mệt, có hội chứng lỵ : đau quặn bụng, đi ngoài dưới 10 lần/ngày, bệnh nhân phục hồi trong vòng 1 tuần.

Thể vừa: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ điển hình. Sốt 38 – 40oC kéo dài từ 1 – 4 ngày, đau đầu, mệt mỏi, mạch nhanh, huyết áp hạ. Đi tiêu chảy từ 15 – 20 lần/ngày, kèm theo dấu hiệu mất nước, với biểu hiện khát nước, môi khô. Điều trị tốt, bệnh nhân sẽ phục hồi sau 7 – 14 ngày.

Thể nặng: hội chứng nhiễm khuẩn rõ rệt, kéo dài hơn 1 tuần. Hội chứng lỵ: đau quặn bụng dữ dội, mót rặn kèm mót đái không kìm được, đi tiêu chảy trên 30 lần/ngày, có khi không đếm được. Bệnh nhân bị mất nước, rối loạn điện giải, kiệt sức, nằm đại tiện tại chỗ, hậu môn mở rộng, phân tự chảy, mắt trũng, mặt hốc hác, mạch nhanh yếu, tiếng tim mờ, huyết áp hạ, thở gấp, li bì, ngủ gà, có thể tử vong sau 3 – 7 ngày. Nếu điều trị thì sự phục hồi chậm và dễ biến chứng.

Ở trẻ dưới 1 tuổi, ngoài những thể cấp như trên, còn gặp thể rất nhẹ, kín đáo, như rối loạn tiêu hóa: phân loãng, không sốt. Thể bệnh lỵ mạn tính: bệnh có những thời kỳ bột phát và thuyên giảm xen kẽ.

Thể dạ dày ruột cấp: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, nôn nhiều lần, phân loãng, không có nhầy máu, đau bụng lan tỏa, sau đó bệnh có thể diễn biến như thể lỵ điển hình.

Thể tối độc: bệnh nhân đi ngoài nhiều, phân có nhầy mủ, có khi toàn máu, có thể tử vong trong vài ngày đầu do hôn mê, trụy tim mạch.

Ở người cao tuổi, có thể bệnh lỵ kéo dài không còn giai đoạn thuyên giảm, bệnh càng ngày càng nặng, toàn thân suy sụp dần, rối loạn tiêu hóa nặng, thiếu vitamin, thiếu máu.

Phương pháp điều trị
Điều trị bệnh lỵ trực khuẩn cần phải cách ly bệnh nhân, dụng cụ đều phải dùng riêng. Bù nước và điện giải là biện pháp hàng đầu trong điều trị lỵ trực khuẩn. Thể vừa, bù dịch và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol. Thể nặng cần truyền dịch. Trợ lực dùng vitamin B1, C. Chống đau bụng bằng cách chườm nóng, ngâm mông trong nước ấm để chống đau rát hậu môn. Thuốc có thể dùng gồm: kháng sinh như loại cephalosporin thế hệ 3 (Ceftriaxon), Quinolone thế hệ 1 (Acid nalidixic) hoặc ciprofloxacine, ofloxacine rất hiệu quả. Về chế độ ăn: bệnh nhân chỉ hạn chế trong một vài ngày đầu, sau đó cần trở lại chế độ ăn bình thường từ ngày thứ ba, thứ tư trở đi. Bệnh nhi là trẻ còn bú, vẫn cho bú như thường lệ. Nếu trẻ đang bú sữa bình vẫn cho bú bình thường, không hạn chế số lần uống, số lượng sữa. Đối với trẻ lớn và người lớn, trong vài ngày đầu ăn cháo ninh nhừ, nấu với thịt. Sang ngày thứ ba, thứ tư nên ăn cháo đặc với thịt, trứng, khoai tây nghiền, sữa chua, sau đó ăn cơm nát, thịt nạc luộc, uống nước hoa quả. Nên tránh thức ăn nhiều bã, thảo mộc khô.

Phòng bệnh

de-phong-benh-ly-truc-khuan1
Biện pháp quan trọng nhất là phát hiện sớm, cách ly điều trị bệnh nhân lỵ cấp. Bảo vệ người lành: cần theo dõi 7 ngày đối với người tiếp xúc với bệnh nhân. Thực hiện ăn chín uống sôi. Không ăn rau sống, không uống nước lã. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn uống, sau khi đi vệ sinh và tiếp xúc với các đồ vật.

Xử lý các chất thải của bệnh nhân bằng vôi sống 20%, nước vôi 10%. Đồ dùng, quần áo bệnh nhân phải được sát trùng hoặc ngâm Cloramin 2%. Dùng lồng bàn đậy kín thức ăn. Tích cực diệt ruồi, nhặng, gián…

Nguồn sức khỏe đời sống

Cây thuốc dân gian chữa tiêu hóa kém

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám. Củ gấu có thể thu hoạch quanh nǎm. Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc.

Cây cỏ cú

Cây cỏ cú

Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt; tính bình có công dụng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu…

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 – 12g. Dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

Cách bào chế: Củ cỏ cú loại bỏ lông và tạp chất; rửa sạch để ráo sao đó nghiền vụn hoặc thái lát mỏng và đổ thêm giấm vào khuấy đều, ủ một đêm, đợi cho hút hết giấm, cho vào chảo sao lửa nhẹ đến màu hơi vàng, lấy ra, phơi khô. Cứ 10 kg Hương phụ dùng 2 lít giấm.

Một số bài thuốc có hương phụ
Chữa kinh nguyệt không đều: Hương phụ 3g, ích mẫu 3g, ngải cứu 3g, bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày.

Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh hoặc gần kỳ kinh hay đau bụng hoặc hương phụ chế tán bột ngày uống 10g với nước nóng hoặc nước ngải cứu. Dùng liên tục trong một tháng hoặc có thể lâu hơn.

Chữa đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa: Hương phụ 40g, riềng khô 80g (riềng chọn củ nhỏ màu vàng nhạt). Hai thứ tán nhỏ cất vào lọ kín, mỗi lần uống 6 – 8g (trẻ em mỗi lần uống 2 – 4g) với nước chè nóng. Uống 3 – 5 ngày.

Chữa tiêu hóa kém: Hương phụ (sao) 12g, vỏ quýt (sao) 12g, vỏ vối (sao) 12g, vỏ rụt (sao) 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống 5 ngày.

Chữa cảm cúm, gai rét, nhức đầu, đau mình: Hương phụ 12g, tía tô 10g, vỏ quýt 10g, cam thảo 4g, hành 3 cây, gừng tươi 3 lát, sắc uống (đơn thuốc của Tuệ Tĩnh).
Chú ý: Người âm hư huyết nhiệt không nên dùng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Hội chứng mệt mỏi

Hội chứng mệt mỏi mạn tính (CFS) là căn bệnh không lây lan được phát hiện lần đầu tiên như là một căn bệnh thể chất vào những năm 1980 và hiện là căn bệnh đang gây ra nhiều tranh cãi.

Hiện nay, khi số người được chẩn đoán mắc bệnh này đang tăng lên, vẫn còn nhiều người trong và ngành y khoa hoài nghi về sự tồn tại của nó hay vẫn còn cho đó là căn bệnh thuộc về tâm lý.

Nhưng các cuộc nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm đã xác định CFS là một căn bệnh thuộc về thể chất, có điều hiện nó vẫn chưa được nhận thức đầy đủ. Theo Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh tật Mỹ (CDC), căn bệnh này hiện đang ảnh hưởng đến nửa triệu người dân Mỹ.

Các dấu hiệu của CFS được xem như triệu chứng bệnh như: mệt mỏi không thể cưỡng lại, cơ thể yếu ớt khiến cho người bệnh rất khó khăn trong thực hiện các công việc và hoạt động hàng ngày như thức dậy, thay quần áo, ăn uống…

hoi-chung-met-moi

Sự mệt mỏi này không hề được cải thiện tốt hơn mặc dù bệnh nhân đã được nghỉ ngơi trên giường. Nó ảnh hưởng mạnh đến chuyện học hành, làm việc và các hoạt động vui chơi giải trí khác, gây ra các bệnh về thể chất và tâm lý khác có thể kéo dài trong nhiều tháng hay thậm chí là nhiều năm.

CFS thường xảy ra ở giới nữ nhiều hơn so với nam và ảnh hưởng đến tất cả các nhóm chủng tộc và dân tộc. Hầu hết những người mắc bệnh này nằm trong độ tuổi từ 20-40. Nó cũng xảy ra ở cả thanh thiếu niên. Một căn bệnh tương tự như CFS cũng được xác nhận xuất hiện ở trẻ em dưới 12 tuổi. Cho đến nay, con số trẻ nhỏ và trẻ trong độ tuổi thanh thiếu niên bị ảnh hưởng bởi bệnh này vẫn chưa thống kê được.

