Tag Archives: nhân sơ tử cung

Tổng quan về u xơ tử cung

 I. Đại cương

Có 5-10% u xơ tử cung dẫn đến vô sinh.

U xơ tử cung, hay còn gọi là nhân xơ tử cung, là một loại u lành tính gặp ở 20% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

U xơ tử cung có thể là một khối duy nhất hoặc nhiều khối khác nhau, kích thước có thể chỉ vài milimet, nhưng cũng có thể phát triển to gần đến xương ức, chiếm gần hết tử cung. Khối u xơ có thể phát triển chậm chạp, nhưng đôi khi lại rất nhanh.

Vị trí của u xơ có thể: dưới niêm mạc tử cung (nằm ở mặt trong tử cung), trong lớp cơ tử cung, dưới thanh mạc tử cung (nằm ở mặt ngoài tử cung), ở đáy, thân, eo hay cổ tử cung.

tong_quan_ve_u_xo_tu_cung

II. Nguyên nhân

Hiện nay nguyên nhân còn chưa rõ ràng. Yếu tố di truyền có lẽ đóng một vai trò nào đó trong bệnh này.

Sự phát triển của u xơ dường như cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố hormone, nhất là estrogen. Khi estrogen trong cơ thể tăng cao, u xơ tử cung thường to ra do sự tăng sinh các sơi cơ, mô cơ ở thành tử cung. U xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ của người phụ nữ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất. Sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm. Một số hormone khác, như progesterone, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.

Nghiên cứu cho thấy phụ nữ béo phì, phụ nữ độc thân, hay có ít con, có kinh sớm (trước 12 tuổi) có nguy cơ bị u xơ cao hơn, phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai uống và nữ vận động viên điền kinh ít có nguy cơ bị u xơ

III. Triệu chứng

Đến hơn 50% phụ nữ bị u xơ không biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các u xơ tử cung được phát hiện tình cờ khi thăm khám vùng chậu định kỳ hoặc theo dõi trước khi sanh.

Triệu chứng đầu tiên của u xơ tử cung là ra khí hư nhiều do niêm mạc tử cung bị kích thích. Khí hư thường trong, đôi khi loãng như nước và ngày một nhiều hơn.

Tiếp đó, bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt, thời gian hành kinh kéo dài hơn bình thường hoặc lượng máu kinh nhiều hơn, có máu cục. Khi khối u xơ đã lớn, máu kinh không ra theo chu kỳ nữa mà có thể xuất hiện bất cứ lúc nào gọi là rong huyết. Tình trạng ra huyết kéo dài dẫn đến thiếu máu, khiến bệnh nhân xanh xao, choáng váng, hồi hộp, mệt mỏi, suy kiệt… Không ít trường hợp ra máu rất nhiều khi hành kinh do khối u xơ cản trở sự co bóp của tử cung, khiến tử cung bị đờ và máu chảy nhiều, gọi là băng kinh, nếu không được xử trí kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Kèm theo bệnh nhân có thể đau bụng dưới do tử cung co bóp mạnh để đẩy máu kinh ra ngoài hoặc đau lưng vùng thấp.

Khối u phát triển quá to (lớn hơn 5 cm) gây chèn ép các cơ quan bên cạnh, gây đau, bí tiểu, táo bón, rối loạn tiêu hóa…

Nhiều người có thể sờ thấy nhân xơ tử cung chắc ở vùng bụng dưới vào ban đêm khi các cơ bụng được thả lỏng.

Trường hợp nặng hơn là khi khối nhan xơ tạo thành polyp tụt xuống âm đạo có thể sờ thấy khiến bệnh nhân bị ra máu nhiều và có cảm giác đau vướng mỗi khi sinh hoạt tình dục. Nếu lâu ngày polyp bị nhiễm khuẩn, âm đạo sẽ tăng tiết dịch, lẫn máu và mủ nên rất hôi; tình trạng nhiễm khuẩn có khi lan ngược lên tử cung, gây biến chứng nguy hiểm.

