Tag Archives: nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến viêm cơ tự phát ở trẻ

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới đau khớp trẻ em như đau mỏi xương khớp tuổi phát triển, viêm khớp cấp tính do vi khuẩn, do lao, viêm sau chấn thương…, cho đến những bệnh khớp mạn tính do một số rối loạn miễn dịch hoặc giai đoạn đầu của bệnh bạch cầu cấp. Một trong những bệnh khớp mạn tính thường gặp ở trẻ em là bệnh viêm khớp tự phát.

Bệnh viêm khớp tự phát ở trẻ em thuộc nhóm bệnh tự miễn, là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, bệnh nhân bị bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn (Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella).

Bệnh này không hiếm gặp nhưng rất ít cha mẹ hiểu biết rõ nên đa số trẻ thường được đưa đến chuyên khoa khám muộn. Một số trẻ em trước khi đến Bệnh viện Nhi đã đi khám, chữa hàng năm trời ở nhiều nơi nhưng không phát hiện bệnh dẫn tới bệnh tiến triển nặng, biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác.

nguyen-nhan-dan-den-viem-co-tu-phat-o-tre

Các triệu chứng của viêm khớp tự phát

Sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau thông thường. Trẻ có thể bị nổi ban đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, trẻ có thể bị sưng đau một vài hoặc nhiều khớp như khớp cổ tay, khớp gối, khớp háng, mắt cá chân…

Điều trị viêm khớp tự phát thế nào?

Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp, tối ưu hóa các vận động khớp nhằm đạt tới chức năng khớp bình thường cho bệnh nhân. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc…

Biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu)

Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp… Tuy nhiên, trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm thuốc giảm đau thông thường, thuốc chống viêm giảm đau và các thuốc điều trị cơ bản tức thuốc tác động vào hệ thống miễn dịch của cơ thể nhằm làm giảm, khống chế quá trình viêm khớp.

Do đặc thù bệnh khởi phát ở tuổi trẻ em, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình.

Lời khuyên của thầy thuốc

Bệnh khớp tự phát ở trẻ em có khả năng gây tàn phế. Vì vậy khi thấy trẻ có những biểu hiện viêm khớp trên 6 tuần, sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau liều thông thường cần phải đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tránh biến chứng teo cơ thậm chí tàn phế.

Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, khớp háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ nóng nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo. Ngoài các triệu chứng ở khớp ra, trẻ có thể sốt cao, phát ban, hạch to, viêm thanh mạc, viêm màng phổi…

Theo sức khỏe

Phục hồi di chứng sau tai biến mạch máu não

Theo thống kê, tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não) là một trong những “kẻ giết người” mạnh tay nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật nghiêm trọng cho người cao tuổi ở nước Anh. Cứ 5 phút trôi qua, lại có một người bị tai biến mạch máu não lần đầu tiên.
Tai biến mạch máu não gồm 2 loại: 80% là nhồi máu não (do các cục máu đông gây tắc mạch máu não) và 20% là xuất huyết não (do vỡ mạch máu trong não). Tổn thương này làm giảm đột ngột hoặc ngưng hoàn toàn việc cung cấp máu đến não. Biểu hiện của bệnh thường là đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân, tê tay chân, liệt nửa người, mờ hoặc mất thị lực… Một số người còn có dấu hiệu buồn nôn, chóng mặt ù tai…

phuc-hoi-di-chung-sau-tai-bien-mach-mau-nao

Tai biến mạch máu não để lại những di chứng rất nặng nề như: liệt nửa người, nói ngọng, méo miệng, đời sống thực vật, thậm chí là tử vong… Nghiên cứu cho thấy, khoảng 20% bệnh nhân tai biến mạch máu não tử vong trong vòng 1 tháng, 5-10% trong vòng 1 năm; khoảng 10% phục hồi không di chứng; 25-30% tự đi lại phục vụ bản thân; 20-25% đi lại khó khăn, cần sự hỗ trợ của người khác trong sinh hoạt; 15-25% phải nhờ hoàn toàn vào người khác. Di chứng của tai biến mạch máu não khiến bệnh nhân trở thành gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội, nên việc chăm sóc phục hồi vận động, ý thức sau tai biến có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt, với bệnh nhân bị liệt nửa người, việc chăm sóc đúng cách có thể giúp hạn chế được những biến chứng nguy hiểm khác như: viêm loét da do nằm lâu, viêm phổi, táo bón,… Nếu tập luyện sớm với phương pháp đúng đắn thì sẽ giúp bệnh nhân phục hồi tốt nhất, giảm biến chứng và di chứng ngay trong năm đầu tiên sau tai biến.

Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị tai biến mạch máu não nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều người nhà bệnh nhân vẫn chưa nắm được tầm quan trọng cũng như phương pháp chăm sóc phục hồi vận động, ý thức cho người thân sau cơn tai biến mạch máu não.
Do vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về căn bệnh này. Các chuyên gia khuyến cáo, khi bệnh nhân đã qua được giai đoạn nguy hiểm, bước sang khoảng thời gian phục hồi, bệnh nhân cần được người nhà chăm sóc và giúp đỡ tập luyện, phục hồi vận động, ý thức một cách hợp lý.

Theo gia đình

Triệu chứng điển hình của bệnh ung thư lưỡi

Tuy ung thư lưỡi không nhiều như các thể ung thư khác, tuy nhiên bạn không nên đánh giá thấp những dấu hiệu ban đầu và mức độ nguy hiểm của chứng bệnh này.

Theo trích dẫn của tạp chí điện tử Tongue Cancer Symptoms, những mảng hoặc đốm màu trắng gây đau và loét xuất hiện trên lưỡi, giống như vết loét trên miệng, thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư lưỡi. Tuy nhiên, đôi khi các mảng hoặc đốm này không phải là màu trắng mà là màu đỏ.

dau-hieu-nhan-biet-ung-thu-luoi

Theo các chuyên gia, dưới đây là một số triệu chứng điển hình của bệnh ung thư lưỡi:

1. Xuất hiện những mảng hoặc đốm màu trắng hay màu đỏ trên bất kỳ phần nào của lưỡi. Theo thời gian, những đốm này không lành mà ngày càng phát triển lớn hơn.

2. Phần trung tâm của các mảng hoặc đốm này thường mềm và dễ chảy máu, gây loét. Nguyên nhân gây chảy máu thường là do sự chà xát trong khi nhai hoặc nuốt thức ăn. Triệu chứng loét này là dấu hiệu phổ biến nhất, cảnh báo sớm bệnh ung thư lưỡi.

3. Đôi khi triệu chứng ung thư lưỡi có thể đi kèm với tình trạng đau cổ họng khi nuốt nước miếng hoặc thức ăn.

4. Lưỡi và miệng có cảm giác tê, thay đổi giọng nói, lưỡi trở nên khó khăn khi di chuyển và gặp trở ngại khi há miệng.

5 . Một số bệnh nhân ung thư lưỡi đôi khi cũng bị đau ở tai và có một vết sưng trên phần mặt sau của cổ họng.

Lưu ý: Một số trường hợp ung thư lưỡi có thể đi kèm với tình trạng sụt cân. Vì thế, trong trường hợp nhận thấy những dấu hiệu trên, đặc biệt là vết loét trên lưỡi không lành và tiếp tục phát triển sau hai tuần, bạn phải đến bệnh viện kiểm tra ngay lập tức để được điều trị kịp thời.

Theo afamily

Viêm mũi dị ứng thời tiết

Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là nguyên nhân thường gặp (40%) của viêm mũi nói chung là tình trạng viêm niêm mạc mũi-xoang biểu hiện bằng các triệu chứng hắt hơi, ngạt, ngứa và chảy mũi, qua trung gian kháng thể và xảy ra do tiếp xúc với dị nguyên trong không khí. Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng

VMDƯ là một tình trạng viêm mạn tính phổ biến nhất, đặc biệt ở những người dưới 18 tuổi. Ở Hoa Kỳ, tỉ lệ VMDƯ quanh năm ở nhóm học sinh trung học dưới 23 tuổi là 14,0%. Ở các nước châu Á, tỉ lệ mắc VMDƯ quanh năm ở Nhật là 18,7%, ở Hàn Quốc là 3,9%. Ở Việt Nam theo thống kê ước tính khoảng 12% dân số Việt Nam bị VMDƯ.

VMDƯ không phải là bệnh nguy hiểm nhưng nó làm cho chất lượng cuộc sống của người bệnh bị ảnh hưởng nặng nề: nhức đầu, mất ngủ làm giảm tập trung, giảm năng suất lao động. Bệnh nhân thường xuyên hắt hơi, chảy nước mũi làm cho giao tiếp xã hội bị hạn chế khiến bệnh nhân bị mặc cảm, thay đổi tính tình, dễ cáu gắt và tự cô lập. VMDƯ còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý về tai mũi họng và đường hô hấp khác như: viêm tai giữa, viêm xoang, polyp mũi, hen phế quản… và do đó làm tăng chi phí điều trị, cả trực tiếp và gián tiếp. Theo thống kê tại Hoa Kỳ năm 1999, chỉ riêng tiền bán thuốc kháng histamin là 3 tỉ USD, thuốc steroid xịt mũi là 1 tỉ USD. Ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về đề tài này, nhưng dự tính các chi phí này cũng cao đáng kể .

viem-mui-di-ung

VMDƯ có 2 loại:

VMDƯ theo mùa và VMDƯ quanh năm. Nguyên nhân chính gây ra VMDƯ theo mùa là bụi phấn hoa và bào tử, do đó, bệnh phụ thuộc vào mùa và nơi ở. Đa số bệnh nhân VMDƯ quanh năm là do dị ứng với bọ bụi nhà . VMDƯ quanh năm có biểu hiện từ lúc còn nhỏ và bệnh có thể xuất hiện trong cả năm.

Triệu chứng

Các triệu chứng chính của VMDƯ gồm: ngứa mũi, hắt hơi liên tục thành tràng dài, chảy nước mũi loãng trong, nghẹt mũi, cay mắt, đỏ mắt hay chảy nước mắt,… Đa số các bệnh nhân đều có các triệu chứng trở nên nặng nề nhất vào buổi  sáng.

VMDƯ được chẩn đoán dựa trên tiền sử của bản thân và gia đình về dị ứng và các triệu chứng lâm sàng. Các xét nghiệm dị ứng học được thực hiện để chẩn đoán xác định VMDƯ và tìm những dị ứng nguyên liên quan. Test tìm dị ứng nguyên có thể được thực hiện in vitro hoặc dưới da để xác định dị ứng nguyên đặc hiệu với kháng thể (Kích thước nốt mẩn đỏ xuất hiện sau khoảng thời gian từ 15 tới 20 phút sau khi thực hiện mũi lẩy trong da có chứa dị ứng nguyên được so sánh với mũi lẩy trong da chứa dung dịch muối sinh lý). Theo các nghiên cứu cho thấy mạt có trong bụi nhà là nguyên nhân chính gây viêm mũi xoang dị ứng, chiếm tỷ lệ từ 75-80%.  Ngoài ra có các loại dị nguyên khác, như dị nguyên lông vũ, nấm mốc, phấn hoa… viem-mui-di-ung-1

Kiếm soát viêm mũi dị ứng

Các phương pháp điều trị không dùng thuốc

Thường xuyên rửa mũi bằng nước muối biển tinh chế.

Vệ sinh định kỳ chăn, ga, gối, đệm, vải bọc ghế, bọc đệm hạn chế sự tồn tại và sinh trưởng của một số ký sinh trùng. Nhà ở cần thoáng, mát, sạch sẽ, tránh ẩm ướt nếu làm được như vậy sẽ hạn chế nấm mốc phát triển, tránh mạt bụi nhà.

Các phương pháp điều trị  dùng thuốc

Người bệnh cần tránh các yếu tố nguy cơ: tiếp xúc với dị nguyên như bụi nhà, khói, lông chó mèo… Cần vệ sinh định kỳ chăn, ga, gối, đệm, vải bọc ghế, bọc đệm hạn chế sự tồn tại và sinh trưởng của một số ký sinh trùng. Nhà ở cần thoáng, mát, sạch sẽ, tránh ẩm ướt nếu làm được như vậy sẽ hạn chế nấm mốc phát triển.
+ Thuốc kháng histamin đường uống: Có nhiều thế hệ thuốc kháng histamin, việc sử dụng các thuốc giúp giảm các triệu chứng của VMDƯ, tuy nhiên những thuốc này cũng có những tác dụng không mong muốn như: khô miệng, buồn ngủ,… và chỉ dùng được trong thời gian ngắn.

+ Thuốc xịt mũi chứa corticosteroid: Ngày nay với sự ra đời của các thuốc xịt mũi thế hệ mới (Rhinocort Aqua, Avamis, Nasonex,…) có nhiều ưu điểm đó là kiểm soát tốt các triệu chứng tại mũi: hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi và ngứa mũi. Đồng thời giảm các triệu chứng ngoài mũi như: ngứa mắt, đỏ mắt,… Thuốc có sinh khả dụng thấp, thời gian phân hủy kéo dài nên rất ít ảnh hưởng đến toàn thân, có thể dùng kéo dài và chỉ cần dùng 1 lần trong ngày giúp bệnh nhân dễ dàng tuân thủ điều trị. Các bình xịt cũng được thiết kế cải tiến giúp bệnh nhân dễ dàng sử dụng, ít gây khó chịu cho bệnh nhân.

+ Liệu pháp miễn dịch: Hiện nay tại khoa Dị ứng – miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương đang áp dụng điều trị VMDƯ bằng phương pháp giảm mẫn cảm đặc hiệu. Đây được coi là “vaccin” trong điều trị bệnh VMDƯ do kích thích cơ thể tạo ra và duy trì kháng thể chống lại yếu tố dị ứng. Tuy nhiên để thuốc phát huy hiệu quả, người bệnh cần kiên trì điều trị theo chỉ định của bác sĩ.

Ngoài ra, để phòng viêm mũi dị ứng, người bệnh cần tránh các yếu tố nguy cơ: tiếp xúc với dị nguyên như bụi nhà, khói, lông chó mèo… Cần vệ sinh định kỳ chăn, ga, gối, đệm, vải bọc ghế, bọc đệm, hạn chế sự tồn tại và sinh trưởng của một số ký sinh trùng. Nhà ở cần thoáng, mát, sạch sẽ, tránh ẩm ướt nếu làm được như vậy sẽ hạn chế nấm mốc phát triển. Cần vệ sinh răng miệng hàng ngày, nhất là đánh răng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Hạn chế đến mức tối đa hút thuốc lá, thuốc lào. Cẩn thận khi thay đổi thời tiết, chú ý giữ vệ sinh mũi, thường xuyên dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý để rửa mũi, không dùng tay ngoáy mũi để tránh tổn thương niêm mạc mũi…

Khi nghi ngờ bị bệnh viêm mũi dị ứng nên đi khám bác sĩ, tốt nhất là khám bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng  để được tư vấn và điều trị đúng cách.