Nguyên nhân gây bệnh CFS

Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân gây bệnh CFS. Các nghiên cứu hiện nay đang nhắm đến có khả năng những người mắc bệnh CFS có thể do các hoạt động khác thường của hệ miễn dịch và hệ thần kinh trung ương. Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu các bất thường trong trao đổi chất và các yếu tố nguy cơ khác như các rối loạn gen, tuổi tác, giới tính, tiền sử bệnh, môi trường và cả stress có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và quá trình của bệnh này.

Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng có thể có một loại virus nào đó gây bệnh CFS, nhưng họ chưa chứng minh được giả thiết này. Một thời gian, các nhà khoa học quy trách nhiệm cho virus Epstein-Barr (EBV), cho rằng virus này giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của CFS, nhưng nhiều người được chẩn đoán mắc bệnh CFS lại không có bằng chứng bị nhiễm EBV. Tuy nhiên, nguyên nhân gây bệnh CFS là do một virus nào đó hiện vẫn còn đang là mối nghi ngờ do các triệu chứng của bệnh thường giống với một bệnh nhiễm trùng do virus. Hiện các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu để chứng minh virus có liên quan đến bệnh CFS.

Ngoài ra cũng có các giả thiết khác cho rằng các nhân tố gây bệnh CFS còn có: bệnh thiếu sắt trong máu, lượng đường trong máu thấp, dị ứng với môi trường, nhiễm trùng men khắp cơ thể, bệnh tâm thần hay các vấn đề liên quan đến thần kinh.

Triệu chứng của bệnh CFS

Do các triệu chứng của bệnh CFS khá mơ hồ và có thể rất khác nhau tùy theo từng người bệnh khác nhau nên CDC đã đưa ra các thống kê chi tiết để giúp nhận dạng bệnh CFS vào năm 1993 để giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Các triệu chứng gồm: mệt mỏi nhiều, kinh niên trong thời gian ít nhất là 6 tháng hoặc nhiều hơn, kèm theo các bệnh khác có thể được chẩn đoán và điều trị, kèm theo đó là có 4 hoặc nhiều hơn các triệu chứng dưới đây:

– Hay quên hoặc khó tập trung.
– Đau họng.
– Bướu ở cổ hay nách.
– Đau cơ hay đau các khớp đi kèm với sưng hoặc đỏ.
– Nhức đầu.
– Ngủ không ngon và mơ hồ cảm thấy bị bệnh hoặc bị trầm cảm…

Ngoài ra, bất kỳ triệu chứng nào trong số các triệu chứng ở trên có liên quan với mệt mỏi xảy ra trong thời gian ít nhất là 6 tháng hoặc lâu hơn cũng được cho là một trong các dấu hiệu của CFS. Bên cạnh đó, việc bị mệt mỏi liên miên cũng cần được xem là dấu hiệu đầu tiên của bệnh.

Các triệu chứng khác của CFS có thể là sốt nhẹ, nhìn không rõ, ớn lạnh, ra mồ hôi vào ban đêm, tiêu chảy, thay đổi bất thường khẩu vị và cân nặng.

Chẩn đoán bệnh CFS

CFS khó được chẩn đoán chỉ với một xét nghiệm đơn, và do vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh. Một nguyên nhân nữa là các bệnh khác cũng có những triệu chứng gần giống với CFS như nhiễm trùng do virus, bệnh thận, bệnh tim, trầm cảm và các bệnh thuộc hệ thần kinh. Do đó, điều đầu tiên bác sĩ chẩn đoán phải làm là chắc rằng một người bị mệt mỏi và có các triệu chứng khác không phải do những căn bệnh trên hoặc các bệnh khác như rối loạn giấc ngủ, các vấn đề về hormone như sự giảm hoạt động của tuyến giáp.

Tuy nhiên, có thể nhận dạng CFS với đặc trưng riêng của nó. “Các triệu chứng của CFS thường phát triển đột ngột và bao gồm hiện tượng mệt mỏi thấy rõ, đến và đi hoặc vẫn còn trong nhiều tháng”, Joel D. Klein, một bác sĩ y khoa cho biết. Các bác sĩ có thể tiến hành khám tổng quát, làm nhiều xét nghiệm máu để xác định bệnh.

TƯỜNG VY

(Theo KidsHealth)

Phòng bệnh với cỏ mần trầu

Cỏ mần trầu còn có tên mần trầu, ngưu cân thảo, thanh tâm thảo, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc…, tên khoa học là Eleusine indica, thuộc họ Lúa (Poaceae). Đây là một loại cỏ sống hàng năm, mọc hoang nhiều nơi thành bụi nhỏ cao từ 20-80 cm, rễ cây rất khỏe.

Lá mềm hình dải, bẹ lá có lông. Cụm hoa là bông xẻ ngọn, có 5 – 7 nhánh dài mọc tỏa tròn đều ở đầu cuống chung, có thêm 1 – 2 nhánh xếp thấp hơn ở dưới. Mỗi nhánh mang nhiều hoa. Quả thuôn dài, gần như có 3 cạnh.

Cỏ mần trầu còn là một vị có nhiều công dụng chữa bệnh. Bộ phận dùng: Thu hái toàn cây, dùng ở dạng tươi hay khô.

Theo Đông y, cỏ mần trầu có vị ngọt nhạt, tính mát, không độc, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, mát gan, giải độc, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ sốt và sốt rét, lao phổi, trẻ con bị mụn nhọt, thai phụ táo bón, ho khan, sốt âm ỉ về chiều, tiểu tiện vàng và ít, mụn nhọt và các chứng nhiệt độc, trẻ em bị nóng trong người gây tưa lưỡi…

co-man-trau

Liều lượng dùng: 16 – 20 g khô hoặc 40 – 100g tươi, dạng thuốc sắc hay hoàn, thường dùng phối hợp với các vị khác.

Cỏ mần trầu được dùng để chữa các trường hợp sau:

– Chữa viêm gan vàng da: Cỏ mần trầu tươi 60g, rễ tổ kiến đực 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày.

– Chữa táo bón, buồn phiền, nhức đầu, nôn mũa ở thai phụ. Sắc 12-16g cỏ mần trầu khô trong 300ml nước uống 2-3 lần hằng ngày.

– Chữa trẻ con mụn nhọt, sốt cao, sốt xuất huyết, rôm sảy, ban đỏ, tưa lưỡi, cỏ mần trầu tươi (120g) rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. Cỏ khô 20g sắc với 400ml nước còn 100ml chia uống hai lần.

– Chữa nóng trong người, tiểu gắt và vàng, da mẩn đỏ, cỏ mần trầu (40g), sắc uống một lần trong ngày, có thể thêm 20g rễ cỏ tranh sắc chung uống trong ngày.

-Chữa phong nhiệt, ghẻ lở, mẩn ngứa: Lấy cỏ mần trầu tươi, rửa sạch giã nát vắt lấy nước cốt uống. Ngày 2 – 3 lần.

– Chữa sốt cao co giật, hôn mê: Cỏ mần trầu 120g. Sắc với 600 ml nước, còn 400 ml, thêm ít muối, cho uống nhiều lần trong 12 giờ.

– Chữa trẻ em đái dầm, cỏ mần trầu 20g, mùi tàu 20g, rau ngổ 20g, cỏ sữa lá nhỏ 10g thái nhỏ, sắc uống sau bữa ăn chiều.

– Chữa cảm, sốt nóng, người mẩn đỏ, tiểu tiện vàng ít. Mần trầu 16g, cỏ tranh 16g. Sắc uống.

– Chữa ho khan, sốt âm ỉ về chiều, lao lực mệt nhọc, tiểu ít, nước tiểu vàng lấy cỏ mần trầu (40g), sắc 200ml uống một lần trong ngày.

-Chữa huyết áp cao: Dùng cây tươi 500g, rửa sạch, giã nát, thêm 1 bát nước đun sôi để nguội. Lọc qua vải và vắt lấy nước cốt, thêm ít đường cho đủ ngọt. Uống 2 lần, sáng và chiều.

– Chữa sốt cao, co giật, hôn mê: Cỏ mần trầu tươi 120g, sắc với 600ml nước, còn lại 400ml, chia ra làm nhiều lần trong ngày.

– Chữa nóng trong người, tiểu gắt và vàng: Cỏ mần trầu (40g), sắc uống một lần trong ngày, có thể thêm 20g rễ cỏ tranh sắc chung uống trong ngày.

