Tag Archives: Nguyên nhân gây bệnh

Giải mã bệnh mồ hôi, nước mắt có máu

 Theo nguồn tin nước ngoài, đầu tháng 12 vừa qua, tại thành phố Vemon, CH Dominica có một phụ nữ trẻ tên là Delfina Cedeno mắc phải căn bệnh lạ, có tên Hematidrosis, khóc và ra mồ hôi có máu. Mỗi chu kỳ “xuất huyết” của Cedeno kéo dài 2 tuần nên phải tiếp máu mới đảm bảo sức khỏe.

Hematohidrosis là gì?

Hematohidrosis là một hiện tượng lâm sàng hiếm gặp, người bệnh thường ra mồ hôi và khóc ra máu.

Hematohidrosis (mồ hôi máu) còn có nhiều tên gọi khác như hematidrosis hay hemidrosis, một tình trạng mà trong đó mao mạch máu nuôi các tuyến mồ hôi bị vỡ, làm cho chúng chảy máu, xảy ra trong điều kiện căng thẳng về thể chất hoặc tình cảm cực đoan. Nguyên thủy, căn bệnh này được gọi hematofolliculohidrosis bởi vì nó xuất hiện cùng với mồ hôi giống như chất lỏng và máu tiết ra qua kênh nang.

giai-ma-benh-mo-hoi-nuoc-mat-co-mau

 Ði tìm nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh Hematohidrosis được các nhà khoa học tạm chia thành hai dạng, một là mang tính tôn giáo và hai là phi tôn giáo. Đứng trên bình diện phi tôn giáo thì đây là căn bệnh có tính hệ thống, hay còn gọi là kinh nguyệt gián tiếp (chảy máu bề mặt chứ không phải từ niêm mạc tử cung tại thời điểm diễn ra chu kỳ kinh nguyệt). Trong số các nguyên nhân gây bệnh có yếu tố stress quá mức, tâm lý căng thẳng và một số bí ẩn đến nay khoa học chưa tường hết. Nguyên nhân tôn giáo lại chứa đựng nhiều bí ẩn, thường mang tính sợ hãi cấp tính, bị kích động thường xuyên, thậm chí còn mang cả màu sắc ma mị, dị đoan và cả sự kỳ thị nên đến nay người ta vẫn chưa rõ thực hư nên được xem là hiện tượng lâm sàng hiếm gặp.

Nguyên nhân gây bệnh rất đa dạng nhưng chủ yếu là do căng thẳng, sợ hãi cấp tính. Ví dụ, 6 trường hợp người Anh bị kết án tử hình và một phụ nữ sợ bị cưỡng hiếp trong khi đang chèo thuyền cũng toát mồ hôi trong đó có cả máu. Theo nhiều nghiên cứu, nguyên nhân gây bệnh Hematohidrosis là do căng thẳng kinh niên. Cơ chế kích động và rối loạn tâm thần cũng được xem là yếu tố tiềm ẩn, chuyên môn gọi đây là xuất huyết tâm lý, trong đó hệ thống máu của người bệnh quá mẫn cảm và có thể bài tiết (chảy máu) cả qua đường tiêu hóa, qua tuyến lệ hay đường tiểu. Riêng chảy máu qua da là dấu thánh tâm lý, một thuật ngữ dùng để biểu thị khu vực của những vết sẹo, vết thương hở hoặc chảy máu qua da không gián đoạn.

Theo tiến sĩ sinh học người Anh Frederick Zugibe thì có rất nhiều mạch máu li ti hình thành xung quanh tuyến mồ hôi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu người trong cuộc bị áp lực quá lớn (stress). Khi lo lắng quá mức, các mạch máu giãn ra đến điểm bị vỡ, máu đi vào các tuyến mồ hôi và trộn lẫn với mồ hôi và đẩy lên bề mặt hoặc tiết ra cùng với nước mắt, trình bày như những giọt máu trộn lẫn với mồ hôi. Máu thoát mạch có chứa các thành phần tế bào giống hệt như của máu ngoại vi. Khi con người lo lắng về tinh thần quá mức, nó kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm để đối phó với sự căng thẳng hoặc phản ứng chống căng thẳng, quá trình này chính là thủ phạm làm tăng xuất huyết qua tuyến mồ hôi và tuyến lệ. Những nhược điểm này cộng với những khiếm khuyết cục bộ của da, nhất là không gian trong các lớp hạ bì của da và cuối cùng nó làm cho không gian này rộng ra tạo điều kiện chứa đầy máu trước khi thoát ra ngoài cùng với mồ hôi. Qua sinh thiết ở bệnh nhân Hematohidrosis cho thấy, khoảng không dưới da thường chứa máu, chảy máu trong da, mao mạch bị tắc hoặc có hiện tượng bất thường trong nang lông, tuyến bã nhờn hoặc mồ hôi. Chẩn đoán bệnh Hematohidrosis có thể được thực hiện bằng xét nghiệm Benzidine cho từng phản ứng của máu với hydrogen peroxide nhằm giải phóng ôxy, sau đó phản ứng với thuốc thử hữu cơ để tạo ra hợp chất màu xanh lá cây hay xanh da trời. Trong xét nghiệm Hemochromogen này còn có tác dụng xác nhận nguồn gốc máu của con người. Cũng trong xét nghiệm, pyridin có thể gây ra phản ứng làm giảm hamoglobin, tạo ra tinh thể màu hồng giống da cá hồi, đây chính là đặc trưng của pyridin hemoglobin có thể quan sát được dưới kính hiển vi .

