Tag Archives: nhiễm trùng

Dinh dưỡng cho bệnh nhân sau khi phẫu thuật

Các chất sinh năng lượng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của chúng ta. Có năng lượng chúng ta mới có thể sống, làm việc lao động và chống lại bệnh tật. Nhưng với người sau phẫu thuật làm thế nào để bổ sung năng lượng hợp lý, dinh dưỡng đầy đủ để cơ thể mau phục hồi?

Khó hồi phục nếu sai phác đồ dinh dưỡng

Hiện nay nhiều người trong chúng ta đang mắc một sai lầm khi chăm sóc người nhà ốm đó là sau khi ốm mệt hoặc trải qua một kỳ phẫu thuật sẽ cho người bệnh ăn thật nhiều từ thô đến tinh hoặc bổ sung quá nhiều vitamin, dưỡng chất… với một suy nghĩ đơn giản ăn như thế mới mau hồi phục sức khỏe. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng bệnh nhân sau phẫu thuật nếu không được chăm sóc sức khỏe đúng cách và chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ dẫn đến những biến chứng cho vết mổ như lâu lành, nhiễm trùng, bung vết mổ…

dinh-duong-cho-benh-nhan-sau-khi-phau-thuat

Để nhanh lành vết mổ, điều quan trọng là người bệnh phải ăn uống đầy đủ chất đạm. Chất đạm tốt có nhiều trong các loại thịt như thịt gà, thịt lợn, thịt bò, chim cút…

Chất béo: Các chất béo trong cá hay thủy hải sản là chất béo tốt mà người bệnh nên ăn. Không ăn hoặc rất hạn chế ăn chất béo từ động vật như lợn, chó, gà, vịt… Tránh ăn nước béo trong nước dùng phở, bún, tránh ăn da gà, vịt.

Chất xơ: Trái cây và rau quả tươi chứa cả chất dinh dưỡng và chất xơ, rất cần thiết để giúp lành vết mổ. Thức ăn chứa chất xơ đóng vai trò quan trọng trong ngăn ngừa bệnh táo bón, một biến chứng thường gặp sau phẫu thuật, nhất là phẫu thuật ổ bụng. Thức ăn chứa nhiều chất xơ là: bánh mì nâu và bánh mì đen làm từ ngũ cốc. Cùng với đó Vitamin C là một chất chống ôxy hóa, giúp nhanh lành vết mổ và nâng cao sức đề kháng, làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Những thực phẩm giàu vitamin C là cam, bưởi, chanh, rau ngót, dâu tây, kiwi, rau xanh các loại. Beta-caroten là chất có ở thức ăn, mà cơ thể sẽ biến thành vitamin A, rất quan trọng cho việc hình thành mô sẹo, làm nhanh lành vết thương. Các thực phẩm chứa nhiều beta-caroten mà bệnh nhân nên ăn là cà rốt, đu đủ, gấc, khoai lang, bí đỏ.

Theo chuyên gia dinh dưỡng một trong những lưu ý hàng đầu khi chăm người bệnh là cần phải cho bệnh nhân uống đủ nước để đào thải các độc tố do thuốc men gây ra. Khi chế biến thực phẩm cần phải mềm như: cháo, súp, sữa… Nếu cần có thể cho ăn thành nhiều bữa và thời gian ăn nên kéo dài hơn bình thường để giúp người bệnh thấy dễ chịu, thoải mái và ăn được nhiều hơn.

Giải pháp cho người bệnh khó ăn

dinh-duong-cho-benh-nhan-sau-khi-phau-thuat1

Một chế độ chăm sóc đặc biệt cho người bệnh sẽ giúp phục hồi sức khỏe nhanh chóng. Trên thực tế, có nhiều bệnh nhân gặp khó khăn ăn uống sau khi phẫu thuật. Nếu bị táo bón có thể gây ra thiếu cảm giác ngon miệng. Khi đó, người bệnh cần báo với bác sĩ phẫu thuật để được hướng dẫn cách làm giảm táo bón

Bên cạnh việc ăn uống hợp lý trong gia đình thì trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thực phẩm dạng bột cũng như dạng nước bổ sung dinh dưỡng cho người bệnh. Theo tư vấn của chuyên gia dinh dưỡng thì tất cả mọi lứa tuổi đều có thể sử dụng được các loại thực phẩm bổ sung dinh dưỡng. Nhưng khi sử dụng phải chú ý vì hiện nay trên cộng đồng số người có khả năng không có men Lactose trong cơ thể không phải là ít. Ví dụ khi uống sữa bò hoặc dùng các sản phẩm có sữa bò sẽ có cảm giác đầy bụng, sôi ruột, dị ứng, tiêu chảy. Tốt nhất nên sử dụng các loại đậu đỗ đặc biệt là đậu nành là loại thực phẩm quý nó cho một hàm lượng đạm cao hơn cả thịt, cao hơn cả mỡ, một hàm lượng các vitamin và khoáng rất cao so với các thực phẩm từ thức ăn động vật.

Với bệnh nhân suy kiệt khi nằm viện không có điều kiện phục vụ nhiều như ở gia đình thì những sản phẩm dinh dưỡng cao năng lượng có bổ sung chất xơ FOS hỗ trợ tiêu hóa là sự lựa chọn yên tâm nhất cho người bệnh

Nguồn giadinh.net

U nang buồng trứng gây hậu quả như thế nào

U nang buồng trứng thường phát triển âm thầm và không có nhiều dấu hiệu rõ rệt ở giai đoạn ban đầu. Tuy nhiên, bất cứ lúc nào bệnh cũng có thể đột ngột gây biến chứng cấp tính hoặc bán cấp tính: xoắn nang, chảy máu trong nang, vỡ nang, nhiễm trùng, chèn ép tiểu khung vì thế bạn nên cẩn thận nhé!

Một số trường hợp u nang buồng trứng còn gây ung thư, chủ yếu là loại u nang nước, nang nhầy. Tuy nhiên, còn tùy theo kích thước và tính chất khối u cũng như nguyện vọng sinh đẻ của bệnh nhân mà chọn phương pháp phẫu thuật triệt để cắt bỏ toàn bộ khối u và buồng trứng bên bệnh hay chỉ bóc tách khối u để lại phần buồng trứng lành.

u-nang-buong-trung

Nếu là nang buồng trứng cơ năng thường là những nang nhỏ, không có hại, có thể ở một hay ở cả 2 buồng trứng. Những nang này rất hay gặp ở những phụ nữ ở độ tuổi từ dậy thì đến mãn kinh tức là độ tuổi sinh sản khi 2 buồng trứng phóng ra nhiều trứng trưởng thành nhất.

U nang buồng trứng cơ năng (một hoặc 2 bên) có thể không ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và người bệnh vẫn có thể có con. Tuy nhiên, nếu cần phải mổ để lấy u nang thì thầy thuốc thường tư vấn trước cho người bệnh biết trường hợp có thể ảnh hưởng đến tiềm năng sinh sản: khi cả 2 buồng trứng đều nang hoá, không còn mô lành. Thông thường, chỉ với một buồng trứng hoặc thậm chí một phần lành của buồng trứng, người phụ nữ vẫn có thể sinh sản.

Trên siêu âm, người ta dựa vào kích thước khối u, cấu trúc vỏ u (dày hay mỏng), thành phần trong khối u (echo trống là dịch, echo dày là mô đặc), có hình ảnh chồi hay vách, ở một hay 2 bên buồng trứng, có dịch trong ổ bụng… để xếp loại khối u.

Theo đó, bác sĩ sẽ căn cứ vào kết quả thăm khám trực tiếp và các kết quả xét nghiệm vừa thực hiện và sẽ hướng dẫn bạn nên tiếp tục điều trị như thế nào và có lời khuyên chính xác nhất.

Theo ttvn

Những phản ứng phụ thường gặp khi xạ trị ung thư miệng

Xạ trị là cách dùng các tia có bước sóng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Khô miệng, sâu răng, nhiễm trùng… là những tác dụng phụ có thể xảy ra sau điều trị.

Phương pháp này thường được dùng cho các khối u nhỏ hoặc những trường hợp không thể tiến hành giải phẫu cắt bỏ tế bào ung thư. Ngoài ra, nó cũng được dùng kết hợp với phẫu thuật nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.

Hiện nay các bác sĩ có thể lựa chọn xạ trị bên trong hoặc bên ngoài áp dụng cho bệnh nhân. Đối với xạ trị bên ngoài, các tia bức xạ sẽ được phát ra từ một loại máy chuyên dụng.

nhung-phan-ung-phu-thuong-gap-khi-xa-tri-ung-thu-mieng

Các tia xạ được chiếu lên khu vực cần tiêu diệt tế bào ung thư, ngăn cho chúng không tấn công các mô khỏe mạnh. Xạ trị bên ngoài kéo dài năm ngày một tuần và mỗi lần chỉ mất vài phút.

Trong khi đó, xạ trị nội bộ ít được dùng cho bệnh nhân ung thư miệng. Ở đây, một loại phóng xạ được đưa trực tiếp vào mô vùng miệng hoặc cổ họng nhằm tiêu diệt tế bào ung thư. Phương pháp điều trị này có thể kéo dài vài ngày.

Dù lâu hay nhanh, cả hai phương pháp trên đều để lại những tác dụng không mong muốn. Và mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào lượng xạ được sử dụng.

1 – Cảm giác đau miệng, cổ họng: xạ trị có thể gây loét, đau đớn trong miệng và cổ họng. Để hạn chế, bạn có thể đề nghị bác sĩ kê thuốc giảm đau.

2 – Khô miệng: ảnh hưởng của xạ trị khiến lượng nước bọt được tiết ra rất hạn chế, gây khó khăn trong khi ăn và nói chuyện. Uống nước là giải pháp hữu hiệu trong trường hợp này. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng các mẩu kẹo cứng không đường để làm ẩm khoang miệng.

3 – Sâu răng: ảnh hưởng này rất thường xảy ra khi xạ trị ung thư miệng. Tuy nhiên, bằng việc thường xuyên vệ sinh sạch sẽ có thể giúp ngăn ngừa sự tấn công của vi khuẩn gây sâu răng.

Bên cạnh đó, khi đánh răng bạn cần đưa bàn chải thật nhẹ nhàng; tốt nhất nên chọn loại bàn chải mềm và vệ sinh răng miệng thường xuyên sau bữa ăn, trước khi ngủ.

4 – Gây đau, chảy máu nướu răng: ở thời điểm này nướu trở nên rất nhạy cảm, vì vậy bạn cần đánh răng và dùng chỉ nha khoa vệ sinh thật nhẹ nhàng. Đặc biệt, tuyệt đối không sử dụng tăm để xỉa răng.

nhung-phan-ung-phu-thuong-gap-khi-xa-tri-ung-thu-mieng1

5 – Gây nhiễm trùng: tình trạng khô miệng và tổn thương niêm mạc do xạ trị khiến vi khuẩn dễ dàng tấn công và gây nhiễm trùng. Hàng ngày, bạn cần theo dõi các vết loét và các thay đổi bất thường khác. Nếu có vấn đề, cần báo ngay cho bác sĩ để họ nắm rõ được tình hình sức khỏe của bạn.

6 – Hàm trở nên “cứng” hơn: xạ trị có thể làm ảnh hưởng đến việc nhai nuốt. Cụ thể, nó khiến bạn gặp khó khăn mỗi khi mở miệng để đưa thức ăn vào. Để không phải chịu phiền toái từ nó, bạn có thể tập mở miệng với mức độ to dần và áp dụng càng nhiều càng tốt.

7 – Nếu trước đây bạn có sử dụng răng giả thì việc thực hiện xạ trị sẽ làm thay đổi cấu trúc các mô trong miệng và khiến chúng không còn vừa vặn nữa. Sau đợt điều trị, bạn nên đề nghị các bác sĩ nha khoa thực hiện chỉnh sửa hoặc thay mới nếu cần thiết.

