Tag Archives: nhiễm khuẩn

Dấu hiệu mắc bệnh lây qua đường tình dục

Thông thường, các bệnh lây truyền qua đường tình dục ban đầu thường không có biểu hiện rõ ràng, vì thế nhiều người không biết mình đã mắc bệnh nên không đi khám và điều trị sớm dẫn đến bệnh nặng hơn gây khó khăn cho việc điều trị và có thể làm lây bệnh cho người khác.

Tác nhân lây truyền qua đường tình dục
Các bệnh lây qua đường tình dục là tình trạng nhiễm khuẩn hoặc bệnh được truyền từ người nọ sang người kia do nhiều tác nhân. Thông thường thì các tác nhân này lây truyền qua hoạt động tình dục (giao hợp qua đường âm đạo, đường miệng hoặc đường hậu môn) không được bảo vệ với người đang mang bệnh. Ngoài ra còn lây qua mẹ truyền cho con khi có thai, khi cho con bú và các dụng cụ tiêm, chích vào da.

Các tác nhân gây bệnh rất đa dạng bao gồm: Vi khuẩn: Gây bệnh lậu, giang mai, hạ cam, liên cầu B, lỵ trực trùng…; Vi rút: Gây bệnh viêm gan B, viêm gan C, HIV, herper, sùi mào gà,…; Liên thể vi khuẩn và vi rut: gây bệnh chlammydia, ureaplasma,…; Ký sinh trùng: gây bệnh trùng roi, rận mu, nấm men….

dau-hieu-mac-benh-lay-qua-duong-tinh-duc

Hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTĐ) đều làm cơ thể chúng ta trở nên yếu hơn và làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, hoặc khi đã mắc các bệnh LTQĐTD lại bị nhiễm HIV thì bệnh LTQĐTD sẽ thúc đẩy HIV phát triển rất nhanh chóng trong cơ thể và thời gian tiến triển thành AIDS nhanh hơn; gây sảy thai, vô sinh, truyền bệnh từ mẹ sang con, gia tăng nguy cơ ung thư,…

Một số dấu hiệu cần đi khám?
Có một số bệnh chỉ cho thấy dấu hiệu của bệnh sau khi đã nhiễm bệnh một thời gian dài. Ví dụ như bệnh do Chlamydia hoặc người nhiễm vi rút viêm gan B, C, thậm chí nhiễm vi rút HIV, rất nhiều trường hợp triệu chứng ban đầu không rõ ràng, chỉ khi người bệnh làm xét nghiệm mới biết chính xác.

Trước tiên, nếu bạn đã quan hệ tình dục với một người mà bạn không biết chắc là không có bệnh, hoặc sau khi có quan hệ tình dục không an toàn bạn nên nghi ngờ tới khả năng là mình mắc bệnh và cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị nếu được chẩn đoán đã mắc bệnh.

Bên cạnh đó, cần chú ý các triệu chứng cơ bản của một số bệnh LTQĐTD như sau:
– Có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật.
– Hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường. Các tổn thương này có thể đau hoặc không đau.
– Tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường.
– Đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới chu kỳ kinh nguyệt.
– Đau khi giao hợp hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục,…

Khi thấy có một trong những biểu hiện trên người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, xét nghiệm chẩn đoán bệnh chính xác và điều trị đúng. Không được tự ý dùng thuốc, cần tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ là dùng thuốc đúng liều, đủ thời gian, không bỏ thuốc khi thấy đỡ triệu chứng. Khi dùng hết thuốc cần nên đi khám lại để được biết bệnh đã khỏi hay cần điều trị tiếp.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nguy hiểm phồng động mạch chủ

Phồng động mạch là tổn thương giãn thành động mạch không hồi phục, đường kính động mạch bị phồng có thể lớn hơn 50% so với đường kính ban đầu. Nếu phồng động mạch càng lớn thì nguy cơ bị vỡ càng cao. Các túi phồng động mạch đều có xu hướng phát triển to dần chứ không thể tự khỏi.

Nhiều nghiên cứu cho thấy phồng động mạch thường gặp ở những người mắc các bệnh sau đây: xơ cứng động mạch, hoại tử thành động mạch do tác dụng phụ của một số loại thuốc chữa bệnh, bệnh loạn sản tổ chức xơ, thoái hoá thành động mạch do thai nghén…Các bệnh nhiễm khuẩn thông thường, giang mai, nhiễm virut. Do các nguyên nhân cơ học: sau hẹp động mạch, sau chấn thương và vết thương, sau phẫu thuật nối thông mạch máu, ghép đoạn động mạch. Các bệnh bẩm sinh: hội chứng Ehlers-Danlos, hội chứng Marfan, phồng động mạch não…

phong-dong-mach-chu

Phát hiện bệnh cách nào?
Bình thường một người bị phồng động mạch ở mức độ ít thường không có triệu chứng gì, nên bệnh nhân rất khó biết mình có bị phồng động mạch hay không. Tuy nhiên phồng động mạch ngày càng phát triển to ra, gây nên các triệu chứng chèn ép vào cơ quan xung quanh chỗ phồng; hoặc chèn ép vào bản thân động mạch, làm giảm lượng máu nuôi dưỡng cơ quan do động mạch bị phồng chi phối; dòng máu chảy vào túi phồng sẽ trở thành dòng chảy xoáy nên dễ tạo nên các cục máu đông ở trong lòng túi phồng, các cục máu đông này có thể bị bong ra và trôi theo dòng máu, đến gây tắc động mạch ở các nơi khác.

Phồng động mạch chủ, triệu chứng theo năm đoạn phồng như sau:
– Đoạn I, từ phía trên động mạch vành tới gốc của thân động mạch cánh tay đầu, túi phồng có thể chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên gây ra các triệu chứng: phù áo khoác (phần cơ thể bị phù tương ứng với phần khoác áo), tuần hoàn bàng hệ vùng cổ ngực; túi phồng có thể vỡ vào màng tim gây chèn ép tim cấp.

– Đoạn II, từ thân động mạch cánh tay đầu đến động mạch dưới đòn trái : túi phồng có thể chèn vào tĩnh mạch chủ trên, chèn vào khí quản và phế quản gốc gây ra khó thở theo tư thế, ho…; túi phồng có thể vỡ vào khí quản hay trung thất gây ho ra máu nặng và chèn ép trung thất cấp.

– Đoạn III, từ động mạch dưới đòn trái tới cơ hoành: túi phồng có thể chèn vào thực quản gây khó nuốt, chèn ép dây thần kinh quặt ngược trái gây nói khàn, giọng đôi, chèn ép và gây giảm cấp máu cho động mạch Adamkiewicz, gây thiếu máu tuỷ và liệt hai chi dưới; túi phồng có thể vỡ vào phổi, màng phổi gây ho ra máu và tràn máu màng phổi cấp.
Đoạn IV, từ dưới cơ hoành đến gốc 2 động mạch thận : túi phồng có thể chèn ép và ảnh hưởng đến cấp máu của thận gây thiểu niệu, tăng huyết áp; chèn ép các tạng ống tiêu hoá gây rối loạn tiêu hoá; túi phồng có thể vỡ vào ổ bụng hay khoang sau phúc mạc gây hội chứng bụng cấp.

– Đoạn IV: từ dưới động mạch thận đến chỗ phân chia ra các động mạch chậu gốc, nhìn thấy khối phồng đập nẩy theo nhịp tim; sờ thấy khối phồng và có thể luồn tay dưới bờ sườn để sờ được cực trên của nó; nghe trên khối phồng có tiếng thổi tâm thu; túi phồng có thể vỡ vào trong ổ bụng hay khoang sau phúc mạc.

Phồng động mạch ngoại vi: hay gặp là phồng động mạch khoeo và động mạch đùi. Nguyên nhân do bệnh xơ vữa động mạch, chấn thương hoặc nhiễm khuẩn. Triệu chứng gồm: phần chi bên dưới túi phồng thấy đau, tê, vận động chóng mỏi và hay bị chuột rút.

Khám thấy: mạch đập yếu hơn so với bên lành. Có các hiện tượng thiểu dưỡng như: đau nhức tăng lên khi vận động, phù nề, tím, giảm khả năng vận động, có các vết loét. Khối phồng nằm ngay trên đường đi của động mạch. Ranh giới thường rõ. Đập nẩy và có thể thấy khối đập co giãn theo nhịp tim. Nghe trên khối phồng thấy có tiếng thổi tâm thu. Khi ép lên đoạn động mạch ở phần đầu trung tâm của khối phồng thì thấy khối phồng nhỏ lại, hết đập nẩy và không còn tiếng thổi.

Chụp xquang thấy hình lắng đọng canxi ở túi phồng động mạch. Siêu âm xác định được hình dáng, kích thước, độ dày thành túi, tình trạng máu cục… trong lòng túi phồng. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ cho thấy : hình thái của khối phồng, xác định được tương quan của túi phồng với các cơ quan và tổ chức quanh túi phồng.

Biến chứng
Túi phồng động mạch nếu không được phát hiện và điều trị sẽ phát triển to lên dần và dẫn đến biến chứng vỡ phồng. Đây là biến chứng nguy hiểm, nếu túi phồng càng ở đoạn động mạch gần tim thì mức độ cấp tính và đe doạ tính mạng bệnh nhân càng nặng.
Ngoài ra còn có các biến chứng : chèn ép các cơ quan xung quanh, mức độ chèn ép tăng dần vì khối phồng ngày càng to ra. Ngoài việc ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của các cơ quan này, sự chèn ép của khối phồng còn làm thiếu máu nuôi dưỡng vùng tổ chức phía ngoại vi của khối phồng. Nhiễm khuẩn: khối phồng bị nhiễm khuẩn có thể gây biến chứng vỡ khối phồng đột ngột. Tắc mạch ngoại vi: do cục máu đông trong túi phồng bị tách ra và theo dòng máu động mạch đến gây tắc các động mạch ở phía ngoại vi khối phồng.

Điều trị và phòng bệnh ra sao?
Việc điều trị phồng động mạch bắt buộc phải phẫu thuật để cắt bỏ khối phồng và ghép mạch. Có hai cách ghép mạch là ghép tự thân và ghép mạch đồng loại. Ghép mạch tự thân là dùng một đoạn tĩnh mạch của chính bệnh nhân để ghép. Ghép mạch đồng loại là dùng động mạch của người khác để ghép.

Do việc điều trị rất khó khăn và sự đe dọa tính mạng bệnh nhân nếu vỡ phồng động mạch, nên vấn đề phòng tránh có ý nghĩa rất quan trọng. Bạn có thể thực hiện các biện pháp phòng tránh phồng động mạch gồm: thường xuyên tập thể dục để giúp lưu thông khí huyết, làm dẻo dai thành mạch máu, hạn chế nguy cơ bị phồng mạch. Bạn cũng không ăn mỡ động vật vì có thể bị vỡ xơ mạch máu gây ra chỗ xơ cứng chỗ yếu dễ bị phồng mạch. Nếu phải dùng thuốc chữa bệnh, bạn chỉ nên dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ để tránh bị hoại tử thành động mạch do thuốc. Phụ nữ có thai cần khám định kỳ để được bác sĩ theo dõi, tránh bị thoái hoá thành động mạch liên quan đến thai nghén…Bạn cần giữ vệ sinh trong ăn uống, sinh hoạt, phòng các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus. Việc phòng tránh tai nạn giao thông, tránh chấn thương và vết thương trong lao động và sinh hoạt cũng rất có ý nghĩa để bảo vệ sức khỏe và tránh phồng động mạch.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bí quyết để ít ốm

Một người bình thường, trong một năm cũng có thể một vài lần bị ốm như cảm cúm, viêm họng, rối loạn tiêu hóa, đau mắt hoặc đau răng… Sau khi trải qua một hay nhiều lần đau ốm, chúng ta mới thấy được giá trị của những ngày khỏe mạnh. Thế nhưng xung quanh chúng ta vẫn có những người rất ít khi bị ốm. Bí quyết của họ là gì? Chúng ta cùng tìm hiểu để xem có học tập được ở họ điều gì không nhé.

Một số nghiên cứu cho biết, những người rất ít khi bị ốm có một số bí quyết như sau:
Ăn giảm lượng calo: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ăn ít có “tác động tích cực đối với sức khỏe tổng thể” và “một chế độ ăn uống hạn chế calo thừa trong cơ thể sẽ giúp bạn giảm 25% nguy cơ mắc các bệnh huyết áp, giảm cholesterol…”. Tuy nhiên, bạn phải ăn uống đầy đủ chất và lượng để đảm bảo cho cơ thể đủ năng lượng hoạt động theo công việc hàng ngày của bạn. Nếu ăn uống quá thanh đạm để giảm calo, bạn có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu dinh dưỡng, thiếu các vitamin.

khoe-moi-ngay1

Ăn sữa chua đều đặn hàng ngày: Sữa chua có chứa nhiều vi khuẩn sống có lợi cho sự tiêu hóa và sức khỏe. Nó có tác động có lợi cho đường tiêu hóa và cũng có tác dụng giúp hạ huyết áp, giảm cholesterol và tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Những người khỏe mạnh thường có thói quen ăn sữa chua hàng ngày và họ rất ít khi bị ốm.

Ăn tỏi: Các nhà khoa học từ Đại học Tây Úc cho thấy, những người thường xuyên ăn tỏi hàng ngày sẽ giảm 50% nguy cơ bị ốm so với những người ít ăn tỏi. Nếu muốn khỏe mạnh, tránh bệnh tật, hãy ăn tỏi sống hoặc chín tùy sở thích của bạn. Nhiều nghiên cứu cho biết, tỏi có tác dụng làm giảm huyết áp và mức cholesterol trong cơ thể, đẩy lùi được bệnh nhiễm khuẩn, chẳng hạn vi khuẩn tụ cầu và hoạt động như một chất chống ôxy hóa mạnh mẽ… Vì vậy, ăn tỏi chính là một cách giúp con người khỏe mạnh.

Ngủ trưa: Các nhà chuyên môn cho rằng, chỉ cần một vài phút ngủ trưa cũng giúp cơ thể bạn nhanh chóng lấy lại năng lượng và tăng cường hiệu quả chống lại bệnh trong cơ thể. Chỉ cần ngủ chợp mắt buổi trưa cũng làm cho các tế bào miễn dịch tăng lên, giảm nguy cơ canxi tích tụ trong động mạch tim và hạn chế việc sản xuất hormon có hại trong cơ thể. Các hormon này xuất hiện khi cơ thể mệt mỏi, sức đề kháng giảm và chúng sẽ khiến cho cơ thể mất đi khả năng tự sửa chữa các tế bào bị thiệt hại trong cơ thể. Do đó muốn khỏe mạnh, bạn hãy tranh thủ ngủ trưa một chút trong khoảng thời gian từ 1-3 giờ chiều, vì thời gian này là lý tưởng nhất để cơ thể bạn phục hồi và lấy lại năng lượng cho buổi chiều và tối.

Tập yoga: Yoga là một trong những phương pháp tập luyện có tác dụng điều hòa công năng hoạt động của lục phủ ngũ tạng, làm cho hệ thần kinh thông suốt, khí huyết trở nên dồi dào, mọi quan hệ trên dưới, trong ngoài thêm gắn bó, giúp cơ thể thích nghi tốt với biến đổi của môi trường bên ngoài. Luyện yoga còn giúp cho cơ thề bồi đắp chính khí, phục hồi và duy trì cân bằng âm dương. Vì vậy, khi bạn tham gia đều đặn các buổi tập yoga cũng có thể đảo ngược một số yếu tố nguy cơ gây bệnh tim, chẳng hạn như tăng huyết áp, lượng đường trong máu cao và béo phì.

Không ngồi lâu một chỗ: Gene Stone, tác giả của cuốn sách Bí mật của những người không bao giờ bị bệnh cho biết, khi bạn ngồi lâu một chỗ sẽ “rất bất lợi cho sức khỏe của bạn cho dù bạn có thường xuyên tập thể dục tại chỗ bạn ngồi”. Những người làm công việc hành chính, văn phòng, ngồi làm việc với máy tính… do phải ngồi lâu nên cơ thể thiếu vận động sẽ khiến nhu động ruột, dạ dày yếu đi, dịch tiêu hóa bài tiết cũng giảm… Khi bạn ngồi lâu một chỗ khiến cho thức ăn dung nạp vào cơ thể sẽ không được đốt cháy hết và sẽ tích tụ, làm cho dạ dày, ruột không được nghỉ ngơi, về lâu dài dẫn đến các bệnh về tiêu hóa. Thực tế nhiều người làm việc ngồi một chỗ thường bị đau cổ, đau gáy, vai, đau thắt lưng do máu không lưu thông. Do đó, những người biết quan tâm sức khỏe của mình là những người thường xuyên vận động cho dù đang ở chỗ làm. Họ có thói quen đứng lên, đi lại sau khoảng 1-2 giờ ngồi làm việc mệt mỏi.

Tắm nước lạnh: Một nghiên cứu đối với những người thường xuyên đi bơi tại Berlin (Cộng hòa Liên bang Đức) cho thấy, tiếp xúc với nước lạnh cũng là một cách tự nhiên giúp tăng cường hiệu quả của các chất chống ôxy hóa trong cơ thể, có tác dụng cải thiện lưu thông máu, tăng cường lưu thông dưới da, tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể giúp bạn khỏe mạnh. Ngoài ra, tắm nước lạnh còn giúp cải thiện tâm trạng và tiếp thêm sinh lực cho cơ thể của bạn. Nếu bạn không thể chịu được nước lạnh quá thì cũng không nên tắm nước quá nóng.

Mở rộng quan hệ xã hội: Nghiên cứu của Thụy Điển cho biết, những người có mối quan hệ xã hội tốt thường có hệ thống miễn dịch khỏe mạnh và ít có nguy cơ bị các bệnh viêm nhiễm trong cơ thể. Trái lại, những người có ít hoặc không có bạn thân sẽ có nguy cơ đau tim cao hơn những người có nhiều bạn tới 50%. Cơ sở khoa học ở đây là: Mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn, vì bạn có thể dễ dàng chia sẻ tâm tư với nhiều người để giải tỏa tâm lý và tránh được những cơn căng thẳng không cần thiết.

Xem ra, bí quyết của những người ít khi ốm không phải là khó thực hiện. Sang năm mới, tôi và bạn đều có thể học tập được họ để khỏe mạnh quanh năm.

