Tag Archives: ngo doc

Tác hại khi nấu ăn bằng nồi nhôm

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, dùng nồi nhôm để nấu nướng là không khoa học. Phân tử nhôm là loại phân tử có hoạt tính cao, đặc biệt là sau khi kim loại nhôm chịu nhiệt, gặp phải thức ăn có chất chua và tính kiềm, lại càng dễ xảy ra phản ứng hóa học mà hình thành chất hỗn hợp nhôm. Vi lượng nhôm này hòa tan vào thức ăn đi vào cơ thể con người, sẽ tích tụ tại gan, tỳ, thận và tổ chức não.

Nhôm không chịu được các chất có tính ăn mòn. Nồi nhôm đựng các thức ăn có chất axid, chất kiềm, chất muối thì sẽ sinh phản ứnghóa học, tạo nên một hợp chất có hại cơ thể, là nguyên nhân gây ra bệnh ngớ ngẩn. Không nên đựng thức ăn, cơm, canh, rượu, các thức ăn có mì chính… trong đồ đựng nhôm qua đêm.

Ngoài ra, cũng không nên đánh trứng trong bát nhôm, kẻo lòng đỏ trứng sẽ biến thành màu xanh lục, lòng trắng trứng sẽ biến thành màu xám.

tac-hai-khi-nau-an-bang-noi-nhom1

Nguyên tố nhôm có thể ức chế tiêu hóa đối với việc hấp thu chất phốtpho, đảo lộn sự chuyển hóa chất phốtpho trong cơ thể, phá hoại hoạt tính của dung môi albumin của dạ dày, dẫn đến rối loạn chức năng tiêu hóa, ảnh hưởng đến sức khỏe,làm cho người chóng già, sinh ra đứa trẻ kém thông minh, người cao tuổi bị lẫn.

Các nhà khoa học đã tiến hành giải phẫu đối với hai cháu chín tuổi và năm tuổi đã chết sớm vì bệnh già cỗi, phát hiện hàm lượng nguyên tố nhôm trong đại não cao gấp 6 lần so với người bình thường.

Do vậy, nếu dùng nồi niêu bằng nhôm nấu thức ăn lâu dài thì nguyên tố nhôm ăn vào quá nhiều, chắc chắn đối với cơ thể người rất có hại. Do dó, không nên sử dụng nồi nhôm nấu nướng.

Theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Y tế, hàm lượng chì có trong sản phẩm nhôm tái chế là 7mg/kg, nếu hàm lượng chì vượt quá sẽ là nguyên nhân làm loãng máu, da xanh, hủy hoại hồng cầu. Ở mức độ nhiều hơn chúng sẽ tích tụ trong gan, thận gây ung thư, giảm chức năng gan và nặng nữa thì gây ngộ độc cấp tính…

Trong quá trình tái chế, do nhôm bẩn còn được độn thêm nhiều loại hóa chất, phụ gia nên các tạp chất này rất dễ bị bung ra trong quá trình đun nấu hay cọ rửa, chà xát mạnh, để lại các vết rỗ trên thành xoong, nồi, ấm đun nước… thôi ra làm nước cọ rửa có màu đen bẩn.

tac-hai-khi-nau-an-bang-noi-nhom

Việc lưu trữ thức ăn trong nồi nhôm kém chất lượng sẽ rất độc hại vì các hóa chất, tạp chất bẩn sẽ hòa tan vào thức ăn. Sau một thời gian phơi nhiễm, lượng nhôm tích tụ trong các mô cơ thể có thể gây nhiễm độc nặng như suy thoái não, hay dị hình xương. Đặc biệt, có thể gây ra tổn hại cho hệ thần kinh như: mất ngủ, căng

thẳng, giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, có thể ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của con người, ngăn cản sự phát triển của xương và làm giảm mật độ xương, gây thiếu máu, giảm chức năng gan… Các thức ăn mặn, chua sẽ khiến cho quá trình ăn mòn kim loại càng xảy ra nhanh hơn, khiến cho bề mặt nhôm dễ chuyển màu và bị rỗ nhanh chóng.

Do vậy, để bảo vệ sức khỏe của mình và người thân, người tiêu dùng tránh mua phải đồ nhôm kém chất lượng, người tiêu dùng cần lưu ý chọn lựa đồ có lớp phủ của ôxit nhôm đồng nhất, ánh sáng phản quang tốt, nên chọn những sản phẩm đã được kiểm định về chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng…

Theo sức khỏe đời sống

Ngộ độc do ăn nấm tán trắng

Theo thông tin từ Cục An toàn thực phẩm, ngày 9/3 vừa qua, trên địa bàn xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã xảy ra vụ ngộ độc do sử dụng nấm tán trắng (nấm rừng) với 5 người ăn và 5 người mắc.

Các triệu chứng chủ yếu là rối loạn tiêu hoá (đau bụng, nôn mửa), mất nước, tụt huyết áp. Các bệnh nhân đều có ăn nấm hái từ rừng với số lượng từ 10 – 15 chiếc/người dưới dạng nấu canh.

ngo-doc-do-an-nam-trang

Bệnh nhân trong vụ ngộ độc đã được Bệnh viện đa khoa huyện Võ Nhai, Bệnh viên đa khoa tỉnh Thái Nguyên kịp thời triển khai các biện pháp sơ cấp cứu ban đầu. Tuy nhiên, do đây là vụ ngộ độc do sử dụng loại nấm có độc tính cao gây suy gan, thận và dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu và điều trị hiệu quả nên các bệnh nhân đã được chuyển về Trung tâm Phòng chống độc, Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục cấp cứu, điều trị tích cực.