Một số trường hợp mắc bệnh Hematidrosis

Đó là trường hợp người đàn ông 72 tuổi người Anh (giấu tên) ra mồ hôi máu ở vùng bụng trong 2 tháng, đặc biệt là vào buổi sáng. Bệnh nhân này bị căng thẳng tinh thần liên tục trong 2 năm liền do mối bất hòa trong hôn nhân.

Trường hợp mới nhất là một phụ nữu trẻ 19 tuổi ở thành phố Vemon, CH Dominica tên là Delfina Cedeno. Mỗi chu kỳ “xuất huyết” của Cedeno kéo dài 15 ngày sau đó lại khỏi nên phải tiếp máu để duy trì sức khỏe. Do còn trẻ lại mới lập gia đình nên Cedeno rất lo lắng, buồn chán, nhất là khi dư luận tò mò đến xem. Sau khi tiến hành hàng trăm xét nghiệm, các nhà khoa học đã phát hiện thấy Cedeno mắc chứng Hematidrosis. Trong cơ thể Cedeno có lượng adrenaline (hormon của tuyến thượng thận) cao gấp 20 lần những người bình thường nên lúc nào cũng ở trạng thái bồn chồn lo lắng, nhịp tim tăng, co mạch, tăng huyết áp, giãn khí quản…. Theo một nghiên cứu trên tạp chí da liễu Ấn Độ, nhiều mạch máu xung quanh tuyến mồ hôi sẽ co lại hoặc thu nhỏ khi cơ thể rơi vào khủng hoảng hay phiền muộn. Khi stress tăng cao, những mạch máu sẽ bị căng và vỡ ra, máu tràn vào tuyến mồ hôi và đẩy ra ngoài dưới dạng giọt nhỏ li ti pha lẫn với mồ hôi. Hiện nay, Cedeno đang được các bác sĩ điều trị bằng thuốc để kiểm soát tình trạng căng thẳng, giảm chứng lo âu (anxiety) quá mức và bước đầu đã đạt kết quả tốt.

Khắc Nam

(Theo ID/OCD, 12/2013)

Dấu hiệu bệnh nguy hiểm từ triệu chứng buồn nôn

Thường xuyên có cảm giác buồn nôn và bạn không biết nguyên nhân cụ thể do đâu thì bạn nên đi khám bác sĩ. Vì nó không chỉ là dấu hiệu của các bệnh về đường tiêu hóa mà còn là “tín hiệu” của bệnh tim mạch, thần kinh hay một số bệnh nguy hiểm khác.

Viêm dạ dày và loét tá tràng: Với những biểu hiện như buồn nôn sau khi ăn, chướng bụng hoặc có cảm giác ăn xong rất nặng nề, ợ nóng. Đôi khi, bạn cảm thấy có gì nóng rát như lửa đốt ở vùng bụng trên lúc bạn đói và cả ngay sau khi bạn ăn. Bạn phải nội soi dạ dày, xét nghiệm máu và sinh hóa, cũng như làm một thử nghiệm với các kháng thể chống lại virus helicobacter pylori (HP) gây ra bệnh viêm loét dạ dày và tá tràng. Nhưng trước hết, bạn cần phải thay đổi chế độ ăn uống và thực đơn nên tránh xa thực phẩm có chứa chất béo, cay và chua, nó sẽ giúp bạn trung hòa lại axit dư thừa ở dạ dày trong thời gian ngắn nhất.

dau-hieu-nguy-hiem-tu-dau-hieu-buon-non

Vấn đề về túi mật: Bạn cảm thấy buồn nôn ngay cả trong bữa ăn vì bạn đang cảm thấy mình đang rất no và không muốn ăn. Ngoài ra, có cảm giác đau phía bụng trên bên phải kèm theo vị đắng hay mùi kim loại trong miệng và hay ợ nóng bị đầy hơi. Để giải quyết tình trạng này bạn cần phải siêu âm và phải phụ thuộc vào chẩn đoán của bác sĩ: nó có thể là rối loạn hoạt động của túi mật do có sỏi trong đó, viêm túi mật. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải làm các xét nghiệm về gan. Nếu trong trường hợp xấu có thể phải cắt bỏ cả túi mật.

Viêm tụy: Sau khi ăn bạn cảm thấy dạ dày căng lên một cách bất thường, có thể cảm thấy tưng tức. Sau đó, thấy đau nhức âm ỉ phần bụng trên bên phải, thấy vị đắng trong miệng và cũng thấy khó chịu ở đường ruột. Có thể áp dụng cho cả dạ dày và ruột là xét nghiệm máu và sinh hóa, siêu âm bụng, kiểm tra đường huyết để ngăn ngừa bệnh tiểu đường type 2. Trong trường hợp này các bác sĩ cũng khuyến cáo nên dùng thuốc kháng viêm, và quan trọng nhất là bạn phải chia nhỏ các bữa ăn trong ngày.

Đau ruột thừa: Bạn cảm thấy buồn nôn nhưng không phải do thức ăn, thậm chí khiến bạn muốn nôn thực sự. Đầu tiên, bạn thấy nhâm nhẩm đau phần bụng trên sau đó chuyển dần xuống phần bụng dưới bên phải và hơi sốt. Khi cơn đau bắt đầu tấn công mạnh hơn thì cần gọi ngay cấp cứu, tuyệt đối không được dùng thuốc giảm đau nó sẽ khiến bác sĩ rất khó chẩn đoán. Sau đó, cần phải phẫu thuật để cắt bỏ phần ruột thừa bị viêm.

