Tag Archives: nguy cơ

Hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư tủy xương

Theo một cuộc nghiên cứu mới đây, những người hút thuốc lá có nguy cơ cao mắc phải các bệnh ung thư của hệ thống miễn dịch và ung thư tủy xương.

Các nhà khoa học làm việc tại phân viện nghiên cứu ung thư của viện dịch tễ học Anh quốc ở đại học Oxford dựa trên dữ liệu thu thập từ 1,3 triệu phụ nữ trung niên tham gia khảo sát đã đi đến kết luận trên.

Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu có tổng số 9.000 phụ nữ mắc phải bệnh tăng bạch cầu trong máu, bệnh ung thư hệ thống miễn dịch hay ung thư tủy xương trong một cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian mười năm.

hut-thuoc-co-nguy-co-mac-ung-thu-tuy-xuong

Trung bình có 8 người trong số 1000 người hút thuốc lá đã mắc phải một trong các căn bệnh ung thư kể trên so với 6 người mắc bệnh trong số 1000 người không hút thuốc.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những phụ nữ hút khoảng 20 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ cao gấp đôi mắc phải bệnh u lymphoma dạng Hodgkin’s và một số chứng bệnh ung thư tủy xương khác.

GS. Valerie Beral, người mà các phát hiện y học được đăng tải trên tạp chí chuyên đề ung thư Anh quốc phát biểu: “Những kết quả từ cuộc nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng hút thuốc là một nguyên nhân quan trọng của bệnh ung thư. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều loại ung thư, không chỉ là bệnh ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị. Đây chính là vấn đề mà nhiều người còn chưa nhận thức được đầy đủ”.

Sara Hiom, Giám đốc phụ trách thông tin truyền thông của Viện Nghiên cứu ung thư Anh quốc cho rằng bỏ thuốc lá không bao giờ là việc làm quá trễ và khuyến cáo mọi người nên tìm lời khuyên từ bác sĩ của mình cũng như từ các tổ chức y tế ở địa phương nơi họ cư trú.

Nguồn news

Nguy cơ đột quỵ do hấp thụ nhiều muối

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, ở người cao tuổi, lượng muối hấp thụ quá cao mỗi ngày có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Những nghiên cứu trước đó cho thấy, lượng muối đưa vào cơ thể quá nhiều có thể dẫn đến bệnh cao huyết áp, tuy nhiên chưa có nhận định hay giải thích nào trước đây về mối liên hệ giữa lượng muối cao và bệnh tim mạch và đột quỵ.

dot-quy

Kết quả nghiên cứu tiến hành trong 10 năm, với 2700 người cao tuổi tham gia cho thấy, tỉ lệ nhóm người có lượng muối cao, bị mắc bệnh đột quỵ cao gấp 3 lần so với nhóm người bình thường.

Hãng Reuters trích dẫn một công bố đăng tải trên tạp chí Đột quỵ của Mỹ ngày 26/4, cho biết lượng muối cao có thể nhanh chóng ảnh hưởng huyết áp, không giống với lượng muối có ảnh hưởng lâu dài đến bệnh tim mạch và đột quỵ, do vậy sẽ rất khó khăn để tìm ra mối liên quan giữa chúng.

Tổ chức y tế Thế giới khuyến cáo lượng muối tiêu thụ mỗi ngày tối đa không quá 2000mg. Tuy nhiên nghiên cứu mới nhất lại tham khảo số liệu “không quá 1500mg mỗi ngày” do Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo đưa ra. Nhưng lượng muối ăn trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 3031mg.

Trong 10 năm, có khoảng 235 người thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu, bị đột quỵ. Cụ thể là 66 người trong 558 người có lượng muối trên 4000mg mỗi ngày, bị mắc bệnh đột quỵ; còn trong 320 người có lượng muối dưới 1500mg, chỉ có 24 người bị đột quy.

Đứng đầu dự án nghiên cứu, ông Hannah Gardner, cho biết “Lượng muối cao trong cơ thể tương đối phổ biến và có liên quan đến bệnh đột quỵ.” Ông cho rằng, mặc dù không thể ngay lập tức khẳng định lượng muối cao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến đột quỵ, nhưng thực tế cho thấy sử dụng ít muối sẽ có cuộc sống khỏe mạnh hơn.

Mất ngủ gây tổn hại đến tim

Các nhà khoa học Mỹ đã tìm ra câu trả lời cho câu hỏi một người ngủ bao nhiêu tiếng mỗi đêm là hợp lý. Theo họ, một giấc ngủ lý tưởng, tốt cho cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch, là một giấc ngủ kéo dài từ 6-8 tiếng mỗi đêm.

Các nhà khoa học thuộc Đại học Y khoa Chicago khẳng định, ngủ ít hơn hay nhiều hơn khoảng thời gian nói trên đều có hại cho sức khỏe của con người và nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch ở những người này là khá cao. Kết luận trên được rút ra sau khi họ tiến hành phân tích và tổng hợp các số liệu thu thập được từ 3.000 người trên 45 tuổi về thói quen sinh hoạt, thời gian ngủ và các loại bệnh tim mạch họ từng mắc phải như suy tim, lên cơn đau tim, bệnh động mạch vành, đau thắt ngực hay đột quỵ.

mat-ngu-gay-ton-hai-den-tim

Kết quả cho thấy, với những người ngủ dưới 6 tiếng mỗi đêm, nguy cơ bị đột quỵ hoặc lên cơn đau tim cao gấp 2 lần và nguy cơ suy tim cao gấp 1,6 lần so với những người ngủ đủ từ 6-8 tiếng mỗi đêm. Trong khi đó, với những người ngủ từ 8 tiếng trở lên, nguy cơ đau thắt ngực là 2 lần và mắc bệnh động mạch vành là 1,1 lần so với thời gian tiêu chuẩn.

Từ kết quả trên, các nhà nghiên cứu kết luận ngủ đủ giấc từ 6-8 tiếng mỗi đêm là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp con người giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

Nguồn giáo dục

Ăn vặt có thể đem đến nhiều lợi ích

Ăn vặt có thể giúp bạn khỏe mạnh, nếu bạn chọn lựa đồ ăn một cách khôn ngoan và duy trì bình ổn lượng calo cơ thể nạp vào mỗi ngày.

Ăn vặt có thể giúp bạn khỏe mạnh, nếu bạn chọn lựa đồ ăn một cách khôn ngoan và duy trì bình ổn lượng calo cơ thể nạp vào mỗi ngày.

Các bậc cha mẹ thường cho rằng ăn vặt không có lợi cho sức khỏe và cấm con mình ăn vặt. Tuy nhiên, sự thật không phải như vậy. Ăn vặt lành mạnh giúp cải thiện sức khỏe, kiềm chế cảm giác thèm ăn, giúp điều chỉnh tâm trạng, tăng cường sức mạnh não bộ và cung cấp năng lượng cho cơ thể.

an-vat-co-the-dem-den-nhieu-loi-ich

Những đồ ăn ít dinh dưỡng và nhiều đường giống như nhiên liệu dễ dàng bốc cháy

Ổn định lượng đường trong máu

“Ăn vặt giúp lượng đường trong máu ổn định và giúp bạn không bị quá đói giữa các bữa ăn”, Debra Waterhouse, thạc sỹ y tế công cộng người Mỹ cho biết.

Tất nhiên, như vậy không có nghĩa là bạn có thể ăn vặt một cách tùy tiện. 3 đến 5 giờ sau khi ăn, lượng đường trong máu sẽ hạ. Thường xuyên ăn vặt với lượng nhỏ giúp giảm cảm giác đói cồn cào, thúc đẩy quá trình trao đổi chất và cân bằng lượng đường trong máu. Nên lựa chọn những đồ ăn vặt lành mạnh như các loại hạt, trái cây, sữa chua hoặc các đồ ăn ít chất béo, ít đường và giàu chất xơ.

Theo tiến sĩ chuyên khoa tim mạch Rita Redberg (Đại học California): “Chế độ dinh dưỡng hợp lý là chìa khóa của một phong cách sống lành mạnh, giúp giảm nguy cơ tim mạch và tăng cường sức khỏe tổng thể”.

Giúp kiểm soát cân nặng

Nhà dinh dưỡng người Mỹ Megan Mullin khuyến cáo khách hàng của cô cứ 3 đến 5 giờ đồng hồ lại ăn một bữa nhỏ. “Bạn nên thường xuyên ăn những bữa nhỏ, đồng thời ăn nhiều hơn khi phải vận động nhiều. Nếu cân bằng được năng lượng nạp vào với năng lượng tiêu thụ, bạn có thể dễ dàng kiểm soát cân nặng của mình”.

Nên mang theo người những món ăn vặt lành mạnh và không nên đi tới cửa hàng khi đang đói vì như vậy bạn sẽ dễ dàng mua những món đồ không nên mua.

Giúp kiểm soát tâm trạng

“Tôi cho rằng thức ăn cũng như nhiên liệu vậy”, Mullin nói. Những đồ ăn ít dinh dưỡng và nhiều đường giống như nhiên liệu dễ dàng bốc cháy. Khi ăn, bạn sẽ có được nguồn năng lượng nhưng ngay sau đó, bạn sẽ cảm thấy đói, cáu kỉnh, buồn ngủ và không thể tập trung.

Trong khi đó, những đồ ăn vặt lành mạnh giống như nhiên liệu cháy chậm, cung cấp cho bạn năng lượng suốt cả ngày. Việc ăn vặt vài lần trong ngày giúp xua đuổi cơn buồn ngủ sau khi ăn – cơn buồn ngủ bắt nguồn từ việc hấp thụ quá nhiều calorie cùng lúc. Nếu ăn những đồ ăn vặt có protein như cá, thịt, trứng, phô mai, đậu phụ; bạn sẽ tăng khả năng tập trung và sự tỉnh táo.

Nhiều người còn chọn những đồ ăn có carbohydrate khi buồn vì chúng thúc đẩy việc sản xuất serotonin trong não, giúp cải thiện tâm trạng.

Theo giáo dục

Phòng ngừa biến chứng ở chân do tiểu đường

Biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường là biến chứng bàn chân. Đây cũng là một trong những biến chứng nghiêm trọng, điều trị khó khăn, có thể khiến bệnh nhân thường phải cắt cụt chi dưới. Tuy nhiên, nếu được điều trị và chăm sóc tốt, người bệnh sẽ tránh được biến chứng nguy hiểm này.

Đái tháo đường gây bệnh ở bàn chân
Hàng ngày, bàn chân phải chịu một khối lượng lớn trọng lực của toàn bộ cơ thể nên rất dễ tổn thương. Ở bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), đường huyết cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì thế, vết thương có thể bị loét, nhiễm khuẩn, có thể tiến triển thành hoại tử nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Khi đó, nguy cơ cắt cụt chi là rất cao.

Thường xuyên kiểm tra định kỳ để phát hiện bất thường ở bàn chân

Thường xuyên kiểm tra định kỳ để phát hiện bất thường ở bàn chân

Tổn thương hay gặp ở bàn chân bao gồm:
Khô da: Ở bệnh ĐTĐ, dinh dưỡng nuôi da kém, do tổn thương thần kinh, thay đổi chuyển hóa khiến da trở nên thô ráp nứt nẻ, hay bị bong vảy.
Nhiễm nấm: Các bệnh nấm có thể gặp là nấm móng, nấm gót chân. Biểu hiện: Móng chân, thường là ngón cái, bị đổi màu, bề mặt móng kém sáng bóng, dày và dễ mủn. Rìa móng xuất hiện các đám tổn thương là các sùi có màu trắng hoặc vàng, đôi khi có mủ.

Viêm dây thần kinh: Bệnh ĐTĐ làm tổn thương lớp màng bọc nuôi dưỡng dây thần kinh ngoại vi đi đến chân gây viêm dây thần kinh. Người bệnh có biểu hiện tê bì, da khô nứt nẻ, có cảm giác lạnh ở bàn chân.

Loét bàn chân: Đường huyết cao làm chậm sự liền vết thương, gây tổn thương mạch máu. Vết thương ở bàn chân dễ dàng “ăn” sâu đến xương, lộ gân có nguy cơ hỏng gân, hoại tử xương, phải cắt cụt chi.

Cách chăm sóc bàn chân để phòng ngừa biến chứng
Giữ sạch chân: Hằng ngày, cần rửa sạch bàn chân nhẹ nhàng với nước ấm và xà phòng trung tính, chú ý rửa sạch kẽ giữa các ngón chân. Không ngâm chân trong nước quá lâu. Sau khi rửa, dùng khăn bông mềm thấm khô chân và các kẽ ngón chân. Nếu da chân khô, có thể dùng kem dưỡng da bôi lên trên mu chân và dưới lòng bàn chân để giữ ẩm cho da, không bôi kem vào kẽ ngón chân.

Cắt móng chân: Thường xuyên cắt móng chân. Nên cắt móng chân theo đường thẳng hoặc theo đường vòng của ngón, không cắt móng quá sát và không cắt sâu vào các góc móng.

Bảo vệ bàn chân: Không được đi chân trần, ngay cả khi đi trong nhà, bởi vì chân có thể bị tổn thương do va đập mà người bệnh không cảm nhận được. Nên đi giày đế bằng, chất liệu mềm, vừa chân. Không đi giày cao gót hoặc các loại giày bó lấy bàn chân và gót chân. Nếu có điều kiện, nên đi giày dành cho người ĐTĐ. Khi đi giày, cần phải mang tất chân và thay tất hàng ngày. Chọn tất có màu sáng, làm bằng cotton hoặc sợi tổng hợp mềm, vừa chân. Không sử dụng các loại tất làm bằng chất liệu nilon hoặc tất bó. Trước khi đi giày và tháo giày, cần kiểm tra mặt trong của giày để chắc chắn không có vật gì trong giày có thể làm tổn thương chân.