Bệnh uốn ván

Uốn ván là một bệnh không lây từ người này sang người khác, gây nên bởi một độc tố thần kinh mạnh, do VK Clostridium tetani tạo nên. Độc tố nầy (gọi là tetanospasmin) phong bế sự ức chế của các phản xạ tủy sống, làm các phản xạ nầy trở nên dễ bị kích thích, không thể kiểm sóat được.

Hậu quả đưa đến sự co giật các cơ trên nền một trương lực cơ căng cứng, đặc trưng lâm sàng cho bệnh uốn ván. Là một bệnh nặng, nhưng có thể phòng bệnh đưọc bằng chủng ngừa vắc xanh.

Nguyên nhân

Bệnh uốn ván gây ra do vi khuẩn uốn ván, có tên khoa học là Clostridium.tetani.

Là một vi khuẩn kỵ khí. Tạo bào tử khi gặp môi trường không thuận lợi. Bào tử có khả năng sống rất dai dẳng trong môi trường bất lợi, do đó rất khó tiêu diệt. Bào tử hiện diện khắp nơi trong môi trường.Hay gặp trong đất cát, và phân động vật.

Vi khuẩn tạo ngọai độc tố tetanospasmin, có khả năng gắn rất bền vào các thụ thể thần kinh do đó gây bệnh. Độc tố nầy rât độc, do đó, chỉ một lượng nhỏ cũng đủ gây bệnh trong khi chưa đủ để kích thích cơ thể tạo nên kháng thể. Do đó, sau khi mắc bệnh , nếu không chủng ngừa người ta có thể mắc lại dễ dàng.

dinh-gi

Nhận biết

Đa số các vết thương thường gặp đều có nhiễm bào tử uốn ván. Tuy nhiên, bào tử chỉ biến thành thể thực vật họat động và sản xuất độc tố khi chỉ số oxyd-khử tại vết thương giảm. Trường hợp nầy thường gặp khi có những mảnh họai tử, do bản thân vết thương hay do các vi khuẩn khác tạo nên. Tồn tại vật lạ và nhiễm trùng là những điều kiện thuận lợi cho VK uốn ván phát triển. Bản thân vk uốn ván không gây phản ứng viêm, cho nên vết thương vẫn lành tính khi nhiễm bào tử uốn ván cho đến khi có bội nhiễm.

Độc tố tetanospasmin, tạo ra từ vết thương sẽ theo đường bạch huyết và đường máu đến các bản vận đông, thoi cơ và các đầu mút các dây thần kinh vận động cũng như thục vật.. Từ đó, nó sẽ di chuyển ngược dòng xung động thần kinh để tiến về các neuron ở cuống não hay ở tủy sống. Độc tố không trực tiếp xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương được vì không qua được hàng rào mạch máu não. Khi xuyên qua synape, đến đầu mút tiền synape, độc tố sẽ ngăn cản giải phóng các chất trung gian thần kinh có nhiêm vụ ức chế cung phản xạ như các chất trung gian thần kinh glycine hay GABA (gamma -aminobutyric acide). Khi sự ức chế nầy giảm xuống, tỷ số kích họat thần kinh ở trạng thái nghỉ của các neuron vận động alpha tăng lên, tạo nên tình trạng cứng đơ của các nhóm cơ liên quan. Họat động của hệ glycinergic trong việc lan truyền xung động đa synape cũng bị han chế khi họat động cung phản xạ không tòan vẹn. Điều nầy khiến sự họat động đồng vận và đối vận giữa các nhóm cơ không đồng bộ, đưa đến sư co cứng cơ (spasm) . Các neuron giao cảm tiền hạch cũng thóat khỏi ức chế bình thường, dẫn đến các phản xạ giao cảm qúa mức với nồng độ catecholamin trong máu cao khi bị kích thích.

Tetanospasmin, gần giống như độc tố botulism, có thể ức chế các trung gian thần kinh ở các tấm vận động TK cơ, tạo nên yếu hay liệt. Sự hồi phục chỉ xẩy ra khi cơ thể tái tạo những đầu mút thần kinh mới.

Trong uốn ván cục bộ, chỉ những dây thần kinh phân bố cho những nhóm cơ có biểu hiện lâm sàng bị ảnh hưởng. Trong uốn ván tòan thể, độc tố theo đường máu và bạch huyết lan đến khắp các đầu mút cuối của các dây thần kinh vận động (chúng không lan trực tiếp từ đường máu vào hệ TKTƯ được vì không qua hàng rào mạch máu não). Nếu chúng ta công nhận rằng tốc độ di chuyển ngược dòng của độc tố là giống nhau trong tất cả các dây TK, chúng ta sẽ giải thích được tại sao các cơ có dây vận động ngắn hơn thường bị ảnh hưởng sớm hơn (cơ nhai, các cơ ở đầu, thân rồi mới đến tứ chi).

Nguồn sức khỏe cộng đồng

Phòng ngừa và điều trị hăm da

Hăm da do tã lót thường gây đỏ nhẹ và đóng vảy ở vùng da mặc tã. Trong vài trường hợp, vùng da hăm có thể xuất hiện những nốt sẩn đỏ, mụn bóng nước và gây đau. Nếu bị nhiễm trùng, vùng hăm da trở nên đỏ hơn và da có thể bị sưng. Những nốt đỏ nhỏ có thể lan ra xa khỏi vùng hăm tã.

phong-ngua-va-dieu-tri-ham-da

Phòng ngừa và điều trị hăm da
– Điều quan trọng nhất để phòng ngừa và điều trị hăm da là phải giữ cho vùng mặc tã sạch, mát và khô. Nên thay tã cho trẻ thường xuyên khi tã ướt hoặc nhiễm bẩn; có những lúc có thể không mặc tã cho trẻ vì da tiếp xúc với khí trời sẽ thoáng hơn và dễ khô. Khi thay tã nên lau sạch vùng bẹn và mông của trẻ bằng nước ấm; có thể dùng một ít xà phòng ít chất kiềm. Nên để cho da trẻ khô hẳn trước khi mặc tã mới vào.
– Nên lót tã vải dưới mông của trẻ trong những giấc ngủ. Trẻ nhỏ thường đi tiểu ngay sau khi bắt đầu ngủ, vì thế nên kiểm tra xem tã có ướt không, ngay sau khi trẻ bắt đầu ngủ và thay ngay nếu tã bị ướt.
– Không nên dùng phấn thoa lên vùng hăm tã vì sẽ làm lỗ chân lông bít lại, không thoát mồ hôi được. Không dùng những loại kem bôi da có chứa axit boric, cồn, long não, salicylate hoặc hỗn hợp rượu cồn vì có thể gây hại cho trẻ. Tránh cho trẻ mặc quần có chất ny-lon.
– Nếu trẻ vẫn bị hăm tã, thay đổi loại khăn giấy lau, tã giấy hoặc xà phòng đang dùng. Nếu vùng hăm tã không đỡ hơn sau vài ngày áp dụng các cách trên, có thể trẻ bị nhiễm trùng vùng hăm tã. Nên đưa trẻ đến khám bác sĩ.
– Dùng các thuốc mỡ, kem bôi da trẻ em có nguồn gốc thảo dược và không chứa corticoid

Đề phòng bệnh Chàm ở trẻ nhỏ

Chàm còn gọi là eczema, thường xuất hiện ở một vùng da nào đó trên cơ thể trẻ như: mặt (đặc biệt là hai má, cằm), vùng đầu (sau tai, gáy) hoặc vùng bẹn, nách…
Trẻ bị chàm thường hay quấy khóc, kém ngủ, kém bú vì khó chịu, dưới đây là những điều cần làm để hạn chế bệnh cho trẻ.

Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến da của trẻ

Trước tiên, nên hạn chế tắm rửa, sử dụng dầu gội và sữa tắm cho trẻ sơ sinh dưới 10 ngày tuổi. Các nghiên cứu chứng minh rằng, việc tắm cho trẻ sơ sinh hàng ngày sẽ làm mất chất gây bảo vệ da của trẻ sơ sinh, gây khô da và tăng nguy cơ mắc bệnh chàm ở trẻ. Ngoài ra, cũng không nên dùng nước quá nóng khi tắm rửa cho trẻ, bởi vì nước nóng là nhân tố làm da trẻ bị mất nước.

de-phong-benh-cham-o-tre-nho

Nên sử dụng dầu gội và sữa tắm cho trẻ vào một chậu tắm riêng biệt. Điều này tránh cho trẻ phải ngâm mình quá lâu trong chậu tắm có chứa xà phòng. Tốt nhất, sau khi thoa xà phòng, bạn nhanh chóng tráng người cho trẻ bằng nước ấm và đặt trẻ sang một chậu nước khác, trước khi tiến hành kì cọ người cho trẻ.

Chọn chất liệu quần áo cho trẻ bằng vải tự nhiên thay vì sợi hóa học. Tránh những bộ trang phục chất liệu sợi dặm, nhựa tổng hợp vì chúng dễ làm tổn thương làn da nhạy cảm của trẻ.

Chú ý đến chất liệu của chăn đệm dành cho trẻ để tránh hiện tượng dị ứng da ở trẻ, không nên lạm dụng kem dưỡng ẩm và tránh thay đổi đột ngột nhiệt độ phòng của trẻ.

Hạn chế nguy cơ tái phát do thực phẩm

Trẻ bị dị ứng dễ kèm theo triệu chứng tái phát của bệnh chàm. Một năm, trẻ có thể mắc bệnh chàm một vài lần hoặc tần suất tùy theo sự thay đổi thời tiết và thức ăn. Vì vậy, nếu trẻ bước vào tuổi ăn dặm, nên lưu ý những loại thức ăn dễ gây dị ứng cho trẻ bao gồm: sữa bò, trứng, bột mì, đậu nành, lạc, cá, tôm, cua… Riêng với sữa bò, chỉ nên sử dụng cho trẻ trên 1 tuổi. Với các loại thức ăn mới, nên cho trẻ làm quen trong một vài tuần để thử phản ứng cơ thể của trẻ. Nếu thấy trẻ có dấu hiệu dị ứng với bất kỳ loại thực phẩm nào, nên tạm thời ngừng lại và chờ cho đến khi trẻ lớn hơn.

Nếu trẻ bị chàm, nên lưu ý để không làm xây xước vùng da bị chàm của trẻ. Nếu bị tổn thương, vùng da bị chàm dễ bị chảy máu, viêm nhiễm (lúc này gọi là chàm nhiễm trùng). Khi ấy, việc điều trị chàm nhiễm trùng sẽ khó khăn hơn và có thể để lại sẹo xấu cho cơ thể trẻ.

Theo Suckhoe&doisong

Những khó chịu ở đường tiêu hóa

Trào ngược axit, viêm dạ dày hay ăn không tiêu đều khiến bạn mệt mỏi. Dưới đây là những biện pháp khắc phục nhanh các triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa mà bạn thường gặp.

Táo bón

Chế độ ăn nhiều thịt và tinh bột nhưng thiếu các loại chất xơ từ rau củ quả sẽ gây ra hiện tượng táo bón. Tuy không gây đau bụng quá nhiều như các loại bệnh về dạ dày và ruột khác nhưng về lâu dài, người bệnh có thể gặp nhiều hậu quả nghiêm trọng như bệnh trĩ, nhiễm trùng,… Trong trường hợp này, sinh tố hoa quả hoặc ăn các thực phẩm có tính mát, nhuận tràng như khoai lang, chuối tiêu… có thể giúp bạn đẩy lùi chứng táo bón.

nhung-kho-chiu-o-duong-tieu-hoa

Đầy hơi

Khi bạn bị đầy hơi, bụng sẽ chứa đầy khí gas, gây đau, tức bụng và ợ nóng. Để phòng bệnh bạn nên tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, các món ngọt. Cách chữa nhanh trong trường hợp khẩn cấp là uống thật nhiều nước để nhanh chóng giải phóng gas tích tụ trong dạ dày và ruột, đồng thời kết hợp động tác yoga ngồi ép bụng vào gối. Đây là động tác rất hữu hiệu, giúp bạn nhanh chóng loại bỏ khí gas dư thừa.