Nguồn sức khỏe đời sống

Triệu chứng sỏi đường tiết niệu

Sỏi tiết niệu là bệnh thường gặp và hay tái phát, do sự kết thạch của một số thành phần trong nước tiểu. Các khối sỏi có thể gây đau, tắc đường tiết niệu và nhiễm khuẩn, rất nguy hại cho sức khỏe người bệnh.

Bệnh gây ra do nhiều yếu tố: di truyền, các dị dạng bẩm sinh đường niệu, nhiễm khuẩn, chế độ ăn uống – sinh hoạt không hợp lý, người bệnh nằm lâu ít vận động… Sỏi tiết niệu thường gặp trong độ tuổi lao động, ở nam nhiều hơn ở nữ.

Triệu chứng

– Cơn đau quặn thận: Sỏi được hình thành một cách âm thầm và thường chỉ được phát hiện lần đầu bởi cơn đau quặn. Bệnh nhân lên cơn đau đột ngột, dữ dội ở vùng thắt lưng, lan xuống vùng hạ vị, đến vùng bẹn và cơ quan sinh dục. Cơn đau thường xuất hiện sau khi vận động mạnh (chạy nhảy, đi xe trên đường xấu…), khiến sỏi di chuyển tới chỗ chít hẹp, gây tắc đường niệu. Triệu chứng sẽ lui dần sau khi nghỉ ngơi và đi tiểu được.

soi-tiet-nieu

– Đái buốt, nước tiểu có máu: Tùy theo mức độ tổn thương đường niệu, nước tiểu sẽ có màu từ hồng nhạt đến đỏ toàn bãi.

– Viêm đài bể thận do ứ nước tiểu: Bệnh nhân bị đái đục, đau vùng lưng – thắt lưng. Đại đa số trường hợp có sốt cao, rét run; nếu muộn có thể có phù, nôn mửa, ăn không ngon miệng …Vì khả năng hoạt động bù trừ của thận rất tốt, nên có trường hợp chỉ phát hiện ra bệnh sỏi khi có dấu hiệu của viêm đài bể thận.

Tiến triển

Sỏi tiết niệu gây tắc đường niệu nên có thể dẫn tới nhiều biến chứng: nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết, choáng nhiễm khuẩn…. Bệnh nhân có thể tử vong. Bệnh thường phát triển ở cả 2 bên và hay tái phát. Nếu không được điều trị kịp thời, chức năng thận sẽ bị suy giảm, gây tăng huyết áp.

Xử trí

Cơn đau quặn đồng nghĩa với việc đường niệu bị tắc và căng giãn, tạo nên cơn co thắt để tống viên sỏi đi. Bệnh nhân cần cố gắng nghỉ ngơi ở tư thế dễ chịu nhất, giảm đau bằng cách day, bấm huyệt vùng lưng – thắt lưng và đi khám bác sĩ. Có thể dùng thuốc giảm đau theo hướng dẫn của thầy thuốc.

Tùy nguyên nhân gây bệnh, có thể áp dụng các biện pháp điều trị khác nhau như: dùng máy tán sỏi, máy nội soi, phẫu thuật tạo hình đường niệu…

Phòng bệnh

Do bệnh rất hay tái phát nên việc phòng bệnh là rất cần thiết:

– Chủ động phòng tránh các yếu tố có nguy cơ gây nhiễm trùng đường niệu, uống đủ nước (nhất là vào mùa nóng, khi lao động nặng). Không nén nhịn lâu khi buồn đi tiểu. Nếu có dấu hiệu tiểu buốt, dắt thì nên dùng sớm các loại lợi tiểu sẵn có như râu ngô, mã đề…

– Khi phát hiện bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh, nên uống nhiều nước để mỗi ngày bài tiết được hơn 1,5 lít nước tiểu.

– Thường xuyên khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ gây bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nếu đã bị sỏi, tránh các biến chứng.

BS Huy Anh

Sức Khỏe & Đời Sống

Viêm đường tiết niệu cần được điều trị sớm

Viêm đường tiết niệu là một bệnh có thể xảy ra với mọi lứa tuổi, nữ mắc nhiều hơn nam. Bệnh không nghiêm trọng nếu được chữa trị sớm, nhưng nếu không điều trị kịp thời, nhiễm trùng có thể lan lên thận và gây nhiễm trùng máu, gây nhiều biến chứng nguy hiểm

Nguyên nhân gây bệnh?

viem-duong-tiet-nieu-can-duoc-dieu-tri-som

Hình ảnh niệu đạo của nam giới và nữ giới

Viêm đường tiết niệu có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh, trong đó 70-75% trường hợp là do nhiễm khuẩn, vi khuẩn hay gặp nhất là E.coli – loại vi khuẩn điển hình trong đường ruột. Vệ sinh không tốt chính là điều kiện để vi khuẩn xâm nhập từ hậu môn sang đường tiểu, gây viêm đường tiết niệu. Điều này đặc biệt đúng với nữ giới do phải sử dụng băng vệ sinh, cửa niệu mở thông và đường niệu ở nữ giới lại ngắn. Với nam giới, tuy vi khuẩn khó xâm nhập nhưng khi bao quy đầu không được vệ sinh cũng là nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu. Mặt khác, với những người quan hệ tình dục không an toàn thì vi khuẩn lậu, giang mai… chính là thủ phạm gây viêm đường tiết niệu và các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục khác.

Ngoài ra, theo Đông y thì khi quá hàn hay quá nhiệt cũng là nguyên nhân gây ra viêm đường tiết niệu. Điều này giải thích vì sao, vào mùa hè nóng hay mùa khô hanh thì tỷ lệ mắc viêm đường tiết niệu cao hơn mọi mùa trong năm.

Triệu chứng vô cùng, biến chứng cũng không ít

Nhắc tới viêm đường tiết niệu, có lẽ tiểu buốt, tiểu rắt là những triệu chứng ám ảnh nhất. Cảm giác “buốt lên tận óc”, khó chịu khổ sở mỗi khi đi tiểu khiến cho người bệnh chỉ muốn chữa càng nhanh càng tốt. Ngoài ra, những triệu chứng khác như sốt cao âm ỉ, tạo thành cơn và kéo dài trên 5 ngày, hay đau bụng phần dưới thắt lưng, dưới rốn… cũng là những dấu hiệu cơ bản của bệnh viêm đường tiết niệu. Đối với trường hợp nặng, sẽ xuất hiện tiểu ra mủ do viêm nhiễm quá nặng và tiểu ra máu do bề mặt niêm mạc đường tiết niệu bị tổn thương.

Do viêm đường tiết niệu có thể dẫn tới các biến chứng bất ngờ nên theo các chuyên gia y tế, cần điều trị bệnh trong vòng 24 giờ khi các triệu chứng xuất hiện bởi khi bị nhiễm khuẩn, vi khuẩn sẽ sản sinh rất nhanh, xâm nhập vào bàng quang, gây nhiễm trùng thận, nhiễm trùng máu, và gây những hậu quả nặng nề.

Kháng sinh liệu đã đủ?

Thông thường, khi bị viêm đường tiết niệu, bệnh nhân thường dùng kháng sinh đề điều trị. Tuy nhiên, thói quen sử dụng kháng sinh không đủ liều, thấy đỡ là không uống tiếp cũng chính là nguyên nhân khiến bệnh không dứt và tăng nguy cơ tái phát bệnh. Khi đó, vòng luẩn quẩn: viêm đường tiết niệu – kháng sinh – viêm đường tiết niệu – kháng sinh nặng hơn – viêm đường tiết niệu…. sẽ làm cơ thể trở nên mệt mỏi, ảnh hưởng tới các cân bằng khác trong cơ thể.

Nguồn gia đình

Bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ

Dịch bệnh mùa hè trở nên nóng hơn bao giờ hết khi hầu hết các bệnh viện trong cả nước đều quá tải với số bệnh nhân nhi tăng. Trong đó, bệnh nhiễm khuẩn chiếm đa số.

Trẻ bệnh là do… cha mẹ

Theo WHO, tỉ lệ trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn đa phần tập trung ở các nước đang phát triển. Riêng tại Việt Nam, số bệnh nhân nhập viện do bệnh nhiễm khuẩn tăng cao đột biến trong mùa hè nắng nóng và chiếm đa số là trẻ em.

Theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, trưởng khoa Nhiễm (BV Nhi Đồng I TP.HCM) thì trẻ mắc bệnh nhiễm khuẩn cao vào mùa hè là do các em không được vệ sinh đúng phương pháp trong khi thời tiết quá nóng, thêm vào đó là thức ăn bảo quản không kỹ lưỡng và lịch sinh hoạt, vui chơi dày đặc, trẻ cũng mệt mỏi, từ đó giảm sức đề kháng. Bác sĩ Khanh cũng lưu ý thêm: “Bệnh mùa hè không đùa được. Trẻ bệnh nhẹ thì dăm ngày, một tuần sẽ khỏi, không may bệnh nặng thì rất dễ để lại biến chứng mãn tính rất nguy hiểm. Việc trẻ có tránh được bệnh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các bậc cha mẹ. Hơn ai hết, họ phải có ý thức bảo vệ con mình”.

benh-nhiem-khuan-o-tre

“Ổ bệnh” ngay trên cơ thể

Nhiều người thắc mắc, mình chăm con cũng khá kỹ, luôn cảnh giác khi cho trẻ ra ngoài chơi, trang bị dụng cụ “bảo hộ” đầy đủ mà trẻ vẫn mắc bệnh. Thật ra, ổ bệnh mà bạn nghĩ xa vời lại nằm ngay trên chính cơ thể bạn và trẻ. Trung bình, bàn tay của một người có thể chứa hàng triệu mầm bệnh. Đây chính là nguyên nhân khiến nhiều người, đặc biệt là trẻ em, dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn qua đường hô hấp, tiêu hóa như: tả, lỵ, nhiễm giun sán, nhiễm cúm, tay chân miệng, dịch tiêu chảy cấp do virus Rota…

Do đó, không phải ngẫu nhiên mà tổ chức WHO lại khuyến cáo nên tập cho trẻ thói quen giữ vệ sinh cơ thể, tắm rửa sạch sẽ bằng sữa tắm diệt khuẩn bởi đây là cách phòng ngừa bệnh đơn giản, an toàn và hiệu quả nhất hiện nay. Việc rửa tay ngay khi trông chúng có vẻ “sạch sẽ” nhất bằng nước rửa tay diệt khuẩn cũng cần được thực hiện khoa học: trước, sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi chơi; trước khi nấu ăn, trước khi chăm sóc trẻ… Việc tắm bằng sữa tắm diệt khuẩn cũng cần được thực hiện nghiêm túc.

Nguồn cẩm nang

Liệt thần kinh do nhiễm khuẩn thức ăn

Có nhiều loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn thức ăn, trong đó có vi khuẩn Clostridium botulinum (C. botulinum) là loại có thể gây liệt thần kinh nếu ăn phải thức ăn bị nhiễm vi khuẩn này. Trước, trong và sau Tết là dịp mọi gia đình dùng nhiều loại thực phẩm nên cần phải chú ý đề phòng nhiễm loại vi khuẩn này.

C.botulinum là trực khuẩn có đặc điểm: sống trong điều kiện kị khí tuyệt đối, nghĩa là chúng phát triển trong môi trường không có oxy. Vi khuẩn này tồn tại trong đất, nước, phân động vật, ruột cá, ruột động vật có vú… Chúng xâm nhập vào thực phẩm, sinh độc tố gây ngộ độc cho cơ thể người ăn phải. Trong điều kiện nhiệt độ cao và các yếu tố môi trường bất lợi, vi khuẩn này chuyển thành các bào tử rất bền vững. Khi gặp điều kiện thuận lợi, vi khuẩn phát triển nhanh ở 3 – 43°C, trong môi trường không có oxy, ẩm ướt và độ pH acid yếu (pH> 4,6), bào tử lại biến đổi thành vi khuẩn và phát triển, tiết ra độc tố botulinum. Vi khuẩn gây bệnh ở người thường là C. botulinum týp A, B, E và F. Lưu ý rằng: bản thân vi khuẩn và bào tử của nó không gây ra bệnh mà chỉ độc tố do vi khuẩn sinh ra mới gây bệnh, gây liệt thần kinh.

liet-than-kinh-do-nhiem-khuan-thuc-an

Các trường hợp dễ nhiễm bệnh

Trên thực tế, các trường hợp sau đây dễ nhiễm C. botulinum mắc bệnh: thức ăn dễ nhiễm độc tố vi khuẩn thường là ở rau củ, nước sốt, thịt, hải sản đóng gói bằng phương pháp thủ công. Trẻ nhũ nhi: thường gặp do trẻ ăn mật ong, vì đây chính là nguồn chứa bào tử C. botulinum. Do đó, các bậc cha mẹ không nên cho trẻ dưới 1 tuổi sử dụng mật ong tươi. Khi trẻ ăn phải bào tử của vi khuẩn có trong mật ong, sau đó bào tử nảy nở và sinh độc tố trong ruột của trẻ và gây bệnh. Nhiễm khuẩn đường ruột ở người lớn, cơ chế cũng giống ở trẻ nhũ nhi, nghĩa là cũng do ăn mật ong hay thức ăn bị nhiễm khuẩn. Những người bị thương rất dễ nhiễm khuẩn từ vết thương.

Biểu hiện khi bị bệnh

Độc tố của vi khuẩn C. botulinum là độc tố thần kinh, vì vậy, đặc trưng của bệnh là gây liệt thần kinh cơ. Thời gian ủ bệnh của vi khuẩn C. botulinum nhiễm qua đường tiêu hóa sớm là 6 – 36 giờ, còn muộn là 6 – 8 ngày. Nói chung, thời gian ủ bệnh ngắn hoặc dài tùy thuộc lượng độc tố bị nhiễm nhiều hay ít. Triệu chứng bệnh thường là: nhìn mờ, nhìn đôi, nói khó, nuốt khó, khô miệng, buồn nôn, yếu cơ dần dần ở cả toàn thân. Các trường hợp nhiễm nặng có thể gây liệt cơ hô hấp và gây tử vong. Biểu hiện bệnh ở trẻ nhũ nhi thường thấy là ngủ gà, táo bón, khó bú, khó nuốt, khóc yếu. Đối với các trường hợp bệnh nhân bị nhiễm bệnh từ vết thương cũng có các triệu chứng giống như nhiễm bệnh từ thức ăn, nhưng chỉ khác là thời gian ủ bệnh kéo dài trong khoảng 7 – 14 ngày sau khi bị nhiễm khuẩn. Sở dĩ nhiễm khuẩn qua vết thương cần thời gian ủ bệnh lâu hơn vì vi khuẩn tăng sinh chậm nên phải trong thời gian dài mới có đủ số lượng và mới tiết ra đủ lượng độc tố để gây bệnh.

Việc chẩn đoán bệnh dựa vào kết quả xét nghiệm máu; xét nghiệm: phân, dịch nôn, dịch dạ dày, mẫu thức ăn nghi ngờ nhiễm khuẩn hoặc độc tố để phát hiện được bào tử và vi khuẩn. liet-than-kinh-do-nhiem-khuan-thuc-an-1Phương pháp điều trị

Bệnh nhân phải nhập viện để điều trị nhằm theo dõi chặt các triệu chứng, đo phế dung ký, oxy máu, khí máu động mạch để đánh giá mức độ suy hô hấp. Phải đặt nội khí quản và cho thở máy đối với bệnh nhân bị liệt tiến triển nhanh, hạ oxy máu kèm tăng CO2 máu. Phải dùng kháng độc tố càng sớm càng tốt, vì điều trị giải cảm ứng sớm và tích cực mới ngăn chặn được bệnh tiến triển nặng. Cần dùng thuốc gây nôn hay rửa dạ dày đối với các trường hợp ngộ độc do thức ăn mà thời gian còn sớm. Trường hợp bị thương, phải rửa sạch vết thương và dùng kháng sinh bôi lên vết thương để diệt trừ vi khuẩn ở vết thương, sau đó phải dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Chú ý nâng cao thể trạng cho bệnh nhân bằng việc dùng các vitamin nhóm B, C và ăn uống tốt.

Lời khuyên của bác sĩ

Liệt thần kinh do C. botulinum là bệnh nặng, nhưng có thể phòng tránh được bằng các biện pháp dễ thực hiện như sau: chống nhiễm khuẩn thức ăn bằng cách ngăn cản sự phát triển của C. botulinum như: dùng nhiệt độ cao (100oC); tạo môi trường axit (pH< 4.6); chế biến thực phẩm bằng cách làm khô, ướp muối hoặc đường. Tuy bào tử vi khuẩn bền với nhiệt, nhưng độc tố của nó thì dễ bị hủy bởi nhiệt độ cao, vì vậy, dùng phương pháp nấu lại các loại thức ăn đóng gói thủ công ở nhiệt độ 100°C trong 10 – 20 phút là biện pháp phòng bệnh tốt. Đối với thực phẩm đóng gói công nghiệp như thịt hộp, cá hộp, không nên sử dụng nếu thấy hộp bị phồng, rách hay cận đát hoặc đã hết hạn sử dụng.

Bảo quản thức ăn bằng cách: giữ thức ăn chưa dùng ở nhiệt độ dưới 5oC; thịt nên để đông lạnh, chỉ rã đông ngay trước khi nấu. Nên dùng hết thực phẩm đã rã đông, nhưng không cấp đông lại thực phẩm đã rã đông vì có thể bị nhiễm bệnh. Đối với thực phẩm đã nấu chín, phải giữ ở nhiệt độ trên 57oC hoặc dưới 5oC. Rửa tay, dụng cụ, tiếp xúc thức ăn bằng xà phòng sau khi chế biến thức ăn tươi, thịt, cá.

ThS. Nguyễn Thế Minh

Theo SKDS

Phương pháp điều trị thoái hóa đốt sống cổ

Thoái hóa đốt sống cổ gây đau cả một vùng từ gáy, bả vai, trán, đỉnh đầu… rất hay gặp ở những người cao tuổi, người làm việc văn phòng. Nếu không được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp sẽ gây nhiều biến chứng.

