Tag Archives: nhi khoa

Viêm phổi ở trẻ vẫn có thể xảy ra trong mùa hè

Viêm phổi là một bệnh đường hô hấp thường gặp ở trẻ nhỏ, nhiều người cho rằng, viêm phổi chỉ xảy ra trong mùa đông tuy nhiên trên thực tế đây là một suy nghĩ hết sức sai lầm. Viêm phổi ở trẻ vẫn có thể xảy ra trong mùa hè và dưới đây là một số lý giải cho kết luận đó.

Những nguyên nhân khiến trẻ bị viêm phổi trong mùa hè

Do thói quen trong ăn uống và vệ sinh trong mùa hè. Thời tiết nóng nực trong mùa hè khiến cho các đồ ăn lạnh được sử dụng nhiều hơn. Điển hình cho các đồ ăn lạnh đó là nước đá, kem, trái cây trong tủ lạnh mà những đồ ăn này cực kỳ hấp dẫn với trẻ nhỏ. Nếu cho trẻ dùng nhiều và liên tục dễ gây viêm họng, và việc điều trị không tốt có thể dẫn tới viêm đường hô hấp nặng hơn và cuối cùng dẫn tới viêm phổi.

Bên cạnh đó, mùa hè trẻ ra nhiều mồ hôi hơn, nếu không chú ý ăn mặc cho trẻ việc lưu giữ mồ hôi trên quần áo có thể khiến trẻ bị nhiễm lạnh. Trong các trường hợp khác, nếu trẻ đang nhiều mồ hôi mà đi tắm ngay dễ gây cảm lạnh và dẫn tới viêm phổi.

viem-phoi-o-tre-van-co-the-xay-ra-trong-mua-he

Vào những ngày nóng bức, nhiệt độ trong phòng cao, không khí nóng bức cũng là khi nhiều gia đình sử dụng tới mức tối đa điều hòa nhiệt độ cả ngày lẫn đêm. Không ai phủ nhận được sự dễ chịu do điều hòa nhiệt độ mang lại, nhưng chính sự lạm dụng đó cũng đã dẫn tới những tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ em. Đó là vì sự chênh lệch nhiệt độ giữa phòng lạnh và ngoài trời quá lớn khiến trẻ em khó thích nghi, hơn nữa, việc ngồi trong phòng điều hòa quá lâu khiến da trẻ bị khô, họng khô khiến trẻ dễ bị viêm đường hô hấp trên. Nếu không được chăm sóc tốt cũng có thể làm trẻ bị viêm phổi vì biến chứng.

Mùa hè cũng là mùa gắn liền với những chuyến đi du lịch biển, trẻ em thường được cha mẹ cho đi cùng. Trong khi người lớn thỏa sức ngâm mình trong biển nước sảng khoái thì trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi lai phải đối diện với nguy cơ lớn bị bệnh đường hô hấp. Nắng gió trên những bãi biến là điều kiện không mấy thích hợp nếu trẻ đi chơi nhiều giờ. Thời gian ăn uống ngủ nghỉ của trẻ cũng bị thay đổi trong những ngày nghỉ. Từ những yếu tố trên khiến trẻ bị viêm họng, sốt nóng, ho, chảy nước mũi và có thể dẫn tới viêm phổi. Chính vì vậy khi cho trẻ đi nghỉ cùng, các bậc cha mẹ nên chú ý đến những yếu tố bất lợi cho sức khỏe của trẻ.

Không thể nói rằng, cứ mùa hè thì trẻ bị viêm phổi nhưng nếu không biết cách chăm sóc hợp lý trẻ rất dễ có nguy cơ bị viêm phổi trong mùa hè. Hãy cảnh giác nếu trẻ có biểu hiện sốt nhẹ hoặc sốt cao liên tục, đau họng, ho húng hắng, chảy nước mắt, mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…. Nếu không được phát hiện sớm và hỗ trợ điều trị kịp thời thì bệnh sẽ diễn biến nặng hơn, trẻ sốt cao, li bì, ho tăng lên, có đờm, xuất hiện khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi. Ngoài ra có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng. Nghe phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Có thể có rối loạn tuần hoàn như sốc, trụy tim mạch… Nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu ôxy não, trẻ sẽ li bì hoặc kích thích, co giật.

Đối với các trẻ lớn thì việc nhận biết viêm phổi có thể dễ dàng hơn vì trẻ đã biết kể tình trạng sức khỏe cho cha mẹ và thầy thuốc, còn ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi chỉ là quấy khóc, khó chịu nên dễ nhầm lẫn với tình trạng mọc răng, hay thói quen nhõng nhẽo của trẻ. Vì thế khi thấy trẻ có những dấu hiệu của viêm họng, ho, sổ mũi, quấy khóc, kém vui chơi phải cần chú ý chăm sóc trẻ tốt hơn, nếu các dấu hiệu bệnh qua một ngày mà không thuyên giảm cần phải đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế, tránh những diễn biến nặng của bệnh.

Chú ý chăm sóc và phòng ngừa bệnh cho trẻ

viem-phoi-o-tre-van-co-the-xay-ra-trong-mua-he1

Trong các trường hợp nhẹ, các mẹ có thể nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn cho trẻ, cho trẻ súc miệng bằng dung dịch súc họng hoặc nước muối loãng ấm hằng ngày. Có thể tham khảo một số loại kháng sinh theo chỉ định của bác sỹ, tốt nhất nên dùng đường uống, dạng sirô. Khi tình trạng bệnh của trẻ có hướng không thuyên giảm, trẻ cần được chuyển lên tuyến trên, các mẹ không nên tự cho trẻ uống thuốc đặc biệt là các loại thuốc giảm ho, hạ sốt, kháng sinh vì sẽ gây lu mờ triệu chứng của bệnh và rất khó khăn cho chẩn đoán và điều trị.

Trường hợp các triệu chứng viêm phổi nặng hơn, trẻ cần được nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế, bác sĩ sẽ chỉ định các thuốc kháng sinh đặc hiệu và thuốc kháng virut (cho những trường hợp viêm phổi do virut). Các bác sỹ sẽ theo dõi chức năng gan, thận để điều chỉnh liều lượng cho phù hợp. Khi trẻ có biểu hiện suy thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ. Truyền dịch khi trẻ sốt cao kéo dài, biểu hiện mất nước… Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất.

Để phòng ngừa viêm phổi cũng như các bệnh đường hô hấp cho trẻ, trước hết trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ, tránh xa khói thuốc, và khói do đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Chú ý loại bỏ một số nguyên nhân khiến trẻ bị viêm phổi như đã kể trên, nhỏ mũi cho trẻ hằng ngày bằng nước muối loãng. Cho trẻ cách ly với trẻ bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nên tiêm chủng phòng bệnh đầy đủ các loại vaccin được sử dụng tại Việt Nam. Trẻ nhỏ cần được bú mẹ đầy đủ ít nhất đến 18 tháng.

Chăm sóc bé bị đau họng đúng cách

Có rất nhiều lý do khiến bé yêu của bạn bị đau họng như bé bị viêm họng, nhiệt miệng, bé mọc răng hoặc bé bị các bệnh tay chân miệng, nhiễm virus cảm cúm hay cảm lạnh, viêm amidan

….Chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ không hề đơn giản, đặc biệt với các mẹ mới sinh con lần đầu. Chỉ một chút thay đổi nhỏ trên cơ thể bé yêu thôi cũng đủ để cho các mẹ phải cuống cuồng lo lắng. Dưới đây là một số kiến thức các mẹ có thể tham khảo khi chăm sóc trẻ bị đau họng.

cham-soc-be-bi-dau-hong-dung-cach

Nguyên nhân khiến bé dễ bị đau họng

Như trên đã nói, có nhiều nguyên nhân khiến trẻ nhỏ dễ bị viêm họng. Bé có thể bị đau họng do viêm họng, bé mọc răng, bé bị bệnh tay chân miệng, bé bị cảm cúm, cảm lạnh, viêm amidan.

Bên cạnh đó, những kích thích từ không khí như lông chó, mèo, khói thuốc lá, không khí ô nhiễm, bụi từ cỏ, cây cũng có thể gây ngứa họng và khiến bé mắc những triệu chứng như bị dị ứng.

Cũng không thể loại trừ yếu tố thời tiết, vào dịp không khí quá khô cũng gây cho bé cảm giác khó khăn khi nuốt, đau họng. Còn trường hợp bé có thói quen ngủ há miệng, cổ họng bé sẽ bị khô khi ngủ dậy nhưng sẽ dễ chịu hơn nếu bé uống 1 chút nước ấm.

Dấu hiệu bé bị đau họng cần đi khám

Mẹ cần đưa bé đi khám sớm nếu bé có những dấu hiệu như sau:

Bé bị đau họng kèm theo đau cả khoang miệng, sốt cao.
Cổ họng có những dấu hiệu bất thường như sưng, đỏ, nghi ngờ bé nuốt phải dị vật, hơi thở khó, bé kém bú và quấy khóc nhiều.

Trường hợp khẩn cấp là tình huống bé bị nhiễm khuẩn cổ họng tới mức không thể ăn, uống được bất cứ thứ gì, bé khó thở, sốt cao và bị chảy dãi liên tục. Tuy nhiên, trường hợp này khá hiếm gặp.
Những trường hợp được coi là nguy hiểm khi khám họng của bé thấy có mủ trắng bẩn ở khe, hốc amidan hai bên, sờ thấy hạch dưới hàm cả ha bên, di động, ấn đau, xét nghiệm máu thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.

Chăm sóc khi bé bị đau họng

Cho bé uống một số đồ uống ấm hoặc nước luộc có thể làm dịu cổ họng bị đau. Đồ uống giữ ở nhiệt độ vừa phải, không nên thêm mật ong vào đối với các bé dưới 1 tuổi. Có thể cho bé uống nước lọc hoặc nước táo ép mát.

Trường hợp bé bị đau họng nặng, gần gặp bác sỹ trao đổi về việc sử dụng thuốc điều trị hoặc các phương pháp điều trị phù hợp.

Có thể sử dụng một chiếc máy giữ độ ẩm không khí trong phòng của bé để phòng tránh bị khô, làm dịu cơn đau cho bé.

Cũng nên lưu ý thêm rằng, khi bé bị đau họng không nên cố ép bé ngồi xuống mở to miệng để kiểm tra, cũng không nên tránh ép bé phải ăn, uống vì những điều này có thể làm bé khó thở hơn. Tốt nhất nên đưa bé đi khám sớm.

Điều trị đau họng cho bé

Trường hợp nhẹ, bé nhà bạn có thể được chỉ định điều trị bằng thuốc hoặc không tùy theo từng trường hợp. Trong khoảng thời gian này, bé cần được nghỉ ngơi, chăm sóc bằng các loại thức ăn mềm dễ tiêu hóa (Xem thêm về các loại thức ăn khuyên dùng khi bị đau họng )

Nếu nghi ngờ là nhiễm khuẩn, các bác sỹ có thể chỉ định dùng kháng sinh cho bé. Tùy theo tình trạng từng bé, bác sỹ sẽ kê đơn thuốc cụ thể. Các mẹ nên tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định dùng thuốc cho bé, không tự ý ngưng thuốc giữa chừng vì như vậy vi khuẩn có khả năng tấn công trở lại khiến họng của bé bị đau trầm trọng hơn.

Phòng tránh đau họng cho bé

Vệ sinh bàn tay cho bé thường xuyên giảm khả năng bé tiếp xúc với các vi khuẩn gây bệnh. Nếu bé đang ở độ tuổi ăn dặm nên sắm dụng cụ nấu ăn riêng cho bé không dùng chung đồ dùng nấu ăn với người thân trong nhà.

Ngoài ra, các mẹ cũng nên vệ sinh bàn tay của mình thường xuyên, nhất là mỗi lần thay tã cho bé.

Nguồn báo sức khỏe

Rửa tay sạch sẽ giúp loại bỏ những vi khuẩn gây hại cho trẻ

Bàn tay không sạch sẽ là nguy cơ của các ổ bệnh, cụ thể cứ mỗi 1cm2 trên bàn tay “không sạch” có thể chứa hàng triệu vi khuẩn và rất nhiều tác nhân gây bệnh khác. Vì vậy nếu phụ huynh không chú ý giúp trẻ luôn giữ sạch đôi tay thì khả năng trẻ thường xuyên bị mắc bệnh là điều khó tránh.

Theo thống kê của tổ chức UNICEF, tại Việt nam chỉ có 12% số người dân có thói quen rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi ăn, và chỉ có 16% rửa tay bằng xà phòng sau khi đi nhà vệ sinh. Đây chính là nguyên nhân khiến người dân, đặc biệt là trẻ em dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn qua đường hô hấp và tiêu hóa như tiêu chảy, tả, lỵ, nhiễm giun sán, nhiễm cúm… đặc biệt là bệnh tay chân miệng đang gây nhiều lo lắng và hoang mang cho các bậc làm cha, mẹ.

Bàn tay không sạch sẽ là nguy cơ của các ổ bệnh, cụ thể cứ mỗi 1cm2 trên bàn tay “không sạch” có thể chứa hàng triệu vi khuẩn và rất nhiều tác nhân gây bệnh khác. Một thực tế đáng báo động là có tới 74% số bà mẹ có con dưới 5 tuổi không rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn hoặc cho trẻ bú.

phong-benh-rua-tay

Lợi ích thiết thực của thói quen rửa tay sạch sẽ

Trong thời gian qua, rất nhiều căn bệnh nguy hiểm vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh, do đó việc tạo thói quen rửa tay sạch sẽ đúng cách được xem là việc làm cần thiết của tất cả mọi người. Trong đó, trẻ nhỏ được xem là đối tượng nguy cơ cao bởi hệ miễn dịch của trẻ còn rất non yếu nên dễ bị vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác tấn công. Nhận thức đúng đắn về việc giữ sạch đôi tay của trẻ là điều thiết thực nhất vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ trong tương lai.

Theo nhiều báo cáo về kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt, trong đó có việc rửa tay sạch sẽ đúng cách bằng xà phòng với nước sạch.

Kết quả nghiên cứu cho thấy với một thói quen “rất đời thường” là rửa tay thường xuyên sạch sẽ đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, chính là nguyên nhân gây tử vong cho hàng triệu người mỗi năm trên toàn thế giới. Việc rửa tay cũng có thể làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, giảm đáng kể tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp từ 19 – 45% và phòng ngừa rất hiệu quả căn bệnh tay chân miệng ở trẻ em.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệu mầm bệnh. Ngày 12/10/2007, Vụ Điều trị Bộ Y tế đã ban hành công văn số 7517/BYT-ĐTr hướng dẫn về Quy trình rửa tay thường quy.
Thời điểm cần thiết rửa sạch đôi bàn tay cho trẻ

Trẻ cần được phụ huynh nhắc nhở rửa tay sạch sẽ vào 5 thời điểm quan trọng sau đây:
Sau khi trẻ sử dụng nhà vệ sinh.
Sau khi trẻ chơi đùa, nghịch ngợm trên đất, cát.
Sau khi trẻ tiếp xúc với bất kỳ đối tượng nào nghi ngờ đang bị nhiễm bệnh.
Sau khi trẻ ho, hắt hơi hoặc sổ mũi làm dính các chất dịch tiết trên đôi bàn tay.
Trước khi vào bữa ăn.