Tập luyện bàn chân: Cần giữ cho mạch máu ở chân được lưu thông bằng cách đặt chân lên ghế ở tư thế ngang khi ngồi, không bắt chéo chân trong thời gian dài. Tập cử động các ngón chân trong khoảng 5 – 10 phút, vài lần trong ngày. Các hình thức luyện tập như: đi bộ, nhảy, bơi lội hoặc đạp xe chậm là những bài tập tốt cho chân, giúp cải thiện lưu thông mạch máu.
Thường xuyên kiểm tra bàn chân: Hàng ngày, nên quan sát kỹ xem có sự thay đổi màu da ở chân hay không; xem các kẽ ngón chân; tìm các vết nứt trên da, các vết phỏng rộp, vết thâm, các nốt chai chân và những chỗ đau trên da.

Nếu phát hiện các dấu hiệu bất thường như: Móng chân bị đổi màu, bị rối loạn cảm giác tại bàn chân, hay đau mỏi chân không đi được xa, có nốt sưng phồng, xuất hiện quá nhiều nốt chai chân…, người bệnh cần đi khám lại ngay để có chỉ định điều trị phù hợp, tuyệt đối không tự ý cắt bỏ chai chân.

Theo sức khỏe đời sống

Ngủ trưa quá lâu có nguy cơ mắc tiểu đường

Giấc ngủ trưa là khoảng thời gian nghỉ ngơi giữa ngày, những ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người vẫn đang gây những tranh cãi trong giới khoa học.

Trong khi, một số nhà nghiên cứu cho rằng giấc ngủ ngăn vào buổi trưa có thể mang lại lợi ích sức khỏe tích cực, một số khác lại cho rằng ngủ trưa ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thậm chí có thể gây giảm tuổi thọ.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã khảo sát trên 27.000 người Trung Quốc đã nghỉ hưu, trong đó có cả nam giới và phụ nữ. Những người này được xếp thành những nhóm khác nhau dựa trên thời gian ngủ trưa của họ, từ không ngủ trưa đến ngủ trưa hơn 60 phút.

Ngủ trưa quá lâu có nguy cơ mắc tiểu đường

Ngủ trưa quá lâu có nguy cơ mắc tiểu đường

Hơn 2/3, tức là khoảng 18.500 người tham gia cho biết họ thường xuyên ngủ trưa. Sau khi điều chỉnh cả những yếu tố khác như hút thuốc lá, lượng thời gian cho giấc ngủ ban đêm và những hoạt động thể chất, kết quả cho thấy rằng những người ngủ trưa nhiều hơn một giờ có nguy cơ cao mắc tiền tiểu đường và tiểu đường so với những người không ngủ trưa.

Bà Elian Lucassen, một nhà nghiên cứu tại trung tâm Y khoa của ĐH Leiden ở Hà Lan cho biết trong một bài bình luận được công bố tuần trước trên tạp chí Sleep Medicine: “Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với những người thường xuyên ngủ trưa. Giấc ngủ ngắn có thể hữu ích với một số người và cũng không nên ngủ quá dài”.

Các nhà khoa học cảnh báo những phát hiện này chưa đủ để chứng minh giấc ngủ trưa qua dài gây bệnh tiểu đường, cũng có thể là so bệnh tiểu đường khiến cơ thể mệt mỏi và làm người bệnh muốn ngủ nhiều.

Tuy nhiên, ở Trung Quốc và nhiều nơi khác, ngủ trưa là một thói quen khá phổ quát đến nỗi người dân cho rằng đó là thối quen tốt và không tin ngủ trưa có nguy cơ mắc tiểu đường.

Bệnh tiểu đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa. Bệnh nhân tiểu đường có lượng đường trong máu cao do cơ thể không sản xuất đủ Insulin để loại bỏ glucose thừa trong máu hoặc là do các tế bào đã trở nên đề kháng với insulin.

Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy mối liên quan giữa bệnh tiểu đường và ngủ quá ít hoặc quá nhiều vào ban đêm. Các nhà nghiên cứu cho biết ngủ ngày quá nhiều cũng gây ra rối loạn đồng hồ sinh học.

Bà Lucassen nói thêm: “Cũng có thể là do người ngủ ngày quá nhiều sẽ bị mất ngủ vào ban đêm và gây ảnh hưởng đến nguy cơ mắc tiểu đường”.

Theo Dân trí

Uống trà quá nóng làm tăng nguy cơ ung thư họng

Theo một nghiên cứu mới công bố trên website bmj.com, chúng ta được khuyên là chỉ nên uống trà sau khi đã pha khoảng một vài phút. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu uống trà của nóng (từ 70 độ C trở lên) có thể làm tăng nguy cơ ung thư thực quản – ống cơ dẫn thức ăn từ họng tới dạ dày.

Nghiên cứu được thực hiện ở miền bắc Iran nơi tiêu thụ một lượng lớn trà xanh mỗi ngày.

Nhưng một biên tập viên lại cho rằng những phát hiện này không phải là nguyên nhân để cảnh báo mọi người. Lời khuyên chung nhất chính là hãy đợi thức ăn và đồ uống nguội đi một chút trước khi nuốt.

uong-tra-nong

Căn bệnh ung thư thực quản đã lấy đi sinh mạng của hơn 500.000 người trên toàn thế giới mỗi năm, và dạng ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản (OSCC) là dạng phổ biến nhất. Tại Châu Âu và Hoa Kỳ, nguyên nhân chính là hút thuốc lá và uống rượu, thói quen này phổ biến hơn ở đàn ông. Nhưng việc uống đồ uống nóng cũng là một yếu tố nguy cơ nữa.

Thành phố Golestan ở bắc Iran là một trong những nơi có tỷ lệ mắc OSCC cao nhất trên thế giới, nhưng tỷ lệ người hút thuốc lá và uống rượu lại khác thấp. Tại đây phụ nữ lại là người thường bị chẩn đoán mắc bệnh hơn đàn ông. Tuy nhiên uống trà lại là thói quen phổ biến. Do đó các khoa học đã bắt tay và tiến hành kiểm tra mối liên hệ giữa thói quen uống trà và nguy cơ mắc OSCC.

Họ đã nghiên cứu thói quen uống trà ở 300 người chẩn đoán mắc OSCC đồng thời kết hợp với kết quả của 571 người khỏe mạnh ở cùng khu vực đó. Hầu như tất cả người tham gia đều uống trà đen thường xuyên, thể tích trung bình mà họ uống mỗi ngày là trên 1 lít.

So với việc uống trà ấm (65 độ C trở xuống), việc uống trà nóng (65-69 độ C) có liên quan với nguy cơ mắc ung thư thực quản tăng gấp đôi, còn uống trà nóng (từ 70 độ C) trở lên lại gắn với con số nguy cơ tăng gấp 8 lần.

Tương tự, so với việc uống trà trong vòng 4 phút hoặc hơn sau khi rót ra, uống trà sau khi rót chưa đầy 2 phút sẽ làm tăng nguy cơ lên 4 hoặc 5 lần. Không có sự liên hệ nào giữa lượng trà uống vào và nguy cơ mắc bệnh ung thư.

Nhằm giảm tối thiểu sai sót trong nhiệt độ trà thực và nhiệt độ trà mà người tham gia thuật lại, các nhà nghiên cứu đã phải xác định nhiệt độ thực khi 50.000 người tham gia uống trà. Nhiệt độ nằm trong khoảng dưới 60 độ C đến trên 70 độ C. Có sự đồng nhất tương đối giữa nhiệt độ thực đo được và nhiệt độ mà người tham gia đề cập.

Các tác giả cho biết kết quả nghiên cứu của họ thể hiện mối liên hệ mạnh mẽ giữa nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào hình vảy thực quản và thói quen uống trà nóng hoặc quá nóng.

Các nghiên cứu trước đây thực hiện tại Anh Quốc cũng đưa ra con số trung bình là 56 đến 60 độ C ở những nhóm người khỏe mạnh.

Họ cũng đồng thời cho rằng việc thông báo với người dân về nguy cơ của thói quen uống trà nóng có thể rất hữu ích trong việc giảm tác động của bệnh ung thư thực quản tại Golestan cũng như các nhóm nguy cơ cao khác có chung một thói quen.

Theo David Whiteman thuộc Viện nghiên cứu y học Queensland tại Australia, kết quả cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng uống trà nóng ở nhiệt độ cao hơn 70 độ C có thể làm tăng nguy cơ ung thư tế bào biểu mô hình vảy thực quản.

Nghiên cứu cũng đồng thời hỗ trợ cho quan điểm rằng tổn thương về nhiệt có thể là nguyên nhân gây ung thư biểu mô mặc dù cơ chế nhiệt độ thúc đẩy sự phát triển khối u vẫn chưa được làm rõ và cần nghiên cứu bổ sung.

Tuy nhiên tác giả nhấn mạnh rằng các phát hiện này không phải là nguyên nhân để đưa ra cảnh báo, cũng không phải là căn cớ để buộc người dân giảm hứng thú của mình đối với thói quen uống trà tao nhã. Thay vào đó, chúng ta nên chờ ít nhất 4 phút hoặc hơn để trà và đồ uống nguội bớt từ mức có thể gây bỏng đến mức có thể uống được.

G2V Star (Theo PhysOrg)

Nguy cơ loãng xương vì giò chả dai, giòn

Trước xu hướng người tiêu dùng quyết liệt tẩy chay giò chả sử dụng hàn the vì sợ nguy hại cho sức khoẻ, gần đây một số cơ sở sản xuất giò chả đã chuyển sang sử dụng một loại hoá chất có tên “dai, giòn”, được coi là an toàn hơn hàn the. Liệu đây có phải là loại phụ gia thực phẩm vô hại?
Phụ gia “dai, giòn”
Hiện nay, tại một số quầy chợ và trên mạng có rao bán loại phụ gia “dai, giòn”. Đó là loại bột màu trắng, không mịn, giá bán lẻ là 20.000đ/100g. Người bán hàng cho biết, loại phụ gia này được sử dụng chủ yếu cho chế biến giò chả, xúc xích, nem… Theo hướng dẫn của người bán, chỉ nên trộn phụ gia dai giòn với tỷ lệ 3g/kg thịt, nếu cho nhiều sẽ bị đắng.

nguy-co-loang-xuong-vi-gio-cha-dai-gion

Còn trên mạng, phụ gia này được giới thiệu là hỗn hợp của di-tri polyphosphate, giúp tăng khả năng tạo nhũ, tăng độ kết dính, tạo giòn dai, giữ nước cao, giảm hao hụt trọng lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí. Trong danh mục các phụ gia thực phẩm được Bộ Y tế cho phép sử dụng, nhóm các chất nhũ hoá có gốc polyphosphate như sodium polyphosphate, trisodium diphosphate có công dụng điều chỉnh độ axít, bảo quản, tạo xốp, chống đông vón, ổn định màu…
Nguy cơ gây loãng xương
Trong chế biến giò chả, xúc xích, polyphosphate giúp tăng khả năng nhũ hoá, tạo gel kết dính, tạo độ giòn dai không giống hàn the (borax, tên hoá học là sodium tetraborate decahydrate hoặc sodium borate decahydrate). Tuy nhiên, các nhà khoa học đều khuyến cáo không nên lạm dụng polyphosphate. Vì trong cơ thể người, lượng canxi và phospho cần có tỷ lệ cố định. Phospho nhiều sẽ làm giảm khả năng hấp thu can xi, dẫn đến bệnh loãng xương, nhất là đối với người lớn tuổi. Vì vậy, dù polyphosphate không bị cấm sử dụng, nhưng nếu lạm dụng sẽ gây hại cho sức khoẻ. Hiện nay, một số chất có tác dụng tạo nhũ, liên kết nước, tăng độ giòn dai thay thế polyphosphate và hàn the là carrageenan, CMC, maltodextrin và trehalose, có giá cao hơn.
Chính vì vậy, người tiêu dùng cần thận trọng khi sử dụng phụ gia thực phẩm, mua hàng phải có bao bì, nhãn mác, mua của những cơ sở sản xuất có thương hiệu, uy tín. Vì nhiều người kinh doanh không quan tâm đến giá trị dinh dưỡng, yếu tố an toàn mà chỉ quan tâm có tạo cảm quan thu hút người tiêu dùng hay không, do đó thường lạm dụng hóa chất trong chế biến thực phẩm. Bên cạnh đó, Nhà nước cần quản lý thật chặt việc nhập khẩu và đầu ra của hóa chất nhập khẩu, kể cả phụ gia được phép sử dụng.

Lam Khê

Theo SKDS

Những bệnh do máy in trong văn phòng gây ra

Ngồi cạnh một chiếc máy in laser trong phòng làm việc, người ta lờ mờ đoán rằng nó có thể gây hại cho sức khỏe. Đúng vậy, hoạt động của máy in có thể sinh ra những hạt siêu mịn ảnh hưởng đến hệ hô hấp của chúng ta.

Mặc dù lĩnh vực nghiên cứu về tác động của máy in đối với sức khỏe vẫn ở giai đoạn sơ khai nhưng các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, máy in laser có thể tạo ra “trận mưa” các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí. Chúng ta có thể hít sâu vào phổi, về lâu dài đây là nguy cơ đối với sức khỏe.

nhung-benh-do-may-in-trong-van-phong-gay-ra

Một chuyên gia về lĩnh vực này, Giáo sư Lidia Morawska – Giám đốc Phòng thí nghiệm quốc tế về chất lượng không khí và y tế tại ĐH công nghệ Queensland, Australia bắt đầu từ một nghiên cứu năm 2007 phát hiện ra rằng, máy in laser văn phòng thải ra một lượng đáng kể hạt siêu mịn. “Chúng tôi thấy rằng một số máy in trong văn phòng phát thải đáng kể, vì vậy đã sơ tán chúng ra các hành lang, nơi có hệ thống thông gió tốt hơn”, GS nói.