Sinh bệnh do ít vận động

Bác sĩ Dương Đình Phúc – Trưởng Khoa Thần kinh (Bệnh viện 354) cho biết, thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, mới đầu chỉ là hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi vận động vùng cổ. Ngày nay, bệnh nhân bị thoái hóa đốt sống cổ ngày càng tăng do thói quen làm việc sai tư thế trong thời gian dài. Vùng cổ và gáy không được cử động thường xuyên hoặc luôn cố định ở một tư thế. Ngoài ra, có thể do chế độ sinh hoạt chưa đảm bảo các chất khoáng, canxi… Đáng nói là bệnh đang có xu hướng trẻ hóa, nhiều người từ 25 – 28 tuổi đã có triệu chứng thoái hóa đốt sống cổ.
dieu-tri-dot-song-co
Theo BS Võ Tường Kha (BV Thể thao Việt Nam), người bị thoái hóa đốt sống cổ thường bị đau cổ khi vận động, cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, đầu, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai… làm cho hoạt động phần cổ bị hạn chế. Người bệnh cảm thấy nôn nao, chóng mặt, có thể xuất hiện hiện tượng chi dưới yếu hoặc bị ngã đột ngột. Thậm chí có những bệnh nhân bị thoái hóa lâu năm có thể thêm các triệu chứng như đau cánh tay, buốt đến bàn tay, luôn cảm thấy đau đỉnh đầu và tức hốc mắt…

Thoái hóa đốt sống cổ nếu không được dự phòng, điều trị sớm dễ trở thành thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ. Bệnh lý này điều trị rất phức tạp. Với một thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ nhẹ và vừa ở độ 1 – 2 thì điều trị ngoại khoa còn có hy vọng kết quả. Ở độ 3 – 4 và có chèn ép tuỷ thì phải can thiệp phẫu thuật. Sau mổ có thể để lại di chứng như viêm dính màng nhện tuỷ hoặc viêm dính đám rối thần kinh, viêm tuỷ cổ do nhiễm khuẩn… Thoái hóa đốt sống cổ rất có thể gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp ảnh hưởng đến rối loạn tuần hoàn não. Thậm chí còn có thể gây bại liệt một hoặc hai tay, gây hội chứng chèn ép tủy, cổ, rối loạn cảm giác tứ chi, rối loạn thực vật, chèn ép rễ thần kinh, tủy hoặc gây rối loạn thần kinh thực vật. Do vậy, bệnh nhân cần được thăm khám lâm sàng thần kinh, kết hợp với các thăm dò hiện đại khác để phát hiện, xử lý kịp thời. Tại bệnh viện, bệnh nhân sẽ được chụp X – quang, cộng hưởng từ cột sống cổ để có đánh giá mức độ bệnh và có hướng điều trị hợp lý.

Các phương pháp điều trị

Bác sĩ Dương Đình Phúc cho hay, điều trị thoái hóa đốt sống cổ ở mức độ nhẹ, cần nghỉ ngơi, thư giãn, kết hợp liệu pháp điều trị vật lý trị liệu an toàn, tránh vật lý trị liệu thô bạo làm hư xương sụn cột sống cổ khiến bệnh thêm nặng. Ngoài ra có thể dùng thuốc giãn cơ, tăng cường thần kinh hoặc vitamin…

Điều trị vật lý trị liệu có thể tập cột sống cổ bằng vận động nhẹ nhàng từ cúi ngửa nghiêng xoay với nguyên tắc vận động làm sao không được đau thêm, không gây chóng mặt… Xoay cột sống cổ nhẹ nhàng ở góc vừa phải, xoay không làm đau thêm. Sau mỗi lần vận động cột sống cổ nên nằm nghỉ khoảng 30 phút. Người bệnh cũng có thể xoa bóp nhẹ nhàng hoặc chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại ở khu vực đốt sống cổ.

Các chuyên gia hướng dẫn về cách tập luyện để điều trị thoái hóa đốt sống cổ:

– Phương pháp vận động cổ

Nghiêng cổ sang phải rồi sang trái mỗi bên 10 lần, chú ý phải giữ cột sống lưng, thắt lưng ở tư thế thẳng, hai vai cân bằng. Cúi cổ về phía trước (cằm tì vào ngực càng tốt), ngửa cổ về phía sau sao cho gáy tựa vào vai mỗi phía. Làm đi làm lại động tác này 10-15 lần.

Quay cổ: Cúi đầu về phía trước quay cổ về phía vai trái về phía sau, phía vai phải rồi trở lại phía trước. Quay từ từ hết một vòng rồi quay ngược lại, mỗi chiều vài lần. Động tác đều đặn, liên tục.

Nhấc vai: Tự nhấc vai trái rồi đến vai phải, sau đó nhấc cả hai vai cùng lúc. Mỗi động tác thực hiện khoảng 10 lần.

– Tự xoa bóp đốt sống cổ

Ngồi thoải mái, toàn thân thả lỏng, thở đều và sâu rồi tiến hành tuần tự các thao tác:

Đầu tiên bạn hãy massage (có thể tự massage hoặc nhờ người massage) từ phần sau cổ, xoa bằng hai tay hoặc một tay. Lòng bàn tay áp sát vào cổ, di chuyển từ phần tóc ở gáy xuống lưng và phần khớp vai. Sau đó, dùng cạnh của lòng bàn tay và ngón cái bóp mạnh. Dùng mu lòng bàn tay day nhẹ từ gáy đến cổ. Thực hiện khoảng 1 – 2 phút.

Sau đó, xát gáy: Các ngón tay của hai bàn tay đan với nhau ôm vào sau gáy kéo qua kéo lại 10 lần. Tiếp đến xát vùng giữa hai xương bả vai bằng cách cúi đầu về phía trước, vắt bàn tay cùng bên ra phía sau xát từ trên xuống dưới và từ dưới lên. Bóp các cơ vùng gáy: Cúi đầu về phía trước, dùng bàn tay bóp cơ cổ từ trên xuống với lực vừa phải. Mỗi thao tác làm khoảng 10 lần.
Cuối cùng dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ véo các gân dưới nách bên đối diện và ngược lại sao cho có cảm giác tê tức truyền xuống tận ngón tay.

Nguồn gia đình

Điều trị thoái hóa đốt sống cổ

Thoái hóa đốt sống cổ gây đau cả một vùng từ gáy, bả vai, trán, đỉnh đầu… rất hay gặp ở những người cao tuổi, người làm việc văn phòng. Nếu không được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp sẽ gây nhiều biến chứng.

Sinh bệnh do ít vận động

Bác sĩ Dương Đình Phúc – Trưởng Khoa Thần kinh (Bệnh viện 354) cho biết, thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, mới đầu chỉ là hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi vận động vùng cổ. Ngày nay, bệnh nhân bị thoái hóa đốt sống cổ ngày càng tăng do thói quen làm việc sai tư thế trong thời gian dài. Vùng cổ và gáy không được cử động thường xuyên hoặc luôn cố định ở một tư thế. Ngoài ra, có thể do chế độ sinh hoạt chưa đảm bảo các chất khoáng, canxi… Đáng nói là bệnh đang có xu hướng trẻ hóa, nhiều người từ 25 – 28 tuổi đã có triệu chứng thoái hóa đốt sống cổ.

Điều trị thoái hóa đốt sống cổ

Theo BS Võ Tường Kha (BV Thể thao Việt Nam), người bị thoái hóa đốt sống cổ thường bị đau cổ khi vận động, cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, đầu, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai… làm cho hoạt động phần cổ bị hạn chế. Người bệnh cảm thấy nôn nao, chóng mặt, có thể xuất hiện hiện tượng chi dưới yếu hoặc bị ngã đột ngột. Thậm chí có những bệnh nhân bị thoái hóa lâu năm có thể thêm các triệu chứng như đau cánh tay, buốt đến bàn tay, luôn cảm thấy đau đỉnh đầu và tức hốc mắt…

Thoái hóa đốt sống cổ nếu không được dự phòng, điều trị sớm dễ trở thành thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ. Bệnh lý này điều trị rất phức tạp. Với một thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ nhẹ và vừa ở độ 1 – 2 thì điều trị ngoại khoa còn có hy vọng kết quả. Ở độ 3 – 4 và có chèn ép tuỷ thì phải can thiệp phẫu thuật. Sau mổ có thể để lại di chứng như viêm dính màng nhện tuỷ hoặc viêm dính đám rối thần kinh, viêm tuỷ cổ do nhiễm khuẩn… Thoái hóa đốt sống cổ rất có thể gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp ảnh hưởng đến rối loạn tuần hoàn não. Thậm chí còn có thể gây bại liệt một hoặc hai tay, gây hội chứng chèn ép tủy, cổ, rối loạn cảm giác tứ chi, rối loạn thực vật, chèn ép rễ thần kinh, tủy hoặc gây rối loạn thần kinh thực vật. Do vậy, bệnh nhân cần được thăm khám lâm sàng thần kinh, kết hợp với các thăm dò hiện đại khác để phát hiện, xử lý kịp thời. Tại bệnh viện, bệnh nhân sẽ được chụp X – quang, cộng hưởng từ cột sống cổ để có đánh giá mức độ bệnh và có hướng điều trị hợp lý.

Các phương pháp điều trị

Bác sĩ Dương Đình Phúc cho hay, điều trị thoái hóa đốt sống cổ ở mức độ nhẹ, cần nghỉ ngơi, thư giãn, kết hợp liệu pháp điều trị vật lý trị liệu an toàn, tránh vật lý trị liệu thô bạo làm hư xương sụn cột sống cổ khiến bệnh thêm nặng. Ngoài ra có thể dùng thuốc giãn cơ, tăng cường thần kinh hoặc vitamin…

Điều trị vật lý trị liệu có thể tập cột sống cổ bằng vận động nhẹ nhàng từ cúi ngửa nghiêng xoay với nguyên tắc vận động làm sao không được đau thêm, không gây chóng mặt… Xoay cột sống cổ nhẹ nhàng ở góc vừa phải, xoay không làm đau thêm. Sau mỗi lần vận động cột sống cổ nên nằm nghỉ khoảng 30 phút. Người bệnh cũng có thể xoa bóp nhẹ nhàng hoặc chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại ở khu vực đốt sống cổ.

Các chuyên gia hướng dẫn về cách tập luyện để điều trị thoái hóa đốt sống cổ:

– Phương pháp vận động cổ

Nghiêng cổ sang phải rồi sang trái mỗi bên 10 lần, chú ý phải giữ cột sống lưng, thắt lưng ở tư thế thẳng, hai vai cân bằng. Cúi cổ về phía trước (cằm tì vào ngực càng tốt), ngửa cổ về phía sau sao cho gáy tựa vào vai mỗi phía. Làm đi làm lại động tác này 10-15 lần.

Quay cổ: Cúi đầu về phía trước quay cổ về phía vai trái về phía sau, phía vai phải rồi trở lại phía trước. Quay từ từ hết một vòng rồi quay ngược lại, mỗi chiều vài lần. Động tác đều đặn, liên tục.

Nhấc vai: Tự nhấc vai trái rồi đến vai phải, sau đó nhấc cả hai vai cùng lúc. Mỗi động tác thực hiện khoảng 10 lần.

– Tự xoa bóp đốt sống cổ

Ngồi thoải mái, toàn thân thả lỏng, thở đều và sâu rồi tiến hành tuần tự các thao tác:

Đầu tiên bạn hãy massage (có thể tự massage hoặc nhờ người massage) từ phần sau cổ, xoa bằng hai tay hoặc một tay. Lòng bàn tay áp sát vào cổ, di chuyển từ phần tóc ở gáy xuống lưng và phần khớp vai. Sau đó, dùng cạnh của lòng bàn tay và ngón cái bóp mạnh. Dùng mu lòng bàn tay day nhẹ từ gáy đến cổ. Thực hiện khoảng 1 – 2 phút.

Sau đó, xát gáy: Các ngón tay của hai bàn tay đan với nhau ôm vào sau gáy kéo qua kéo lại 10 lần. Tiếp đến xát vùng giữa hai xương bả vai bằng cách cúi đầu về phía trước, vắt bàn tay cùng bên ra phía sau xát từ trên xuống dưới và từ dưới lên. Bóp các cơ vùng gáy: Cúi đầu về phía trước, dùng bàn tay bóp cơ cổ từ trên xuống với lực vừa phải. Mỗi thao tác làm khoảng 10 lần.
Cuối cùng dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ véo các gân dưới nách bên đối diện và ngược lại sao cho có cảm giác tê tức truyền xuống tận ngón tay.

Nguồn gai đình

Viêm bao quy đầu do đâu?

Viêm bao quy đầu là bệnh hay gặp và dễ bị bỏ qua. Nguyên nhân gây bệnh có thể vì nhiều lý do như bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm virut và không giữ vệ sinh sạch sẽ.

Ban đầu bệnh nhân thấy xuất hiện những nốt, vệt đỏ nhỏ ở vùng quy đầu, sau đó xuất hiện dịch có mùi hôi, có các nốt trắng nhỏ li ti, bệnh nhân cảm thấy đau ở dương vật. Viêm bao quy đầu có loại lây nhiễm và không lây nhiễm. Lây nhiễm là do giao hợp không lành mạnh lây nhiễm lẫn nhau các loại virut. Còn viêm bao quy đầu không lây nhiễm là do da quy đầu quá dài, bị hẹp bao quy đầu vì thế các chất bẩn đọng lại do đi tiểu tiện gây kích thích da và niêm mạc gây nên viêm bao quy đầu. Việc chẩn đoán viêm bao quy đầu có thể chỉ cần quan sát triệu chứng lâm sàng nhưng có thể phải làm các xét nghiệm để tìm đúng nguyên nhân. Việc điều trị dứt điểm phụ thuộc rất nhiều vào chính bạn. Đó là:

– Phải giữ vệ sinh hằng ngày: Rửa bao quy đầu và da quy đầu mỗi khi đi tiểu tiện. Nếu da quy đầu dài quá phải phẫu thuật.

viem-bao-quy-dau

– Khi đối tác mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục thì phải ngừng hoạt động tình dục, kịp thời chữa trị và cả hai cùng thực hiện theo chỉ dẫn của thầy thuốc.

– Quan hệ vợ chồng chung thủy, giữ vệ sinh sạch sẽ trong giao hợp.

Việc điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân, nếu do vi khuẩn có thể phải dùng kháng sinh uống hay bôi (dạng kem). Viêm quy đầu có thể cần được điều trị cả bằng kem steroid (chống viêm). Nếu chưa cắt bao quy đầu thì nên cắt.

Kết quả điều trị thường mỹ mãn với điều kiện cần giữ vệ sinh tốt vùng quy đầu (ít nhất vệ sinh mỗi ngày 2 lần, khi đi ngủ và khi tắm): Lộn lớp da quy đầu lên để lộ hoàn toàn phần đầu dương vật và rửa sạch (nhưng nhẹ tay) bằng nước ấm, sau đó bằng xà phòng có độ sút nhẹ (hoặc bôi kem sorbolene và glycerine mua ở hiệu thuốc) – hong khô vùng đầu dương vật và cả lớp da – kéo trở lại lớp da phủ quy đầu – khi đi tiểu, kéo lớp da lên trên để nước tiểu không làm ướt lớp da, sau đó cũng hong khô (cách tốt nhất) hay thấm khô.

Nếu không chữa trị và để hiện tượng viêm hay nhiễm khuẩn trở thành mạn tính thì có thể có những biến chứng sau: hẹp lỗ niệu đạo – khó hoặc bị đau khi lộn lớp da phủ quy đầu – khó phủ lớp da lỏng lẻo lên quy đầu, do bị sưng nề làm cho sự tưới máu đến quy đầu kém đi. Chỉ cần giữ vệ sinh thân thể và cơ quan sinh dục giúp phòng ngừa viêm quy đầu; mỗi khi tắm, cần lộn tối đa lớp da phủ quy đầu lên trên để rửa sạch phần bên dưới và hong khô.

Khi có bất cứ dấu hiệu và triệu chứng viêm quy đầu cần tới gặp thầy thuốc da liễu để được khám và điều trị vì ngoài những nguyên nhân thông thường còn có thể do nhiều nguyên nhân phức tạp hơn (do virut gây u sùi, gây mụn rộp hay chlamydia…). Vì vậy cần đến kinh nghiệm của thầy thuốc và phương tiện xét nghiệm.
(Theo SK&ĐS)

Lưu ý khi điều trị lỵ trực khuẩn

Lỵ trực khuẩn là một bệnh thường gặp ở mùa hè. Đây là bệnh truyền nhiễm lây bằng đường tiêu hóa do Shigella gây nên. Biểu hiện với tình trạng nhiễm độc toàn thân, nhiễm độc thần kinh và viêm đại tràng ở các mức độ khác nhau. Bệnh dễ phát thành dịch, diễn biến thường lành tính, tuy nhiên với thể nặng và thể tối độc, nếu điều trị không đúng và không kịp thời dễ dẫn tới tử vong hoặc để lại những di chứng nặng nề.

Biểu hiện như thế nào?

Biểu hiện lâm sàng đa dạng tùy theo sức đề kháng của bệnh nhân, týp huyết thanh, các bệnh mạn tính khác kèm theo. Thông thường, sau khi mắc bệnh 1 – 3 ngày, bệnh nhân đột ngột xuất hiện sốt cao, sốt nóng có gai rét, đôi khi có rét run. Kèm theo sốt là đau đầu nhiều, đau toàn bộ đầu, mệt mỏi, bơ phờ, thờ thẫn, mất ngủ, da xanh, tái, chán ăn, khát nước, môi khô, tiểu ít…

luu-y-khi-dieu-tri-ly-truc-khuan

Đau bụng âm ỉ dọc theo khung đại tràng, nhất là vùng hố chậu trái, đôi lúc đau quặn thành cơn làm bệnh nhân xuất hiện cảm giác mót rặn. Sau mỗi lần đi ngoài, cảm giác đau xu hướng giảm sau đó lại xuất hiện trở lại. Đại tiện xuất hiện sau mỗi lần đau quặn bụng, đi ngày nhiều lần, từ vài lần đến vài chục lần, khi đại tiện luôn có cảm giác mót rặn. Phân lỏng, sệt lúc đầu, sau đó phân toàn nhầy máu lẫn lộn, nhầy mủ, nước phân như nước rửa thịt, tanh và thối.

Điều trị như thế nào?

Bù nước và điện giải là vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt nếu lỵ trực khuẩn cấp xảy ra ở trẻ em, phải cho trẻ uống bù nước ngay vì ở trẻ em thể trọng cơ thể nhỏ, khi tiêu chảy, sốt cao rất dễ bị mất nước, điện giải, sẽ nhanh chóng gây giảm khối lượng tuần hoàn và rối loạn nước điện giải.

Ngay tại nhà, cần bù nước bằng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý, pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi.