TS. Võ Thanh Quang – ThS. Hà Minh Lợi

Theo suckhoedoisong

Những bà mẹ hay lo cần biết

Khi mới sinh tâm lý lo lắng và hồi hộp luôn chiếm ngợp hoàn toàn tâm trí của các bà mẹ trẻ. Ai cũng mong muốn điều tốt nhất cho con mình và không khỏi bỡ ngỡ trước một sinh linh bé nhỏ vừa chào đời đang nằm trên tay mẹ. Nhưng có những nỗi lo lắng hoàn toàn không cần thiết xung quanh các vấn đề của trẻ sơ sinh mà mẹ nào cũng đắn đo, băn khoăn suốt thời gian dài. Sau đây là một số những nỗi lo vô căn cứ ấy.

Không được chạm vào thóp của con

Không hiểu sao rất nhiều mẹ có quan điểm sai lầm rằng không nên chạm vào thóp của trẻ mới sinh vì như thế là đang chạm vào não của bé. Đây là một nỗi lo hoàn toàn vô lý bởi thóp của trẻ thực chất là một màng cứng và bảo vệ não của bé ở bên trong, chạm vào thóp bé hoàn toàn không phải là chạm vào não bộ của trẻ. Khi hộp sọ của bé trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn thóp của bé cũng sẽ dần ổn định và không còn mềm như hồi mới sinh nữa.

Sao trên thóp bé lại có gân mạch?

Những đường gân nổi trên thóp của trẻ mới sinh là điều hoàn toàn bình thường bởi gân nằm trong hệ thống cấu tạo của cơ thể. Do các đường liên kết trong khu vực thóp của hộp sọ chưa liền lại với nhau nên các mẹ mới có thể nhìn rõ đường gân, động mạch và mạch máu trên thóp của bé. Các mẹ hoàn toàn không cần thiết phải quá lo lắng và băn khoăn khi nhìn thấy chúng đâu nhé.

Hoảng hốt khi thấy máu trong tã của bé gái

me-hay-lo

Trong thời gian mang thai, chất estrogen dâng trào có trong cơ thể mẹ có thể tạo nên một chút phản ứng trong tử cung của thai nhi nữ. Vì thế trong tuần đầu tiên sau khi bé chào đời có thể xuất hiện hiện tượng chảy máu từ trong tử cung của bé như một chu kỳ nhỏ. Các mẹ hoàn toàn có thể yên tâm vì hiện tượng này chỉ sau một thời gian ngắn sẽ chấm dứt.

Lo lắng khi thấy một hõm nhỏ trên ngực của bé

Mẹ có thể thư giãn và không cần phải hoang mang khi nhìn thấy một vết lõm trên ngực của con.. Đó hoàn toàn không phải là dấu hiệu triệu chứng của các bệnh về tim như mẹ nghĩ. Theo các chuyên gia, xương ngực của bé được chia làm ba phần. Vết lõm sâu mà mẹ nhìn thấy là phần cuối cùng của xương ngực. Theo thời gian khi bé lớn lên, các cơ ngực và cơ bụng sẽ dần lấp đầy vết lõm đó, thậm chí trước đó những mô mỡ trong cơ thể bé cũng sẽ dần dần “ủi phẳng” vết lõm cũng như nỗi lo của mẹ ngay.

Con đi ngoài phân lỏng là bị tiêu chảy?

Những em bé được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ thường đi ngoài ngay sau mỗi cữ bú là vì sữa mẹ được tiêu hóa rất nhanh. Do sữa mẹ là chất lỏng nên việc bé ra phân lỏng và mềm là điều hoàn toàn bình thường.

Sao con nấc liên tục

Các chuyên gia vẫn chưa khẳng định được tại sao trẻ sơ sinh lại hay bị nấc. Có người cho rằng đó là do não và cơ hoàng, cơ bụng điều khiển hô hấp của bé không phối hợp nhịp nhàng. Nhưng bất kể một nguyên nhân nào thì nấc cụt ở trẻ là điều hoàn toàn vô hại và các mẹ không cần thiết phải quá lo lắng trước hiện tượng này.

Lo lắng khi bé khóc

Hệ thống thần kinh và não bộ của trẻ sơ sinh chưa trưởng thành và khiến bé rất dễ cảm thấy sợ hãi là hai nguyên nhân chính vì sao bé có rất nhiều nước mắt. Khóc là cách giao tiếp duy nhất giữa bé và mẹ để bé bộc lộ một đòi hỏi chính đáng của mình. Khi bé khóc mẹ đừng quá lo lắng mà hãy tìm hiểu nguyên nhân, nựng nịu và chiều chuộng bé vì khóc không làm bé đau một chút nào. Khi một nhu cầu được đáp ứng, hiện tượng này sẽ tự nhiên chấm dứt mà thôi.

Lo lắng khi bé có chút mụn nhọt trên da mặt

Do hormone của mẹ vẫn còn chạy nhảy trong cơ thể của con nên một số em bé có mụn trứng cá, hiện tượng thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ 2 tuần sau sinh đến 2 tháng tuổi. Những mụn trứng cá nhỏ li ti này các mẹ hay gọi là mụn sữa và hoàn toàn vô hại đối với trẻ. Mẹ chỉ cần chăm chỉ vệ sinh da mặt cho bé là làn da của bé sẽ được bảo vệ an toàn.

Lo lắng khi thấy ti của bé bị sưng

Một vài hormone trong cơ thể mẹ có thể dẫn đến hiện tượng chu kỳ mini cho bé và cũng có thể làm cho hai ti của bé hơi sưng lên. Nhưng hiện tượng “sưng ti” này có thể xảy ra ở cả bé trai và bé gái. Điều này có thể làm mẹ ngạc nhiên nhưng đây là điều hoàn toàn bình thường và mẹ không cần thiết phải lo lắng. Ti của bé sẽ trở nên bình thường theo thời gian bé lớn lên..

Lo lắng khi bé lúc nào cũng hắt hơi
Trẻ sơ sinh nào cũng có một cái mũi tí hon các mẹ nhé! Chỉ một chút nhầy hoặc một hạt bụi nhỏ cũng có thể khiến bé hắt xì. Khi mang bầu, thai nhi sống trong môi trường nước ối của mẹ và vì thế sẽ có một chút tắc nghẽn khi bé chào đời. Trừ phi hắt hơi biểu hiện của cảm lạnh đi kèm với sổ mũi và đờm thì mẹ hoàn toàn không cần phải lo lắng trước những “cú hắt xì” vô hại của bé.

Theo Khampha

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Suy tim – Con đường chung của các bệnh tim mạch

 Các chuyên gia tim mạch đã nhận định “Suy tim là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh tim mạch”, bao gồm các tổn thương thực thể tại tim và nhiều bệnh của hệ thống mạch.

Dấu hiệu nhận biết các nguy cơ suy tim

Dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị suy tim là khó thở.Lúc đầu chỉ khó thở khi hoạt động gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên hơn kể cả lúc nghỉ ngơi, đặc biệt ở tư thế nằm nên người bệnh thường phải ngồi dậy để thở.
suy-tim1
Mệt mỏi, phù chi, tiểu đêm cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.

Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý nhiều trong suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho tăng khi nằm ngủ.

Ở người trẻ, suy tim có thể do các dị tật tim bẩm sinh, hoặc hẹp hở van tim, hậu quả của bệnh viêm khớp do liên cầu khuẩn ở tuổi thiếu niên không được điều trị dự phòng thích hợp.  Ở người lớn tuổi thường do các bệnh tim mạch mãn tính như: bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa mạch, bệnh huyết khối, rối loạn mỡ máu, rối loạn nhịp tim,…

Suy tim làm suy giảm chất lượng cuộc sống

Người bệnh suy tim thường xuyên bị mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau tức ngực do thiếu ôxy; ho, phù, khó thở do ứ trệ tuần hoàn. Các triệu chứng này làm mọi hoạt động của người bệnh bị hạn chế và gây tâm lý hoang mang, bi quan về tình hình bệnh tật. Trong suy tim cấp, người bệnh có thể bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Như vậy, không kể đến hậu quả tử vong do đột tử mà nguyên nhân chính là suy tim, thì hậu quả lâu dài đối với người bệnh chính là sự suy giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống.

Giải pháp phòng ngừa suy tim sớm

Người bệnh suy tim buộc phải dùng thuốc suốt đời. Vì thế những giải pháp từ thiên nhiên mang tính an toàn cao sẽ phù hợp cho việc sử dụng lâu dài trong hỗ trợ điều trị.

Suy tim trong y học cổ truyền còn gọi là suy tim ứ huyết, nguyên nhân căn bản là do tâm và huyết mạch suy yếu. Đông y cũng có những bài thuốc giúp bổ khí huyết. dưỡng tâm an thần như cao đan sâm tăng lưu lượng máu tới nuôi dưỡng cơ tim, giảm tình trạng ứ trệ tuần hoàn; cao natto – tiêu cục máu đông; cao vàng đằng –  ngăn ngừa quá trình hình thành mảng xơ vữa.

Suy tim khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, các phương pháp điều trị đều hướng đến mục tiêu: giảm triệu chứng và làm chậm lại tiến trình suy tim.Vì vậy việc phát hiện và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, cũng như sử dụng thêm những giải pháp an toàn và hiệu quả bền vững cho trái tim “không khỏe” là vấn đề mấu chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Phòng ngừa suy tim sớm

 Việt Nam nằm trong số các nước đang phải “oằn lưng” với căn bệnh tim mạch. Dự đoán vào năm 2017, sẽ có trên 20% người Việt, tức là cứ 5 người có 1 người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh của tim và hệ thống mạch. Trong hệ tuần hoàn, hoạt động của tim và hệ thống mạch không thể tách rời, chúng luôn chịu tác động qua lại và ảnh hưởng đến nhau. Mỗi ngày tim co bóp khoảng 100.000 nhịp, luân chuyển 7.500 lít máu thông qua hệ thống mạch máu. Do đó, chỉ cần một trục trặc nhỏ của hệ thống mạch cũng ảnh hưởng đến hoạt động của tim và ngược lại.

suy-tim

Các bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, hẹp, hở van tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch… và rất nhiều các bệnh tim mạch khác, mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, nhưng hầu hết đều có chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim –  nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong trên toàn thế giới.

Việc phòng tránh các bệnh tim mạch phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng thực tế cho thấy, rất nhiều người bệnh do chủ quan, ý thức phòng và chữa bệnh chưa cao, cộng thêm chưa có nhiều kiến thức về bệnh học và tâm lý ngại đi viện khi triệu chứng còn nhẹ, nên chỉ đến khi các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn mới lo đi chữa bệnh, cuối cùng dẫn đến việc phát hiện muộn và quá trình điều trị trở nên rất khó khăn.

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch có ý nghĩa rất lớn, giúp làm chậm lại diễn tiến của bệnh. Nếu nhận thấy có các dấu hiệu như: đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, ho, phù, bạn không nên chủ quan nhất là khi bạn đang mắc các bệnh về tim mạch. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời, trước khi trái tim bị suy yếu.

Nguồn dân trí

Chăm sóc trẻ và cách ngăn chặn bệnh tay chân miệng

Trong những ngày gần đây, tại khoa nhi của các bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai,…liên tục tiếp nhận trẻ mắc bệnh tay châm miệng. Theo các bác sĩ, bệnh tay chân miệng đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, nhiều bậc phụ huynh vẫn chưa biết cách chăm sóc khiến trẻ bị bệnh nặng thêm.

Bệnh tay chân miệng tại Việt Nam được ghi nhận từ năm 2003 với ca bệnh đầu tiên là ở TP HCM. Từ năm 2011 đến nay, số người mắc bệnh này không ngừng gia tăng và có tỷ lệ tử vong cao. Căn bệnh này đứng thứ 2 về số người nhiễm mắc cao trong số 10 bệnh truyền nhiễm và có tỷ lệ tử vong thứ 3 sau bệnh dại và sốt xuất huyết. Hiện chưa có văcxin phòng bệnh cũng như thuốc điều trị đặc hiệu và Bộ Y tế đang đề xuất nghiên cứu sản xuất và thử nghiệm vắc xin phòng chống bệnh tay chân miệng tại Việt Nam.

tay-chan-mieng

Bệnh xảy ra quanh năm, tăng cao từ tháng 2 – tháng 4 và từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm. Bệnh lây nhanh từ trẻ này sang trẻ khác từ các chất tiết mũi, miệng, phân, nước bọt.

Phát hiện sớm bệnh tay chân miệng

Triệu chứng bắt đầu xuất hiện sau khi nhiễm virus từ 3 – 6 ngày. Biểu hiện sớm nhất của bệnh là mệt mỏi, sốt nhẹ (38 – 38,5 độ C), đau họng, sổ mũi diễn ra trong vài ngày.

Tiếp theo bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát. Đầu tiên là sự xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, thường là ở mặt trong má, lợi, mặt bên của lưỡi; các mụn nước có kích thước nhỏ (2 – 3mm) nằm trên một nền niêm mạc viêm đỏ. Các mụn nước trong miệng thường dập vỡ rất nhanh tạo ra các vết trợt loét rất đau rát làm bệnh nhân khó ăn uống.

Sau đó, xuất hiện các mụn nước, bọng nước ở bàn chân, bàn tay, đôi khi gặp cả mụn nước, bọng nước ở mông. Các mụn nước, bọng nước này thường không gây đau rát; chúng tồn tại trong vòng 7 đến 10 ngày rồi xẹp xuống và tự mất đi kể cả khi không được điều trị. Bệnh nhân có khả năng lây bệnh cho người khác qua đường hô hấp trong 1 tuần đầu bị bệnh. Bệnh nhân còn có khả năng đào thải virus qua phân trong vòng vài tuần sau.

Khi khỏi bệnh, cơ thể trẻ có miễn dịch với chủng virus gây bệnh, nhưng một người có thể bị bệnh tay chân miệng nhiều lần nếu lần sau bị nhiễm các chủng virus khác với những lần trước. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi, tuy nhiên người lớn chưa có miễn dịch với bệnh cũng có thể mắc bệnh.

Biểu hiện của bệnh

Thời gian ủ bệnh: Từ 3 – 6 ngày.
– Sốt: Có thể sốt nhẹ thoáng qua, cũng có thể sốt cao tới 39 – 40 độ C.
– Đau họng, chảy nước bọt liên tục.
– Biếng ăn hoặc bỏ ăn.
– Khó ngủ, quấy khóc, run chi, giật mình nhiều một cách bất thường.
– Tổn thương da, niêm chủ yếu nằm ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối mông.
– Tổn thương ở miệng, đa số là những vết loét đỏ (do các bóng nước vỡ ra), đường kính 2 – 3 mm ở vòm họng, niêm mạc má, nướu răng, lưỡi.

Tổn thương ở da, thường là bóng nước, có đường kính 2 – 10 mm, hình bầu dục hoặc hơi tròn, nổi cộm hay ẩn dưới da trên nền hồng ban, không đau, khi bóng nước khô để lại vết thâm trên da.