Đúng như tên gọi, đó là những hạt siêu mịn, đường kính chưa đầy 0,1 micromet, tức là kích thước này tương đương 1 milimet chia thành 10.000 phần. Chu trình hình thành hạt như sau: Khi mực in và giấy đi qua các con lăn máy của máy in đang nóng, hóa chất ở dạng hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trôi vào không khí. Các hợp chất này sau đó phản ứng với ozone trong không khí và ngưng tụ, hình thành các hạt siêu mịn. Ở đây, nhiệt độ của máy in đóng vai trò chính, nhiệt độ càng cao thì các hạt được sinh ra càng nhiều. Tùy từng loại máy, đời máy in hoặc hoạt động của máy in ít hay nhiều mà lượng hạt sinh ra ở các mức độ khác nhau.

Tuy nhiên, tác hại của các hạt này vẫn là đề tài đang được nghiên cứu nhưng có bằng chứng cho thấy, các hạt có kích thước tương tự từ các nguồn khác có thể ảnh hưởng xấu đến phổi và tim. Các nguồn khác ở đây có thể kể đến như khí thải xe, đốt gỗ, nến và nấu ăn.

Đến nay thế giới vẫn chưa có các nghiên cứu quy mô lớn nhằm trả lời câu hỏi về sự an toàn của máy in văn phòng, vì thế Tổ chức Y tế Thế giới cũng chưa đưa ra bất kỳ hướng dẫn về mức độ an toàn của các hạt siêu mịn. Tuy nhiên, để bảo vệ sức khỏe, tránh nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, chuyên gia Morawska đã có lời khuyên để giảm thiểu tiếp xúc với các hạt siêu mịn từ máy in laser:

– Hãy chắc chắn rằng văn phòng lưu thông gió tốt với bên ngoài.

– Nếu có thể, hãy để máy in mà nhiều người sử dụng ở khu vực thông gió tốt.

– Tránh đứng gần khi máy in đang hoạt động.

– Những người có bệnh hen suyễn hoặc bệnh tim, tốt nhất không nên ngồi gần máy in hoạt động công suất cao.

Theo gia đình

Phòng và phát hiện ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.

Triệu chứng mơ hồ

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day1

Ung thư dạ dày nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trước khi lây lan sang các bộ phận khác thì cơ hội điều trị thành công sẽ cao hơn.

Tuy nhiên, các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Do đó, theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Bệnh viện K, để chẩn đoán đúng bệnh, bác sĩ cần phải khám kỹ càng; bệnh nhân được chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang, nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể được chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

Nếu có chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính, siêu âm để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

phong-va-phat-hien-ung-thu-da-day

Ung thư dạ dày có mối liên quan chặt chẽ với khẩu phần ăn chứa nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm và ít hàm lượng rau, hoa quả tươi.

Các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ và một số nước phương Tây cho thấy có mối liên quan nhân quả giữa chế độ ăn nhiều chất béo, ít rau với ung thư đại trực tràng.

Còn theo Ban điều hành dự án phòng chống ung thư thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án phòng chống ung thư, trong khẩu phần ăn có nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật đặc biệt là rau, hoa quả có màu xanh hoặc vàng giảm được nguy cơ mắc ung thư phổi, đại – trực tràng, thực quản và dạ dày.

Ngoài ra, cần tránh xa các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng; ăn nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm; lười vận động hoặc béo phì; cần điều trị viêm loét dạ dày triệt để cũng như  ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm khuẩn helicobacter pylori bằng cách chế biến thức ăn an toàn (VD: chỉ mua các loại sữa đã khử khuẩn và đóng chai lọ kín); nấu thức ăn chín kỹ; ăn thức ăn vừa nấu xong; bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín; nấu kỹ lại thức ăn chưa sử dụng hết; tránh để lâu thức ăn chín và sống; rửa tay nhiều lần (trước khi ăn, nấu ăn …); dùng nước sạch.

Nguồn dân trí

Tìm hiểu rõ hơn về cảm lạnh

Rất nhiều người thường xuyên bị cảm lạnh khi thời tiết chuyển sang mùa đông. Để phòng và trị bệnh nhanh chóng, bạn cần hiểu hơn về bệnh cảm lạnh.

1. Phải mất khoảng 48 giờ để lây nhiễm và gây bệnh

Bạn thấy cổ họng ngứa và chảy nước mũi? Hãy nghĩ xem 48 giờ trước bạn ở đâu. Có thể, là do bạn đã bị nhiễm lạnh. Các chuyên gia cho rằng phải mất 2 ngày thì hơi lạnh mới thâm nhập vào các tế bào và gây ra các triệu chứng. Khi đó bạn sẽ bối rối không biết mình bị cúm hay cảm lạnh?

Trong khi rất ít người có thể phân biệt được cúm hay cảm lạnh hoặc ngay cả các chuyên gia cũng thường bị đánh lừa bởi cảm lạnh giả mạo cúm, thì bạn có thể áp dụng nguyên tắc của Ron Eccles – Giám đốc Trung tâm phòng chống cúm tại Đại học Cardiff ở Anh: “Virus cảm lạnh thường không gây sốt. Còn bệnh cúm thường gây sốt và ho”.

cam-lanh

2. Tập thể dục để chống lại cảm lạnh

Tủ thuốc của bạn có thể chứa đầy các loại thuốc chống cảm, nhưng theo các chuyên gia cách tốt nhất để chống lại cảm lạnh là “luyện tập để cơ thể toát mồ hôi”. Các nhà nghiên cứu Đại học Appalachian State đã nghiên cứu tác động của việc tập thể dục tới hệ miễn dịch và kết quả rất ấn tượng: Bất kỳ luyện tập nào, nhưng phải có trong giới hạn, cũng đều rất tốt.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, muốn tránh được cảm lạnh trong mùa đông, bạn nên tập thể dục đều đặn mỗi ngày. Mỗi ngày bạn chỉ cần dành 30 phút đi bộ nhanh, để có thể tăng cường cho hệ miễn dịch của bạn. “Tập thể dục rất tốt ví nó chuyển máu đi khắp cơ thể và cũng di chuyển các tế bào trắng miễn dịch ra xung quanh để phát hiện những mầm bệnh”.

3. Ngủ muộn cũng góp phần làm bạn tăng nguy cơ bị sụt sịt và hắt hơi

Bạn đã ngủ được mấy giờ trong đêm qua? Nếu bạn ngủ ít hơn 7 giờ, thì bạn đã có nguy cơ bị cảm lạnh tăng gấp 3 lần so với việc bạn ngủ đủ 8 tiếng. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra chất lượng giấc ngủ cũng rất quan trọng. “Ngủ hiệu quả” sẽ giúp bạn giảm nguy cơ bị cảm lạnh.

Chẳng hạn,  một người dành 95% thời gian trên giường là ngủ sẽ ít bị nguy cơ cảm lạnh hơn 5 lần so với những người nằm trên giường lâu nhưng ngủ ít. Để đảm bảo giấc ngủ sâu, bạn không nên xem tivi trước khi đi ngủ và nên để ánh sáng trong phòng ngủ phù hợp.

4. Một cốc nước cam không phải là cứu cánh để chữa cảm lạnh

Khi bạn có những dấu hiện đầu tiên của cảm lạnh, bạn sẽ làm gì? Phản ứng đầu tiên của rất nhiều người là uống một cốc nước cam với hi vọng tăng cường vitamin C cho cơ thể, sẽ giảm nguy cơ bị cảm lạnh. Bạn nên xem xét lại điều này. Hơn 30 nghiên cứu đều đưa ra một kết luận chung: vitamin C không thể ngăn chặn hoặc giảm các triệu chứng của cảm lạnh.

Tuy nhiên, bạn cũng cần biết rằng, nếu cung cấp đủ vitamin C hàng ngày cho cơ thể thì bạn cũng có thể làm giảm nguy cơ bị cảm lạnh của mình. Bạn có thể bổ sung vitamin C bằng các thực phẩm tự nhiên: cam, chanh, đu đủ, các loại cải xanh và kiwi.

5. Virus cảm lạnh có thể khiến bạn tăng cân

Theo các nghiên cứu của Bệnh viện trẻ em Rady ở San Diego, họ thấy rằng những trẻ em bị nhiễm adenovirus 36 – một loại virus cảm lạnh thông thường có thể khiến các em bị gặp vấn đề về tiêu hóa và thường có cân nặng hơn so với các em cùng lứa tuổi, cùng cân nặng ban đầu, từ 3-4kg. Điều này cho thấy virus cảm lạnh có thể gây tăng cân.

6. Đồ uống nóng có thể làm giảm các triệu chứng cảm lạnh

Mẹ của bạn đã đúng –  một cốc trà nóng hay một bát súp nóng có thể khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi đang bị cảm lạnh. Theo một nghiên cứu được công bố trong số ra gần đây của tạp chí Rhinology, các nhà nghiên cứu ở Anh nói rằng chỉ cần bạn nhấm nháp một loại đồ uống nóng có thể sẽ giúp làm giảm các triệu chứng cảm lạnh tồi tệ nhất của bạn, như ho, hắt hơi, chảy nước mũi, đau họng và mệt mỏi.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra đồ uống nóng so với đồ uống ở nhiệt độ phòng và phát hiện ra rằng đồ uống nóng sẽ khiến người bị cảm lạnh có cảm giác tốt hơn. Bạn nên uống một cốc trà thảo dược với một vắt chanh và một muỗng cà phê mật ong, để làm giảm cảm giác đau, rát họng.

7. Trung bình mỗi người bị 200 lần cảm lạnh trong suốt cuộc đời

Theo ước tính, tính đến ngày sinh nhật lần thứ 75 của bạn,thì  bạn có thể đã trải qua 200 làn cảm lạnh – nếu cộng tổng lại thì bạn dành 2 năm chỉ để hắt hơi, sổ mũi! Trong khi trẻ em thường bị từ bốn đến tám lần cảm lạnh mỗi năm thì người già lại ít bị cảm lạnh hơn.

Các chuyên gia tin rằng điều này là do hầu hết mọi người lớn tuổi đã được tiếp xúc với phần lớn các virus cảm lạnh. Nhưng Tiến sĩ Eccles cho biết thêm một loại virus mới có thể “đánh gục” người cao tuổi , thường biểu hiện trong bệnh đường hô hấp trên.

8. Cảm lạnh không phải là bệnh truyền nhiễm

Bạn lo sợ rằng, chỉ cần bắt tay với người bị cảm lạnh thôi là bạn cũng có thể bị truyền bệnh. Nghiên cứu gần đây của các chuyên gia tại Đại học Cardiff thấy rằng khi những người khỏe mạnh sống chung phòng với những người bị cảm lạnh, thì cũng rất khó để lây bệnh từ người ngày sang người khác.

Cảm lạnh không dễ lây lan, hầu hết các trường hợp trẻ bị lây cảm lạnh từ người thân là do quá trình tiếp xúc trong một thời gian tương đối dài, còn bình thường nếu chỉ tiếp xúc ngắn thì bạn hoàn toàn không lo bị nhiễm bệnh.

Theo afamily

Ngủ trưa quá lâu có nguy cơ mắc tiểu đường

Trong khi, một số nhà nghiên cứu cho rằng giấc ngủ ngăn vào buổi trưa có thể mang lại lợi ích sức khỏe tích cực, một số khác lại cho rằng ngủ trưa ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thậm chí có thể gây giảm tuổi thọ.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã khảo sát trên 27.000 người Trung Quốc đã nghỉ hưu, trong đó có cả nam giới và phụ nữ. Những người này được xếp thành những nhóm khác nhau dựa trên thời gian ngủ trưa của họ, từ không ngủ trưa đến ngủ trưa hơn 60 phút.

Hơn 2/3, tức là khoảng 18.500 người tham gia cho biết họ thường xuyên ngủ trưa. Sau khi điều chỉnh cả những yếu tố khác như hút thuốc lá, lượng thời gian cho giấc ngủ ban đêm và những hoạt động thể chất, kết quả cho thấy rằng những người ngủ trưa nhiều hơn một giờ có nguy cơ cao mắc tiền tiểu đường và tiểu đường so với những người không ngủ trưa.

ngu-trua-qua-lau-co-nguy-co-mac-tieu-duong

Bà Elian Lucassen, một nhà nghiên cứu tại trung tâm Y khoa của ĐH Leiden ở Hà Lan cho biết trong một bài bình luận được công bố tuần trước trên tạp chí Sleep Medicine: “Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với những người thường xuyên ngủ trưa. Giấc ngủ ngắn có thể hữu ích với một số người và cũng không nên ngủ quá dài”.

Các nhà khoa học cảnh báo những phát hiện này chưa đủ để chứng minh giấc ngủ trưa qua dài gây bệnh tiểu đường, cũng có thể là so bệnh tiểu đường khiến cơ thể mệt mỏi và làm người bệnh muốn ngủ nhiều.

Tuy nhiên, ở Trung Quốc và nhiều nơi khác, ngủ trưa là một thói quen khá phổ quát đến nỗi người dân cho rằng đó là thối quen tốt và không tin ngủ trưa có nguy cơ mắc tiểu đường.