Kháng sinh: Có nhiều loại kháng sinh có thể sử dụng trong điều trị lỵ trực khuẩn như nhóm bactrim, nhóm beta lactam, quinolon… tùy theo tình hình thực tế. Hiện nay, hay sử dụng và hiệu quả nhất là nhóm quinolon.

Nhóm thuốc cũ (bactrim, tetracyclin, clorocid): Nhóm này đã bị Shigella kháng rất cao, hiệu quả chữa bệnh kém. Bên cạnh đó, các thuốc này còn gây ra các tác dụng không mong muốn như bactrim gây bí tiểu, hại thận; tetracyclin làm hỏng men răng trẻ dưới 12 tuổi; clorocid gây hại tủy xương, làm thiếu máu… Mặc dù thuốc rất sẵn nhưng hiện nay ít được dùng.

Các kháng sinh nhóm beta lactam như amoxylin, ampicilin, các cephalosporin hiện nay vẫn còn được sử dụng, tùy vào điều kiện thực tế của bệnh nhân và cơ sở y tế hiện tại, thuốc dùng khá an toàn, tuy nhiên hiệu quả không bằng nhóm quinolon.

Các quinolon như acid nalidixic, ciprofloxacin, ofloxacin: Hiệu quả chữa bệnh cao, rút ngắn được khoảng một nửa số ngày dùng thuốc so với dùng nhóm thuốc cũ.

Acid nalidixic là thuốc thuộc nhóm quinolon thế hệ l. Trong cấu trúc không có nhân piperidin và không có nguyên tử fluor. Nhóm thuốc này có phổ tác dụng hẹp, chỉ tác dụng trên vi khuẩn gram âm và chủ yếu dùng điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu hoặc nhiễm khuẩn tiêu hóa do gram âm. Hiện nay chỉ còn sử dụng điều trị cho trẻ em dưới 16 tuổi. Nhưng thuốc không được sử dụng cho người mang thai, thời kỳ cho con bú, trẻ em dưới 3 tháng tuổi, bệnh nhân suy thận, rối loạn tạo máu, động kinh, tăng áp lực sọ não.

Các quinolon thế hệ thứ 2, hấp thu nhanh và dễ dàng qua đường tiêu hóa. Nói chung, nhóm này nên dùng cho các nhiễm khuẩn nặng và các nhiễm khuẩn đã kháng các thuốc thông thường. Tuy nhiên, khi dùng thuốc, một số tác dụng không mong muốn có thể xảy ra như rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy); gây đau nhức xương khớp, kém phát triển xương khớp nhất là ở tuổi đang phát triển; ngoài ra có thể có các biểu hiện khác như nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, có trường hợp kích động, động kinh nhất là khi dùng cùng theophylin, tăng bạch cầu ưa acid, giảm bạch cầu lympho, giảm bạch cầu đa nhân, giảm tiểu cầu, thiếu máu. Do vậy, thuốc không được dùng cho người mẫn cảm với thuốc, người mang thai, thời kỳ cho con bú và trẻ em dưới 16 tuổi.

Tuy nhiên, theo khuyến cáo, chỉ sử dụng kháng sinh với các trường hợp ở thể vừa trở lên, không dùng cho thể nhẹ. Dùng thuốc gì, liều dùng bao nhiêu và dùng như thế nào cần có ý kiến của bác sĩ, bệnh nhân không nên tự ý sử dụng.

Ths. Nguyễn Bạch

Theo SKDS

NHỮNG ÐIỀU CẦN BIẾT VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM

Ðường hô hấp bao gồm từ mũi xuống họng, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi – có chức năng thu nhận không khí từ bên ngoài vào để cung cấp oxy cho cơ thể, đồng thời thải khí cacbonic ra ngoài. Vì thế nhiệm vụ của bộ máy hô hấp vô cùng quan trọng. Người ta có thể nhịn ăn trong nhiều ngày, nhưng không thể nhịn thở được dù chỉ trong vài phút. Khi bị NKHHCT, nghĩa là trẻ có thể bị bệnh ở đường mũi họng, thanh quản, khí quản, phế quản; trong đó đặc biệt viêm phổi là bệnh nguy hiểm nhất.

Tai cũng là một bộ phận của đường hô hấp và thông với họng, vì vậy những bệnh viêm nhiễm ở tai cũng được xếp vào các bệnh NKHHCT.

nhiemkhuanhohapcaptinh
2. NHỮNG TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP Ở TRẺ BỊ NKHHCT

Trẻ bị NKHHCT thường có một trong các triệu chứng sau:

– Ho.

– Sốt.

– Khó thở, thở nhanh hoặc thở khác thường.

– Ðau họng.

– Chảy nước mũi.

– Chảy mủ tai.

Trong đó ho là triệu chứng hay gặp nhất. Thông thường ho hay kèm theo sốt, tuy vậy cũng có nhiều trẻ nhỏ bị viêm phổi nặng nhưng không sốt. Có điều may mắn là đa số các trẻ bị ho, sốt, chảy nước mũi thường là do cảm cúm hoặc cảm lạnh, và bệnh sẽ tự khỏi trong vòng vài ngày đến 1 tuần mà không phải dùng kháng sinh. Tuy nhiên, một số trẻ trong nhóm này có thể bị viêm phổi. Khi bị viêm phổi, nếu không chữa trị kịp thời, bệnh sẽ nặng lên rất nhanh và có thể dẫn đến tử vong, còn nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng bệnh sẽ khỏi hoàn toàn.
3. PHÁT HIỆN TRẺ VIÊM PHỔI BẰNG CÁCH NÀO?

Một trẻ được coi là viêm phổi khi có ho và thở nhanh, vì khi phổi bị viêm, sự trao đổi oxy ở phổi trở nên khó khăn hơn nên cơ thể rất dễ thiếu oxy. Trẻ phản ứng lại tình trạng này bằng cách tăng nhịp thở lên để bù đắp lại tình trạng thiếu oxy.

Cha mẹ hoặc người chăm sóc có thể dễ dàng quan sát nhịp thở của trẻ bằng cách vén áo để quan sát sự di động của lồng ngực hoặc bụng. Nếu trẻ có thở nhanh thì thấy sự di động đó nhanh hơn những ngày trẻ bình thường. Ðiều quan trọng là phải quan sát lúc trẻ nằm yên hoặc ngủ. Không được quan sát lúc trẻ đang quấy khóc. Nếu có đồng hồ với kim giây, ta có thể để đồng hồ gần bụng hoặc ngực của trẻ và đếm nhịp thở trong vòng 1 phút. Một trẻ có tình trạng thở nhanh nếu ta đếm được:

– Từ 40 lần trong 1 phút trở lên đối với trẻ từ 1-5 tuổi.

– Từ 50 lần trong 1 phút trở lên đối với trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi.

– Từ 60 lần trong 1 phút trở lên đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi.

Ðó là dấu hiệu sớm nhất của một trẻ bị viêm phổi.

Nếu không thể đếm được nhịp thở của trẻ hoặc không thể phân biệt được trẻ có thở nhanh hơn ngày thường hay không, bà mẹ có thể vén áo trẻ lên và quan sát lồng ngực. Nếu thấy trẻ thở khác thường hoặc khi thở phát ra một tiếng bất thường nào đó, cũng có thể trẻ đã bị viêm phổi. Khi nghi ngờ một trẻ bị viêm phổi, cần đưa trẻ đến khám tại các trạm hoặc cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn điều trị cụ thể. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ uống kháng sinh khi chưa có hướng dẫn của thầy thuốc.

Dấu hiệu thứ 2 là co rút lồng ngực.

Vén áo trẻ lên và nhìn vào phần ranh giới giữa ngực và bụng xem có dấu hiệu lõm vào khi trẻ hít vào hay không? Ðể quan sát dấu hiệu này dễ dàng và chính xác, hãy bế trẻ nằm ngang trên lòng mẹ hoặc đặt trẻ nằm ngang trên giường. Hiện tượng này phải thấy thường xuyên ở bất kỳ nhịp thở nào của trẻ khi trẻ nằm yên hoặc ngủ mới có giá trị, còn nếu chỉ thấy lúc trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng hít sâu thì không được coi là co rút lồng ngực. Một trẻ có co rút lồng ngực chứng tỏ đã bị viêm phổi nặng, cần được đưa đến bệnh viện điều trị ngay.
4. NHỮNG ÐIỀU CẦN NHỚ

NKHHCT, đặc biệt là viêm phổi là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, bệnh diễn biến nặng rất nhanh và dễ gây tử vong, nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Vì vậy, các bậc cha mẹ có con dưới 5 tuổi cần nhớ:

– Nếu trẻ có ho và rút lõm lồng ngực, phải nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện điều trị cấp cứu vì trẻ có thể bị viêm phổi nặng.

– Nếu trẻ ho và thở nhanh hoặc thở khác thường, hãy đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn điều trị cụ thể vì trẻ có thể bị viêm phổi.

– Nếu trẻ chỉ bị ho, sốt đơn thuần thì không cần dùng kháng sinh, có thể theo dõi và chăm sóc điều trị tại nhà bằng thuốc ho Ðông y hoặc sirô ho và thuốc hạ sốt Paracetamol.

Theo sức khỏe

Đau thần kinh liên sườn: Dấu hiệu và cách chữa trị

Đau thần kinh liên sườn là bệnh hay gặp, do nhiều nguyên nhân gây nên như: chấn thương, vận động sai tư thế, cường độ quá mạnh, thoái hóa cột sống, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, đái tháo đường, viêm đa dây thần kinh… Nếu không tìm thấy nguyên nhân gọi là đau thần kinh liên sườn tiên phát.

Nhiều bệnh gây đau thần kinh liên sườn

Có nhiều nguyên nhân gây đau dây thần kinh liên sườn: do thoái hóa cột sống, thường gặp ở người cao tuổi; do lao cột sống hay ung thư cột sống: thường gặp ở những người tuổi trung niên, bệnh diễn biến nặng, khu trú tại vùng cột sống bị tổn thương; do bệnh lý tủy sống; do nhiễm khuẩn: hay gặp nhất là đau dây thần kinh liên sườn do zona, thường tiến triển qua 2 giai đoạn: giai đoạn cấp và giai đoạn di chứng; đau dây thần kinh liên sườn tiên phát: có thể do lạnh hoặc do vận động sai tư thế hoặc quá tầm; do các bệnh: đái tháo đường, nhiễm độc, viêm đa dây thần kinh…

dau_than_kinh_lien_suon_dau_hieu_va_cach_chua_tri

Các dấu hiệu phát hiện bệnh

Dấu hiệu để phát hiện bệnh đau thần kinh liên sườn phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân gây bệnh kể trên. Đau do thoái hóa cột sống: gặp ở người cao tuổi, tính chất đau ê ẩm, không cấp tính kèm theo đau âm ỉ cột sống ngực cả khi nghỉ và khi vận động, ấn vào điểm cạnh sống hai bên (cách giữa cột sống 2-3cm), bệnh nhân thấy tức nhẹ và dễ chịu. Đau do lao cột sống hay ung thư cột sống: gặp ở những người tuổi trung niên, bệnh diễn biến nặng, khu trú tại vùng cột sống bị tổn thương. Tính chất đau: đau chói cả hai bên sườn, có khi đau như đánh đai, như bó chặt lấy ngực hoặc bụng bệnh nhân. Ấn cột sống sẽ thấy điểm đau chói, bệnh nhân đau liên tục suốt ngày đêm, tăng khi thay đổi tư thế hoặc vận động. Bệnh nhân có các triệu chứng nặng như hội chứng nhiễm độc lao: sốt về chiều, mệt mỏi, sút cân…; có thể thấy biến dạng cột sống. Đau do bệnh lý tủy sống: triệu chứng đau dây thần kinh liên sườn là dấu hiệu sớm của u rễ thần kinh, u ngoại tủy. Tính chất đau: thường đau một bên, khu trú rõ, đau kiểu đánh đai ở một bên sườn. Khám cột sống không thấy đau rõ ràng. Đau do chấn thương cột sống: xảy ra sau khi bệnh nhân bị chấn thương, chẳng hạn bị ngã, bị đánh, bị tai nạn giao thông, tai nạn lao động, vận động hoặc là động tác với cường độ quá mạnh. Đau do nhiễm khuẩn: hay gặp nhất là đau dây thần kinh liên sườn do zona, thường tiến triển qua 2 giai đoạn, giai đoạn cấp khởi phát bằng đau rát một mảng sườn, sau một vài ngày thấy đỏ da, xuất hiện các mụn nước với xu hướng lan rộng theo phạm vi phân bố của dây thần kinh liên sườn. Bệnh nhân thấy ngứa và đau rát như bỏng, rất khó chịu, bệnh nhân không dám để cho vùng tổn thương tiếp xúc với quần áo hay sờ mó vào da. Có thể có sốt, mệt mỏi, khoảng một tuần tổn thương khô, bong vảy, để lại sẹo. Giai đoạn di chứng: bệnh nhân thấy đau rát ở vùng tổn thương một thời gian, có khi kéo dài hàng tháng, nhất là ở người cao tuổi. Đau dây thần kinh liên sườn tiên phát: có thể do lạnh hoặc do vận động sai tư thế hoặc quá tầm. Bệnh nhân thấy đau ở vùng cạnh sống hoặc vùng liên sống – bả vai, có thể đau một hoặc hai bên, đau lan theo khoang liên sườn ra phía trước, đau âm ỉ cả ngày và đêm, đau khi hít thở sâu, thay đổi tư thế, ho, hắt hơi. Ấn vùng cạnh sống tương ứng với khe gian đốt bệnh nhân thấy đau tức, đôi khi lan theo đường đi của dây thần kinh liên sườn. Da vùng đau không có biểu hiện tổn thương. Đau do các bệnh: đái tháo đường, nhiễm độc, viêm đa dây thần kinh… Bệnh nhân có triệu chứng của các bệnh này trước, sau đó mới xuất hiện đau thần kinh liên sườn.

Triệu chứng đau dây thần kinh liên sườn thường được bệnh nhân mô tả là đau ngực, tức ngực, đau mạng sườn, là những cơn đau kéo dài hoặc xuất hiện từng đợt dọc theo dây thần kinh liên sườn. Bệnh nhân thường chỉ đau ở một bên, trái hoặc phải; đau từ trước ngực, lan theo mạng sườn ra phía sau ở cạnh cột sống. Có thể có điểm đau và tăng cảm giác ở vùng đau khi thầy thuốc khám thăm khám. Đau dây thần kinh liên sườn thường xuất hiện khi có các bệnh nhiễm khuẩn như cúm, lao, thấp khớp, các bệnh phổi, màng phổi, tim, gan hay tổn thương ở đốt sống lưng như lao, ung thư, thoái hóa, u tủy…

Đau dây thần kinh liên sườn là triệu chứng của nhiều bệnh, do đó cần phải theo một trình tự chẩn đoán: phát hiện sớm triệu chứng của các bệnh là nguyên nhân gây ra đau thần kinh liên sườn kết hợp với biểu hiện đau thần kinh liên sườn.

Điều trị và phòng bệnh

Việc điều trị bệnh đau dây thần kinh liên sườn trước hết cần điều trị các bệnh là nguyên nhân gây đau. Nếu là đau dây thần kinh liên sườn tiên phát, có thể điều trị như sau: dùng thuốc giảm đau paracetamol, diclofenac… Đối với bệnh zona gây ra đau liên sườn, nên cho bệnh nhân bôi kem acyclovir mỗi ngày 2-3 lần vào các mụn nước; dùng thuốc giảm đau, thuốc an thần. Loại thuốc điều trị đau thần kinh nhóm gabapentin, thường dùng liều nhỏ, tăng dần tới khi có tác dụng, nên uống thuốc trước khi đi ngủ hoặc nghỉ trưa, có thể phải dùng kéo dài vài tháng. Thuốc giãn cơ vân như myonal, mydocalm… chỉ dùng khi đau nhiều, cảm giác co rút vùng sườn tổn thương. Vitamin nhóm B như B1, B6, B12 là các vitamin có vai trò quan trọng trong chuyển hóa của tế bào nói chung, nhất là tế bào thần kinh và bao myelin. Phong bế cạnh sống.

Phòng bệnh: cần khám, phát hiện và điều trị tích cực các bệnh là nguyên nhân gây ra đau dây thần kinh liên sườn nói trên. Tránh vận động sai tư thế hoặc quá mạnh. Chú ý  phòng tránh tai nạn giao thông, tai nạn lao động và sinh hoạt.

BS. Ninh Thanh Tùng
Theo SKĐS

Lao xương khớp: Cách điều trị

Lao xương khớp được coi là lao thứ phát, do vi khuẩn lao sau khi qua phổi hoặc hệ thống tiêu hóa sẽ theo đường máu hoặc bạch huyết đến khu trú tại một bộ phận nào đó của hệ thống cơ xương khớp gây bệnh. Bệnh lao xương khớp có thể bị đơn độc hoặc kèm theo lao tại phổi hay tại các cơ quan khác.

Nguyên nhân và triệu chứng

Lao xương khớp là tình trạng nhiễm khuẩn của hệ thống xương khớp do trực khuẩn lao có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Đây là tình trạng lao ngoài phổi phổ biến, chiếm khoảng 7% tổng số các thể lao. Lao xương khớp có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, tất cả các xương khớp trong cơ thể; trong đó lao cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60-70% tổng số lao xương khớp, sau đó đến lao khớp háng (10%), khớp gối (5%)…

Lao cột sống còn gọi là bệnh Pott, là tình trạng viêm đốt sống – đĩa đệm do lao hay gặp nhất. Biểu hiện toàn thân: bệnh nhân sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi, gầy sút, da xanh xao, ăn uống kém. Biểu hiện tại chỗ: thường bệnh nhân đau cột sống âm ỉ liên tục, đau tăng về đêm. Khi bị lâu có thể dẫn đến xẹp đốt sống gây gù nhọn. Lao có thể rò mủ ra ngoài, chất mủ giống như bã đậu. Cũng có khi lao tạo thành ổ áp-xe lạnh cạnh cột sống. Khi để muộn có thể gặp một số biến chứng chèn ép thần kinh xung quanh do xẹp đốt sống, thoát vị đĩa đệm, do áp-xe lạnh, do viêm màng nhện tủy. Nếu chèn ép thần kinh ở vùng cột sống thắt lưng gây yếu liệt hai chân, rối loạn cảm giác vùng hậu môn sinh dục, đại tiểu tiện không tự chủ. Nếu chèn ép ở cột sống cổ có thể gây liệt tứ chi. Chèn ép vùng ngực gây đau thần kinh liên sườn, rối loạn cảm giác, yếu liệt hai chân… Trường hợp lao cột sống có áp-xe lạnh, khối áp-xe có thể vỡ vào trung thất  gây hội chứng trung thất, hoặc vỡ vào màng tim, màng phổi gây chèn ép tim, phổi cấp dẫn đến suy hô hấp, trụy tim mạch. Nếu áp-xe vỡ vào cơ thắt lưng chậu gây viêm cơ thắt lưng chậu.