Để phòng ngừa bệnh tay chân miệng, khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế nhấn mạnh đến việc tăng cường sức đề kháng để cơ thể luôn duy trì một hệ miễn dịch tốt, chủ động phòng bệnh tốt hơn. Chúng ta có thể tuân thủ chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng, tăng cường đề kháng mỗi ngày theo các phương pháp như sau:

– Vệ sinh cá nhân: Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng
– Vệ sinh ăn uống: Cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng; ăn chín, uống sôi; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng
– Tăng cường sức đề kháng cho cả gia đình (gồm người lớn và trẻ nhỏ) bằng cách ăn uống đủ chất, bổ sung vitamin C hàng ngày (thông qua thực phẩm và dược phẩm an toàn).
– Vệ sinh sạch sẽ nơi sinh hoạt và đồ vật gia đình: Thường xuyên lau sạch bề mặt vật dụng thường ngày bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.
– Quản lý phân: Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ phải được thu gom, xử lý và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.
– Theo dõi phát hiện sớm, đưa ngay đến các cơ sở y tế để điều trị kịp thời và tổ chức cách ly, điều trị các trường hợp mắc bệnh, hạn chế sự lây lan.

Tăng cường giám sát dịch tay chân miệng đầu năm học

Ngày 30/8, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết đã chỉ đạo ngành y tế các địa phương phối hợp với ngành giáo dục tăng cường kiểm tra, giám sát công tác phòng chống dịch bệnh trường học nhân dịp khai giảng năm học mới. Trong đó chú trọng phòng ngừa dịch bệnh tay chân miệng, vốn rất dễ bùng phát với các chùm ca bệnh.

Theo Cục Y tế dự phòng, từ đầu năm đến nay đã ghi nhận 37.788 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có 13 trường hợp tử vong tại 9 tỉnh, thành phố. Tại TP HCM, từ đầu năm đến nay cũng đã ghi nhận một ca tử vong do mắc tay chân miệng. Hiện Trung tâm Y tế dự phòng TP HCM đã triển khai công tác dự phòng đến các địa bàn quận huyện, giám sát chặt chẽ công tác y tế học đường để chính thức bước vào năm học mới.

Theo Vnmedia

Đánh tan đầy bụng, khó tiêu bằng thực phẩm

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Làm sao để nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này.

Đầy bụng, khó tiêu là một trạng thái vô cùng khó chịu. Những người bị đầy hơi, chướng bụng là do hơi được sinh ra trong quá trình chuyển hóa thức ăn không ra ngoài theo đường hậu môn (trung tiện) mà lại đi ngược lên thực quản do cơ thắt thực quản bị giãn ra và được đưa ra ngoài bằng đường miệng bởi triệu chứng ợ.

day-lui-chung-day-bung-kho-tieu-ngay-lap-tuc-nho-thuc-pham

Nguyên nhân đầy bụng, khó tiêu là do bạn ăn uống vô độ, ăn nhiều thực phẩm giàu chất đạm, béo, đường hoặc uống quá nhiều rượu gây ra.

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Cảm giác buồn nôn cũng có thể đi kèm với triệu chứng hoa mắt, chóng mặt.

Bạn chỉ muốn nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này. Vậy phải làm sao?

Cách đơn giản nhất để đẩy lùi triệu chứng đầy bụng, khó tiêu là hãy ăn các loại thực phẩm như dưới đây nhé:

– Ăn dứa: Dứa có chứa bromelain và đây là một loại enzyme có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa, giảm bớt hơi bị ứ đọng và di ngược lên thực quản, từ đó giảm cảm giác bị đầy bụng. Những người bị bệnh thận không nên ăn dứa vì trong dứa giàu bromelain, sẽ làm hòa tan hemaleucin và casein ở thận, làm suy giảm chức năng của thận.

– Ăn đu đủ: Trong đu đủ có chứa papain, một loại enzyme tiêu hóa có chức năng phá vỡ thức ăn và tiêu hóa hết protein, giải phóng khí và hơi trong bụng. Từ đó, thức ăn được chuyển hóa hết và không gây đầy bụng. Tuy nhiên, những người bị viêm loét dạ dày hoặc các bệnh dạ dày khác nên tránh ăn đủ đủ vì nó có thể khiến bệnh trầm trọng hơn.

– Ăn cần tây: Cần tây giúp giảm bớt lượng nước trữ trong cơ thể vì nó có tác dụng như một loại thuốc lợi tiểu. Khi lượng nước trong cơ thể giảm đi thì chứng đầy bụng cũng được đẩy lùi.

– Ăn măng tây: Măng tây khuyến khích sự phát triển của vi khuẩn “tốt” trong đường ruột. Các vi khuẩn này có tác dụng làm giảm sự gia tăng của khí trong dạ dày và giảm chứng đầy bụng.

– Ăn sữa chua: Tuy sữa dễ gây đầy hơi nhưng sữa chua lại tốt cho đường ruột do chứa vi khuẩn lactobacillus, giúp tiêu diệt các vi khuẩn có hại gây đầy hơi.

– Tiêu thụ hạt tiêu đen: Tinh dầu của hạt tiêu đen có tác dụng xoa bóp dạ dày và tiêu hóa thức ăn, nhờ đó, không còn hiện tượng thức ăn và khí hơi lưu lại ở dạ dày nên tránh được tình trạng đầy bụng.

– Uống trà bạc hà trà: Trà bạc hà hỗ trợ tiêu hóa bằng cách giúp thức ăn được “xử lý” qua dạ dày một cách nhanh chóng. Bạn có thể dùng trà bạc hà đóng gói sẵn trong túi hoặc lá bạc hà tươi vì cả hai đều có tác dụng loại bỏ chứng đầy hơi, đày bụng khó chịu.

Ngoài ra, nếu không áp dụng những cách trên, bạn có thể trị đầy bụng bằng các cách sau đây:

– Uống trà gừng nóng, chiêu từng ngụm nhỏ.

– Uống nước chanh gừng, gồm nước ấm pha với một thìa mật ong, hai thìa nước cốt chanh và vài lát gừng.

– Ăn vài lát gừng tươi chấm muối.

– Xoa nhẹ nhàng vùng bụng, xoa vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới rồi quay lại. Có thể bôi chút dầu nóng khi thoa.

Theo afamily

Phòng tránh đau lưng

Tôi năm nay hơn 60 tuổi rất hay bị đau mỏi lưng. Mong chuyên mục tư vấn cách phòng tránh ở độ tuổi của tôi. Vi Thị Lan (Lạng Sơn)

Có nhiều nguyên nhân gây đau lưng. Ngoài bệnh lý như: Thoái hoá đĩa đệm, viêm mặt khớp xương thì còn bị đau do căng cơ bắp, dây chằng (ở một số người béo phì, người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng) hoặc do nằm ngủ trong tư thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng.
Phòng tránh đau lưng
Trong trường hợp đau lưng do bệnh lý thì bác cần được điều trị theo y lệnh của bác sỹ. Ngoài ra, bác có thể phòng tránh đau lưng từ những nguyên nhân khác như sau:

– Tránh các động tác làm căng giãn cho cơ bắp.

– Khi ngồi hay ngủ (đặc biệt là ngủ) nên sử dụng nệm cứng, nằm nghiêng, đầu gối co hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng.

– Khi mang vật nặng không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối. Như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng. Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.

– Khi tập thể dục nên tập các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng. Trước khi bước ra khỏi giường vào buổi sáng, bác nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng sau một đêm nằm ngủ.

Chuyên gia tư vấn Kim Mai

Bài thuốc dân gian trị đau răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nướcsắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

nghe-vang

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nướcđặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài,thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liềnhoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấmthuốc 3 – 5 lần.

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bênngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vịlá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụnggiảm đau nhanh hơn.

Theo Bác sĩ Thu Vân
SKĐS

Sỏi mật – nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật

Sỏi mật là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật, khi có biến chứng bệnh rất dễ gây tử vong.

Sự hình thành sỏi có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng chuyển hóa trong gan (nơi mật được tạo thành). Ngoài ra còn có một số yếu tố như: viêm nhiễm, ứ trệ dịch mật; nhiễm ký sinh trùng và chế độ ăn giàu chất béo… tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình tạo sỏi.

Sỏi gây cản trở sự lưu thông của dịch mật, khiến cho hệ tiêu hóa giảm khả năng hấp thu chất béo, dẫn đến tình trạng đầy trướng, chậm tiêu, khó tiêu. Mặt khác, sỏi di chuyển gây nên các cơn đau quặn mật, quặn gan, viêm đường mật, túi mật. Đây là nguyên nhân chính khiến người bệnh phải nhập viện.

soi-mat

Tái phát sỏi – vấn đề nan giải
Mục tiêu trong điều trị là loại bỏ sỏi nhằm khơi thông đường mật, làm giảm các triệu chứng do sỏi gây ra đồng thời tăng cường các biện pháp dự phòng tái phát sỏi.

Thực tế, để đạt được mục tiêu này không hề đơn giản. Thuốc làm tan sỏi phải sử dụng với thời gian dài (từ 6 tháng đến 2 năm), tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa làm quá trình điều trị bị gián đoạn hoặc kém hiệu quả. Các biện pháp can thiệp ngoại khoa (mổ hở, nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể) có thể giúp việc lấy sỏi một cách hữu hiệu hơn, nhưng khó khả thi nếu sỏi nằm ở vị trí hiểm hóc như ở đường dẫn mật trong gan. Đặc biệt, tỷ lệ tái phát sỏi cao (30-50% sau điều trị) khiến cho việc điều trị càng trở nên nan giải.

Giải pháp tháo gỡ  từ thiên nhiên
Quan điểm của đông y coi cơ thể là một khối thống nhất, mọi hoạt động của các cơ quan trong cơ thể luôn đồng bộ và tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động của hệ thống gan – mật cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì thế trong điều trị cần hướng tới sự cân bằng chức năng của toàn hệ thống, loại bỏ sỏi chỉ là giải pháp tình thế chứ chưa giải quyết được tận gốc vấn đề.

Kim Đởm Khang là sản phẩm được phát huy và kế thừa triết lý đó để mang lại giải pháp toàn diện giúp bài sỏi, làm giảm triệu chứng do sỏi mật gây ra. Đặc biệt với các thành phần tăng cường chức năng gan (Diệp hạ châu, nhân trần), tăng khả năng tiết mật & lưu thông dịch mật (Uất kim,chi tử, chỉ xác), chống viêm (Sài hồ, Hoàng bá) sẽ giúp hạn chế tái phát sỏi cũng như biến chứng nhiễm khuẩn gan mật do sỏi gây ra. Đây là hy vọng mới cho người bệnh trong cuộc chiến nhằm chống lại sỏi mật cũng như dự phòng tái phát sỏi.

Nghiên cứu Kim Đởm Khang kết luận: Tỷ lệ tái phát sỏi đường mật trong gan, sỏi ống mật chủ giảm; các triệu chứng lâm sàng (đau, sốt, vàng da) cải thiện rõ rệt sau 3 tháng sử dụng. Sản phẩm sử dụng an toàn, chưa thấy tác dụng phụ sau 6 tháng sử dụng.

Theo sức khỏe đời sống

Triệu chứng của bệnh ung thư âm đạo

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng rõ rệt, nhưng nếu chị em thấy mình có những triệu chứng sau đây, hãy đi khám sớm.

Ung thư âm đạo là nó là một bệnh ung thư tương đối hiếm gặp ở người phụ nữ, chiếm từ 3-5% các ung thư sinh dục nữ. Bệnh phát triển khi các tế bào ung thư hình thành trong các mô của âm đạo. Tuy nhiên có rất nhiều phụ nữ quan tâm đến các triệu chứng ung thư âm đạo bởi bệnh này không có những triệu chứng rõ rệt ở giai đoạn đầu.

Nguyên nhân gây bệnh cũng chưa được xác định rõ ràng, nhưng cũng theo nhiều chuyên gia sức khỏe thì nhiễm virus gây nhú ở người (HPV) chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ bị ung thư âm đạo. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện sau khi bị sùi mào gà (condyloma).

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng đáng chú ý, nhưng theo lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe thì nếu chị em thấy mình có những triệu chứng sau đây, hãy đi khám sớm. Vì các triệu chứng này hoàn toàn có thể là dấu hiệu báo trước của bệnh ung thư âm đạo.
chi-em-cho-bo-qua-trieu-chung-cua-benh-ung-thu-am-dao
Chảy máu âm đạo bất thường

Chảy máu âm đạo khi không phải là chu kì kinh, chảy máu sau khi quan hệ tình dục… là những triệu chứng của nhiều bệnh liên quan đến phụ khoa, trong đó có cả bệnh ung thư âm đạo. Mặc dù triệu chứng này còn mơ hồ nhưng chị em cũng không nên bỏ qua, đặc biệt khi thấy liên tục bị chảy máu không rõ nguyên nhân thì càng nên đi khám sớm.

Dịch âm đạo bất thường

Bình thường, âm đạo có thể tiết ra một lượng nhỏ dịch âm đạo nhằm đẩy các chất bẩn ra ngoài. Tuy nhiên, nếu dịch âm đạo tiết ra liên tục các ngày trong chu kì (không chỉ trong thời gian rụng trứng), có thể có hoặc không có mùi hôi thì đó cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo của bệnh ung thư âm đạo.

Đây cũng có thể là triệu chứng của bệnh viêm nhiễm “vùng kín” hoặc bệnh nào khác chứ không phải ung thư âm đạo. Tuy nhiên, nếu không điều trị kịp thời, tình trạng viêm nhiễm có thể lan rộng và hoàn toàn dễ dẫn đến ung thư âm đạo.

Thay đổi thói quen đi tiểu

Thay đổi thói quen đi tiểu có thể là bạn sẽ đi tiểu liên tục hoặc ít hơn. Sự thay đổi này có thể liên quan đến lượng nước bạn uống hàng ngày hoặc bạn uống nhiều đồ uống chứa caffeine. Nó cũng có thể có nguyên nhân từ việc nhiễm trùng đường tiểu.

Nhưng trong trường hợp nghiêm trọng, bạn vừa thay đổi thói quen đi tiểu, lại có máu trong nước tiểu, kèm theo cảm giác đau buốt khi tiểu tiện thì bạn phải đi khám luôn. Nó có thể là biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng nặng hoặc là triệu chứng của ung thư âm đạo.

Đau ở vùng xương chậu

Đau vùng xương chậu là một trong những triệu chứng thường gặp nhất của ung thư âm đạo. Khi chị em có triệu chứng này thì tức là bệnh cũng đã phát triển nặng hơn và đang lây lan đến các mô khác. Thông thường, chị em sẽ cảm thấy có cơn đau dưới rốn, liên tục hoặc không liên tục.

Có cảm giác áp lực đè lên âm đạo

Bạn khó định dạng cảm giác này nhưng chắc chắn bạn sẽ thấy âm đạo như trở nên nặng hơn và dường như có một áp lực rất nặng đang đè lên âm đạo. Bệnh u nang buồng trứng cũng có thể tạo ra cảm giác này, vì vậy, nó có thể gây nhầm lẫn trong việc chẩn đoán bệnh.