Đau bụng tiêu chảy

Cơ thể mệt mỏi kết hợp với việc ăn phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn là nguyên nhân chính của chứng tiêu chảy. Người bệnh thường đau bụng dưới dữ dội, đi ngoài nhiều, dễ bị kiệt sức.

Trong trường hợp không may bị đau bụng đi ngoài, bạn nên bổ sung chất lỏng để bù nước và dùng trà gừng để hạn chế tiêu chảy nếu không có sẵn thuốc.

Khó tiêu

Những nguyên nhân gây khó tiêu bao gồm việc dị ứng men lactose của sữa, ăn thức ăn quá cay hoặc quá nóng, nếu từng có tiền sử bị chứng khó tiêu bạn nên hạn chế các thực phẩm cay nóng.

Bạn nên dùng các thực phẩm mềm, ăn nhiều rau, nhai kỹ và tham khảo bác sĩ về việc dùng thuốc phù hợp để cải thiện chứng bệnh này.

Trào ngược dạ dày

Bạn  bị trào ngược dạ dày khi lượng axit trong dạ dày tăng cao, triệu chứng thường thấy là ợ chua, nóng rát vùng cổ, ngực, thỉnh thoảng sẽ đi kèm cảm giác khó thở và đau vùng thượng vị. Nguyên nhân chính là do bạn bỏ bữa nên khi bạn ăn lượng axit thừa sẽ phản ứng và trào ngược gây khó chịu.

Cách khắc phục là thay đổi tư thế nằm (gối đầu cao khoảng 15cm hoặc kê vai cao 25cm); tránh tư thế cúi lâu, tránh nằm ngửa ngay sau bữa ăn và trong khoảng 3 giờ.

Theo afamily.vn

Sự nguy hiểm của viêm đường tiết niệu

Viêm bàng quang là hay gặp và thường không nghiêm trọng nếu được điều trị nhanh. Nhưng nếu nhiễm trùng lan lên thận, nó có thể gây bệnh nặng hơn.

1. Triệu chứng

Triệu chứng của viêm bàng quang

Phần lớn viêm đường tiết niệu là viêm bàng quang. Các triệu chứng của viêm bàng quang gồm:

– Đau và rát khi đi tiểu

– Tiểu gấp

– Đau bụng dưới

– Nước tiểu đục hoặc mùi hôi

– Một số người có thể không có triệu chứng

Triệu chứng của viêm thận

Viêm bàng quang không được điều trị có thể lan lên thận. Các dấu hiệu của viêm thận bao gồm:

– Đau một bên thắt lưng

– Sốt và rét run

– Buồn nôn và nôn

su-nguy-hiem-cua-viem-duong-tiet-nieu

2. Khi nào cần đi khám bệnh

Hãy đi khám bệnh nếu bạn có các dấu hiệu của viêm đường tiết niệu. Viêm bàng quang thường không phải là cấp cứu nội khoa, nhưng một số người có nguy cơ cao bị biến chứng. Những đối tượng này bao gồm phụ nữ có thai, người già, nam giới, người mắc bệnh tiểu đường, rối loạn thận, hoặc suy giảm hệ miễn dịch.

3. Chẩn đoán phân biệt

Mặc dù bỏng rát khi đi tiểu là một dấu hiệu cảnh báo của viêm đường tiết niệu, nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh lây truyền qua đường tình dục (như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, và nhiễm Trichomonas). Các xét nghiệm đơn giản có thể phân biệt được viêm đường tiết niệu và bệnh lây truyền qua đường tình dục.

4. Biến chứng

Mối nguy hiểm chính liên quan với viêm đường tiết niệu không được điều trị là nhiễm trùng có thể lan từ bàng quang lên một hoặc hai thận. Khi vi khuẩn tấn công thận, chúng có thể gây tổn thương thận và làm giảm vĩnh viễn chức năng thận. Ở những người bị bệnh thận, điều này có thể làm tăng nguy cơ suy thận. Tuy hiếm gặp nhưng nhiễm trùng cũng có thể đi vào dòng máu và lan tới các tạng khác.

5. Yếu tố nguy cơ

Viêm đường tiết niệu hay gặp nhất ở phụ nữ có quan hệ tình dục. Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ của bạn, bao gồm:

– Không uống đủ nước

– Tắm quá nhiều

– Nhịn tiểu

– Sỏi thận

6. Điều trị

Thường thì kháng sinh kê đơn sẽ chữa khỏi viêm đường tiết niệu. Các chuyên gia y tế có thể khuyên bạn uống nhiều nước và đi tiểu thường xuyên để tống khứ vi khuẩn. Viêm thận cũng có thể được điều trị bằng kháng sinh đường uống. Trường hợp viêm thận nặng có thể cần phải nằm viện để dùng một liệu trình kháng sinh đường tĩnh mạch.

Điều trị viêm đường tiết niệu tái phát

Một số phụ nữ bị viêm đường tiết niệu tái diễn nhiều lần. Nếu bạn bị từ 3 lần trở lên trong 1 năm, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về cách ngăn ngừa hoặc giảm thiểu nhiễm trùng này. Những lựa chọn của bạn có thể bao gồm:

– Dùng kháng sinh liều thấp trong thời gian dài

– Dùng một liều kháng sinh sau khi quan hệ tình dục

– Dùng kháng sinh tự điều trị ngay sau khi xuất hiện triệu chứng

7. Phòng ngừa

Một số cách dưới đây có thể làm giảm nguy cơ viêm đường tiết niệu:

– Uống nhiều nước

– Vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục

– Lau, rửa vùng sinh dục từ trước ra sau

– Tắm dưới vòi hoa sen thay cho bồn tắm

Nguồn giáo dục

10 dấu hiệu phổ biến của bệnh ung thư bạch cầu

Người mắc bệnh bạch cầu (một loại bệnh ung thư liên quan tới máu và tủy xương) có thể không hay biết cho tới khi đi xét nghiệm máu. Dưới đây là 10 dấu hiệu phổ biến của bệnh này.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau

1. Những đốm đỏ dưới da: Những đốm xuất huyết màu đỏ hoặc đỏ tía thường xuất hiện thành đám trên ngực, lưng, mặt và cánh tay của người bệnh. Đó là triệu chứng cho thấy máu không đông. Dấu hiệu này có thể bị nhầm lẫn với chứng phát ban nhưng thực chất, chúng là những mạch máu bị vỡ do giảm tiểu cầu.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau1

2. Đau nhức xương, khớp: Đau sâu trong xương là một trong những dấu hiệu đặc trưng của bệnh bạch cầu vì nó không trùng lặp với nhiều loại bệnh khác. Cơn đau xảy ra khi tủy xương nở do sự tích lũy bạch cầu bất thường. Người bệnh có thể thấy đau nhói hoặc âm ỉ, tùy thuộc vào chỗ đau. Xương dài nơi chân và cánh tay là những vị trí đau phổ biến nhất.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau2

3. Đau đầu: Một trong những dấu hiệu ít được nhắc tới ở bệnh bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu cấp là chứng đau đầu thường xuyên. Cơn đau thường kéo dài và dữ dội. Một số bệnh nhân kể rằng họ thức dậy với cơn đau đầu, mồ hôi đầm đìa và nhức nhối toàn thân. Nguyên do là máu chảy tới não bộ và tủy sống bị hạn chế. Khi cơn đau đầu diễn ra, mạch máu bị chèn ép. Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể bị tai biến.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau3

4. Xuất hiện hạch bất thường: Bệnh bạch cầu làm giảm khả năng sản sinh tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu khoẻ mạnh. Vì thế, chứng giảm bạch cầu sẽ làm cơ thể mất dần khả năng phản ứng với nhiễm trùng, thương tổn, dẫn tới sự xuất hiện của các hạch nhỏ. Chúng thường xuất hiện ở cổ, bụng hoặc vùng dưới cánh tay.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau4

5. Cảm thấy ốm yếu, mệt mỏi: Vì số lượng hồng cầu khoẻ mạnh giảm nên chúng không thể thực hiện nhiệm vụ đưa oxy tới khắp nơi trên cơ thể người. Kết quả là người bệnh sẽ bị thiếu máu và gặp các chứng như yếu cơ, ít sức vận động. Thường xuyên phải ngồi, nghỉ ngơi, không thể vận động như bình thường là những dấu hiệu bạn cần xem xét. Một số bệnh nhân còn cho biết họ gặp vấn đề với việc giữ thăng bằng.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau5

6. Dễ chảy máu, bầm tím: Tất cả các dạng chảy máu không lí giải được đều có thể là dấu hiệu của bệnh bạch cầu bởi khi đó, chứng giảm tiểu cầu sẽ ngăn máu đông. Những vết bầm có thể đột nhiên xuất hiện trong khi bạn nhớ rằng mình không va chạm vào bất cứ đâu. Hơn nữa, chúng còn có mặt ở những nơi lạ như ngón tay, bàn tay, bụng, lưng. Các vấn đề liên quan tới chảy máu gồm có: Đứt tay khó lành, thường xuyên chảy máu cam hay kinh nguyệt dài kì bất thường ở phụ nữ.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau6

7. Thường xuyên bị sốt, nhiễm trùng: Bệnh bạch cầu cấp hoặc mãn tính đều làm giảm sức đề kháng của cơ thể gây sốt kéo dài. Ngoài ra, bạn có thể hay bị nhiễm trùng hơn thông thường. Nguyên do của dấu hiệu này là vì các tế bào ung thư đã đẩy bạch cầu khoẻ mạnh ra ngoài, không để chúng thực hiện chức năng của mình.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau7

8. Thường xuyên bị sốt, nhiễm trùng: Bệnh bạch cầu cấp hoặc mãn tính đều làm giảm sức đề kháng của cơ thể gây sốt kéo dài. Ngoài ra, bạn có thể hay bị nhiễm trùng hơn thông thường. Nguyên do của dấu hiệu này là vì các tế bào ung thư đã đẩy bạch cầu khoẻ mạnh ra ngoài, không để chúng thực hiện chức năng của mình.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau9

9. Tình trạng thở bất thường: Khi không có đủ oxy tuần hoàn trong máu, bạn sẽ thấy hụt hơi giống như khi ở trên cao. Nhiều người nói họ không thể thở kịp trong khi số khác cho biết dù thở sâu thế nào họ vẫn cảm thấy không đủ.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau10

10. Đau bụng: Khi bệnh bạch cầu cấp tiến triển, nó có thể gây sưng tấy ở gan hoặc lá lách làm bạn thấy đau bụng hoặc đầy bụng. Tuy nhiên, một số người lại bị đau thắt lưng. Buồn nôn hoặc mất khẩu vị thường liên quan tới dấu hiệu này.

Nguồn giáo dục

Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị viêm phúc mạc

Viêm phúc mạc là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc nấm phúc mạc, một màng tơ giống như bức tường bên trong bụng và bao gồm các cơ quan trong ổ bụng. Nhiễm trùng có thể là một biến chứng của thẩm phân phúc mạc. Nó cũng có thể được gây ra bởi sự tích tụ chất dịch phúc mạc, nhiễm trùng khác, viêm hoặc chấn thương.

Dù nguyên nhân, viêm phúc mạc đòi hỏi phải được chăm sóc y tế để chống nhiễm trùng, nếu cần thiết, để điều trị bất kỳ điều kiện y tế cơ bản. Điều trị viêm phúc mạc thường liên quan đến thuốc kháng sinh và trong một số trường hợp, phẫu thuật. Nếu không điều trị, viêm phúc mạc có thể dẫn đến nhiễm trùng khắp cơ thể nghiêm trọng đe dọa tính mạng.

Nếu được thẩm phân phúc mạc, có thể giúp ngăn ngừa viêm phúc mạc do vệ sinh tốt trước, trong và sau khi lọc máu.

dau-hieu-nhan-biet-va-cach-dieu-tri-viem-phuc-mac

Dấu hiệu

Liên hệ với bác sĩ ngay lập tức nếu bị đau nặng hoặc đau ở bụng, đầy hơi bụng, hoặc cảm giác đầy đặn kết hợp với: Sốt, Buồn nôn và ói mửa.