Lao khớp ngoại biên hay gặp là lao khớp háng, khớp gối và một số khớp khác ít gặp hơn như khuỷu tay, cổ tay, cổ chân… Biểu hiện tại chỗ là tình trạng viêm khớp: sưng, nóng, đỏ đau tại chỗ thường ở một khớp đơn độc; khớp bị tổn thương hạn chế vận động, có thể có lỗ rò ra chất hoại tử bã đậu hay mảnh xương chết. Lâu ngày cơ quanh khớp viêm bị teo, hạn chế vận động. Biểu hiện toàn thân của lao khớp ngoại biên cũng tương tự như lao cột sống. Cần lưu ý hiện nay lao nói chung và lao xương khớp nói riêng thường phối hợp với các bệnh suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, đái tháo đường…

lao_xuong_khop_cach_dieu_tri

Xét nghiệm tìm vi khuẩn lao

Vấn đề điều trị

Điều trị lao xương khớp bao gồm điều trị cơ bản tức điều trị nguyên nhân bệnh và điều trị phối hợp.

Điều trị cơ bản, tức là dùng thuốc chống lao điều trị nguyên nhân theo các nguyên tắc sau: phối hợp các thuốc chống lao với ít nhất 3 loại thuốc trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì. Dùng thuốc đúng liều: liều thấp không hiệu quả, dễ tạo vi khuẩn kháng thuốc, ngược lại liều cao dễ gây tai biến. Dùng thuốc đều đặn đặn để đạt sự hấp thu thuốc tối đa. Dùng thuốc đủ thời gian, theo 2 giai đoạn: tấn công từ 2-3 tháng và duy trì từ 4-6 tháng. Cần theo dõi quản lý bệnh theo nguyên tắc DOST (Directly Observed Treatment, Short course) tức là điều trị phác đồ ngắn ngày có theo dõi, kiểm soát trực tiếp việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng toàn thân, tại chỗ, tiến triển của bệnh cũng như các tai biến có thể xảy ra khi dùng thuốc.

Các thuốc chống lao thường dùng và liều lượng thuốc khi dùng hàng ngày là: Streptomycin (S), Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazynamid (Z), Ethambutol (E). Trong trường hợp dùng phác đồ 3 lần một tuần thì liều lượng có sự thay đổi, thường là cao hơn liều hằng ngày.

Các phác đồ chuẩn: đối với lao xương khớp mới phát hiện: dùng phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE hoặc 2S(E)RHZ/4RH. Phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 4 loại kháng sinh phối hợp: streptomycin hoặc ethambutol, isoniazid, rifampicin, pyrazynamid; 4 tháng sau dùng hai loại thuốc là isoniazid và ethambutol hằng ngày. Phác đồ này chỉ áp dụng khi kiểm soát trực tiếp được bệnh nhân ở cả giai đoạn duy trì.

Với lao xương khớp tái phát, hoặc thất bại sau phác đồ trên, hoặc điều trị lại sau bỏ thuốc hoặc với thể lao nặng thì áp dụng phác đồ: 2SHRZE/1HRZE/5H3R3E3, có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 5 loại thuốc phối hợp, tháng thứ ba dùng 4 loại thuốc, 5 tháng tiếp theo dùng 3 loại thuốc mỗi tuần 3 ngày.

Một số trường hợp lao xương khớp đặc biệt như lao ở trẻ em, người già, phụ nữ có thai hay cho con bú, người suy gan thận cần đặc biệt chú ý và có những hướng dẫn điều trị, theo dõi riêng.

Khi sử dụng thuốc chống lao kéo dài cần đặc biệt chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng), đau khớp, rối loạn về thần kinh ngoại biên (tê bì, bỏng rát ở chân), mẩn ngứa phát ban… Trường hợp nặng có thể có ù tai, chóng mặt hay điếc do dùng streptomycin; xuất huyết dưới da, thiếu máu huyết tán do dùng rifampicin, giảm thị lực do dùng ethambutol; vàng da viêm gan do R, H, Z…, hay có thể sốc phản vệ do thuốc. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ về lâm sàng, xét nghiệm máu để có thái độ xử trí thích hợp.

Điều trị phối hợp: Ngoài điều trị thuốc cơ bản, đặc hiệu thì trong lao xương khớp, việc điều trị phối hợp rất quan trọng.

Bất động tương đối vùng tổn thương: bất động trong thời gian tiến triển của bệnh bằng máng bột, áo bột, nẹp bột hay áo, nẹp chỉnh hình; sau đó nếu có thể thì vận động trở lại sớm để tránh dính, cứng khớp.

Điều trị tốt bệnh phối hợp: HIV, đái tháo đường…

Phòng, điều trị các tác dụng phụ của thuốc.

Nghỉ ngơi hợp lý, nâng cao thể trạng, chế độ ăn uống nhiều đạm, vitamin.

Kết hợp thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ nếu đau nhiều.

Điều trị ngoại khoa phối hợp trong các trường hợp cần thiết: phẫu thuật loại bỏ ổ tổn thương, giải phóng chèn ép, điều trị chỉnh hình…

Phòng bệnh

Cách ly người bệnh, tránh lây nhiễm. Những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân lao cần được khám và chụp Xquang phổi để phát hiện sớm tình trạng nhiễm lao, từ đó có biện pháp điều trị và quản lý hợp lý, tránh lây lan.

Người bệnh cần được theo dõi quản lý chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc điều trị bệnh nhằm tránh hiện tượng lao tái phát, lao kháng thuốc.

ThS. Bùi Hải Bình
Theo SKĐS

Cách hạn chế nguy cơ gây đau thần kinh tọa

Đau thần kinh tọa là căn bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30-60. Ngoài các nguyên nhân bệnh lý như: tổn thương ở cột sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh, thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng, các tổn thương thực thể khác ở vùng thắt lưng (dị dạng bẩm sinh, chấn thương, thoái hóa cột sống thắt lưng, u, viêm cột sống dính khớp, viêm đốt sống do nhiễm khuẩn) thì nguy cơ gây đau thần kinh tọa tăng cao ở những trường hợp thường xuyên phải lao động chân tay nặng nhọc, làm việc sai tư thế; các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, vận động viên cử tạ…

Dấu hiệu nhận biết bệnh

Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Chức năng chính của dây là chi phối cảm giác, dinh dưỡng và vận động cho hai chân, đặc biệt là cẳng chân.

Đau dây thần kinh tọa có biểu hiện đặc trưng bằng cảm giác đau lan dọc xuống phía đùi theo rễ thần kinh lưng 5 (L5) và rễ thần kinh sống 1 (S1). Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì có hiện tượng đau dọc từ lưng eo phía ngoài xuống ngoài động mạch cẳng chân tới tận ngón chân út. Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì đau dọc ra phía sau mông, thẳng xuống sau đùi, sau bắp cẳng chân tới phía ngoài bàn chân. Nếu bị bệnh thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thì đau thường tới phía trên đầu gối; nếu bị thần kinh tọa dưới thì đau tới mắt cá ngoài bàn chân.

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa

Thoát vị đĩa đệm gây đau thần kinh tọa

– Đau giữa cột sống hay lệch một bên, đau tăng lên khi bị rung người (đi xe qua ổ gà, vấp vào đá).

– Cảm giác đau lan từ lưng xuống, lệch sang một bên mông, xuống đùi, khoeo, gót chân. Hoặc thấy đau ngược lại, từ gót chân lên.

– Nhói lưng khi ho, khi hắt xì hơi, khi cười.

–  Cột sống cứng, bị đau khi chuyển dịch hoặc nghiêng người .

– Khó cúi người xuống vì đau.

– Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Đau tăng thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi,…

– Có thể thấy teo cơ bên chân đau nếu tình trạng đau kéo dài.

Trong trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường, nhưng cơn đau có thể gây khó chịu, ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Nếu bị đau nặng sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và khả năng lao động. Nếu không điều trị kip thời, bệnh có thể để lại những biến chứng như yếu liệt cơ, chân tê bì mất cảm giác, đi lại khó khăn, tiểu tiện khó…

Điều trị như thế nào?

Khi người bệnh thấy những biểu hiện của đau thần kinh tọa cần phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để các bác sĩ kiểm tra, chẩn đoán và có chỉ định điều trị phù hợp. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có  phương pháp chữa trị phù hợp. Trong giai đoạn đau cấp tính người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh và có thể dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu bệnh nặng không thuyên giảm hoặc có biến chứng như yếu cơ, teo cơ, người bệnh đau nhiều, đau tái phát nhiều lần thì bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật.

Hạn chế nguy cơ gây bệnh

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa2

Để hạn chế mắc bệnh đau dây thần kinh tọa, chúng ta cần thực hiện các biện pháp phòng tránh như: Không nên lao động quá sức, làm việc sai tư thế. Tránh đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu. Nếu phải ngồi làm việc lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang, vác, hay nhấc vật nặng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng, hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất, không nên nhảy từ trên cao xuống, không nên thay đổi tư thế một cách đột ngột,…

Ngoài ra để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống. Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống.

Khi có dấu hiệu của bệnh cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ chuyên khoa khám xác định nguyên nhân và mức độ của bệnh để có chỉ định điều trị phù hợp, hạn chế được những biến chứng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khả năng lao động.

BS. Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn

Có nhiều nguyên nhân gây ra gãy xương như: bom đạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…, có thể là gãy xương hở hoặc gãy xương kín. Xương thường bị gãy vỡ thành nhiều mảnh, có khi bị mất từng đoạn xương hay các đoạn xương bị di lệch. Chúng ta cần biết cố định xương gãy là để tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn.

Vì sao cần cố định xương gãy?

Khi gãy xương, đầu xương gãy sắc nhọn dễ làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến những tai biến nặng như: sốc do mất máu và đau đớn, nhất là khi gãy các xương lớn; làm tổn thương phần mềm do các đầu xương gãy đâm rách; nhiễm khuẩn vết thương. Cố định tạm thời gãy xương là một kỹ thuật quan trọng để hạn chế những tai biến đó và giữ cho ổ gãy xương được ổn định để vận chuyển an toàn bệnh nhân đến bệnh viện.

tu_cuu_minh_va_cuu_nguoi_khi_gap_tai_nan

Yêu cầu cố định xương gãy như thế nào?

Khi cố định tạm thời xương gãy phải đảm bảo không làm cho bệnh nhân bị đau thêm. Muốn thế phải giảm đau tốt cho bệnh nhân trước khi tiến hành băng bó cố định chi gãy, không được nâng nhấc, băng bó, cố định chi gãy nếu chưa dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Nẹp phải đủ dài để cố định được cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy, buộc chắc chắn vào chi. Nếu chi gãy bị di lệch, biến dạng nhiều thì sau khi đã giảm đau thật tốt, có thể nhẹ nhàng kéo chỉnh lại trục chi để giảm bớt biến dạng, giảm bớt nguy cơ thương tổn phần mềm do các đầu xương gãy gây ra. Không đặt nẹp cứng sát vào chi mà phải lót bằng bông, gạc… Khi cố định xương gãy, không cần cởi quần áo người bị thương vì quần áo có tác dụng tăng cường đệm lót cho nẹp.

Các loại nẹp dùng để cố định xương gãy

Nẹp tre (hoặc gỗ), kích thước dài ngắn tùy chi thể của người bị thương. Các nẹp được bọc trước bằng bông hoặc giấy xốp cuốn băng xô, trên toàn bộ chiều dài, bịt kín 2 đầu nẹp. Ngoài ra còn loại nẹp Crame là loại nẹp làm bằng sợi kẽm, bẻ uốn được, hình bậc thang, có nhiều kích thước thích hợp cho từng đoạn chi. Dùng nẹp Crame cũng cần có đủ các kích thước phù hợp với từng đoạn chi và cũng cần bọc lót bông gạc như với nẹp tre. Tuy nhiên khi gặp tình huống khẩn cấp mà không có nẹp đã chuẩn bị sẵn, có thể sử dụng các phương tiện sẵn có như đòn gánh, cành cây, gậy gỗ, dát giường… để cố định xương gãy.

Phương pháp cố định tạm thời ở một số gãy xương lớn

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng tay: Đặt nẹp ngắn ở mặt trước cẳng tay đi từ nếp khuỷu đến khớp ngón – bàn. Đặt nẹp dài ở mặt sau cẳng tay, từ quá mỏm khuỷu, đối xứng với nẹp ở mặt trước. Buộc 2 đoạn cố định 2 nẹp vào bàn tay và cẳng tay. Đoạn thứ nhất ở bàn tay và cổ tay, đoạn thứ 2 ở dưới và trên khớp khuỷu. Dùng băng cuộn để treo cẳng tay ở tư thế gấp 900.

– Cố định tạm thời gãy xương cánh tay: Ở mặt trong cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên lên tới hố nách, đầu dưới sát nếp khuỷu. Mặt ngoài cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên quá khớp vai nách, đầu dưới quá khớp khuỷu. Cố định nẹp ở 2 đoạn: đoạn một ở 1/3 trên cánh tay và khớp vai, đoạn hai ở trên và ở dưới khớp khuỷu. Dùng băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay vuông góc 900 với cánh tay và cuốn 1 vài vòng băng buộc cánh tay vào thân.

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng chân: Đặt 2 nẹp ở mặt trong và mặt ngoài chi gãy đi từ giữa đùi tới quá cổ chân. Nếu có nẹp thứ 3 thì đặt ở mặt sau cẳng chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi.

– Cố định tạm thời gãy xương đùi: Dùng 3 nẹp để cố định, nẹp ở mặt ngoài đi từ hố nách đến quá gót chân. Nẹp ở mặt trong đi từ bẹn đến quá gót chân. Nẹp ở mặt sau đi từ trên mào chậu đến quá gót chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn chân, cổ chân, 1/3 trên cẳng chân, trên gối, bẹn, bụng và dưới nách. Trước khi vận chuyển: buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở ba vị trí cổ chân, đầu gối và đùi.

BS. Trần Văn Phong
Theo SKĐS

Thấp khớp: bệnh nặng nhất trong 100 loại bệnh cơ xương khớp

Hiện nay người ta đã biết tới hơn 100 loại bệnh cơ khớp xương gây đau nhức và tàn tật cho hàng chục triệu người, trong đó bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis là bệnh nặng nhất, gây ra đau nhức khớp xương nặng và dần dần làm biến dạng các khớp xương. Bệnh nhân bị hạn chế vận động, cử động, đi lại khó khăn do tổn thương và biến dạng các khớp. Bệnh gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 20 – 50 tuổi.

Thấp khớp do di truyền?

Bệnh thấp khớp xảy ra do màng lót các khớp xương bị viêm sưng lên và tiết ra một chất đạm (protein) làm màng này ngày càng dày lên. Chất đạm này còn hủy hoại lớp sụn, xương, gân và dây chằng của khớp. Sau một thời gian bị bệnh, dần dần các khớp xương của bệnh nhân bị biến dạng, méo mó và có thể bị phá hủy. Câu hỏi đặt ra là tại sao các màng lót trong khớp xương lại bị sưng lên? Nhiều nghiên cứu cho rằng nhiễm khuẩn là nguyên nhân gây sưng các màng lót trong khớp. Bên cạnh đó, một số người có gen di truyền khiến họ dễ bị nhiễm khuẩn là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Một số nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra bệnh thấp khớp. Những yếu tố nguy cơ có thể làm một người dễ mắc bệnh thấp khớp là: tuổi già, phái nữ, người hút thuốc lá, thuốc lào.

thap_khop_benh_nang_nhat_trong_100_loai_benh_co_xuong_khop

Tổn thương khớp bàn tay trong bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis

Dấu hiệu của bệnh thấp khớp

Thông thường, một bệnh nhân bị bệnh thấp khớp có biểu hiện các triệu chứng sau đây trong một thời gian rồi tự khỏi, sau đó lại tái phát:  đau nhức và sưng các khớp, nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân. Đau nhức hoặc cứng toàn thể các khớp xương và bắp thịt, nhất là sau khi ngủ dậy vào mỗi buổi sáng hay sau một thời gian nghỉ ngơi. Các khớp khó hoặc không cử động được. Bắp thịt nơi chỗ khớp đau bị yếu đi. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, nhất là khi bệnh trở nặng. Sau một thời gian bị bệnh, các khớp xương bị biến dạng. Bệnh thấp khớp thường xảy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Đầu tiên là các khớp xương ở cổ tay, bàn tay, bàn chân và đầu gối bị viêm sưng. Tiếp theo là các khớp vai, khuỷu tay, háng, cằm và cổ cũng bị tổn thương. Ở những điểm dễ va chạm nhất của khớp xương như khuỷu tay, bàn tay và bàn chân, dây gân gót chân có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục thấp khớp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác hay ở trong phổi. Kích thước các cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu, nhưng cũng có thể to bằng quả táo nhỏ, với đặc điểm là  không gây đau đớn gì cả. Bệnh thấp khớp đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt, tuyến nước bọt, màng tim và màng phổi, phổi và các mạch máu. Đây là một bệnh mạn tính, có thời gian thuyên giảm, có lúc lại nặng lên. Hiện nay chưa có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương pháp bảo vệ các khớp, bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.

Biến chứng của bệnh

Bệnh thấp khớp gây ra cứng, đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần, bệnh nhân khó cử động, khó làm những việc đơn giản như cầm đũa ăn cơm, cầm bút viết, vặn nắm cửa…Bệnh nhân thấp khớp cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương, bệnh tim…tàn tật do khớp bị biến dạng.

 

Các phương pháp chữa trị

Điều trị nội khoa để giảm đau và ngăn sự tiến triển của bệnh có thể dùng một trong các thuốc sau: thuốc chống viêm không stenoid, COX 2 inhibitors, steroids, thuốc chống miễn nhiễm, thuốc chống trầm cảm… Lọc máu: loại bỏ bớt những kháng thể gây viêm và đau khớp. Phương pháp phẫu thuật để thay khớp đối với các khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều, giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau. Những phương cách chữa trị như châm cứu, thuốc đông y, thuốc dùng thêm như glucosamine, chondroitin sulfate… cũng có tác dụng nhất định.