DS. Mỹ Nữ
Theo báo Nông nghiệp Việt Nam

Dịch sởi bùng phát

Theo BS Huỳnh Trọng Dân, khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2 cho biết, đường lây truyền chủ yếu là đường hô hấp như: nước bọt , hắt hơi, sổ mũi hoặc do hít phải mầm bệnh từ môi trường bên ngoài của bệnh (do mầm bệnh có thể tồn tại ngoài môi trường hơn một giờ). Sởi là bệnh truyền nhiễm có tính lây truyền cao nhất và tính miễn dịch quần thể trong nhân dân cần phải đạt tới94% mới có thể cắt đứt được sự lây truyền của bệnh trong cộng đồng.

dich-soi-bung-phat

Triệu chứng của bệnh- Thời kỳ ủ bệnh: (từ lúc bị nhiễm siêu vi trùng đến lúc có triệu chứng bệnh) Trung bình là 10 ngày (có thề thay đổi từ 7đến 18ngày): trẻ có thể sốt nhẹ.
– Thời kỳ khởi phát (còn gọi là thời kỳ viêm long): Đây là thời kỳ hay lây nhất, kéo dài từ 3 đến 5 ngày với các biểu hiện như sau:
+ Sốt: Sốt nhẹ hoặc sốt cao 39,5oC đến 40oC, có thể có sốt cao co giật, kèm mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ đau khớp.
+ “Viêm long” (có triệu chứng giống như cảm cúm): thường xảy ra ở mắt và mũi, gây chảy nước mắt, đổnghèn nhiều, kết mạc mắt đỏ, bệnh nhân sợ ánh sáng, giác mạc và mi mắt có thể bị sưng phù, hắt hơi, sổ mũi, ho đàm, khàn giọng. Có thể gây viêm thanh quản co rút, nếu có triệu chứng viêm long ở đường tiêu hóa sẽ gây tiêu chảy.
+ Khám họng trong giai đoạn này có thể thấy những chấm trắng nhỏ khoảng 1mm mọc trên nền niêm mạc má viêm đỏ,có vị trí ngay với răng hàm thứ nhất, đó là dấu “Koplik” rất có giá trị để giúp chẩn đoán khi phát ban. Thời gian tồn tại của dấu hiệu này khoảng 12 đến 18 giờ.

– Thời kỳ toàn phát (hay còn gọi là thời kỳ phát ban): Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai, sau đó lan dần lên 2 bên má, cổ, ngực, bụng và phần chi trên trong vòng 24 giờ. Trong 24 gờ kế tiếp, ban lan xuống lưng, bụng, 2 tay và sau cùng là 2 chân trong từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 của bệnh. Ban sởi màu hồng nhạt, ấn vào mất, thường kết dính lại. Trong trường hợp nhẹ, ban mọc thưa thớt. Đối với những trường hợp nặng, ban mọc dày đặc cả lòng bàn tay, bàn chân, đôi khi có ban xuất huyết cơ thể kèm chảy máu mũi, miệng, xuất huyết tiêu hóa.

Biến chứng của bệnh sởi
– Viêm phổi: Thường là do bội nhiễm vi trùng khác như: phế cầu, liên cầu, tụ cầu Hemophilus Influenzae.
– Lao: Sởi làm tăng nguy cơ trầm trọng bệnh lao tiềm ẩn và làm gia tăng mức độ lao sơ nhiễm.
– Viêm tai giữa: Sốt cao, quấy khóc, chảy mủ 1 hoặc 2 bên tai.
– Viêm thanh quản: Có thể kèm cơn khó thở về đêm, ho hen, khàn giọng, nếu nặng có thể khó thở thanh quản.
– Viêm não tủy (0,1 – 0,2%): Có thể xảy ra sớm hơn 2 tuần với triệu chứng sốt cao, nôn ói, nhức đầu, lơ mơ, co giật.
– Xuất huyết giảm tiểu cầu: Thường xảy ra từ ngày 3 đến ngày 5

Một số chứng bệnh khác: Viêm kết mạc mắt, dẫn đến loét giác mạc do thiếu Vitamin A dẫn đến mù; Viêm cơ tim; Viêm loét niêm mạc má, miệng; Viêm hạch mạc trên ruột, gây đau bụng; Viêm gan: gây vàng da, tăng men gan; Viêm vỉ cầu thận cấp…

Theo VnMedia

Phân loại bệnh viêm xoang mũi ở trẻ nhỏ

Viêm mũi xoang : là một bệnh thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 6 tuổi, theo CDC Mỹ thì chẩn đoán viêm xoang ngày càng gia tăng ở trẻ em vì đây là hậu quả của viêm đường hô hấp trên (6,5%).Viêm xoang là tình trạng viêm niêm mạc các xoang cạnh mũi, được coi như một biến chứng của viêm đường hô hấp trên.

Viêm xoang cấp: được phân biệt với viêm xoang mãn ở yếu tố thời gian của bệnh. Viêm xoang cấp xảy ra khi có đợt khởi phát cấp tính của tình trạng nhiễm trùng với các triệu chứng kéo dài dưới 3 tuần, dưới 4 đợt trong năm (James A.Stankiewwicz & Andrew Hotaling).

Viêm xoang mãn: là một tình trạng viêm nhiễm tại xoang kéo dài trên 3 tháng, không đáp ứng với điều trị nội khoa tối đa, hoặc tình trạng viêm nhiễm tái phát trên 6 lần trong năm kèm theo có bất thường trên X-quang.

phan-loai-benh-viem-xoang-mui-o-tre-nho

Triệu chứng

Viêm xoang mãn tính:
Trong viêm xoang mãn tính, các triệu chứng không nghiêm trọng và kéo dài trên 3 tháng. Bệnh nhân thường có các triệu chứng sau:
Sốt từng đợt, sốt không cao.
Ðau họng tái phát.
Khan tiếng hay ho khạc, tình trạng nặng hơn vào ban đêm.
Nghẹt mũi, nước mũi chảy xuống họng.
Sưng vùng mặt.
Chảy máu cam.
Nhức đầu.
Ù tai, viêm tai giữa.
Nghẹt mũi không ngửi được mùi.

Viêm xoang cấp:
Hay gặp nhất là sự tồn tại các triệu chứng viêm đường hô hấp trên, thường những triệu chứng này tồn tại 5-7 ngày. Nếu kéo dài trên 10 ngày và kèm theo các triệu chứng sau thì phải nghĩ đến một tình trạng viêm xoang cấp đã xảy ra.
Sốt > 390C.
Thở hôi.
Ho nhiều về ban đêm.
Sổ mũi, mũi có mủ vàng hay xanh.
Nhức đầu.
Ðau vùng mặt, sau ổ mắt, đau răng, đau họng.
Có thể kèm theo viêm tai giữa cấp.

Khám bệnh nhân viêm xoang, chúng ta thường thấy:
Mũi có mủ, thường ở sàn mũi hay ở khe giữa.
Niêm mạc mũi phù nề sung huyết.
Mủ nhầy chảy xuống thành sau họng.
Ấn đau ở điểm xoang tương ứng.

Tắm đêm có thể gây nên hậu quả như thế nào

Một số người có thể thấy ngay hậu quả của việc tắm gội đêm. Sau một đêm đi ngủ với mái tóc ướt, họ sẽ lập tức bị nhức đầu kinh khủng.

Thời điểm tắm tốt nhất

Giấc ngủ thường đến khi nhiệt độ cơ thể xuống thấp hơn bình thường một chút. Việc tắm nước nóng làm tăng nhiệt độ cơ thể, trì hoãn não tiết ra hooc môn gây buồn ngủ. Do đó, bạn nên tắm bằng nước ấm trước khi đi ngủ khoảng hai giờ để không ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ.

tam-dem-co-the-gay-nen-hau-qua-nhu-the-nao1

Nếu không thể tắm bằng nước ấm cách hai giờ trước khi đi ngủ, bạn có thể dùng khăn lạnh chườm đầu khoảng năm phút để hạ nhiệt độ cơ thể xuống mức bình thường. Như vậy, bạn sẽ dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn.

Thời điểm tắm thích hợp nhất là buổi sáng, sau khi tập thể dục và chỉ tắm khi đã ráo mồ hôi (sau ít nhất một giờ).

Thói quen không tốt khi tắm

Nhiều người có thói quen khi nhiệt độ cơ thể đang cao. Điều này thực sự không tốt bởi vì nếu tắm đêm khi cơ thể chưa ráo mồ hôi, hơi nước sẽ ngấm qua lỗ chân lông đang mở rộng. Đây là nguyên nhân khiến bạn bị ho, sốt, kéo theo các nguy cơ viêm, nhiễm phổi. Quá trình này diễn ra sau một thời gian khá dài nên ít người nhận ra nguyên nhân.

tam-dem-co-the-gay-nen-hau-qua-nhu-the-nao

Nguy hiểm hơn, tắm nước lạnh trong tình trạng cơ thể suy yếu sẽ nhanh dẫn đến tình trạng đột quỵ, tai biến, đặc biệt với những người bị say rượu, mắc các bệnh tim mạch, cao huyêt áp. Khi cơ thể đang mệt mỏi hoặc có bệnh trong người, việc tắm nước lạnh khiến các mạch máu trong cơ thể co lại, ảnh hưởng đến quá trình lưu thông máu. Lúc này, cơ thể đang yếu sẽ càng suy yếu hơn.

Trình tự tắm

Khi tắm, bạn không nên dội nước thẳng từ đầu xuống chân để tránh bị đột quỵ. Bạn nên xối nước vào hai chân, hai tay rồi mới đến toàn bộ cơ thể. Khi quá no hoặc đói, bạn cũng không nên tắm.