Vấn đề về hệ thống tiền đình: Bạn cảm thấy buồn nôn và chóng mặt khi thay đổi tư thế đột ngột. Các triệu chứng khác như mất thăng bằng, ù tai và rung giật nhãn cầu. Chứng bệnh này không nguy hiểm và có thể điều trị thành công, cần thiết phải xem lại sự hoạt động của các cơ quan thính giác và tiền đình.

Huyết áp và tim: Cảm giác buồn nôn có thể đeo bám bạn cả ngày, đặc biệt là buổi sáng. Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi tấn công rất nhanh, đau và có thể bị phù mặt, đỏ mặt. Nếu buồn nôn liên tục và đau ở phần bụng trên kèm theo nghẹt mũi, da xanh, hay đau ở ngực và lan ra cánh tay trái, hàm dưới thì bạn hãy chú ý đến các vấn đề về tim. Đối với những người trên 45 tuổi, cần phải hạn chế căng thẳng và suy giảm về thể lực, tinh thần để tránh những nguy cơ về bệnh tim mạch.

Viêm thận: Triệu chứng ban đầu là buồn nôn và nôn. Sau đó có thể sốt cao từ 38-40 độ C kèm theo cảm giác đau. Đầu tiên là đau âm ỉ, rồi đau kịch phát, đau lưng và có thể đi đái rắt và không tự chủ. Để giải quyết vấn đề này bạn cần xét nghiệm nước tiểu, máu và sinh hóa, siêu âm thận hoặc kiểm tra các phần của hệ nội tiết, hệ tiết niệu. Cần phải điều chỉnh lại chế độ ăn uống, được khuyến cáo nên dùng thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm để tránh nguy cơ nhiễm trùng, thậm chí cần phải phẫu thuật để cải thiện tình hình.

Theo An ninh Thủ đô/Menslife/SKDS

Nguyên nhân gây bệnh u nang tuyến tiền liệt

Sức khỏe của chị em phụ nữ từ trước đến nay luôn luôn là tiêu điểm, tuy nhiên những năm gần đây, sức khỏe của nam giới cũng đang rất được quan tâm. Trong đó u nang tuyến tiền liệt là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nam giới. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến u nang tuyến tiền liệt?

1) U nang tuyến tiền liệt: tuyến tiền liệt bị cản trở trong quá trình hình thành phát triển, ống dẫn tuyến tiền liệt nhỏ hẹp, gây tắc, do các chất bị giữ lại bên trong dần dần hình thành.
nguyen-nhan-gay-benh-u-nang-tuyen-tien-liet
2) U nang bẩm sinh: do ống dẫn trong thận phát triển không bình thường, một phần ống phình to ra dẫn đến u nang. Loại u nang này thường không mọc ở tuyến tiền liệt mà thường liên kết với vách ngăn bàng quang. Thể tích của nó thường to và dài, chèn ép lên bàng quang làm cho đi tiểu khó, chèn ép lên trực tràng, làm cho đau chướng hậu môn hoặc đại tiện khó. U nang tuyến tiền liệt bẩm sinh thường kèm theo các bệnh bẩm sinh như: nứt niệu đạo, thận phát triển không toàn diện…

3) U nang phát triển về sau này: cơ chất của tuyến tiền liệt cứng dẫn đến 1 bộ phận bị tắc nghẽn, dần dần làm cho bề mặt của bộ phận này dày lên, lưu lại dần gây nên u nang, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào trong tuyến tiền liệt, hoặc ở bàng quang, với đường kính là 1-2 cm.

4) U nang do viêm: Chứng viêm mãn tính tuyến tiền liệt làm cho các mô liên kết tăng lên, ống dẫn tuyến tiền liệt hẹp lại, các chất cặn bã bị ứ đọng dẫn đến u nang.

5) U nang do kí sinh trùng: do các kí sinh trùng gây nên, ví dụ: Hydatid có thể gây viêm mãn tính ống tuyến tiền liệt và các phần xung quanh, hoặc do mụn gia tăng dẫn đến u nang.

Sưu tầm

Phòng tránh bệnh truyền nhiễm ở trẻ

Bé chuẩn bị đi lớp và bạn đang có rất nhiều điều băn khoăn về vấn đề này. Con sẽ ra sao khi tới lớp và bé có dễ bị mắc các bệnh truyền nhiễm không? Phòng tránh thế nào…

Khi tới nhà trẻ hay đi mẫu giáo trẻ sẽ phải sinh hoạt trong một môi trường tập thể có rất nhiều trẻ khác và vì thế nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm thường rất cao. Thông thường trẻ bắt đầu đến lớp mầm non khi được 2 tuổi. Sự thay đổi môi trường đột ngột này ít nhiều làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, trong đó việc mắc các bệnh truyền nhiễm là nguy cơ lớn nhất.

Đặc điểm miễn dịch của trẻ ở tuổi mầm non

Qua giai đoạn được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, trẻ hết dần các kháng thể thụ động do mẹ truyền cho. Hệ miễn dịch lúc này mới bắt đầu hoàn thiện, trong khi cơ thể lại phải tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh từ môi trường. Do đó, ở tuổi này trẻ hay mắc các bệnh như: cúm, nhiễm khuẩn hô hấp, bệnh tai mũi họng…Đặc biệt đối với các bệnh như: viêm họng do siêu vi, sốt virus, viêm phổi, nhiễm giun, dị ứng… là nhóm bệnh mà trẻ có nguy cơ mắc phải và lây nhiễm nhanh. Muốn phòng bệnh cho trẻ, trước tiên bạn cần tìm hiểu kỹ về nơi sẽ cho trẻ đến học.
Student in Line
Các bệnh dễ gặp ở tuổi mầm non

1. Sốt virus:
Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa… Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Các loại virus thường gây sốt gồm: myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản… Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm qua đường hô hấp, tiêu hóa, có thể gây thành dịch.

Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là: trẻ bị sốt cao, thường từ 38 -39°C, thậm chí là 40 – 41°C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol… Một số trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã.

2. Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virus đường tiêu hóa. Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn. Không có các biểu hiện nhiễm khuẩn. Ngoài ra một số trẻ có biểu hiện phát ban, viêm hạch, đau mắt…

Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3 đến 5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại bình thường.

Tuy nhiên, sốt virus dễ gây thành dịch vì thế khi trẻ bị nhiễm bệnh cần cách ly ngay, không nên cho trẻ đến trường. Một số bệnh do virus đã có vaccin như: viêm não Nhật Bản, sởi, quai bị, rubella… Vì vậy cha mẹ cần quan tâm đến việc tiêm vaccin phòng bệnh cho trẻ.

3. Viêm phổi: Đây là một dạng viêm đường hô hấp cấp – nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Trên thế giới mỗi năm có khoảng 2 triệu trẻ tử vong vì căn bệnh này. Phần lớn các ca viêm phổi đều có thể được chữa trị hiệu quả bằng kháng sinh, song vấn đề ở đây là một khi đã nhiễm bệnh, trẻ nhỏ thường không thể chống đỡ lâu.

Triệu chứng: Biểu hiện của bệnh là khó thở, sốt, ho, trẻ bỏ ăn, bỏ chơi, có thể kèm theo triệu chứng viêm đường hô hấp trên. Bệnh thường diễn biến nhanh nếu không được điều trị kịp thời.

Do đó, cần phải đưa trẻ đến bệnh viện khám và điều trị khẩn cấp ngay khi phát hiện các triệu chứng điển hình như thở gấp và co rút lồng ngực.

4. Nhiễm giun: Giun đũa, giun kim là loại ký sinh trùng trẻ dễ bị nhiễm nhất trong lứa tuổi này. Tay trẻ thường bẩn bởi động tác di chuyển cần sự hỗ trợ của tay, sàn nhà nếu không được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên sẽ có rất nhiều trứng giun đũa, giun kim. Một bên cạnh đó thói quen mút tay của trẻ trong thời kỳ này cũng làm tăng nguy cơ bị nhiễm giun.

Những trẻ nhiễm giun thường tăng cân chậm, suy dinh dưỡng, bụng trướng to. Tình trạng này được khắc phục tốt sau khi tiến hành tẩy giun cho trẻ. Lưu ý chỉ nên tấy giun cho trẻ khi trẻ đã được 24 tháng.

5. Dị ứng: Trẻ ở giai đoạn này rất dễ mẫn cảm với các yếu tố lạ của môi trường. Trong điều kiện ẩm thấp, các loại dị nguyên như: nấm mốc, bọ nhà, lông thú vật… rất dễ làm trẻ bị dị ứng, mẩn ngứa, thậm chí lên cơn hen suyễn. Vì vậy, tùy từng mùa, cần cho trẻ mặc trang phục thích hợp và vệ sinh nhà, phòng, lớp học đầy đủ để trẻ có môi trường thực sự sạch sẽ.

6. Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và bệnh nhiễm siêu vi.

Đây là dạng bệnh mà trẻ cũng có thể mắc phải, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp bao gồm viêm hô hấp trên và viêm phế quản phổi. Viêm họng do siêu vi, hay kết hợp với viêm kết mạc rất hay gặp ở các nhà trẻ, có thể gây thành dịch.

Bệnh bắt đầu đột ngột với các dấu hiệu sốt trong vài ngày, kèm theo chảy nước mắt, nước mũi, ho nhẹ, có khi kèm theo đau họng, nuốt khó, nuốt đau. Nhưng trẻ vẫn chơi bình thường. Hầu hết các trường hợp viêm họng do siêu vi đều có thể tự khỏi trong vòng 4 đến 5 ngày nếu không có bội nhiễm vi khuẩn.

Để trẻ tránh nguy cơ nhiễm siêu vi, cần giữ ấm cho trẻ, không cho trẻ dầm mưa, chơi ngoài nắng. Môi trường sống thoáng mát, sạch sẽ và đảm bảo vệ sinh ăn uống cho trẻ… Không cho trẻ chơi những nơi góc nhà, kẹt tủ, chỗ tối để tránh trẻ bị muỗi cắn. Khi trẻ bị sốt cao, sau 2 ngày dùng thuốc hạ sốt mà trẻ vẫn còn sốt phải đưa trẻ đi khám bệnh ngay để phát hiện sớm bệnh sốt xuất huyết.

Cách phòng bệnh cho trẻ

Bên cạnh việc chuẩn bị kỹ càng cho trẻ về mặt tâm lý cha mẹ còn phải đặc biệt chú ý đến quyền được tiêm chủng đầy đủ những loại vaccine trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Và nếu có điều kiện nên cho trẻ tiêm thêm những loại vaccine phòng bệnh mà trẻ có thể mắc như: Rubella, thủy đậu, cúm, quai bị… Các vaccine này hiện nay chưa được miễn phí.