Rửa tay sạch sẽ đúng cách

Quy trình rửa tay thường quy đã được Bộ Y tế khuyến cáo áp dụng, gồm 6 bước cơ bản sau đây:

Bước 1:làm ướt 2 lòng bàn tay bằng nước. Lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay vào nhau.

Bước 2: chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngượclại.

Bước 3: chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay.

Bước 4: chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia.

Bước 5: dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại.

Bước 6: xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay.

Chú ý: mỗi bước “chà” 5 lần. Thời gian rửa tay tối thiểu 30 giây.

Theo sức khỏe

Phát hiện tự kỷ từ 6 tháng tuổi

Những sự thay đổi ở não trẻ từ 6 tháng tuổi có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm cho chứng tự kỷ, cho phép can thiệp sớm nhất để giảm thiểu ảnh hưởng ở trẻ.

Trong quá trình nghiên cứu cách não phát triển trong giai đoạn đầu đời của trẻ, các chuyên gia của Đại học North Carolina (Mỹ) phát hiện các vùng chất trắng đảm trách nhiệm vụ liên kết các khu vực khác nhau của não đã không hình thành sớm ở trẻ sau này bị chứng tự kỷ so với trẻ phát triển bình thường. Sự thay đổi này trầm trọng hơn ở trẻ sau này phát bệnh tự kỷ, theo chuyên gia Jason Wolff đang nghiên cứu về những bất thường trong quá trình phát triển. Ngược lại, ở não của trẻ bình thường, các vùng chất trắng hình thành một cách nhanh chóng. Theo đó, bộ não tự tổ chức với tốc độ khá nhanh.

tu-ky

Kết quả nghiên cứu đăng trên chuyên san American Journal of Psychiatry cho thấy trong năm đầu đời của trẻ, có khả năng can thiệp hoặc thậm chí phá vỡ tiến trình phát triển của chứng tự kỷ trước khi nó mọc rễ bên trong não. “Rất có khả năng cải thiện hậu quả cho những trẻ không may”, theo chuyên gia Wolff. Ông khẳng định năm đầu tiên là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của não bộ, và cũng là lúc các triệu chứng đầu tiên của chứng tự kỷ bắt đầu xuất hiện. Trong cuộc nghiên cứu, các chuyên gia theo dõi sự phát triển não của 92 trẻ sơ sinh khi chúng mới được 6 tháng, và khi 1 – 2 tuổi. Tất cả đối tượng đều có anh chị bị tự kỷ và kết quả cho thấy chúng đối mặt với nguy cơ bị chứng rối loạn này cao hơn.

Các chuyên gia đã sử dụng phương pháp quét não tân tiến gọi là DTI, một dạng quét MRI nhưng cho phép theo dõi những sự thay đổi trong tổ chức não của đối tượng theo thời gian. Khi đối tượng được 2 tuổi, có đến 28 trẻ bị tự kỷ trong khi 64 em may mắn thoát khỏi số phận giống như anh chị. Từ đó nhóm của ông Wolff xác định được những dấu hiệu ban đầu của chứng rối loạn nguy hiểm trên. Các nghiên cứu trước đó xác định được những sự khác biệt về thể tích não ở trẻ 2 tuổi, và những nhà nghiên cứu khác cũng đã theo dõi các vùng chất trắng ở trẻ lớn hơn đã phát chứng tự kỷ, nhưng chưa có nhóm nào kiểm tra cấu trúc trên ở trẻ mới 6 tháng tuổi như đội của chuyên gia Wolff. Thực tế có quá nhiều vùng chất trắng bị ảnh hưởng cho thấy tự kỷ là hiện tượng của toàn bộ não chứ không ảnh hưởng riêng lẻ một hay hai khu vực nào.

Về câu hỏi điều gì đã gây nên tình trạng khác biệt trong phát triển não, chuyên gia Wolff cho rằng còn quá sớm để có thể xác định được. Tuy nhiên, nhiều cuộc nghiên cứu đã đưa ra cùng một kết luận về sự tương tác phức tạp giữa các gien, cũng như cảm nhận và kinh nghiệm của đứa trẻ đối với thế giới. Và trong khi việc quét não đã giúp phơi bày sự khác nhau giữa trẻ sẽ bị tự kỷ và trẻ khỏe mạnh, chuyên gia Wolff cho biết nhóm của ông không đề nghị sử dụng biện pháp này trong việc chẩn đoán rối loạn ở trẻ mới 6 tháng tuổi. Thay vào đó, phát hiện trên cho phép giới chuyên gia hiểu rõ hơn về sự phát triển của chứng tự kỷ. Theo ông Wolff, trẻ con không đột ngột rơi vào tình trạng tự kỷ mà nó có hẳn một quá trình giống như ủ bệnh trước khi đối tượng thực sự rơi vào vòng xoáy không lối thoát của chứng rối loạn này.

Theo TNO

Tiêm phòng vaccine để phòng tránh bệnh quai bị, rubella

Quai bị và Rubella là 2 bệnh hay xuất hiện cùng thời điểm với bệnh sởi. Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh quai bị, rubella là tiêm phòng vaccine.

1. Bệnh quai bị

Bệnh quai bị là bệnh truyền nhiễm do virut. Đôi khi bệnh còn gọi là viêm tuyến nước bọt mang tai.

Bệnh quai bị thường gặp ở trẻ mới lớn, từ 5 – 9 tuổi. Nhưng cũng có thể gặp ở người lớn. Khi đó nhiều biến chứng nguy hiểm sẽ xảy ra. Ở vùng có tiêm vaccine thì bệnh thường gặp ở trẻ lớn hơn là trẻ nhỏ.

Virut quai bị có ở mọi nơi. Bệnh quai bị lây qua những giọt nhỏ không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho và do tiếp xúc trực tiếp người mang mầm bệnh.

bệnh quai bị, rubella

* Nhận diện bệnh quai bị:

Khoảng 1/3 trẻ nhiễm virut quai bị không có triệu chứng. Triệu chứng thường xuất hiện bắt đầu từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 21 sau khi nhiễm trùng. Sưng tuyến nước bọt phía dưới và trước tai là triệu chứng khác gồm đau khi nhai hoặc nuốt, sốt, mệt mỏi, tinh hoàn sưng và đau.

Người bệnh quai bị có thể lây nhiễm cho người khác kể từ 6 ngày trước và 9 ngày sau khi có dấu hiệu sưng tuyến mang tai.

Biến chứng của bệnh quai bị ít gặp nhưng có thể nghiêm trọng: Ở nam giới, thanh niên viêm tinh hoàn có thể 1 hoặc 2 bên, có thể gây vô sinh. Viêm não, viêm màng não và điếc là những biến chứng hiếm gặp nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Không có điều trị đặc hiệu bệnh quai bị. Sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch đặc hiệu suốt đời.

Phòng bệnh quai bị: Tiêm chủng vaccine quai bị an toàn và hiệu quả cao.

2. Bệnh Rubella

Bệnh Rubella là bệnh truyền nhiễm do virut gây ra. Hội chứng Rubella bẩm sinh là nguyên nhân quan trọng gây ra các khuyết tật trầm trọng cho trẻ sơ sinh.

Khi người phụ nư bị nhiễm virut Rubella ở giai đoạn đầu trong 3 tháng đầu của quá trình mang thai,có tới90% số trường hợp người mẹ có thể truyền virut sang thai nhi. Hậu quả thainhi bị chết hoặc có thể gây hội chứng Rubella bẩm sinh.

Nếu như ở trẻ nhỏ nhiễm Rubella chỉ biểu hiện nhẹ, thì ở trẻ sơ sinh mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ phải chịu những dị tật nặng nề.

Ngoài điếc là dị tật thường gặp, hội chứng Rubella bẩm sinh còn có dị tật ở mắt, tim và não. Ước tính hàng năm trên thế giới có 700.000 trẻ em bị chết vì hội chứng Rubella bẩm sinh.

Bệnh Rubella lây truyền bởi các giọt nước bọt trong không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho. Người bệnh trở thành nguồn lây sau 5 – 7 ngày kể từ khi virut xâm nhập vào cơ thể người mẹ, nếu người bệnh là phụ nữ có thai trong thời gian này có thể truyền virut sang thai nhi.

Người bị nhiễm virut có khả năng lây truyền cao nhất trong thời kỳ phát ban. Tuy nhiên, virut có thể lây truyền trước và sau phát ban7 ngày.

Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh có thể lây truyền virut trong khoảng thời gian một năm hoặc hơn.

* Nhận diện bệnh Rubella:

Thời gian ủ bệnh ban đầu khoảng 14 ngày. Triệu chứng thường nhẹ nên khoảng 20 – 50% số người mắc bệnh thường không chú ý cho tới khi phát ban.

Ở trẻ em, ban thường là dấu hiệu đầu tiên, các dấu hiệu khác gồm sốt nhẹ và sưng hạch ở cổ. Ban thường xuất hiện ở mặt và lan dần xuống chân. Thời gian phát ban thường kéo dài khoảng 3 ngày. Ban do Rubella thường dày hơn và có màu nhạt hơn ban sởi. Nhiều bệnh khác có phát ban tương tự như Rubella cho nên không được xem là dấu hiệu chắc chắn của nhiễm virut Rubella.

Trẻ có hội chứng Rubella bẩm sinh thường có những dấu hiệu như đục thủy tinh thể và giảm thính giác nhưng chỉ có thể nhận thấy từ 2 – 4 năm sau.

Biến chứng có xu hướng xảy ra ở người lớn hơn là trẻ em. Khoảng 70% phụ nữ bị nhiễm trùng có thể đau hoặc viêm khớp đặc biệt ở ngón tay, cổ tay và đầu gối. Viêm não xảy ra khoảng 1/5000 trường hợp và thường gặp nhất ở phụ nữ. Xuất huyết xảy ra khoảng 1/3000 trường hợp ở trẻ em.

Biến chứng của hội chứng Rubella bẩm sinh gồm điếc, đục thủy tinh thể, bệnh tim và chậm phát triển trí tuệ.

* Điều trị bệnh Rubella:

Không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh. Bệnh nhân cần uống nhiều dịch và thuốc hạ sốt. Trẻ nhỏ bị hội chứng Rubella bẩm sinh cần được điều trị những biến chứng do bệnh gây ra.

* Phòng bệnh Rubella:

Vaccine Rubella an toàn hiệu quả, khi được dùng cho trẻ em thường phối hợp với vaccine sởi và quai bị. Ở một số nước phát triển bệnh Rubella gần như đã được loại trừ nhờ chương trình tiêm chủng cho trẻ em.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải bảo đảm đạt được và duy trì tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ trên 80% nhằm tránh sự lây truyền của Rubella sang tuổi lớn hơn.

Để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh, nữ tuổi sinh đẻ là những đối tượng đầu tiên đối với tiêm vaccine Rubella. Tiêm chủng cho nữ 15 – 40 tuổi sẽ làm giảm nhanh tỷ lệ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh, không có sự lây truyền của virut Rubella sang trẻ lớn.

3. Tiêm chủng vaccine phòng bệnh Sởi – Rubella – Quai bị

Vaccine Sởi – Rubella (MR) và vaccine Sởi – Rubella (MMR) – Quai bị. Đây là các vaccine phối hợp giữa sởi với Rubella (MR) phòng bệnh sởi và Rubella; vaccine MMR phòng bệnh sởi, quai bị và Rubella.

Vaccine MR và MMR được đóng gói dưới dạng đông khô với dung môi pha hồi chỉnh kèm theo và bắt buộc phải thực hiện pha hồi chỉnh v accin trước khi sử dụng. Chỉ sử dụng lọ dung môi đi kèm với vaccine.

Saukhi pha hồi chỉnh, vaccine MR và MMR vẫn phải được bảo quản ở nhiệt độ từ 2 – 8oC và huỷ bỏ những liều còn thừa trong lọ sau 6 giờ hoặc kết thúc buổi tiêm chủng.

Tính an toàn và những phản ứng sau tiêm vaccine

Những phản ứng nhẹ có thể gặp:

– Sốt: Đối với riêng vaccine sởi, khoảng 5 – 15% trẻ bị sốt nhẹ trong vòng 5 – 12 ngày sau tiêm.

– Ban: Khoảng 1/20 trẻ có biểu hiện ban nhẹ xuất hiện từ 5 – 12 ngày sau khi tiêm.

Những phản ứng nặng hiếm gặp:

Khi tiêm vaccine Rubella có thể dẫn tới tình trạng viêm khớp tạm thời sau khi tiêm 1 – 3 tuần với tỷ lệ lên đến ¼ nữ tuổi dậythì. Những phản ứng này rất hiếm gặp ở trẻ nhỏ.

Tiêm vaccine quai bị có thể dẫn tới tình trạng viêm tuyến nước bọt mang tai và viêm não nước trong (viêm não vô khuẩn) nhưng hiếm gặp. Một vài trường hợp có thể phải đến bệnh viện nhưng đa số có thể tự hồi phục. Những nguy cơ này khác nhau tuỳ thuộc vào chủng được sử dụng để sản xuất vaccine.

(Theo ykhoa.net)

Phương pháp giúp bé nhận đủ vitamin D

Khuyến khích con chơi ngoài trời, cho bé ăn nhiều cá, uống sữa… là những cách đơn giản giúp con nhận đủ lượng vitamin hữu ích.

Từ tháng 10/2008, Hội nhi khoa Mỹ khuyến cáo nên tăng gấp đôi liều vitamin D cho tất cả trẻ, từ bé sơ sinh đến thanh thiếu niên, từ 200 đơn vị (IU) lên 400 đơn vị mỗi ngày.

Cơ thể cần vitamin D để hấp thụ canxi, để bé không bị còi xương – bệnh có thể gây ra dị tật xương về lâu dài và cản trở tăng trưởng hay gây ra bệnh loãng xương ở người lớn. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cho rằng sử dụng vitamin D có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của trẻ và giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, tiểu đường và bệnh tim.