Cách tự săn sóc: bệnh nhân cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình để giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần nhờ bác sĩ hay nhân viên vật lý trị liệu tư vấn về những môn hay động tác thể dục thích hợp và cần thiết để luyện tập. Hạn chế tăng cân vì khi thừa cân sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và bị phá hoại nhanh hơn. Ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc. Nên tắm nước nóng hay chườm nước nóng lên các khớp để giảm đau, thư giãn các bắp thịt và tăng cường tưới máu đến khớp. Tập thư giãn như thở sâu, thư giãn bắp thịt, thiền. Uống thuốc đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ.

Xác định tinh thần lạc quan, phối hợp với bác sĩ trong phòng và chữa bệnh. Sử dụng các dụng cụ bảo vệ khớp và hỗ trợ vận động như: băng đầu gối, gậy chống… Tránh làm việc hay cử động quá sức, nghỉ ngơi hợp lý.

BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh
Theo SKĐS

Bí quyết loại trừ chứng đau lưng

Mọi người có thể mắc triệu chứng đau lưng ngay cả tuổi còn rất trẻ, bởi vì đau lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân xảy ra ngay tại cột sống nhưng có nhiều trường hợp đau lưng do nguyên nhân ở một vị trí khác, cơ quan khác trong cơ thể gây nên. Vì đau lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên không có sự phân biệt giàu nghèo, giới tính cũng như chủng tộc, vùng địa lý.

Nguyên nhân gây đau lưng

Đau lưng có hai loại nguyên nhân cơ bản sau đây: đau lưng do tác động cơ học và đau lưng do hiện tượng viêm.

– Đau lưng do tác động cơ học: Đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi như thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hằng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hóa thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng đau lưng rất khó chịu mà buộc người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hóa cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng…).

bi_quyet_loai_tru_chung_dau_lung_01

Đau lưng cấp tính do thay đổi tư thế đột ngột

– Đau lưng do hiện tượng viêm: Trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… và cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng…), viêm dạ dày – tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)… Các loại bệnh kiểu như thế này thường gây đau lưng một cách âm ỉ.

Làm thế nào để tìm căn nguyên gây đau lưng

Như trên đã trình bày đau lưng chỉ là một triệu chứng. Trước hết người bị đau lưng nên tự xem xét bản thân mình đau lưng có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến đau lưng hay không? Ví dụ hay đau lưng vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ, ngoài đau lưng còn có triệu chứng nào liên quan mật thiết với đau lưng như tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế; đau lưng có liên quan đến đau dạ dày hay không; đau lưng ở đoạn nào (phía trên hay vùng thắt lưng); đau có lan ra các vùng xung quanh hay không? Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng khả nghi  nhưng không nên tự mình chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân khi không có chuyên môn thực sự về y. Điều quan trọng nhất của việc tìm nguyên nhân gây đau lưng là đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Bác sĩ có thể yêu cầu làm thêm một số xét nghiệm để chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây đau lưng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ… Có khá nhiều trường hợp khi tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục thích hợp thì đau lưng cũng dần dần khỏi, ví dụ như ngồi sai tư thế; bưng bê vật nặng không cân xứng trọng lực giữa hai tay và hai chân hoặc các trường hợp đau lưng do ngồi sai tư thế hoặc do ngồi quá nhiều giờ liền như đối với lái xe, cán bộ văn phòng ngồi trước máy vi tính nhiều giờ, các nhân viên tổng đài, thợ may… Một số bệnh sốt cấp tính do nhiễm khuẩn cũng gây đau lưng, đau cơ, mệt mỏi như trong bệnh sốt xuất huyết.

bi_quyet_loai_tru_chung_dau_lung_02

Thoái vị đĩa đệm gây đau lưng

Loại trừ chứng đau lưng bằng cách nào?

Khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng, thầy thuốc sẽ có chỉ định điều trị thích hợp và khi loại trừ được nguyên nhân thì triệu chứng đau lưng cũng biến mất. Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó không phải đơn giản trong ngày một, ngày hai hay trong vài ba tuần, ví dụ như thoái hóa cột sống, lồi đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng sau khi đã điều trị khỏi chứng đau lưng thì không nên để tái phát nguyên nhân đó, bởi để tái phát thì đau lưng còn tăng hơn nhiều lần so với trước.

Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị thì các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tùy theo sức mình và bệnh của mình ví dụ như thoát vị đĩa đệm nên đi bộ trên nền phẳng; không đi xe đạp, xe máy, ôtô những nơi gây xóc, mấp mô, nhiều ổ gà… Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hóa cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khỏe cho mình.

Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây đau lưng không phải tùy tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y cả thuốc Đông y. Trong điều kiện cho phép có thể đều trị Đông, Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc lý liệu pháp. Người bệnh cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh đau lưng tái phát.

PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Bóc vỏ xương: Cứu cánh cho nhiều người bệnh bị gãy xương

Viện Chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đang ứng dụng kỹ thuật bóc vỏ xương điều trị cho những trường hợp gẫy thân xương dài, xương không liền tạo thành các khớp giả gây tàn phế. Với những hiệu quả mang lại, phương pháp này đang là cứu cánh cho nhiều bệnh nhân tránh cho họ khỏi cuộc phẫu thuật phải lấy xương mào chậu để ghép.

Nhiều trường hợp tàn tật sau gãy xương

Sau một năm bị tai nạn gãy xương hở, mặc dù đã được bó bột và khâu vết thương, song ông Trần Mạnh Huy, 45 tuổi (Văn Quán – Hà Nội) vẫn đau đớn không đi lại được. Ổ gãy ở cẳng chân vẫn chưa liền và cong vẹo. Tại Bệnh viện Quân y 108, bệnh nhân được chẩn đoán bị khớp giả thân xương dài. Ông Huy đã được thực hiện phẫu thuật bóc vỏ xương (đây chính là ghép xương tại chỗ) kết hợp với kết xương bằng đinh nội tủy có chốt. Sau 4 tháng, xương liền và bệnh nhân đi đứng bình thường.

TS. Nguyễn Lâm Bình, người trực tiếp điều trị cho bệnh nhân Huy cho biết, trường hợp như của ông Huy không phải là hiếm và được gọi là khớp giả thân xương dài. Bệnh chiếm tỷ lệ từ 2 – 5% ở các trường hợp sau gãy thân các xương dài ở cánh tay, cẳng tay, đùi, cẳng chân. Bệnh nhân thường đã được điều trị mổ kết xương hay bó bột, bó thuốc nam… nhưng sau 6 tháng vẫn không đi đứng hoặc không vận động cánh tay, cẳng tay được. Chụp phim Xquang kiểm tra thấy ổ gãy xương chưa liền, đó chính là khớp giả. Những trường hợp này cần phải được can thiệp phẫu thuật kết xương để cố định vững ổ gãy (thường kèm theo tháo phương tiện kết xương cũ), đồng thời kết hợp với làm mới ổ gãy, ghép xương… mới có thể liền xương. Nếu không điều trị bệnh nhân sẽ tàn phế.

boc_vo_xuong_cuu_canh_cho_nhieu_nguoi_benh_bi_gay_xuong_01 boc_vo_xuong_cuu_canh_cho_nhieu_nguoi_benh_bi_gay_xuong_02

Chân bệnh nhân sau khi được phẫu thuật bóc vỏ xương

TS. Nguyễn Văn Tín, Phó Viện trưởng Viện Chấn thương chỉnh hình cho hay, hiện có rất nhiều phương pháp điều trị khớp giả không nhiễm khuẩn ở các xương dài, mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm nhất định. Ở hầu hết các bệnh viện trong nước, phương pháp điều trị phổ biến nhất là phẫu thuật kết xương kết hợp với ghép xương mào chậu tự thân. Đây là một phương pháp điều trị có tính kinh điển, đạt tỷ lệ liền xương từ 85 – 95%. Tuy nhiên, bệnh nhân phải chịu thêm một thì mổ lấy xương ghép ở xương mào chậu. Ghép xương đồng loại hay ghép chất liệu thay thế xương ghép ít được ứng dụng do những nhược điểm về tỷ lệ thành công thấp, giá thành cao hoặc chất liệu không sẵn có… Vì vậy, bóc vỏ xương là một phương pháp rất hiệu quả đối với bệnh nhân.

Chi phí thấp nhưng hiệu quả cao

Theo TS. Bình, bóc vỏ xương là một phương pháp điều trị khớp giả thân xương dài đạt tỷ lệ liền xương cao, kỹ thuật không phức tạp, trang bị đơn giản mà lại giúp cho bệnh nhân giảm được một thì mổ lấy xương mào chậu như trong kỹ thuật ghép xương mào chậu tự thân. Khi mổ vào khớp giả, bác sĩ đục 1 lớp vỏ xương quanh chu vi thân xương, có độ dày từ 1 – 2mm, trên một đoạn dài từ 8 – 15cm bắc qua khe khớp giả. Lớp vỏ xương vẫn dính cốt mạc, cơ và phần mềm quanh xương. Các mảnh vỏ xương này sẽ là những mảnh xương ghép có mạch máu nuôi dưỡng đến từ cốt mạc cơ, tạo ra những mảnh xương ghép tại chỗ, có nguồn mạch máu nuôi dưỡng bao ôm quanh ổ khớp giả. Chính vì vậy, khả năng liền xương là rất cao, đạt tỷ lệ 95 – 98% trên hàng nghìn ca. Đặc biệt, không gặp những biến chứng đáng kể nào từ kỹ thuật bóc vỏ xương, kể cả tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trên những khớp giả có tiền sử nhiễm khuẩn. Đồng thời trong phẫu thuật bóc vỏ xương, bệnh nhân sẽ được kết xương vững chắc để đảm bảo cố định tốt ổ khớp giả.

Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã nghiên cứu và ứng dụng phương pháp bóc vỏ xương điều trị khớp giả thân xương dài (chủ yếu ở đùi và cẳng chân, một số ít ở cánh tay và cẳng tay) đạt tỷ lệ liền xương 96,7%, kết quả liền xương vững với thời gian trung bình là 6,3 tháng đối với xương đùi và 4,7 tháng đối với xương chày. Kỹ thuật bóc vỏ xương được thực hiện thuận lợi, an toàn cho cả những trường hợp khớp giả có phần mềm sẹo xấu dính xương mà cần bộc lộ đầu khớp giả. Bệnh nhân có thể tập vận động sớm sau mổ. Đối với khớp giả ở đùi, cẳng chân thường được kết hợp với kết xương vững chắc bằng đinh nội tủy có chốt. Đa số bệnh nhân được đi, đứng không cần chống nạng từ sau khi cắt chỉ liền sẹo vết mổ.

Hà Anh
Theo SKĐS

Lậu cầu gây viêm khớp

Lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) lây qua đường tình dục gây ra bệnh lậu hoặc nhiễm lậu cầu không có triệu chứng. Bệnh lậu điều trị không dứt điểm sẽ trở thành mạn tính, từ đây gây ra nhiều biến chứng, trong đó viêm khớp do lậu cầu là một biến chứng hay gặp.

lau_cau_gay_viem_khop_01

Song cầu lậu nhìn trên kính hiển vi

Viêm khớp do lậu cầu gặp nhiều ở thành thị hơn là nông thôn. Ngược lại với các bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn khác thường gặp ở những người yếu, viêm khớp do lậu cầu lại thường gặp ở người khỏe mạnh. Một vài nghiên cứu cho thấy: bệnh gặp ở nữ gấp 2 – 3 lần so với nam, đặc biệt gặp nhiều trong khi hành kinh và thời kỳ mang thai; bệnh cũng hay gặp ở người đồng tính luyến ái nam; viêm khớp do lậu chiếm 70% nhiễm khuẩn khớp ở người lớn dưới 40 tuổi. Những người có nhiều bạn tình, quan hệ với gái mại dâm mà không sử dụng các biện pháp bảo vệ (dùng bao cao su) đều có nguy cơ nhiễm lậu cầu, trong đó 30 – 50% trường hợp bị viêm khớp.

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh bắt đầu bằng những đợt đau nhiều khớp, với tính chất di chuyển ở các khớp cổ tay, gối, cổ chân, khớp khuỷu, kéo dài từ 1 – 4 ngày. Diễn biến tiếp theo của bệnh với  hai khả năng: một là viêm bao hoạt dịch gân hay gọi là hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu chiếm khoảng 60%; hai là viêm một khớp mủ hay gọi là viêm khớp thực sự do lậu cầu chiếm 40%, thường gặp nhất là khớp gối. Gần nửa bệnh nhân có sốt và gần 1/4 bệnh nhân có triệu chứng ở đường tiết niệu sinh dục. Hầu hết bệnh nhân có tổn thương đặc trưng là có 2 – 10 mụn mủ hoại tử nhỏ ở các chi, nhất là ở gan bàn tay và gan bàn chân.

Hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu gồm các triệu chứng: sốt, rét run, ban đỏ, mụn mủ như đã nói ở trên và các biểu hiện tại khớp. Tràn dịch khớp với số lượng dịch ít.

Trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn thực sự do lậu cầu, thường viêm một khớp lớn như khớp háng, gối, cổ tay, cổ chân với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Bệnh nhân có sốt cao, rét run.

Xét nghiệm dịch khớp có trên 50.000 bạch cầu/ml. Cấy máu tìm thấy lậu cầu ở 40% bệnh nhân có viêm màng hoạt dịch và gần như không thấy ở bệnh nhân viêm khớp mủ. Cấy bệnh phẩm niệu đạo, trực tràng, họng nên làm ở tất cả bệnh nhân vì kết quả thường dương tính ở những bệnh nhân không có các triệu chứng tại chỗ.

Viêm khớp do lậu cầu cần phân biệt với các bệnh sau đây: hội chứng Reiter cũng gây ra viêm một khớp ở người trẻ, nhưng phân biệt nhờ nuôi cấy âm tính, không đáp ứng với kháng sinh. Bệnh Lyme có tổn thương khớp gối nhưng ít cấp tính hơn, nuôi cấy âm tính, có các ban đặc trưng và có tiền sử bị ve đốt. Để phân biệt với các bệnh: gút, giả gút và viêm khớp nhiễm khuẩn không do lậu… người ta xét nghiệm dịch khớp để phát hiện lậu cầu, trong đó chỉ có bệnh viêm khớp do lậu cầu mới có vi khuẩn lậu.

lau_cau_gay_viem_khop_02

Tổn thương viêm khớp gối do lậu cầu

Điều trị

Mọi trường hợp nghi ngờ viêm khớp do lậu cầu nên nhập viện để chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời. Trước khi dùng thuốc kháng sinh cần thực hiện cấy máu, lấy bệnh phẩm đường sinh dục, niệu đạo, họng, lấy dịch khớp làm các xét nghiệm cần thiết. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 4 – 5% trong tất cả các chủng lậu cầu sản xuất được men beta-lactamase kháng penicillin và 15 – 20% các chủng lậu cầu có các chuỗi nhiễm sắc thể gây kháng tương đối với penicillin. Do đó nên bắt đầu điều trị bằng ceftriaxon 1g/ngày trong 7 ngày. Các trường hợp viêm khớp không nên tiêm trực tiếp thuốc kháng sinh vào khớp vì tác dụng không những không tốt hơn, ngược lại còn gây ra tình trạng viêm khớp do tinh thể thuốc. Đối với viêm mủ khớp gối do lậu cầu thường chỉ cần dùng kháng sinh phối hợp và tiến hành hút dịch khớp gối là có kết quả tốt, không cần thiết phải nội soi rửa khớp hoặc phẫu thuật mở khớp để điều trị. Thời gian dùng kháng sinh điều trị viêm khớp do lậu cần kéo dài từ 7 – 14 ngày.

Nếu lậu cầu nhạy cảm penicillin có thể dùng amoxicillin uống 1.500mg/ngày chia 3 lần hoặc dùng ciprofloxacin uống 1.000mg/ngày chia 2 lần.

Ngoài ra cần điều trị triệu chứng: dùng thuốc hạ nhiệt giảm đau chống viêm không steroid để giảm đau và hạ sốt cho bệnh nhân. Nâng cao thể trạng bằng vitamin các loại, nhất là vitamin C. Tăng cường dinh dưỡng bằng chế độ ăn giàu chất bổ như thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh và trái cây chín.

Phòng bệnh

Hiện nay chưa có vaccin phòng lậu cầu nên cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau đây: sống chung thủy một vợ một chồng; sử dụng bao cao su bảo vệ an toàn trong quan hệ tình dục. Nếu phát hiện viêm niệu đạo do lậu cầu phải điều trị sớm, tích cực ngay từ đầu tránh bệnh tiến triển thành mạn tính. Bệnh nhân cần được tư vấn để họ báo cho bạn tình biết bị mắc bệnh để đi khám và điều trị đồng thời.

ThS. Phạm Nguyễn Hoàng
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Biểu hiện khớp trong các bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn dịch là những bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien01

Viêm khớp đối xứng bàn tay trên phim Xquang

Nguyên nhân của bệnh

Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau thuộc các chuyên khoa khác nhau.

Những biểu hiện lâm sàng

Rất phong phú từ đau mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương… Viêm khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp như viêm các khớp nhỏ và nhỡ ở bàn tay,bàn chân,viêm khớp mang tính chất đối xứng hai bên… Nhưng bệnh có đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng của các cơ quan bộ phận khác như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo máu (giảm một hay 3 dòng tế bào máu)… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi… Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ và da và cơ, viêm nút quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các kháng thể kháng nhân, kháng histon…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien02

Tràn dịch khớp gối

Tiến triển của bệnh

Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh…

Điều trị như thế nào?

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.  Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai do đó khi có thai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Nổi lo biến chứng của bệnh gút

Khi mắc bệnh gút acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch khớp gây tổn thương khớp. Ngoài ra acid uric còn có thể lắng đọng ở các cơ quan khác như thận, tổ chức dưới da gây nên sỏi thận và hình thành các hạt tophi. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, bệnh gút đã trở nên rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ tư  trong 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất.

Các biến chứng và hậu quả của bệnh gút

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử  vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp, là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tophi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận: sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, có nguy cơ dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp, từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng  thì việc điều trị gút cũng có thể gây nên  tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.

noi_lo_bien_chung_cua_benh_gut

Tinh thể acid uric lắng đọng trong khớp ngón chân cái

Khó khăn khi điều trị bệnh gút

Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol có thể gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với  nhiều thuốc chữa gút như colchicin và  allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hoá, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc Đông y và Tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.