Tỉ lệ mắc bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi còn cao, không thể tránh được trường hợp có trẻ mắc bệnh vẫn đến trường và sinh hoạt cùng các bạn, sau đó lây nhiễm cho nhau. Các nhà trẻ cũng cần quan tâm đến yếu tố vệ sinh phòng ốc, phòng  học, ngủ cần thoáng mát sạch sẽ vì trẻ còn nhỏ sẽ không tự thực hiện vệ sinh cá nhân cho mình.
Vì thế điều đầu tiên và cấp thiết nhất mà bố mẹ phải làm đó là quan tâm đến sức khỏe của trẻ thường xuyên. Nâng cao sức đề kháng cho trẻ và kịp thời điều trị ngay từ khi trẻ có các triệu chứng nhiễm bệnh.

Theo afamily

Làm thế nào để xử trí vùng vai sau gáy

Nhiều người sau một đêm ngủ dậy bỗng thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt là đau tê dại vùng vai, gáy, nhiều khi đau lan xuống bả vai, làm tê mỏi cánh tay, cẳng tay và ngón tay. Triệu chứng này có thể trong nhiều ngày, thậm chí trong nhiều tháng… Hội chứng đau vai gáy thông thường không nguy hiểm, song có thể gây ra nhiều lo lắng, khó chịu, mệt mỏi cho người bệnh, làm giảm sút sức lao động và chất lượng cuộc sống.

Nguyên nhân gây đau?

Bệnh hay gặp từ tuổi trung niên khi cơ thể, hệ mạch máu đã giảm tính dẻo dai, đàn hồi.

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hội chứng đau vai gáy. Các nguyên nhân thường gặp nhất có thể kể đến là ngồi làm việc, học tập sai tư thế trong thời gian dài, lái xe, làm việc liên tục với máy tính…; bị nhiễm nóng lạnh đột ngột làm giảm sự cung cấp ôxy cho các tế bào cơ, gây thiếu máu cục bộ ở các cơ dẫn đến hội chứng đau vai gáy. Ngoài ra, hội chứng đau vai gáy còn có thể do các bệnh lý như: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ, ung thư, lao, u hố sau… Hay gặp ở những người hay nằm nghiêng, co quắp, ngồi làm việc, sinh hoạt sai tư thế; khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn giảm, việc lưu thông máu và trao đổi ôxy trong cơ thể giảm cũng sẽ dễ bị đau nhức khi ngủ dậy. Đôi khi có những trường hợp hội chứng đau vai gáy xuất hiện tự phát mà không có nguyên nhân rõ rệt.

Cần xác định chứng bệnh qua phim chụp Xquang cột sống cổ tư thế chếch trước trái và chếch trước phải xem có hình ảnh gai xương hay thu hẹp lỗ tiếp hợp gây ra đau.

lam-gi-khi-bi-dau-vung-vai-sau-gay

Làm giảm chất lượng sống

Tùy theo từng mức độ của bệnh mà người bệnh có những biểu hiện khác nhau trong chứng bệnh này. Người bệnh có thể đau âm ỉ hoặc đau dữ dội ở vùng gáy lan ra tai, cổ ở một bên. Mức độ đau từ ít đến nhiều có ảnh hưởng tới tư thế đầu – cổ. Cũng có thể cơn đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay cả ở hai bên, có cảm giác nhức nhối như bị điện giật. Có trường hợp cơn đau bả vai cánh tay ở một bên, sau một thời gian, người bệnh có cảm giác tê mỏi ở tay bên đau – đây có thể là biểu hiện của rối loạn phản xạ gân xương. Cũng có những người bị đau lan sang hai bên và kèm theo cảm giác chóng mặt, hoa mắt, ù tai, đi đứng loạng choạng, khó nuốt.

Cơn đau nhức có thể xuất hiện tự phát hoặc sau khi lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, nhiễm lạnh. Đau có thể cấp tính (xuất hiện đột ngột) hoặc mạn tính (âm ỉ, kéo dài). Đau thường có tính chất cơ học: tăng khi đứng, đi, ngồi lâu, ho, hắt hơi, vận động cột sống cổ; giảm khi nghỉ ngơi. Đau cũng có thể tăng khi thời tiết thay đổi. Để chẩn đoán nguyên nhân, người bệnh cần được thăm khám lâm sàng. Các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán bao gồm chụp Xquang cột sống cổ, đo điện cơ và chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ.

Nhiều trường hợp tình trạng đau vai gáy kéo dài dẫn đến người bệnh luôn cảm thấy vô cùng mệt mỏi, khó chịu, không tập trung, tư duy kém… ảnh hưởng lớn tới chất lượng sống của người bệnh.

Chữa trị có khó không?

Nếu bệnh nhẹ, cơn đau không kéo dài, bản thân người bệnh có thể tự điều trị bớt đau bằng cách dùng cao dán hoặc dùng hai bàn tay xoa bóp, gõ, vuốt cho vùng cổ, vai, gáy nhiều lần để giảm đau. Hoặc có thể đến các cơ sở vật lý trị liệu hoặc phòng khám Đông y để xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu.