Hiện tại, các bệnh nhân đều đã ổn định về triệu chứng lâm sàng (hết nôn, tiêu chảy) tuy nhiên độc tố của nấm vẫn làm men gan gia tăng từ 4 đến 6 lần so với bình thường do huỷ hoại tế bào gan.

Hiện nay, mặc dù công tác phòng chống ngộ độc do nấm độc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng,song nguy cơ ngộ độc do nấm độc vẫn rất cao, đặc biệt vào mùa Xuân Hè, ở các tỉnh Miền núi Phía Bắc và ở đồng bào dân tộc thiểu số.

Để phòng chống ngộ độc do nấm độc, TS. Nguyễn Thanh Phong, Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm nhấn mạnh vai trò quan trọng của người tiêu dùng và khuyến cáo người dân:

– Tuyệt đối không hái, sử dụng nấm lạ, nấm không rõ nguồn gốc để ăn dù chỉ là một lần.

– Khi xuất hiện các triệu chứng ngộ độc liên quan đến việc ăn nấm cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu, điều trị kịp thời.

Nguồn sức khỏe đời sống

Tác hại và tác dụng của dưa muối

Kích thích tiêu hóa

Dưa muối có tác dụng kích thích tiêu hoá giúp ăn ngon miệng, dễ tiêu; bổ sung vi sinh vật có lợi cho hệ tiêu hoá như lactobacillus, acidophilus và plan-tarum; cung cấp một lượng chất xơ lớn cho cơ thể, hạn chế một số bệnh do thiếu xơ gây ra như trĩ, táo bón, ung thư ruột kết… Nhưng những lợi ích nói trên chỉ có được khi ăn đúng cách các món dưa muối.

Dưa muối xổi có thể gây bệnh ung thư

Dưa muối xổi, còn gọi là dưa góp, thường làm ăn ngay trong ngày, sử dụng một lượng đường, muối vừa phải pha với nước và có thể kết hợp với một ít dấm thanh hoặc nước cốt chanh để tạo chua. Các nguyên liệu (như cà pháo, cà tím, rau cải bắp, su hào, cà rốt, đu đủ xanh…) thường thái thật mỏng để ngấm đều gia vị trong thời gian ngắn, khoảng 1 – 2 ngày.

dua-ca-muoi

Những loại rau củ quả dùng làm dưa muối thường có sẵn nhiều loại vi khuẩn, trong đó có vi khuẩn lên men lactic, vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng. Trong môi trường muối dưa, vi khuẩn gây bệnh sống được khoảng chín giờ, các ký sinh trùng không sống được quá mười ngày. Trong hai cách muối dưa trên, muối chua nếu làm đúng cách sẽ ăn rất ngon và hợp vệ sinh. Còn muối xổi, do thời gian quá ngắn và môi trường muối dưa không đủ độ axit nên không thể kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn có hại.

Ngoài những bệnh truyền nhiễm đường tiêu hoá thường gặp (tiêu chảy, lỵ trực khuẩn, tả, thương hàn…), ăn nhiều dưa muối xổi còn có nguy cơ mắc ung thư. Bởi các loại nguyên liệu rau củ quả dùng muối dưa thường được bón bằng phân đạm urê nên vẫn còn tồn dư một lượng nitrat đáng kể. Nitric vào dạ dày sẽ kết hợp với các thức ăn thịt, cá, cua, mắm… tạo thành hợp chất nitrosamine, mà nhiều nghiên cứu đã kết luận là chất có khả năng gây ung thư.

Ăn sao cho an toàn?

Dưa ngon thường có màu vàng, chua, giòn và có mùi thơm của dưa. Tránh mua dưa có màu xỉn hay có mùi lạ. Để có món dưa muối như vậy, tốt nhất nên tự mua nguyên liệu sạch về muối dưa tại nhà để đảm bảo vệ sinh thực phẩm. Trước khi muối dưa, phải rửa nguyên liệu và các dụng cụ để muối thật kỹ. Cần tạo môi trường lên men tốt và giữ gìn vệ sinh trong quá trình muối dưa, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn có hại. Để hạn chế quá trình hình thành nitrosamine trong cơ thể, tránh ăn các loại dưa muối xổi, hoặc những loại dưa muối chưa đủ thời gian, dưa chưa vàng, ăn hãy còn cay. Tuyệt đối không ăn dưa muối có hiện tượng nhớt, thâm đen, váng mốc.

Ngay cả với dưa muối đảm bảo vệ sinh cũng không nên ăn quá nhiều và thường xuyên, không ăn khi bụng đói… vì thói quen ăn mặn sẽ gây hại cho thận, tim và dễ dẫn đến tăng huyết áp. Nên ăn cùng với các thực phẩm chống ung thư như rau xanh, hoa quả… Người có bệnh tim, tăng huyết áp, bệnh thận, bệnh gan, viêm loét dạ dày không nên ăn dưa muối chua vì chúng chứa nhiều muối, men tiêu hoá cao, có thể gây ra những biến chứng bất lợi cho sức khỏe.