Bạn có thể bổ sung vitamin D cho con thế nào? Cách tự nhiên nhất để nhận được vitamin D là phơi nắng. Nhưng trong những ngày lạnh và không có nắng, việc này có vẻ khó khăn. May mắn là, bạn có thể cung cấp vitamin D cho con từ thức ăn mỗi ngày như sữa bò, sữa đậu nành, nước cam, ngũ cốc…

phuong-phap-giup-be-nhan-du-vitamin-d

Dưới đây là một số cách để giúp con bạn nhận được đủ vitamin D:

Uống sữa

Đối với những trẻ không uống sữa hay không dung nạp lactose trong sữa, sữa đậu nành tăng cường vitamin D có thể thay thế. Tuy nhiên, để nhận được đủ liều, trẻ phải uống 4-5 cốc mỗi ngày. Và nếu uống hoàn toàn sữa bò thì cũng không tốt cho sức khỏe, vì có thể gây ra táo bón, tăng cân, thậm chí thiếu sắt và một số vấn đề khác.

Chơi ngoài trời

Người Mỹ ước tính dành 93% thời gian trong nhà. Chỉ vì thời tiết giá lạnh không có nghĩa là chúng ta phải đóng cửa trong nhà. Hãy cho trẻ ra ngoài trời, với bé lớn hơn khuyến khích các con vận động và tập thể dục. Chỉ cần 5-30 phút giữa 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều hai lần mỗi tuần là đã tăng cường được lượng vitamin D, thêm nữa giúp cơ thể năng động, dẻo dai hơn.

Ăn cá

Thật không dễ để bé ăn hết cả hộp cá mòi hay một thìa dầu gan cá, nhưng cá nói chung đều giàu vitamin D. May mắn là cá ngừ, cá hồi, cá trích, cá da trơn và một số loại cá béo khác đều là nguồn cung cấpvitamin D có lợi cho dinh dưỡng của trẻ.

Bổ sung bằng thuốc

Vitamin D bổ sung có thể nhận được từ viên uống, viên nang hoặc dạng dung dịch. Nếu bé uống vitamin tổng hợp, cần đảm bảo nó có ít nhất 400 IU vitamin D. Với trẻ sơ sinh, cả bú mẹ hay bú sữa công thức, bác sĩ nhi khoa có thể kê bổ sung vitamin D dạng lỏng.

Các bà mẹ mang thai và cho con bú nên tư vấn bác sĩ khi muốn bổ sung vitamin D vì có thể loại vitamin tổng hợp bạn sử dụng đã chứa chất này.

Nên cắt amiđan cho trẻ khi nào?

Vào mỗi dịp hè, phụ huynh thường đưa con đến bệnh viện để cắt amiđan. Trong số đó không ít quí phụ huynh còn thắc mắc con mình được cắt amiđan như vậy có đúng không?

* Trẻ mấy tuổi có thể cắt amiđan được?

– Đây là câu hỏi thường gặp nhất, và cũng là vấn đề thường bị hiểu sai nhiều nhất do sự truyền miệng với nhau giữa các bậc phụ huynh hoặc cũng có thể do sự tư vấn không chính xác của các nhân viên y tế. Thật sự việc cắt amiđan hoàn toàn không phụ thuộc vào tuổi mà phụ thuộc mức độ nghiêm trọng của bệnh do amiđan gây ra.

* Cắt amiđan có làm giảm sức đề kháng hoặc ảnh hưởng đến miễn dịch của trẻ không?

– Amiđan là một trong những cơ quan miễn dịch ở đường tiêu hóa và hô hấp trên, có chức năng tiết ra một số globuline để phòng chống một số bệnh đi vào cơ thể qua đường miệng. Tuy nhiên, cho tới nay các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khi theo dõi ở các trẻ đã được cắt amiđan thì lượng globuline miễn dịch này có sự thay đổi không đáng kể và không hề ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của trẻ.

nen-cat-amidan-cho-tre-khi-nao1

* Cắt amiđan khi nào?

– Các chỉ định cắt amiđan ở trẻ em bao gồm. Thứ nhất, cắt amiđan khi amiđan phì đại gây tắc nghẽn, có hội chứng ngưng thở trong khi ngủ, bé thường có các triệu chứng như ngủ ngáy, trong giấc ngủ có cơn ngưng thở tím tái, giật mình, quấy khóc, đái dầm… Hoặc khi bé chậm lớn, kém ăn, hay bị ói, khó nuốt, khó nói do amiđan quá to.

Thứ hai, cắt amiđan khi bé bị viêm amiđan mãn tính, tái phát nhiều lần trong năm làm ảnh hưởng nhiều đến việc học tập, sức khỏe và tài chính.

Thứ ba, cắt amiđan khi viêm amiđan gây ra các biến chứng như viêm phế quản phổi, viêm cơ tim do vi trùng ở amiđan, viêm cầu thận, viêm khớp do vi trùng ở amiđan, ápxe quanh amiđan, viêm hạch cổ. Ngoài ra còn có những chỉ định cắt amiđan khác như trong trường hợp nghi ngờ bị ung thư, hoặc hôi miệng do amiđan có nhiều ngách hay đọng lại thức ăn, sỏi amiđan, nấm amiđan.

* Cắt amiđan có nằm viện không?

– Hiện nay tại các bệnh viện lớn, các trẻ từ bốn tuổi trở lên có thể cắt amiđan và xuất viện trong cùng một ngày, nếu ở xa có thể nằm lại bệnh viện một đêm, các trẻ dưới bốn tuổi cắt amiđan vì những lý do đặc biệt bắt buộc thì nhập viện 2-3 ngày cho đến khi thật sự ổn định mới xuất viện.

* Cắt amiđan có tai biến nguy hiểm không?

– Tuy là một phẫu thuật đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, thường tối đa không quá 30 phút, nhưng cũng như các phẫu thuật khác, phẫu thuật cắt amiđan cũng tiềm ẩn những tai biến như tai biến do gây mê, tai biến do chảy máu sau mổ. Để phòng ngừa những tai biến này, quí phụ huynh báo cho bác sĩ biết rõ những tiền căn dị ứng hoặc những bệnh lý nội ngoại khoa mà bé đã hoặc đang có. Đồng thời sau mổ kiêng các thức ăn cứng, nóng, chua, cay. Ăn các thức ăn lỏng, nguội, mềm trong vòng 15 ngày đầu để tránh chảy máu sau mổ.

* Sau khi cắt amiđan trẻ có cần cữ nói?

– Khác với quan niệm trước kia là sau khi cắt amiđan phải cữ nói, ngày nay với các phương pháp mổ hiện đại như cắt amiđan bằng dao điện, bằng laser hoặc bằng coblation, sau khi cắt trẻ có thể nói chuyện được ngay. Tuy nhiên vẫn tránh những hoạt động thể lực như chạy chơi, bơi lội, đá bóng…

Giảm bớt ảnh hưởng loét miệng ở trẻ

 Loét miệng xảy ra quanh năm ở trẻ nhỏ, nhưng vào mùa nắng, nóng thì tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn. Điều này gây đau đớn cho trẻ và ảnh hưởng không nhỏ đến việc chăm sóc và nuôi dưỡng.

Trong dân gian hay gọi loét miệng là nhiệt miệng, tức là trong cơ thể bị nóng, phát ra nhiệt gây loét niêm mạc miệng. Thông thường nhiệt miệng có nhiều vết loét cho nên làm cho trẻ rất khó chịu, chảy nước miếng nhiều, trẻ gầy sút do không ăn được hoặc ăn rất ít .

Trẻ thường mệt mỏi, khó ngủ hay quấy khóc vì đau, nhất là lúc ăn, uống. Loét miệng cũng có thể do virus Herpes và thường chỉ gây nên một vết loét. Loét miệng do virus Herpes cũng có các triệu chứng như loét miệng do nhiệt.
nhiet-mieng-o-tre-2
Ngoài ra loét miệng có thể do virus thủy đậu (bệnh thủy đậu), virus gây bệnh tay chân miệng (virus Coxsackie A16 hoặc virus EV 71). Loét miệng do virus thủy đậu hoặc virus gây bệnh tay chân miệng thì ngoài gây các nốt phỏng ở da, niêm mạc lòng bàn tay, chân, mông (bệnh tay chân miệng) cũng có thể gây các nốt phỏng ở niêm mạc miệng. Niêm mạc miệng do bệnh thủy đậu hoặc do bệnh tay chân miệng thường có nhiều nốt phỏng, loét, gây đau, rát, chảy nước miếng và đồng thời có sốt.

Ở những cơ thể trẻ do nuôi dưỡng thiếu chất hoặc trẻ hấp thu kém, gây thiếu một số vi chất cần thiết như vitamin PP, vitamin C, vitamin B12, axit folic, chất sắt cũng có thể gây loét miệng. Loét miệng cũng có thể do chấn thương làm viêm, dập nát niêm mạc miệng (trẻ bị ngã đập vào vùng miệng) hoặc có thể do ăn thức ăn hoặc nước uống nóng quá làm bỏng, loét niêm mạc miệng gây đau. Trẻ lớn gặp stress liên tục cũng có thể gây nên loét miệng.

Loét miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau có loại đơn thuần (nhiệt miệng) nhưng có loại có thể gây biến chứng nguy hiểm, vì vậy khi trẻ bị loét miệng nên cho trẻ đi khám bệnh để xác định nguyên nhân.

Loét miệng gây đau, rát cho nên dùng thuốc giảm đau cho trẻ là rất cần thiết nhưng dùng loại gì cho phù hợp với từng trẻ là công việc của bác sỹ khám bệnh, các bậc phụ huynh không nên tự mua thuốc điều trị cho trẻ. Nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, nhuyễn (cháo, súp, bột dinh dưỡng), không nóng, không cay, không chua và tốt nhất là hợp với khẩu vị thường ngày của trẻ.

Theo tiền phong

Ngừa nhiễm trùng tai ở trẻ

Theo thống kê, có khoảng 2/3 số trẻ em bị nhiễm trùng tai ít nhất một lần trước giai đoạn lên hai tuổi. Và tình trạng nhiễm trùng tai thường gây ra bởi virus hoặc vi khuẩn.

Những đứa trẻ dưới 7 tuổi có thể bị nhiễm trùng tai vì nhiều lý do, như:

– Những ống thông với phần sau của cổ họng với tai giữa của trẻ bị hẹp (những ống này gọi là vòi Ot-tat). Vị trí của những ống này cũng có thể làm gia tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.

– Hệ miễn dịch của trẻ đang phát triển, chưa hoàn chỉnh.

nhiemtrungtai

Những đứa trẻ có thể bị nhiễm trùng tai khi có các biểu hiện như bị đau ở tai; không nghe rõ; hay nắm kéo tai; sốt trên 38 độ C; hay khóc trong lúc bú hoặc ăn.

Hãy cho trẻ đến bệnh viện kiểm tra nếu bạn nghi ngờ trẻ bị nhiễm trùng tai.

Một vài thể nhiễm trùng tai có thể tự khỏi trong vòng vài ngày mà không cần điều trị. Trong khi một số trường hợp khác cần phải sử dụng đến kháng sinh. Các bác sĩ thường điều trị cho những đứa bé dưới 6 tháng tuổi bằng cách chỉ định sử dụng thuốc kháng sinh. Riêng đối với những trẻ lớn hơn và có triệu chứng nhiễm trùng tai nhẹ, bác sĩ có thể đề nghị chờ một vài ngày xem bệnh có tự khỏi hay không rồi mới kê thuốc kháng sinh.

Khi các bác sĩ chỉ định cho trẻ uống thuốc kháng sinh, hãy bảo đảm rằng trẻ cần phải uống đúng thời lượng (ngay cả khi trẻ cảm thấy bớt bệnh sớm hơn). Nếu buộc trẻ ngừng việc sử dụng thuốc kháng sinh quá sớm, chứng nhiễm trùng tai có thể bị tái lại và khi đó, trẻ phải cần tới loại thuốc kháng sinh mạnh hơn để điều trị.

Bác sĩ cũng có thể chỉ định các phương pháp điều trị giúp giảm triệu chứng đau tai ở trẻ như cho trẻ uống thuốc acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Motrin or Advil), và đôi khi bác sĩ cũng sử dụng các loại thuốc nước để nhỏ vào tai trẻ.

Sau khi điều trị, tai của trẻ có thể bị chảy nước và làm giảm khả năng nghe của trẻ trong vòng ba tuần hoặc lâu hơn. Và thính giác của trẻ sẽ trở lại bình thường khi các chất lỏng trong tai không còn hình thành nữa.

Làm gì để ngăn ngừa?

– Cho trẻ bú sữa mẹ. Sữa mẹ có chứa các chất kháng thể đặc biệt, có thể giúp bảo vệ cơ thể trẻ trước các nguy cơ bị nhiễm trùng, bao gồm cả các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng tai.

– Giữ trẻ đúng tư thế trong lúc bú bình. Điều này giúp ngăn ngừa sữa không nhiễu vào các vòi Ot-tat trong tai giữa của trẻ, gây nhiễm trùng. Đồng thời, bạn cũng nên tránh để bình sữa trong nôi, cũi của trẻ sau khi cho trẻ bú xong.

– Không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá. Vì khói thuốc dường như làm gia tăng nguy cơ gây ra các vấn đề về tai, cũng như hệ hô hấp và nhiễm trùng. Việc làm sạch bụi bặm trong nhà cũng rất có ích đối với trẻ.

– Bảo đảm rằng trẻ phải được chủng ngừa miễn dịch đầy đủ. Vắc-xin pneumococcal có thể giúp trẻ ngăn ngừa chứng nhiễm trùng tai gây ra bởi các loại vi khuẩn nhất định.

Nhiễm trùng tai ở trẻ

Nhiễm trùng tai là căn bệnh thường xảy ra với trẻ, đặc biệt là với trẻ dưới 3 tuổi. Để phòng ngừa căn bệnh này, các bác sĩ nhi khoa khuyến cáo các bậc cha mẹ nên lưu ý một số điểm sau:

– Không được dùng vật nhọn hay bất cứ đồ vật nào cho vào tai trẻ để làm sạch tai. Việc làm này sẽ càng khiến ráy tai hoặc chất dịch đi sâu vào ống tai hơn.

– Nhỏ 2, 3 giọt dầu oliu vào tai trẻ vài tuần 1 lần để làm sạch tai và ráy tai.

nhiemtrungtai

– Thường xuyên massage phía sau tai và xuống cổ để các chất lỏng di chuyển thông qua các hạch bạch huyết và ra khỏi tai. Bạn có thể làm thao tác này khi cho trẻ bú mẹ hoặc bú bình.

– Cho trẻ ăn thực phẩm tự nhiên, hạn chế những thực phẩm chế biến sẵn. Trẻ ăn nhiều thực phẩm đường (từ phẩm màu màu nhân tạo hoặc hương liệu) có thể làm suy giảm hệ thống miễn dịch, khiến trẻ dễ bị bệnh nhiễm trùng và thời gian khỏi bệnh sẽ lâu hơn.