Nguyên tắc điều trị bệnh gút

Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó thì mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và dùng thuốc. Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hoá lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp…

Cách phòng tránh bệnh gút

Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Bệnh nhân cần nhận thức rằng ăn uống  không khoa học là một yếu tố thức đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát, vì vậy cần phải hạn chế ăn nhậu quá mức. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân nếu béo phì và uống nhiều nước, đặc biệt là nước khoáng kiềm. Do vậy bệnh nhân gút cần tuân thủ chế độ ăn kiêng. Thứ nhất, lượng thịt ăn hàng ngày không nên quá 150g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc. Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng. Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả. Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh… vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn. Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thậm chí cả rượu vang, rượu thuốc.  Bệnh nhân cần tích cực uống nhiều nước, 1,5-2 lít nước mỗi ngày. Đặc biệt là nên uống nước khoáng kiềm để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu. Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như: lạnh, lao động quá sức, chấn thương, stress… Ngoài ra bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu,  corticoid, aspirin.

TS.BS.Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Phân biệt các loại viêm kết mạc

Đây là tình trạng viêm màng nhầy bao phủ tròng trắng của mắt và lớp sau mi mắt. Các nguyên nhân chính gây viêm kết mạc là nhiễm khuẩn, nhiễm virus, dị ứng, mắt khô, viêm bờ mi và những phản ứng độc hại ở mắt…

Viêm kết mạc thường nhẹ và nếu biết rõ nguyên nhân gây bệnh thì việc điều trị cũng dễ dàng. Thường mỗi loại viêm kết mạc sẽ có một dấu hiệu và triệu chứng chuyên biệt. Nếu để ý đến những triệu chứng này, ta có thể chẩn đoán được nguyên nhân và có cách phòng ngừa, điều trị.

phan_biet_cac_loai_viem_ket_mac

1. Viêm kết mạc do vi khuẩn

– Dấu hiệu chủ quan (bệnh nhân thấy): Buổi sáng mắt dính, khó mở, ghèn nhiều.

– Khám nghiệm: Có nhiều ghèn (thường ở một mắt), mắt có màu đỏ như thịt bò tươi.

– Điều trị: Dùng kháng sinh nhỏ và uống.

2. Viêm kết mạc do virus

– Dấu hiệu chủ quan: Chảy nước mắt nhiều, cảm giác có vật lạ ở trong mắt. Lây lan thường xuất hiện vào mùa có dịch.

– Khám nghiệm: Mắt đỏ nhiều, sưng; thường bị cả hai mắt, có thể chảy máu ở tròng trắng, có hạch hai bên dái tai, đôi khi sốt.

– Điều trị: Nhỏ thuốc sát trùng, kháng sinh ngừa bội nhiễm. Giữ vệ sinh mắt để tránh lây lan.

3. Viêm kết mạc do dị ứng

– Dấu hiệu chủ quan: Ngứa nhiều, chảy nước mắt, tái phát thường xuyên. Bệnh không lây lan, thường xuất hiện theo mùa.

– Khám nghiệm: Phù tròng trắng.

– Điều trị: Nhỏ hoặc uống thuốc dị ứng, nhỏ nước mắt nhân tạo. Đắp gạc lạnh lên mắt.

4. Mắt khô

– Dấu hiệu chủ quan: Cảm giác như bỏng, khô, dính mắt, không muốn mở mắt, như có vật lạ trong mắt.

– Khám nghiệm: Tròng trắng không bóng; thấy ở những người ít nhắm mắt, làm việc trong môi trường khô (như làm việc trước màn hình vi tính trong thời gian lâu, nơi gió cát), người cao tuổi, uống các loại thuốc dị ứng, an thần… lâu ngày hay nhỏ thuốc trị cườm nước.

– Điều trị: Nhỏ nước mắt nhân tạo, tránh nơi gió cát, khô.

5. Viêm bờ mi

– Dấu hiệu chủ quan: Mắt đỏ kinh niên (ở bờ mi mắt), cảm giác như có vật lạ, khi nặng sẽ làm mắt toét.

– Khám nghiệm: Có vảy chân lông mi, bờ mi đỏ.

– Điều trị: Uống và nhỏ kháng sinh, chủ yếu dùng nhóm Tetracycline.

6. Viêm do nhiễm độc

– Dấu hiệu chủ quan: Không đỏ nhiều nhưng bị kinh niên không lúc nào dứt. Có tiền căn dùng lâu dài loại thuốc nhỏ chứa chất bảo quản gây độc cho mắt. Mắt có cảm giác khó chịu, không có ghèn, không nhức.

– Khám nghiệm: Lộn mi thấy có sẹo, không đỏ nhiều.

– Điều trị: Xem lại các thuốc đã nhỏ có chứa loại chất bảo quản nào không? (như Benzakonium gây độc cho mắt). Nên dùng các loại thuốc nhỏ không có chất bảo quản.

BS Nguyễn Cường Nam, Sức Khoẻ $ Đời Sống
Theo ykhoa.net

Chăm sóc trẻ em bị nhiễm khuẩn đường ruột

Trong các bệnh nhiễm khuẩn có tỷ lệ tử vong cao ở trẻ, ngoài nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp còn phải kể đến nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. Thời gian gần đây, số trẻ em nhập viện mắc các bệnh đường tiêu hóa có dấu hiệu gia tăng. Theo thống kê trong 9 tháng của năm 2012 tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ có 285 ca nhập viện, 47 ca tử vong.  Bệnh nhi thường tập trung ở trẻ dưới 3 tuổi, thân hình bụ bẫm. Biểu hiện ban đầu là tiêu chảy, sốt nên gia đình thường tự mua thuốc cho trẻ uống, đến giai đoạn sốc (sốt cao, xuất huyết dạ dày) mới đưa vào bệnh viện.

Vì sao trẻ em dễ lây nhiễm?

Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa ở trẻ thường do các vi khuẩn dạng campylobacter và vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) hay còn được gọi là vi khuẩn đại tràng gây ra. Ðây cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy quan trọng nhất trên toàn thế giới và ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, trẻ nhỏ hay mắc vì hệ tiêu hóa của trẻ trong những năm đầu đời còn non yếu. Ở các nước phát triển, trẻ dưới 5 tuổi và thiếu niên có tỷ lệ mắc cao nhất, còn ở các nước đang phát triển, đối tượng chủ yếu là trẻ dưới 2 tuổi.

Con đường lây nhiễm là do tiếp xúc với các đồ vật có chứa vi khuẩn, ổ chứa vi khuẩn là động vật, gia súc và gia cầm. Người ta cho rằng sự gần gũi của trẻ với các dạng vật nuôi và kháng thể chưa phát triển hoàn thiện là điều kiện khiến trẻ dễ bị nhiễm bệnh.

cach-cham-soc-tre-bi-nhiem-khuan-duong-tieu-hoa-1

Biểu hiện phức tạp

Thời kỳ lây truyền kéo dài suốt giai đoạn nhiễm khuẩn, thường từ vài ngày đến vài tuần. Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa cấp tính với các đặc điểm điển hình như tiêu chảy, đau bụng, mệt mỏi, sốt, buồn nôn và nôn. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 2 – 5 ngày, cũng có thể là từ 1 – 10 ngày tuỳ theo thể trạng của từng người. Khi nhiễm khuẩn, trẻ đi đại tiện phân lỏng, có thể lẫn với chất nhày và có bạch cầu.  Những người không được điều trị kháng sinh sẽ có thể đào thải vi khuẩn ra ngoài trong vòng từ 2-7 ngày.

Cho trẻ ăn uống thế nào khi mắc bệnh?

Theo khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng, một số bà mẹ không hiểu biết, khi trẻ bị nhiễm khuẩn tiêu hóa lại kiêng khem quá mức khiến cho trẻ bị suy dinh dưỡng và khó hồi phục bệnh. Vấn đề dinh dưỡng đối với trẻ lúc này là quan trọng.

Đối với trẻ còn bú mẹ, cần tăng thêm bữa bú và  thời gian bú. Trẻ không bú được, vắt sữa mẹ và cho ăn bằng thìa.

Đối với trẻ đã ăn dặm, cần chia nhỏ bữa ăn trong ngày. Nấu các món ăn mềm, dễ tiêu hóa, hấp thu, giàu dinh dưỡng: cháo, súp, sữa, nước trái cây. Thường xuyên thay đổi món ăn để hợp với khẩu vị của trẻ.

Cho trẻ uống thêm nước: nước hoa quả tươi, nước sôi để nguội và nước oresol pha đúng cách để bù nước và điện giải khi trẻ bị tiêu chảy.

Khi nào cần đến cơ sở y tế?

Đối với trường hợp nhẹ, có thể điều trị tại nhà bằng cách cho trẻ uống bù nước, dung dịch oresol, nước trái cây pha loãng, nước cháo muối; ăn uống bình thường theo nhu cầu. Tuy nhiên, cần đi khám bác sĩ ngay khi có những dấu hiệu bất thường hoặc bệnh nặng hơn như: tiêu chảy kèm sốt, phân có nhày lẫn máu. Hoặc trẻ lừ đừ, vã mồ hôi, tay chân lạnh, bỏ bú, không ăn uống được, nôn mửa nhiều. Tiêu chảy nhiều lần (5-6 lần/giờ), phân toàn nước, nước phân đục, không tiểu tiện hoặc tiểu rất ít… nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Phòng bệnh là biện pháp hữu hiệu

Để phòng bệnh, cần ăn chín, uống sôi, nấu chín kỹ các thức ăn có nguồn gốc từ gia cầm, gia súc; chỉ uống sữa đã tiệt khuẩn, tránh để thức ăn bị nhiễm khuẩn lại sau khi đã nấu chín. Khi vật nuôi bị ốm vì bất cứ nguyên nhân gì cũng không nên cho trẻ ôm ấp, gần gũi chúng. Nên thực hiện nghiêm yêu cầu bàn tay sạch, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh bằng xà phòng tiệt khuẩn. Nếu có người bị nhiễm bệnh, cần đưa đến các cơ sở y tế, tránh tự ý dùng kháng sinh mà chỉ dùng khi có chỉ định của thầy thuốc.

BS. Nguyễn Văn Dũng

Theo SKDS

Chứng lác mắt ở trẻ sơ sinh

Trong mấy tháng đầu kể từ khi mới chào đời, bạn có thể phát hiện ra mắt bé giống như hơi bị lác, nguyên nhân là do việc phối hợp giữa 2 mắt còn kém. Phần lớn trường hợp này, mắt bé sẽ trở lại bình thường sau đó. Tuy nhiên, nếu tình trạng bé bị lác mắt kéo dài, bạn nên đưa bé đi khám sớm.

chung_lac_mat_o_tre_so_sinh

Nguyên nhân

Bé có thể xuất hiện tình trạng lác một bên mắt từ lúc mới sinh hoặc trong giai đoạn 1-2 tuổi (hay muộn hơn).

Do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt: 2 mắt của bé hoạt động nhịp nhàng, thông qua sự chi phối của các dây thần kinh và các cơ chéo bám vào nhãn cầu. Vì một lý do nào đó, sự phối hợp này bị trục trặc. Khi ấy, mắt bé không cùng nhìn về một hướng nên xuất hiện dấu hiệu bị lác (lé).

Bé mắc các tật về mắt như: cận thị, viễn thị, loạn thị. Cận thị thường gây ra lác ngoài, viễn thị gây lác vào trong.

Do bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu.

Bé bị tổn thương thần kinh hoặc tổn thương não.

Mắt bé bị nhiễm khuẩn, chấn thương, đục thủy tinh thể, sụp mí…

Lác cũng liên quan đến yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ của bé bị lác thì cũng có khả năng bé mắc phải chứng bệnh này.

Điều trị

Cha mẹ nên phát hiện dấu hiệu lác mắt và đưa bé đi khám sớm. Chữa trị càng sớm thì bé càng có cơ hội khỏi bệnh. Nếu chữa lác trước 3 tuổi, tỷ lệ thành công lên tới 92%, 6-8 tuổi là 62%. Nếu để lâu, mắt bé sẽ thành tật nên khả năng phục hồi sẽ kém.

Bác sĩ có thể băng kín một bên mắt không bị tật, để giúp bé luyện tập hướng nhìn cho bên mắt còn lại. Hoặc, bác sĩ chỉ định cho bé đeo một loại kính đặc biệt để chỉnh hướng nhìn cho mắt của bé. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành thêm một cuộc phẫu thuật nhỏ.

Lưu ý: phương pháp bịt mắt khi chữa lác cho bé phải được sự chỉ định của bác sĩ. Bởi tùy tình trạng bệnh, bé có thể được bác sĩ chỉ định việc bịt mắt bằng thuốc, bằng kính hay bằng miếng vải; bịt thường xuyên hay cách quãng…

Bé có thể được bác sĩ chỉ định điều trị lác mắt bằng các trò chơi như xếp hình, xâu hạt vòng để giúp bé tăng sự phối hợp tập trung của cả 2 mắt.

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám sớm

Bé thường nhìn lệch, nhìn nghiêng hoặc quay đầu mới nhìn thấy đồ vật ở bên cạnh.

Mắt bé không có phản ứng với ánh sáng hoặc không tập trung vào một món đồ chơi.

BS. NGỌC LAN
Theo SKĐS

Tư vấn: Phân biệt bệnh chắp, lẹo

Mắt phải của tôi thỉnh thoảng lại mọc mụn. Nghe nói là bị chắp hay lẹo mắt. Bác sĩ làm ơn cho biết thế nào là chắp, lẹo? Cách chữa trị?

Hà Minh Hùng (Phú Thọ)

tu_van_phan_biet_benh_chap_leo

Các bệnh gây sưng đau ở mi mắt thường gặp là chắp hoặc lẹo. Chắp là do sưng dạng u hạt mạn tính của một tuyến mebomius thường diễn ra sau khi tuyến này bị viêm. Biểu hiện gồm: sưng, đau, đỏ, khó chịu ở bề mặt kết mạc của mi mắt; sau vài ngày chắp xẹp xuống chỉ còn khối tròn không đau, lớn dần trên mi mắt thành một khối màu đỏ, xám dưới kết mạc. Diễn biến thường tự khỏi sau vài tháng. Điều trị chắp không phải dùng kháng sinh mà chỉ dùng thuốc kháng viêm như tiêm corticoid; chườm nóng 4 lần/ngày để mau tan; rạch mổ, nạo sạch.

Lẹo là bệnh nhiễm khuẩn cấp có mủ không lan rộng của một hay nhiều tuyến zeis hay moll (lẹo phía ngoài); hoặc của các tuyến meibomius (lẹo trong mi mắt) do tụ cầu khuẩn gây nên. Triệu chứng: đau đỏ, ấn đau bờ mi, sau hóa cứng; chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác như có dị vật ở mắt; mưng mủ ở trung tâm chỗ hóa cứng, ít lâu sau áp-xe vỡ ra, chảy mủ, hết đau. Lẹo trong diễn biến nặng hơn, áp-xe hiện ra ổ, thường tái phát. Điều trị phải dùng kháng sinh toàn thân tiêu mủ thời kỳ đầu, chườm nóng, rạch mủ và dùng thuốc nhỏ mắt. Bạn nên khám và điều trị ở một cơ sở chuyên khoa mắt.

Theo SKĐS

Sốt ở trẻ nhỏ

Cha mẹ nào cũng có ngày rơi vào hoàn cảnh: thức dậy nửa đêm và thấy con đứng bên giường, nhăn nhó, trán ấm hoặc người đẫm mồ hôi. Bé đã bị sốt – phải làm gì tiếp đây? Tự theo dõi hay gọi ngay cho bác sĩ?

Sốt là đáp ứng của cơ thể đối với những điều kiện khác nhau, trong đó nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất. Sốt xuất hiện khi thân nhiệt cơ thể tăng hơn so với bình thường.

Hầu như đứa trẻ nào cũng có lần bị sốt nên vấn đề của cha mẹ là phải biết xử trí ra sao khi đó.

sot_o_tre_nho

KIỂM SOÁT THÂN NHIỆT

Thân nhiệt được kiểm soát bởi vùng hạ đồi của não. Thân nhiệt thay đổi trong ngày trong một khoảng tương đối hẹp với sự duy trì của vùng hạ đồi. Vùng hạ đồi điều chỉnh thân nhiệt độ bằng cách cân bằng giữa việc tạo nhiệt độ của các cơ và gan với sự mất nhiệt qua da và phổi.

Sốt xảy ra khi vùng hạ đồi làm tăng thân nhiệt. Sốt có thể do đáp ứng của hệ miễn dịch đối với tác nhân nhiễm khuẩn như vi khuẩn hoặc virus.

ĐỊNH NGHĨA SỐT

– Nhiệt độ ở trực tràng > 100.4ºF (38ºC)
– Nhiệt độ miệng > 99.5ºF (37.5ºC)
– Nhiệt độ nách > 99ºF (37.2ºC)
– Nhiệt độ tai > 100.4º (38ºC)

NGUYÊN NHÂN

Nhiễm khuẩn là nguyên nhân thường gây sốt nhất. Các bệnh lý do virus và vi khuẩn như cảm, tiêu chảy, nhiễm khuẩn tai, viêm thanh quản cấp và viêm tiểu phế quản thường là nguyên nhân hàng đầu gây sốt.

Mọc răng thường không gây sốt; Một số nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ³ 101.3ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến mọc răng.

Quấn trẻ < 3 tháng tuổi trong quá nhiều quần áo có thể làm tăng nhẹ thân nhiệt trẻ. Tuy nhiên, nhiệt độ hậu môn ³  101ºF (38.5ºC) thường không liên quan đến việc quấn đứa trẻ và khi đó, trẻ cần được xem xét kỹ hơn để tìm nguyên nhân gây sốt.

Vài loại vaccin có thể gây sốt; Thời gian sốt thay đổi tùy theo loại vaccin sử dụng.

CÁCH ĐO THÂN NHIỆT TRẺ

Cách tốt nhất để đo thân nhiệt đứa trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đo nhiệt độ ở trực tràng là phương pháp chính xác nhất. Tuy nhiên, cũng có thể đo nhiệt độ ở miệng ( đối với trẻ từ 4 – 5 tuổi trở lên) hay đo nhiệt độ ở tai (khi trẻ > 6 tháng). Đo thân nhiệt ở nách là phương pháp được xem là ít chính xác nhất , nhưng là phương pháp thuận tiện, nhất là khi trẻ < 3 tháng tuổi. Nếu nhiệt độ ở nách > 99ºF (37.2ºC) thì nên sử dụng phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng.