Đau đầu kinh niên là hậu quả của việc tắm gội và ban đêm

Không chịu được việc để mái tóc bẩn khi lên giường, nhiều phụ nữ tranh thủ gội đầu ngay trước khi ngủ. Nếu điều này diễn ra thường xuyên, sau này họ sẽ đứng trước nguy cơ bị đau đầu kinh niên.

Lý do: Sau khi tắm gội, nhiều người không chú ý đến việc lau và hong tóc cho thật khô. Điều đó làm da đầu có nguy cơ nhiễm lạnh. Các mạch máu bị ảnh hưởng, gây cản trở sự lưu thông dẫn đến chứng đau đầu mãn tính.

Một số người có thể thấy ngay hậu quả của việc tắm gội đêm. Sau một đêm đi ngủ với mái tóc ướt, họ sẽ lập tức bị nhức đầu kinh khủng.

Từ sau 23 giờ là thời điểm bạn đặc biệt không nên tắm, gội đầu bằng nước lạnh.

Bệnh xuất tinh ra máu ở nam giới

son thien Xuất tinh ra máu (XTRM) là hiện tượng trong tinh dịch có lẫn máu, có thể dễ phát hiện khi dùng bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo hay khi thủ dâm. Tinh dịch khi xuất ra thường có lẫn máu màu đỏ tươi, màu nâu hoặc màu gỉ sắt.

Vì sao gặp ở nam giới trẻ?

Nguyên nhân của tình trạng XTRM có thể do tắc túi tinh hoặc các nang túi tinh gây căng giãn túi tinh, lâu ngày làm đứt vỡ các mạch máu dưới thành niêm mạc túi tinh. Hoặc do nguyên nhân từ các loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tinh hoàn, ung thư đường dẫn tinh. Các thủ thuật như sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng, chạy xạ trong điều trị ung thư. Các bệnh toàn thân như rối loạn đông máu, bệnh ưa chảy máu, xơ gan, viêm gan hay do giãn tĩnh mạch niệu đạo (trường hợp này trong tinh dịch thường không lẫn máu mà chỉ đái máu một bãi sau cương dương vật).

benh-xuat-tinh-ra-mau-o-nam-gioi
XTRM ở người trẻ tuổi thông thường là lành tính, tự khỏi nhưng thường hay tái phát. Nó có liên quan đến thói quen sinh hoạt tình dục nhiều hơn là tình trạng bệnh lý. Ở nam giới trẻ tuổi thường có thói quen kìm hãm xuất tinh khi quan hệ để thể hiện “bản lĩnh” của mình, mỗi lần kìm hãm như thế khiến túi tinh tăng áp lực, nhiều lần như vậy đã làm tổn thương các mạch máu túi tinh gây giãn, vỡ mạch máu. Ngoài ra, qua thực tế khám bệnh chúng tôi nhận thấy trong số các bệnh nhân nam trẻ tuổi đến khám vì XTRM thì có đến 80% trong số đó tình trạng XTRM xảy ra sau một trận say xỉn. Vấn đề này được giải thích như sau, khi uống một nồng độ rượu cao vào người làm toàn bộ mạch máu của cơ thể bị giãn rất nhiều, trong đó có mạch máu vùng túi tinh, đồng thời nồng độ cồn cao trong máu đã ức chế tế bào thần kinh trung ương làm nó bị trơ và không đáp ứng với các kích thích tình dục, vì lâu không đạt được khoái cảm nên các đấng mày râu vẫn “hùng hục làm việc”,  khi đó túi tinh phải bóp nhiều đến một lúc nào đó áp lực trong túi tinh tăng lên cao làm vỡ các mạch máu (vốn đang bị giãn do rượu) gây hiện tượng XTRM. Tổn thương niêm mạc đường ống dẫn tinh là cơ hội để các vi khuẩn xâm nhập và gây viêm. Quá trình viêm gây kích thích niêm mạc dẫn đến hiện tượng sung huyết và phù nề các ống tuyến của đường ống dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt mà hậu quả là tình trạng xuất tinh ra máu ngày càng nặng nề hơn. Vi khuẩn gây viêm thường gặp là Enterrobacteria (chủ yếu là E.coli), Chlamydia, vi khuẩn gram dương, trực khuẩn lao và một số loại viut.

Chọn lựa thuốc chữa

Trường hợp có viêm và nhiễm khuẩn thì điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ là lý tưởng nhất. Nếu không có kháng sinh đồ thì có thể điều trị theo kháng sinh kinh nghiệm, lựa chọn những kháng sinh nào có phổ tác dụng đối với họ Enterobacteria, đặc biệt ở người trẻ, thuốc phải có tác dụng với cả Chlamydia. Trên thực tế lâm sàng thường dùng kháng sinh nhóm quinolon như: levofloxacin, norfloxacin, ciprofloxacin,… Tùy tình trạng bệnh lý mà có thể dùng thuốc từ 2 tuần đến 1 tháng. Một số tác dụng phụ gặp phải khi dùng thuốc như nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn, đau xương khớp, giảm tiểu cầu,… Nếu không có nhóm quinolon thì có thể thay thế bằng kháng sinh metronidazone, trimethoprim, kết hợp cùng nhóm doxycyclin để điều trị nhiễm Chlamydia kết hợp.

Ngoài việc dùng kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn cần phối hợp các thuốc chống viêm, giảm phù nề: alphachoay (alpha chymotrypsin) điều trị trong 2 – 3 tuần và thuốc cầm máu transamin, dùng đường uống hoặc tiêm trong 5 – 10 ngày đầu điều trị.

Nhóm thuốc có tác dụng trên tuần hoàn tĩnh mạch như diosmin – hesperidin (daflon) cũng có hiệu quả trong điều trị. Tại tĩnh mạch, thuốc có tác dụng làm giảm tính căng giãn của tĩnh mạch và làm giảm sự ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch. Tại vi tuần hoàn, thuốc có tác dụng làm bình thường hóa tính thấm mao mạch và tăng sức bền thành mạch. Vì thế, thuốc có tác dụng trên mạch máu bị căng giãn, thành mạch kém bền. Thuốc dùng kéo dài 1 – 2 tháng với liều tấn công trong 2 tuần, sau đó dùng liều duy trì. Có thể kết hợp cùng rutin C trong mục đích làm tăng cường sức bền thành mạch. Một số tác dụng phụ gặp phải khi dùng nhóm thuốc này như rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh thực vật nhẹ.

Nếu nguyên nhân XTRM do lao cần điều trị theo phác đồ chống lao.

XTRM trong các trường hợp tắc túi tinh, sỏi túi tinh, giãn tĩnh mạch niệu đạo, ung thư… cần can thiệp ngoại khoa.

Trong thời gian điều trị, bệnh nhân không được quan hệ tình dục hoặc tự ý xuất tinh ra để kiểm tra, điều đó sẽ làm nặng thêm tình trạng tổn thương mạch máu và khiến bệnh dai dẳng hơn. Thói quen kìm hãm xuất tinh hay uống bia rượu nhiều trước quan hệ tình dục không chỉ gây ra tình trạng XTRM mà còn là nguyên nhân của một số rối loạn tình dục như xuất tinh muộn, xuất tinh ngược dòng, giao hợp không xuất tinh, giảm ham muốn tình dục,… vì thế bạn nên từ bỏ thói quen không tốt này.

BS. Nguyễn Thị Hương

Nguồn sức khỏe đời sống

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Dấu hiệu trầm cảm bạn nên biết

Ngày càng nhiều người ở lứa tuổi rất trẻ tự sát vì nguyên nhân trầm cảm. Cần phát hiện sớm triệu chứng bệnh, đi khám đúng chuyên khoa để tránh dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

Bác sĩ Phạm Văn Trụ, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP HCM cho biết, lứa tuổi nào cũng thể mắc bệnh, nữ nhiều hơn nam 2 lần. Thiếu niên cũng mắc nhưng cách thể hiện có phần khác người lớn. Người cao tuổi dễ bị trầm cảm và thường bị bỏ quên.

Trầm cảm là trạng thái buồn rầu, chán nản, không còn hứng thú gì trong cuộc sống, ngủ không ngon, ăn nhạt miệng, làm việc không xong tới chót, mặc cảm thua kém, khi rầu rĩ lâu ngày hay nghĩ đến cái chết. Ngoài ra, bệnh nhân hay kèm lo lắng, nặng đầu đau mỏi vai gáy, ép ngực hồi hộp, tay chân lạnh…

dau-hieu-tram-cam-ban-nen-biet

Theo bác sĩ Trụ, những biểu hiện thường gặp ở người trầm cảm

– Nét mặt trầm buồn, chán nản, cảm thấy cô độc, lẻ loi.

– Mất thích thú trong cuộc sống. Đi đứng chậm, cảm giác nặng nề, mệt mỏi, như không còn sức khỏe làm việc, làm nhẹ cũng mau mệt, không thích gần vợ gần chồng, thấy mọi người, con cháu vui chơi cũng không quan tâm.