– Trẻ bú sữa mẹ thường ít bị nhiễm trùng tai hơn trẻ bú bình. Điều này không chỉ do các kháng thể trong sữa mẹ mà còn bởi sữa mẹ rất giàu dinh dưỡng như axit béo omega-3, vitamin D rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ và ngăn ngừa bệnh tật.

Theo an ninh thủ đô

Mẹo giúp bạn xử lý nghẹt mũi cho bé

Bạn cần có dung dịch muối sinh lý và một dụng cụ hút mũi hình bóng đèn để làm giảm nghẹt mũi cho bé.
Chuẩn bị: Lọ nước nhỏ mũi muối sinh lý; dụng cụ hút mũi hình bóng đèn; khăn xô; phòng tắm bốc hơi nước nóng.

Lưu ý: Bạn có thể tự làm dung dịch nước muối nhỏ mũi với một thìa muối hòa trong một cốc nước ấm. Không dùng thuốc nhỏ mũi cho bé.

Chỉ nên nhỏ mũi và hút mũi cho bé khoảng 15 phút trước bữa ăn.

nghet-mui

Thực hiện:

– Trước tiên, bạn bế bé lên, nhỏ nước muối lần lượt vào hai bên mũi cho bé.

– Dùng dụng cụ hút mũi, hút từng bên mũi cho bé. Nếu bé hắt hơi và tống ra nước mũi thì nên loại bỏ dụng cụ hút mũi ra ngoài. Sau đó, dùng khăn mềm, lau sạch cho bé.

– Đưa bé vào phòng tắm đang bốc hơi. Giữ để bé được an toàn khi hít hơi nước nóng trong phòng tắm.

– Cho bé ra ngoài, có thể đặt bé nằm cao đầu trong cũi bằng cách cuộn tròn 2 chiếc khăn tắm lại rồi kê dưới đệm cũi. Hoặc cho bé ngồi trong xe đẩy, với phần đầu xe đẩy được nâng cao.

Chế độ dinh dưỡng BRAT giúp bé chống tiêu chảy

 Các nhà khoa học đã đưa ra chế độ BRAT giúp bé chống tiêu chảy hiệu quả.

Hầu hết trẻ nhỏ đều ít nhất một lần bị tiêu chảy, cho dù mẹ có chăm sóc bé kỹ đến đâu đi nữa. Làm sao để giúp bé vượt qua những ngày mệt mỏi này?

Các nhà khoa học đưa ra chế độ dinh dưỡng BRAT – gồm 4 loại thực phẩm cần thiết để giúp bé chống lại tiêu chảy. Chúng là chuối (banana), gạo (rice), táo (apple) và bánh mì nướng (toast).

Chuối
chuoi-chong-tieu-chay
Chuối giúp hệ tiêu hóa hoạt động mạnh mẽ hơn. Với trẻ trong độ tuổi ăn dặm, có thể nghiền nát chuối tươi hoặc trộn chung với bột của bé.

Gạo

Cơm hoặc ngũ cốc từ bột gạo cũng là một loại thực phẩm mà bé nên ăn trong thời kỳ này. Tuy nhiên, với bé còn nhỏ mẹ chỉ nên cho bé dùng ngũ cốc hoặc cháo loãng. Gạo là thực phẩm đường bột nên sẽ lấp đầy dạ dày, giúp bé chống chọi với căn bệnh.

Táo

Táo hoặc xốt táo, sinh tố táo rất cần thiết để đẩy lùi tiêu chảy. Xốt táo chứa pectin, có khả năng liên kết phân lỏng. Đồng thời lượng đường tự nhiên trong xốt táo còn giúp bổ sung năng lượng dồi dào. Xốt táo dễ ăn, nhẹ bụng và cung cấp nước cho cơ thể trong những ngày tiêu chảy.

Tuy nhiên, các món xốt táo được làm sẵn ở ngoài thường chứa lượng đường khá lớn nên có khả năng khiến bệnh tiêu chảy của bé nặng hơn.Vì vậy, mẹ nên tự làm xốt táo hoặc kiểm tra chỉ số dinh dưỡng trên bao bì khi mua.

Đây được coi là lựa chọn khá lý tưởng vì xốt táo, hoặc táo xắt nhỏ rất dễ phối hợp với các thực phẩm khác cho trẻ, kể cả trẻ ăn dặm, thậm chí còn kích thích vị giác của bé.

Bánh mì nướng

Bánh mì khô là một phần trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị tiêu chảy bởi chúng cung cấp “nguyên liệu” lớn để tạo phân ra ngoài. Bên cạnh đó, bánh mì nướng còn chứa rất nhiều cacbohydrate tạo năng lượng và pectin.

Tuy bé trong tuổi ăn dặm không thể nhai bánh mì nướng nhưng bạn có thể cắt từng miếng cho bé. Bánh mì nướng nên ăn chung với xốt táo hoặc chuối dằm thay cho bơ đường để giảm lượng chất béo.

Đừng lạm dụng siro ho cho con

 Với tâm lý “cắt nhanh” cơn ho cho con, nhiều bậc phụ huynh đã lạm dụng siro ho mà không biết rằng điều này không mang lại hiệu quả cao như họ mong muốn.
Hở tí là… siro

Với tâm lý “cắt nhanh bệnh” cho con, tự lúc nào trong tủ lạnh nhà chị Hường (Quận 1, TP HCM) luôn để sẵn vài lọ siro trị ho. Cứ thấy con hơi húng hắng ho, chị lại cho bé uống đều đặn 5ml siro, tần suất 3 lần/ngày. Thời gian đầu chị thấy bé dứt cơn ho rất nhanh nhưng về sau, bé như nhờn thuốc, ho kéo dài thời gian hơn.

Mới đây, thấy con ho nhẹ kèm theo có đờm, sụt sịt mũi, con kêu đau họng, chị lại cho con uống siro long đờm chứa hoạt chất histamin nhưng với liều lượng tăng lên. Sau 1 ngày, bé lên cơ co thắt phế quản dữ dội, nôn trớ liên tục.
shi-ro-ho
Một trường hợp khác, bé Xíu được cả gia đình chị Cúc (Nguyễn Hữu Huân, Hà Nội) “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Mọi biểu hiện khác lạ ở con, chị Cúc đều để ý, lo lắng. Là một bà mẹ yêu thương con song chị lại mắc bệnh… hay lo lắng, đôi khi là thái quá.

Lý do cũng vì trước đây khi Xíu tròn 1 tuổi, vì bất cẩn cho con nằm trong phòng điều hòa nhưng không lau mồ hôi cẩn thận, chị Cúc đã để con bị viêm phổi. Nhìn con ốm yếu lại phải uống kháng sinh liên tục, con gầy đi vì sợ thuốc đắng, chị xót xa lắm.

Suốt từ hồi đó tới bây giờ chị luôn đề cao cảnh giác, nhưng sự lo lắng thái quá của chị lại khiến chị sai lầm trong việc chăm sóc sức khỏe của con. Nghe bạn bè bảo, chị mừng rỡ khi biết nếu con ho hắng, sụt sịt, để phòng ngừa thì khi “chớm bị” nên cho bé uống ngay siro, thuốc lành lại dễ uống có vị ngọt. Quả nhiên, bé Xíu thích uống thuốc này thật và thuốc cũng có hiệu quả nhanh chóng.

Thế nhưng đợt ho gần đây, dù uống thuốc đã được một tuần nay, bé vẫn ho, thậm chí ho dữ dội hơn. Đi khám bệnh, chị mới biết con bị ho kéo dài là do mẹ lạm dụng siro dài ngày trong khi con vẫn bị ra mồ hôi trộm.

Cha mẹ không nên lạm dụng siro ho mà nên chăm chỉ rửa mũi sạch cho con

Trả lời về vấn đề này, bác sĩ Philippe Collin, Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Pháp cho biết, ho là một phản xạ sinh lý hết sức bình thường có tính chất bảo vệ cơ thể trẻ. Ho giúp cơ thể thực hiện loại bỏ các chất xuất tiết từ đường hô hấp, ho giúp con long đờm, nuốt vào trong hoặc khạc ra bên ngoài được dễ dàng.

Siro ho không phải là biện pháp hiệu quả giúp con nhanh chóng dứt cơn ho, loại thuốc này một phần kê cũng chỉ để giải quyết vấn đề tâm lý cho bố mẹ của trẻ. Ở Pháp và Châu Âu từ lâu đã không còn bán những loại siro như thế này nữa, bởi nó không còn mang hiệu quả cao mà nếu có thì nó chỉ có tác dụng làm ngưng ho, cản trở việc bài tiết đờm… Điều này hoàn toàn không tốt chút nào với sức khỏe của trẻ, vì nếu dùng thuốc để ức chế ho, trẻ không ho được sẽ khiến đờm ứ đọng, tắc nghẽn trong đường thở, làm trẻ khó thở và có thể dẫn tới nguy cơ xấu với sức khỏe của trẻ.

Ho đi kèm với các triệu chứng viêm mũi họng, đặc biệt là chảy nước mũi ở trẻ.

Nếu ho được, trẻ sẽ giảm nhanh các triệu chứng khò khè ở đường hô hấp trên. Tiếng khò khè thực chất là do trẻ hít thở khó khăn mà tạo thành. Do hệ hô hấp chưa thực sự hoàn thiện nên trẻ rất hay gặp những bệnh hô hấp phía trên. Khi có đờm, người lớn có thể khạc nhổ ra được nhưng trẻ nhỏ thì chưa biết cách nên luôn có đờm trong họng.

Để giảm thiểu những cơn ho kéo dài của con, cha mẹ nên đảm bảo không gian thoáng đãng cho trẻ, tuyệt đối không hút thuốc trong nhà. Nếu trẻ có dấu hiệu ho kéo dài, tốt nhất bậc phụ huynh nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa để chẩn đoán chính xác và để điều trị kịp thời giúp trẻ nhanh khỏi bệnh.

Theo ttvn

Kê đơn cho bé chậm mọc răng

Hỏi: Con gái tôi nay được hơn 20 tháng tuổi nhưng chỉ mới mọc được 5 cái răng. So với bạn cùng tháng thì cháu mọc răng chậm. Trộm vía cháu ăn uống và bú mẹ tốt, tăng cân đều. Hiện cháu được 12kg và cao 82cm. Cháu đã biết nói và nói rất sành sỏi, cháu có thể diễn đạt ý của mình thành câu hoàn chỉnh. Trong các bữa ăn của con, tôi liên tục bổ sung cá, thịt, tôm, cua… nhưng răng cháu vẫn không mọc. Xin cho tôi hỏi, bé chậm mọc răng như vậy có ảnh hưởng đến sức khỏe không? Mong bác sĩ giải đáp giùm. Tôi xin cảm ơn!
cham-moc-rang
Trả lời:

Chu kỳ mọc răng của mỗi trẻ là không giống nhau. Thông thường, khi trẻ được 6 – 7 tháng tuổi sẽ bắt đầu mọc chiếc răng đầu tiên, kéo dài đến 3 tuổi. Thời gian mọc những chiếc răng tiếp theo nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và trẻ chỉ được coi là chậm mọc răng sữa nếu chưa có chiếc răng nào ở tháng 13.

Bé 20 tháng tuổi nhưng chỉ mới mọc 5 chiếc răng là quá chậm so với lứa tuổi. Do đó, chị cần xem lại chế độ dinh dưỡng đã cung cấp đủ chất cho bé hay chưa.

Ở lứa tuổi này chị nên cho bé ăn một ngày như sau: 3-4 bữa cháo/cơm nát có đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng: Chất bột đường, chất đạm, chất béo, nhóm giàu vitamin và khoáng chất (rau xanh), 500-600ml sữa (bao gồm sữa mẹ, sữa ngoài, sữa chua…) và 1-2 bữa hoa quả chín hoặc nước hoa quả.

Chị cũng cần cho bé tắm nắng hàng ngày, mỗi ngày 15-30 phút vào trước 9 giờ sáng hoặc sau 4 giờ chiều để cơ thể bé tự tổng hợp vitamin D giúp hấp thu canxi tốt hơn. Đồng thời, chị có thể cho bé dùng thêm một số sản phẩm như cốm Cansua3 để bổ sung thêm canxi, vitamin D và một số thiếu hụt về vi chất như kẽm, i-ốt…

Ngoài ra, một số yếu tố như: do di truyên, do tác động của môi trường… cũng khiến trẻ chậm mọc răng. Vì vậy, tốt nhất, chị nên cho bé đi khám bác sĩ dinh dưỡng để được kê thuốc bổ sung phù hợp.

Ths. Bs Hoàng Hoa
Theo Eva

Qúa sạch sẽ cũng dễ bị mắc tiểu đường ở trẻ em

 Những năm gần đây, tỷ lệ người mắc bệnh tiểu đường liên tục gia tăng. Nguy hiểm hơn là con số trẻ em bị mắc bệnh này ngày một nhiều.
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Bristol, Anh Quốc đã cho biết rằng, chính việc quá sạch sẽ là một trong những nguyên nhân khiến trẻ nhiễm bệnh.

Họ cho biết, hệ thống miễn dịch của cơ thể có khả năng chống lại các nguồn bệnh lây nhiễm. Những trẻ em tiếp xúc với nguồn lây nhiễm thì hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ dễ dàng nhận được “tín hiệu” và tự điều chế để chống lại các loại virus này. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu cơ thể trẻ không được tiếp xúc với vi khuẩn thì dễ có nguy cơ mắc các bệnh như dị ứng, hen suyễn hay rối loạn hệ miễn dịch.

Đặc biệt hơn, cũng theo kết quả công bố trên tờ tạp chí online Nature của trường Đại học Bristol thì những loại vi khuẩn được cho là “thân thiện” ẩn trong ruột lại có thể ngăn chặn sự tấn công của căn bệnh tiểu đường.
Young girl with a pediatrician
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra những trẻ em dưới 5 tuổi từ năm 1985 đến năm 2004. Kết quả cho thấy, số trẻ em mắc bệnh tiểu đường loại I tăng gấp 5 lần so với thời điểm mới tiến hành nghiên cứu và con số này được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng. Nguyên nhân của sự gia tăng này cũng do càng ngày trẻ em càng… sạch

Việc tiếp xúc với một số loại vi khuẩn có thể giúp ngăn chặn sự tấn công của bệnh tiểu đường loại I. Do khi tiếp xúc với vi khuẩn, hệ miễn dịch của trẻ “khỏe mạnh” hơn, kích thích các tế bào tạo ra chất insulin. Nghiên cứu này được thực hiện thử nghiệm trên những chú chuột chuyển gen, một loại chuột có hệ miễn dịch không chứa vi khuẩn.

Kết quả cho thấy 80% số chuột được nuôi trong môi trường hoàn toàn không có vi trùng, đồng nghĩa với việc không có vi khuẩn ruột thân thiện lại mắc bệnh tiểu đường nghiêm trọng. Thế nhưng khi các nhà khoa học bơm vi khuẩn tốt vào ruột chuột thì tình trạng bệnh lại giảm một cách đáng kể.