Nguồn giáo dục

Làm gì khi bị ngộ độc nấm

Ngộ độc nấm độc chỉ xảy ra khi ăn các nấm mọc hoang dại, thường vào mùa xuân và hè và ở các vùng rừng núi. Loại nấm độc nhất là nấm lục (hay nấm độc xanh đen), có hình thức hấp dẫn nhất, ngộ độc nặng nề, diễn biến ngộ độc không thể lường trước được và là nguyên nhân tử vong của hầu hết các trường hợp ngộ độc nấm xảy ra hàng năm ở nước ta.

Biểu hiện ngộ độc chính:

Loại biểu hiện ngộ độc sớm:Thường biểu hiện sau ăn 30 phút đến 2 giờ, tối đa là 6 giờ. Biểu hiện tuỳ thuộc vào loại nấm:

so-cuu-ngo-doc-nam-1

– Nấm đỏ (nấm mặt trời, tên khoa học: Amanita muscaria), nấm mụn trắng (nấm tán da báo, tên khoa học: Amanita pantheria): buồn ngủ, chóng mặt, khó chịu, ảo giác, sảng, giật cơ, co giật.

– Nấm mực (tên khoa học: Coprinus atramentarius): do khi ăn bệnh nhân có uống rượu, bia, biểu hiện đỏ mặt, cổ, ngực, cảm giác bốc hoả, vã mồ hôi, trống ngực, nhịp tim nhanh, đau ngực, thở nhanh, khó thở, buồn nôn, nôn, đau đầu, hạ huyết áp.

– Nấm phiến đốm chuông (tên khoa học: Paneolus campanulatus): điều hoà các động tác vận động kém, tăng vận động, ảo giác, hoang tưởng. Có thể có đồng tử (con ngươi mắt) giãn, kích thích vật vã, co giật.

Loại biểu hiện ngộ độc muộn:

– Xuất hiện sau khi ăn 6 – 40 giờ (trung bình 12 giờ).

–  Hầu hết các trường hợp do nấm lục (nấm độc xanh đen, tên khoa học: Amanita phalloides).

– 6 – 40 giờ sau ăn, bệnh nhân mới biểu hiện nôn, đau bụng, ỉa chảy dữ rội và nhiều. Vào thời điểm này hầu hết chất độc đã vào máu.

–  Sau 1 – 2 ngày: Các biểu hiện tiêu hoá trên đỡ, người bệnh (thậm chí có thể cả cán bộ y tế) nghĩ là bệnh đã khỏi. Trên thực tế tình trạng ngộ độc vẫn tiếp diễn âm thầm ở các cơ quan khác.

–  Sau 3 – 4 ngày: Vàng mắt, vàng da, mệt mỏi, ăn kém, đái ít dần, phù, chảy máu nhiều nơi, hôn mê và tử vong.

Sơ cứu:

– Gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều. Cho bệnh nhân uống nước và gây nôn. so-cuu-ngo-doc-nam-2

–  Uống than hoạt: liều 1gam/kg cân nặng người bệnh.

–  Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol.

– Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

–  Nếu người bệnh hôn mê, co giật: cho người bệnh nằm nghiêng.

–  Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ.

–  Không tự về nhà trong 1 – 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

– Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Việt An

(Theo Trung tâm Chống độc – Bệnh viện Bạch Mai/SKDS)

Thận trọng khi dùng dầu gió

Tại sao dầu gió có thể gây ngộ độc?

Dầu gió được chiết xuất từ các loại tinh dầu thảo dược từ thiên nhiên như: khuynh diệp, hồi, quế, long não. Dầu gió có vị cay, tính mát, có tác dụng hạ sốt, ra mồ hôi, giảm đau, giảm ho, sát trùng,… Đặc biệt, hầu hết các chế phẩm dầu xoa và cao xoa đều cómetyl salicylat (dầu nóng) và menthol (chiết từ tinh dầu bạc hà). Menthol bốc hơi rất nhanh, gây tê tại chỗ và cảm giác mát lạnh (do kích thích bài tiết mồhôi, làm hạ thân nhiệt) khi xoa vào da. Tuy nhiên, trong thành phần của dầu gió chứa eukalyptol và camphor, đặc biệt camphor là một chất độc đối với trẻ em nếu quá trình sử dụng không đúng hấp thu nhiều vào cơ thể qua phần da trầy xước hay vô tình nuốt phải với lượng nhiều (khoảng 1g) gây tổn thương hệ hô hấp, thậm chí ngừng thở.

ngo-doc-dau-gio

Biểu hiện khi ngộ độc

Theo các chuyên gia, lượng camphor cho phép trong các chế phẩm dầu gió chỉ khoảng 3 – 11%. Khi bị ngộ độc,camphor có thể gây tác hại với những triệu chứng xuất hiện chỉ trong vòng 5 -90 phút sau tiếp xúc, tùy vào lượng dầu nhiều hay ít. Các biểu hiện sớm là bỏng miệng, hầu họng, buồn nôn, nôn mửa, lừ đừ, sau đó là co giật, hôn mê, say hôhấp nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến tử vong. Sau khi sửdụng hoặc phát hiện bé uống phải có dấu hiệu bất thường, nghi ngờ ngộ độc, người nhà cần đưa bé đến cơ sở y tế chuyên khoa nhi gần nhất càng sớm càng tốt.

Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi

Theo khuyến cáo, dầu gió có tác dụng phụ làm tăng bài tiết mồ hôi, khiến thân nhiệt hạ thấp. Vì vậy không được dùng cho người bị lở ngứa, ra mồ hôi, sốt cao, vừa ốm dậy, người suy nhược, táo bón, tăng huyết áp. Hơn nữa, tinh dầu bạc hà có nguy cơ gây hiện tượng ức chế tuần hoàn và hô hấp dẫn đến ngừng tim và ngừng thở, vì vậy khôngdùng dầu gió cho trẻ em dưới 2 tuổi, và phụ nữ có thai, đang cho con bú.

Đối với người bình thường, cũng không nên lạm dụng, dùng quá thường xuyên sẽ dễ gây “nhờn thuốc” giảm tác dụng. Chỉ dùng trong trường hợp thực sự cần thiết như: cảm cúm, nhức đầu, sổmũi, đau khớp, đau gân, đau cơ bắp, tụ máu, thâm tím, đầy hơi, chậm tiêu, khó tiêu, chống lạnh đường hô hấp, …

Dùng sao cho đúng?

Đối với trẻ lớn trên 2 tuổi,khi dùng nhất thiết phải có sự theo dõi của người lớn. Trước khi bôi dầu cần rửa sạch tay và rửa sạch, lau khô vùng da bị đau, bôi hoặc xoa bóp một lượng vừa đủ bằng cách lấy đầu ngón tay trỏ lấy một lượng thích hợp, bôi lên chỗ đaun hức hay vết côn trùng cắn đốt. Nếu đau bụng do lạnh, khó tiêu, bôi vào vùng quanh rốn; nếu nhức đầu bôi vào thái dương. Sau đó miết nhẹ nhàng, day tròn, ấn bằng ngón tay trỏ. Chỉ dùng ngoài da, tuyệt đối không được uống.

Không dùng nhiều hơn 3 – 4lần trong ngày; không dùng cho người có tiền sử dị ứng với salicylat, menthol;không dùng thường xuyên mà phải ngừng ngay khi cơn đau đã chấm dứt; không bôilên niêm mạc, vùng mắt, vết thương hở, chỉ bôi ở điểm đau, vùng đau. Đối với một số bệnh mạn tính cần có sự tư vấn của các bác sĩ.

Theo báo gia đình

Ngộ độc nước lọc

Mất nhiều dưỡng chất

ThS Doãn Thị Tường Vi – Trưởng khoa Dinh dưỡng, BV 198 (Bộ Công an) cho biết, nước chiếm từ 60 – 70% cơ thể. Thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động sống của cơ thể. Nước còn giúp đào thải các chất độc hại ra ngoài qua nước tiểu, mồ hôi.

Trong điều kiện bình thường, mỗi ngày cơ thể mất đi chừng 2,5 lít nước. Để cho cơ thể hoạt động tốt, cần uống vào một lượng nước từ 1,5 lít đến 2 lít. Nếu uống quá nhiều nước so với nhu cầu sẽ khiến thận làm việc quá sức. Ngoài việc thải các sản phẩm chuyển hóa, thận còn thải cả các dưỡng chất và các nguyên tố vi lượng có lợi khác.

ngo-doc-nuoc

ThS, BS Lê Thị Hải – GĐ Trung tâm Khám, tư vấn dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, nước có thể cung cấp trực tiếp từ chất lỏng ta uống hoặc từ thực phẩm ta ăn. Các thực phẩm như rau tươi, trái cây có thể chứa từ 70% đến 85% nước.

Nếu ăn chế độ nhiều nước như cháo, súp… thì nhu cầu uống nước ít hơn, ngược lại nếu ăn cơm, ăn bánh mỳ, hoặc bữa ăn không có canh thì nhu cầu uống nước tăng lên. Khi sốt cao, mất nước hoặc thời tiết nóng, đổ mồ hôi nhiều, khi tập thể thao, khi bị nôn, hay đi tiêu chảy… cần uống nhiều nước.

Chỉ uống khi thấy khát

Theo bác sĩ Hải, chúng ta không nên uống quá nhiều nước trong một ngày. Uống nước quá nhu cầu cũng có thể đưa tới tình trạng ngộ độc nước, chẳng hạn khi giảm béo theo chế độ ăn và tăng uống nước, thận không kịp bài tiết nước, nước xâm nhập tế bào, làm mất thăng bằng muối khoáng, dẫn đến rối loạn điện giải, các chức năng tế bào bị đình trệ, đưa đến hôn mê và có thể chết người.

Nước cần thiết cho một chuỗi dây chuyền phản ứng trong cơ thể, cung cấp hợp lý số lượng nước cho cơ thể đóng vai trò rất quan trọng, nhu cầu bình thường cung cấp cho cơ thể chúng ta trung bình 1-2 lít nước trong ngày.

Khi uống quá nhiều nước sẽ gây ngộ độc nước, dư thừa nước tự do trong cơ thể, làm rối loạn các chất điện giải trong máu như natri, kali, canxi, magiê…

Các thành phần điện giải này có thể thấp trong máu do tình trạng pha loãng của nước tự do, hậu quả ảnh hưởng đến các tế bào và hoạt động của tế bào trong cơ thể, đặc biệt là tế bào não.