– Ăn ít, không ngon, nhạt miệng.

– Trằn trọc khó ru ngủ, thức dậy sớm, thèm ngủ mà không ngủ được, đôi khi ngủ được mà thức dậy không khỏe.

– Đầu óc khó tập trung, do dự không “quyết” được, không đối phó được.

– Hay than nhức đầu, mỏi cổ, mỏi gáy, hồi hộp ép ngực, xoa bóp tay chân vì nhức mỏi, khám bác sĩ đa khoa hay tự mua thuốc uống không hết.

– Có người có cảm giác lo lắng vô cớ, ám ảnh bệnh tật vô lý, có từng cơn sợ sệt nhưng lại dễ giận.

– Người còn đi làm thì giao tiếp miễn cưỡng, né tránh lời thăm hỏi, gắng gượng làm hết việc, đãng trí, cảm thấy bế tắc.

– Tự nghĩ chán đời như có lỗi với người thân với gia đình, thua người ta, không bằng người ta, trở nên vô dụng, không đáng sống, nghĩ và đôi khi tìm cách chết.

Một số hoàn cảnh dễ dẫn tới trầm cảm

– “Sang chấn tinh thần”, những cú “sốc” như mất người thân, áp lực công việc, khó khăn quá lớn, gãy đổ sự nghiệp, bất hòa kéo dài.

– Học sinh, sinh viên quá nhiều bài vở, hẫng hụt, xuống sức học rồi đuối dần.

– Người lớn tuổi biểu hiện phiền muộn đau đớn, chậm chạp, ít nói, quên lẫn; dễ lầm với bệnh già.

– Người đã qua một thời gian hưng cảm: quá tự tin, không cần ngủ, nói nhanh, bốc đồng “tài ba dỏm” (bệnh nhân loạn khí sắc lưỡng cực). Người bệnh tâm thần phân liệt cũng có thời gian bị trầm cảm.

– Ngay sau sinh con, tỷ lệ không nhiều nhưng khá trầm trọng, phải phát hiện sớm.

Điều cần làm khi thấy triệu chứng trầm cảm

– Không coi nhẹ triệu chứng trầm cảm, hãy kể hết triệu chứng cho bạn bè, cho người thân.

– Khi phát hiện người bị trầm cảm phải trấn an, tìm hiểu, tìm cách quan tâm và giúp đi khám bác sĩ chuyên khoa sớm sẽ tránh được cơn trầm uất, thất thần quẫn trí.

– Khám bác sĩ chuyên khoa, uống thuốc rồi cũng phải theo dõi đề phòng triệu chứng nặng thêm.

Lời khuyên khi đi khám bác sĩ

– Nếu bệnh nhân đã tìm cách quyên sinh rồi thì phải “cấp cứu” bệnh viện gần nhất.

– Cần đi khám và điều trị ở bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Đừng mất thời gian uống thuốc từ bác sĩ không đúng chuyên khoa.

– Bác sĩ chuyên khoa tư vấn giải thích đúng cơ chế, có kinh nghiệm chọn thuốc chống trầm cảm, biết dùng thuốc điều chỉnh khí sắc và lường trước tác dụng phụ của thuốc. Có nhiều loại thuốc chống trầm cảm, chọn đúng, dùng đúng chiến lược, bài bản mới giúp tỷ lệ khỏi bệnh cao, ít tái diễn.

Theo VnExpress

Sử dụng dầu gió sai cách có thể gây nguy hiểm

Nhiều người nhất là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có thói quen sử dụng dầu gió để chữa một số bệnh thông thường. Hễ trong gia đình có người hắt hơi, ngạt mũi, đau bụng,… đều sử dụng dầu gió, kể cả là cho trẻ nhỏ. Vậy, dầu gió dùng như nào cho đúng?

Biểu hiện khi ngộ độc

Theo các chuyên gia, lượng camphor cho phép trong các chế phẩm dầu gió chỉ khoảng 3 – 11%. Khi bị ngộ độc, camphor có thể gây tác hại với những triệu chứng xuất hiện chỉ trong vòng 5 – 90 phút sau tiếp xúc, tùy vào lượng dầu nhiều hay ít. Các biểu hiện sớm là bỏng miệng, hầu họng, buồn nôn, nôn mửa, lừ đừ, sau đó là co giật, hôn mê, say hô hấp nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến tử vong. Sau khi sử dụng hoặc phát hiện bé uống phải có dấu hiệu bất thường, nghi ngờ ngộ độc, người nhà cần đưa bé đến cơ sở y tế chuyên khoa nhi gần nhất càng sớm càng tốt.

dau-gio

Có thể gây ngộ độc…

Khoa Cấp cứu – Hồi sức Bệnh viện Nhi đồng 1 cách đây không lâu đã cấp cứu một bé gái 14 tháng tuổi trong tình trạng hôn mê, kích thích đau không đáp ứng, có biểu hiện gồng giật các ngón tay, nhịp thở không đều và có những cơn ngưng thở khoảng 15 giây. Theo lời kể của gia đình, sau khi tắm cho bé, thấy bé có biểu hiện hắt hơi, mẹ bé lấy chai dầu gió để thoa cho bé, nhưng không chú ý nắp chai dầu đã bị lỏng. Do sơ ý, một lúc sau phát hiện bé đang cho chai dầu vào miệng, nắp chai dầu đã nằm trong miệng bé. Lúc đó mẹ không thấy dầu trong miệng bé nhưng trong hơi thở bé đã có nhiều mùi dầu gió. Lúc này bé còn tỉnh táo, đi lại chơi bình thường. Khoảng 15 phút sau, bé có dấu hiệu mệt mỏi, đứng loạng choạng mặc dù vẫn trả lời và làm theo lời của mẹ. Sau 30 phút, bé nôn 2 lần ra cháo trước đó đã ăn, không thấy màu xanh của dầu nhưng mùi dầu trong dịch nôn rất nhiều. Lúc này bé không còn đứng vững, có biểu hiện hôn mê dần, gia đình lập tức đưa bé cấp cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1.

Tại bệnh viện, bé được đặt nội khí quản, bóp bóng duy trì hô hấp, sử dụng thuốc chống co giật và hút dịch dạ dày, cho than hoạt loại bỏ độc chất. Sau 3 ngày điều trị, tình trạng suy hô hấp của bé cải thiện nhiều, được rút nội khí quản và bé tỉnh táo và được xuất viện.

Tại sao dầu gió có thể gây ngộ độc?

Dầu gió được chiết xuất từ các loại tinh dầu thảo dược từ thiên nhiên như: khuynh diệp, hồi, quế, long não. Dầu gió có vị cay, tính mát, có tác dụng hạ sốt, ra mồ hôi, giảm đau, giảm ho, sát trùng,… Đặc biệt, hầu hết các chế phẩm dầu xoa và cao xoa đều có metyl salicylat (dầu nóng) và menthol (chiết từ tinh dầu bạc hà). Menthol bốc hơi rất nhanh, gây tê tại chỗ và cảm giác mát lạnh (do kích thích bài tiết mồ hôi, làm hạ thân nhiệt) khi xoa vào da. Tuy nhiên, trong thành phần của dầu gió chứa eukalyptol và camphor, đặc biệt camphor là một chất độc đối với trẻ em nếu quá trình sử dụng không đúng hấp thu nhiều vào cơ thể qua phần da trầy xước hay vô tình nuốt phải với lượng nhiều (khoảng 1g) gây tổn thương hệ hô hấp, thậm chí ngừng thở.

Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi

Theo khuyến cáo, dầu gió có tác dụng phụ làm tăng bài tiết mồ hôi, khiến thân nhiệt hạ thấp. Vì vậy không được dùng cho người bị lở ngứa, ra mồ hôi, sốt cao, vừa ốm dậy, người suy nhược, táo bón, tăng huyết áp. Hơn nữa, tinh dầu bạc hà có nguy cơ gây hiện tượng ức chế tuần hoàn và hô hấp dẫn đến ngừng tim và ngừng thở, vì vậy không dùng dầu gió cho trẻ em dưới 2 tuổi, và phụ nữ có thai, đang cho con bú.

Đối với người bình thường, cũng không nên lạm dụng, dùng quá thường xuyên sẽ dễ gây “nhờn thuốc” giảm tác dụng. Chỉ dùng trong trường hợp thực sự cần thiết như: cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau khớp, đau gân, đau cơ bắp, tụ máu, thâm tím, đầy hơi, chậm tiêu, khó tiêu, chống lạnh đường hô hấp, …

Dùng sao cho đúng?