Ngoài lý do trên thì một vài lý do dưới đây cũng là nguyên nhân khiến căn bệnh tiểu đường ngày một gia tăng ở trẻ nhỏ:

Chế độ ăn uống

Cuộc sống ngày càng phát triển, trẻ em được cung cấp đầy đủ đôi khi quá nhiều các nguồn dưỡng chất, nhất là các loại thực phẩm chứa chất béo và hàm lượng ca lo cao. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến trẻ bị mắc bệnh tiểu đường.

Lười vận động

Tập thể dục và các hoạt động ngoài trời không chỉ nâng cao sức khỏe cho trẻ mà còn giúp cơ thể chống lại căn bệnh tiểu đường. Các bài tập thể dục có tác dụng tiêu thụ đường trong máu và làm giảm hàm lượng đường có trong cơ thể cũng như tạo thuận lợi cho sự gia tăng của insulin.

Theo ttvn

Trẻ có nguy cơ béo phì khi mắc chứng bệnh vảy nến

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, trẻ bị bệnh vảy nến có nguy cơ thừa cân hoặc béo phì cao hơn hai lần so với trẻ không mắc bệnh.

Tiến sĩ Amy Paller tại Trường Y Feinberg thuộc Đại học Tây Bắc ở Chicago và các cộng sự đã rút ra kết luận trên sau khi tiến hành nghiên cứu trên 615 trẻ em tuổi từ 5-7 ở chín quốc gia thuộc châu Á, châu Mỹ và châu Âu.
tre-bi-vay-nen-co-nguy-co-bi-beo-phi
Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, trẻ em Mỹ bị bệnh vảy nến có nguy cơ bị thừa cân hay béo phì cao hơn bốn lần so với trẻ em khỏe mạnh.

Các chuyên gia tin rằng, mối liên hệ giữa bệnh vảy nến với chứng thừa cân hay béo phì có thể liên quan đến di truyền học. Vì vấn đề di truyền có thể liên quan đến những rối loạn trao đổi chất do bệnh vảy nến đã được chứng minh có liên hệ với cùng một protein vốn kích thích tình trạng kháng insulin và khiến con người thừa cân.

Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Archives of Dermatology số ra mới nhất.

Phòng Khám Tư Nhân – Nhi 61

phong-kham-tu-nhan-nhi-61

Địa chỉ: 61/10 Hùng Vương , P. Thới Bình, Quận Ninh Kiều, TP. CẦN THƠ
Điện thoại: 071.3820784

Ngày nóng có nên cho con ăn kem

 Rất nhiều cha mẹ trẻ muốn biết điều này, nhất là trong những ngày nắng nóng đấy!

Thông thường, nhiều cha mẹ trẻ nghĩ rằng kem có thể cho trẻ ăn thường xuyên như một món tráng miệng. Song trên thực tế, kem chắc chắn không được khuyến cáo như là một thực phẩm thích hợp đầu tiên cho những em bé dưới 1 tuổi.

Nguyên nhân là do kem có chứa đường vì thế nó không thực sự được khuyến khích là một thực phẩm lành mạnh và an toàn cho những chiếc răng sữa xinh xắn của trẻ.
nhung-cau-be-an-kem
Ngoài ra, các thành phần có trong kem có thể gây ra một phản ứng nguy hiểm với trẻ khi ăn. Ví dụ, kem có thể chứa các loại hạt, hoặc các thành phần được làm từ các loại hạt. Một số loại kem còn chứa màu nhân tạo hoặc hương vị nhân tạo… Điều này nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ.

Trong khi hầu hết các loại kem lạnh mà bạn mua tại các cửa hàng đã được thanh trùng thì các món kem bạn mua dạo hoặc các loại kem được sản xuất từ máy pha chế không thể an toàn. Vì thế những loại kem này không an toàn cho các phụ nữ mang thai và các em nhỏ vì có thể bị nhiễm vi khuẩn Listeria (nếu máy làm kem không được giữ sạch sẽ).

Khi bé được hơn 1 tuổi, bạn có thể cung cấp một ít nước kem lạnh với những loại kem có chất lượng tốt nhất để cung cấp một số canxi. Tuy nhiên,  cha mẹ trẻ cần ghi nhớ rằng kem cũng có thể chứa đường và chất béo vì thế cả hai chất này đều nên được giới hạn trong suốt cuộc sống của trẻ.

Nếu trong những ngày thời tiết đặc biệt nóng, có rất nhiều những thực phẩm lành mạnh và an toàn khác bạn có thể cung cấp cho bé yêu nhà bạn để giúp làm mát cơ thể và cung cấp một số chất dinh dưỡng thiết yếu khác cho trẻ. Chẳng hạn như vài lát hoa quả đông lạnh, sữa chua đông lạnh, kem chuối hoặc kem tự làm bằng các thực phẩm lành mạnh.

Theo afamily

Thực phẩm cần thiết cho trẻ ở tuổi chập chững

 Với những trẻ tăng cân ít, bạn hãy thử cho trẻ ăn những loại thực phẩm dưới đây. Tuy nhiên, bạn vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để có được chế độ dinh dưỡng và cải thiện cân nặng của trẻ.
Quả bơ

Bơ không chỉ chứa lượng calo cao, mà còn cung cấp những chất béo có lợi cho não và sự phát triển cơ thể của trẻ. Bạn có thể ăn cho trẻ ăn bơ khi trẻ sáu tháng tuổi.

Bạn có thể trộn một ít sữa, chuối, nếu bạn muốn. Đối với trẻ mới biết đi, bạn có thể thử làm guacamole – một loại xốt, chấm làm từ bơ dùng để phết lên bánh mì cho trẻ ăn.

Ô liu

Ô liu là một thực phẩm có thể giúp cung cấp các chất béo cần thiết cho sự phát triển trí não và tăng trưởng của cơ thể trẻ, dầu ô liu cũng chứa chất béo không bão hòa đơn – loại chất béo có lợi giúp làm giảm cholesterol xấu và làm tăng cholesterol tốt.

Trứng

Trứng có nhiều chất protein và ít carbohydrate. Một quả trứng trung bình chứa khoảng 26 gram protein. Đây là thực phẩm rất tốt giúp trẻ tăng cân.

Bơ đậu phộng

Bơ đậu phộng rất nhiều chất béo và protein. Đó là một thực phẩm năng lượng tuyệt vời và sẽ giúp bé tăng cân. Bánh bơ đậu phộng là một ý tưởng hay cho bé.

Pho mát
cheese-31
Pho mát là một thực phẩm tuyệt vời để giúp con bạn tăng cân. Pho mát trắng thường tốt hơn so với pho mát màu vàng hoặc màu da cam về mặt dinh dưỡng. Món ăn cho bé của bạn có thể bao gồm pho mát và bánh quy giòn hoặc pho mát với quả táo, kem pho mát phết lên bánh mì tròn hay kết hợp với trái cây …

Lưu ý

Bạn hãy lưu ý rằng, trên thực tế có nhiều trẻ lớn tuổi hơn, tăng cân chậm và một số trẻ thậm chí còn có thể sụt cân khi chúng bắt đầu biết đi do chúng tốn nhiều calo, vì vậy bạn cũng không cần quá lo lắng.

Ngoài ra, cũng có nhiều lý do khiến trẻ chậm tăng cân vì thế bạn nên đưa trẻ tới bác sĩ nhi khoa để loại trừ bất kỳ loại bệnh nào trẻ có thể mắc cũng như các vấn đề di truyền…

Theo xinhxinh

Uống gì để giải nhiệt và phòng bệnh cho trẻ

 Những đồ uống tuyệt vời dưới đây vừa bổ dưỡng, giải nhiệt và giúp phòng chống bệnh tật, lại vừa giúp trẻ khá thích thú khi uống trong mùa hè.
Nước chanh gừng

Đây là một thức uống vừa đơn giản lại khá thơm ngon và có giải nhiệt, chống rôm sảy mùa hè cho trẻ. Để tạo ra thứ nước uống này, bạn nên đập thêm một chút gừng tươi vào cốc nước chanh sẽ làm tăng thêm hương vị thơm ngon và khiến trẻ thích thú khi uống chúng.

Dâu tây và dưa hấu

dautay.jpg4
Nếu em bé nhà bạn thích ăn hoa quả, tại sao bạn lại không thử dầm cho trẻ mấy quả dâu tây thơm ngon và dưa hấu trộn lẫn trong những viên đá mát lạnh. Với cách chế biến đơn giản này nhưng sẽ mang lại hương vị tươi mới và giải khát cho bé nhà bạn trong hè. Nếu trẻ chuộng ngọt, bạn có thể cho thêm một chút đường vào trong thức uống này.

Cam và kem vani

Khi được thưởng thức đồ uống dậy hương thơm và ngọt ngào này, trẻ chắc chắn sẽ rất thích thú cho mà xem. Đây cũng được coi là thức uống mát lạnh và tuyệt vời cho bất cứ trẻ nhỏ nào để giải khát những ngày hè nóng nực lại tăng thêm sức đề kháng cho trẻ.

Nước ép cà rốt

Nước ép cà rốt có chứa carotenoids giúp bảo vệ tim mạch hữu hiệu cho bé. Nước ép cà rốt cũng điều chỉnh lượng đường trong máu, tăng cường thị lực cho mắt và xử lý các vấn đề về da mùa hè cho trẻ. Theo đó, bạn có thể xay cà rốt tươi với ít nước và nước trái cây để trẻ nhận được những lợi ích về sức khỏe.

Nước ép dưa chuột
Dưa chuột có chứa khoảng 96% lượng nước và là thức uống tuyệt vời giàu vitamin và chất chống oxy hóa. Nước ép dưa chuột cũng là một giải pháp tốt cho những em bé có vấn đề về dạ dày hoặc có vấn đề với tiêu hóa. Việc uống nước ép dưa chuột còn tốt cho mắt và da của trẻ.

Bạn có thể xay dưa chuột với một chút muối để sẵn sàng cho trẻ thưởng thức từng ngụm trong hè này.

Nước ép cà chua

Cà chua cũng là thực phẩm chứa nhiều vitamin, kali và sắt. Và nó cũng có thể là một thành phần tốt để làm thức uống giải nhiệt ngày hè cho trẻ. Bạn có thể lấy những quả cà chua, sau đó bỏ hạt và xay lên với một thìa đường.

Nước ép bí ngô
Bí đỏ là một trong những thực phẩm được sử dụng như một loại nước trái cây nổi tiếng trên toàn thế giới. Bí ngô rất giàu chất chống oxy hóa, vitamin và là một chất chống viêm rất tốt cho trẻ và chúng cũng là sản phẩm thay thế rất tốt cho da.

Theo Afamily

Có nên cho bé uống nhiều vitamin D?

 Mong bác sỹ tư vấn giúp chế độ dinh dưỡng của bé 9 tháng tuổi và việc uống vitamin D liều cao kéo dài có ảnh hưởng xấu đến khả năng ăn và hệ thần kinh của bé không?

Bé nhà em được 9 tháng, nặng 8.2 kg, dài 73.5 cm. Hiện bé đã mọc 2 răng, bò tốt và bắt đầu tập đứng, chơi ngoan nhưng lên cân chậm, hay bị táo bón, mồ hôi trộm rất nhiều (khi ngủ, nhiều khi ướt đầm gối), và ngủ ít (do bé rất ham chơi).

Chế độ dinh dưỡng của bé 1 ngày như sau:

Sáng: 200ml sữa ngoài + 100ml bột dielac (có thể thay bằng sữa khi bé lười ăn).

Trưa: 100ml cháo rau thịt/tôm/cá + 2g dầu ăn trẻ em

Chiều: 200ml – 250ml sữa

Tối: 100ml cháo rau thịt/tôm/cá + 2g dầu ăn trẻ em

Sau 8h: ăn hoa quả và sữa chua hoặc váng sữa (khoảng 70-80g) + 100ml sữa

Ngủ thẳng từ 12h đến 7h sáng hôm sau.

Em đã chú ý cho ăn nhiều rau hơn bình thường, các bữa ăn lượng rau như nhau nhưng có hôm vẫn bị táo, có hôm không. Cháo bé nhà em ăn là cháo nguyên hạt (tỉ lệ 1:7), em cũng chú ý nấu đủ 4 nhóm, cho bé ăn cả xác nhưng không hiểu sao bé lên cân không nhiều và vẫn bị còi xương. Một bữa bột bé chỉ ăn ngoan khoảng 100 – 120ml còn sau nhất định không ăn nữa nên em cũng không muốn ép.
vitamind
Hiện bé uống 6 giọt Aquadetrim/ngày (do bác sĩ Nhi quen bảo uống vậy do bé nhà em bị còi xương, thóp chưa liền và vòng sọ bị gồ) được hơn 2 tháng.
Mong bác sỹ tư vấn giúp chế độ dinh dưỡng của bé nhà em như vậy đã được chưa và việc uống vitamin D liều cao kéo dài như vậy có ảnh hưởng xấu đến khả năng ăn và hệ thần kinh của bé không ạ?

Chế độ ăn của cháu như vậy về số bữa ăn thì đủ nhưng lượng ăn cháo quá ít, mỗi bữa cháo cháu cần ăn 150 – 200ml, một bát cháo phải đủ 20 – 25g thịt, 5ml dầu (mỡ) và 20g rau xanh. Một ngày cháu cần ăn 3 bữa cháo và 600ml sữa. Chị nên cho bé ăn các loại rau có tính chất nhuận tràng như: mồng tơi, khoai lang, rau dền. Nên ăn sữa chua hàng ngày thì sẽ tốt cho tiêu hoá của cháu.
Còn vấn đề uống vitamin D cháu uống như vậy là quá nhiều, bình thường chỉ cần 4 giọt x 3 tuần sau đó phải giảm xuống 2 giọt/ngày thôi. Nếu bây giờ mùa hè tắm nắng được có thể cho tạm ngừng uống vitamin D. Thóp của cháu mới 9 tháng thì sao có thể liền được, phải sau 18 tháng thóp mới liền.

Theo sức khỏe

Trứng hấp bông cải xanh rất tốt cho bé

Chỉ mất 10 phút để hoàn tất bữa sáng cho bé nhà bạn. Món trứng hấp bông cải cùng ít thịt hay jăm bông lại rất giàu dinh dưỡng, cung cấp đủ chất và năng lượng cần thiết cho bé khi đến lớp.