Để xác định chính xác bệnh, chị em nên đi làm sinh thiết tế bào để biết mình đang bị bệnh gì và điều trị kịp thời.

Thay đổi trong việc đi tiêu

Một số thay đổi trong việc đi tiêu như: liên tục có cảm giác muốn đi tiêu nhưng lại không thể đi, bị táo bón trong nhiều ngày, phân có màu đen hoặc liên tục cảm giác như ruột trống rỗng… có thể là dấu hiệu cảnh báo bênh ung thư âm đạo. Nếu bạn gặp các triệu chứng trên trong nhiều ngày, hãy đi khám ngay nhé.

Trong trường hợp bạn được chẩn đoán bị ung thư âm đạo, các bác sĩ sẽ tùy vào giai đoạn phát triển của bệnh mà có phương pháp chữa trị thích hợp, có thể là dùng phương pháp tế bào miễn dịch, phương pháp xạ trị hoặc phẫu thuật…

Để phòng ngừa bệnh ung thư âm đạo, bạn nên thực hành tình dục an toàn (sử dụng bao cao su trong những lần quan hệ để tránh lây bệnh tình dục), tiêm vắc-xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung  và đi khám phụ khoa theo định kì.

Theo afamily

Điều cần làm khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ

Cuộc sống bận rộn, thói quen ăn uống bừa bãi và ít vận động không chỉ làm cho nhiều người thừa cân mà còn gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh gan nhiễm mỡ.

Gan nhiễm mỡ thực chất là một biểu hiện của việc tích lũy quá nhiều lượng mỡ ở gan. Gọi gan nhiễm mỡ hay thoái hóa mỡ gan khi sự tích lũy chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ diễn tiến âm thầm, đôi khi không có triệu chứng và bệnh thường được phát hiện rất tình cờ. Người bệnh gan nhiễm mỡ có nguy cơ xơ cứng gan, ung thư gan cao gấp 150 lần bình thường.

Thực tế, gan nhiễm mỡ là bệnh mà nhiều người mắc phải đặc biệt là những người béo phì, uống rượu nhiều,…tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về bệnh.

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng
dieu-can-lam-khi-mac-benh-gan-nhiem-mo
Trước đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra bệnh gan nhiễm mỡ ở người uống nhiều rượu bia, người thừa cân béo phì và xếp những người này vào nhóm nguy cơ cao. Chính vì thế, rất nhiều người lầm tưởng rằng cơ thể gầy thì không mắc các loại bệnh nhiễm mỡ như gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

Nhiều người nghĩ rằng người béo thì thừa nhiều mỡ nên mỡ lan vào gan gây ra bệnh. Thực chất mỡ thừa ở người béo chỉ tích tụ vào xung quanh lá gan, bám vào bề mặt gan. Gần đây những trường hợp mắc bệnh ở người gầy càng nhiều. Bệnh gan nhiễm mỡ chủ yếu do rối loạn chuyển hóa tế bào gan gây ra.

Một số người phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ bằng cách ăn chay. Tuy nhiên, thực tế thực phẩm chay sẽ làm cho cơ thể dung nạp quá ít chất béo, chất béo trong cơ thể phân giải quá nhiều không những không thể chữa trị gan nhiễm mỡ mà còn làm bệnh nặng thêm. Ngoài ra, người ăn chay dung nạp không đủ protein còn hợp thành protein chất béo chậm, chất béo vận chuyển trở ngại, gan nhiễm mỡ còn nặng thêm.

Một số người lại cho rằng, các loại hoa quả giàu vitamin, chất khoáng và chất xơ, những chất này đều thúc đẩy chất béo trao đổi. Tuy nhiên, lượng đường trong hoa quả khá cao, nếu ăn quá nhiều sẽ gây rối loạn trao đổi của đường, gây ảnh hưởng không tốt cho đường huyết. Trong khi đó, nhiều loại đường trong cơ thể có thể chuyển hóa thành chất béo, làm nặng thêm gan nhiễm mỡ. Do vậy, người bị gan nhiễm mỡ có được ăn nhiều hoa quả hay không, ăn loại hoa quả nào, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào thì tùy thuộc vào tình trạng cơ thể.

Những người bị thiếu chất dinh dưỡng, thiếu các vi chất cần thiết sẽ làm hoạt động chuyển hóa mỡ không hiệu quả và gan bị nhiễm mỡ. Cụ thể là ăn ít hay ăn kiêng quá mức sẽ dẫn đến lượng đường trong máu quá thấp làm tăng phân giải mỡ thành năng lượng cung cấp trong cơ thể. Trong quá trình phân giải mỡ, lượng axit béo đi vào máu quá nhiều làm axit béo tự do trong máu tăng, dẫn đến tích trữ mỡ trong gan. Những người gầy, thiếu protein trong thời gian dài sẽ làm mỡ trong máu không thể chuyển hóa nên sinh ra gan nhiễm mỡ. Ngoài ra, những người gầy nhưng bị nhiêm virus viêm gan B, C hoặc dùng thuốc hại cho gan đều có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ.

Làm gì khi gan nhiễm mỡ?

Khám sức khỏe định kỳ: Khi phát hiện mình bị gan nhiễm mỡ, người bệnh cần được khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tiến triển của bệnh, kịp thời điều trị, đề phòng biến chứng. Đặc biệt là những người bị béo phì, người nghiện rượu, người bị tiểu đường tuýp 2 và những người bị suy dinh dưỡng thì việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, những người bị viêm gan C mãn tính, người bị tăng mỡ máu, người dùng liều cao một số thuốc như corticoides, tetracycline, estrogen cũng nên đi khám sức khỏe định kỳ.

– Giảm ăn các thực phẩm giàu cholesterol như các loại phủ tạng động vật, da động vật, lòng đỏ trứng.

– Hạn chế chất béo, ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá). Nên ăn các món ăn luộc, hạn chế các món rán, chiên mỡ, chiên bơ.

– Cân đối bữa ăn, nên tăng cường ăn cá tôm, cua, đậu.

– Nên uống sữa, và chỉ nên sử dụng các loại sữa không đường ít béo và tốt nhất là nên ăn sữa chua.

– Ăn uống điều độ, ăn đúng bữa, đúng giờ. Không nên ăn bữa tối quá muộn và nên ăn ít trước khi đi ngủ.

– Hạn chế rượu bia

– Tập luyện thể thao hợp lý kiểm soát cân nặng. Các chuyên gia khuyến cáo, bạn nên dành khoảng 30 phút để tập aerobic mỗi ngày, đi bộ hoặc đi xe đạp.

– Khi dùng thuốc người bệnh cần hỏi bác sĩ về tác dụng gây độc gan của thuốc, và hạn chế tối đa sử dụng các thuốc gây độc cho gan.

Biểu hiện của bệnh gan nhiễm mỡ

Thông thường gan nhiễm mỡ không gây ra triệu chứng gì đáng kể. Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn có thể có một số triệu chứng: Mệt mỏi, yếu ớt, khó chịu, buồn nôn và bụng nôn nao khó chịu; Lá gan có thể bị sưng to; Một số ít người có thể bị vàng da.

Nếu gan chỉ bị nhiễm mỡ thôi, bệnh không nguy hiểm cho lắm. Tuy nhiên, nếu hệ thống miễn nhiễm phát hiện có sự bất thường và hoạt động loại bỏ những tế bào gan hư hỏng này, bạch huyết cầu sẽ xuất hiện khắp nơi gây ra viêm gan. Viêm lâu ngày sẽ đưa đến xơ rồi chai gan.

Nguyên nhân của bệnh gan nhiễm mỡ

– Do dinh dưỡng: ăn nhiều thực phẩm có nhiều chất béo, hấp thu quá nhiều đường, uống nhiều rượu bia, thói quenngồi nhiều, ít vận động, căng thẳng, di truyền nếu trong gia đình có nhiều người bị béo phì.

– Do chất hóa học như uống quá nhiều bia rượu, nhiễm độc phospho, Arsenic, chì…

– Do nội tiết, do bệnh tiểu đường…

-Do miễn dịch.

– Do dùng một số loại thuốc có thể dẫn đến bệnh như các loại corticide, Tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ…

– Do vi khuẩn, virus trong quá trình bị viêm gan siêu vi B, C thường có biến chứng gan nhiễm mỡ đặc biệt là viêm gan siêu vi C (nhiều khi còn gọi là hậu viêm gan siêu vi là gan nhiễm mỡ).

Theo afamily

Điều trị thoái hóa khớp an toàn bằng thảo dược

Thoái hóa khớp là bệnh viêm khớp mạn tính. Trước đây, người ta xem nó là căn bệnh của người cao tuổi. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy, có rất nhiều người dưới 40 tuổi cũng bị thoái hóa khớp. Theo thống kê, hiện có khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 và 85% người trên tuổi 80 có nguy cơ mắc thoái hóa khớp. Trong đó, khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ. Sau tuổi 45, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới (gấp khoảng 1,5- 2 lần).

thoai-hoa-khop

Thoái hóa khớp thường xảy ra ở các khớp lớn, chịu lực như: cột sống thắt lưng, cột sống cổ, khớp gối, khớp háng… Nguyên nhân gây bệnh là do quá trình lão hóa của cơ thể, chấn thương, béo phì hoặc khớp phải chịu trọng tải lớn trong thời gian dài (lao động quá sức, mang vác nặng, làm việc sai tư thế). Hiếm gặp hơn là các nguyên nhân như di truyền hay khiếm khuyết bẩm sinh về xương khớp.
Thoái hóa khớp thường tiến triển chậm. Vào giai đoạn khởi phát, người bệnh chỉ cảm thấy đau nhức sau một vài động tác nhỏ. Một số trường hợp còn không cảm thấy đau đớn ở giai đoạn này. Thông thường, bệnh nhân có các biểu hiện đau âm ỉ ở phần tiếp nối giữa hai đầu xương và cứng khớp, sưng tấy tại một hoặc nhiều khớp, xuất hiện tiếng lạo xạo khi co duỗi khớp gối, càng vận động càng đau nhiều. Trường hợp nặng, khớp có thể biến dạng, sưng hoặc lệch trục kiểu vòng kiềng hoặc kiểu chân chữ X, thậm chí bị liệt.

Hiện nay đã có những phương pháp điều trị cũng như ngăn ngừa biến chứng do thoái hóa khớp (dùng thuốc, vật lý trị liệu, phẫu thuật…) Tuy nhiên mỗi một phương pháp điều trị đều có những ưu nhược điểm riêng.

Vì vậy, vấn đề cấp bách là cần nâng cao sự hiểu biết cho cộng đồng về căn bệnh này. Các chuyên gia khuyến cáo, việc chẩn đoán và điều trị sớm, đúng cách thoái hóa khớp sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế, cải thiện vận động khớp. Với trường hợp nhẹ, nên áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại, dùng máy phát sóng ngắn hay siêu âm, xung điện giảm đau. Lúc đau nhiều, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, tránh cho khớp phải hoạt động, kết hợp với dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể sử dụng các thuốc thảo dược đắp ngoài da đã được nghiên cứu chứng minh tác dụng điều trị hiệu quả thoái hóa khớp và an toàn khi dùng lâu dài.

Theo gia đình

Sụp mi mắt do chấn thương

Sụp mi là bệnh lý mi mắt thường gặp gây ảnh hưởng đến chức năng thị giác và thẩm mỹ của người bệnh. Sụp mi do chấn thương có thể xảy ra sau chấn thương mắt hay chấn thương sọ não. Sụp mi có thể xuất hiện đơn độc hay đi kèm các tổn thương nhãn cầu hay liệt các dây thần kinh vận nhãn khác gây ra lác, song thị.

Có thể phân sụp mi ra làm các loại sau:

– Sụp mi bẩm sinh: Bệnh xuất hiện từ nhỏ, ở một hay cả hai bên mắt với các mức độ từ nhẹ đến nặng. Sụp mi nặng che kín đồng tử, cản trở bệnh nhân nhìn và có thể gây nhược thị hay giảm thị lực. Sụp mi hai bên có thể gây vẹo cổ, do trẻ cố ngửa đầu ra sau để nhìn và gây biến dạng đốt sống cổ. Nguyên nhân có thể do dị dạng cân cơ nâng mi, yếu cơ hay nhược cơ.
sup-mi-2931a
–  Sụp mi mắc phải:Bệnh xuất hiện khi trẻ đã lớn hay ở người lớn do liệt dây thần kinh III hay khối u mi mắt hay chấn thương gây rách cân cơ nâng mi.

Điều trị sụp mi được chỉ định dựa theo mức độ sụp mi, tuổi bệnh nhân, loại sụp mi, nguy cơ sụp mi gây giảm thị lực và khả năng vận động của cơ nâng mi. Trong bài viết này chúng tôi chỉ tập trung bàn về sụp mi sau chấn thương.

Không giống như sụp mi bẩm sinh, sụp mi sau chấn thương thường hoàn toàn, che kín toàn bộ lòng đen và kết quả điều trị rất hạn chế trừ trường hợp do đứt cân cơ nâng mi.

Cũng như khám những trường hợp sụp mi bẩm sinh, cần đánh giá mức độ sụp mi dựa vào độ mở rộng của khe mi, mức độ vận động của cơ nâng mi và đặc biệt là có dấu hiệu Bell hay không (nhắm chặt mắt, nhãn cầu bình thường di chuyển lên trên và ra ngoài). Cần quan sát đánh giá vết thương mi xem có khả năng gây rách cân cơ nâng mi hay không?

Phẫu thuật nối cân cơ nâng mi bị rách mang lại kết quả tốt. Khó khăn là phải bộc lộ được cân cơ này. Để làm được điều đó đòi hỏi phẫu thuật viên phải tôn trọng giải phẫu mi mắt và cầm máu cẩn thận khi phẫu thuật.

Sụp mi sau chấn thương do liệt dây thần kinh III thường đi kèm giãn đồng tử, lác mắt và dấu hiệu Bell (-). Chỉ can thiệp 6 tháng đến 1 năm sau chấn thương và can thiệp lác trước sụp mi. Lý do là nâng mi có thể làm cho cảm giác song thị xuất hiện. Bên cạnh đó, Bell (-) là điều kiện dẫn đến hở giác mạc sau mổ. Cần lưu ý là mức độ sụp mi rất nặng, mi che kín toàn bộ giác mạc cho nên phải áp dụng treo cơ trán. Các chất liệu dùng để treo cơ trán gồm có cân cơ đùi, chỉ nylon và chất liệu sinh học. Lấy cân cơ đùi dễ để lại sẹo xấu ở đùi nên tránh áp dụng với bệnh nhân nữ. Chỉ nylon hay bị nhiễm trùng và tạo u hạt nên ít áp dụng. Chất liệu sinh học phải nhập khẩu đắt tiền. Quyết định được đề ra tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân.

Bệnh nhân cần được tư vấn rằng sụp mi sau chấn thương có thể chữa khỏi nhưng cũng có thể không  nếu nguyên nhân là do liệt thần kinh nặng. Không có chỉ định mổ khi dấu hiệu Bell (-) hay song thị quá nặng do lác.