Đối với trẻ lớn trên 2 tuổi, khi dùng nhất thiết phải có sự theo dõi của người lớn. Trước khi bôi dầu cần rửa sạch tay và rửa sạch, lau khô vùng da bị đau, bôi hoặc xoa bóp một lượng vừa đủ bằng cách lấy đầu ngón tay trỏ lấy một lượng thích hợp, bôi lên chỗ đau nhức hay vết côn trùng cắn đốt. Nếu đau bụng do lạnh, khó tiêu, bôi vào vùng quanh rốn; nếu nhức đầu bôi vào thái dương. Sau đó miết nhẹ nhàng, day tròn, ấn bằng ngón tay trỏ. Chỉ dùng ngoài da, tuyệt đối không được uống.

Không dùng nhiều hơn 3 – 4 lần trong ngày; không dùng cho người có tiền sử dị ứng với salicylat, menthol; không dùng thường xuyên mà phải ngừng ngay khi cơn đau đã chấm dứt; không bôi lên niêm mạc, vùng mắt, vết thương hở, chỉ bôi ở điểm đau, vùng đau. Đối với một số bệnh mạn tính cần có sự tư vấn của các bác sĩ.

Theo suckhoedoisong.vn

Hội trứng khi điều trị viêm khớp

Thuốc dùng trong các bệnh viêm khớp, chủ yếu là viêm khớp dạng thấp và viêm khớp thoái hóa đều có tác dụng điều trị, nhưng bên cạnh đó cũng có thể gây những tác dụng không mong muốn hoặc một số hội chứng ảnh hưởng xấu cho sức khỏe…

Tác dụng không mong muốn (còn gọi là tác dụng phụ) của thuốc là các phản ứng có hại cho người bệnh khi dùng thuốc đúng liều lượng. Một số phản ứng có hại của thuốc rất dễ được phát hiện như: Dị ứng thuốc (tăng nhiệt độ, mẩn ngứa, nổi mề đay, nhức đầu, nôn mửa) hoặc sốc phản vệ (ngứa toàn bộ cơ thể: nhất là ở bàn tay và bàn chân, phù ở mắt như bị bỏng nặng, phù cuống họng, khó thở, chóng mặt, tụt huyết áp và có thể ngất xỉu…).
viem-khop
Ngộ độc thuốc khi điều trị các bệnh khớp có thể từ nhẹ đến nặng, phục hồi hoặc không phục hồi được. Thường những xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện nhiễm độc như: Tăng huyết áp, loét và chảy máu đường tiêu hóa, hạ đường huyết, tổn thương hoàng điểm, tổn thương gan, thận… Bệnh nhân phải dừng thuốc ngay lập tức khi có các biểu hiện ngộ độc trên.

Ngoài các tác dụng phụ vừa kể, một số hội chứng không điển hình dưới đây người bệnh cần chú ý khi điều trị viêm khớp:

Các biểu hiện viêm khớp gia tăng: Khi uống thuốc, người bệnh cảm thấy đau hơn, sưng hơn cùng với cứng khớp. Cần biết rằng ban đầu có thể xuất hiện các phản ứng theo xu hướng xấu do thuốc bắt đầu tác dụng. Nếu sau một ngày, các biểu hiện này không được cải thiện và tiếp tục phát triển thì rất có thể thuốc đã không có tác dụng, cần phải thay thế thuốc hoặc điều chỉnh lại liều dùng.

Tăng nhiệt độ: Nếu nhiệt độ tăng không đáng kể (dưới 38 độ C), đó có thể là biểu hiện bình thường của phản ứng viêm khớp, nhưng nếu nhiệt độ tăng hơn nhiều (trên 38 độ C), phải nghĩ đến khả năng về một bệnh nhiễm khuẩn. Nhiều thuốc trị viêm khớp đã làm suy giảm hệ miễn dịch cũng như giảm thiểu tuần hoàn và làm tăng một cách đáng kể nguy cơ bị các bệnh do vi khuẩn và siêu vi khuẩn. Các thuốc chính gây suy giảm hệ miễn dịch là: methotrexate, immuran, remicade, cyclosporine, cytoxan… Phát hiện và điều trị kịp thời các biểu hiện nhiễm khuẩn sẽ giúp giảm bớt những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.

Tê hoặc cảm giác kiến bò: Các phản ứng này có thể xảy ra vì sự đè nén do phù và viêm vào các dây thần kinh. Một nguyên nhân khác là do thoái hóa dây thần kinh, do hiện tượng viêm và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, độc tính của một số thuốc kháng viêm cũng như thuốc làm suy giảm miễn dịch có thể làm tổn hại hệ thần kinh ngoại vi và gây ra cảm giác tê hoặc kiến bò. Bệnh nhân cần phải thông báo ngay với bác sĩ những biểu hiện này để tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời.

Mẩn đỏ: Rất hiếm khi do các bệnh khớp gây ra, nguyên nhân của triệu chứng này thường là do các thuốc như solganal, myochrysine methoratrexate, hydroxychloro-quine.

Ðỏ mắt: Có thể do nhiễm trùng mắt. Nếu kèm theo đau nhức nặng cần phải nghĩ đến bệnh viêm các mạch máu.

Không phân biệt được màu đỏ và xanh lá cây: Thường do thuốc plaquenil làm tổn hại võng mạc gây ra. Bệnh nhân phải báo với bác sĩ và dùng thuốc ngay.

Buồn nôn: Hầu hết các thuốc trị viêm khớp đều có thể gây nên cảm giác rất khó chịu này, đặc biệt là: ibuprofen, naproxen và một số thuốc kháng viêm giảm đau khác như: azathiprine (immuran), prednisolone, methotrexate.

Ho và đau ngực: Viêm các khớp liên sườn có thể gây đau ngực. Tuy nhiên cũng cần được khám để loại trừ khả năng có bệnh về tim và phổi. Khả năng bị nhiễm khuẩn đường hô hấp do tác dụng giảm miễn dịch của thuốc điều trị viêm khớp có thể xảy ra và phải được điều trị bằng kháng sinh kịp thời.
Trên đây là một số dấu hiệu chính nhưng không phải hoàn toàn đầy đủ của các phản ứng do thuốc điều trị các bệnh viêm khớp có thể dẫn đến. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc cần luôn cảnh giác để phát hiện và xử lý kịp thời những biến chứng để ngăn chặn các hậu quả nặng nề cũng như phải dùng thêm thuốc không cần thiết. Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, các bệnh nhân viêm khớp cần có sự hiểu biết nhất định về một số loại thuốc mà mình thường dùng, đồng thời hợp tác chặt chẽ với bác sĩ để kịp thời tư vấn khi cần thiết.

BS.TS. Hoàng Xuân Ba

Nguồn sức khỏe đời sống

Chứng rối loạn tiêu hóa bạn thường gặp

Nguyên nhân chính gây ra các bệnh táo bón, trào ngược dạ dày, đầy hơi, đau dạ dày và loét dạ dày là do sự thiếu hụt enzym tiêu hóa.

Theo Tiến sĩ Dinesh Kumar Singal, chuyên gia về tiêu hóa tại Viện Nghiên cứu Pushpawati Singhania (Bệnh viện PSRI) thì hầu hết các bệnh về tiêu hóa có thể phòng ngừa và chữa khỏi một cách tự nhiên bằng cách tăng cường và duy trì sự ổn định của các enzyme tiêu hóa trong cơ thể.

Enzyme tiêu hóa là gì?

Enzyme tiêu hóa là các enzym phân hủy các đại phân tử polyme thành dạng nhũ tương để nhung mao ruột có thể dễ dàng hấp thu vào máu, nuôi dưỡng cơ thể. Các enzym tiêu hóa này rất đa dạng và được tìm thấy nhiều trong nước bọt, trong dạ dày (do các tế bào trong dạ dày tiết ra), trong dịch tụy (do các tế bào tuyến tụy tiết ra) và trong đường ruột ( ruột già và ruột non)…
chung-roi-loan-tieu-hoa-ban-thuong-gap
Tuyến nước bọt tiết enzyme maltase, amylase… giúp tiêu hóa tinh bột. Dạ dày tiết dịch vị và men pepsin giúp tiêu hóa chất đạm. Dịch gan, mật giúp tiêu hóa chất béo. Tuyến tụy tiết dịch tụy để hoàn chỉnh việc tiêu hóa thức ăn ở ruột non.

Nói một cách đơn giản, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng qua đường tiêu hóa không được tốt thì sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa. Các enzyme tiêu hóa có nhiệm vụ giúp phân huỷ thức ăn để thực hiện quá trình tiêu hóa tốt nhất.

Nguyên nhân của sự thiếu hụt các enzym tiêu hóa

Theo tiến sĩ Dinesh Kumar Singal thì một vài yếu tố gây ra sự sụt giảm các enzym trong đường tiêu hóa. Những yếu tố nguy cơ này bao gồm:

– Hút thuốc lá và rượu: Cồn và nicotin trong rượu, thuốc lá sẽ cản trở quá trình sản suất enzyme để tiêu hoá thực phẩm, dẫn đến tình trạng thực phẩm không được tiêu hoá đúng cách, cơ thể không hấp thụ tốt dưỡng chất và cuối cùng gây suy dinh dưỡng.