Bệnh tiểu đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa. Bệnh nhân tiểu đường có lượng đường trong máu cao do cơ thể không sản xuất đủ Insulin để loại bỏ glucose thừa trong máu hoặc là do các tế bào đã trở nên đề kháng với insulin.

Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy mối liên quan giữa bệnh tiểu đường và ngủ quá ít hoặc quá nhiều vào ban đêm. Các nhà nghiên cứu cho biết ngủ ngày quá nhiều cũng gây ra rối loạn đồng hồ sinh học.

Bà Lucassen nói thêm: “Cũng có thể là do người ngủ ngày quá nhiều sẽ bị mất ngủ vào ban đêm và gây ảnh hưởng đến nguy cơ mắc tiểu đường”.

Theo Dân trí

Bí quyết giúp giảm thiểu ung thư cổ tử cung

Phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ, tập thể dục.

Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học của Trường Imperial Luân Đôn, Anh tiến hành chỉ ra rằng, phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ để có được chỉ số trọng lượng cơ thể bình thường, tập thể dục ít nhất 40 phút mỗi ngày và uống cà phê. Theo các nhà nghiên cứu, con số ung thư cổ tử cung có thể giảm đến một nửa nếu các chị em theo được những quy tắc sống đơn giản trên.

bi-quyet-giup-giam-thieu-ung-thu-co-tu-cung

Với hơn 6.500 trường hợp chẩn đoán mỗi năm, ung thư cổ tử cung, đôi khi còn gọi là ung thư màng trong tử cung, là một trong những loại ung thư phụ khoa thường gặp nhất. Ung thư cổ tử cung thường liên quan đến việc xuất hiện của một lượng estrogen quá lớn trong cơ thể, tạo ra sự mất cân bằng màng tử cung, màng nhầy bao phủ phía trong tử cung.

Theo TS. Teresa Norat, phụ trách nghiên cứu này: “Nếu bạn tập thể dục hàng ngày và không bị quá cân, như thế bạn giảm được đáng kể nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, bạn sẽ cải thiện được nhiều tình trạng sức khỏe nói chung, điều mà không thể bỏ qua. Tuy vậy, ở Anh, chỉ có 56% phụ nữ làm theo những lời khuyên này và chỉ có 39% phụ nữ không bị thừa cân”.

Đây không phải lần đầu một nghiên cứu tìm ra tác dụng chống ung thư của cà phê. Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ đã cho biết rằng, cứ uống 3 tách cà phê mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ ung thư da. Mới đây hơn, một nghiên cứu của Mỹ đã chỉ ra rằng, cà phê không khử có một tác dụng bảo vệ họng của chúng ta. Còn theo các nhà khoa học Thụy Điển, trong trường hợp ung thư cổ tử cung, các bệnh nhân nữ có thể giảm nguy cơ tái nhiễm bằng cách uống cà phê. Như vậy, cà phê có nhiều tác dụng trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung.

Theo Sức khỏe đời sống

Phụ nữ trẻ cần đề phòng buồng trứng đa nang

Buồng trứng đa nang là hội chứng có thể ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt, khả năng có thai, nội tiết, tim mạch, mạch máu và biểu hiện bên ngoài của người phụ nữ (PN).

“Khi người phụ nữ có hội chứng này, đặc trưng sẽ có nồng độ androgen cao (đôi khi được gọi là nội tiết tố nam mặc dù phụ nữ bình thường cũng sản xuất loại nội tiết tố này), không có hoặc kinh không đều, có rất nhiều nang ở buồng trứng” – TS-BS Phan Trung Hòa, BV Từ Dũ khuyến cáo.

Chuyện ghi tại phòng khám

Yến năm nay 15 tuổi, so với nhóm bạn cùng trang lứa thì cô bé đã ra dáng thiếu nữ với chiều cao, cân nặng khá lý tưởng, duy chỉ có “đường kinh nguyệt” bị chậm. Điều này khiến cô có những biểu hiện không bình thường: mái tóc đen dày dần thưa thớt, thay vào đó là lông chân, lông tay mọc rậm rì. Mẹ cô chia sẻ: “Thấy con gái gần đây cứ rón rén hỏi mẹ xem nhà mình có ai nhiều lông như nó không, ăn gì để giảm lông, làm sao để triệt lông khiến tôi băn khoăn. Khi đưa con đi khám mới hay con mình đang mắc chứng bệnh quái ác này…”.
buong-trung-da-nang-phu-nu-tre-cung-kho-tranh
Còn Hoa, cô gái có gương mặt bầu bĩnh ngồi cạnh bé Yến, thì ngược lại. Theo lời Hoa thì cô dậy thì rất sớm, từ năm 10 tuổi. Năm nay 26 tuổi, chưa lập gia đình nên Hoa cũng không quan tâm đến chuyện kinh nguyệt của mình ngày càng thưa thớt (hai-ba tháng mới hành kinh một lần). Cho đến gần đây, tuy không thấy kinh, nhưng hầu như tháng nào cô cũng bị chứng đau bụng kinh hành hạ. Đó là những cơn đau vùng thắt lưng, tuy diễn ra trong vài phút nhưng quặn thắt khiến cô hụt hơi, vã mồ hôi, không đứng thẳng được. Đến bệnh viện kiểm tra, mới hay cả hai bên buồng trứng của cô trứng mọc từng chùm.

Trẻ hơn Hoa là Minh, 24 tuổi, khá mập. Minh cho biết, thời con gái kinh nguyệt của cô rất đều đặn, nhưng không hiểu sao sau khi lấy chồng lại bị tắt kinh. Đi kiểm tra, bác sĩ cho biết cô bị buồng trứng đa nang (BTĐN), theo bác sĩ là vì nồng độ androgen của cô tăng cao, trong khi progesterone lại thấp. Hiện cô đang tuân thủ chế độ ăn kiêng giảm cân và uống thuốc để có kinh.

Mất cân bằng nội tiết

TS-BS Phan Trung Hòa, cho rằng, vấn đề chính trong hội chứng BTĐN là sự mất cân bằng nội tiết của PN. Ở người PN bị BTĐN, buồng trứng của họ sản xuất ra androgen nhiều hơn bình thường. Nồng độ nội tiết này cao sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển và phóng thích noãn (rụng trứng).

Nguyên nhân chính xác chưa được biết, nhưng các yếu tố nguy cơ đã được xác định. Yếu tố di truyền khá rõ khi thường thấy ở PN mà có mẹ hay chị gái cũng bị BTĐN.

Một vài triệu chứng của BTĐN thường gặp gồm: chậm có thai do rối loạn rụng trứng; không có kinh, kinh thưa hoặc không đều; rậm lông, buồng trứng có nhiều nang; mụn trứng cá, da nhờn, gàu; tăng cân, béo phì thường ở vùng hông eo; có những mảng da sậm màu, đen ở cổ, cánh tay, đùi, vú; đau vùng chậu; lo lắng hay bị ức chế, ngưng thở khi ngủ… Các dấu hiệu này có thể tồn tại đến tuổi mãn kinh.

BTĐN có thể xảy ra ở tuổi rất trẻ (11 tuổi). Nguy cơ bị các vấn đề sức khỏe khác: 50% sẽ bị đái tháo đường trước 40 tuổi, nguy cơ bị đột quỵ tim tăng gấp bốn-bảy lần người cùng tuổi, dễ bị cao huyết áp; cholesterol, mỡ trong máu cao và dễ bị ngưng thở khi đang ngủ.

Do mất cân bằng nội tiết, androgen làm suy yếu các nang noãn (trứng) khiến chúng tuy phát triển nhưng không thể trưởng thành (chất lượng trứng không tốt) và hiếm khi có hiện tượng rụng trứng xảy ra.

Các nghiên cứu cũng cho thấy sự liên quan giữa Insulin và BTĐN. Insulin là nội tiết kiểm soát sự thay đổi của đường, tinh bột và thức ăn giàu năng lượng khác để sử dụng và dự trữ. Mức Insulin cao quá mức sẽ làm gia tăng sản xuất androgen dẫn đến mụn trứng cá, rậm lông, tăng cân và rối loạn rụng trứng.

Điều trị như thế nào?

TS-BS Phan Trung Hòa cho biết: Cần thay đổi cách sống để cải thiện tình trạng béo phì, thừa cân bằng giảm ăn thức ăn nhanh, thức ăn nhiều đường, ngọt. Nên ăn nhiều gạo lức, rau, trái cây, thịt nạc. Chế độ ăn này sẽ giúp giảm lượng nội tiết Insulin để chuyển hóa đường, đặc biệt, việc giảm 10% cân nặng có thể giúp chu kỳ kinh nguyệt trở về bình thường và đều hơn.

Việc dùng thuốc vỉ tránh thai kết hợp sẽ giúp chu kỳ kinh đều hơn, giảm mụn, làm giảm được nội tiết androgen. Cũng có thể dùng nội tiết progesterone đơn thuần để điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt và giúp giảm nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung (nhưng không giúp giảm mụn và rậm lông).

Việc điều trị hiếm muộn, nguyên tắc cơ bản là tạo ra sự rụng trứng để tăng cơ hội có thai. Việc mổ nội soi đốt điểm trên buồng trứng (phá bỏ một số nang trứng không rụng) cũng giúp có hiện tượng rụng trứng sau đó. Nhưng loại bỏ các nang trứng không rụng không phải là cách điều trị bệnh triệt để.

Để dự phòng biến chứng, PN bị BTĐN nên được các bác sĩ sản phụ khoa, nội tiết tư vấn điều trị. Việc điều trị nên gồm nhiều mục tiêu chứ không chỉ vì điều trị cho có thai hay trị mụn. Quan trọng và lâu dài là ăn uống đúng, tập thể dục và không hút thuốc.

Nguồn afamily

Những căn bệnh âm thầm dễ bị bỏ qua

Với một số bệnh có triệu chứng không rõ ràng, bạn sẽ hiếm khi để tâm đến. Hãy cảnh giác, chúng có thể gây nguy hiểm như suy tuyến giáp, cao huyết áp hay hội chứng buồng trứng đa nang.

Đó là lý do tại sao bạn nên đi khám định kỳ và lắng nghe ý kiến của bác sĩ với những triệu chứng nhỏ nhất. Sau đây là những lời lý giải của bác sĩ về 10 căn bệnh có triệu chứng không rõ ràng.

Hàm lượng vitamin D thấp

Mặc dù bạn có thể vẫn cảm thấy rất ổn, nhưng hàm lượng vitamin D dưới 30 ng/ml có thể gây nên bệnh tim, bệnh tiểu đường, bệnh ung thư hay bệnh tự miễn như đa xơ cứng. Vitamin D giúp bạn hấp thụ canxi, vì vậy, thiếu vitamin D gây ảnh hưởng đến xương của bạn. Nếu lượng vitamin D thấp hơn 20 ng/ml, bác sĩ sẽ kết luận bạn bị thiếu vitamin D, tiềm ẩn những nguy cơ biến chứng cao. May mắn thay, khám và chữa bệnh rất đơn giản. “Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thử máu”, Melina Jampolis – bác sĩ nội khoa và chuyên gia dinh dưỡng, tác giả của cuốn “Calendar Diet nói. “Nếu bạn thiếu vitamin D, việc bổ sung loại này không hề tốn kém và hãy tái khám sau một vài tháng”.

Loãng xương
benh-it-biet
Loãng xương được gọi là căn bệnh thầm lặng vì không có triệu chứng rõ ràng, Dahlia Carr, bác sĩ chuyên trị bệnh xương – cơ – khớp cho biết. Điều gì khiến bạn mắc bệnh loãng xương? Một phụ nữ sẽ ngừng phát triển xương vào độ tuổi 30, và mật độ xương bắt đầu giảm ở thời kỳ tiền mãn kinh. Nếu không có đủ vitamin và chất dinh dưỡng như canxi, bệnh loãng xương sẽ xảy đến nhanh hơn. Bạn sẽ không cảm thấy đau và khó chịu cho đến khi bị gãy xương, mà nguyên nhân là nội tiết tố thay đổi làm xương mỏng và yếu đi. Xương hông và cột sống của bạn có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nhất.

Để làm giảm những nguy cơ này hãy tìm đến sản phẩm sữa và thực phẩm chứa nhiều canxi, đặc biệt nếu bạn chưa đến kỳ mãn kinh. Bạn cần 1.000 mg canxi nếu dưới 50 tuổi, và 1.200 nếu trên 50 tuổi. Tư vấn bác sĩ để có thể bổ sung canxi hợp lý. Ngoài ra, hãy tìm hiểu tiền sử gia đình, và kiểm tra mật độ xương khi bước vào tuổi 50.

Suy tuyến giáp

Cùng với nhiều hệ tuyến khác trong cơ thể, tuyến giáp giúp điều chỉnh sự trao đổi chất của bạn. Khi tuyến giáp bị suy, cơ thể không sản xuất đủ hoóc môn kích thích tuyến giáp để nó hoạt động hợp lý, và là tình trạng đáng báo động. Nhưng các triệu chứng suy giảm tuyến giáp như mệt mỏi hoặc không chịu được lạnh, đều rất dễ bị bỏ qua.

Suy giảm tuyến giáp có thể dẫn đến tăng cân, bệnh tim, hàm lượng cholesterol cao, vô sinh, trầm cảm, tổn thương thần kinh cao và di tật bẩm sinh, tiến sĩ Jampolis nói. Nếu gia đình bạn có người mắc phải bất kỳ vấn đề gì liên quan đến tuyến giáp, hãy đi khám để kiểm tra lượng hoóc môn kích thích tuyến giáp bằng xét nghiệm máu. Sau tuổi 35, bạn nên kiểm tra lượng hoóc môn này 5 năm một lần.