Nguyên liệu:

– Vài quả trứng gà

– Bông cải xanh, xúc xích hoặc thịt nạc thăn/ức gà/ jăm bông tuỳ thích
trunghapbongcaixanh-0d84c
Cách làm:

– TRứng gà chỉ lấy lòng trắng, đánh nhẹ cho tan

– Bông cải xanh cắt nhỏ, luộc qua

– Xúc xích hay thịt nên rán/xào qua trước cùng chút dầu ăn, gia vị cho vừa miệng

– Cho bông cải, xúc xích hay thịt vào âu có nắp đậy, dùng được trong lò vi sóng. Tiếp đến cho lòng trắng trứng vào, có thể rắc theme ít hành lá. Đậy nắp và cho vào lò vi sóng khoảng 3 phút là món ăn hoàn tất.

– Khi ăn khéo léo dùng thìa hay dao xắn xung quanh, úp ngược “bánh trứng” ra đĩa.

– Món trứng hấp này có thể ăn không hoặc ăn kèm vài lát bánh mì.

Theo dân việt

Trộn sữa vào bột cho bé như thế nào?

Con gái em mới được 6 tháng 2 ngày, khi sinh cháu được 3 kg, hiện nay được 7,2kg. Cháu đã ăn bột, vì mỗi lần ăn cháu ăn rất ít chỉ khoảng 80ml nên chia làm 6 bữa trong ngày. Cháu vẫn bú mẹ nhưng chỉ được buổi trưa và tối mẹ đi làm về, mẹ cũng ít sữa nên bé không được bú nhiều nhưng không chịu ăn sữa ngoài, mỗi lần ăn chỉ được 30ml, ngày khoảng 3 lần.
tron-sua-bot
Em đã đổi nhiều loại sữa nhưng bé vẫn không chịu ăn. Hiện tại thì em chỉ cho bé ăn hoa quả chín chứ chưa cho ăn váng sữa. Vậy bé nhà em có bị suy dinh dưỡng không ạ. Bác sĩ có thể cho em xin bảng tiêu chuẩn phát triển của bé được không ạ. Em xin chân thành cảm ơn. (quynhltt@seatechit.com.vn)

Hiện nay cân nặng của bé là bình thường, không bị suy dinh dưỡng, nếu cháu không chịu ăn sữa ngoài em có thể trộn sữa bột vào các bữa bột cho bé, kể cả bột nấu với thịt, cá, tôm, trứng. Mỗi 50ml bột trộn thìa trong hộp sữa, trộn lúc bột đã nguội chuẩn bị cho bé ăn. Ở tuổi này cháu ăn được cả váng sữa, sữa chua rồi, em nên cho bé ăn mỗi ngày 1 – 2 hộp sữa chua.
Bảng tăng trưởng cháu có thể vào mạng vào google “chuẩn tăng trưởng của WHO 2007” là có.

BS Lê Thị Hải – Viện Dinh dưỡng Quốc gia

Sốt ở trẻ sơ sinh – Những điều cần biết

 Sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Dưới 3 tháng tuổi là giai đoạn vô cùng nhạy cảm đối với sức khỏe của trẻ, vì đây là giai đoạn sức đề khàng của bé rất yếu. Dễ bị nhiễm các bệnh lây nhiễm. Và sốt là triệu chứng quan trọng cảnh báo nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm ở bé. Viet-Care sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Sốt là gì ?

Sốt được định nghĩa là nhiệt độ ơ thể tăng lên ít nhất 1 ( 0,5 độ với trẻ dưới 3 tháng tuổi ) độ so với mức bình thường 37 độ. Nhiệt độ của trẻ thường chênh nhau khoảng 2 độ, phụ thuộc vào nhiệt độ xung quanh bé, độ dày quần áo, mức độ áp lực hay mức độ hoạt động trong ngày. Nếu bé dưới 3 tháng tuổi nhiệt độ của bé lớn hơn 37,5 độ bạn cần đưa bé đến bác sỹ để kiểm tra.

Yếu tố nào gây sốt ?

Hầu hết các trường hợp sốt là biểu hiện của cơ thể chống lại sự lây nhiễm của vi khuẩn hoặc virus cấp tính. Sự tăng nhiệt độ tạo ra môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn hoặc virus xâm nhập. Đồng thời sản sinh các tế bào bạch cầu chống lại bệnh.

Sốt ở bé sơ sinh thường đi kèm những chứng bệnh khác như đau họng, cảm, nhiễm trùng tai; thỉnh thoảng, sốt là triệu chứng của một loại bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.
sot -so-sinh
Tại sao bé hay bị sốt ?

Hệ thống kiểm soát thân nhiệt của bé vẫn chưa hoàn thiện. Bé thường bị sốt do một số nguyên nhân thường thấy sau :

– Virus : Phần lớn sốt là do vi khuẩn hoặc virus nào đó gây ra. Sốt có nhiệm vụ giúp cho cơ thể chiến đấu với vi khuẩn, virus bằng cách kích thích cơ chế phòng vệ tự nhiên.

– Mất nước : Một số bé không nhận đủ sữa mẹ thân nhiệt tăng cao, gây sốt. Điều này thường xuất hiện ở ngày thứ 2-3 sau khi chào đời. Bé có thể bị mất nước do bú kém, sốt cao, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục.

– Mặc quá nhiều quần áo : Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, rất dễ bị sốt nếu được ủ quá kín hoặc ở trong một môi trường nóng. Nguyên nhân là do các bé chưa thể tự điều tiết thân nhiệt.

– Tiêm chủng : Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thỉnh thoảng bị sốt nhẹ sau khi tiêm phòng.

Triệu chứng của sốt như thế nào ?

Bản thân sốt không phải là bệnh mà là phản ứng của cơ thể trẻ với các tác nhân gây bệnh. Bạn hãy gọi cho bác sĩ ngay khi thấy trẻ dưới 3 tháng tuổi có thân nhiệt tăng trên 37,5 độ C hoặc trẻ từ 3-6 tháng tuổi có thân nhiệt 38 độ C. Nếu trẻ sốt kèm theo các dấu hiệu khác như: phát ban, khó chịu, bú kém, khó thở, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục, có biểu hiện mất nước hoặc hôn mê cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện để được các bác sĩ chữa trị kịp thời.

Biểu hiện của bệnh tiêu chảy:

Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Nếu phát hiện trẻ đi tiêu có máu trong phân (màu máu có thể đỏ tươi hoặc sẫm, đen), trẻ đi phân lỏng hơn 6 lần/ngày hoặc có dấu hiệu mất nước, phải đưa trẻ đến bác sĩ ngay.

Trẻ bị nôn mửa:

Trẻ nhỏ “nôn ọe” một, hai lần thì không gây nguy hiểm. Nhưng nếu triệu chứng này xảy ra thường xuyên thì cũng là dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt khi trẻ nôn ra dịch màu xanh hoặc có máu.

Trẻ cảm thấy khó thở:

Nếu thấy trẻ có biểu hiện khó thở, bạn cũng nên gọi cho bác sĩ ngay lập tức.

Dấu hiệu trẻ khó thở:

– Trẻ thở gấp, nhịp thở nhanh hơn bình thường.

– Quan sát phần giữa xương sườn hoặc phần bụng trên có bị lõm khi trẻ hít vào không.

– Trẻ thở ra hổn hển.

– Đầu trẻ gật gù.

– Môi và da tái nhợt.

Rốn đỏ, rỉ dịch và chảy máu:

Khi thấy chỗ rốn hoặc dương vật của bé đỏ lên, rỉ dịch hay chảy máu, bạn cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay vì thường đó là những dấu hiệu nhiễm trùng.

Trẻ bị phát ban:

Phát ban cũng là dấu hiệu phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng hết sức lưu ý khi triệu chứng nổi mẩn đỏ trên vùng da rộng, đặc biệt là trên mặt, hoặc đi kèm với biểu hiện sốt, rỉ dịch, chảy máu, sưng…

Cảm lạnh:

Đa số trẻ sơ sinh hay bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nguyên nhân do virus. Các triệu chứng liên quan khi nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc cảm lạnh thường là: bé sốt, kén ăn trong vài ngày đầu, sổ mũi kéo dài 1-2 tuần, triệu chứng ho có thể đến 2-3 tuần sau mới khỏi.

Theo dõi trẻ, nếu thấy các triệu chứng trên ngày càng trở nên nghiêm trọng thì bạn cần đưa trẻ đến bác sĩ để được chăm sóc và điều trị.

Điều trị như thế nào ?

Khi trẻ bị sốt nhẹ:

Cho trẻ mặt quần áo thoáng hoặc chỉ cần cởi bớt quần áo theo dõi thân nhiệt mỗi 4 giờ và cho trẻ bú sữa mẹ hoặc uống nhiều nước.

Với bé dưới 1 tháng tuổi, bạn không nên tự ý cho bé uống bất kỳ thuốc giảm đau, hạ sốt nào, thay vào đó, bạn nên đưa bé đi khám nếu bé có dấu hiệu sốt. Bạn cũng có thể lau người cho bé bằng nước ấm nhưng không nên pha thêm cồn vào nước.

Trong khoảng thời gian bé bị sốt kéo dài, bạn vẫn nên cho bé “ti mẹ” như bình thường. Khi bé xuất hiện các dấu hiệu bị mất nước như khô miệng, đi tiểu ít, ít nước mắt, mắt bị trũng xuống, bạn nên đưa bé đi khám vì bé có thể được bác sĩ chỉ định truyền chất điện phân để bổ sung lượng nước đã mất.

Nếu bé bị sốt do nhiễm trùng, bé sẽ xuất hiện các dấu hiệu nặng của bệnh rất nhanh. Đó là lý do vì sao bạn nên đưa bé đi khám càng sớm càng tốt.

Lưu ý khi cặp nhiệt độ cho bé :

Với bé sơ sinh, cha mẹ nên dùng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc hậu môn. Nên sử dụng loại nhiệt kế điện tử thay vì loại thủy ngân vì nhiệt kế thủy ngân dễ bị vỡ, gãy trong quá trình sử dụng. Nhiệt kế điện tử rất dễ đọc kết quả vì phần đuôi của loại nhiệt kế này sẽ hiển thị số đo nhiệt độ, như trên đồng hồ điện tử. Phần lớn các loại nhiệt kế điện tử sẽ cho kết quả tương đối chính xác trong vòng vài chục giây đến hai phút sau đó.

Đo nhiệt độ ở nách: Cách này đơn giản hơn cách đo ở hậu môn nhưng nhược điểm của nó là dễ bị sai số (có thể thấp hơn nhiệt độ ở hậu môn khoảng 0,5ºC). Nếu muốn dùng nhiệt độ cặp nách cho bé, cha mẹ nên chú ý những điểm sau:

– Trước khi cặp nhiệt độ, cha mẹ nên lau khô nách cho bé để nhiệt kế được tiếp xúc trực tiếp với da.

– Kẹp đầu nhọn của nhiệt kế vào nách bé; sau đó, bạn nên giữa cánh tay đang cặp nhiệt độ của bé áp sát dọc theo cơ thể. Đảm bảo rằng, đầu nhọn của nhiệt kế nằm hoàn toàn trong nách của bé.

– Đợi khoảng 1-2 phút trước khi bạn rút nhiệt kế ra khỏi nách bé và bắt đầu đọc kết quả. Nhiệt kế điện tử thường có dấu hiệu thông báo khi nó đã thực hiện xong nhiệm vụ.

Hai phương pháp đo nhiệt độ không an toàn cho trẻ sơ sinh : Nhiệt kế đo ở miệng vì bé khó giữ yên nhiệt kế dưới lưỡi trong một khoảng thời gian nhất định; Nhiệt kế đo ở tai.

Lưu ý : Hãy đưa ngay bé tới các cơ sở y tế để khám ngay khi thấy xuất hiện dấu hiệu của sốt để bé được chăm sóc tốt nhất.

Theo báo sức khỏe

Bệnh ho gà ở trẻ sơ sinh

Bệnh ho gà là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, gây dịch, phổ biến ở trẻ em, lây theo đường hô hấp. Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là những cơn ho dữ dội, đặc biệt điển hình với nhiều biến chứng xảy ra.

Đây là một bệnh lưu hành ở mọi nơi trên thế giới. Ở nước ta, khi chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) chưa được triển khai thì bệnh ho gà thường xảy ra ở trẻ em và xuất hiện quanh năm. Sau năm 1986, Chương trình TCMR được phát triển rộng khắp cả nước và tất cả trẻ dưới 1 tuổi được gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vaccin DTP (bạch hầu, uốn ván, ho gà).
benh ho ga o tre so sinh
Sau nhiều năm liền tiêm vaccin DTP, tỷ lệ mắc và chết của bệnh ho gà đã giảm rõ rệt. Hiện nay bệnh ho gà vẫn còn tản phát ở nhiều nơi và vẫn còn xảy ra dịch nhỏ ở địa phương.

Tác nhân gây bệnh ho gà là trực khuẩn ho gà Bordetella pertussis. Bệnh lây truyền từ người bệnh sang người lành bằng đường hô hấp qua các giọt chất tiết ra từ miệng có chứa vi khuẩn ho gà. Không có người lành mang vi khuẩn hoặc người khỏi bệnh mang vi khuẩn.

Vi khuẩn ho gà có sức đề kháng rất yếu, bởi vậy sự lây truyền là do tiếp xúc trực tiếp, nhất là những người sinh hoạt trong cùng một không gian khép kín lâu dài như hộ gia đình, trường học. Mọi lứa tuổi đều có thể bị ho gà, nhưng trẻ em từ 1-6 tuổi dễ bị hơn. Trẻ càng nhỏ tuổi, bệnh càng nặng.

Biểu hiện của bệnh

Bệnh khởi phát có thể không có sốt hoặc sốt nhẹ (37oC – 38oC), với các triệu chứng viêm long đường hô hấp (ho khan, hắt hơi, chảy nước mũi, đau rát họng). Ho tăng dần thành cơn, hay gặp về đêm.

Ở thời kỳ toàn phát, xuất hiện các cơn ho gà điển hình. Cơn ho xuất hiện đột nhiên vô cớ sau các kích thích, cả ngày và đêm nhưng hay gặp ho nhiều về đêm. Mỗi cơn ho điển hình trải qua 3 giai đoạn. Trẻ ho rũ rượi từng chuỗi liên tục, không tự kìm hãm được. Mỗi chuỗi 15-20 lần ho liên tục, càng về sau càng yếu và giảm dần. Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ ngầu, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt, nước mũi. Cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi chuỗi tiếp theo, trẻ thở rít vào thật dài nghe như tiếng gà rít.

Các cơn ho cứ liên hồi cho tới khi trẻ nôn hoặc khạc được đờm trắng trong, dính như lòng trắng trứng, trong đó có trực khuẩn ho gà. Sau mỗi cơn ho, trẻ mệt mỏi bơ phờ, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh. Phải mất ít phút, trẻ mới trở lại chơi bình thường. Các cơn ho có thể làm mặt nặng, loét dây hãm lưỡi. 3 tuần sau khi cơn ho xuất hiện, bệnh phát triển tới cực độ và giữ nguyên ở mức đó trong một thời gian tùy từng trường hợp, rồi bệnh lui dần (các cơn ho giảm, thời gian ho ngắn dần, khạc đờm ít sau đó hết dần).