Thuốc thường dùng trong điều trị hội chứng đau vai gáy bao gồm thuốc giảm đau chống viêm, phong bế thần kinh, giãn cơ và vitamin nhóm B. Tùy theo từng nguyên nhân, các bác sĩ sẽ có những phương pháp xử trí khác nhau. Nếu đã loại trừ được những nguyên nhân chèn ép, có tổn thương thì điều trị chủ yếu là dùng thuốc giảm đau thông thường, có thể bằng đường uống, bằng cao dán. Người bệnh cũng có thể dùng vitamin E 400mg, ngày uống 1 viên. Ngoài ra, có thể kết hợp biện pháp xoa, ấn, gõ nhẹ nhàng vùng gáy, bả vai, cánh tay. Tuy nhiên, người bệnh cũng cần phải nhớ rằng, không được xoa bóp bấm huyệt hoặc tập vận động trong giai đoạn cấp tính. Một số trường hợp người bệnh cần được điều trị bằng phẫu thuật: thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, vẹo cột sống…

Nên tập luyện để phòng tránh

Để phòng đau cổ, vai, cần ngồi, đứng, ngủ sinh hoạt… đúng tư thế. Không làm việc quá lâu tại bàn giấy, đặc biệt với máy vi tính, thỉnh thoảng nên dừng lại để thực hiện các động tác vận động cột sống cổ, vai và tay. Cần giữ cổ luôn thẳng, tránh sai tư thế khi ngồi học, đọc sách hoặc đánh máy, không cúi gập cổ quá lâu; không nằm gối đầu cao để đọc sách hay xem tivi sẽ làm sai tư thế của cột sống cổ. Nên gối đầu thấp khi ngủ, tốt nhất gối chỉ nên cao khoảng 10cm. Khi xem tivi nên tựa lưng vào đệm, đầu hơi ngửa ra sau thành ghế, cổ tựa vào một điểm.

Không nên bẻ khớp cổ, cánh tay, vai kêu răng rắc. Nhiều người cho rằng làm thế sẽ đỡ nhức mỏi nhưng thực tế lại gây tác dụng hoàn toàn trái ngược, bởi nếu đĩa đệm đã bị thoái hóa gây mỏi cổ, khi bẻ hoặc vặn sẽ tạo đà cho đĩa đệm thoát vị ra ngoài và làm bệnh thêm trầm trọng; Khi bị đau vai, gáy nên nghỉ ngơi, hạn chế vận động ít ngày, bổ sung một số khoáng chất cho cơ thể như canxi, kali và các vitamin C, B, E; tắm nước ấm, xoa bóp giúp giãn cơ chỗ đau, tăng cường lưu thông trong cơ thể.

Ngoài ra, người bệnh nên thường xuyên luyện tập thể dục thể thao với các bài tập phù hợp; vận động, nghỉ ngơi, giải lao giữa giờ làm việc, nên giải lao khi phải ngồi kéo dài; tránh căng thẳng; luyện tập các động tác dưỡng sinh, kéo giãn cơ thể như ưỡn cổ, cúi đầu về phía trước, ngửa đầu ra phía sau, nghiêng đầu sang trái, sang phải, xoay tròn đầu và cổ, cử động cổ lên xuống… thường xuyên sẽ phòng và làm giảm các triệu chứng của bệnh.

BS. Đỗ Hoàng Lan

Theo SKDS

Nấm ống tai sẽ ảnh hưởng đến khả năng nghe

Nấm ống tai là bệnh khá phổ biến hiện nay, chiếm 10% trong số những bệnh nhân bị viêm ống tai, đặc biệt ở trẻ em do ống tai ngoài nhỏ, có nhiều lông và dịch nhầy, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại nấm phát triển. Thêm vào đó là khí hậu ẩm thấp, điều kiện vệ sinh kém như ở Việt Nam dễ có cơ hội cho các loại nấm gây bệnh phát triển. Bệnh đặc biệt dễ xuất hiện vào mùa hè.

Bệnh viêm ống tai ngoài do nấm (otomycosis) có thể tiến triển mạn tính hoặc bán cấp tính và thường đi theo sau viêm tai do nhiễm khuẩn. Bệnh hay gặp do những loại nấm cơ hội như: Aspergillus niger, Candida, Mucoracae, Dermatophytes, và Actinomyces.

nam-ong-tai-gay-anh-huong-de-viec-nghe

Lấy ráy tai sinh nấm trong tai

Nguyên nhân hay gặp nhất là do dùng các dụng cụ để ngoáy tai, lấy ráy tai không sạch, bệnh nhân đang mắc các bệnh suy giảm miễn dịch, các nhiễm khuẩn tại chỗ khác kết hợp, chàm ống tai, dùng kháng sinh nhỏ tai kéo dài, sau khi bị chấn thương hoặc thường xuyên tắm ở các bể bơi không đảm bảo vệ sinh thì không chỉ mắc nấm ở tai mà còn có thể mắc các bệnh lý ngoài da khác…

Các loại nấm này đều có thể mọc được ở tai do môi trường ống tai rất ẩm ướt. Nếu một nơi nào đó trên cơ thể mắc nấm đều có nguy cơ lây nhiễm đến tai do tay người bệnh. Người ta thường gặp nấm ống tai ở những phụ nữ mắc nấm âm đạo, không được điều trị. Nhiều trường hợp không để ý đến điều này và bất ngờ khi bị nấm tai do lây nhiễm chéo từ nấm âm đạo.

Tổn thương tai do nấm biểu hiện thế nào?

Tổn thương do nấm gây nên tại tai thường khu trú ở ống tai ngoài hoặc vành tai. Biểu hiện đầu tiên của bệnh nấm ống tai ngoài là cảm giác ngứa trong ống tai, ngứa tăng dần làm bệnh nhân phải ngoáy tai liên tục, càng ngoáy càng ngứa. Rất ít bệnh nhân đến khám và chữa ở giai đoạn này.