Lượng nước tiểu thấp.

Không có khả năng trung đại tiện.

Nếu được thẩm phân phúc mạc, liên hệ với nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe ngay lập tức nếu dung dịch lọc là mây đục, nếu nó chứa flecks trắng, sợi hoặc khối (fibrin), hoặc nếu nó có mùi bất thường, đặc biệt là nếu các khu vực xung quanh ống thông màu đỏ hoặc đau đớn. Đây có thể là dấu hiệu của viêm phúc mạc.

Nguyên nhân

Dưới đây là những nguyên nhân phổ biến nhất của viêm phúc mạc:

Chạy thận phúc mạc. Lọc loại bỏ các chất thải và nước dư thừa từ máu khi thận có thể không còn đủ làm như vậy. Với thẩm phân phúc mạc, mạng lưới các mạch máu nhỏ trong bụng (phúc mạc khoang) được sử dụng để lọc máu. Viêm phúc mạc là biến chứng thường gặp nhất liên quan đến thẩm phân phúc mạc. Sự nhiễm trùng có thể xảy ra trong quá trình thẩm phân phúc mạc do môi trường xung quanh không sạch, vệ sinh kém, thiết bị ô nhiễm.

Sự tích tụ chất lỏng. Bệnh có tổn thương gan gây ra, chẳng hạn như xơ gan, có thể dẫn đến một số lượng lớn tích tụ chất dịch trong ổ bụng (cổ trướng). Sự tích tụ chất lỏng dễ bị nhiễm vi khuẩn. Đây là loại viêm phúc mạc được gọi là viêm phúc mạc tự phát

Phương pháp điều trị

Để điều trị viêm phúc mạc, bác sĩ có thể sẽ kê toa một loại thuốc kháng sinh để chống nhiễm trùng và ngăn ngừa lây lan. Cách thức và thời gian điều trị kháng sinh phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng và loại viêm màng bụng.

Có thể cần được nhập viện vì viêm phúc mạc do nhiễm trùng từ các điều kiện y tế khác (viêm phúc mạc thứ phát). Phẫu thuật thường cần thiết để loại bỏ mô bị nhiễm bệnh, điều trị các nguyên nhân cơ bản của nhiễm trùng và ngăn ngừa các nhiễm trùng lây lan.

Nếu đang trải qua thẩm phân phúc mạc và có viêm phúc mạc, bác sĩ có thể khuyên nên nhận được chạy thận trong một cách khác trong vài ngày trong khi chữa bệnh nhiễm trùng cơ thể. Nếu viêm phúc mạc vẫn tiếp diễn hoặc tái phát, có thể cần phải dừng lại hoàn toàn thẩm phân phúc mạc và chuyển sang một hình thức khác nhau của lọc máu

Phòng chống

Thông thường, viêm phúc mạc liên quan đến thẩm phân phúc mạc là do vi trùng xung quanh ống thông. Nếu được thẩm phân phúc mạc, thực hiện các bước sau đây để ngăn ngừa viêm phúc mạc:

Rửa tay, bao gồm bên dưới móng tay và giữa các ngón tay, trước khi chạm vào các ống thông.

Làm sạch da xung quanh ống thông với chất khử trùng hàng ngày.

Cung cấp trong một khu vực vệ sinh.

Nếu đã có viêm phúc mạc tự phát trước, hoặc nếu có sự tích tụ chất dịch phúc mạc do một điều kiện y tế như xơ gan, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng sinh để phòng ngừa viêm phúc mạc.

Tổng hợp

Các loại thuốc kháng sinh tự nhiên

Viêm phổi, bệnh lao, nhiễm trùng vết thương ngày nay đã không còn là mối đe dọa như thời vẫn chưa xuất hiện thuốc kháng sinh. Tân dược đã cứu sống sinh mạng nhiều triệu người. Ngày nay thật khó hình dung việc điều trị nhiều chứng bệnh thiếu thuốc kháng sinh. Tuy nhiên chỉ nên dùng trong trường hợp thật sự cần thiết và tuân thủ nghiêm ngặt mọi chỉ dẫn của thầy thuốc. Lạm dụng thuốc kháng sinh hoặc tự ý cắt ngắn thời gian chữa trị sẽ dẫn đến tình trạng vi trùng kháng thuốc.

Vậy nên hãy coi phát minh kỳ diệu của thế kỷ trước như vũ khí hạng nặng, chỉ được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt. Trước khi vi trùng gây bệnh tấn công tổng lực, hãy tìm đến những kháng sinh tự nhiên đã được y học cổ truyền sử dụng từ hàng ngàn năm. Kháng sinh tự nhiên tiêu diệt không chỉ vi trùng, mà cả virus, nấm độc và thậm chí ký sinh trùng. Không có tác dụng phụ, kháng sinh tự nhiên còn cung cấp cho cơ thể các vitamin và thành phần vi khoáng cần thiết. Cũng có thể sử dụng như vũ khí hỗ trợ tác dụng của thuốc kháng sinh.

Mật ong xoay xở với cảm lạnh
cac-loai-thuoc-khang-sinh-tu-nhien
– Các chuyên gia mỹ phẩm sử dụng mật ong bôi môi, để phục hồi làn da. Thực tế mật ong còn có thể làm nhiều hơn. Nó kìm hãm sự phát triển của vi trùng (thí dụ khuẩn mụn cóc, khuẩn cầu xoắn) và virus, phát huy tác dụng chống viêm, ngạt mũi và giảm đau. Tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể. Vậy nên có thể sử dụng mật ong như thuốc tự nhiên, trường hợp bị cảm lạnh, xổ mũi, ho khan, viêm họng. Trong những trường hợp như vậy, mật ong rừng phát huy hiệu quả cao nhất. Sức mạnh của mật ong tăng gấp 200 lần
– một khi hòa tan vào nước đun sôi để ấm.
– Tác dụng khác
– Mật ong phát huy tác dụng điều hòa nhịp tim, hạ áp huyết, cải thiện tuần hoàn máu. Ngăn ngừa xuất hiện phù nề, bởi mật ong phát huy tác dụng lợi tiểu. An thần và dễ ngủ, mật ong cải thiện trao đổi chất trong cơ thể.
– Thuốc gia đình
– Đổ một thìa cà phê mật ong vào ly nước chanh (1/2 quả) ấm. Uống trong trường hợp bị cảm lạnh, cảm cúm, viêm phế quả và viêm phổi.

Tỏi ngăn ngừa cảm cúm
cac-loai-thuoc-khang-sinh-tu-nhien1
-Tỏi chứa trên 200 hoạt chất có lợi cho sức khỏe. Quan trọng nhất trong số đó là allicine – hợp chất phát huy tác dụng tương tự thuốc kháng sinh. Ngoài ra tỏi tiêu diệt virus, vì thế cũng có thể hỗ trợ điều trị cúm. Tỏi phát huy tác dụng đặc biệt với các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp. Ăn tỏi tươi hoặc uống nước tỏi mang lại hiệu quả cao nhất. Cũng có thể sử dụng trong trường hợp viêm họng, viêm lợi, viêm amiđan.
– Tác dụng khác
– Kích thích dạ dày gia tăng tiết dịch tiêu hóa, kích thích mật sản xuất dịch mật. Tiêu diệt ký sinh trùng ruột, nhất là giun sán. Giảm thiểu nồng độ cholesterol, hạ áp huyết.
Thuốc tự làm
– 50 gam tỏi rửa sạch, thái mỏng ngâm với ¼ lít rượu trắng 45 độ. Sau 5 ngày có thể uống. Mỗi ngày một thìa cà phê (2-3 lần/ngày).

Hành chữa khản cổ
cac-loai-thuoc-khang-sinh-tu-nhien2
– Hành phát huy tác dụng tiêu diệt vi trùng nhờ hợp chất fitoncyd bay hơi trong lúc thái nhỏ và những hợp chất nằm trong củ hành. Những hợp chất đặc biệt của hành phát huy tác dụng tuyệt vời đối với màng niêm mạc, bởi chúng làm gia tăng sự tạo ra dịch nhầy, vì thế giúp cơ thể loại bỏ tình trạng viêm đường hô hấp trên.
– Tác dụng khác.
-Hành cũng giầu hợp chất chống viêm, vì thế bôi nước hành lên vết côn trùng đốt sẽ phát huy tác dụng giảm sưng tấy, giảm đau. Ngoài ra hành còn có tác dụng hạ áp huyết và chống xơ vữa thành mạch.
Thuốc tự làm
– Hành củ rửa sạch, bóc vỏ thái nhỏ trộn đường để đến ngày hôm sau. Dùng vải màn vắt lấy nước, bỏ bã. Mỗi ngày uống một thìa canh (trẻ em – thìa cà phê) sau bữa ăn chữa khản tiếng, viêm họng, ho khan.

Nam việt quất kìm hãm viêm bàng quang

– Xoay xở tuyệt vời với vi trùng, nhất là khuẩn Escheria coli – thủ phạm gây viêm bàng quang. Những nguyên tố thực vật có trong nam việt quất (proantocyjanid) kìm hãm sự sinh sôi và cản trở chúng làm tổ ở niêm mạc đường tiết niệu. Chi tiết quan trọng hơn: trái với thuốc kháng sinh, hợp chất proantocyjanid không tiêu diệt vi khuẩn có ích trong đường tiêu hóa. Người hay bị viêm đường tiết niệu nên ăn, uống nước vắt hoặc uống thuốc bào chế từ thảo dược này. Đó là giải pháp hiệu quả thúc đẩy chữa trị và ngăn ngừa bệnh tái phát.
– Tác dụng khác
– Tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể, ngăn ngừa các bệnh răng miệng, hỗ trợ điều trị các bệnh hệ tuần hoàn máu, các bệnh do nấm độc. Ngoài ra còn phát huy tác dụng ngăn ngừa quá trình hình thành sỏi thận.

Nguồn gia đình

Điều cần biết trước khi phẫu thuật amidan

Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, đặc biệt là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan.

Theo số liệu của Viện Hàn lâm Tai Mũi Họng Mỹ, hơn 530.000 trẻ em dưới 15 tuổi nước này đã cắt bỏ amidan mỗi năm. Khoảng 80% trẻ có vấn đề khi ngủ như ngáy, thở không đều do nhiễm trùng. Có một số phương pháp các bác sĩ sử dụng cắt bỏ amidan, phổ biến nhất là phương pháp đốt điện. Tuy nhiên, do sử dụng nhiệt, các mô mềm của cổ họng bị đốt cháy, gây đau nhiều hơn và hồi phục lâu hơn.
amidan
Trong vòng 10 năm trở lại đây, các bác sĩ đã sử dụng một phương pháp ít gây đau đớn. Các bác sĩ phẫu thuật “cạo” các amidan với một lưỡi dao quay và sử dụng ống hút để cầm máu. Phương pháp này ít ảnh hưởng đến vòm họng, ít đau, ít bị chảy máu và thời gian hồi phục nhanh hơn.

Sau khi phẫu thuật, amidan có thể phát triển trở lại? Không phải tất cả trẻ em đều có thể cắt amidan, đặc biệt là những trẻ lặp đi lặp lại tình trạng nhiễm trùng như viêm họng. Thậm chí có trẻ càng bị viêm nặng hơn sau khi cắt bỏ amidan. Theo các nhà nghiên cứu, ước tính 10% khả năng amidan sẽ phát triển trở lại trong vòng 2-3 năm sau. Khi quyết định cho trẻ cắt amidan, bạn cần sự tư vấn của bác sĩ để lựa chọn phương pháp phù hợp và biện pháp để tránh amidan tái phát.