Điều trị

Về nguyên tắc, dùng kháng sinh; điều trị triệu chứng (ho, khó thở) và điều trị biến chứng. Bệnh nhi cần được quan tâm chăm sóc và cho chế độ dinh dưỡng hợp lý. Trong cơn ho phải để trẻ ở tư thế ngồi để tránh trào đờm dãi vào phổi, trẻ nhỏ phải cho nằm nghiêng để dễ móc đờm dãi. Cho trẻ ăn thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu, chia thành nhiều bữa. Trẻ còn bú, tiếp tục cho bú.

Phòng bệnh

Thực hiện cách ly đường hô hấp đối với bệnh nhân, những trường hợp nghi ngờ. Thời gian cách ly thường ở trong khoảng 3 tuần kể từ khi xuất hiện viêm long. Gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vaccin DTP cho trẻ dưới 1 tuổi, theo lịch tiêm chủng của Chương trình TCMR quốc gia:

Liều 1: khi trẻ được 2 tháng tuổi;

Liều 2: khi trẻ được 3 tháng tuổi;

Liều 3: khi trẻ được 4 tháng tuổi.

Theo báo sức khỏe

Viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

TS. Lê Thanh Hải, Phó GĐ BV Nhi T.Ư cho hay, viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh là bệnh rất hay gặp trong thời tiết giao mùa. Đáng nói là nhiều bậc phụ huynh không biết chăm sóc đúng cách đã khiến bé bị biến chứng nặng nề, gây suy hô hấp.

Dùng thuốc bừa bãi, bệnh nhẹ thành nặng

Chị Nguyễn Thị Loan (Thanh Xuân, Hà Nội) sinh con được 24 ngày thì bé có dấu hiệu ngạt, xổ mũi và ho.

Chị cho con đi khám ở một phòng mạch tư, bác sĩ chẩn đoán là chớm viêm phổi, cho dùng thuốc kháng sinh Zinnat cùng thuốc long đờm Exomuc. Uống thuốc được 3 ngày thì các triệu chứng ho, ngạt mũi giảm. Sau 6 ngày dùng thuốc, bé đã bú nhiều hơn rồi bệnh cũng khỏi hẳn.
viem-tieu-phe-quan-o-tre-so-sinh
Đến khi được 4 tháng, bé lại có những triệu chứng như lần bệnh trước. Sẵn đơn thuốc cũ, chị Hải cho con uống nhưng sau 3 ngày, bệnh không thuyên giảm mà còn có dấu hiệu nặng hơn. Đến bệnh viện, bác sĩ khám và phát hiện cháu bị viêm tiểu phế quản do vi rút, dùng kháng sinh ngay khi mới bị không mang lại hiệu quả cao.

TS. Lê Thanh Hải cho biết, lạm dụng thuốc trong điều trị căn bệnh này không phải là hiếm. Không chỉ các bậc phụ huynh tự ý cho con dùng thuốc, mà ở các tuyến cơ sở, không ít bác sĩ cũng cho bé dùng kháng sinh khi có dấu hiệu ho, xổ, ngạt mũi. Lạm dụng kháng sinh khi mới bị viêm tiểu phế quản thường không mang lại kết quả điều trị như mong muốn.

Dấu hiệu đặc trưng

BS Hải cho hay, căn bệnh này hay gặp ở trẻ bú mẹ và rất dễ nhầm với các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp khác.

Khi bị viêm tiểu phế quản, trẻ thường ho, hắt hơi, xổ mũi nước trong, sốt nhẹ hoặc không sốt. Các bậc phụ huynh cần lưu ý, sốt không phải đặc trưng của căn bệnh. Vì trên thực tế, rất nhiều trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản không hề có biểu hiện sốt, nếu có, chỉ sốt rất nhẹ.

Triệu chứng ho có thể ngày càng nặng và xuất hiện thở khò khè, nhất là về nửa đêm, gần sáng. Khi phát bệnh, cơn ho tăng và trẻ càng khó thở. Khi đó, trẻ sẽ ăn kém đi, hay nôn trớ. Bệnh nặng hơn khi trẻ có dấu hiệu thở hổn hển, ăn kém và tỏ ra rất mệt mỏi, không muốn trò chuyện, chơi đùa.

Điều trị

Bệnh khởi đầu không dùng kháng sinh, chủ yếu là làm long đờm, ăn uống đủ. Nếu được chăm sóc tốt ngay từ đầu, nhiều trường hợp sau vài ngày sẽ tự khỏi.

Những trường hợp gây biến chứng nặng làm bít tắc đường thở, biểu hiện đứa trẻ thở mệt nhọc, ăn uống kém, nôn trớ nhiều thì cần đưa ngay đến viện khám để được điều trị thích hợp.

Trong trường hợp bị bội nhiễm gây sốt, đờm dãi đậm đặc, bác sĩ sẽ có chỉ định dùng kháng sinh.

Khi bé mới có dấu hiệu của bệnh, điều quan trọng là nâng cao thể lực của trẻ và trị các triệu chứng bằng nhiều cách. Trước hết phải cho trẻ tăng cường bú mẹ. Với những trẻ đã ăn dặm, nên cho ăn loãng hơn, uống thêm nước theo nhu cầu, có thể là nước lọc, nước ép hoa quả, nước cháo…

Cho trẻ ăn thức ăn dễ tiêu, làm thành nhiều bữa nhỏ trong ngày. Lưu ý, trước khi cho trẻ ăn cần làm thông thoáng mũi họng bằng nước muối sinh lý, nhỏ mỗi lần 5-6 giọt, ngày 5-6 lần hoặc hơn. Sau khi nhỏ muối sinh lý, đợi 1 lúc để nước mũi loãng ra rồi dùng dụng cụ hút sạch mũi, hoặc có thể dùng miệng để hút mũi trẻ.

Nếu trẻ bị sốt, không nên ủ trẻ quá ấm. Mặc vừa đủ, dùng nước ấm chườm vào nách, cổ, bẹn. Nếu sốt trên 38,5 độ có thể cho trẻ uống paracetamol để hạ sốt nhưng cần chú ý liều lượng phù hợp với trọng lượng cơ thể.

“Tuy là bệnh thông thường, nhưng do thường gặp ở trẻ sơ sinh đang còn bú mẹ nên cũng không thể chủ quan. Cần đưa ngay trẻ đến viện khi có dấu hiệu suy hô hấp, biểu hiện là cánh mũi thở phập phồng. Trẻ thở mạnh khiến bụng hóp sâu và nhịp thở nhanh hơn, trên 50-70 lần/phút” – BS. Hải cảnh báo.

Để phòng bệnh, cha mẹ cần vệ sinh mũi họng, cơ thể sạch sẽ cho trẻ hàng ngày. Vệ sinh phòng ngủ, chăn ga, gối đệm, đảm bảo phòng thông thoáng. Người lớn không hút thuốc trong nhà. Mẹ trước khi cho con ăn cần rửa tay sạch sẽ. Trong gia đình có người bị bệnh hô hấp cần tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh.

Theo dân trí

Bệnh mềm sụn thanh quản ở trẻ sơ sinh

 Mềm sụn thanh quản là một bất thường bẩm sinh sụn thanh quản dùng để mô tả trường hợp mô nâng đỡ các cấu trúc giải phẫu phía trên thanh quản gồm nắp thanh quản và sụn phễu chưa phát triển kịp khiến các cấu trúc này sa vào đường thở của trẻ tạo nên tiếng thở khò khè.

Đặc điểm bệnh lý Mềm sụn thanh quản là khiếm khuyết bẩm sinh hay gặp nhất ở vùng thanh môn và thanh quản.

Mềm sụn thanh quản chủ yếu xảy ra ở sụn nắp thanh môn và sụn phễu hoặc cả 2 cấu trúc trên. Khi sụn nắp thanh môn mềm, nó thường bị kéo dài và xếp nếp. Nếu nhìn nghiêng thì sụn nắp thanh môn bệnh lý này giống chữ omega (Ω) và được gọi là nắp-thanh-môn-hình-chữ-omega.
Baby Laughing
Nếu sụn phễu bị mềm thì nó sẽ bị phình ra . Trong cả hai trường hợp thì các mô sụn nói trên sẽ phập phều và qua nội soi thanh quản sẽ thấy các sụn này bị sẽ bị ép và sa vào che lấp phần trên thanh môn khi trẻ hít vào. Nghẽn tắc đường thở trong thì hít vào như vậy sẽ gây nên một tiếng thở rít khi hít vào và có âm sắc cao gọi là tiếng thở khò khè thì hít vào.

Mềm sụn thanh quản là nguyên nhân gây khò khè kéo dài hay gặp nhất ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Trẻ bị mềm sụn thanh quản dễ bị trào ngược dạ dày-thực quản (ọc sữa) do nghẽn tắc một phần thanh môn trong thì hít vào và khi trẻ cố sức hít vào sẽ làm tăng áp suất âm trong lồng ngực quá mức khiến thức ăn trong dạ dày ở khoang bụng trẻ dễ bị trào ngược lên thực quản (phần đường tiêu hóa nằm trong lồng ngực). Ngược lại, trẻ bị trào ngược dạ dày-thực quản nặng sẽ có các thay đổi về mặt cấu trúc bệnh học tương tự như mềm sụn thanh quản, đặc biệt là sưng và phình sụn phễu.

Đôi khi quan sát được những thay đổi viêm ở thanh quản gọi là viêm thanh quản do trào ngược.

Do bệnh thường liên quan đến sụn nắp thanh môn nên khi đặt trẻ nằm ngửa, dưới tác dụng của trọng lực sẽ làm nắp thanh môn sa vào đường thở nhiều hơn và làm cho trẻ khò khè nhiều hơn.

Người ta chưa rõ nguyên nhân tại sao gây ra mềm sụn thanh quản, có lẽ do vùng thần kinh điều khiển trương lực đường hô hấp chưa phát triển.

Tỉ lệ tử vong / Diễn tiến trầm trọng : Rất hiếm,có thể gây ra thiếu oxy máu và ngạt nhẹ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển bình thường của trẻ. Trong trường hợp nặng có thể kèm theo trào ngược dạ dày-thực quản và khi cho trẻ bú dễ bị sặc sữa hay ói ra sữa vón cục.

Tuổi: Mặc dù đây là khiếm khuyết bẩm sinh nhưng khởi phát triệu chứng ở tuần 4-6 sau sinh vì trẻ dưới tuổi này lưu lượng khí hít thở chưa đủ mạnh để gậy ra tiếng khò khè.

Bệnh cảnh lâm sàng:

• Bệnh cảnh thường gặp là trẻ bắt đầu thở khò khè khi được 2 tháng tuổi, điển hình là lúc 4-6 tuần tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện vào 2-3 tháng tuổi cho đến trước thôi nôi.

• Cơn thở khò khè ngắt quãng khi hít vào. Tiếng thở khò khè lúc đầu dễ lầm tưởng là trẻ bị nghẹt mũi, tuy nhiên nó kéo dài và không có chất nhầy trong mũi của trẻ. Âm sắc của tiếng thở khò khè của trẻ có thể cao giống như tiếng rít.

• Khò khè tăng khi đặt trẻ nằm ngửa, lúc trẻ bứt rứt quấy khóc, hoặc khi có viêm đường hô hấp trên kèm theo. Nhiều trường hợp khò khè trong và sau khi trẻ bú.

• Trừ những lúc có viêm thanh quản kết hợp, nói chung trẻ vẫn chơi và bú như bình thường.

Các triệu chứng sẽ tăng nặng trong vòng vài tháng đầu , thường là từ 4-8 tháng tuổi. Đa số trẻ bị mềm sụn thanh quản sẽ hết các triệu chứng khi được 12-18 tháng.

Các triệu chứng khác có thể kèm theo như:

– Chậm lên cân

– Bú khó

– Ói ọc sữa

– Sặc sữa

– Ngưng thở

– Co kéo lồng ngực khi hít vào

– Tím tái

– Ói ọc dịch chua trong dạ dày

Phân loại:

Nhẹ: Thở khò khè thì hít vào không có biến chứng nghẽn tắc đường thở nghiêm trọng, không ảnh hưởng trẻ bú và không có các triệu chứng khác kèm theo.

Các trẻ này thường hay quấy khóc bảo mẫu nhưng không có vấn đề nào khác ảnh hưởng đến sức khỏe và thường tự khỏi sau 12-18 tháng tuối. Nếu trẻ bị mềm sụn thanh quản nhẹ thì bạn vẫn rất cần quan tâm theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng diễn tiến xấu để kịp thời mang trẻ đến cơ sở y tế.

Vừa: Trẻ được xếp vào loại này khi có các triệu chứng sau:

– Khò khè khi hít vào

– Ói ọc sữa

– Nghẽn tắc đường thở (do thanh quản mềm)

– Bú khó nhưng không ảnh hưởng tăng cân đều đặn của trẻ

– Có tiền sử nhập viện nhiều lần vì nghẽn tắc đường thở

– Trào ngược dạ dày – thực quản (ói ọc dịch chua trong dạ dày)

Các trẻ này cũng tự khỏi sau từ 12-18 tháng tuổi nhưng có thể cần phải điều trị chứng trào ngược dạ dày – thực quản. Ngay cả khi trẻ được xếp vào nhóm bệnh vừa thì bạn vẫn rất cần quan tâm theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng diễn tiến xấu để kịp thời mang trẻ đến cơ sở y tế.

Nặng: Trẻ xếp loại này thường có thể cần phải được phẫu thuật để chữa trị. Các bác sĩ sẽ đề nghị mổ nếu trẻ có bất kỳ triệu chứng sau:

– Khó thở đe dọa tính mạng

– Có các cơn tím tái nặng

– Không lên cân được vì bú khó

– Co kéo lồng ngực và cổ nặng khi thở

– Cần phải thở oxy

– Bệnh lý tim phổi gây ra do tình trạng thiếu oxy kéo dài

Các xét nghiệm và thủ thuật để chẩn đoán

Điều trị

Chăm sóc nội khoa:

• Trên 99% sẽ dần dần tự khỏi mà không cần điều trị, hầu như đa số sẽ hết khò khè khi được 2 tuổi. Tiếng khò khè sẽ tăng trong 6 tháng đầu sau sinh vì lượng khí trẻ hít thở sẽ tăng theo tuổi. Sau tuổi đó tiếng khò khè không tăng nữa và giảm dần rồi biến mất. Nhiều trường hợp, các triệu chứng biến mất nhưng đặc điểm bệnh học vẫn còn kéo dài cho đến lớn và trẻ có thể bị khò khè trở lại khi gắng sức hay thỉnh thoảng khi bị nhiễm virus đường hô hấp.