BS Tường Vi cũng khuyến cáo, uống nước nên chia làm nhiều lần trong ngày chứ không nên uống một lần quá nhiều. Ngay cả khi khát nước cũng không nên uống quá nhiều một lúc, tốt nhất là nên uống từ từ từng ngụm một, để cho nước có thời gian thấm qua thành ruột vào mạch máu và thỏa mãn nhu cầu khát của một cơ thể bị thiếu nước.

Nguồn sức khỏe 

Sơ cứu ngộ độc nấm

Ngộ độc nấm độc chỉ xảy ra khi ăn các nấm mọc hoang dại, thường vào mùa xuân và hè và ở các vùng rừng núi. Loại nấm độc nhất là nấm lục (hay nấm độc xanh đen), có hình thức hấp dẫn nhất, ngộ độc nặng nề, diễn biến ngộ độc không thể lường trước được và là nguyên nhân tử vong của hầu hết các trường hợp ngộ độc nấm xảy ra hàng năm ở nước ta.

Biểu hiện ngộ độc chính:

Loại biểu hiện ngộ độc sớm:Thường biểu hiện sau ăn 30 phút đến 2 giờ, tối đa là 6 giờ. Biểu hiện tuỳ thuộc vào loại nấm:

– Nấm đỏ (nấm mặt trời, tên khoa học: Amanita muscaria), nấm mụn trắng (nấm tán da báo, tên khoa học: Amanita pantheria): buồn ngủ, chóng mặt, khó chịu, ảo giác, sảng, giật cơ, co giật.

– Nấm mực (tên khoa học: Coprinus atramentarius): do khi ăn bệnh nhân có uống rượu, bia, biểu hiện đỏ mặt, cổ, ngực, cảm giác bốc hoả, vã mồ hôi, trống ngực, nhịp tim nhanh, đau ngực, thở nhanh, khó thở, buồn nôn, nôn, đau đầu, hạ huyết áp.

– Nấm phiến đốm chuông (tên khoa học: Paneolus campanulatus): điều hoà các động tác vận động kém, tăng vận động, ảo giác, hoang tưởng. Có thể có đồng tử (con ngươi mắt) giãn, kích thích vật vã, co giật.

so-cuu-ngo-doc-nam

Loại biểu hiện ngộ độc muộn:

– Xuất hiện sau khi ăn 6 – 40 giờ (trung bình 12 giờ).

– Hầu hết các trường hợp do nấm lục (nấm độc xanh đen, tên khoa học: Amanita phalloides).

– 6 – 40 giờ sau ăn, bệnh nhân mới biểu hiện nôn, đau bụng, ỉa chảy dữ rội và nhiều. Vào thời điểm này hầu hết chất độc đã vào máu.

– Sau 1 – 2 ngày: Các biểu hiện tiêu hoá trên đỡ, người bệnh (thậm chí có thể cả cán bộ y tế) nghĩ là bệnh đã khỏi. Trên thực tế tình trạng ngộ độc vẫn tiếp diễn âm thầm ở các cơ quan khác.

– Sau 3 – 4 ngày: Vàng mắt, vàng da, mệt mỏi, ăn kém, đái ít dần, phù, chảy máu nhiều nơi, hôn mê và tử vong.

Sơ cứu:

– Gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều. Cho bệnh nhân uống nước và gây nôn.

– Uống than hoạt: liều 1gam/kg cân nặng người bệnh.

– Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol.

– Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

– Nếu người bệnh hôn mê, co giật: cho người bệnh nằm nghiêng.

– Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ.

– Không tự về nhà trong 1 – 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

– Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Nguồn giáo dục

Ngộ độc thịt cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Hiện nay Tây Y không còn dùng cóc và nhựa cóc để chữa bệnh vì độc tính của nhựa cóc rất cao. Tuy nhiên, Đông Y lại dùng cóc trong chữa một số bệnh hiểm nghèo: nhựa cóc là 1 trong 6 vị của đơn thuốc “Lục thần hoàn”. Trong nhân dân dùng nhựa cóc chữa giảm đau, tán thuỷ, dùng chữa phát bối, đinh độc, yết hầu sưng đau, đau răng. Thịt cóc khô dùng với liều 2 – 3g tán bột uống hoặc làm thành thuốc viên, chữa gầy còm, chậm lớn, kém ăn, suy dinh dưỡng,…

Giá trị dinh dưỡng của thịt cóc

Thịt cóc rất giầu dinh dưỡng, cao hơn thịt bò, thịt lợn (53,37% protit, 12,66% lipit, rất ít gluxit), đặc biệt có nhiều a xít amin cần thiết (Asparagine, Histidine, Tyrosine, Methionine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Tryptophan, Cystein, Threonine..) và nhiều chất vi lượng (Mangan, Kẽm…)

Thịt cóc được dùng làm thực phẩm bổ dưỡng cho người già; hỗ trợ, tăng cường dinh dưỡng sau ốm dậy; hỗ trợ điều trị trẻ em suy dinh dưỡng, chán ăn, chậm lớn, còi xương, cam tích, lở ngứa… dưới dạng ruốc, bột hoặc thịt tươi dùng để nấu cháo, làm chả cóc…

Trong cơ cóc  hay còn gọi là thịt cóc không có chất độc.

ngo-doc-thit-coc

Độc tố trong thịt cóc

Độc tố chỉ có một số bộ phận cơ thể như nhựa cóc (ở tuyến sau tai, tuyến trên mắt và các tuyến trên da cóc), trong gan và buồng trứng.