– Căng thẳng và lão hóa sớm: Khi có tuổi hoặc tâm trạng căng thẳng, sự cân bằng axít – kiềm trong cơ thể cũng trở nên khó khăn, vì vậy mà lượng enzyme được sản xuất cũng suy giảm đáng kể.

– Một số loại thuốc như thuốc ức chế axit và NSAID (thuốc chống viêm không steroid): Các loại thuốc này cũng làm mất cân bằng axít – kiềm trong cơ thể nên làm suy giảm lượng enzyme tiêu hóa.

– Các bệnh như thiếu máu ác tính, bệnh loét dạ dày, viêm tụy, xơ gan…
Hậu quả của việc thiếu hụt enzyme tiêu hóa

Sự thiếu hụt các loại enzyme tiêu hóa sẽ làm giảm hoặc vô hiệu hóa sự phân giải thực phẩm thành những loại đường đơn, các axit amino và các axít béo – những dưỡng chất vốn có nhiệm vụ tạo năng lượng cho cơ thể. Chính vì vậy, khi thiếu các dưỡng chất này, nguồn năng lượng cung cấp cho cơ thể giảm khiến bạn luôn cảm thấy mệt mỏi, thiếu sức sống.

Ngoài ra, sự thiếu hụt enzyme còn dẫn đến những hệ lụy khác cho sức khỏe, chẳng hạn như trào ngược dạ dày thực quản, khó tiêu, đầy hơi, táo bón, nhức đầu, các rối loạn về ruột, xơ vữa động mạch, cholesterol cao, yếu cơ và nguy hiểm nhất là sự suy giảm chức năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.
Một vài cách tự nhiên để tăng các enzym tiêu hóa

Theo bác sĩ Dinesh thì có nhiều loại thực phẩm tự nhiên có thể làm tăng các enzyme tiêu hóa trong cơ thể, việc quan trọng là bạn cần ăn uống lành mạnh ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe và cải thiện hệ thống tiêu hóa.

– Đối với những người không dung nạp lactose thì nên chọn sữa chua để giúp tiêu hóa lactose tốt hơn, tránh các triệu chứng như đầy bụng, khó tiêu, đầy hơi…

– Chế độ ăn giàu chất xơ như ngũ cốc nguyên hạt và chuối rất “thân thiện” với đường ruột vì nó tăng cường các loại vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Những vi khuẩn này lần lượt giúp tiêu hóa tốt hơn .

– Các loại thực phẩm như gừng, bạc hà, hạt cây thì là… cũng có tác dụng giúp cải thiện tiêu hóa rất tốt. Nên tránh các loại thực phẩm chiên rán ở nhiệt độ cao hoặc thực phẩm chế biến qua lò vi sóng vì cách chế biến này làm hao hụt đáng kể lượng enzyme tiêu hóa có sẵn trong thực phẩm.

Nguồn sức khỏe đời sống

Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS)

 Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) có rất nhiều loại triệu chứng, bao gồm cả thay đổi tâm trạng, ngực mềm, thèm ăn, mệt mỏi, khó chịu và trầm cảm.

Định nghĩa
Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) có rất nhiều loại triệu chứng, bao gồm cả thay đổi tâm trạng, ngực mềm, thèm ăn, mệt mỏi, khó chịu và trầm cảm. Ước tính 3 của mỗi 4 phụ nữ có trải nghiệm một số hình thức của hội chứng tiền kinh nguyệt. Những vấn đề này có xu hướng cao điểm ở độ tuổi cuối 20 và đầu 30.

Triệu chứng có xu hướng tái diễn trong một mô hình dự đoán được. Tuy nhiên, những thay đổi về thể chất và tình cảm trải nghiệm với hội chứng tiền kinh nguyệt có thể đặc biệt mạnh trong một vài tháng và chỉ hơi đáng chú ý trong những người khác.

Tuy nhiên, không phải để cho những vấn đề này kiểm soát cuộc sống. Điều chỉnh phương pháp điều trị và lối sống có thể giúp giảm bớt hoặc quản lý các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt.

tien-kinh0nguyet

Các triệu chứng

Các dấu hiệu thường gặp nhất và triệu chứng liên quan với hội chứng tiền kinh nguyệt bao gồm:

Tình cảm và các triệu chứng về hành vi.

Căng thẳng hay lo âu.

Tâm trạng chán nản.

Tính khí thất thường và khó chịu hoặc tức giận.

Thay đổi cảm giác ngon miệng và thèm ăn.

Vấn đề đi vào giấc ngủ (mất ngủ).

Xa lánh xã hội.

Nghèo nàn tập trung.

Đau cơ hoặc khớp.

Nhức đầu.

Mệt mỏi.

Trọng lượng đạt được từ giữ nước.

Bụng đầy hơi.

Đau vú.

Mụn trứng cá bùng phát.

Táo bón hoặc tiêu chảy.

Mặc dù danh sách các dấu hiệu và triệu chứng có tiềm năng lâu dài, hầu hết phụ nữ có trải nghiệm hội chứng tiền kinh nguyệt chỉ là một vài trong số những vấn đề này.

Đối với một số phụ nữ, nỗi đau thể chất và cảm xúc căng thẳng nghiêm trọng đủ để ảnh hưởng đến thói quen hàng ngày và hoạt động của mình. Đối với hầu hết các phụ nữ, dấu hiệu và triệu chứng biến mất là thời kỳ kinh nguyệt bắt đầu.

Nhưng một phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt ít có triệu chứng mỗi tháng. Mẫu này của PMS có chỉ định của tâm thần của nó – tiền kinh nguyệt rối loạn hoảng loạn (PMDD). PMDD là một dạng nặng của hội chứng tiền kinh nguyệt có dấu hiệu và triệu chứng bao gồm trầm cảm nặng, cảm giác tuyệt vọng, giận dữ, lo lắng, lòng tự trọng thấp, khó tập trung, khó chịu và căng thẳng. Một số phụ nữ bị PMS nghiêm trọng có thể có một chứng rối loạn tâm thần tiềm ẩn.

Đến gặp bác sĩ khi

Nếu không có may mắn quản lý hội chứng tiền kinh nguyệt với những thay đổi lối sống, và các dấu hiệu và triệu chứng của PMS là nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và các hoạt động hàng ngày, gặp bác sĩ.

Nguyên nhân

Chính xác những gì gây ra hội chứng tiền kinh nguyệt là không rõ, nhưng một số yếu tố có thể góp phần vào tình trạng này:

Chu kỳ thay đổi về kích thích tố. Dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt thay đổi với những biến động nội tiết và biến mất với thời kỳ mang thai và thời kỳ mãn kinh.

Thay đổi hóa học trong não. Biến động của serotonin, một hóa chất não (dẫn truyền thần kinh) được cho là đóng một vai trò quan trọng ở các bang tâm trạng, có thể gây ra các triệu chứng PMS. Không đủ lượng serotonin có thể góp phần làm trầm cảm tiền kinh nguyệt, cũng như mệt mỏi, thèm ăn và vấn đề ngủ.

Trầm cảm. Một số phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt nặng đã không được chẩn đoán trầm cảm, mặc dù một mình trầm cảm không gây ra các triệu chứng.

Căng thẳng. Stress có thể làm nặng thêm một số triệu chứng của PMS.

Thói quen ăn uống nghèo. Một số triệu chứng PMS có liên quan đến các mức thấp của sinh tố và khoáng chất. Có thể đóng góp khác PMS bao gồm ăn nhiều thức ăn mặn có thể gây giữ nước, và uống rượu và đồ uống có chứa cafêin có thể gây rối loạn mức độ năng lượng và tâm trạng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Không phát hiện chất độc hoặc các xét nghiệm để chẩn đoán tích cực hội chứng tiền kinh nguyệt. Bác sĩ có thể thuộc triệu chứng cụ thể để PMS nếu nó là một phần của mẫu tiền kinh nguyệt dự đoán được. Để giúp thiết lập một mẫu tiền kinh nguyệt, bác sĩ có thể có:

Giữ một cuốn nhật ký. Ghi lại các triệu chứng và dấu hiệu trên lịch hoặc trong một cuốn nhật ký trong ít nhất hai chu kỳ kinh nguyệt. Lưu ý là ngày mà lần đầu tiên thông báo các triệu chứng PMS, cũng như ngày biến mất. Cũng chắc chắn để đánh dấu thời gian trong ngày bắt đầu và kết thúc.

Điền vào một bảng câu hỏi. Vào ngày đầu tiên của thời kỳ của mình, hãy điền vào một bảng câu hỏi. Các câu hỏi liên quan đến bất kỳ triệu chứng PMS trải nghiệm trong hai tuần trước. Công cụ này giúp bác sĩ biết liệu có thể có lợi từ việc đánh giá thêm.