Tiểu đường tuýp 2

Nếu cơ thể bạn không sản xuất đủ insulin để phân giải glucose, một loại đường kích thích trao đổi chất, cơ thể bạn sẽ phát triển những rối loạn. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn biến, tuyến tụy sẽ sản xuất insulin chậm lại. Bạn có thể bị tiểu đường trong nhiều năm mà không hề hay biết. Căn bệnh này có thể gây hại cho mắt, tim, thận, và dây thần kinh, tiến sĩ Jampolis cho biết thêm. Hãy kiểm tra lượng đường trong cơ thể từ lúc bạn bước sang tuổi 45, nên chú ý hơn nếu bạn đang thừa cân hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường.

Cao huyết áp

Theo thời gian và cùng các yếu tố như tiền sử gia đình, thừa cân, áp lực máu đẩy vào thành động mạch của bạn có thể tăng lên nhiều, dẫn đến cao huyết áp. Bạn không thể cảm nhận được những triệu chứng của bệnh cho đến khi bị các biến chứng bao gồm đau tim, đột quỵ và bệnh thận hành hạ, bác sĩ tim mạch Melissa Kong nói. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của những buổi kiểm tra sức khỏe định kỳ, ngay cả khi bạn vẫn cảm thấy bản thân rất khỏe mạnh. Hãy tự đo huyết áp tại nhà, viết số đo huyết áp của bạn ra để nắm được huyết áp trung bình của mình. Huyết áp ở mức độ bình thường vào khoảng 120/80 mmHg.

Cholesterol cao

Cho dù đó là chế độ ăn uống hay do di truyền, việc tăng nồng độ cholesterol trong máu có thể làm tắc nghẽn động mạch, dẫn đến lưu lượng máu thấp trong các cơ quan quan trọng như tim và não, có thể gây ra cơn đau tim hay đột quỵ. Thêm vào đó, cholesterol cao và cao huyết áp là yếu tố dẫn đến bệnh tim. Vì vậy, hãy xét nghiệm máu 5 năm một lần để kiểm tra nồng độ cholesterol trong máu của bạn. Nếu phát hiện ra nồng độ cholesterol cao, bác sĩ khuyên bạn nên tập thể dục, và thay đổi chế độ ăn uống như thế nào và sau đó sẽ xét nghiệm máu lại một lần nữa. Bác sĩ cũng sẽ gợi ý một số loại thuộc như Lipitor, giúp ngăn chặn các enzyme hình thành nên cholesterol nếu thay đổi lối sống không mang lại hiệu quả.

Bệnh đau nhức toàn thân

Bệnh đau nhức toàn thân là tất cả triệu chứng đau mãn tính từ đầu đến chân. Não bộ khuếch đại cảm giác của cơ thể và tạo ra cảm giác đau. Nhưng bệnh đau nhức toàn thân rất khó chẩn đoán. Bác sĩ chỉ có thể chẩn đoán bằng cách loại trừ từ các loại bệnh khác, vì vậy có thể mất nhiều năm để chỉ ra chính xác xem bệnh trong cơ thể bạn là gì. May mắn thay, bệnh đau nhức toàn thân không đe dọa đến tính mạng, nhưng cũng gây khá nhiều ảnh hưởng đến công việc và tinh thần của người phụ nữ và người thân của họ nữa. Các yếu tố gây nên bệnh này bao gồm, tiền sử gia đình bị bệnh đau nhức toàn thân, chứng rối loạn thấp khớp, hoặc các bệnh truyền nhiễm, hay một sự kiện đau buồn trong quá khứ như tai nạn xe hơi. Nếu những cơn đau của bạn tiếp tục lan rộng, và đã xem xét lại các yếu tố mà không thấy vấn đề gì, thì hãy đến gặp bác sĩ ngay nếu có thể.

Bệnh thiếu máu

Sự cạn kiệt dần dần lượng máu dồi dào oxy này thường diễn ra ở phụ nữ có kinh nguyệt nhiều hoặc quá thường xuyên. Khi số lượng tế bào máu đỏ từ từ giảm, các triệu chứng phức tạp như mệt mỏi có thể xuất hiện, những triệu chứng này rất mơ hồ và dễ dàng biến mất. Thiếu oxy có thể gây hại đến các cơ quan trong cơ thể, tăng cao nguy cơ bị đau tim. Hãy nói với bác sĩ nếu bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, bạn có nhiều kinh nguyệt hơn bình thường, hoặc rối loạn đường ruột như bệnh Crohn (một bệnh bị viêm tại đường ruột) hoặc bệnh loét bao tử, thường liên quan đến thiếu máu. Nếu bạn cảm thấy sức khỏe yếu đi, mệt mỏi mà không rõ nguyên nhân là gì, hãy đến gặp bác sĩ và làm xét nghiệm máu kịp thời.

Hội chứng buồng trứng đa nang

Mất cân bằng nội tiết tố khiến ngăn cản sự rụng trứng và kéo dài khoảng thời gian giữa các chu kỳ kinh nguyệt là thủ phạm gây hội chứng buồng trứng đa nang. Những phụ nữ trẻ thường không để ý đến các triệu chứng này, vì kinh nguyệt của họ không đều. Trong thực tế, nhiều phụ nữ không nhận ra vấn đề gì cho đến khi họ đã cố gắng nhưng không thể mang thai, tiến sĩ Gilberg nói. Bên cạnh vấn đề về khả năng sinh sản, hội chứng buồng trứng đa nang còn có thể dẫn đến lượng cholesterol cao, tiểu đường, bệnh tim và ung thư nội mạc tử cung.

Nếu chu kỳ kinh nguyệt của bạn ngắn hơn hoặc dài hơn 28 ngày một cách đáng kể, thì hãy đến gặp bác sĩ. Các triệu chứng như mụn trứng cá và lông mọc bất thường trên ngực cũng như trên mặt của bạn, đó cũng là dấu hiệu biến động nội tiết tố.

Chứng ngưng thở khi ngủ

Nguyên nhân của chứng ngưng thở khi ngủ là do các cơ trong cổ họng co lại dẫn đến nghẹt thở. Thật khó khăn để có thể nắm bắt được bản chất của chứng ngưng thở, nhiều người tin rằng bạn bị thừa cân, hoặc bị mất ngủ vào ban ngày. Điều đó cũng có thể đúng, bởi mệt mỏi vào ban ngày cũng là một triệu chứng, đặc biệt là ở phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh. Một nghiên cứu gần đây cho thấy 83% phụ nữ sau mãn kinh gặp phải chứng ngưng thở trong khi ngủ. Những tình trạng này có thể dẫn đến tổn thương tim mạch, tăng huyết áp và bệnh tiểu đường. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ để có một giấc ngủ ngon hơn khi bạn cảm thấy chán nản, tỉnh giấc vào ban đêm, gặp khó khăn khi đi vào giấc ngủ hay không hiểu sao lại thấy mệt mỏi trong ngày.

Theo VnExpress

Tắm nắng giúp giảm nguy cơ đột quỵ và chết sớm

Dù có liên quan chặt chẽ với bệnh ung thư da, việc tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời lại mang đến một lợi ích bất ngờ: giảm nguy cơ đột quỵ và chết sớm.

Một nhóm nghiên cứu từ Đại học Copenhagen (Đan Mạch) chỉ ra rằng những người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư da không hắc tố chỉ có tỷ lệ bị đột quỵ dưới 4% so với những người khác. Để có kết luận trên, các nhà nghiên cứu đã phân tích hồ sơ y tế của toàn bộ dân số Đan Mạch trên độ tuổi 40 (hơn 4 triệu người).

Việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời dường như có thể cắt giảm tỷ lệ bị đột quỵ và chết sớm.

Tắm nắng hoặc tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời lại mang đến một lợi ích bất ngờ là giảm nguy cơ đột quỵ và chết sớm.

tam-nang-giup-giam-nguy-co-dot-quy-va-chet-som1

Các nhà nghiên cứu Đan Mạch còn đưa ra một kết luận quan trọng rằng việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời còn cung cấp nhiều vitamin D, mang lại một loạt các lợi ích sức khỏe. Nó cũng có thể giúp con người sống lâu và khỏe mạnh hơn.

“Các dữ liệu tổng thể gián tiếp cho thấy tiếp xúc với ánh nắng mặt trời khiến nhiều người lại nhận được ảnh hưởng sức khỏe có lợi. Vì vậy, cần đặt câu hỏi rằng liệu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có nên tránh”, nhóm nghiên cứu cho biết.

Ung thư da không hắc tố (gây ta những phát triển bất thường trên tế bào da), là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Ước tính, có khoảng 100.000 trường hợp mắc bệnh mỗi năm ở Anh, nhưng tỷ lệ sống cao.

Bệnh này được phân biệt với các khối u ác tính nghiêm trọng hơn và hiếm hơn là ung thư da hắc tố. Khối u hắc tố có thể lây lan nhanh chóng đến các bộ phận khác trong cơ thể và gây tử vong 2.000 người ở Anh mỗi năm .

Chính vì vậy, các chuyên gia Anh đặt câu hỏi về kết luận trên. Tiến sĩ Claire Knight, nghiên cứu ung thư Anh, cho biết: “Rủi ro từ việc tiếp xúc quá mức với tia UV từ mặt trời hoặc tắm nắng là nguyên nhân chính gây ung thư da. Tất cả chúng ta cần tiếp xúc ánh nắng mặt trời để bổ sung vitamin D, nó rất quan trọng cho xương khỏe mạnh. Nhưng quan trọng hơn cả là cần tận hưởng ánh nắng mặt trời một cách an toàn và tránh bị cháy nắng”.

Theo Kienthuc

Nhận biết ung thư ruột

Ung thư ruột là một trong những loại ung thư có khả năng điều trị thành công nếu được phát hiện sớm. Dưới đây là cách giúp giảm thiểu nguy cơ từ căn bệnh này.

1. Nhận biết các dấu hiệu bệnh

Ung thư ruột có một vài dấu hiệu cảnh báo sớm và phát triển nhiều năm trước khi lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Đối với nhiều người, đi ngoài ra máu thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Nếu phát hiện dấu hiệu này hay có những triệu chứng khác thường trong thói quen vệ sinh, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Bác sĩ Rosemary Lester tại Victoria’s Chief Health còn cho biết: “Những dấu hiệu khác bao gồm tiêu chảy hoặc táo bón, chướng bụng và thường xuyên cảm thấy mệt mỏi”.

ung-thu-duong-mat

2. Chú ý tiền sử mắc bệnh của các thành viên trong gia đình

Cần có những hiểu biết về bệnh sử của gia đình bạn. Đối với một số người, ung thư ruột có thể di truyền trong gia đình bởi những tổn thương trong gene truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu một người họ hàng gần đã mắc bệnh này, đặc biệt nếu họ trẻ hơn 50 tuổi khi được chẩn đoán bệnh, bạn cần trao đổi với bác sĩ của mình.

3. Thường xuyên kiểm tra sàng lọc ung thư ruột

Việc kiểm tra thường xuyên nhằm phát hiện polyp và ung thư ở giai đoạn đầu, tạo điều kiện cho việc chữa trị sau này. Phó giáo sư Graham Newstead từ Bowel Cancer Australia khuyến khích mọi người tham gia xét nghiệm FOBT (faecal occult blood test – xét nghiệm máu ẩn trong phân) bởi việc này rất đơn giản, không đau đớn, đồng thời tỷ lệ sống sót khoảng 90% đối với những người được chữa trị sớm.

4. Giảm lượng cholesterol trong cơ thể

Thuốc statins nhằm giảm cholesterol thường được những bệnh nhân tim mạch sử dụng. Tuy nhiên, hiện thuốc này được cho là làm giảm nguy cơ ung thư ruột khoảng 82% trong 5 năm. Đây chính là kết luận của nhóm bác sĩ tại Bệnh viện đại học Norwich, những người chứng minh mối liên hệ giữa hàm lượng cholesterol cao và ung thư ruột. Mặc dù vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa nhưng việc giảm cholesterol vẫn tốt cho sức khỏe ở nhiều phương diện khác nhau.

5. Bổ sung nhiều chất xơ

Các nhà nghiên cứu đã so sánh số liệu từ 2 triệu người và nhận thấy việc tăng cường hấp thụ chất xơ khoảng 10 g một ngày có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư ruột khoảng 10%. Dường như chất xơ từ ngũ cốc cung cấp sự bảo vệ nhiều hơn từ trái cây và rau củ, vì vậy nên ăn nhiều bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt, gạo lức. Theo các bác sĩ, chất xơ giảm thời gian những chất thải tồn tại trong ruột và kích thích sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột.

6. Ăn đậu hạt và trái cây khô

Một nghiên cứu cho thấy việc ăn đậu hạt các loại như đậu lăng và đậu đỏ 3 lần một tuần giảm thiểu sự hình thành polyp trong ruột tới 30%. Theo tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Yessenia Tantamango, đậu hạt, trái cây khô và gạo lức chứa hàm lượng chất xơ cao, được biết đến với tác dụng làm giảm các tác nhân gây ung thư, do đó chúng trở thành những “vũ khí” lợi hại trong việc chống ung thư ruột.

7. Chú ý tới chế độ ăn uống, giảm béo

Béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột, đặc biệt đối với nam giới. Tuân theo một chế độ ăn uống hợp lý có thể ngăn ngừa tới 1/3 khả năng ung thư ruột. Các chuyên gia cũng khuyến cáo việc hạn chế sử dụng rượu, caffeine và thịt đỏ. Cần giảm hấp thụ thịt đỏ và những loại thịt đã chế biến sẵn như xúc xích, thịt muối xông khói, giăm bông bởi chúng có liên quan tới việc gia tăng nguy cơ ung thư ruột.