Độc tố của cóc là hợp chất Bufotoxin gồm nhiều chất như 5-MeO-DMT, Bufagin, Bufotaline, Bufogenine, Bufothionine, Epinephrine, Norepinephrine, Serotonin…

Tác động sinh học của độc tố tùy theo cấu trúc hoá học: Bufagin tác động đến tim mạch như nhóm Glycoside tim mạch; Bufotenine gây ảo giác; Serotonin gây hạ huyết áp… Thành phần độc tố thay đổi tuỳ theo loài cóc. Độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa gây ra ngộ độc cấp tính. Độc tố hấp thu qua da bình thường, nhưng gây ra dị ứng, bỏng rát ở mắt, niêm mạc người.

Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Triệu chứng ngộ độc

– Thời gian nung bệnh từ 1-2 giờ sau khi ăn cóc.

– Hội chứng tiêu hoá: Buồn nôn, nôn, mửa, đau và chướng bụng.

– Hội chứng tim mạch: Lúc đầu bệnh nhân cảm thấy hồi hộp, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, sau đó rối loạn nhịp: Ngoại tâm thu, cơn nhịp nhanh thất, rung thất đôi khi có bloc nhĩ thất, nhịp nút, dẫn đến truỵ mạch. Với người bị nặng: sự dẫn truyền ở tâm thất bị ngưng trệ, rung tâm thất, huyết áp tụt, chân tay lạnh.

– Hội chứng rối loạn thần kinh-tâm thần: chất Bufotenin trong nhựa cóc có thể gây ảo giác, ảo tưởng, rối loạn nhân cách, chảy rãi, thèm ngủ, mồm miệng và tứ chi tê dại, đổ mồ hôi. Năng hơn nữa có thể gây ức chế trung khu hô hấp dẫn tới ngừng thở và tử vong.

Ngoài ra, còn gây tổn thương thận, vô niệu, viêm ống thận và gây tróc da, viêm da.

Chất độc ở cóc chỉ có ở nhựa cóc và nội tạng (gan, trứng).

Xử lý ngộ độc thịt cóc

Chủ yếu là điều trị triệu chứng, nếu phát hiện sớm thì gây nôn và chuyển nhanh đến bệnh viện.

– Thải trừ chất độc: Rửa dạ dày bằng dung dịch thuốc tím 1/5.000, uống tanin 4g, lợi tiểu bằng Furosemid.

– Chống loạn nhịp tim: Nhịp nhanh dùng Propranolon, nhịp chậm dùng isoproterenon. Tốt nhất là đặt máy tạo nhịp tim có xông điện cực buồng tim.

–  Chống tăng huyết áp: Cho ngậm Adalat.

– Chống rối loạn thần kinh và tâm thần: Dùng Diazepam, Phenobacbital.

– Chống rối loạn hô hấp: Thở máy, thở oxy.

– Chống suy thận cấp: Lọc ngoài thận (thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng).

Đề phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do cóc: Tốt nhất và an toàn nhất là không ăn cóc và sản phẩm tự chế biến từ cóc. Nhưng nếu vẫn muốn sử dụng cóc làm thực phẩm thì tuyệt đối không ăn trứng và gan cóc. Trong quá trình chế biến, tuyệt đối không để  da cóc, nội tạng cóc, nhựa cóc lẫn vào cơ cóc hay thịt cóc. Đặc biệt cho đến nay, khoa học chưa chứng minh được nuốt cóc sống có thể điều trị được bệnh ung thư.

Những món ăn đại kỵ trong ngày đầu năm

 Món ăn kiêng kỵ ngày Tết không biết có từ bao giờ nhưng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng của người dân. Người ta làm theo lệ tục từ một lẽ rất đơn giản: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”.

Bắc – Trung – Nam đều kiêng kỵ

Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Dương Thuấn với vốn sống phong phú, nhìn nhận vấn đề kiêng kỵ dưới cái nhìn khá sắc bén: Kiêng kỵ xuất phát nhiều yếu tố, có thể do ăn cái gì đó xảy ra chuyện không vui nhiều lần, người xưa rút kinh nghiệm thành kiêng. Có thể ban đầu chỉ là sự kiêng kỵ của một người, một nhóm người nhưng sau đó trở thành ký ức của cả một cộng đồng, một dân tộc. Thậm chí, phần lớn không hiểu gì về nguồn gốc nhưng rồi họ cứ thế kiêng theo.

nhung-mon-an-dai-ky-gay-ngo-doc-cuc-ky-nguy-hiem

Cá mè, trứng vịt lộn thường là những món người dân kiêng ăn vào đầu năm mới. Ảnh: T.L

Cả ba miền Bắc- Trung- Nam đều kiêng ăn thịt chó, ăn mực vào những ngày đầu năm vì sợ “đen” cả năm, kiêng ăn thịt vịt vì sợ tán đàn cả năm kêu quạc quạc… Người miền Trung kiêng ăn trứng vịt lộn, cá mè… vì sợ đen đủi, hãm tài. Người miền Nam kiêng ăn tôm vì sợ đi… giật lùi như tôm, công việc sang năm sẽ lùi chứ không tiến tới; không ăn cua vì sợ ngang như cua, con cái khó dạy, công việc cũng không tiến lên được…

Món kiêng kỵ nhiều khi chỉ đơn thuần xuất phát từ âm đọc chệch của mỗi vùng miền, như người miền Nam kiêng chuối vì có âm đọc chệch là chúi (chúc xuống chứ không tiến lên). Vì vậy, bàn thờ ngày Tết, người miền Nam không bày chuối trên mâm ngũ quả. Người miền Trung không chọn quả đu đủ vì phát âm vùng này nghe như “thù đủ”. Người miền Nam tránh cam vì cho rằng “quýt làm cam chịu” – oan sai cả năm; kiêng cả quả lê vì sợ lê lết…

Món kiêng của người vùng cao

Theo nhà thơ Dương Thuấn – một người sinh ra và lớn lên ở vùng núi Tây Bắc, tục kiêng kỵ về món ăn với người vùng cao cũng phong phú, đa dạng và phía sau mỗi món kiêng đều có những tích cổ, những bí mật dòng tộc riêng.