Phương pháp điều trị và thuốc

Bác sĩ có thể quy định một hoặc nhiều thuốc trong hội chứng tiền kinh nguyệt. Sự thành công của thuốc trong việc làm giảm các triệu chứng thay đổi từ người phụ nữ này đến phụ nữ khác. Thông thường thuốc theo quy định hội chứng tiền kinh nguyệt bao gồm:

Thuốc chống trầm cảm. Chọn lọc các chất ức chế tái hấp thu serotonin (SSRI), trong đó bao gồm fluoxetine (Prozac, Sarafem), paroxetin (Paxil), sertraline (Zoloft) và những loại khác, đã thành công trong việc giảm các triệu chứng như mệt mỏi, thèm ăn, khó ngủ và là dòng đầu tiên cho điều trị PMS hoặc PMDD trầm trọng. Các thuốc này thường được thực hiện hàng ngày. Nhưng đối với một số phụ nữ với PMS, sử dụng các thuốc chống trầm cảm có thể được giới hạn trong hai tuần trước khi hành kinh bắt đầu.

Chống viêm không steroid (NSAIDs). Dùng trước hoặc lúc bắt đầu thời kỳ kinh, NSAID như ibuprofen (Advil, Motrin, những loại khác) hay naproxen sodium (Aleve) có thể dễ dàng giúp ích đau bụng và đau vú.

Thuốc lợi tiểu. Khi tập thể dục và hạn chế lượng muối ăn không đủ để làm giảm sự tăng cân, sưng tấy và đầy hơi của PMS, dùng thuốc lợi tiểu, có thể giúp cơ thể đổ nước thừa thông qua thận. Spironolactone (Aldactone) là một thuốc lợi tiểu có thể giúp giảm một số triệu chứng của PMS.

Uống tránh thai. Những thuốc theo toa thuốc ngăn chặn sự rụng trứng và ổn định nội tiết thất thường, qua đó cung cấp cứu trợ từ các triệu chứng PMS. Yaz, một loại thuốc ngừa thai chứa progestin drospirenone, có hành vi tương tự như các spironolactone lợi tiểu, đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với thuốc kiểm soát sinh thường xuyên trong việc làm giảm các triệu chứng thể chất và tình cảm của PMS và PMDD.

Medroxyprogesterone acetate (Depo-Provera). Đối với PMS nặng hoặc PMDD, tiêm có thể được sử dụng để tạm thời ngừng sự rụng trứng. Tuy nhiên, Depo-Provera có thể gây ra sự gia tăng trong một số các dấu hiệu và triệu chứng trải nghiệm cùng với PMS, chẳng hạn như tăng sự thèm ăn, tăng cân, nhức đầu và tâm trạng chán nản.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Đôi khi có thể quản lý hoặc làm giảm các triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt bằng cách làm thay đổi cách ăn uống, tập thể dục và phương pháp tiếp cận cuộc sống hàng ngày. Hãy thử những cách tiếp cận:

Sửa đổi chế độ ăn uống.

Ăn nhỏ hơn, bữa ăn thường xuyên hơn để giảm đầy hơi và cảm giác no.

Hạn chế muối và thức ăn mặn để giảm đầy hơi và giữ nước.

Chọn thực phẩm giàu carbohydrate, chẳng hạn như trái cây, rau và ngũ cốc.

Chọn thực phẩm giàu canxi. Nếu không thể chịu đựng được các sản phẩm sữa hoặc không nhận được đầy đủ canxi trong chế độ ăn uống, có thể cần bổ sung canxi mỗi ngày.

Hãy bổ sung vitamin hàng ngày.

Tránh chất caffeine và rượu.

Kết hợp tập thể dục thành thói quen thường xuyên.

Tham gia ít nhất 30 phút đi bộ nhanh, đạp xe, bơi lội hoặc hoạt động aerobic khác hầu hết các ngày trong tuần. Thường xuyên tập thể dục hàng ngày có thể giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và làm giảm các triệu chứng như mệt mỏi và tâm trạng của trầm cảm.

Giảm căng thẳng.

Nhận được rất nhiều giấc ngủ.

Thực hành tiến bộ, cơ bắp thư giãn hoặc tập hít thở sâu để giúp giảm đau đầu, lo lắng hoặc khó ngủ (mất ngủ).

Hãy thử yoga hoặc massage để thư giãn và giảm stress.

Ghi lại các triệu chứng cho một vài tháng.

Lưu giữ hồ sơ để xác định kích hoạt và thời gian của các triệu chứng. Điều này sẽ cho phép can thiệp với các chiến lược có thể giúp để giảm bớt chúng.

Thay thế thuốc

Dưới đây là những gì được biết về hiệu quả của một số trong những phổ biến hơn các sản phẩm bổ sung và biện pháp sử dụng để làm dịu các triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt:

Canxi. Tiêu thụ 1.200 milligrams (mg) và chế độ ăn uống bổ sung canxi hàng ngày, chẳng hạn như cacbonat canxi nhai (Tums, Rolaids, những loại khác), có thể làm giảm triệu chứng thể chất và tâm lý của PMS. Thường xuyên, lâu dài sử dụng cacbonat canxi cũng làm giảm nguy cơ loãng xương.

Magnesium. 400 mg magiê bổ sung hàng ngày có thể giúp giảm giữ nước, đau và sưng vú ở phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt.

Vitamin B-6. Một liều hàng ngày từ 50 đến 100 mg vitamin B-6 có thể giúp một số phụ nữ có triệu chứng khó PMS.

Vitamin E. Vitamin này, được chụp trong 400 đơn vị quốc tế hàng ngày, có thể dễ dàng triệu chứng PMS bằng cách giảm việc sản xuất prostaglandins, hormone giống như chất gây ra đau bụng và đau vú.

Thảo dược. Một số báo cáo phụ nữ giảm các triệu chứng PMS với việc sử dụng các loại thảo mộc như cohosh đen, gừng, lá mâm xôi, bồ công anh, chasteberry và dầu anh thảo vào buổi tối. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả của các loại thảo mộc cho là giúp giảm bớt những ảnh hưởng của PMS. Cục Quản lý dược và thực phẩm không quy định các loại thảo mộc. Điều đó có nghĩa là an toàn và hiệu quả không phải là minh chứng. không có đảm bảo rằng sản phẩm mua có chứa các thành phần hoạt động trên nhãn hoặc là nó không bị ô nhiễm với các chất khác có thể gây hại.

Kem progesterone tự nhiên. Đây là những nguồn gốc từ khoai mỡ tự nhiên và đậu nành. Một số phụ nữ báo cáo rằng những loại kem làm giảm triệu chứng. Không có nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả của nó.

Nguồn sức khoẻ đời sống

Lấy lại “phong độ” sau khi dùng thuốc tránh thai

Nhức đầu, chóng mặt, tức ngực

Theo Hilda Hutcherson, TS-bác sĩ sản phụ khoa tại ĐH Columbia (Mỹ), khi gặp các triệu chứng này hãy kiên nhẫn, không nên lo lắng. Những tác dụng phụ này thường sẽ biến mất sau một thời gian bạn dùng thuốc. Nếu sau đó, triệu chứng này vẫn không hết mà có dấu hiệu nặng thêm thì cách tốt nhất là nên ngừng thuốc và tìm đến bác sĩ.

Buồn nôn

Đây là triệu chứng thường gặp khi dùng thuốc tránh thai, có thể biến mất sau một vài tháng sử dụng. Trong trường hợp vẫn không hết, bạn có thể dùng thuốc kèm với thực phẩm để quên đi cảm giác buồn nôn nếu là thuốc dạng viên. Nếu là vòng hoặc miếng dán tránh thai thì cần phải chuyển sang một phương pháp khác.

tranh-thai

Ra máu

Bác sĩ Hutcherson nói: “Tôi nghĩ rằng đây là tác dụng khiến phụ nữ đau đầu hơn bất kì tác dụng phụ nào khác bởi nó rất khó lường”. Vì vậy, hãy dùng thuốc tránh thai vào một thời điểm chính xác trong ngày. Đặc biệt, bạn cần lưu ý, đối với phương pháp cấy ghép progestin thì nội mạc tử cung mỏng sẽ có khả năng bị bong tróc nên chảy máu (tuy về mặt tích cực, nó có thể khiến cho kỳ kinh nguyệt của bạn nhẹ nhàng hơn).

Giảm ham muốn tình dục

Dùng thuốc tránh thai có thể làm giảm nhu cầu và khoái cảm tình dục, nên thỉnh thoảng bạn hãy tìm cách thay đổi biện pháp tránh thai khác. Phụ nữ có những biểu hiện trên có thể chuyển sang dùng loại thuốc tránh thai có nhiều androgen (giống testosterone), chắc chắn sẽ lấy lại được ham muốn và cải thiện đời sống chăn gối của mình – theo bác sĩ Hutcherson.

Tính tình thay đổi

Bỗng dưng bạn cảm thấy căng thẳng, thất vọng, bồn chồn hoặc thậm chí tính tình thay đổi. Nếu cho rằng thuốc tránh thai là nguyên nhân gây ra hiện tượng này thì tốt nhất bạn nên tìm một phương pháp khác không liên quan đến hormone.

Theo nld