Theo VnExpress

Dấu hiệu cảnh báo nguy cơ phải cắt bỏ tử cung ở chị em

Có rất nhiều lý do để bác sĩ phụ khoa kết luận cần phải cắt bỏ tử cung. Và điều này cần phải được chẩn đoán chính xác từ bác sĩ.

Cắt bỏ tử cung được các bác sĩ phụ khoa thực hiện và đã trở thành một trong những loại phẫu thuật khá phổ biến ở phụ nữ mãn kinh.

Dưới đây là một vài điều bạn nên biết về việc cắt bỏ tử cung.

1. Lý do phải cắt bỏ tử cung

co-tu-cung

Có rất nhiều lý do để bác sĩ phụ khoa kết luận cần phải cắt bỏ tử cung. Và điều này cần phải được chẩn đoán chính xác từ bác sĩ. Đa phần những người phụ nữ được chỉ định cắt bỏ tử cung là do:

+ Xuất huyết âm đạo quá mức dẫn tới thiếu máu và không thể khắc phục được.

+ Vỡ tử cung trong khi sinh hoặc do gặp chấn thương đủ nặng để gây trở ngại cho chức năng ruột và bàng quang.

+ U xơ tử cung.

+ Sa tử cung.

+ Lạc nội mạc tử cung nghiêm trọng.

+ Nhiễm trùng tử cung.

+ Viêm vùng chậu hoặc sự phát triển của khối u ung ở các cơ quan trong khung chậu.

2. Những kiểu cắt bỏ tử cung

Cắt bỏ tử cung thường được các bác sĩ chỉ định khi tổn thương ở phần tử cung gây nguy hiểm đến tính mạng cho bệnh nhân. Bác sĩ phụ khoa sẽ lựa chọn phương pháp cắt tử cung tùy theo điều kiện sức khỏe cũng như vùng tổn thương của bạn. Cắt bỏ tử cung là cuộc đại phẫu thuật bao gồm cắt bỏ hoàn toàn tử cung hoặc cắt bỏ một phần tử cung.

Cắt bỏ tử cung hoàn toàn bao gồm việc loại bỏ các ống dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung cùng với buồng trứng nếu được yêu cầu. Và cắt bỏ một phần tử tức là chỉ cắt bỏ tử cung, để lại cổ tử cung. Đôi khi việc cắt bỏ không hoàn toàn cũng cần cắt bỏ phần phụ (một hay cả hai buồng trứng).

3. Tác dụng phụ của phẫu thuật

Cắt tử cung có thể giúp chị em giảm thiểu sự phát của các tế bào ung thư trong tử cung hoặc tránh gây xuất huyết không kiểm soát được cho những phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh. Tuy nhiên, loại phẫu thuật này cũng có những tác dụng phụ lâu dài. Những tác dụng phụ đó có thể là: gây tính khí thất thường do sự mất cân bằng nội tiết tố gây ra, nhiễm trùng đường tiết niệu, loãng xương, tăng cân, bệnh tim và mệt mỏi tổng thể.

4. Cắt tử cung có thể ảnh hưởng đến buồng trứng

Buồng trứng là cơ quan sinh sản quan trọng ở cơ thể người phụ nữ. Vì thế, cắt bỏ tử cung tác động trực tiếp đến buồng trứng của chị em. Khi một người phụ nữ dưới độ tuổi mãn kinh, trong quá trình cắt tử cung thì buồng trứng thường có khả năng không bị loại bỏ, trừ khi bị chẩn đoán có tế bào ung thư đang phát triển hoặc một người phụ nữ đó có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư buồng trứng.

Một khi phát hiện các tế bào ung thư và tốc độ phát triển nhanh chóng thì buồng trứng có thể sẽ phải cắt bỏ và lúc này người phụ nữ có thể được khuyến cáo liệu pháp thay thế hormone.

5. Các biến chứng có thể gặp trong phẫu thuật

Luôn có nguy cơ xảy ra những biến chứng trong bất kì loại phẫu thuật nào và cắt tử cung cũng vậy. Khi người phụ nữ quyết đinh cắt tử cung, họ có thể sẽ phải đối diện với một số rủi ro như: Nhiễm trùng vết thương, chảy máu quá nhiều, bàng quang bị tổn thương, tụ máu ở chân, chấn thương ruột hoặc vỡ mạch máu… Điều quan trọng cần lưu ý rằng rủi ro và biến chứng liên quan đến cắt bỏ tử cung phụ thuộc vào từng trường hợp.

6. Chăm sóc hậu phẫu
Nếu bạn đã trải qua cuộc phẫu thuật cắt tử cung, bạn nên làm theo các hướng dẫn được các bác sĩ đưa ra và thực hiện đầy đủ những thao tác chăm sóc hậu phẫu. Hãy chắc chắn rằng bạn không nâng vác nhưng vật nặng sau khi giải phẫu. Hãy nghỉ ngơi đầy đủ, uống nhiều nước để tránh táo bón và tạo cho mình thói quen tập thể dục theo đề nghị của bác sĩ để phục hồi nhanh chóng.

Theo Tri thức trẻ

Ăn tỏi để giảm nguy cơ ung thư phổi

Nguy cơ ung thư phổi giảm 44% khi ăn tỏi sống ít nhất 2 lần/tuần và giảm 30% ngay cả khi đối tượng có hút thuốc, theo Daily Mail.

Nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa dịch bệnh tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) đã so sánh 1.424 bệnh nhân ung thư phổi và 4.500 người trưởng thành khỏe mạnh.

Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Cancer Prevention Research cho thấy, những người ăn tỏi sống ít nhất 2 lần/tuần thì giảm được 44% nguy cơ bị ung thư phổi.

an-toi

Ngay cả khi đối tượng hút thuốc hoặc bị phơi nhiễm với dầu ăn ở nhiệt độ cao, yếu tố vốn được cho là có thể dẫn đến bệnh ung thư phổi thì nguy cơ bị bệnh này cũng giảm 30%.

Dù vậy, nghiên cứu không nhận thấy rõ tác dụng tương tự khi đối tượng ăn tỏi đã nấu chín.

Nghiên cứu trước đó cho thấy, thành phần quan trọng của tỏi là hóa chất allicin được sản sinh khi thái tỏi. Hóa chất này làm dịu đi tình trạng viêm nhiễm trong cơ thể và hoạt động như chất chống ô xy hóa, làm giảm những hư hại từ gốc tự do đối với các tế bào của cơ thể.

Một nghiên cứu khác phát hiện tỏi có thể ngăn ngừa bệnh cảm thông thường, các siêu vi khuẩn và ngay cả bệnh sốt rét.

Theo Thanh Niên Online

7 thực phẩm kéo dài “tuổi thanh xuân” cho mắt

Những gì bạn ăn có thể ảnh hưởng đến thị giác của bạn khi đã có tuổi. Thêm những thực phẩm dưới đây vào chế độ ăn của bạn để tăng cường sức khỏe cho đôi mắt.

Đôi mắt có rất nhiều mạch máu, do đó một chế độ ăn uống lành mạnh cho tim, ít chất béo là rất quan trọng để giữ cho các mạch máu của mắt khỏe mạnh. Thực phẩm giàu chất chống oxy hóa cũng được biết đến để giúp bảo vệ mắt khỏi thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác (ARMD).

Cà chua

Cà chua có chứa các carotenoid và lycopene giúp cho cà chua màu đỏ rực rỡ. Nghiên cứu cho thấy lycopene trong mô mắt giúp ngăn ngừa thiệt hại gây ra bởi ánh sáng đến võng mạc và các khu vực khác của mắt.

7 thực phẩm kéo dài “tuổi thanh xuân” cho mắt

Cà chua cũng đóng góp một nguồn vitamin C tuyệt vời để bảo vệ thị lực. Cà chua chế biến hoặc cà chua tươi ăn kèm với một ít dầu ô liu sẽ giúp thúc đẩy sự hấp thu lycopene. Các nhà nghiên cứu cho rằng: ăn các thức ăn giàu chất chống oxy hóa sẽ tốt hơn so với dùng thuốc bổ cho mắt.

Rau bina, cải xoăn, rau xanh

Rau bina và cải xoăn, rau lá xanh rất giàu chất chống oxy hóa được lưu trữ trong hai điểm vàng-lutein và zeaxanthin. Hoàng điểm là một phần của võng mạc hoạt động như một kem chống nắng tự nhiên, che chắn mắt khỏi ánh sáng gây hại. Lutein và zeaxanthin hấp thụ ánh sáng màu xanh gây hại cho võng mạc.

Các chất dinh dưỡng cũng giúp mắt phát hiện tương phản tốt hơn, vì vậy ăn thực phẩm giàu chất chống oxy hóa này không chỉ cải thiện tầm nhìn mà còn giúp duy trì thị lực của bạn lâu dài. Vì lutein và zeaxanthin là chất béo hòa tan, ăn rau xanh với dầu ô liu sẽ giúp đảm bảo rằng bạn hấp thụ các chất dinh dưỡng tốt hơn.

Trứng

Giống như rau bina và các loại rau lá xanh, lòng đỏ trứng cũng là một nguồn tốt của lutein và zeaxanthin. Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nồng độ lutein tăng 26%, trong khi mức zeaxanthin tăng 38% khi ăn một quả trứng mỗi ngày.

Lòng đỏ trứng cũng là một nguồn tự nhiên của vitamin D, có thể làm giảm nguy cơ ARMD.

Cá hồi

Cá hồi là một trong những nguồn axit béo omega-3 rất tốt để duy trì mắt khỏe mạnh. Omega-3 đã được chứng minh là làm giảm nguy cơ ARMD và giúp điều trị bệnh khô mắt.

Một nghiên cứu nhãn khoa đã cho thấy một chế độ ăn giàu béo omega-3 giúp giảm 38% nguy cơ thoái hóa điểm vàng. Cá hồi cũng là một nguồn tự nhiên của vitamin D có lợi cho sức khỏe của mắt.

Dầu ô liu

Một chế độ ăn uống ít chất béo có hại giúp ngăn ngừa bệnh võng mạc. Một số nghiên cứu cho thấy rằng một chế độ (cá, các loại thực phẩm thực vật, và các chất béo lành mạnh) được cho là tốt cho thị lực.

Ngô

Ngô màu vàng là nguồn tuyệt vời của lutein và zeaxanthin. Những sắc tố màu vàng tự nhiên bị mất trong quá trình thái hóa điểm vàng.

Nghiên cứu khoa học đã cho thấy nồng độ lutein và zeaxanthin trong máu của người cao tuổi tăng đáng kể khi họ ăn ngô, các loại trái cây giàu carotenoid và rau xanh. Nhờ vậy mà nó đã giảm đáng kể nguy cơ mất đi những sắc tố màu vàng.

Nghiên cứu thậm chí còn phát hiện ra rằng phụ nữ ăn hầu hết các loại trái cây và rau quả bao gồm ngô vàng, giảm nguy cơ đục thủy tinh thể phát triển.

Hạt dẻ cười

Hạt dẻ cười hay hạt hồ trăn có chứa lutein và zeaxanthin và cũng đóng gói trong một lượng đáng kể vitamin E rất cần thiết cho mắt. Các chất béo đơn và chất béo không bão hòa trong hạt dẻ cười cũng giúp tăng cường hấp thu carotenoids.
Trong thực tế, một nghiên cứu cho thấy những người bổ sung vào chế độ ăn hạt dẻ cười sẽ tăng đáng kể mức độ lutein.

Theo Dân Việt

Những hậu quả khó lường khi ngồi bắt chéo chân

Phụ nữ, dân văn phòng thường hay ngổi thẳng bắt chéo chân để tạo dáng đẹp, tuy nhiên tư thế ngồi như thế này lại mang đến 6 nguy hại cho cơ thể.

Chân biến thành “chân dạng 0”

Hai chân chồng lên bắt chéo nhau, chân nghiêng kiễng lên co vào trong, như vậy sẽ làm cho dây chằng của chân dày, to, phát viêm, gây ra sưng phù chân, thậm chí còn có thể làm cho chân trở thành “chân dạng 0” đồng thời hình dáng chân trở nên xấu xí, thô, cong.

ngoivatchan

Xuất hiện viêm khớp thoái hóa sớm

Đầu tiên chân bị chèn ép, phải chịu đựng áp lực của chân còn lại, thời gian dài gánh chịu lực bên ngoài bất thường làm cho phía trên đầu gối thoái hóa, bào mòn, các bệnh về đầu gối sẽ tìm đến làm phiền. Rất nhiều người chưa già đã thoái hóa, bị mắc chứng chứng viêm khớp thoái hóa khi còn trung niên.

Căn cơ cội nguồn của chứng bệnh này chính là “bắt béo chân”. Điều đáng sợ hơn, loại bệnh này không có khả năng “biến mất” mà luôn đeo đám người mắc bệnh đến tàn tật, chỉ có phẫu thuật thay khớp nhân tạo mới giảm bớt được. Vì vậy, chúng ta nên thay đổi ngay thói quen ngồi này.

Hai chân dễ bị co giãn tĩnh mạch

Chân bị chèn ép sẽ khiến khí huyết không được lưu thông, làm tăng nguy cơ bị giãn tĩnh mạch, nghiêm trọng còn gây ra phù thũng chân dưới, làm cho vết thương nhỏ xíu khó lành, tăng thêm nguy cơ lở loét chân.