Nhiệt kế điện tử không đắt lắm, phổ biến, an toàn và chính xác hơn nên cần thay thế cho nhiệt kế thủy ngân.

Phương pháp đo thân nhiệt ở trực tràng:

– Trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ nên nằm sấp trong lòng người lớn.

– Thoa một lượng nhỏ chất bôi trơn (Vaseline, …) vàp phần cuối của nhiệt kế.

– Nhẹ nhàng đặt nhiệt kế vào hậu môn trẻ cho đến khi phần đầu bạc của nhiệt kế không còn thấy nữa (1/4 – ½ inch ≈ 0,6 – 1,3 cm) bên trong hậu môn.

– Giữ nguyên nhiệt kế. Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 2 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

(Phương pháp đo thân nhiệt độ ở miệng (không nên đo nếu trẻ đã ăn hoặc uống đồ nóng trong vòng 30 phút):

– Rửa nhiệt kế bằng nước lạnh và xà bông, sau đó rửa sạch lại với nước.

– Đặt đầu  nhiệt kế vào dưới lưỡi của trẻ. Bảo trẻ giữ nhiệt kế bằng môi. Giữ cho môi kín xung quanh nhiệt kế.

– Nhiệt kế thủy ngân cần khoảng 3 phút trong khi nhiệt kế điện tử chỉ cần dưới 1 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở nách:

– Giữ nhiệt kế ở kẽ nách trẻ (phải lau khô nách trước khi đo).

– Giữ nhiệt kế bằng việc ép sát khuỷu tay vào ngực trong vòng 4 – 5 phút.

Phương pháp đo thân nhiệt độ ở tai (không áp dụng cho trẻ < 6 tháng tuổi; Nếu trẻ vừa ngoài trời lạnh vào, đợi 15 phút truớc khi tiên hành đo nhiệt độ; Ống tai và bệnh ở tai không ảnh hưởng đến kết quả):

– Kéo tai ngoài của trẻ trước khi đặt nhiệt kế vào.

– Giữ đầu dò nhiệt kế trong tai trong vòng 2 giây.

KHI NÀO CẦN ĐIỀU TRỊ SỐT

Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi. Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩn mặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu. Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyết định xem trẻ có cần được chữa trị hay không. Thay vào đó là xem hành vi và vẻ ngoài của trẻ. Sốt thường đi kèm các triệu chứng khác. Những triệu chứng này cần được xem xét bởi nhân viên y tế.

Trong đa số trường hợp, sốt có thể được theo dõi và điều trị tại nhà. Tuy nhiên, điều quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đưa trẻ đi khám bệnh và khi nào cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt.

Dưới đây là một số hướng dẫn chung để tham khảo (không hoàn toàn đầy đủ để áp dụng cho mọi tình huống); Cha mẹ cần liên hệ với nhân viên y tế để có những hướng dẫn cụ thể hơn về tình trạng của con mình.

Cần đưa trẻ đi khám bệnh khi:

– Trẻ < 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC), ngay cả khi vẻ ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt.
– Trẻ > 3 tháng tuổi: sốt ³ 100,4ºF (38ºC) hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt (bứt rứt, không chịu bú, …)
– Trẻ 3 – 36 tháng: sốt ³ 102ºF (38,9ºC)
– Trẻ sốt ³ 104ºF (40ºC)
– Trẻ bị sốt cao co giật.
– Trẻ sốt tái đi tái lại.
– Trẻ có bệnh nền: tim mạch, ung thư, lupus, hay hồng cầu liềm, …
– Trẻ sốt kèm phát ban da.

XỬ TRÍ SỐT

1. Thuốc:

Thuốc có hiệu quả hạ sốt ở trẻ em là Acetaminophen hay Ibuprofen. Các thuốc này giúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 2 – 3ºF (1 – 1.5º C).

Aspirin không được chỉ định do có thể gây các bệnh lý nghiêm trọng như hội chứng Reye.

Acetaminophen có thể dùng mỗi 4 – 6 giờ khi cần, với liều 10 – 15 mg/kg/lần . Nếu thân nhiệt vẫn tiếp tục cao và trẻ > 6 tháng tuổi, Ibuprofen có thể để thay thế hoặc kết hợp với Acetaminophen và sử dụng mỗi 6 giờ, với liều: 5–10 mg/kg uống mỗi  6 – 8 giờ. Liều lượng của Acetaminophen hay Ibuprofen (nên được tính theo cân nặng của trẻ, không nên theo tuổi).

Chưa có tài liệu đầy đủ về tình trạng an toàn khi sử dụng kếp hợp Acetaminophen và Ibuprofen xen kẽ nhưng các cha mẹ cũng nên biết việc sử dụng cả 2 loại thuốc sẽ ít an toàn hơn như khi sử dụng một loại thuốc đơn thuần.

Thuốc hạ sốt chỉ được sử dụng khi cần thiết, và sẽ ngưng khi các triệu chứng không còn.

2. Đắp mát và tắm mát:

Lau mát là đặt trẻ trong chậu tắm và dùng khăn đắp nước ấm (85ºF or 30ºC) khắp thân trẻ. Trẻ sẽ mát hơn khi nước bốc hơi qua da. Do đó, trẻ không nên được đắp bằng khăn ướt hay tắm bằng nước mát.

Đắp mát cần được kết hợp với thuốc hạ sốt khi trẻ không dung nạp được thuốc.

Đắp mát với alcohol cần phải tránh vì hơi alcohol có thể hấp thu qua da và phổi.

3. Tăng lượng nước vào:

Sốt làm tăng nguy cơ mất nước ở trẻ. Để giảm nguy cơ này, cha mẹ nên khuyên khích trẻ uống đủ nước. Trẻ bị sốt có thể không đói và không cần thiết ép trẻ ăn. Tuy nhiên, các loại nước uống như sữa (sữa bò hay sữa mẹ), sữa bột, và nước cần phải uống thường xuyên. Trẻ lớn hơn có thể ăn bột, soup hoặc kem lạnh. Nếu trẻ không chịu uống hoặc không uống được, cha mẹ cần tham vấn BS.

4. Nghỉ ngơi:

Sốt là nguyên nhân gây mệt mỏi và đau nhức. Trong thời gian này, cha mẹ nên khuyến khích trẻ nghỉ ngơi như trẻ mong muốn. Không cần thiết ép trẻ ngủ hoặc nghỉ ngơi nếu trẻ đã cảm thấy khỏe hơn. Trẻ có thể đi học lại hoặc tham gia các hoạt động khác khi thân nhiệt đã trở về bình thường sau 24 giờ.

Theo: www.uptodate.com/patients
Last literature review version 18.3: September 2010
This topic last updated: August 18, 2010
Đăng bởi: Bs Hồ Thị Kim Thoa-TK Nội tổng hợp
Theo benhviennhi.org.vn

Mụn nhọt có thể biến chứng nhiễm khuẩn huyết

Mụn nhọt thường là bệnh lành tính, nhưng không nên coi thường, vì từ một mụn nhỏ lại có thể trở thành biến chứng nhiễm khuẩn huyết, đe dọa đến cả tính mạng.

Khi cơ thể yếu, sức đề kháng kém, lao động nặng nhọc, ra mồ hôi nhiều, da bị xước do gãi, thì tụ cầu, liên cầu sẽ có cơ hội xâm nhập vào cơ thể, gây hoại tử lỗ chân lông, tạo ra mụn nhọt.

Biểu hiện ban đầu là những nốt đỏ nổi trên da rồi lan rộng dần. Chỗ mọc nhọt, da nóng, đỏ và đau. Vài ngày sau, trên nốt đỏ có đốm vàng, khi đốm vỡ có mủ chảy ra, ở giữa có ngòi – đó là sợi chân lông. Đôi khi có hiện tượng viêm mạch bạch huyết hoặc nổi hạch xung quanh khu vực nhọt.

Kích thước của nhọt thường bằng hạt ngô, hạt đỗ, quả mận, và có khi còn bằng quả trứng gà, trong có nhiều mủ. Vị trí nhọt ở khắp nơi trên cơ thể như đầu, mặt, tay, chân, bụng, ngực, mông. Với mụn nhọt ở một vài vị trí đặc biệt thì phải chú ý, như đinh râu, hậu bối (bệnh than ngoài da), vì chúng dễ gây ra biến chứng nguy hiểm.

mun_nhot_gay_chet_nguoiVới mụn nhọt ở một vài vị trí đặc biệt thì phải chú ý, như đinh râu, hậu bối (bệnh than ngoài da), vì chúng dễ gây ra biến chứng nguy hiểm.

Một số loại mụn nhọt thường gặp:

– Đinh râu: Là nhọt do tụ cầu khu trú ở vùng môi trên, rãnh mũi, trên cằm gây ra, thường gặp ở những người có sức đề kháng kém. Nếu dùng tay nặn, gẩy đinh râu, tụ cầu sẽ có cơ hội xâm nhập vào tĩnh mạch mặt, rồi vào tĩnh mạch xoang hang trong sọ não, gây viêm tắc tĩnh mạch xoang hang.

Mặt người bệnh sẽ sưng húp, biến dạng, mắt híp, trán hằn lên những nếp da xù xì, nhăn nheo. Người bệnh có thể bị sốt cao, nhiễm trùng huyết, mê man, dễ tử vong.

– Hậu bối (bệnh than ngoài da): Do tụ cầu gây viêm và hoại tử một số vùng tổ chức rồi hóa mủ. Bệnh thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch, người già, nghiện rượu, tiểu đường. Đặc điểm của hậu bối là nhọt mọc nhiều thành cụm, khi vỡ ra để lại miệng mủ như gương sen. Da xung quanh hậu bối bầm tím, có chỗ loét, hoại tử.

Hậu bối hay mọc ở vùng lưng, gáy, xương cùng, có kích thước mỗi chiều chừng 6-10 cm. Người mọc hậu bối có thể bị sốt cao, đau nhức, thể trạng kém, tắc mạch, nhiễm khuẩn huyết và tử vong. Nếu khỏi, hậu bối cũng để lại sẹo nhăn nhúm.

– Nhọt vùng hậu môn: Các mụn nhọt mọc quanh hậu môn từ các vết xây xát còn gọi là áp-xe quanh hậu môn. Nếu bị áp-xe sâu có thể ăn thông vào trực tràng, tạo ra lỗ rò hậu môn – trực tràng rất khó chịu.

– Chốc lở: Do nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, nhưng trong bài viết này chỉ đề cập đến chốc do tụ cầu. Chốc tụ cầu gặp ở người có sức đề kháng kém, rối loạn trao đổi chất, tăng tiết mồ hôi, kém vệ sinh. Chốc gồm nhiều mụn mủ to bằng hạt ngô, hạt đậu khu trú tại vùng đầu, mặt, chi. Trên một lỗ chân lông, bọng mủ phát triển thành hình bán cầu, chảy mủ vàng và dính. Sau 1 tuần thì mụn mủ vỡ ra, để lại vảy nâu.

– Lẹo: Là nhọt ở chân lông bờ mi mắt, thường gặp ở người tiểu đường. Bệnh thường dai dẳng, tái phát, hay chuyển từ bờ mi này sang bờ mi kia vì người bệnh hay dùng tay dụi mắt.

Để điều trị các mụn nhọt thông thường, chỉ cần bôi thuốc sát trùng như Betadine, cồn lode 3%, hoặc ngâm tay, ngâm chân vào nước muối đặc. Khi nhọt đã “chín” thì chích mủ, nhưng phải đảm bảo vô trùng, tuyệt đối không được nặn nhọt non. Trong trường hợp nhọt to có sốt cao, hay bị đinh râu, hậu bối có nhiễm khuẩn thì phải sử dụng kháng sinh liều cao và được điều trị tại bệnh viện.

Để phòng mụn nhọt, ta phải giữ vệ sinh thân thể như giặt quần áo, thường xuyên tắm rửa, đặc biệt là về mùa hè, sau khi lao động nơi bụi bẩn. Cần thường xuyên rèn luyện thân thể, ăn uống đủ chất để nâng cao sức đề kháng. Không gãi và nặn mụn nhọt, nhất là đinh râu, vì nặn làm tổn thương hàng rào bảo vệ, tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào máu, gây nhiễm khuẩn huyết.

Theo suckhoevadoisong/24h

Ghẻ dễ gây biến chứng nếu không chữa kịp thời

Do điều kiện sống tập thể, nhiều bạn bị ghẻ ngứa khiến chúng em rất lo lắng. Không biết bệnh có dễ lây và nếu chậm điều trị thì biến chứng không? Huệ Lan (KTX Đại học Quốc gia TPHCM)

benh_ghe

ThS-BS CK2 Nguyễn Văn Út, Phòng Chăm sóc da Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TPHCM), trả lời: Trong điều kiện vệ sinh kém, ghẻ sinh sôi nảy nở và lây truyền rất nhanh qua tiếp xúc trực tiếp giữa người bị ghẻ với người lành.

Căn nguyên do ký sinh trùng có tên sarcoptes scabies xâm nhập da. Thương tổn là những mụn nước, rãnh ghẻ, sẩn cục, sẩn mụn nước ở những vị trí hay gặp là kẽ các ngón tay, mặt trước cổ tay, quanh rốn, nếp dưới rốn, đầu vú, da đùi, da bộ phận sinh dục, nách nhưng hiếm khi thấy ở mặt.

Triệu chứng cơ năng khi bị ghẻ là rất ngứa và thường ngứa nhiều về đêm. Nếu không được phát hiện và chữa kịp thời, ghẻ sẽ biến chứng nhiễm khuẩn thành những mụn mủ chàm hóa rất khó chữa trị và lây lan rất nhanh.

Về điều trị thì chủ yếu là vệ sinh cá nhân và bôi thuốc chữa ghẻ. Đun sôi quần áo đang mặc, để quần áo trong tủ một tuần sau mới mặc lại.

Nhiễm khuẩn sinh dục dẫn đến tắc vòi trứng

Phụ nữ quan hệ với nhiều bạn tình hay với bạn tình đã từng nhiễm lậu có thể là nguyên nhân của ít nhất 50% trường hợp viêm tiểu khung.

Vòi trứng vốn rất nhỏ nhưng khi bị chít hẹp thì sẽ nhỏ hơn nữa do dính với các cơ quan lân cận hay do hậu quả viêm vòi trứng.

Lây truyền chính qua đường tình dục

Chít hẹp vòi trứng có thể do dị tật bẩm sinh (mặc dù rất hiếm gặp), gây thiếu hụt một phần hay cả vòi trứng. Tuy nhiên, nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là do nhiễm khuẩn, phổ biến nhất là vi khuẩn lậu – ngòi nổ đầu tiên bắt nguồn từ nhiễm khuẩn ở âm đạo, cổ tử cung.

Tử cung, buồng trứng và cả vùng tiểu khung đều có thể bị nhiễm khuẩn ở những mức độ khác nhau. Theo thống kê, phụ nữ quan hệ với nhiều bạn tình hay với bạn tình đã từng nhiễm lậu… đều có thể là nguyên nhân của ít nhất 50% trường hợp viêm tiểu khung. 15% phụ nữ bị nhiễm khuẩn lậu ở cổ tử cung tuy không thể hiện triệu chứng nhưng đã phát triển thành viêm vòi trứng cấp. Ngoài ra, những phụ nữ không quan tâm đúng mức đến vệ sinh hằng ngày, bị nhiễm khuẩn ở đường tiết niệu… cũng dễ gặp tình trạng chít hẹp vòi trứng.

tac_voi_trung_do_nhiem_khuan_sd

Tư vấn cho thai phụ tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TPHCM (ảnh chỉ có tính minh họa). Ảnh: Anh Thư

Vòi trứng bình thường chỉ gần bằng đầu nhỏ của chiếc đũa ăn cơm nhưng khi nhiễm khuẩn thì to hơn ngón chân cái và chứa mủ. Viêm vòi trứng cấp có thể xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu như sốt, đau hay cảm giác căng đầy vùng bụng dưới; đau lan xuống hai chi dưới, dịch âm đạo có mủ, nhức đầu, buồn nôn hay nôn. Hậu quả của viêm vòi trứng cấp là chít hẹp hay tắc vòi trứng.

Dễ nhiễm khuẩn khi hành kinh

Cổ tử cung đóng vai trò như bộ phận ngăn cản nhiễm khuẩn do bài tiết chất niêm dịch chảy vào âm đạo. Chất niêm dịch này chứa các enzyme có khả năng phân hủy vi khuẩn nhưng khi sẩy thai, nạo thai, sinh đẻ, đặt dụng cụ tử cung hay làm phẫu thuật ở cổ tử cung… thì sự nhiễm khuẩn có điều kiện thuận lợi để vượt qua hàng rào ngăn cản này.

Sau khi sinh con, nguy cơ phụ nữ bị viêm tiểu khung là 2% nhưng có thể tăng lên đến 10% ở những phụ nữ có bệnh lây truyền qua đường tình dục nhưng không được phát hiện.

Ngay cả khi sự nhiễm khuẩn lan tràn cả tử cung, hai vòi trứng và hai buồng trứng gây ra viêm tiểu khung cũng do sự nhiễm khuẩn ngược dòng đi lên, bắt đầu từ viêm âm đạo và lan qua ống cổ tử cung. Trong một số ít trường hợp, nhiễm khuẩn hai vòi trứng có thể xảy ra do viêm ruột thừa hoặc do nhiễm khuẩn huyết nặng chứ không phải do lây truyền qua đường tình dục.

Sự nhiễm khuẩn tiểu khung chủ yếu diễn ra theo đường đi lên, vi khuẩn đi theo tinh trùng khi quan hệ tình dục, đi vào tử cung và lan lên hai vòi trứng. Những co bóp khi khoái cực cũng có thể tạo thuận lợi cho sự nhiễm khuẩn đi vào tử cung. Khi hành kinh, sự nhiễm khuẩn ở cổ tử cung dễ lan tràn vì lúc này lỗ trong của ống cổ tử cung mở. Tử cung, buồng trứng và cả vùng tiểu khung đều có thể nhiễm khuẩn ở những mức độ khác nhau. Vì thế, phát hiện và điều trị sớm các nhiễm khuẩn ở đường sinh dục như viêm âm đạo – cổ tử cung, viêm niệu đạo là có thể phòng ngừa được sự phát triển thành viêm vòi trứng, viêm tiểu khung.

Theo 24h