• Nếu trẻ khò khè quấy khóc nhiều hơn khi ngủ thì có thể đặt trẻ nằm sấp và nên cẩn thận tránh đặt trẻ nằm trên nệm quá mềm và nên thận trọng vì mền gối có thể bít mặt mũi bé gây ngạt.

• Khi trẻ bị thiếu oxy nặng cần phải nhập viện để đo nồng độ oxy máu. Nếu nồng độ oxy máu trong lúc nghỉ <90% thì trẻ sẽ được cho thở oxy.

• Nếu trẻ vẫn bú được, chơi được, tăng cân bình thường, chỉ có thở khò khè trong 2 tháng đầu sau sinh thì không cần xử trí gì thêm. Mềm sụn thanh quản là một chẩn đoán thường gặp và bác sĩ sẽ trấn an cha mẹ của trẻ về tính chất dạng bệnh này.

• Nếu chưa rõ chẩn đoán hoặc nếu cha mẹ chưa hoàn toàn yên tâm thì bác sĩ sẽ cho trẻ nhập viện để nội soi chẩn đoán.

Phẫu thuật:

• Đối với những trường hợp mềm sụn thanh quản nặng gây trẻ khó bú, kém tăng cân và phát triển, có thể dùng phẫu thuật.

• Phẫu thuật chỉ đơn giản chủ yếu là tạo hình các cấu trúc nâng đỡ quanh nắp thanh quản, lấy đi những phần mô thừa gây tắc khí đạo.

Rất hiếm khi phải áp dụng phẫu thuật để điều trị mềm sụn thanh quản. Nếu trẻ đã được phẫu thuật rồi thì vẫn nên tiếp tục điều trị trào ngược dạ dày thực quản và các bậc cha mẹ vẫn rất cần theo dõi các dấu hiệu chuyển biến xấu để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Ăn uống : Không cần kiêng cữ thức ăn nào hết.

Hoạt động thể chất: Không cần hạn chế hoạt động thể chất của trẻ

Nhập viện:

• Không cần thiết trừ khi trẻ có dấu hiệu thiếu oxy hay ngưng thở.

• Nếu độ bão hòa oxy máu cao hơn 90% thì không cần thở oxy

Điều trị ngoại trú:

• Không cần cho trẻ uống thêm thuốc gì khác.

• Tái khám theo chỉ định của bác sĩ nếu có

• Vẫn tiêm phòng cho trẻ bình thường như các trẻ khác .

Phòng ngừa: Bệnh này không phòng ngừa được và cũng không có yếu tố gia đình.

Biến chứng: Hạ oxy máu & cần thở thêm oxy

Các dấu hiệu cha mẹ nên theo dõi khi trẻ bị mềm sụn thanh quản:

Mang trẻ đến bệnh viện khi có các triệu chứng sau:

– Ngưng thở trên 10 giây

– Thở khò khè + tím tái quanh môi

– Co kéo lồng ngực và cổ không bớt khi bạn xoay trẻ lại hoặc bế trẻ lên

Báo cho bác sĩ biết khi trẻ có các dấu hiệu sau:

– Trẻ khó nuốt và ói ọc liên tục

– Trẻ đứng hay sụt cân

– Trẻ bú kém và bỏ bú giữa chừng

– Trẻ có dấu hiệu sặc sữa

– Trẻ khó thở khi bú

Theo báo sức khỏe

Những bệnh về mắt ở trẻ sơ sinh

Mắt trẻ sơ sinh vốn mỏng manh, nếu không biết cách chăm sóc, theo dõi đúng cách có thể sẽ để lại những hậu quả thật đáng tiếc…

Những bệnh lý thường gặp

Trong những lần khám thai định kỳ, bác sĩ sẽ tập trung hướng dẫn những điều quan trọng cho các bà mẹ. Chuyện chăm sóc mắt trẻ thơ ra sao ít vị quan tâm, vị nào chu đáo hơn thì nói qua loa… Bạn cần có những kiến thức cơ bản về các bệnh mắt ở trẻ sơ sinh để xử trí kịp thời.

– Viêm kết mạc: thường xảy ra ở trẻ sơ sinh. Phát hiện được là đưa trẻ tới bệnh viện chuyên khoa trị ngay.

– Viêm kết mạc do hóa chất: thường xảy ra 24-48 giờ đầu sau sanh. Bệnh thường tự khỏi sau 48-72 giờ. Bệnh này do kết mạc mắt phản ứng với nitrat bạc – thuốc nhỏ mắt phòng ngừa viêm kết mạc do lậu cầu khuẩn.
mot-so-benh-ly-ve-mat-thuong-gap-o-tre-so-sinh
– Viêm kết mạc lậu: do lậu cầu lây từ mẹ sang con trong giai đoạn xổ thai, biểu hiện sau sinh từ 3-5 ngày. Ban đầu, mắt trẻ tiết dịch lẫn máu, về sau mi mắt sưng đỏ tiết ra mủ. Có thể phòng ngừa hữu hiệu bệnh này bằng cách nhỏ nitrat bạc sau sinh, 1 giọt/lần/mắt. Khi mắt trẻ nhiễm bệnh, muốn trị tận gốc phải trị cả cha mẹ và bé. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể gây các biến chứng loét giác mạc, thủng giác mạc khiến trẻ bị mù.

– Viêm kết mạc do Chlamydia: bệnh lây từ mẹ sang con trong lúc mang thai. Khi nhiễm bệnh, sau sinh 5 ngày mắt sẽ tiết dịch, sau đó tiết ra mủ, 2 mắt sưng đỏ. Trị bằng Erythromycin và Teytacycline thuốc mỡ 1% bôi mắt 4-5 lần/ngày cho đến khi hết sưng đỏ.

– Viêm kết mạc do tụ cầu vàng: thường khởi phát sau 3 ngày tuổi, có thể chỉ một mắt bị bệnh, mủ không nhiều. Trị bệnh này bằng Teytacyline thuốc mỡ 1%, bôi mắt 4 lần/ngày, dùng trong năm ngày.

– Viêm kết mạc do virus: thường do Herpex simplex virus (HSV) gây nên. Trẻ nhiễm bệnh này từ mẹ, trong khi sanh. Bệnh phát trễ, thường từ 7-14 ngày sau sinh, có thể viêm ở một hoặc hai mắt. Nên cách ly bé với mẹ, dùng các thuốc kháng virus như Acyclovir (uống) và Nevirapin 3% thuốc mỡ bôi mắt 5 lần/ngày, trong vòng 10 ngày.

Lưu ý: Các viêm kết mạc, trừ viêm do hóa chất, có thể phòng ngừa hữu hiệu nếu người mẹ khám thai định kỳ thường xuyên.

– Đục thủy tinh thể bẩm sinh: tương đối hiếm gặp, nhưng thường trẻ sơ sinh bị nặng hơn người lớn và gây mù nếu không được điều trị sớm (mổ). Biểu hiện: đồng tử trắng đục một phần hoặc toàn phần, lé hoặc mù.

– Tăng nhãn áp bẩm sinh (glaucoma): là bệnh tăng áp lực trong mắt kết hợp với mất thị lực. Khi cả cha và mẹ đều bị bệnh này, thì con cũng có nguy cơ bị, thường ở cả hai mắt. Biểu hiện: hay chảy nước mắt, sợ ánh sáng, nhãn cầu to hơn trẻ bình thường. Cần đưa trẻ đi điều trị ngay mới có thể tránh mù vĩnh viễn.

– Bệnh võng mạc ở trẻ sơ sinh non tháng (ROP): là bệnh lý mạch máu ở võng mạc. Bệnh này thường gặp ở những trẻ sinh thiếu tháng, đặc biệt là những trẻ được cho thở oxy liều cao (nồng độ oxy trên 40%). Có thể phát hiện bệnh này sớm nhất lúc bé từ 6-8 tuần tuổi nhờ đèn soi đáy mắt. Chỉ phát hiện bệnh sớm mới hy vọng điều trị tốt, vì điều trị bệnh này rất phức tạp. Cho nên, ở trẻ sơ sinh thiếu tháng, chỉ nên cho trẻ thở oxy khi thật cần thiết, nếu lạm dụng thì nguy cơ bị ROP càng cao. Ngoài ra, nồng độ oxy cung cấp cho những trẻ này không nên vượt quá 40%, ngoại trừ các trường hợp bệnh lý nặng.

Lưu ý: Nên vệ sinh mắt trẻ sơ sinh bình thường trong tháng đầu bằng nước muối sinh lý NaCl 9%, liều: 1 giọt/mắt/lần sau khi tắm trẻ.

sưu tầm

Triệu chứng vặn mình, đỏ mặt ở trẻ sơ sinh

Con tôi sinh được 20 ngày, gần đây bé hay vặn mình trong lúc ngủ, hay lúc không ngủ bé cũng vặn mình (mỗi khi vặn mình mặt bé đỏ cả người) và bé không chịu ngủ trong khoảng thời gian từ 2 giờ đến 4 giờ sáng.

Những biểu hiện như thế của con tôi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của bé không ? biểu hiện trên thuộc bệnh lý gì ?

Bác sĩ có thể cho tôi lời khuyên và chỉ dẫn cho tôi hướng khắc phục hay đi khám ở phòng mạch nào. Rất mong nhận được sự tư vấn của Bác sĩ để bé có giấc ngủ ngon và không vặn mình trong lúc ngủ. (Lê Tấn Tài)

trieu chung van minh do mat

Trả lời

Triệu chứng vặn mình và đỏ mặt thường là sinh lý bình thường của trẻ sơ sinh trước 2 tháng tuổi, biểu hiện bé vặn người, đỏ mặt, triệu chứng kéo dài trong vòng vài phút và tự hết. Ngoài ra be vẫn biểu hiện bình thường, không khóc khó chịu, không ói, vẫn lên cân tốt.

Nếu triệu chứng do thiếu canxi máu, thì thường gặp hơn ở những bé sinh non, dinh dưỡng kém. Trẻ có biểu hiện dễ kích thích với tiếng động, hiếm hơn có khò khè, hoặc nôn ói. trẻ còi, chậm lên cân.

Nếu do trào ngược thức ăn từ dạ dày vào thực quản, thường trẻ sẽ có triệu chứng hay nôn ói, khó chịu và quấy nhiều ban đêm, có thể có khò khè hoặc viêm phổi tái đi tái lại.

Nói tóm lại, nếu con anh vẫn khỏe, vẫn lên cân tốt, thì triệu chứng vặn mình và đỏ mặt là sinh lý bình thường, sẽ tự hết khi bé được 2 – 3 tháng tuổi còn không ngủ vào lúc 2 -4 giờ sáng thì cha mẹ nên điều chỉnh giấc ngủ cho bé.

Trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ có giấc ngủ ngắn, thường 3 đến 4 tiếng sau cử bú, do vậy ba mẹ có thể điều chỉnh lại giờ đi ngủ cho bé.

Chúc cả nhà vui.

Theo báo sức khỏe

Ngăn ngừa hen suyễn cho con không khó

 Không phải ngẫu nhiên mà cứ vào tuần đầu tiên của tháng 5 hằng năm là Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lại nhắc nhở chúng ta hãy nâng cao ý thức phòng tránh hen suyễn bởi ngay một nước được tiếng hiện đại như Mỹ mà trong số hơn 300 triệu dân cũng đang có khoảng 22 triệu người mắc và mỗi năm, hen suyễn gây ra khoảng 5.000 ca tử vong cùng 2 triệu lần cấp cứu, 500.000 trường hợp nhập viện.

Ở nước ta, tuy chưa có số liệu điều tra toàn quốc nhưng số người mắc bệnh này chiếm khoảng 5% dân số. Điều đáng lo ngại nữa là tỉ lệ trẻ em nước ta mắc hensuyễn khá cao và theo chiều hướng tăng dần. Theo Bộ Y tế, tỉ lệ trẻ em mắc hen suyễn năm 2000 là 8%-9%; năm 2004 là 10%. Tại TPHCM, theo Tổ chức Y tế ISAAC (chuyên nghiên cứu hen suyễn và dị ứng ở trẻ em trên toàn cầu), vào năm 2004 đã có đến 29,1% trẻ em bị hen suyễn (thuộc loại cao nhất của châu Á).
hen-suyen
Theo GS-TSKH Nguyễn Năng An, Chủ tịch Hội Hen – Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng Việt Nam, một nghiên cứu mới đây thực hiện trên 3.000 dân ở Hà Nội cho thấy tỉ lệ người đã từng bị khò khè hoặc thở rít là 15,3%; khò khè hoặc thở rít trong 12 tháng qua là 9,3%.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có đến gần 50% người dân Hà Nội không biết về nguyên nhân gây hen, không biết hen có thể chữa khỏi, 55% không biết các biện pháp phòng ngừa cơn hen, 75% không biết về các thuốc điều trị hen và 78% không biết hen có thể kiểm soát được. Hiểu biết về hen của cán bộ y tế cũng rất thấp khi chỉ có 42,3% biết về các dấu hiệu của hen; 54,5% không biết phương pháp theo dõi tình trạng kiểm soát hen; hơn 40% không biết sử dụng thuốc dãn phế quản khi có cơn hen cấp.

Những con số nêu trên tuy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng nhưng đã đủ để thấy hen suyễn là một gánh nặng ở nước ta. Theo PGS-TS Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Hội Hô hấp TPHCM, hen suyễn không thể chữa dứt hoàn toàn nhưng lại có thể kiểm soát được, giúp bệnh nhân có một cuộc sống gần như bình thường. Chính điều này nên thông điệp của ngày Hen toàn cầu năm 2011 được WHO đưa ra là “Bạn có thể kiểm soát được bệnh hen suyễn” nhằm kêu gọi cộng đồng hãy chú ý hơn nữa các giải pháp phòng chống, ngăn ngừa hen suyễn.

Hen suyễn có tính gia đình nên nếu cha mẹ từng bị thì trẻ có nhiều nguy cơ mắc bệnh. Những lời khuyên sau đây của các chuyên gia thực sự là không quá khó để chúng ta phòng ngừa ngay trong mỗi gia đình: Không khói thuốc lá, không cho trẻ tiếp xúc với môi trường nhiều khói thuốc lá (quần áo, đầu tóc còn vương khói thuốc cũng có thể gây nguy hiểm cho trẻ); ngay từ lúc mang thai, người mẹ cần tránh thuốc lá, rượu, chất gây nghiện; giảm các yếu tố làm tăng cơn hen trong nhà như bụi, nấm mốc, gián, lông động vật; tránh để trẻ tiếp xúc với nước hoa, keo xịt tóc, sơn hoặc các chất tẩy rửa gia dụng; theo dõi cân nặng của trẻ (tăng cân quá mức trong vài năm đầu đời khiến tỉ lệ mắc suyễn cao hơn).