Theo sức khỏe đời sống

Xác định nguyên nhân khiến tóc xơ rối

Hè về không chỉ khiến bạn lo lắng về làn da “rám nắng” bỏi những tia cực tím còn ẩn chứa nhiều nguyên nhân tiềm ẩn gây hại cho “góc con người” của bạn.

Mùa hè, tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh cho tóc

Nắng khiến xỉn màu tóc nhuộm

Nắng mùa hè còn là “kẻ thù số 1” với những ai có mái tóc nhuộm bởi các tia UV sẽ khiến các phân tử màu bị phá hủy nhanh chóng. Chúng khiến mái tóc bị nhạt màu, loang lổ, thậm chí thô ráp, xù xì.

Tóc gãy rụng do nắng

Cái nắng chói chang cùng thời tiết oi bức của mùa hè là nguyên nhân gây khiến mái tóc luôn trong tình trạng khô và xơ rối. Thêm vào đó, hóa chất có trong dầu gội, sức nóng từ công cụ tạo kiểu như là tóc, uốn tóc, ép tóc… đều khiến cho lớp biểu bì của sợi tóc dễ dàng bị phá hủy. Điều này khiến mái tóc xơ cứng và rất dễ gãy rụng.

Xơ cứng bởi điều hòa nhiệt độ
xo-cung
Việc lạm dụng điều hòa nhiệt độ quá nhiều chính là nguyên nhân gây hại cho mái tóc. Các chị em, đặc biệt là dân văn phòng, sau khi đi ngoài nắng nóng, tóc bết mồ hôi bước vào môi trường nhiệt độ thấp ngay sẽ khiến tóc bị đột ngột thay đổi nhiệt độ, chuyển từ ướt sang khô, hậu quả là khiến tóc bị xù xì, xơ cứng. Thêm vào đó, việc ngồi điều hòa hàng giờ liền sẽ khiến da và tóc mất đi lượng nước đáng kể, nguyên nhân của tóc khô, gãy rụng và chẻ ngọn.

Bí quyết cho mái tóc đẹp ngày hè
bi-quyet
– Vào mùa hè, ngoài việc bảo vệ da, bạn cũng nên chú ý bảo vệ mái tóc khỏi ánh nắng trực tiếp.

– Không nên gội đầu quá nhiều vì gội đầu thường xuyên sẽ khiến tóc bị mất đi lượng dầu và độ ẩm vốn có làm tóc trở nên khô và xơ cứng. Hạn chế sử dụng các dụng cụ tạo kiểu dùng nhiệt, và không nên dùng quá nhiều hóa chất có hại cho tóc như ép tóc, làm xoăn…

– Không nên buộc hay búi tóc thường xuyên vì nó sẽ khiến tóc bạn yếu và dễ gãy rụng hơn rất nhiều.

– Hạn chế tối đa việc ngồi điều hòa trong thời gian dài ở nhiệt độ quá thấp và tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột.

Quan trọng hơn cả, để có một mái tóc thực sự khỏe mạnh bạn cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý để tóc được nuôi dưỡng từ bên trong. Ăn nhiều rau củ quả đặc biệt là các rau củ hay thực phẩm chứa vitamin B, biotin, vitamin C, kẽm… Thực tế cho thấy có hơn 95% dưỡng chất nuôi tóc do máu mang lại, việc chăm sóc tóc bên ngoài bằng dầu gội, dầu xả, kem ủ tóc… chỉ có tác dụng làm sạch và làm bóng tóc tạm thời chứ không có tác dụng lâu dài.

Ngày nay, ngành dược phẩm hiện đại đã nghiên cứu và chế xuất thành công nhiều sản phẩm bổ sung dưỡng chất cho tóc từ bên trong có nguồn gốc từ thảo dược thiên nhiên hoàn toàn an toàn cho người sử dụng.

Theo tiền phong

Có phòng ngừa được đau thần kinh hông ?

Đau thần kinh hông (thần kinh tọa) thường gặp khá nhiều trong cộng đồng, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (nữ giới chỉ gặp 1/3). Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh hoạt, lao động, thậm chí gây tàn phế. Tuy vậy, bệnh đau thần kinh hông cũng có thể phòng ngừa nếu được quan tâm đúng mức.

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Tuổi từ 30 – 60 dễ gặp đau dây thần kinh hông. Đau dây thần kinh hông chủ yếu là đau rễ thần kinh thắt lưng 5 và rễ thần kinh cùng 1. Đau thần kinh hông liên quan mật thiết với tủy sống. Về mặt cấu tạo thì tủy sống nằm trong ống sống. Dọc theo cột sống thì mỗi đoạn tủy sống có một đôi rễ thần kinh tương ứng đi ra khỏi ống sống (mỗi bên một rễ thần kinh). Đôi rễ thần kinh này có chức năng chi phối vận động và chi phối cảm giác từng bộ phận của cơ thể. Đôi rễ thần kinh của thắt lưng số 5 và cùng 1 được gọi là thần kinh hông (thần kinh tọa).

cach-phong-ngua-benh-dau-than-kinh-hong

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây đau thần kinh hông, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nhưng nguyên nhân xuất phát từ cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả, trong đó thoát vị đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm gây nên đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ rất cao (từ 60 – 90%). Đĩa đệm là phần cấu trúc không xương nằm giữa 2 đốt sống, được cấu tạo bởi các sợi rất chắc bao bọc xung quanh và ở giữa là nhân nhày. Đĩa đệm có tác dụng làm “giảm xóc” khi có lực nén tác động vào cột sống (từ trên xuống hoặc từ dưới lên). Khi lực tác động mạnh, đột ngột lên đĩa đệm thì làm cho các vòng sợi có thể bị rách và nhân nhày bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống hoặc chui vào vị trí thoát ra của rễ thần kinh thắt lưng số 5 và cùng 1 làm chèn ép rễ thần kinh và gây đau. Ở người đang độ tuổi lao động, khi làm việc nặng, quá sức, sai tư thế rất có thể bị tổn thương đĩa đệm.

Tổn thương đĩa đệm thường xảy ra cấp tính. Ở người tuổi xế chiều, đau thần kinh hông thường do thoái hóa đĩa đệm cho nên  thường xảy ra mạn tính và hay tái phát. Đau thần kinh hông cũng có thể do có sự biến đổi bất thường ở đốt sống thắt lưng như trượt đốt sống số 5 do cơ học (bưng bê không cân xứng, mang vác nặng) hoặc do đốt sống thắt lưng đã hoặc đang thoái hóa. Đau thần kinh hông cũng có thể do u xương sống, nhiễm khuẩn (lao cột sống, viêm do tụ cầu…), viêm khớp cùng chậu, ung thư ở cơ quan khác di căn đến. Đau thần kinh hông cũng có thể do viêm đốt sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp làm thu hẹp ống sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh và có thể gây nên hội chứng “đuôi ngựa”. Viêm cột sống dính khớp thường gặp ở tuổi trung niên (dưới 40 tuổi), biểu hiện là đau âm ỉ thắt lưng, mông, đau nhiều về đêm và buổi sáng, thường có biểu hiện cứng khớp cột sống thắt lưng làm hạn chế vận động.

Ngoài ra, người ta cũng thấy đau thần kinh hông có thể có liên quan đến chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh hông như bị gãy xương chậu hoặc bị tiêm trực tiếp vào thần kinh hông (tiêm mông sai kỹ thuật) hoặc do một loại thuốc dầu được tiêm mông rồi thuốc khuếch tán đến thần kinh hông hay do loãng xương gây thoái hóa khớp.

Biểu hiện của đau thần kinh hông

Đau thần kinh hông dọc theo đường đi của dây thần kinh, vì vậy, triệu chứng đau rất điển hình. Trước tiên là đau thắt lưng, sau đó đau lan xuống mông, đến mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, rồi lan xuống mặt trước mắt cá ngoài, mu bàn chân và vắt ngang qua ngón cái. Nếu tổn thương ở đốt sống thắt lưng số 5 thì đau ở vùng thắt lưng. Cơn đau thường tự nhiên, bột phát, liên tục nhưng có trường hợp đau cấp tính như dao đâm. Điển hình nhất của cơn đau là xuất hiện khi gắng sức cúi xuống để nâng một vật nặng bỗng thấy đau nhói ở thắt lưng, bắt buộc phải ngừng công việc. Sau một vài giờ, tuy không làm việc nặng nữa nhưng lưng vẫn bị đau và có trường hợp vài ba ngày sau đó lưng vẫn còn tiếp tục đau. Đau tăng lên và lan dọc theo dây thần kinh hông, nhất là khi ho, hắt xì hơi hoặc lúc rặn để đại, tiểu tiện. Cơn đau có thể giảm khi nằm nghỉ, nhất là được nằm trên mặt giường cứng.

Ngoài ra, cũng có thể thấy có cảm giác đau như kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân, bắt chéo qua mu bàn chân và ngón cái hoặc ngón út bàn chân. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của ngành khoa học y học mà việc chẩn đoán đau dây thần kinh hông có nhiều thuận lợi hơn như chụp bao rễ thần kinh, chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Đau thần kinh hông nếu không được chữa trị nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức lao động, lâu dần sẽ bị teo cơ và có thể gây tàn phế.

Cách phòng bệnh

Ngoài 30 tuổi, (nam và nữ) nên theo dõi mật độ xương định kỳ  nhằm phát hiện sớm hiện tượng loãng xương gây thoái hóa khớp, đặc biệt là người lao động chân tay hoặc người phải ngồi lâu, nhiều giờ trong 1 ngày và kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hàng ngày, nên tập thể dục đều đặn để khí huyết lưu thông, thuận lợi cho việc nuôi dưỡng các cơ quan và các khớp xương. Cần có các động tác tập các khớp xương thích hợp, nhẹ nhàng, uyển chuyển, ví dụ như các động tác tập thể dục buổi sáng. Những người phải thường xuyên mang vác nặng cần thao tác đúng tư thế, tránh để xảy ra hiện tượng chấn thương lồi đĩa đệm hoặc trật, trượt khớp đốt sống. Khi bị thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, cần điều trị tích cực đúng theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa khớp. Người bị đau thần kinh hông cần điều trị tích cực theo chỉ định của bác sĩ để tránh bệnh trở thành mạn tính, thậm chí gây biến chứng teo cơ, tàn phế. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất và bổ sung lượng canxi cần thiết khi có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình.

PGS.Ts.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Theo SKDS

Bệnh porphyrin da mắc phải muộn là gì ?

Bệnh porphyrin da mắc phải muộn (acquired porphyria cutanea tarda-APCT) là bệnh da ít gặp, với tỷ lệ mắc bệnh ước tính khoảng 1/25000 người. Bệnh có thể gặp ở mọi chủng tộc, mọi nơi trên thế giới. Bệnh gặp ở cả nam và nữ, và thường biểu hiện bệnh ở tuổi trung niên. Bệnh porphyrin da mắc phải muộn được xếp vào nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa do rối loạn chức năng các loại men đặc hiệu trong chu trình tổng hợp HEME và porphyrin. Biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh là các tổn thương bọng nước, sẹo, nhạy cảm ánh sáng, tập trung chủ yếu ở vùng da hở, vùng tiếp xúc nhiều với ánh sáng. Bệnh thường gặp ở bệnh nhân có các bệnh về gan. Bệnh không nguy hiểm tới tính mạng nhưng ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý, sinh hoạt, lao động và làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Bệnh biểu hiện như thế nào?
Triệu chứng của bệnh gồm các biểu hiện chủ yếu là các tổn thương ở da điển hình với một số hình ảnh: Da xù xì, nhăn nheo, lồi lõm, mất độ trơn bóng. Xuất hiện các mụn nước, bọng nước kích thước vài milimet tới vài centimet, sau đó có thể trợt, loét, có chỗ đóng vảy da, vảy tiết. Vết trợt loét thường gặp sau các vết thương, trầy xước. Các vết loét khi lành có thể để lại nền da thô ráp với nhiều mụn, sẩn nhỏ li ti, màu trắng trông giống hạt kê (milia). Tổn thương thường để lại sẹo, teo da, vảy da, các đám tăng hoặc giảm sắc tố tạo ra các vùng da loang lổ. Bệnh tồn tại lâu dài có thể gặp hiện tượng rậm lông ở mặt: tai, má; tay, chân. Các sợi lông mọc ngày càng dài, rậm và đen hơn bình thường.

Ngoài ra tùy từng trường hợp còn có một số biểu hiện khác như: xạm da, rụng tóc do sẹo, tổn thương móng, bong móng, tổn thương da xơ cứng từng mảng. Trong giai đoạn xuất hiện bọng nước, tổn thương bọng nước thường đau, rát giống bị bỏng. Vị trí tổn thương da tập trung chủ yếu ở các vùng da hở, vùng tiếp xúc nhiều với ánh nắng như ở mặt, mặt duỗi cẳng, mu bàn tay; mu bàn chân.

benh-porphyrin-da-mac-mac-phai-muon-la-gi

Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh?
Cơ chế bệnh xuất hiện là do thiếu hoặc giảm chức năng của men uroporphyrinogen decarboxylase (UROD). Đây là một men quan trọng trong quá trình chuyển hóa, tổng hợp  HEME (là một thành phần trong cấu trúc nhiều loại tế bào quan trọng của cơ thể như hồng cầu). Khi thiếu men UROD, gây cản trở trong quá trình chuyển hóa bình thường để tổng hợp HEME, gây tăng và ứ trệ porphyrin hoặc các sản phẩm chuyển hóa trong chu trình tổng hợp HEME ở nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể. Porphyrin và các sản phẩm chuyển hóa trên có khả năng hấp phụ ánh sáng và chuyển thành dạng năng lượng cao, từ đó gây tổn thương tại các mô có chứa các chất này.

Thiếu men UROD có thể do di truyền hoặc do mắc phải. Đối với thể bệnh di truyền, còn gọi là bệnh porphyrin da muộn gia đình (family porphyria cutanea tarda), gen mã hóa men này nằm ở vị trí 34 nhánh ngắn, cặp nhiễm sắc thể thứ nhất và bệnh di truyền trội. Khi thiếu men UROD xảy ra ở các tế bào gan, do sự tác động của một số yếu tố như rượu, nội tiết tố estrogen, sắt, một số loại virus, một số loại thuốc và hóa chất, sẽ tiến triển thành bệnh porphyrin da mắc phải muộn. Thể bệnh này chiếm tới 75% trong số bệnh nhân mắc bệnh porphyrin da muộn.

Rượu là yếu tố kích hoạt APCT. Rượu ảnh hưởng tới nhiều men chuyển hóa trong chu trình sinh tổng hợp HEME, từ đó làm tăng uroporphyrinogen trong huyết tương, tăng lượng uroporphyrinogen trong nước tiểu và phân. Uống rượu lâu dài làm tăng hấp thu sắt cũng là yếu tố kích hoạt bệnh porphyrin da mắc phải muộn.