Với con người, chó là vật nuôi không chỉ trung thành mà còn rất tinh khôn. Vì vậy, nhiều dân tộc vùng cao không ăn thịt chó. Khi còn sống, Hòa thượng Thích Thanh Tứ đã hé mở về quan niệm này rằng, đạo Phật không sát sinh và luôn trưởng dưỡng lòng từ bi. Có thể những người bán thịt chó phạm tội sát sinh nên đầu tháng họ đi chùa cầu xin trời Phật tha tội. Đi chùa thì phải nghỉ bán hàng vì thế họ đã nghĩ ra đầu năm, đầu tháng kiêng ăn thịt chó. Nhưng nghỉ mấy ngày đầu năm, đầu tháng thiệt hại tiền bạc. Để bù lại, họ tung tin cuối tháng ăn thịt chó sẽ giải được đen. Dân Việt dễ tin, người nọ truyền người kia và cuối cùng trở thành quan niệm thường trực. Đây cũng là một cách lý giải, trong khi chưa có lý giải nào thuyết phục hơn, lý do này khiến không ít người tin, làm theo và thịt chó thành món kiêng kỵ những ngày đầu năm, đầu tháng.

Người dân tộc Tày, Nùng trong nhà có người mất chưa qua 120 ngày thì Tết cũng như ngày bình thường, kiêng ăn bánh gio. Vì khi đưa người chết vào quan tài, bao giờ họ cũng đốt thóc, đốt ngô thành gio, bỏ vào quan tài dày khoảng 20cm sau đó mới để xác lên trên, đậy quan tài lại. Người Tày, Nùng quan niệm, nếu ăn bánh gio (tro) là không biết thương người đã mất và người ăn cũng bị đánh giá là không được dạy dỗ.

Với người Tày, Nùng từ 28 Tết đến hết 3 ngày Tết không bao giờ to tiếng với nhau. Trẻ con có hư cũng không được mắng chửi, chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng. Trâu có phá nương cũng không được đánh mà chỉ đuổi đi vì quan niệm nếu đánh người, đánh vật thì mình truyền hết sinh khí cho người đó, con vật đó. Ăn cái gì cũng không được ăn tục (ăn vừa phải – số lượng ít). Người Tày, Nùng cũng kiêng chuyện khách đến nhà mời không ăn, ngay cả no bụng cũng không được từ chối, không ăn nhiều thì ăn ít. Nếu khách không ăn, chủ nhà sẽ nghĩ khách không trọng tấm lòng của họ.

nhung-mon-an-dai-ky-gay-ngo-doc-cuc-ky-nguy-hiem1

Cả ba miền Bắc- Trung- Nam đều kiêng ăn mực vào những ngày đầu năm.

Trong 3 ngày Tết của người Mông, đặc biệt là người Mông ở Mộc Châu, Sơn La – xứ rau vùng Tây Bắc – có tục lệ kiêng không ăn rau. Theo giải thích, trong cả năm trời, người Mông rất vất vả nên Tết không ai phải làm gì cả, chỉ ăn chơi tận hưởng thành quả làm ra cả năm trời. Trong mâm cỗ của mình, người Mông chỉ bày các món được làm từ thịt lợn, tuyệt đối không có rau xanh. Trong 3 ngày này, người Mông không mua bán, không tiêu tiền, với tín ngưỡng giữ lại của cải, tiền bạc trong gia đình, phụ nữ không được cầm kim chỉ để khâu vá để có váy lành,váy đẹp mặc cả năm.

Ở Đại Từ, Thái Nguyên có tục kiêng cho người dưới ăn đầu gà, nhất là trong ngày Tết. Theo đó, người nào có vị trí quan trọng nhất, khách quan trọng nhất sẽ được gia chủ gắp cho cái đầu gà để thể hiện sự yêu mến, kính trọng. Nhiều người không biết lệ, nhận được sự “ưu ái” này thì phát hoảng nhưng không ăn thì cứ phải để trong bát, không được bỏ ra.

Nhà thơ Dương Thuấn phân tích: “Người Việt có câu “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” nhưng kiêng liệu có lành không thì chưa có trường hợp cụ thể nào chứng minh được tính đúng sai của những món ăn cần kiêng kỵ đó? Tuy nhiên, điều cần phải thừa nhận rằng, do kiêng kỵ sớm đã ăn vào tiềm thức của mỗi người dân Việt nên kiêng được trước hết rất tốt cho tâm lý”.