Xuất hiện hội chứng chèn ép thần kinh

Cảm giác tê, mất cảm giác ở chân là do thần kinh phụ trách cảm giác nằm ở mặt trước đùi bị chèn ép và lâu dài sẽ phải điều trị.

Xương lườn cũng dễ bất thường

Không đơn giản là chân đau sưng, tĩnh mạch giãn, ngồi bắt chéo chân còn làm cho xương lưng và cột sống bất thường, bao gồm vẹo cột sống, đĩa đêm tổn thương, lồi vv. Chữa trị chứng mãn tính loại này rất khó, phức tạp.

Ngồi bắt chéo hai chân thực sự là thói quen rất không tốt, vị trí khớp hông hai bên (khớp giữa chân và phần hông) một cao một thấp, lien đới làm cho vị trí xương chậu tách xa nhau, góc xương lưng và cột sống cũng sẽ thay đổi.

Ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản

Nam giới ngồi liên tục hai chân bắt chéo tại sao lại gieo họa đến đời sau? Bởi vì hai chân bắt chéo sẽ làm cho nhiệt độ bên trong chân và xung quanh bộ phận sinh dục tăng cao, ảnh hưởng tới sự hình thành của tinh binh.

Chuyên gia kiến nghị: Ngồi bắt chéo chân tốt nhất không vượt quá 10 phút, hai chân kỵ bắt chéo nhau quá khít, nếu cảm thấy bên trong đùi có mồ hôi túa ra, tốt nhất nên đi đến chỗ thông khí và thông gió đi lại một lúc để giúp tản hết nhiệt tập trung ở chân.

Theo Dân Trí

Những bí quyết bảo vệ tim

Bước sang tuổi 30 trở đi, cuộc sống ngày càng trở nên căng thẳng và phức tạp hơn. Sự nghiệp của bạn đang trên đà thuận lợi, có thể bạn cũng đã kết hôn và có con, bạn đang có kế hoạch thực hiện một loạt thay đổi trong cuộc sống…? Tất cả các yếu tố này đều góp phần đe dọa sức khỏe của bạn nếu bạn không biết cách cân bằng mọi thứ trong cuộc sống.

Bước sang tuổi 30 trở đi, cuộc sống ngày càng trở nên căng thẳng và phức tạp hơn. Sự nghiệp của bạn đang trên đà thuận lợi, có thể bạn cũng đã kết hôn và có con, bạn đang có kế hoạch thực hiện một loạt thay đổi trong cuộc sống…? Tất cả các yếu tố này đều góp phần đe dọa sức khỏe của bạn nếu bạn không biết cách cân bằng mọi thứ trong cuộc sống.

Căng thẳng tăng lên đồng nghĩa với tăng nguy cơ bệnh tim. Đó chính là lý do tại sao tim bạn phải chịu nhiều áp lực khi bạn bước sang độ tuổi 30.

Có rất nhiều cách để tránh các nguy cơ bệnh tim và bảo vệ tim ở độ tuổi này và tận hưởng cuộc sống của bạn. Bạn hãy thực hiện theo các quy tắc sau đây nhé.

a9da0d6biquyetvangbaovetimdanh

Stress làm tăng nguy cơ bệnh tim. Ảnh minh họa

Tránh xa căng thẳng trong công việc và gia đình

Càng thư giãn càng giúp cơ thể bạn điều chỉnh được mức độ căng thẳng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tập thể dục, dưới mọi hình thức, là cách tốt nhất để xả stress và thư giãn.

Căng thẳng về tâm lý gây tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và do vậy gây ảnh hưởng xấu đến thành mạch, làm rối loạn tuần hoàn và tăng nguy cơ gây tổn thương các tế bào nội mạc, làm tăng tính thấm của tế bào nội mạc và do vậy làm tăng nguy cơ lắng đọng cholesterol xấu, gây hình thành và phát triển vữa xơ động mạch và dẫn tới thiếu máu cục bộ cơ tim.

Tập thể dục thường xuyên

Tập thể dục giúp tăng tuần hoàn trong cơ thể, đốt cháy mỡ thừa, tăng cường chức năng hoạt động của các bộ phận trong cơ thể. Do đó, tập thể dục rất tốt cho cơ thể. Không những thế, thể dục là cách tốt nhất để loại bỏ căng thẳng, mà loại bỏ căng thẳng tức là góp phần làm cho tim khỏe mạnh.

Trong các hình thức tập thể dục thì đi bộ được chứng minh rất tốt cho sức khỏe tim mạch, bạn có thể đi bộ mọi nơi, mọi lúc với các tốc độ khác nhau. Các hình thức tập thể dục khác như đi xe đạp, tập yoga, bơi… cũng rất tốt cho tim, giúp bảo vệ tim hiệu quả. Chỉ cần bỏ ra 30-60 phút mỗi ngày để tập thể dục là bạn sẽ giảm được nguy cơ mắc bệnh tim mạch, kiểm soát được các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và béo phì.

Ăn uống lành mạnh

Rất nhiều chị em vì quá mải mê với công việc mà không chú trọng đến việc ăn uống của mình, thậm chí còn lựa chọn những thực phẩm không có lợi cho sức khỏe. Những thực phẩm không lành mạnh có thể tăng lên đến lượng calo của bạn và mức cholesterol và làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, ảnh hưởng đến sức khỏe của tim và tăng nguy cơ bệnh tim. Để tránh nguy cơ bị bệnh tim mạch, bạn nên có chế độ ăn uống giảm muối; giàu kali; nhiều rau, trái cây, ngũ cốc; tránh thức ăn chế biến, tránh chất béo bão hòa và đồ uống nhiều đường…

Ăn nhiều cá cũng có lợi cho sức khỏe tim mạch. Cá là nguồn giàu protein và các chất dinh dưỡng khác. Nó cũng chứa các acid béo omega-3, giúp giảm nguy cơ về bệnh tim mạch và đột quỵ. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyên dùng ít nhất 2 khẩu phần cá giầu acid omega-3 một tuần như cá hồi.

Ngủ đủ giấc

Ngủ ít hơn 5 giờ mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ tim. Hãy chắc chắn rằng bạn ngủ ngon, duy trì thời gian ngủ và thức dậy hàng ngày theo đúng và thức dậy thời gian và tránh hút thuốc hoặc uống rượu quá nhiều trước khi đi ngủ.

Theo nghiên cứu vừa được công bố của các nhà khoa học thuộc Đại học California (Mỹ), nguy cơ mắc các bệnh tim mạch ở những người thường xuyên duy trì giấc ngủ trưa (khoảng 30 phút/lần và ít nhất 3 lần/tuần) sẽ giảm 37% so với những người không có thói quen này. Ngoài ra, giấc ngủ trưa còn giúp cơ thể thư giãn, phục hồi trí óc, tinh thần sảng khoái và rất có lợi cho những người mắc bệnh huyết áp cao và người cao tuổi.

Ăn sáng đầy đủ

Cho dù bạn bận công việc đến đâu thì cũng không bao giờ bỏ bữa ăn sáng mà ngược lại, bạn cần phải ăn bữa sáng bổ dưỡng và đủ dinh dưỡng mỗi ngày. Nó thực sự là rất quan trọng để ăn một bữa ăn sáng lành mạnh và bổ dưỡng. Một bữa ăn sáng tốt cho cơ thể của bạn nhiên liệu cần thiết để có được hoạt động và ở phù hợp.

Nhịn ăn sáng là một trong những nguyên nhân dẫn đến béo phì, hàm lượng cholesterol cao, và gia tăng tích trữ lượng mỡ quanh bụng- đây chính là 3 yếu tố chính gây nên bệnh tim.

Không những thế, thường xuyên nhịn ăn sáng còn khiến bạn nằm trong nguy cơ dễ mắc bệnh tiểu đường vì nó kích thích hàm lượng insulin trong máu.

Sử dụng biện pháp tránh thai hợp lý

Ở độ tuổi 30, chắc chắn nhiều chị em cần sử dụng đến các biện pháp tránh thai để không mang thai ngoài ý muốn. Nhưng lựa chọn biện pháp tránh thai cũng cần phù hợp với sức khỏe của bạn.

Nếu bạn có nguy cơ bị huyết áp cao hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh tim thì tốt nhất bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ khi chọn tránh thai bằng thuốc hoặc miếng dán. Các phương pháp này có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim của bạn phát tác, ảnh hưởng đến sức khỏe.

Theo Tri thức trẻ

Những triệu chứng của bệnh tiểu đường

Một số dấu hiệu chức năng có thể giúp dự báo tình trạng tiền tiểu đường. Chúng là những dấu hiệu đầu tiên về rối loạn chuyển hóa đường trong cơ thể bạn và nếu được chú ý phát hiện sớm, bạn có thể phòng tránh được bệnh tiểu đường thực sự trước khi nó xảy ra.

1. Cảm giác mệt mỏi hay buồn ngủ sau khi ăn

Hầu như mọi thức ăn đều có chứa một lượng glucose nhất định. Rất nhanh sau khi thức ăn vào dạ dày, số glucose này sẽ đi vào máu và phát tín hiệu cho tuyến tụy tiết ra thêm insulin – một hormone giúp đưa glucose vào tế bào. Nhưng quy trình này sẽ bị rối loạn khi lượng đường mà bạn ăn vào quá nhiều, khi đó tế bào sẽ từ chối tiếp nhận và gần như trơ với insulin, trong khi tụy vẫn tiếp tục tiết insulin. Tình trạng quá tải này gây hiệu ứng ức chế lên hệ thần kinh dẫn tới cảm giác mệt mỏi và buồn ngủ. Nếu cảm giác này xuất hiện thường xuyên sau mỗi bữa ăn, chính là dấu hiệu cho thấy đã có hiện tượng kháng insulin lặp lại.

393941nhungdauhieusomcuabenhtieuduong

Xử trí: Bạn có thể giảm sự quá tải về chuyển hóa glucose theo hai cách. Đầu tiên, tránh ăn những thực phẩm chứa quá nhiều đường đơn glucose (bánh kẹo, mứt, nước ngọt). Thay vào đó, bạn nên ăn những thực phẩm tự nhiên (như hạt ngũ cốc, rau cải, trái cây), nhằm trì hoãn sự phân hủy đường khi tiêu hóa. Cách khác là tạo ra thói quen vận động nhẹ sau bữa ăn: thay vì nằm yên một chỗ xem tivi, bạn có thể đi bộ hoặc rửa chén…

2. Cảm giác ghiền ăn vặt

Những thức ăn vặt như khoai chiên, bánh snack, sôcôla… đều rất ngon miệng và kích thích sự thèm ăn, bạn sẽ càng muốn ăn nhiều hơn. Nhưng chúng cũng chứa rất nhiều đường. Sự kết hợp giữa hai yếu tố: thói quen ăn liên tục và lượng đường cao sẽ tạo nên vòng lặp lẩn quẩn của chuỗi đáp ứng “tăng đường – tăng insulin” trong máu. Cơ thể phải liên tục trải qua những cơn “no đường” thoáng qua, rồi nhanh chóng bị “đói đường” dẫn tới thèm ăn vặt nhiều hơn nữa.

Xử trí: Bắt buộc phải bỏ thói quen ăn quà vặt, dù đây là một thử thách với các bạn. Bạn có thể vượt qua cơn ghiền bằng cách thay thế những món ăn đó với những thứ cùng kích thước và mùi vị nhưng an toàn hơn cho sức khỏe, ví dụ trái cây, đậu, cà rốt tươi…

3. Thừa cân

Sự liên hệ giữa béo phì và bệnh tiều đường là một điều xưa như trái đất, nhưng sự thật là đa số người ăn kiêng chỉ chú tâm đến lượng calorie trong bữa ăn chứ chưa hiểu được quan hệ tương tác giữa đường và mỡ. Khi tế bào không dung nạp đường nữa, cơ thể sẽ chuyển sang năng lượng từ mỡ, và tích trữ mỡ là khó tránh khỏi.

Xử trí: Khi bạn bị thừa cân, không nên quá lo lắng về việc giảm cân, thực ra bạn không cần phải làm biến mất ngay lập tức số cân nặng này. Chỉ cần giảm được 5-7% trọng lượng là có thể giảm 60% nguy cơ của bệnh tiểu đường.

4. Hình dáng cơ thể

Kiểm soát cân nặng dĩ nhiên là quan trọng, nhưng có lẽ ít người biết sự tích trữ mỡ cục bộ trên một số vùng của cơ thể có sự liên hệ nhiều hơn với tình trạng kháng insulin và tiền tiểu đường. Thật vậy, tăng lượng mỡ ở vùng eo và bụng sẽ nguy hiểm hơn là mỡ ỡ những vùng thấp hơn như đùi và chân. Những người có nhiều mỡ bụng thường có nguy cơ bị cao huyết áp, bệnh tim mạch và tiểu đường.

Xử trí: Ngoài việc ăn kiêng, nên tập thể dục 30-60 phút mỗi ngày để tránh nguy cơ tiểu đường, đặc biệt các bài tập ở bụng. Tập thể dục có lợi ích kép là làm giảm mỡ và phát triển cơ bắp, làm tăng lượng enzyme chuyển hóa glucose cho tế bào cơ.

5.Cao huyết áp

Phần lớn người có triệu chứng cao huyết áp thường chỉ lo nghĩ về vấn đề tim, mạch máu của họ, nhưng không biết rằng có sự liên hệ giữa lưu thông mạch máu và rối loạn chuyển hóa đường. Tăng inslulin và đường huyết là một yếu tố bệnh lý góp phần tạo ra tình trạng viêm trong mạch máu, làm thay đổi cấu trúc và tính đàn hồi của mạch máu tạo cản trở cho dòng máu lưu thông. Vì vậy, tăng huyết áp có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường.
Xử trí: Người có triệu chứng cao huyết áp nên thay đổi chế độ ăn và thường xuyên vận động cơ thể. Cần kiểm tra đường huyết định kì và đặt ra vấn đề với bác sĩ điều trị của mình.