Estrogen là nội tiết tố sinh dục thường được sử dụng trong thuốc tránh thai. Trước đây, tỷ lệ mắc APCT ở nam cao hơn nữ, nhưng từ khi thuốc tránh thai được sử dụng rộng rãi thì bệnh nhân nữ lại tăng lên đáng kể. Các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc APCT tăng cao ở những nam giới dùng estrogen trong trị liệu nội tiết tố để điều trị ung thư tinh hoàn hoặc trường hợp bổ sung nội tiết và liệu pháp nội tiết tố thay thế ở phụ nữ tiền mãn kinh.

Một số hóa chất khác cũng được cho là có vai trò quan trọng trong bệnh APCT. Hexachlorobenzene (HCB) là một hóa chất diệt nấm có thể làm giảm hoạt tính của men UROD. HCB làm tăng porphyrin lưu hành trong máu, trong gan, nước tiểu và phân, gây nên các biểu hiện bệnh APCT. Trên thế giới cũng có nhiều báo cáo về các trường hợp APCT do nhiễm HCB cấp hoặc mạn tính. Tetrachlorodibenzo-p-Dioxin là một hóa chất trong thành phần chất khai quang, diệt cỏ có độc tính cao. Hóa chất này độc và có khả năng phá hủy gan, gây ra bệnh APCT.

Nồng độ sắt trong huyết thanh cao hơn bình thường ở người bị APCT. Tỷ lệ người bệnh APCT cao ở những trường hợp nghiện rượu mạn tính và có nồng độ sắt huyết thanh cao. Sắt huyết thanh cao có khả năng ức chế hoạt động của men UROD, phá hủy màng các bào quan trong tế bào gan như các ty lạp thể, gây độc cho tế bào gan và ảnh hưởng tới chu trình tổng hợp HEME.

Một số virus như virus viêm gan C, HIV cũng có vai trò trong bệnh APCT. Đặc biệt ở những người có kết hợp với các yếu tố khác như uống nhiều rượu, sắt huyết thanh cao…

Làm thế nào để chẩn đoán được bệnh?

Bệnh cần được chẩn đoán và điều trị tại các cơ sở chuyên khoa da liễu. Chẩn đoán bệnh thường dựa vào các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu trên da và xét nghiệm bao gồm: xét nghiệm định lượng uroporphyrinogen, porphyrin trong máu, xét nghiệm tìm uroporphyrinogen, coproporphirinogen, protoporphirinogen trong phân và nước tiểu. Một biện pháp đơn giản để xác định porphyrin trong nước tiểu là sử dụng đèn Wood soi sẽ thấy nước tiểu có màu đỏ. Ngoài ra còn có các xét nghiệm khác hỗ trợ chẩn đoán như sinh thiết da, sinh hóa, huyết học.

Bệnh được điều trị thế nào?

Điều quan trọng trong điều trị bệnh là: phải loại trừ các căn nguyên gây bệnh như: rượu, estrogen, sắt, nhiễm virus, một số loại thuốc và hóa chất… Không sử dụng các loại thuốc hoặc hoạt chất có hại cho gan. Các triệu chứng của bệnh có thể điều trị bằng một số phương pháp sau đây:

Giảm lượng máu trong cơ thể (phlebotomy): là phương pháp rút bớt máu trong cơ thể. Trong bệnh APCT, đây là lựa chọn trị liệu hàng đầu, dễ thực hiện và hiệu quả. Mỗi tháng có thể lấy 2 lần, mỗi lần 250-400ml máu tĩnh mạch. Trong thời gian 3-6 tháng.

Thuốc chống sốt rét: trong những trường hợp phương pháp điều trị trên không thể áp dụng hoặc có chống chỉ định, thuốc kháng sốt rét là lựa chọn tốt để thay thế. Thường sử dụng chloroquine hoặc hydroxychloroquine liều cao dùng hàng ngày hoặc liều thấp, tuần 2 lần. Một số trường hợp có thể dùng cả hai phương pháp điều trị trên.

Làm gì để phòng bệnh?

Phòng bệnh cần quan tâm đến các yếu tố căn nguyên nêu trên. Không sử dụng rượu, tránh hoặc ngưng dùng thuốc hoặc các hoạt chất có thể gây bệnh. Có chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý. Điều trị sớm các bệnh lý của gan. Bảo vệ da bằng cách tránh nắng, che nắng thật tốt bằng các phương pháp vật lý và kem chống nắng. Khi đã bị bệnh, hạn chế các chấn thương, trầy xước trên da, đặc biệt các vùng hở, vùng phơi nhiễm ánh sáng.

Phòng và phát hiện sớm: Thường xuyên kiểm tra định kỳ ba tháng một lần chỉ số porphyrin trong máu, nước tiểu, phân để phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.

TS. Vũ Tuấn Anh

Tìm hiểu thêm về bệnh viêm phổi ở trẻ em

Viêm phổi là tình trạng tổn thương cấp tính, lan tỏa 2 bên phổi gây rối loạn trao đổi khí tại cơ quan này, dẫn đến suy hô hấp, tiến triển nặng. Bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa đông xuân, khi thời tiết thay đổi, trời lạnh, độ ẩm cao.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây nên như vi khuẩn (phế cầu, liên cầu, tụ cầu, hemophilus influense, e.coli, trực khuẩn mủ xanh…), virút (cúm, thủy đậu, sởi, SARS), nấm, ký sinh trùng… Bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác, từ súc vật sang người. Trẻ em có thể bị bệnh sau khi tiếp xúc với người lớn mắc bệnh 2 – 3 tuần.

Viêm phổi do virút có thể gây thành dịch nguy hiểm. Ở trẻ càng nhỏ, diễn biến bệnh càng nhanh và nặng. Những trẻ suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV/AIDS), có dị tật bẩm sinh về tim mạch, phổi, lồng ngực, đẻ thiếu cân… rất dễ mắc bệnh.

viem_phoi_tre_em

ảnh minh họa

Biểu hiện của bệnh

Các biểu hiện thường rất đa dạng và phức tạp:

– Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc…

– Giai đoạn sau: nếu trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát thì sẽ diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi…

Ngoài ra, trẻ có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng, phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Tình trạng này kéo dài sẽ gây thiếu oxy cung cấp cho não, trẻ sẽ li bì hoặc bị kích thích, co giật…

Nguyên tắc điều trị viêm phổi ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt:

– Ở tuyến cơ sở: nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ (natricloxit 9%o), súc miệng hằng ngày. Có thể dùng một số loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như: penixilin, amoxilin, erythromycin… (tốt nhất nên dùng đường uống, dạng siro). Khi tình trạng bệnh không cải thiện thì nên chuyển lên tuyến trên.

– Khi trẻ viêm phổi nặng: nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ thì dựa vào lứa tuổi, diễn biến của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamycin, amoxilin, cefotaxim, cefuroxim…

– Điều trị hỗ trợ: hạ nhiệt bằng paracetamon, chườm mát…, làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo. Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nếu tím tái nặng, ngừng thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao kéo dài, có biểu hiện mất nước, cần truyền dịch.

– Chăm sóc: cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải, tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và cần phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Để phòng viêm phổi ở trẻ

Nhằm giúp con trẻ không bị viêm phổi, các bậc cha mẹ cần chú ý:

– Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt, ấm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch.

– Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân…

– Đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt. Khi mang thai, bà mẹ phải khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, có chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng như protid, lipid, các loại vitamin, muối khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đến 2 tuổi để cơ thể trẻ phát triển toàn diện và khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn.

– Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vắc-xin phòng viêm đường hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hướng dẫn và tư vấn của cán bộ y tế nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

– Lập sổ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giữ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhân viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Theo suckhoevadoisong

Bệnh Pellagre

Pellagre là bệnh ngoài da gây nên do rối loạn chuyển hoá vitamin PP. Bệnh thường xuất hiện ở vùng hở, nặng lên vào mùa xuân hè thuyên giảm vào mùa đông. Bệnh không tự khỏi nếu không được điều trị, ngoài tổn thương ở da còn tổn thương nội tạng như tiêu hoá, thần kinh và trường hợp nặng có thể gây tử vong.

Bệnh pellagre do rối loạn chuyển hoá vitamin PP (thường là do thiếu vitamin PP), nguyên nhân thiếu vitamin PP rất đa dạng. Có thể do một trong những nguyên nhân sau:

Ăn chế độ ăn ngô hoặc lúa miến nguyên chất (không chế biến hoặc chỉ ăn ngô và ăn lúa miến mà không ăn thêm các loại ngũ cốc khác); Rối loạn hấp thụ của cơ quan tiêu hoá. Trường hợp này ngoài thiếu  vitamin PP còn kèm theo thiếu các vitamin nhóm B khác như B1, B2, B6… Rối loạn chuyển hoá acid amin tryptophan. Ăn chế độ ăn hoàn toàn bằng rau; Do thuốc: Một số thuốc làm ảnh hưởng tới chuyển hoá và hấp thụ vitamin PP như rimifon, sulfamid, thuốc chống co giật, thuốc chống trầm cảm hoặc do khối u ác tính.

Chẩn đoán

Thương tổn da:

Bắt đầu là một đám dát đỏ giới hạn rõ rệt. Trên dát đỏ có vảy da, có khi có bọng nước, mụn nước. Nếu thương tổn mới phát, da vùng bị bệnh sẽ phù nhẹ, dần dần da trở nên khô dày và sẫm màu. Bệnh nhân có cảm giác ngứa, nóng ở vùng thương tổn. Thương tổn có tính chất đối xứng.

Vị trí:Các thương tổn có ranh giới rõ rệt, khu trú ở vùng hở (vùng bị ánh sáng mặt trời chiếu vào).Ngoài các vị trí hay gặp nói trên, bả vai cánh tay, khuỷu tay, đầu gối cũng bị thương tổn (các thương tổn này thường gặp ở bệnh nhân mặc quần đùi áo may ô).

Thương tổn niêm mạc:

Hồng ban dạng Pellagre: Đây là bệnh pellagre không điển hình, các biểu hiện lâm sàng chủ yếu xuất hiện trên da. Thương tổn cơ bản là da đỏ, bong vảy da. Bệnh khu trú ở vùng tiếp xúc với ánh nắng (vùng hở). Nếu không chữa bệnh sẽ chuyển sang bệnh pellagre thật sự.

Thương tổn nội tạng:

Cơ quan tiêu hoá: Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp của bệnh pellagre. Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác như chán ăn, buồn nôn, đôi khi có rối loạn chức năng gan. Các triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuất hiện trước khi có thương tổn da.

Thần kinh: Bệnh nhân thường đau đầu, chóng mặt, đau các dây thần kinh ngoại biên, giảm trí nhớ, có khi có dấu hiệu thiểu năng tinh thần, rối loạn thị giác.

benh_Pellagre

Để chẩn đoán xác định

Dựa vào tổn thương da, niêm mạc, tiêu hoá, thần kinh như mô tả ở trên. Thương tổn da khu trú ở vùng hở. Bệnh xuất hiện và nặng lên vào mùa hè. Điều trị thử bằng vitamin PP thấy bệnh giảm rõ rệt. Định lượng nồng độ vitamin PP  trong máu giảm. Mô bệnh học.

Chẩn đoán phân biệt

Viêm da tiếp xúc:

Một số hoá chất nhất là hoá chất bay hơi gây ra viêm da tiếp xúc ở vùng hở, chẩn đoán dựa vào tiền sử tiếp xúc với hoá chất. Diễn biến bệnh cấp tính, bệnh có thể xuất hiện vào bất kỳ lúc nào nếu tiếp xúc với hoá chất gây dị ứng. Loại bỏ hoá chất gây dị ứng bệnh sẽ khỏi.

Lupus ban đỏ:

Ban hình cánh bướm, tăng nhạy cảm ánh nắng, ban đỏ hình đĩa, đau khớp, loét niêm mạc, biểu hiện tâm thần kinh, tổn thương thận, máu giảm một hay cả ba dòng, tràn dịch đa màng, biến đổi miễn dịch, kháng thể kháng phospholipid. Nếu có 4 trên 11 tiêu chuẩn thì chẩn đoán là lupus.

Viêm da do ánh nắng:

Bệnh phát vào mùa xuân hè, có yếu tố cảm quang ở trong các lớp biểu bì da, nếu loại bỏ các chất cảm quang này và hạn chế ra nắng bệnh giảm hay khỏi hoàn toàn.

Điều trị

Thuốc dùng ngoài:

– Thuốc bong vảy, mỡ acid salicylic.

– Kem kẽm.

– Kem chống nắng.

Thuốc dùng trong:

– Vitamin PP là thuốc điều trị đặc hiệu bệnh này. Nếu điều trị bằng vitamin PP (nicotinnamid) mà không khỏi thì không phải là bệnh pellagre.

Lưu ý:  Phải uống thuốc sau khi ăn no. Thuốc có thể gây dị ứng.

– Nên cho thêm vitamin B1, B2, B6.

– Điều trị bằng vitamin PP thương tổn da sẽ giảm và mất đi nhanh nhất và trước nhất. Các dấu hiệu rối loạn thần kinh và rối loạn tiêu hoá sẽ giảm và mất đi sau.

Tiên lượng: Bệnh thường xuất hiện và nặng lên vào mùa hè. Mùa đông giảm đi chứ không khỏi hẳn. Nếu không được điều trị bệnh tiến triển càng ngày càng nặng. Da dần dần thâm, khô, dày, bong vảy liên tục. Các biểu hiện nội tạng sẽ nặng dần lên nhất là rối loạn tiêu hoá và đau dây thần kinh ngoại biên. Một số trường hợp nặng nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong.

Phòng bệnh

Nên ăn các loại ngũ cốc khác nhau tránh chỉ ăn hai loại ngũ cốc là ngô và lúa miến đơn thuần.

Theo suckhoevadoisong

Tìm hiểu về bệnh bạch biến

Bạch biến là tình trạng mất sắc tố làm da trắng hoàn toàn thành từng đốm, từng mảng khu trú hoặc rải rác toàn thân, do các tế bào sắc tố bị tiêu hủy và biến mất. Bệnh chiếm khoảng 1% dân số, gặp cả 2 giới nhưng có xu hướng nữ nhiều hơn nam. Bệnh có thể bắt đầu ở bất cứ lứa tuổi nào, nhưng hay gặp ở tuổi trẻ.

Vì sao bạch biến?

Xuất hiện bệnh trước 20 tuổi chiếm 50%. Cho đến nay, người ta vẫn chưa bết rõ được nguyên nhân gây bệnh. Có 3 giả thuyết được coi là tham gia vào cơ chế sinh bệnh bạch biến:

Thuyết tự miễn: có thể do rối loạn đáp ứng miễn dịch làm xuất hiện một số tế bào lympho hoạt hóa phá hủy một cách chọn lọc tế bào sắc tố. Nhưng cơ chế gây hoạt hóa các tế bào lympho này thì người ta không giải thích được.

Thuyết thần kinh: dựa vào sự tương tác của tế bào sắc tố và tế bào thần kinh.

Thuyết tự phá hủy: người ta cho rằng tế bào sắc tố tự phá hủy bởi chất độc được tạo ra trong quá trình tổng hợp sắc tố bình thường.

Liên quan đến gia đình (di truyền): nghiên cứu trong gia đình người bị bạch biến, khoảng 30% bệnh nhân thấy trong gia đình cũng có người thân bị bạch biến.