IV. Biến chứng

Bệnh nhân khó có thai do u xơ gây chèn ép, làm gập vòi trứng hoặc làm bít lỗ cổ tử cung, ảnh hưởng đến sự di chuyển của tinh trùng, ngăn cản trứng thụ thai. Mặt khác khối u có thể làm biến dạng tử cung và lớp nội mạc tử cung, gây bất lợi cho sự làm tổ của trứng.

Thai phụ có u xơ tử cung có thể sẩy thai liên tiếp do lớp nội mạc không phát triển đầy đủ, và do buồng tử cung bị chèn ép, không phát triẻn to ra được hoặc sinh non, ngôi thai bất thường, rau bám ở vị trí bất thường (rau tiền đạo, rau cài răng lược). Thậm chí, những khối u to, nằm ở vị trí như eo tử cung, có thể làm cản trở hoặc tắc nghẽn gây khó khăn cho cuộc sinh, kéo dài cơn chuyển dạ có khi sản phụ không sinh được, phải mổ và có nguy cơ bị băng huyết cao hơn (do u xơ cản trở tử cung co hồi, đờ tử cung).

Trong thời kỳ hậu sản, thường là u xơ sẽ nhỏ lại, không gây biến chứng gì. Tuy nhiên, cũng có khi nó gây nhiễm khuẩn, nhất là đối với các u xơ dưới niêm mạc.

Những u xơ có cuống sẽ gây biến chứng xoắn và phải phẫu thuật cấp cứu

V. Điều trị

Thuốc ngừa thai uống hoặc các hormone sinh dục giúp kiểm soát triệu chứng cường kinh, có thể làm teo u. Nhưng nội tiết tố chủ yếu là thuốc ngừa thai đường uống. Điều đó đồng nghĩa với việc không thể thụ thai.

Một số thuốc khác có thể làm giảm kích thước khối u xơ do hạ thấp nồng độ estrogen nhưng gây ra nhiều triệu chứng của mãn kinh như cơn nóng bừng, tính khí nóng nảy, nhức đầu, khô âm đạo và mất xương nên không thể dùng lâu dài. Khối u xơ thường tái phát sau khi ngưng thuốc.

Hầu hết các thuốc điều trị u xơ được sử dụng như một liệu pháp tạm thời trong mãn kinh sớm hoặc chuẩn bị cho phẫu thuật.

Phương pháp phẫu thuật thường dùng là thủ thuật cắt bỏ u xơ, trong thủ thuật này người ta chỉ cắt bỏ khối u và giữ nguyên tử cung. Nếu chỉ cắt khối u xơ, tỷ lệ tái phát khoảng 10%.

Nếu phẫu thuật nội soi, sự lành vết thương hết sức mau chóng và để lại sẹo nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chúng chỉ được áp dụng cho các u xơ nhỏ hoặc các u xơ mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Nói chung phẫu thuật qua nội soi hiếm khi cần vì thường các u xơ nhỏ không cần điều trị.

Một phẫu thuật khác là cắt tử cung. Biện pháp này điều trị u xơ hữu hiệu nhất, nhưng chỉ nên thực hiện nếu u xơ có khả năng gây biến chứng. Phẫu thuật cắt tử cung ít biến chứng hơn phẫu thuật cắt khối u xơ và đó là giải pháp điều trị tận gốc. Nhưng bệnh nhân vĩnh viễn không thể mang thai

Gây tắc động mạch nuôi khối u là phương pháp không phẫu thuật và rất ít xâm nhập nhất có thể là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Sau một thời gian, u xơ không được cấp máu sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng, dẫn đến hoại tử vô trùng. Từ đó chúng dần dần teo nhỏ trở thành sẹo không có mạch máu hoặc biến mất hoàn toàn. 85% phụ nữ được điều trị theo phương pháp này hoàn toàn không còn các triệu chứng đau hoặc các triệu chứng do khối u. Tỷ lệ sang chấn tử cung cũng như nhiễm trùng rất thấp. Các nghiên cứu về khả năng có thai trở lại sau thủ thuật hiện chưa hoàn thành. Tỷ lệ tái phát u xơ cũng chưa được biết rõ, và những ảnh hưởng lâu dài của thủ thuật còn phải được nghiên cứu thêm.

Theo uxotucung.com.vn/ Theo Thầy thuốc của bạn