Theo ANTĐ

Cẩn thận với dịch âm đạo bất thường

Cơ quan sinh sản bị tổn thương sẽ phát ra những dấu hiệu đặc trưng nhất là dịch âm đạo tăng lên đáng kể kèm theo mùi hôi hoặc có màu sắc khác thường.

Dịch âm đạo là do các tuyến yên sản sinh ra. Nó giúp mang tế bào chết và vi khuẩn xấu ở âm đạo ra ngoài, giữ cho âm đạo luôn sạch sẽ, ngăn ngừa nhiễm trùng. Dịch âm đạo khi ở trạng thái bình thường sẽ có màu từ trắng trong đến trắng sữa, rất nhờn tùy thuộc thời gian của chu kì kinh nguyệt và không nặng mùi.

Nếu dịch âm đạo có mùi, màu khác màu trắng hoặc trong, độ kết dính bất thường, đặc biệt kèm theo ngứa, nóng rát âm đạo thì rất có thể là dấu hiệu chị em bị nhiễm trùng hoặc bị bệnh nào đó ở cơ quan sinh sản.

can-than-voi-dich-am-dao-bat-thuong

Để biết mình có bị bệnh ở đường sinh sản hay không, hãy kiểm tra dịch âm đạo của bạn nhé:

– Dịch âm đạo ra nhiều cả ngày, trong suốt như lòng trắng trứng: Có thể là biểu hiện của xói món cổ tử cung, rối loạn chức năng buồng trứng.

– Dịch âm đạo ra nhiều, có màu xám, vàng, sủi bọt hoặc vàng nhạt kèm theo ngứa âm đạo, đôi khi dịch có lẫn máu bên trong: Có thể là biểu hiện của viêm âm đạo.

– Dịch âm đạo đặc như bã đậu hoặc sữa chua, âm đạo sưng tấy và đỏ, có cảm giác ngứa và luôn muốn đi tiểu: Có thể là viêm âm đạo do nấm.

– Dịch âm đạo ra nhiều, dạng nước, có màu vàng lẫn mùi hôi, thỉnh thoảng có máu trong dịch, ngứa âm hộ: Có thể là viêm âm đạo do tuổi tác.

– Dịch âm đạo có màu vàng hoặc xanh, dạng mủ, mùi hôi kèm theo sưng ngứa âm hộ: Có thể là biểu hiện của viêm âm đạo cấp tính, viêm cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung.

– Dịch âm đạo ra nhiều, có vẻ bẩn và hôi, đôi khi có màu nâu hoặc lẫn máu trong đó: Có thể là biểu hiện của viêm nội mạc tử cung, polyp cổ tử cung, xói mòn cổ tử cung.

– Dịch âm đạo ra rất nhiều và liên tục, dạng đặc như bột gạo, có mùi rất hôi: Có thể là dấu hiệu của ung thư âm đạo, u xơ dưới niêm mạc tử cung.

– Dịch âm đạo dạng nước, màu vàng hoặc đỏ, có thể trong dịch có lẫn máu: Có thể là dấu hiệu chứng tỏ ống dẫn trứng không khỏe mạnh.

– Dịch âm đạo dạng mủ hoặc nước, đôi khi ngứa và đau ở bộ phận sinh dục: Có thể là triệu chứng của viêm vùng chậu.

– Dịch âm đạo có lẫn máu bên trong, chu kì kinh nguyệt không đều, có cảm giác bị đè nén, có khối u ở vùng bụng: Có thể là triệu chứng của u xơ tử cung.

– Dịch âm đạo ra nhiều, thậm chí tiết ra như mủ kèm theo đi tiểu thường xuyên và có cảm giác đau: Dấu hiệu của bệnh lậu.

Ngay khi thấy âm đạo tiết dịch bất thường, hãy đi khám sớm để được điều trị kịp thời. Cách điều trị sẽ phụ thuộc nguyên nhân gây bất thường âm đạo. Các biểu hiện dịch âm đạo cũng có thể giống nhau ở những bệnh khác nhau, vì vậy, đi khám bác sĩ là cách tốt nhất để được chẩn đoán đúng bệnh.

Ngoài ra chị em nên lưu ý một vài điều sau đây để giữ cho cơ quan sinh sản của mình được khỏe mạnh:

– Giữ cho âm đạo sạch sẽ bằng cách vệ sinh với nước ấm nhẹ nhàng.

– Không bao giờ sử dụng xà phòng có mùi thơm để vệ sinh âm đạo.

– Không thụt rửa âm đạo và cũng tránh dùng thuốc xịt âm đạo.

– Sau khi đi vệ sinh, nếu dùng giấy thì lau từ trước ra sau để tránh vi khuẩn vào âm đạo và gây nhiễm trùng.

– Mặc quần lót 100% cotton và tránh quần áo quá chật.

Nhipcausuckhoe.com.vn

Cách chữa trị nhanh 5 triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa

Trào ngược axit, viêm dạ dày hay ăn không tiêu đều khiến bạn mệt mỏi. Dưới đây là những biện pháp khắc phục nhanh các triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa mà bạn thường gặp.

5 triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa phổ biến nhất là đầy hơi, trào ngược dạ dày, đau bụng tiêu chảy, táo bón, khó tiêu… Hãy học cách xử trí những triệu chứng này tại đây.

Đầy hơi

Khi bạn bị đầy hơi, bụng sẽ chứa đầy khí gas, gây đau, tức bụng và ợ nóng. Để phòng bệnh bạn nên tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, các món ngọt. Cách chữa nhanh trong trường hợp khẩn cấp là uống thật nhiều nước để nhanh chóng giải phóng gas tích tụ trong dạ dày và ruột, đồng thời kết hợp động tác yoga ngồi ép bụng vào gối. Đây là động tác rất hữu hiệu, giúp bạn nhanh chóng loại bỏ khí gas dư thừa.

tieu-hoa

Trào ngược dạ dày

Bạn  bị trào ngược dạ dày khi lượng axit trong dạ dày tăng cao, triệu chứng thường thấy là ợ chua, nóng rát vùng cổ, ngực, thỉnh thoảng sẽ đi kèm cảm giác khó thở và đau vùng thượng vị. Nguyên nhân chính là do bạn bỏ bữa nên khi bạn ăn lượng axit thừa sẽ phản ứng và trào ngược gây khó chịu.

Cách khắc phục là thay đổi tư thế nằm (gối đầu cao khoảng 15cm hoặc kê vai cao 25cm); tránh tư thế cúi lâu, tránh nằm ngửa ngay sau bữa ăn và trong khoảng 3 giờ.

Đau bụng tiêu chảy

Cơ thể mệt mỏi kết hợp với việc ăn phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn là nguyên nhân chính của chứng tiêu chảy. Người bệnh thường đau bụng dưới dữ dội, đi ngoài nhiều, dễ bị kiệt sức.

Trong trường hợp không may bị đau bụng đi ngoài, bạn nên bổ sung chất lỏng để bù nước và dùng trà gừng để hạn chế tiêu chảy nếu không có sẵn thuốc.

Táo bón

Chế độ ăn nhiều thịt và tinh bột nhưng thiếu các loại chất xơ từ rau củ quả sẽ gây ra hiện tượng táo bón. Tuy không gây đau bụng quá nhiều như các loại bệnh về dạ dày và ruột khác nhưng về lâu dài, người bệnh có thể gặp nhiều hậu quả nghiêm trọng như bệnh trĩ, nhiễm trùng,… Trong trường hợp này, sinh tố hoa quả hoặc ăn các thực phẩm có tính mát, nhuận tràng như khoai lang, chuối tiêu… có thể giúp bạn đẩy lùi chứng táo bón.

Khó tiêu

Những nguyên nhân gây khó tiêu bao gồm việc dị ứng men lactose của sữa, ăn thức ăn quá cay hoặc quá nóng, nếu từng có tiền sử bị chứng khó tiêu bạn nên hạn chế các thực phẩm cay nóng.

Bạn nên dùng các thực phẩm mềm, ăn nhiều rau, nhai kỹ và tham khảo bác sĩ về việc dùng thuốc phù hợp để cải thiện chứng bệnh này.

Theo Afamily

Ngừa nhiễm trùng tai ở trẻ

Theo thống kê, có khoảng 2/3 số trẻ em bị nhiễm trùng tai ít nhất một lần trước giai đoạn lên hai tuổi. Và tình trạng nhiễm trùng tai thường gây ra bởi virus hoặc vi khuẩn.

Những đứa trẻ dưới 7 tuổi có thể bị nhiễm trùng tai vì nhiều lý do, như:

– Những ống thông với phần sau của cổ họng với tai giữa của trẻ bị hẹp (những ống này gọi là vòi Ot-tat). Vị trí của những ống này cũng có thể làm gia tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.

– Hệ miễn dịch của trẻ đang phát triển, chưa hoàn chỉnh.

nhiemtrungtai

Những đứa trẻ có thể bị nhiễm trùng tai khi có các biểu hiện như bị đau ở tai; không nghe rõ; hay nắm kéo tai; sốt trên 38 độ C; hay khóc trong lúc bú hoặc ăn.

Hãy cho trẻ đến bệnh viện kiểm tra nếu bạn nghi ngờ trẻ bị nhiễm trùng tai.

Một vài thể nhiễm trùng tai có thể tự khỏi trong vòng vài ngày mà không cần điều trị. Trong khi một số trường hợp khác cần phải sử dụng đến kháng sinh. Các bác sĩ thường điều trị cho những đứa bé dưới 6 tháng tuổi bằng cách chỉ định sử dụng thuốc kháng sinh. Riêng đối với những trẻ lớn hơn và có triệu chứng nhiễm trùng tai nhẹ, bác sĩ có thể đề nghị chờ một vài ngày xem bệnh có tự khỏi hay không rồi mới kê thuốc kháng sinh.

Khi các bác sĩ chỉ định cho trẻ uống thuốc kháng sinh, hãy bảo đảm rằng trẻ cần phải uống đúng thời lượng (ngay cả khi trẻ cảm thấy bớt bệnh sớm hơn). Nếu buộc trẻ ngừng việc sử dụng thuốc kháng sinh quá sớm, chứng nhiễm trùng tai có thể bị tái lại và khi đó, trẻ phải cần tới loại thuốc kháng sinh mạnh hơn để điều trị.

Bác sĩ cũng có thể chỉ định các phương pháp điều trị giúp giảm triệu chứng đau tai ở trẻ như cho trẻ uống thuốc acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Motrin or Advil), và đôi khi bác sĩ cũng sử dụng các loại thuốc nước để nhỏ vào tai trẻ.

Sau khi điều trị, tai của trẻ có thể bị chảy nước và làm giảm khả năng nghe của trẻ trong vòng ba tuần hoặc lâu hơn. Và thính giác của trẻ sẽ trở lại bình thường khi các chất lỏng trong tai không còn hình thành nữa.

Làm gì để ngăn ngừa?

– Cho trẻ bú sữa mẹ. Sữa mẹ có chứa các chất kháng thể đặc biệt, có thể giúp bảo vệ cơ thể trẻ trước các nguy cơ bị nhiễm trùng, bao gồm cả các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng tai.

– Giữ trẻ đúng tư thế trong lúc bú bình. Điều này giúp ngăn ngừa sữa không nhiễu vào các vòi Ot-tat trong tai giữa của trẻ, gây nhiễm trùng. Đồng thời, bạn cũng nên tránh để bình sữa trong nôi, cũi của trẻ sau khi cho trẻ bú xong.

– Không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá. Vì khói thuốc dường như làm gia tăng nguy cơ gây ra các vấn đề về tai, cũng như hệ hô hấp và nhiễm trùng. Việc làm sạch bụi bặm trong nhà cũng rất có ích đối với trẻ.

– Bảo đảm rằng trẻ phải được chủng ngừa miễn dịch đầy đủ. Vắc-xin pneumococcal có thể giúp trẻ ngăn ngừa chứng nhiễm trùng tai gây ra bởi các loại vi khuẩn nhất định.