Các yếu tố khác: sang chấn tâm lý, tác động của hoá chất, rối loạn chức năng một số phủ tạng… có thể cũng là những điều kiện thuận lợi để xuất hiện thương tổn bạch biến.

benh_bach_bien

 Tổn thương bạch biến

Biểu hiện bệnh

Thương tổn bệnh bạch biến đặc trưng là những mảng da màu trắng sữa, rải rác khắp cơ thể, có hình dạng và kích thước khác nhau. Bờ thương tổn giới hạn rõ, thường ngoằn ngoèo không đều, đôi khi có màu sẫm hơn. Soi đèn Wood sẽ thấy da thương tổn bị mất melanin. Mặt thương tổn bằng phẳng với da lành, không có vảy, không thâm nhiễm, không dày sừng, không teo da, có thể trắng đều hoặc còn những chấm màu nâu.

Khởi đầu có thể thấy một hoặc nhiều thương tổn, thường khu trú ở những vùng hở. Khi có nhiều thương tổn thì thường được phân bố ở cả hai bên cơ thể, đôi khi có tính chất đối xứng. Kích thước thương tổn lúc đầu nhỏ dạng chấm trắng, sau đó liên kết lại với nhau thành đám, thành mảng lớn. Lông, tóc tại vùng bị bệnh thường cũng có màu trắng.

Vị trí thương tổn hay gặp ở một số vùng da của cơ thể như: vùng da bình thường có tăng sắc tố (hố nách, cơ quan sinh dục ngoài), vùng hở tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, vùng quanh các hốc tự nhiên, chỗ xương lồi ra (đầu gối, mào xương chày, mắt cá, gai chậu, quanh các nốt ruồi, bớt, vùng da thường xuyên bị cọ xát (quai áo lót, thắt lưng, vết bỏng) gọi là hiện tượng Köbner. Thương tổn ở niêm mạc, lòng bàn tay, bàn chân hay gặp ở người có màu da đậm. Có thể gặp thương tổn ở da đầu nhưng được che lấp bằng một đám tóc trắng.

Tiến triển của bệnh không theo quy luật, thường mạn tính dai dẳng trong nhiều năm, có những đợt tăng lên vào mùa hè và giảm đi vào mùa đông. Khoảng 15-30% bệnh nhân bệnh khỏi.

Trị bệnh bạch biến

Mục tiêu điều trị chủ yếu là nhằm cải thiện hình thức, khôi phục màu da bị tổn thương hoặc làm cho da có màu đồng đều bằng cách phá hủy sắc tố còn lại. Thời gian điều trị thường lâu, kéo dài từ 6 tháng đến một năm hoặc nhiều năm. Vì vậy, người bệnh phải kiên trì phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc để điều trị.

Các phương pháp điều trị bệnh bạch biến hiện nay gồm: dùng thuốc toàn thân hay tại chỗ phối hợp với trị liệu ánh sáng, phẫu thuật ghép da, cấy tế bào sắc tố và các liệu pháp phối hợp (được sử dụng cùng với phương pháp điều trị phẫu thuật hoặc thuốc):

Corticoid: dùng tại chỗ có tác dụng phục hồi lại sắc tố cho da, đặc biệt được sử dụng ngay khi bệnh mới xuất hiện. Tuy nhiên, khi sử dụng các corticoid tại chỗ lâu dài có thể gây ra những tác dụng không mong muốn. Corticoid tại chỗ có thể sử dụng phối hợp với psoralen (Meladinine) tại chỗ sẽ phát huy được tác dụng hiệp đồng và hạn chế được tác dụng không mong muốn của mỗi loại thuốc khi dùng đơn độc. Một số công trình nghiên cứu sử dụng corticoid toàn thân liều thấp phối hợp với bôi meladinine cũng thấy có kết quả.

Psoralen: là một loại thuốc có tính chất cảm quang, được sử dụng phổ biến và có hiệu quả điều trị bệnh bạch biến và một số bệnh da khác. Psoralen có dạng bôi và dạng uống. Tùy theo mức độ của của thương tổn có thể dùng bôi hoặc uống hoặc phối hợp với các phương pháp điều trị khác, đặc biệt là phối hợp với phơi nắng mặt trời hoặc chiếu tia cực tím, được gọi là trị liệu psoralen kết hợp với tia cực tím bước sóng A (PUVA).

Trị liệu PUVA: sau khi uống hoặc bôi psoralen thì phơi nắng mặt trời hoặc chiếu tia cực tím A (UVA) theo một chỉ định về thời gian hết sức nghiêm ngặt và được thầy thuốc theo dõi chặt chẽ để đề phòng những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

Uống psoralen kết hợp với chiếu tia cực tím A thường được sử dụng cho những bệnh nhân có diện thương tổn rộng (hơn 20% diện tích cơ thể) hoặc cho những người không đáp ứng với liệu pháp PUVA tại chỗ. Psoralen đường uống không nên dùng cho trẻ em dưới 10 tuổi bởi vì nó làm tăng nguy cơ tổn thương mắt như đục thủy tinh thể. Đối với trị PUVA uống thì phải uống psoralen khoảng 2 giờ trước phơi nắng mặt trời hoặc chiếu UVA, điều trị hai hoặc ba lần một tuần, không bao giờ điều trị 2 ngày liên tiếp.

Tác dụng không mong muốn của psoralen đường uống là gây cháy nắng, buồn nôn và nôn, ngứa, tóc tăng trưởng bất thường và tăng sắc tố. Liệu pháp PUVA cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư da, mặc dù nguy cơ là tối thiểu ở liều sử dụng cho bạch biến.

Tacrolimus (Talimus, Rocimus, Protopic): thuốc bôi thuộc nhóm ức chế bơm canxi. Thuốc phát huy tác dụng điều trị bệnh bạch biến khi kết hợp với phơi nắng hoặc chiếu UVB.

Các thuốc điều trị tại chỗ khác: một số báo cáo cho thấy một số đồng đẳng của vitaminD3 (Daivonex) cũng có tác dụng điều trị bệnh bạch biến.

Làm mất sắc tố da: là sử dụng các phương pháp làm mờ phần da bình thường còn lại trên cơ thể để phù hợp với màu da ở vùng thương tổn đã bị trắng. Áp dụng cho những người bị bạch biến trên 50% diện tích da của cơ thể. Bôi kem 20% monobenzylether của hydroquinon (monobenzone) hai lần một ngày vào các vùng sắc tố cho đến khi chúng có màu phù hợp với màu da bệnh. Cần phải tránh tiếp xúc trực tiếp da với da của người khác ít nhất 2 giờ sau khi bôi thuốc. Bởi vì, thuốc có thể lan sang gây mất sắc tố da của họ. Tác dụng phụ chủ yếu của trị liệu mất sắc tố da là gây viêm da (tấy đỏ và sưng), có thể ngứa hoặc da khô. Trị liệu làm mất sắc tố có xu hướng tồn tại vĩnh viễn và không dễ phục hồi lại được. Ngoài ra, một số người sẽ bị bất thường nhạy cảm với ánh sáng mặt trời.

Phẫu thuật: cắt bỏ thương tổn hoặc cấy ghép da tự thân. Tuy nhiên, điều trị phẫu thuật chỉ thực hiện được ở những cơ sở có đủ điều kiện về vật chất, trang thiết bị và có đội ngũ cán bộ y tế với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Trong tương lai, việc nuôi cấy tế bào sắc tố da có thể được triển khai áp dụng để điều trị bệnh bạch biến. Hy vọng phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả điều trị cao.

Hóa trang: có thể sử dụng một số loại mỹ phẩm hoặc màu để ngụy trang những đám thương tổn bạch biến, một giải pháp tạm thời để giải quyết vấn đề thẩm mỹ khi cần thiết cho bệnh nhân.

Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh bạch biến. Nhưng nếu được chẩn đoán và điều trị sớm bằng những phương pháp phù hợp thì bệnh sẽ được cải thiện, nhiều trường hợp khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, khi điều trị bệnh nhân phải kiên trì, phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc để theo dõi diễn biến của bệnh và phòng tránh những tác dụng không mong muốn của các phương pháp điều trị.

Theo suckhoevadoisong

Ung thư da do ánh nắng mặt trời

 Ung thư da là một dạng ung thư phổ biến nhất hiện nay, là nguyên nhân gây tử vong cho hàng chục nghìn người trên thế giới mỗi năm. Hiện nay số người bị ung thư da ngày một tăng lên, đặc biệt những người sống tại các vùng nhiều ánh nắng mặt trời, thường xuyên tiếp xúc với tia cực tím (UV) có nguy cơ cao nhất.

Nguyên nhân chính gây ung thư da

Bình thường các tế bào da phát triển theo một trình tự tổ chức rất chặt chẽ trong biểu bì. Những tế bào mới còn non đẩy những tế bào trưởng thành lên bề mặt da. Khi các tế bào lên đến lớp trên cùng, chúng chết đi và bị tróc ra. Ung thư da là kết quả của sự phát triển bất thường các tế bào da. Nguyên nhân chính là do da bị tổn thương bởi tia cực tím. Đây là một loại sóng ánh sáng phát ra từ ánh sáng mặt trời và thường được sử dụng trong các kỹ thuật làm sạm da (giường tắm nắng nhân tạo,…). Tia cực tím có thể xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào, là nguyên nhân gây ung thư da cũng như các vết nhăn và nốt tàn nhang do tuổi tác.

ung_thu_da_01

 Sự hiển diện của các tế bào ác tính trên da rất phong phú.

Có 2 loại tia cực tím là A (UVA) và B (UVB). Tia UVA xuyên qua da sâu hơn tia UVB, do vậy sau một thời gian phơi nhiễm tia này, khả năng chống ung thư của da bạn sẽ bị suy yếu. Tia UVB, do xuyên qua da kém hơn, nên thường gây bỏng nắng và chịu trách nhiệm cho các ung thư lớp nông – ung thư tế bào sừng hoặc tế bào đáy.

Ung thư tế bào hắc tố cũng có liên quan với tia cực tím. Các chuyên gia nhận thấy rằng, những người thỉnh thoảng tiếp xúc với ánh nắng gắt trong một khoảng thời gian ngắn hạn (như những người làm việc trong văn phòng thỉnh thoảng đi tắm nắng trên bãi biển vào những ngày nghỉ) có nguy cơ bị ung thư tế bào hắc tố rất cao so với các nông dân, công nhân làm đường hoặc những người thường xuyên làm việc dưới ánh nắng mặt trời nhiều giờ mỗi ngày.

Tuy nhiên sự phơi nhiễm với ánh sáng mặt trời thường xuyên không giải thích được một số trường hợp ung thư các vùng da ít tiếp xúc với ánh sáng, như lòng bàn chân chẳng hạn. Di truyền và gia đình cũng đóng một vai trò không nhỏ. Ngoài ra, đôi khi ung thư da còn do tiếp xúc quá thường xuyên với độc chất hoặc tia xạ. Hiện nay các trường hợp này cơ chế còn chưa được xác định.

Các dấu hiệu cảnh báo

Dấu hiệu cảnh báo thường gặp nhất của ung thư da là một chỗ biến đổi bất thường của da, ví dụ như một vết loét đau, chảy máu, đóng mài trên bề mặt, lành rồi sau đó lại loét trở lại ngay vị trí này. Dấu hiệu đầu tiên thường gặp của ung thư tế bào hắc tố thường là sự biến đổi bất thường của một nốt ruồi có sẵn hoặc xuất hiện thêm những nốt ruồi mới đáng nghi ngờ.

ung_thu_da_02

 Một tế bào ác tính được tô màu và phóng to kích thước.Thường ung thư da xuất hiện trên những vùng da tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời như: da đầu, mặt, môi, tai, cổ, ngực, cánh tay, bàn tay và cẳng chân ở phụ nữ. Tuy nhiên ung thư da vẫn có thể xuất hiện ở những vùng da còn lại, như lòng bàn tay, vùng gian ngón chân hoặc da vùng cơ quan sinh dục. Sang thương ung thư da có thể xuất hiện từ từ, phát triển chậm nhưng cũng có thể xuất hiện đột ngột.

Ba loại ung thư da thường gặp là ung thư tế bào đáy, tế bào sừng và tế bào hắc tố, trong đó phổ biến nhất là ung thư tế bào đáy và tế bào sừng. Cả hai loại này đều ở bề mặt, tốc độ phát triển chậm và khả năng chữa lành cao, nhất là khi được phát hiện sớm. Loại ung thư tế bào hắc tố nặng hơn, ảnh hưởng đến các lớp sâu hơn của da và có nguy cơ di căn đến các mô khác cao nhất.

Hầu hết các ung thư da đều gây ra những biến đổi trên một vùng da khu trú. Do vậy, nếu chú ý, bạn có thể tự phát hiện sớm được những biến đổi đáng nghi ngờ và nên đến khám ở bác sĩ càng sớm càng tốt, không nên chủ quan hoặc để lâu vì nếu không được điều trị sớm, ung thư da ngày một phát triển, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng.

Ung thư da có thể phòng được

Hầu hết các loại ung thư da đều có thể phòng ngừa được. Bạn nên thực hiện theo một số biện pháp sau để duy trì sự khỏe mạnh của làn da:

Giảm thời gian phơi nắng: Tránh làm việc và tiếp xúc ánh nắng mặt trời quá lâu, gây bỏng nắng, sạm nắng,… Tránh phơi nắng nhiều trên bãi biển, hồ bơi,… đều phản xạ ánh nắng mặt trời. Tia cực tím thường mạnh nhất vào khoảng từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều mỗi ngày. Các đám mây chỉ hấp thụ và che chắn một phần nhỏ các tia nguy hại này.

ung_thu_da_03

Các nốt ruồi không điển hình phát triển bất thường có thể thành ung thư.

Nên dùng kem chống nắng

: Trước khi tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, nên dùng kem chống nắng cho tất cả những vùng phơi sáng, kể cả môi, 30 phút trước khi ra nắng, rồi thoa lại sau vài giờ (nên thoa nhiều lần hơn nếu bạn đi bơi, tắm biển,…). Nếu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời quá lâu thì kem chống nắng cũng không bảo vệ được da.

Kiểm tra sức khỏe da thường xuyên: Ít nhất 3 tháng 1 lần nên kiểm tra da để phát hiện sớm những vùng da phát triển bất thường, các nốt ruồi thay đổi kích thước, tính chất,…

Nếu trong gia đình từng có người bị ung thư tế bào hắc tố, đồng thời bạn đang có nhiều nốt ruồi trên người, đặc biệt là ở cổ, bạn cần khám ở các chuyên gia da liễu theo định kỳ như sau: Nếu từ 20 – 39 tuổi: kiểm tra 3 năm 1 lần. Nếu từ 40 tuổi trở lên kiểm tra hàng năm.

Theo suckhoevadoisong

Bạch biến chữa trị thế nào?