Sau 1 – 2 ngày, bệnh nhân bắt đầu thấy đau tai, đau tăng lên khi nhai hoặc ngáp. Tai thấy nặng, cảm giác đầy tức trong tai đồng thời nghe kém hơn hẳn tai bên lành hoặc nếu bị cả hai tai thì sức nghe giảm sút, lúc nào cũng như có tiếng gió thổi ù ù trong tai đồng thời có dịch chảy ra ngoài cửa tai màu trắng, vàng, hoặc màu nâu bẩn. Bệnh nhân không thể chịu được nữa mới đến gặp thầy thuốc.

Khám tai thấy một số vảy, mảnh vụn hình thành ở trong ống tai ngoài và vành tai. Ống tai ngoài bị lấp đầy bởi những mảng màu xám, đen hoặc trắng. Quan sát ở mặt trên những mảng này, các sợi bào tử nấm mọc trông như đám mạ. Các mảng này có mùi hôi rất khó chịu. Bóc lấy một phần của mảng bám đem đi soi tươi và nuôi cấy để chẩn đoán xác định loại nấm gây bệnh.

TS. Phạm Bích Đào

Nguyên do gây ra viêm dạ dày cấp

Đột ngột xuất hiện những cơn đau vùng thượng vị với cảm giác cồn cào, bỏng rát kèm theo buồn nôn, nôn có thể sốt cao, thậm chí có trường hợp nôn ra máu – đây là những dấu hiệu cần phải nghĩ đến tình trạng viêm dạ dày cấp. Bệnh nhân cần đi khám tại các chuyên khoa tiêu hóa để được xử trí kịp thời.

Ai dễ bị viêm dạ dày cấp?

Bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp thường có tiền sử dùng các thuốc chống viêm, giảm đau không steroid hoặc sau ăn uống không phù hợp, uống rượu, hút thuốc, stress… kèm theo là cảm giác khó chịu không rõ ràng vùng thượng vị; buồn nôn, nôn; chán ăn… Tuy nhiên, hầu như không có song hành giữa tình trạng bệnh và biểu hiện lâm sàng. Trên thực tế, bệnh nhân thường được phát hiện thông qua nội soi đường tiêu hóa trên mặc dù được chẩn đoán lâm sàng là các bệnh lý khác có liên quan tới dạ dày. Nguyên nhân gây nên viêm dạ dày cấp rất đa dạng, việc xác định đúng căn nguyên để đưa ra điều trị hợp lý là vấn đề quan trọng.

Bệnh nhân thường đến viện trong tình trạng đau bụng vùng thượng vị với cảm giác cồn cào, bỏng rát kèm theo buồn nôn, nôn có thể sốt cao, thậm chí có trường hợp nôn ra máu. Khi hỏi bệnh thường thấy có tiền sử bị các bệnh lý dạ dày, trước đó dùng các thuốc chống viêm giảm đau như aspirin hoặc các NSAIDs khác, nhất là dùng với liều cao; người khỏe có thể sau uống rượu, làm việc quá căng thẳng, ngộ độc các chất ăn mòn, ăn thức ăn cứng khó tiêu, nhiễm khuẩn nhiễm độc do tụ cầu… Khi đó, bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm cần thiết để khẳng định chẩn đoán.

nguyen-do-gay-viem-da-day-cap

Khi soi dạ dày thấy có hai dạng viêm cấp chủ yếu:

Viêm dạ dày trợt cấp: Trên nền dạ dày phù nề, xung huyết có những vùng mất tổ chức, thường ở vùng dưới thân vị và hang vị, đôi khi có vết nứt kẽ chạy dài, ngoằn ngoèo, dễ xuất huyết.

Viêm dạ dày cấp sưng tấy: Nổi bật là hiện tượng xung huyết, xuất huyết, niêm mạc dạ dày đỏ rực, có tình trạng xuất tiết mạnh; có mủ hay các chấm, mảng xuất huyết hoại tử. Ngoài ra, bác sĩ cũng làm thêm các xét nghiệm khác để đánh giá tình trạng toàn thân và các bệnh lý liên quan như công thức máu, chức năng gan, mật, thận, tụy…  Chụp Xquang dạ dày có giá trị tham khảo, xét nghiệm tìm sự có mặt của vi khuẩn H.P và các tác nhân khác…

Đi tìm thủ phạm gây bệnh

Viêm dạ dày trợt cấp là hậu quả của sự phơi nhiễm của niêm mạc dạ dày với các tác nhân hoặc yếu tố có hại như thuốc, rượu, dịch mật trào ngược… Do tác dụng của trọng lực giải thích tại sao các thương tổn trong dạ dày thường nằm ở vị trí bờ cong lớn, đặc biệt trong trường hợp dùng thuốc NSAIDs, mặc dù cơ chế chủ yếu gây tổn thương là làm giảm tổng hợp prostaglandin vì lượng chất này giảm đi sẽ làm giảm cơ chế bảo vệ niêm mạc dạ dày.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm dạ dày cấp bao gồm một số thuốc, đặc biệt là thuốc chống viêm giảm đau không steroid như aspirin, ibuprofen, naproxen; uống nhiều rượu; nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virut, nấm); trào ngược dịch mật; thiếu máu; các stress cấp tính; dị ứng; ngộ độc thức ăn; chấn thương; các tình trạng suy chức năng cơ quan… mà cơ chế chung của thương tổn là làm mất cân bằng giữa các yếu tố tấn công và bảo vệ duy trì trạng thái ổn định của hàng rào niêm mạc dạ dày.