Nhiễm trùng tai ở trẻ

Nhiễm trùng tai là căn bệnh thường xảy ra với trẻ, đặc biệt là với trẻ dưới 3 tuổi. Để phòng ngừa căn bệnh này, các bác sĩ nhi khoa khuyến cáo các bậc cha mẹ nên lưu ý một số điểm sau:

– Không được dùng vật nhọn hay bất cứ đồ vật nào cho vào tai trẻ để làm sạch tai. Việc làm này sẽ càng khiến ráy tai hoặc chất dịch đi sâu vào ống tai hơn.

– Nhỏ 2, 3 giọt dầu oliu vào tai trẻ vài tuần 1 lần để làm sạch tai và ráy tai.

nhiemtrungtai

– Thường xuyên massage phía sau tai và xuống cổ để các chất lỏng di chuyển thông qua các hạch bạch huyết và ra khỏi tai. Bạn có thể làm thao tác này khi cho trẻ bú mẹ hoặc bú bình.

– Cho trẻ ăn thực phẩm tự nhiên, hạn chế những thực phẩm chế biến sẵn. Trẻ ăn nhiều thực phẩm đường (từ phẩm màu màu nhân tạo hoặc hương liệu) có thể làm suy giảm hệ thống miễn dịch, khiến trẻ dễ bị bệnh nhiễm trùng và thời gian khỏi bệnh sẽ lâu hơn.

– Trẻ bú sữa mẹ thường ít bị nhiễm trùng tai hơn trẻ bú bình. Điều này không chỉ do các kháng thể trong sữa mẹ mà còn bởi sữa mẹ rất giàu dinh dưỡng như axit béo omega-3, vitamin D rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ và ngăn ngừa bệnh tật.

Theo an ninh thủ đô

Tẩy lông vùng kín gây mắc bệnh tình dục

Các nhà khoa học Pháp cảnh báo những phụ nữ thường xuyên tẩy lông vùng kín dễ có nguy cơ nhiễm trùng da qua đường tình dục.

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học Anh cho thấy những người dân Brazil hay những vùng dân cư khác thường xuyên tẩy lông vùng kín dễ bệnh u mềm lây (Molluscum contagiosum). Đây là bệnh gây ra bởi một loại virus lây lan do tiếp xúc qua da với người bị nhiễm.

tay_loc_mac_benh_Tinh_duc

Các chuyên gia khuyên mọi người nên tẩy lông bằng phương pháp laser. Ảnh: nmbr

Các chuyên gia đã điều tra những người đàn ông và phụ nữ chữa bệnh tại phòng khám da liễu tư nhân ở  Nice (Pháp) từ tháng 1-2011 đến tháng 3-2012. Kết quả cho thấy 93% số người đã tẩy lông vùng kín, trong đó 70% thực hiện bằng phương pháp cạo và 10% là dùng wax. Hầu hết các đối tượng bị nhiễm Molluscum, với các dấu hiệu nhiễm trùng như nổi mẩn, viêm nang lông…

Theo đề nghị của các nhà nghiên cứu, trầy xước, tổn thương khi tẩy lông có thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự lây nhiễm. PGS- TS Mary Gail Mercurio, chuyên khoa da liễu tại Trung tâm Y tế Đại học Rochester, cho biết cô thường xuyên nhìn thấy Molluscum lây trong người làm sạch lông mu.

Mercurio cho biết: “Tôi hướng dẫn các bệnh nhân ngừng tẩy, cạo lông vùng kín cho đến khi triệu chứng nhiễm trùng được kiểm soát, bởi vì cạo hay tẩy lông sẽ làm virus lây lan nhiều hơn”.

So sánh sự mối liên hệ giữa các phương pháp tẩy lông và nhiễm trùng, cô Mercurio khuyên mọi người nên tẩy lông bằng laser vì phương pháp này không làm tăng nguy cơ nhiễm trùng do không gây trầy xước da.

Theo 24h

Mụn nhọt có thể biến chứng nhiễm khuẩn huyết

Mụn nhọt thường là bệnh lành tính, nhưng không nên coi thường, vì từ một mụn nhỏ lại có thể trở thành biến chứng nhiễm khuẩn huyết, đe dọa đến cả tính mạng.

Khi cơ thể yếu, sức đề kháng kém, lao động nặng nhọc, ra mồ hôi nhiều, da bị xước do gãi, thì tụ cầu, liên cầu sẽ có cơ hội xâm nhập vào cơ thể, gây hoại tử lỗ chân lông, tạo ra mụn nhọt.

Biểu hiện ban đầu là những nốt đỏ nổi trên da rồi lan rộng dần. Chỗ mọc nhọt, da nóng, đỏ và đau. Vài ngày sau, trên nốt đỏ có đốm vàng, khi đốm vỡ có mủ chảy ra, ở giữa có ngòi – đó là sợi chân lông. Đôi khi có hiện tượng viêm mạch bạch huyết hoặc nổi hạch xung quanh khu vực nhọt.

Kích thước của nhọt thường bằng hạt ngô, hạt đỗ, quả mận, và có khi còn bằng quả trứng gà, trong có nhiều mủ. Vị trí nhọt ở khắp nơi trên cơ thể như đầu, mặt, tay, chân, bụng, ngực, mông. Với mụn nhọt ở một vài vị trí đặc biệt thì phải chú ý, như đinh râu, hậu bối (bệnh than ngoài da), vì chúng dễ gây ra biến chứng nguy hiểm.

mun_nhot_gay_chet_nguoiVới mụn nhọt ở một vài vị trí đặc biệt thì phải chú ý, như đinh râu, hậu bối (bệnh than ngoài da), vì chúng dễ gây ra biến chứng nguy hiểm.

Một số loại mụn nhọt thường gặp:

– Đinh râu: Là nhọt do tụ cầu khu trú ở vùng môi trên, rãnh mũi, trên cằm gây ra, thường gặp ở những người có sức đề kháng kém. Nếu dùng tay nặn, gẩy đinh râu, tụ cầu sẽ có cơ hội xâm nhập vào tĩnh mạch mặt, rồi vào tĩnh mạch xoang hang trong sọ não, gây viêm tắc tĩnh mạch xoang hang.

Mặt người bệnh sẽ sưng húp, biến dạng, mắt híp, trán hằn lên những nếp da xù xì, nhăn nheo. Người bệnh có thể bị sốt cao, nhiễm trùng huyết, mê man, dễ tử vong.

– Hậu bối (bệnh than ngoài da): Do tụ cầu gây viêm và hoại tử một số vùng tổ chức rồi hóa mủ. Bệnh thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch, người già, nghiện rượu, tiểu đường. Đặc điểm của hậu bối là nhọt mọc nhiều thành cụm, khi vỡ ra để lại miệng mủ như gương sen. Da xung quanh hậu bối bầm tím, có chỗ loét, hoại tử.

Hậu bối hay mọc ở vùng lưng, gáy, xương cùng, có kích thước mỗi chiều chừng 6-10 cm. Người mọc hậu bối có thể bị sốt cao, đau nhức, thể trạng kém, tắc mạch, nhiễm khuẩn huyết và tử vong. Nếu khỏi, hậu bối cũng để lại sẹo nhăn nhúm.

– Nhọt vùng hậu môn: Các mụn nhọt mọc quanh hậu môn từ các vết xây xát còn gọi là áp-xe quanh hậu môn. Nếu bị áp-xe sâu có thể ăn thông vào trực tràng, tạo ra lỗ rò hậu môn – trực tràng rất khó chịu.

– Chốc lở: Do nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, nhưng trong bài viết này chỉ đề cập đến chốc do tụ cầu. Chốc tụ cầu gặp ở người có sức đề kháng kém, rối loạn trao đổi chất, tăng tiết mồ hôi, kém vệ sinh. Chốc gồm nhiều mụn mủ to bằng hạt ngô, hạt đậu khu trú tại vùng đầu, mặt, chi. Trên một lỗ chân lông, bọng mủ phát triển thành hình bán cầu, chảy mủ vàng và dính. Sau 1 tuần thì mụn mủ vỡ ra, để lại vảy nâu.

– Lẹo: Là nhọt ở chân lông bờ mi mắt, thường gặp ở người tiểu đường. Bệnh thường dai dẳng, tái phát, hay chuyển từ bờ mi này sang bờ mi kia vì người bệnh hay dùng tay dụi mắt.

Để điều trị các mụn nhọt thông thường, chỉ cần bôi thuốc sát trùng như Betadine, cồn lode 3%, hoặc ngâm tay, ngâm chân vào nước muối đặc. Khi nhọt đã “chín” thì chích mủ, nhưng phải đảm bảo vô trùng, tuyệt đối không được nặn nhọt non. Trong trường hợp nhọt to có sốt cao, hay bị đinh râu, hậu bối có nhiễm khuẩn thì phải sử dụng kháng sinh liều cao và được điều trị tại bệnh viện.

Để phòng mụn nhọt, ta phải giữ vệ sinh thân thể như giặt quần áo, thường xuyên tắm rửa, đặc biệt là về mùa hè, sau khi lao động nơi bụi bẩn. Cần thường xuyên rèn luyện thân thể, ăn uống đủ chất để nâng cao sức đề kháng. Không gãi và nặn mụn nhọt, nhất là đinh râu, vì nặn làm tổn thương hàng rào bảo vệ, tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào máu, gây nhiễm khuẩn huyết.

Theo suckhoevadoisong/24h

Nguyên nhân và điều trị viêm vùng chậu

Viêm vùng chậu (VVC) là bệnh lý phụ khoa thường gặp ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Đây là một hội chứng lâm sàng gây nên bởi tình trạng nhiễm trùng của tử cung, tai vòi, buồng trứng, phúc mạc chậu và các cơ quan lân cận. Phần lớn các trường hợp VVC là do sự phát tán một tình trạng nhiễm trùng trước đó ở âm đạo, cổ tử cung.

Những yếu tố nguy cơ và nguyên nhân

Các yếu tố nguy cơ gây nên VVC bao gồm: phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, có quan hệ sớm và quan hệ với nhiều bạn tình, đã có tiền căn viêm cổ tử cung nhầy mủ điều trị không triệt để, tái phát nhiều lần. Ngoài ra các thủ thuật nạo hút thai, các thủ thuật trên âm đạo, cổ tử cung, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây bệnh. Đa số trường hợp mà nguyên nhân gây bệnh là những loại vi khuẩn lây lan qua đường tình dục như neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp nguyên nhân gây bệnh có thể do các loại vi khuẩn khác có mặt trong âm đạo như gardnerella vaginalis, haemophilus influenzae, mycoplasma hominis, ureaplasma urealyticum Group A streptococci, Peumococci và các loại trực trùng trong đường ruột.

700-027212

Quan hệ một vợ một chồng là cách tốt nhất để tránh các bệnh viêm nhiễm qua đường tình dục dẫn đến viêm vùng chậu

Các dấu hiệu nhận biết

Tùy theo tác nhân gây bệnh, mức độ nhiễm trùng và khả năng đề kháng của cơ thể mà các dấu hiệu nhận biết trên lâm sàng trong VVC rất đa dạng từ người này sang người khác. Triệu chứng ban đầu chỉ là một cảm giác trằn nhẹ vùng bụng dưới, trường hợp này ta xếp vào nhóm mức độ nhẹ. Trường hợp nặng, người bệnh than đau vùng bụng dưới, đau từng cơn hay đau âm ỉ, huyết trắng âm đạo ra nhiều hơn và nặng mùi kèm thay đổi màu sắc huyết trắng, màu xanh hay màu vàng. Dấu hiệu sốt trên 38oC, ớn lạnh toàn thân, người mệt. Khi quan hệ, cảm giác đau nhiều, đau nhiều hơn khi ấn vào hạ vị.