Theo báo sức khỏe

Người có bệnh tim hay lo lắng thì càng chết sớm

Các chuyên gia tại Trung tâm Y khoa Đại học Duke (Mỹ) cũng nói rằng những bệnh nhân hay lo và bị trầm cảm có rủi ro tử vong tăng cao gấp 3 lần.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Lana Watkins, phó giáo sư khoa học hành vi và tâm thần học, nói: “Nhiều cuộc nghiên cứu đã gắn chứng trầm cảm với rủi ro tử vong tăng cương ở người bệnh tim. Tuy nhiên, sự lo lắng lại không được chú ý nhiều như vậy”.

Các nghiên cứu cho thấy chứng trầm cảm rất phổ biển ở những người mắc bệnh tim. Hiệp hội Tim mạch Mỹ đã khuyến cáo những người mắc bệnh tim nên được chẩn đoán về chứng trầm cảm và chữa trị nếu cần thiết.
adcc5_lolang
Theo Tiến sĩ Watlins, những người mắc bệnh tim cũng hay lo lắng, cho thấy nó cũng đứng sau rủi ro vốn trước đó chỉ bị “quy trách nhiệm” cho chứng trầm cảm. “Đã đến lúc phải xem xét sự lo lắng kỹ như chứng trầm cảm”, bà khẳng định.

Sự lo lắng và chứng trầm cảm tác động đến rủi ro tử vong theo những cách rất riêng. Những người hay lo có nguy cơ bị khó ngủ và huyết áp cao, trong khi mối liên hệ giữa trầm cảm và sự tử vong lại “mắc míu” nhiều hơn đến những yếu tố rủi ro về hành vi.

Theo Tiến sĩ Watkins, các cuộc nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm việc thử nghiệm những chiến lược đối phó riêng với sự lo lắng cũng như với chứng trầm cảm ở người mắc bệnh tim.

Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Journal of the American Heart Association.

Huy Khang (Theo ANI)

Ăn nhiều đồ ăn sẵn trẻ có nguy cơ bị huyết áp, bệnh tim và đột quỵ

Những sản phẩm cho trẻ em từ 1-3 tuổi như bim bim lại chứa hàm lượng natri cao hơn là sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh. Hấp thụ quá nhiều muối – cấu tạo chủ yếu từ natri dẫn tới cao huyết áp, bệnh tim và đột quỵ.

Theo đánh giá của Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh Hoa Kỳ, có tới 1.115 loại đồ ăn sẵn cho trẻ không ghi hàm lượng natri trên nhãn sản phẩm.  Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các thực phẩm “tiện dụng” mà được chuyên gia dinh dưỡng gọi là “bất kì cái gì họ cũng đóng chai, đóng hộp”, là do thời gian ngày càng hạn hẹp của bố mẹ đi cùng với sự gia tăng thu nhập khiến cho hoa quả hay ngũ cốc ngày càng yếu thế.
do-an-san-co-the-khien-tre-bi-huyet-ap-benh-tim-va-dot-quy
Tại cuộc họp của hội tim mạch Hoa kì vào thứ Năm vừa qua, bà Joyce Maalouf- làm việc tại bộ phận CDC về bệnh tim mạch và phòng ngừa đột quỵ cho biết: “Thật không may những sản phẩm cho trẻ em từ 1-3 tuổi như bim bim lại chứa hàm lượng natri cao hơn là sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh. Hấp thụ quá nhiều muối- cấu tạo chủ yếu từ natri dẫn tới cao huyết áp, bệnh tim và đột quỵ”.

Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo lượng natri hấp thụ nên ít hơn 1.500 mg/ngày nhưng một số sản phẩm đã chứa tới 630mg- tương đương 40% trong tổng lượng natri nói trên. Khi lựa chọn ngẫu nhiên các đồ ăn như bim bim, pho-mát, bánh quy giòn, các nhà khoa học phát hiện ra lượng natri trong mỗi sản phẩm trên  là 310 mg.

Trong khi đó, theo quy định chúng không được vượt quá con số 210 mg natri/sản phẩm. Điều đáng nói là các sản phẩm cùng một công ty sản xuất cũng không có lượng natri giống nhau vì vậy rất khó kiểm soát.

Hiện tại, một số công ty thực phẩm đã phát biểu rằng họ đang nỗ lực giảm lượng muối từ 30% trong năm 2011 tới 80% trong năm 2013, song song với việc giữ nguyên hương vị của thực phẩm mà trẻ em yêu thích.

Để giảm muối, chuyên gia dinh dưỡng đề nghị phụ huynh nên cân bằng ăn trưa với thực phẩm đóng gói với một bữa ăn tối lành mạnh thấp natri. Đối với đồ ăn nhẹ, hãy chọn hoa quả, chẳng hạn như một quả táo thay vì pho mát đóng gói và bánh quy giòn.

Bên cạnh đó, khi kết quả này được công bố rộng rãi, cần có một chế độ ăn có natri nghiêm ngặt hơn bởi bữa ăn của bạn dù chỉ đơn giản là một lát bánh mì, pho mát và salad cũng chỉ nên chứa 140 mg muối.

(Theo Anninhthudo)

Trẻ ăn không kiểm soát

Những trẻ ăn uống quá nhiều hoặc không kiểm soát, khi lớn lên có nguy cơ nghiện ma túy cao hơn, một nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí Archives of Pediatrics and Adolescent Medicine (Mỹ) khẳng định.

Những người ăn quá nhiều được định nghĩa là ăn nhiều hơn so với bình thường trong khoảng thời gian ngắn và không thể kiểm soát lượng thức ăn. Họ có thể tiêu thụ 5.000 đến 15.000 calo mỗi bữa, và ăn nhiều bữa ăn nhẹ ngoài 3 bữa chính trong một ngày. Những người ăn không kiểm soát có nguy cơ bị thừa cân và cũng có thể bị chứng rối loạn ăn uống.
tre-em-an-nhieu
Các nhà nghiên cứu đã xem xét thói quen ăn uống của 16.882 trẻ em trai và trẻ em gái trong độ tuổi từ 9 đến 15 tuổi từ năm 1996 đến 2005. Kết quả cho thấy, trẻ gái thường thói quen ăn không kiểm soát hơn trẻ trai với 2,3-3,1% trẻ gái ăn quá nhiều, trong khi đó ở trẻ trai là 0,3-1%. Những trẻ ăn quá nhiều tăng 1,59 đến 1,89 lần nguy cơ lạm dụng ma túy; 1,73 lần nguy cơ bị thừa cân hoặc béo phì và 2,19 lần khả năng mắc các triệu chứng trầm cảm.

Các nhà khoa học kết luận, ăn uống quá nhiều không kiểm soát không chỉ khởi đầu cho chứng trầm cảm, thừa cân, béo phì mà hơn nữa nó còn là nguyên nhân của tình trạng sử dụng cần sa và các chất ma túy khác.

Nguồn st

Viêm thanh quản ở trẻ nguy hiểm không kém viêm phổi

Ca bệnh đặc biệt, một bé gái 9 tháng tuổi bỗng dưng… ngừng thở ngay khi đột ngột thở ồn ào hơn được báo cáo tại hội nghị nhi khoa mới đây cho thấy, căn bệnh viêm thanh quản cũng rất nguy hiểm, nó có thể gây biến chứng khó thở cấp cho trẻ.

Nguy hiểm không kém viêm phổi

Ca bệnh được Bác sĩ Mark Mannenback, Trưởng khoa cấp cứu trẻ em bệnh viện Mayo Clinic (Mỹ) chia sẻ tại Hội nghị nhi khoa Việt – Mỹ lần 3 đưa ra lời cảnh báo, viêm thanh quản không chỉ đơn giản là khàn giọng mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Trường hợp này là bé gái 9 tháng tuổi có tiền sử hoàn toàn khỏe mạnh. Khi em bé đang ở nhà với bà thì đột ngột thở ồn ào hơn và bà của bé đã gọi cán bộ y tế. Khi cán bộ y tế đến nhà thấy trẻ dù tỉnh táo nhưng có khó thở thanh quản rất rõ. Bác sĩ vừa làm thao tác dùng tay kiểm tra dị vật thì bé đột nhiên ngất xỉu… và đã được khẩn trương cấp cứu, đưa tới viện. Nhờ được can thiệp kịnh thời, bé đã qua khỏi tình trạng nguy kịch.
viem-thanh-quan
Thêm ba ca bệnh lâm sàng cũng được vị bác sĩ người Mỹ này chia sẻ, đều là là trẻ nhỏ và cũng cùng biểu hiện khó thở vì viêm thanh quản. Như trường hợp của trẻ gái 15 tháng tuổi nhập viện cũng với biểu hiện “thở ồn ào hơn bình thường” và kèm triệu chứng ngạt mũi, chảy nước mũi 3 ngày trước nhập viện. Người mẹ thì lo lắng con mình sẽ bị viêm phổi vì bé đã từng một lần bị viêm phổi, nhưng kết quả bé không bị viêm phổi nhưng có rối loạn hô hấp rõ rệt, thở rít khi nghỉ ngơi và tình trạng nặng lên rõ khi khóc, nồng độ ô-xy trong máu chỉ đạt 96%. PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) cho biết, trường hợp viêm thanh quản cấp khiến trẻ đột ngột ngừng thở, suy hô hấp là hiếm gặp nhưng cũng không phải là cá biệt. Khoa Nhi (BV Bạch Mai) cũng từng cứu sống bé một bé trai 5 tuổi (Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội) vào viện trong tình trạng ngưng thở, toàn thân tím tái, hôn mê cũng vì viêm thanh quản.

Trước đó, bệnh nhi này cũng có biểu hiện sốt nhẹ, ho khan nên gia đình tự mua kháng sinh cho con uống. Đến ngày thứ 3, bé đột nhiên sốt cao, nhịp thở tăng nhanh, dồn dập và dẫn đến ngừng thở. Khi em bé được đưa đến bệnh viện Bạch Mai cấp cứu đã ở trong tình trạng toàn thân tím tái do thiếu oxy, ngừng thở, hôn mê nên bác sĩ đã mở khí quản, bóp bóng rồi chuyển sang khoa Nhi.

“Sau khi hội chẩn các bác sĩ chẩn đoán cháu bị viêm thanh quản tắc nghẽn gây ngưng thở và kèm theo bị viêm phổi”, TS Dũng nói.

Khó thở vì hẹp, bít thanh quản

BS Hoàng Đình Ngọc, Phó Giám đốc BV Tai mũi họng T.Ư cho biết, viêm thanh quản là bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em. Đa số tự khỏi ở nhiều trẻ, nhưng ở một số trẻ khác có thể có diễn tiến nhanh gây phù nề, bít tắc thanh quản khiến trẻ bị ngạt thở, suy hô hấp.

Viêm thanh quản do nhiều nguyên nhân gây ra, do vi khuẩn, vi rút gây ra. Việc nói quá nhiều, khóc, hét to cũng có thể gây viêm thanh quản.

“Trong khi đó dây thanh quản là nơi hẹp nhất trên đường thở. Chính vì là nơi hẹp nhất, nên khi xảy ra hiện tượng viêm, gây phù nề thanh quản sẽ khiến dây thanh quản bị bít kín. Khi đường thở bị bít kín, bệnh nhân sẽ khó thở, dần đến thiếu ô-xy cung cấp lên não. Tùy từng mức độ bít hẹp mà thể hiện khó thở cấp khác nhau”, BS Ngọc giải thích.

“Nguy hiểm ở chỗ, khi mới bị viêm thanh quản, người bệnh không có biểu hiện khó thở mà chỉ bị khàn giọng nên đa phần mọi người đều chủ quan không đi khám. Thực tế, khi người bệnh viêm thanh quản cấp đã lên cơn khó thở thì bác sĩ cũng hoảng, phải cấp cứu cho người bệnh rất nhanh mới hy vọng cứu sống được người bệnh. Vì thanh quản đã hẹp, lại bị phù nề nhanh nên người bệnh không thể thở được. Như trường hợp bệnh nhi trên là một ví dụ, lên cơn khó thở, ngay lập tức gia đình đưa vào viện chỉ mất khoảng 10 phút di chuyển, nhưng bệnh nhân đã tím tái, ngừng thở và phải mở nội khí quản, bóp bóng”, TS Dũng nói.

Tuy nhiên, các bà mẹ cũng không vì thế mà quá lo lắng trước bệnh viêm thanh quản của con. Vì không phải trường hợp nào bé khản tiếng cũng dẫn đến tình trạng viêm cấp gây phù nề viêm thanh quản, nhưng đây là một trong những nguy cơ và tốt nhất không nên để nguy cơ đó xảy ra.

Trong mùa lạnh, trẻ rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp, trong đó có viêm thanh quản, vì thế, cha mẹ cần chú ý chăm sóc trẻ để phòng bệnh. Cần tạo cho trẻ môi trường ở sạch sẽ, thoáng đãng, giường nệm phải thường xuyên vệ sinh, phòng bụi mạt… cũng là những nguyên nhân gây bệnh viêm mũi, họng dị ứng cho trẻ. Giữ ấm cổ, ngực, chân cho trẻ và khi trẻ có dấu hiệu viêm đường hô hấp trên, kèm theo khản giọng cần nhanh chóng đưa bé đi khám, can thiệp nhanh để phòng những nguy cơ đáng tiếc xảy ra cho trẻ.

Nguồn st