Nhiễm khuẩn cũng là nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp, thường gặp là xoắn khuẩn Helicobacter pylori (H.P), tần suất nhiễm H.P tùy thuộc từng vùng địa lý, đặc biệt là những nơi có tình trạng kinh tế kém phát triển, dường như tăng dần theo tuổi.

Viêm dạ dày cấp sưng tấy (phlegmonous) là một dạng viêm dạ dày cấp thường gặp do các vi khuẩn như tụ cầu, liên cầu, Proteus, Clostridium, Escherichia coli; gặp ở các bệnh nhân suy kiệt, uống rượu nhiều, suy giảm miễn dịch. Thương tổn ở lớp sâu hơn từ hạ niêm mạc, thậm chí tới lớp cơ niêm. Loại này thường hiếm gặp, nếu không được xác định và điều trị phù hợp có thể dẫn tới viêm phúc mạc, thậm chí tử vong.

Cần điều trị sớm viêm dạ dày cấp

Khi có những dấu hiệu của bệnh, người bệnh cần đi khám để được điều trị kịp thời. Để có kết quả điều trị tốt, cần phải xác định đúng nguyên nhân gây bệnh. Ngoài ra, bệnh nhân được điều trị triệu chứng và các chế độ kiêng khem. Ăn uống trong giai đoạn cấp: có thể nhịn ăn rồi chuyển sang các súp, cháo và thức ăn mềm. Nếu nôn, có rối loạn nước và điện giải, cần chỉ định bù dịch cho phù hợp.

Với mỗi trường hợp cụ thể, bệnh nhân cần được khám, tìm nguyên nhân và chỉ định điều trị thích hợp thì bệnh mới mau lành và tránh được những biến chứng nguy hiểm. Trong điều trị cần dùng các thuốc nhóm antacids; nhóm giảm tiết acid gồm nhóm kháng histamin H2; nhóm ức chế bơm proton… Nếu xác định có vi khuẩn H.P, cần phối hợp điều trị bằng kháng sinh. Hiện nay thường dùng phác đồ 3 thuốc, trong đó có một loại thuốc giảm tiết với kháng sinh kết hợp hai loại, trên lâm sàng có thể kết hợp nhóm clarithromycin với amoxicillin hoặc metronidazole…

BS. Nguyễn Trường Sơn

Theo SKDS

Nguyên nhân gây bệnh ung thư phổi

Hút thuốc lá được biết tới như là nguyên nhân hàng đầu của hầu hết các ca ung thư phổi. Nguy cơ mắc bệnh tăng theo số thuốc lá bạn hút, và càng cao ở những người bắt đầu hút từ khi còn trẻ. Thuốc lá đầu lọc và thuốc có lượng nhựa thấp có thể giảm bớt phần nào nguy cơ mắc bệnh, nhưng nguy cơ ở người hút vẫn cao hơn rất nhiều so với người không hút thuốc. Ung thư phổi chủ yếu ở nam giới, đặc biệt ở độ tuổi hơn 40, do nam giới hút thuốc nhiều hơn nữ giới. Tuy nhiên, do tỷ lệ nữ giới hút thuốc đang ngày càng tăng, tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nữ cũng gia tăng đáng kể.

1003090132097248121

Nếu một người bỏ thuốc, nguy cơ mắc ung thư phổi sẽ giảm nhanh chóng và sau 15 năm người này sẽ có nguy cơ mắc bệnh bằng với người chưa bao giờ hút thuốc.

Hiện nay việc hít phải khói thuốc hay còn gọi là hút thuốc thụ động, cũng phần nào làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về phổi và ung thư phổi, mặc dù tỷ lệ mắc thấp hơn nhiều so với trường hợp tự bạn hút.

Hút cần sa cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi.

Mặc dù những người hút tẩu và xỳ gà có nguy cơ mắc ung thư phổi thấp hơn người hút thuốc là, nhưng tỷ lệ mắc ở họ vẫn cao hơn nhiều so với người không hút thuốc.

Ở một số gia đình, người hút thuốc sẽ có nguy cơ mắc ung thư phổi nhiều hơn kết hợp với việc thừa hưởng gen lỗi.

Những người có thời gian dài tiếp xúc hoặc tiếp xúc trực tiếp với chất amiăng sẽ có nguy cơ mắc ung thư cao, đặc biệt là nếu người đó lại hút thuốc là. Chất amiăng và khói thuốc tương tác làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Có rất nhiều người phải tiếp xúc với amiăng trong thời gian lao động của họ. Việc giảm bớt nồng độ tiếp xúc sẽ giúp giảm nhẹ nguy cơ mắc bệnh , so với nguy cơ từ việc hút thuốc lá; tiếp xúc nhiều với chất này sẽ dẫn tới nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi rất cao. Việc tiếp xúc với chất amiăng cũng làm tăng nguy cơ mắc loại ung thư U trung biểu mô, một loại ung thư tại màng bao bọc quanh phổi.

Một số loại khí phóng xạ tự nhiên thoát khỏi lòng đất cũng có khả năng gây bệnh. Hiện nay người ta cũng cho rằng, nếu loại khí này tập trung ở nồng độ cao sẽ gây bệnh ung thư phổi.

Việc tiếp xúc với một số hoá chất và các chất như Urani, Crom và Niken có thể gây ung thư phổi, nhưng rất hiếm.

Người ta cũng cho rằng ô nhiễm không khí có thể gây ra ung thư phổi nhưng điều này rất khó chứng minh.

Ung thư phổi là bệnh không lây và không thể lây truyền sang những người khác

Nguồn: cancerbacup