Việc xác định VVC dựa vào các triệu chứng sau: đau vùng bụng dưới, đau khi lắc cổ tử cung lúc thăm khám âm đạo và đau khi khám 2 phần phụ (gồm vòi trứng, buồng trứng, hai bên phải và trái). Ngoài ra, xét nghiệm máu, bạch cầu tăng trên 10.000 mm

Diễn tiến của bệnh

Trong những trường hợp VVC không được điều trị hoặc điều trị không đúng mức có thể gây áp-xe vùng chậu, thường là khối áp-xe ở tai vòi buồng trứng, nhưng một số ít trường hợp khác có thể là khối áp-xe ở ruột non, ruột già hay ruột thừa. Khối áp-xe có thể vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.

Một số trường hợp VVC để lại di chứng đau vùng chậu mạn tính dai dẳng nguyên do vi khuẩn neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis đều có phân tử có khả năng kết dính với các receptors của tế bào biểu mô đường sinh dục, đồng thời chúng tiết nội độc tố làm tổn thương hàng loạt lông chuyển của nội mạc vòi trứng gây ra xơ dính làm ảnh hưởng sự thụ thai của người bệnh đưa đến vô sinh và dễ biến chứng bị thai ngoài tử cung về sau.

Điều trị

Việc điều trị viêm VVC chủ yếu là điều trị nội khoa với kháng sinh phổ rộng thích hợp, cần thiết điều trị sớm và liên tục có cơ may tránh được di chứng về sau của VVC. Tất cả các phác đồ điều trị phải hiệu quả đối với cả neisseria gonorrheae lẫn chlamydia trachomatis. Đối với các thể bệnh nhẹ, có thể điều trị tại nhà. Tuy nhiên với các thể bệnh nặng cần phải nhập viện điều trị. Tiêu chuẩn điều trị nội trú tại bệnh viện bao gồm các tình huống sau: người bệnh trẻ dưới 18 tuổi, khi xác định VVC mà chưa loại trừ các bệnh lý ngoại khoa khác như bệnh viêm ruột thừa; người bệnh đang mang thai; người bệnh điều trị ngoại trú không đạt kết quả, có kèm sốt cao 39oC hoặc xét nghiệm máu bạch cầu tăng 15.000mm3 và thăm khám bụng và âm đạo có khối áp-xe phần phụ.

Thuốc điều trị điều trị ngoại trú tại nhà đối với thể nhẹ: ofloxacin 400mg phối hợp flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày hoặc cifixim 400mg phối hợp doxycyclin 100mg và flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày. Cần kết hợp thuốc giảm đau, trợ sức, chế độ nghỉ ngơi và chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

Thuốc điều trị nội trú, việc sử dụng thuốc kháng sinh toàn thân liều cao cần theo sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Kết hợp giảm đau, hạ sốt, bù nước điện giải và nâng sức đề kháng cơ thể.

Trường hợp có biến chứng áp-xe vòi trứng và dùng thuốc kháng sinh không đáp ứng phải phẫu thuật cắt bỏ khối áp-xe và dẫn lưu ổ bụng.

Dự phòng

Phần lớn các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục nói chung và VVC nói riêng lây lan qua đường tình dục tùy thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế, xã hội. Vì vậy, để dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục cần thiết lưu ý đến một số các biện pháp sau:

– Tuyên truyền giáo dục và thông tin y tế, nhất là đối tượng thanh thiếu niên về những nguy hiểm của các bệnh lý lây qua đường tình dục.

– Đề cao nền tảng gia đình, tuyên truyền đời sống một vợ một chồng. Đây là cách tốt nhất để phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục.

– Đối với các quan hệ nghi ngờ, phải biết cách phòng bệnh cho mình và cho người tiếp xúc. Sử dụng bao cao su là phương pháp hữu hiệu nhất.

– Phụ nữ khi sử dụng, thuốc rửa phụ khoa phải đúng cách, theo sự chỉ dẫn trên mỗi chai thuốc rửa, lưu ý không thụt rửa vào âm đạo mà chỉ rửa vùng âm hộ mà thôi, việc thụt rửa vào trong âm đạo sẽ làm xáo trộn môi trường âm đạo tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn gây hại phát triển gây nhiễm khuẩn âm đạo. Khi có huyết trắng bất thường cần đến cơ sở chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị đúng cách, không nên tự ý đặt thuốc âm đạo.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Tìm hiểu nang tuyến Bartholin

Nang tuyến bartholin là bệnh lý phụ khoa ở phụ nữ tuổi sinh sản. Hàng năm, phụ nữ bị nang tuyến bartholin chiếm 2% số bệnh phụ khoa. Mặc dù việc điều trị đơn giản nhưng vấn đề được quan tâm là sự tái phát và chẩn đoán phân biệt nang tuyến với áp-xe hoặc tổn thương ác tính.

Vị trí của tuyến Bartholin

Tuyến Bartholin là tuyến thuộc cơ quan sinh dục ngoài, nằm ở cửa âm đạo vị trí 4 giờ và 8 giờ. Đây là những tuyến nhỏ nên rất khó để nhìn hay nhận thấy khi tuyến bình thường. Tuyến có dạng hình cầu, đường kính 1cm, được cấu tạo bởi tế bào trụ tiết nhầy. Chức năng của tuyến là tiết ra chất nhầy vào trong bề mặt môi nhỏ của âm hộ bao quanh âm đạo, giữ cho vùng đó được bôi trơn khi giao hợp và giữ ẩm.

Tại sao có nang tuyến Bartholin?

Sự hình thành nang tuyến là do tắc nghẽn ống tuyến, trong khi tuyến vẫn tiếp tục tiết ra chất nhầy, làm hình thành một nang có thành mỏng. Gọi là nang tuyến Bartholin hay cyst Bartholin. Sự tắc nghẽn của ống tuyến có thể do nguyên nhân nhiễm trùng và phù nề làm chèn ép ống tuyến, hoặc do chấn thương, nhiễm trùng mãn tính làm tắc miệng ống tuyến.

tim_hieu_nang_tuyen_bartholin

Nên đi khám phụ khoa khi phát hiện những bất thường.

Chẩn đoán nang tuyến Bartholin

Nang tuyến Bartholin là loại tổn thương dạng nang, kích thước 1,5 – 3cm, thường gặp nhất ở vùng âm hộ. Mặc dù nang tuyến thường chỉ một bên âm hộ và không biểu hiện triệu chứng gì, nên không cần điều trị, nang tuyến có thể tự tiêu đi. Nang tuyến điều trị, khi nang có sự tăng kích thước, có khi 5 – 10cm hoặc bị nhiễm trùng và gây đau ở vùng âm hộ. Thường gặp lứa tuổi 25 – 45. Xác định nang tuyến Bartholin là một chẩn đoán hoàn toàn lâm sàng. Phương pháp chẩn đoán đầu tiên và đơn giản nhất là quan sát tổn thương, xác định kích thước, mật độ, độ di động và cảm giác đau khi ấn. Nang tuyến và ống tuyến nằm phía trong và ở phần dưới của môi nhỏ âm hộ.

Chẩn đoán phân biệt nang tuyến Bartholin

Một số bệnh lý vùng âm hộ – âm đạo có triệu chứng gần giống của nang tuyến Bartholin. U mỡ hay nang vùng môi lớn: khối u nằm ngoài vùng âm hộ, xác định khám bằng tay và quan sát tổn thương. Tụ máu vùng âm hộ: sau chấn thương hay sang chấn vào vùng âm hộ, triệu chứng đau nhức, khối u to, bầm tím rịn máu. Nang tuyến Skene: vị trí nang nằm ngang lỗ niệu đạo, cao hơn tuyến Bartholin 2 – 3cm.

Xử trí nang tuyến Bartholin

Thông thường mở thông túi, có hai phương pháp:

– Rạch bóc nang tuyến, may viền túi làm thông ống tuyến gọi là may thông túi bằng chỉ tan như Chromic 2 ô, giúp tái tạo nang tuyến.

– Bóc chọn nang tuyến may mũi rời bằng chỉ tan. Đây là biện pháp cắt bỏ hoàn toàn nang tuyến. Kết hợp thuốc kháng sinh và thuốc giảm đau, kháng viêm. Mẫu mô nang tuyến sau khi bóc ra, cần gởi làm giải phẫu bệnh, để xác định bản chất nang tuyến.

Áp-xe nang tuyến Bartholin.

Khi nang tuyến bị nhiễm trùng thì nang tăng kích thước rất nhanh sau 2 – 4 ngày và gây đau nhiều, kèm theo sốt. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tuyến Bartholin có thể bị áp-xe mà không cần có tổn thương nang trước đó. Trước ây, quan niệm phổ biến cho rằng, áp-xe tuyến Bartholin là do hai tác nhân chính là lậu cầu hoặc chlamydia. Ngày nay, với những bằng chứng vi sinh học qua các nghiên cứu, các nhà khoa học kết luận rằng áp-xe của cơ quan này là do nhiều loại vi khuẩn gây ra. Brook đã phân lập và báo cáo tổng cộng có đến 67 loại vi khuẩn trong các trường hợp áp-xe tuyến Bartholin.

Xử trí áp-xe tuyến Bartholin

Kháng sinh toàn thân dùng loại kháng sinh như: cefotaxim 1g tiêm tĩnh mạch kết hợp Tobi 80mg tiêm bắp. Dùng giảm đau panadol 0,5g và alpha chymotrpysin. Sau 24 – 48 giờ. Rạch khối áp-xe của tuyến đặt penrose dẫn lưu. Có thể cắt bỏ hoàn toàn tuyến Bartholin. Tiếp tục thuốc kháng sinh bằng đường uống.

Sự tái phát trong nang tuyến Bartholin và cách phòng ngừa

Khoảng 20% trường hợp nang tuyến và áp-xe tuyến Bartholin bị tái phát và thường do vi trùng bệnh lậu gây nên.

Cần vệ sinh vùng âm đạo sạch sẽ, sử dụng việc tắm ngồi là biện pháp ngăn ngừa tái phát.

Việc phẫu thuật để giữ lỗ thông không bị bít lại, như may thông túi, hay có thể cắt bỏ hoàn toàn tuyến ống Bartholin.

Điều trị triệt để các bệnh lây qua đường tình dục.

Sử dụng bao cao su trong giao hợp nhằm ngăn ngừa sự lây truyền.

Ung thư tuyến Bartholin

Có hai dạng: nguyên phát và thứ phát:

Ung thư nguyên phát tuyến Bartholin là một bệnh lý phụ khoa hiếm gặp, chỉ chiếm 1% ung thư đường sinh dục nữ. Ung thư có triệu chứng điển hình giống như của áp-xe tuyến: khối u âm hộ, có hoặc không có loét và giao hợp đau. Do bệnh lý thuộc loại hiếm gặp nên các đặc điểm dịch tễ học của các yếu tố nguy cơ vẫn chưa được biết rõ. Độ tuổi trung bình bị ung thư là: 55 – 65 tuổi.

Ung thư thứ phát tuyến Bartholin là dạng ung thư của vùng mô lân cận hoặc từ nơi khác di căn tới. Chẩn đoán ung thư tuyến Bartholin cần sinh thiết mẫu mô làm xét nghiệm giải phẫu bệnh có sự hiện diện tế bào ác tính. Điều trị ung thư tuyến Bartholin: phẫu thuật kết hợp xạ trị.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Nhiễm trùng vú và các vấn đề về núm vú

Tạo hóa đã ban tặng cho người phụ nữ cặp nhũ hoàn toàn khác biệt với nam giới về hình dạng và cấu trúc, để đảm nhận thiên chức làm mẹ cũng như về mặt thẩm mỹ. Bên cạnh đó, các bệnh lý thông thường như nhiễm trùng (NT) vú hay các vấn đề về núm vú không thể tránh khỏi.

Viêm vú trong thời gian tiết sữa

Đây là loại NT vú thường gặp nhất xảy ra khi phụ nữ đang cho con bú. Vú chứa đầy sữa là một môi trường vi khuẩn dễ phát triển. Đứa bé thường cắn và ngậm vú gây nứt nẻ dưới da và mở đường cho vi khuẩn xâm nhập, hay vệ sinh kém. Trong một số trường hợp tuyến vú bị tắc nghẽn, sữa đặc lại dẫn đến lưu thông tuyến sữa không tốt. Triệu chứng NT: vú sưng đỏ và rất đau khi chạm vào vú kèm theo sốt. Điều trị viêm vú ở thể này: chườm ấm lên vú, cố gắng nặn bỏ sữa và không cho bé bú bên vú NT. Kết hợp dùng thuốc kháng sinh như: cephalexin, hay cifixim và dùng thuốc giảm đau như paracetamol.