Bạch biến là một bệnh ngoài da khá phổ biến, là hiện tượng sắc tố của da bị rối loạn do sự phá hủy và mất đi tế bào sinh sắc tố, có thể ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ. Bệnh chiếm 1-2% dân số, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới nhưng hay gặp nhất ở tuổi thanh niên.

Các biểu hiện của bệnh

Bạch biến là những nốt nổi thành từng chấm, vết hoặc đám da màu trắng bạch, hoàn toàn mất sắc tố da (melanin) vì ở các vùng đó vắng tế bào sinh sắc tố hoặc có nhưng đã ngừng hoạt động. Các đám bạch biến có ranh giới rõ rệt, viền da lành xung quanh sẫm màu hơn. Da trên đám bạch biến vẫn bình thường không bị teo, cảm giác trên da không biến đổi, không đau ngứa, không tê dại. Lông trên đám bạch biến cũng bị trắng như cước.

benh_bach_bien

Vết bạch biến trên da.

Số lượng và vị trí của đốm mất sắc tố hay thay đổi, có thể gồm một hoặc nhiều đốm, vị trí thường gặp là mu bàn tay, cổ tay, cẳng tay, lưng, cổ, vùng mặt và vùng sinh dục. Đặc biệt, bạch biến hầu như không gặp ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng niêm mạc. Đôi khi các đốm mất sắc tố xuất hiện xung quanh nốt ruồi, bớt, vết bỏng.

Bệnh tiến triển không theo quy luật, rất khó đoán trước, bệnh nhân thường không biết bệnh khởi phát khi nào. Bệnh có thể xuất hiện ngay sau một chấn thương tinh thần hoặc chấn thương thể chất nặng. Bệnh tiến triển mạn tính, có thể có những đợt nặng lên. Tổn thương thường tăng lên vào mùa hè, giảm đi vào mùa đông hoặc ổn định lâu dài. Ngoài ra, bệnh cũng có tỷ lệ tự khỏi khoảng 15-30%.

Tổn thương bạch biến có thể khu trú hoặc rải rác, đối xứng. Hình tròn, bầu dục hoặc nhiều cạnh nham nhở như bản đồ. Bệnh nhân càng trẻ, thời gian bị bệnh càng ngắn thì có nhiều hy vọng khỏi bệnh hơn. Ngược lại, càng lớn tuổi, bị bệnh càng lâu, triển vọng kết quả điều trị càng kém đi.

Bệnh có lây không?

Điều đáng mừng là bệnh hoàn toàn không lây cho người xung quanh, không gây cảm giác đau ngứa, khó chịu gì, không ảnh hưởng sức khỏe, không gây biến chứng về nội tạng nhưng bệnh có thể gây ảnh hưởng sâu sắc về tâm lý khiến bệnh nhân lo lắng, day dứt, mặc cảm về phương diện thẩm mỹ, nhất là khi tổn thương lộ rõ ở các vùng hở (cổ, mặt, bàn tay), nhất là ở những bệnh nhân đang lứa tuổi sắp lập gia đình.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh còn chưa được làm rõ mặc dù gần đây đã có nhiều tiến bộ về bệnh lý giải phẫu, tổ chức, hóa sinh, nội tiết, thần kinh, di truyền học… Chỉ mới biết rằng bạch biến là do một khuyết tật gây rối loạn chức phận của các tế bào tạo sắc tố da ở vùng bị bệnh.

Bệnh có thể liên quan đến nhiều yếu tố: xúc động, căng thẳng thần kinh, rối loạn giao cảm, rối loạn thần kinh rễ tủy sống ở vùng tương đương. Một số trường hợp có liên quan đến chức phận tuyến giáp trạng, thượng thận, tuyến yên, tuyến sinh dục, gan, tụy… Hiện nay, phần lớn các tác giả đang tập trung nghiên cứu theo hướng liên quan tới di truyền và tự miễn dịch.

Điều trị thế nào?

Vì nguyên nhân bệnh sinh chưa rõ nên điều trị còn gặp nhiều khó khăn, kết quả thất thường.

Phổ biến nhất là phương pháp dùng các chế phẩm có tác dụng tăng cảm ứng với ánh sáng (cảm quang) toàn thân hoặc tại chỗ như chế phẩm có psoralen (meladinin, melagenin) kết hợp chiếu tia cực tím sóng ngắn hoặc sóng dài tại vùng tổn thương. Cần chú ý là uống thuốc có chất psoralen có thể bị tác dụng phụ: chán ăn, tăng men gan, vàng da. Không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi. Bôi tại chỗ các chất cảm quang có thể làm cho đám bạch biến bị đỏ rát phỏng nước. Có thể dùng kết hợp với các thuốc chống viêm, chống dị ứng, ức chế miễn dịch (corticoid, immuran, cyclosporin).

Ngoài ra, cấy tế bào sắc tố vào vùng da bạch biến là một phương pháp hiện đại nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao, tốn kém nên chưa được áp dụng rộng rãi.

Lời khuyên chung với bệnh nhân là xác định an tâm điều trị lâu dài, tránh quá lo lắng bi quan về bệnh dễ làm nguy cơ bột phát. Khi mắc bệnh, cần phát hiện điều trị sớm ở thầy thuốc chuyên khoa, không nên tự động bôi thuốc, uống thuốc không thích hợp, nhiều khi tiền mất tật mang. Cách phòng ngừa tốt nhất là giữ cơ thể luôn khỏe mạnh, có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập và làm việc hợp lý.

Theo suckhoevacuocsong

Trẻ sinh ra nhẹ cân có tỷ lệ mắc bệnh tự kỷ cao

Sau nghiên cứu ở một nhóm trẻ song sinh, nhóm chuyên gia ở Đại học Northwestern, Mỹ (NU) phát hiện thấy những đứa trẻ sinh ra nhẹ cân có tỷ lệ mắc bệnh tự kỷ hay còn gọi là rối loạn phổ tự kỷ (ASD) cao hơn so với những đứa trẻ có trọng lượng bình thường.

tre_nhe_Can_de_bi_tu_ky

 Ảnh minh họa (nguồn Internet)

Trước nghiên cứu trên, khoa học đã phát hiện thấy trong những ca song sinh nếu một trẻ mắc bệnh tự kỷ thì đứa trẻ còn lại cũng sẽ mắc bệnh theo vì chúng có tới 100% gen giống nhau, nhưng trong nghiên cứu của NU, các nhà khoa học còn tìm thấy những nguyên nhân khác mang tính môi trường.

Theo đó, nếu trọng lượng sơ sinh giảm 100g thì tỷ lệ mắc bệnh ASD lại tăng tới 13%. Kết luận này được dựa vào nghiên cứu ở 3.725 cặp song sinh tại Thụy Điển, trong những cặp song sinh này, có cặp trọng lượng khi sinh chênh nhau tới 400g (khoảng 15%) và đây chính là yếu tố làm tăng bệnh ASD.

Theo suckhoevadoisong

Tránh rôm sảy cho bé mùa nắng nóng

Rôm sảy là căn bệnh thường gặp ở trẻ, đặc biệt vào mùa hè. Điều trị và phòng tránh rôm sảy thông thường không khó nhưng nếu bệnh để nặng và phát triển thành mụn nhọt, việc điều trị sẽ trở nên vô cùng phức tạp.

Nguyên nhân gây ra rôm sảy

Mùa hè thời tiết nóng nực thường gây ra các bệnh về da ở trẻ, trong đó có bệnh rôm sảy. Trẻ dưới 3 tuổi thường có nguy cơ mắc bệnh cao.

Nguyên nhân chính là do thời tiết nóng bức, mồ hôi trẻ tiết ra nhiều nhưng không thoát được hết và ứ đọng lại trong các ống bài tiết trên da trẻ . Trong khi đó, miệng ống bài tiết dễ bị bụi hay ghét bít kín khiến làn da nổi lên nhiều sẩn nhỏ lấm tấm màu hồng.

tranh_rom_say_cho_be_mua_nang_nong

Thoa phấn cho trẻ để ngừa rôm sảy.

Những sẩn nhỏ này mọc thành từng đám và thường xuất hiện ở những vùng da có nhiều mồ hôi, chẳng hạn như: trán, cổ, lưng, ngực, các nếp gấp của cơ thể…

Thông thường, khi thời tiết mát mẻ, hiện tượng này sẽ tự động mất đi và không gây tác hại gì. Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, rôm sảy sẽ chuyển biến thành mụn mủ và nhọt, chủ yếu là ở các trẻ không được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, da bị xây xước và nhiễm trùng. Nếu không được điều trị và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, trẻ còn có nguy cơ bị viêm da mãn tính (da không tiết mồ hôi) hay viêm cầu thận cấp (tuy hiếm gặp nhưng vô cùng nguy hiểm).

Điều trị rôm sảy

Với chứng rôm sảy thông thường: nếu trên da trẻ xuất hiện các mảng sần đỏ thì việc đầu tiên là nhanh chóng làm thoáng mát phần da này.

Da trẻ có dấu hiệu nhiễm khuẩn như: các nốt rôm to khác thường, chứa nhiều mủ trắng, xuất hiện các mụn nhọt… cần có chế độ chăm sóc thích hợp cho trẻ:

– Nếu chỉ có 1-2 nhọt bắt đầu mọc, dùng cồn iod chấm vào đúng chỗ nhọt hoặc dùng cao tiêu nhọt dán lên. Khi nhọt bắt đầu mềm, đưa trẻ đến các cơ sở y tế để chích mủ.

– Trong trường hợp nhọt mọc liên tiếp và mọc dày thì phải đưa trẻ đến ngay bệnh viện để bác sĩ tìm ra nguyên nhân.

Một số mẹo chữa rôm sảy:

Thông thường, các bà mẹ có thể sử dụng phấn rôm để chữa rôm sảy cho trẻ. Cách dùng là bôi lên những vùng da bị rôm sảy của trẻ sau khi đã tắm và lau người sạch sẽ. Tuy nhiên, cần lưu ý đến chất lượng và sự kiểm định y tế của loại phấn rôm chọn cho trẻ, tránh tình trạng càng làm bít tắc da trẻ hoặc tạo môi trường cho vi khuẩn và nấm da phát triển mạnh hơn.

Có thể sử dụng các loại kem có thành phần hydrocortisone (tác dụng trị rôm sảy), hay kem có chứa acid salicylic (tác dụng khô bề mặt da, se lỗ chân lông) để thoa cho trẻ sau khi tắm xong.

Ngoài ra, có thể sử dụng một số mẹo dân gian như: dùng mướp đắng, gừng tươi, lá dâu tằm… để tắm hoặc bôi lên các vết rôm cho trẻ hàng ngày, cũng rất hữu ích.

Nếu đã thử nhiều cách mà vẫn không giúp trẻ khỏi rôm sảy, nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa da liễu.

Phòng tránh rôm sảy cho trẻ

Vệ sinh sạch sẽ:

Tắm cho trẻ mỗi ngày để giữ da luôn sạch sẽ, mồ hôi bài tiết dễ dàng. Dùng nước mát để tắm và tắm bằng sữa tắm chuyên dùng cho trẻ, tránh các loại sữa tắm có độ kiềm lớn, gây khô da.

Có thể vắt thêm một quả chanh vào nước tắm hoặc dùng mướp đắng để tắm cho trẻ cũng rất tốt, có tác dụng phòng rôm sảy.

Việc ăn mặc và chế độ dinh dưỡng:

Cho trẻ mặc những quần áo bằng chất liệu mỏng, rộng rãi và nhạt màu.

Tốt nhất là nên chọn các loại sợi tự nhiên, thấm mồ hôi và tránh các loại vải dày, vải nylon bí mồ hôi.

Khi đưa trẻ ra ngoài, nên cho mặc áo chống nắng, đeo kính râm, đội mũ rộng vành, đeo khẩu trang và thoa kem chống nắng cho trẻ.

Khuyến khích trẻ uống đủ nước, ăn nhiều các vitamin có trong rau xanh, trái cây tươi và hạn chế các thức ăn quá ngọt như: chocolate, kẹo bánh…

Không cho trẻ uống bất cứ loại kháng sinh nào khi chưa có ý kiến của bác sĩ.

Chế độ sinh hoạt:

Tạo cho trẻ một môi trường và chế độ sinh hoạt hợp lý.

Phòng của trẻ nên thoáng mát, rộng rãi. Hạn chế cho trẻ đến những nơi hội họp đông người, không khí nóng ngột ngạt.

Không nên để trẻ ra ngoài khi trời nắng nóng, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều.

Hạn chế trẻ gãi lên da bị rôm sảy, dễ gây trầy xước làm nhiễm trùng da.

BS. TRẦN QUỐC NINH
Theo SKDS

Những sai lầm của bố mẹ dẫn đến trẻ bị tự kỷ

Trong những năm gần đây, số trẻ tự kỷ đang có chiều hướng gia tăng tại Việt Nam. Tuy nhiên, bố mẹ của trẻ tự kỷ thường mắc một sai lầm lớn trong phương pháp chăm sóc con.

sai_lam_cua_bo_me_dan_den_tre_bi_tu_ky

Phụ huynh cần chú trọng khám tổng quát cho trẻ tự kỷ ở các phòng khám có chất lượng. Ảnh minh họa: Internet.

Trao đổi với phóng viên, bà Đỗ Thị Minh Phương, hiệu trưởng Trường giáo dục Chuyên biệt Tuệ Tâm (Thái Hà, Hà Nội) cho hay, sai lầm lớn nhất của các bậc bố mẹ có con mắc chứng tự kỷ là thường có xu hướng tập trung điều trị đặc biệt cho con, nhưng lại chủ quan với những bệnh thông thường khác của trẻ.

“Trong đợt khám từ thiện vừa qua của trường, chúng tôi đã phát hiện thấy có đến gần 30% số trẻ tự kỷ bị hẹp bao quy đầu. Một số cháu còn mắc các bệnh khác nữa như viêm họng, viêm phế quản”, bà Phương nói.
Cùng quan điểm với bà Phương, bác sỹ Nguyễn Thị Bánh thuộc Phòng khám nhi BeeClinics cho rằng, người lớn thường chỉ quan tâm chăm sóc khiếm khuyết của trẻ tự kỷ, nhưng quên rằng trẻ tự kỷ cũng mắc các chứng bệnh thông thường khác của nhi khoa mà nếu không điều trị kịp thời càng khiến trẻ sa sút về sức khỏe, thể chất, để lại ảnh hưởng dài lâu.

“Ví dụ, với tình trạng hẹp bao quy đầu, phần lớn trẻ tự kỷ thiếu các kỹ năng tự phục vụ bản thân. Vậy nên nếu bố mẹ không để ý hoặc không biết, sẽ gây mất vệ sinh, nhiễm trùng bao quy đầu và ảnh hưởng đến tương lai của con mình”, bác sĩ Bánh nhấn mạnh.

Trong những năm gần đây, số trẻ tự kỷ đang có chiều hướng gia tăng tại Việt Nam. Các nhà khoa học hiện chưa tìm ra nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị đặc hiệu, nhưng những nghiên cứu về việc can thiệp sớm, điều trị đặc biệt… đã mang lại những kết quả khả quan cho trẻ mắc chứng tự kỷ.

Theo phunuonline