Trong một số trường hợp viêm vú có 10% biến chứng thành áp-xe vú, những trường hợp này cần rạch tháo ổ áp-xe và dẫn lưu, kết hợp dùng thuốc kháng sinh liều cao.

nhiem_trung_vu_va_cac_van_de_num_vu

Tự khám vú để phát hiện những bất thường

Viêm vú khi không tiết sữa

Đây là thể bệnh ít gặp, thường xảy ra trên nền bệnh lý như: người bệnh bị đái tháo đường, bị suy giảm miễn dịch, hay người bệnh bị cắt bỏ khối u sau đó điều trị bằng tia xạ. Bệnh biểu hiện viêm mô tế bào hay NT da. Nguyên do một vài hạch bạch huyết giúp chống lại NT đã bị cắt bỏ hay hệ miễm dịch bị suy giảm. Triệu chứng điển hình  trên da, sưng đỏ đau và kèm theo sốt cao, vi khuẩn gây bệnh thường do liên cầu khuẩn. Ngoài ra nhọt trên da ở vú cũng có thể xảy ra nguyên nhân do tụ cầu vàng. Điều trị viêm vú không do tiết sữa dùng kháng sinh liều cao dạng tiêm như: augmentin, unasyn và thuốc giảm đau, kết hợp điều trị bệnh lý căn nguyên như: bệnh đái tháo đường, thuốc điều trị suy giảm miễn dịch. Rạch áp-xe và dẫn lưu nếu cần.

Áp-xe dưới quầng vú mạn tính

Đây là loại NT ít gặp, nguyên nhân là do ống dẫn tuyến vú bị tắc nghẽn, vi khuẩn xâm nhập vào tuyến gây NT. Loại NT này thường gặp ở phụ nữ có núm vú bị tụt vào trong làm cho lỗ mở của tuyến bị chít hẹp lại, khi xảy ra NT hình thành nên các ổ áp-xe. Nếu phát hiện  sớm trước khi hình thành ổ áp-xe dùng thuốc kháng sinh liều cao. Các ổ áp-xe là vùng nóng, đỏ, đau ở viền quầng vú giống như một cái nhọt. Điều trị rạch tháo mủ và đặt lame cao su dẫn lưu, kết hợp dùng thuốc kháng sinh và giảm đau. Đây là loại NT hay tái phát, khoảng 40% do NT lan từ ống tuyến này sang ống tuyến khác, nên cần chăm sóc kỹ và điều trị triệt để, nếu tái phát thường xuyên có thể cắt bỏ ống tuyến.

Chất tiết ở núm vú

Bình thường hầu hết phụ nữ đếu có một ít chất tiết ra khi bóp núm vú và điều này hoàn toàn bình thường. Một số phụ nữ khi dùng một số loại thuốc như: viên thuốc tránh thai, thuốc hạ áp như aldomet, thuốc an thần như thorazin hay thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng như cimetidin có thể gây tiết sữa hay tiết dịch. Nguyên nhân là do tăng tiết prolactin kích thích tuyến vú tiết sữa hay tiết dịch. Các chất tiết này thường xảy ra cả hai bên núm vú. Dịch tiết sẽ hết khi ngưng dùng thuốc. Dịch tiết ở núm vú chỉ gây khó chịu về mặt thẩm mỹ, không có gì phải lo lắng. Một khi dịch tiết ở núm vú xảy ra một bên, dai dẳng, dịch tiết tự chảy ra mà không cần nặn bóp. Nếu dịch tiết này có màu trắng và dính giống như lòng trắng trứng hoặc có lẫn máu, nguyên nhân có thể do bệnh u nhú trong ống, đây là một u nhỏ hay nhiều u nhỏ giống hạt cơm, ở trên thành của ống, u nhú này bị loét và chảy máu khiến dịch tiết có lẫn máu, là tình trạng lành tính nên cắt bỏ. Bệnh ung thư, những người bệnh ung thư hiếm có dịch tiết ở núm vú, khoảng 4% tất cả các trường hợp tiết dịch tự nhiên có lẫn máu ở một bên núm vú. Trường hợp ung thu vú cần điều trị theo chuyên khoa ung bướu với phẫu thuật cắt bỏ vú kết hợp xạ trị.

Ngoài ra, một dạng dịch tiết giống sữa một cách tự nhiên ở cả hai vú, một khi loại bỏ không phải giai đoạn cho bé bú gọi là đa tiết sữa. Nguyên nhân là do tăng quá mức prolactin. Có thể dùng bromocriptin để ức chế prolactin.

Ngứa núm vú

Đây là vấn đề thường gặp sau tiết dịch. Ngứa núm vú thường gặp cả hai bên vú, có thể bị khô da trên núm vú giống như bất kỳ nơi nào khác trên cơ thể, nguyên nhân có thể do dị ứng với áo nịt ngực hoặc chất giặt tẩy. Các cô gái ở tuổi dậy thì với vú phát triển thường bị ngứa núm vú do da bị kéo căng. Trường hợp ngứa khó chịu, ta có thể dùng kem chống dị ứng như phénergan thoa lên núm vú hay uống thuốc chống dị ứng như chlopheramin, telfast.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Nhiễm khuẩn âm đạo có thể là thủ phạm gây sảy thai

Kiểm tra để chẩn đoán một số bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng âm đạo là một trong những việc quan trọng cần làm trước khi mang thai.

Bởi vì, theo các bác sĩ sản khoa, nhiễm trùng âm đạo là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến sẩy thai.

Nhiễm khuẩn âm đạo đã từ lâu đã được cho là có liên quan đến nguyên nhân sẩy thai ở phụ nữ. Nhưng điều này có thực sự đúng không? Nếu đúng, thì có thể khắc phục tình trạng này bằng cách nào? Chị em hãy tham khảo những điều dưới đây.

Viêm âm đạo do vi khuẩn sẽ gây hại cho thai nhi nếu không được chẩn đoán và không được điều trị.

nhiem_khuan_am_dao_co_the_la_thu_pham_gay_say_thai

Vi khuẩn âm đạo và ảnh hưởng của nó gây sẩy thai

Một thực tế là chị em khi mang bầu sẽ phải đối mặt với nguy cơ viêm nhiễm “vùng kín” do sự thay đổi các hormone trong cơ thể. Nếu không giữ cẩn thận, tình trạng viêm nhiễm có thể chuyển thành nhiễm khuẩn âm đạo. Nhiễm khuẩn âm đạo là một bệnh nhiễm trùng, có thể khiến bạn cảm thấy khó chịu và luôn lo lắng, nhất là trong thời điểm mang thai.

Về mặt kỹ thuật, em bé ra ngoài trước tuần thứ 20 thì được gọi là sẩy thai, còn sau tuần thứ 24 thì gọi là sinh non. Mối liên hệ giữa sinh non và viêm âm đạo là do vi khuẩn. Trong kì mang thai, vi khuẩn tăng lên nhanh chóng, nhất là nếu chị em bị vi khuẩn BV (Bacterial Vaginosis) có thể ảnh hưởng đến kì sinh nở. Các vi khuẩn từ âm đạo có thể xâm nhập vào nước ối và nhau thai, có thể làm cho em bé “ra” sớm hơn.

Các nghiên cứu về mối liên quan giữa viêm âm đạo do vi khuẩn (BV) và sẩy thai cho thấy, nhiễm trùng thường xảy ra vào tam cá nguyệt thứ hai (từ 13 đến tuần thứ mười chín) của thai kỳ. Tuy nhiên, ba tháng đầu của thai kỳ dường như không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, sẽ là tốt nhất nếu bạn thường xuyên khám phụ khoa, kể cả khi không thấy các dấu hiệu nhiễm khuẩn âm đạo.

Viêm âm đạo do vi khuẩn sẽ gây hại cho thai nhi nếu không được chẩn đoán và không được điều trị. Phát hiện sớm viêm nhiễm có thể làm giảm nguy cơ sẩy thai. Nhiễm trùng âm đạo do BV có thể được điều trị hiệu quả. Nếu được chẩn đoán chính xác, bác sĩ sẽ kê thuốc kháng sinh an toàn cho cả mẹ và em bé.

Phòng ngừa viêm nhiễm, nhiễm trùng âm đạo trong thai kỳ

– Giảm ăn đường và các thực phẩm ngọt. Tránh để vùng kín ở trong tình trạng nóng ẩm.

– Nên mặc đồ lót bằng cotton 100%, không tắm nước nóng, mặc quần jean và tắm lâu nếu bạn đang mắc bệnh.

– Tránh mặc các đồ bó sát.

– Tránh dùng các xà phòng có chất tẩy mạnh khi vệ sinh vùng kín, vì nó có thể làm thay đổi môi trường âm đạo, tạo điều kiện cho các loại nấm phát triển.

– Khi đi vệ sinh, phải vệ sinh từ trước ra sau nhằm hạn chế tối đa sự lây lan vi khuẩn từ hậu môn lên.

– Không dùng chất khử mùi và nếu đi bơi thì hãy luôn giặt sạch và phơi khô sau khi bơi xong.

– Ăn nhiều hoa quả, trái cây, uống nước.

– Nên đi khám phụ khoa định kỳ.

Theo Viet Bao.vn (Theo Hanhphucgiadinh)

Thuốc dùng trong điều trị viêm âm đạo do nhiễm trùng roi Trichomonas

Viêm âm đạo do nấm men Candida (Albican hay non – albican), trùng roi Trichomonas vaginalis và tạp trùng (bacterial vaginosis) là nguyên nhân thường gặp nhất, có thể gặp trong 90%  các trường hợp viêm âm đạo.

Thuốc thường dùng trong điều trị viêm âm đạo do nhiễm trùng roi Trichomonas là metronidazole hoặc tinidazole uống 1 liều duy nhất. Hoặc có thể dùng metronidazole  uống ngày 2 lần trong 7 ngày.

Niệu đạo, tuyến Skene và tuyến Bartholin (ở phía ngoài) cũng thường bị nhiễm Trichomonas cho nên nếu dùng gel metronidazole bôi sẽ không hiệu quả bằng các thuốc uống.

Bạn tình của người bị nhiễm Trichomonas cũng cần được điều trị và cần tránh quan hệ tình dục cho đến khi cả hai không còn triệu chứng. Các triệu chứng thường gặp  như ngứa, đau mỗi khi giao hợp, khí hư có màu, mùi bất thường…

thuoc_dung_trong_dieu_tri_viem_am_dao_do_nhiem_trung_trichomonas

Đối với phụ nữ có thai bị nhiễm Trichomonas có thể được điều trị bằng metronidazole, uống liều duy nhất.

Phụ nữ cho con bú cần kiêng cho bú trong thời gian điều trị cho đến 12 – 24 giờ sau liều metronidazole cuối cùng. Còn với thuốc tinadazole, kiêng cho bú trong thời gian điều trị và 3 ngày sau liều cuối cùng.

Metronidazole (flagyl) là liệu pháp lựa chọn cho cả những bệnh nhân có khả năng miễn dịch tốt và không tốt. Với những phụ nữ không thể dùng metronidazole thì điều trị tại chỗ bằng thụt rửa sâu vào âm đạo với nonoxynol-9 và podovidone-iodine tỏ ra có hiệu quả nhưng còn cần nghiên cứu thêm mới có thể khẳng định.

Tóm lại, khi bị viêm âm đạo, cần đến khám và tư vấn tại các thầy thuốc sản phụ khoa để được điều trị triệt để, tránh tái phát.

BS. Xuân Anh
Theo Sức Khỏe & Đời Sống