“Năm mới là thời khắc quan trọng nhất trong năm và thường tạo dấu ấn lớn cho cả năm trời, vì vậy nhiều người quan niệm rằng các cụ đã kiêng thì mình không nên làm trái. Không ăn cái này sẽ có cái khác thay thế. Năm mới cứ ăn toàn những thứ tốt tinh thần phấn chấn thì sức khỏe tốt lên, làm ăn cũng theo đó mà thuận lợi, gia đình cũng hòa thuận, hạnh phúc hơn”, nhà thơ Dương Thuấn bày tỏ.

Theo Kỳ Anh
Nguồn dân trí

Nguyên nhân chính dẫn đến Xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hóa biểu hiện như thế nào?

Tùy theo nguyên nhân mà có các biểu hiện khác nhau, tuy nhiên các biểu hiện thường gặp:

Nôn ra máu: Số lượng từ 100ml – 1.000ml hoặc nhiều hơn nữa tùy theo mức độ, máu thành cục (hạt ngô, hạt đỗ), màu nâu sẫm, nhờ nhờ đỏ, lẫn với thức ăn, dịch nhầy loãng.

Đại tiện phân đen: Phân nát, lỏng như bã cà phê, mùi thối khắm (như cóc chết), số lượng 100gr, 500gr, 2 – 3 lần trong 24giờ.

Dấu hiệu mất máu (sau nôn máu, đại tiện phân đen) tùy theo mức độ mất máu sẽ thấy vã mồ hôi, chân tay lạnh, nổi da gà, da niêm mạc nhợt, có khi vật vã giãy giụa, có khi ngất xỉu, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt, thở nhanh nông, đái ít, có khi vô niệu. Nếu làm các xét nghiệm thường quy tùy thuộc vào thời gian có thể sẽ thấy hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, hematocrit giảm.

 Ổ loét dạ dày gây biến chứng chảy máu

Ổ loét dạ dày gây biến chứng chảy máu

Nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa

Có rất nhiều nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa như loét dạ dày tá tràng, xơ gan mất bù, do dùng thuốc, do ung thư dạ dày… Tùy theo nguyên nhân mà chiến thuật xử trí và điều trị sẽ khác nhau. Có thể chia xuất huyết tiêu hóa làm hai nhóm chính là xuất huyết tiêu hóa trên (từ góc Treitz trở lên) và xuất huyết tiêu hóa dưới (dưới góc Treitz đến hậu môn).

Xuất huyết tiêu hóa trên

Do loét dạ dày hành tá tràng: Đó là nguyên nhân hay gặp nhất, máu chảy ra dưới hình thức: nôn ra máu, đại tiện phân đen và đại tiện phân đen tiềm tàng. Chảy máu với đặc điểm khối lượng máu thường nhiều, xảy  ra nhiều lần có thể gây ra tình trạng thiếu máu trầm trọng; kết hợp với các triệu chứng khác như đau ở vùng thượng vị có chu kỳ… chẩn đoán bằng nội soi dạ dày.

Do tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Hiện tượng này gặp trong các bệnh xơ gan, hội chứng Bannti, hội chứng Budd – Chiari (tắc tĩnh mạch trên gan): máu ở hệ tĩnh mạch cửa bị cản trở sẽ qua những đường bàng hệ để trở về tĩnh mạch chủ dưới phần bàng hệ phình giãn và tăng áp lực. Đặc điểm của loại chảy máu này là: máu tươi, màu hơi đen vì là máu tĩnh mạch; khối lượng thường rất nhiều và không  lẫn thức ăn; kết hợp với các triệu chứng khác như tuần hoàn bàng hệ dưới da bụng, cổ trướng, lách to.

Một số nguyên nhân ít gặp hơn như ung thư dạ dày, viêm dạ dày cấp, viêm loét trợt thực quản, hội chứng Malôri-Oét, urê máu cao, ngộ độc chì, ngộ độc thủy ngân…

Xuất huyết tiêu hóa dưới

Xuất huyết từ đại tràng: Là loại chảy máu thường gặp trong chảy máu tiêu hóa thấp. Các nguyên nhân hay gặp bao gồm:

Lỵ trực khuẩn: Thường xảy ra ở trẻ em có yếu tố dịch tễ kèm theo. Lâm sàng có hội chứng nhiễm khuẩn có thể nhiễm độc với sốt cao, đau quặn bụng dữ dội, đại tiện nhiều lần 15 – 20 lần/ngày, kèm mót rặn và đau hậu môn. Phân lỏng, rất ít hoặc chỉ toàn máu, màu đỏ sẫm như máu cá hoặc nước rửa thịt.

Lỵ a míp: Bệnh cảnh lâm sàng thường nhẹ với sốt nhẹ, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và vùng hạ vị; đại tiện phân nhầy máu, thường máu chỉ dính quanh phân có màu đỏ tươi, kèm dấu mót rặn và đau hậu môn sau đại tiện.

Ung thư đại tràng: Là bệnh lý thường gây chảy máu tiêu hóa thấp ở người già. Ung thư đại tràng phải thường kèm theo dấu đại tiện phân lỏng và máu đỏ sẫm. Ung thư đại tràng trái thường là dấu hiệu táo bón, đại tiện phân máu tươi; còn ung thư trực tràng hậu môn thường kèm theo dấu hiệu kích thích đại tiện nhiều lần hoặc nhiều khi chảy máu hậu môn một cách tự nhiên.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu: Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, với biểu hiện từng đợt bao gồm sốt, đau khớp, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và đại tiện ra máu, thường là máu tươi.

Ngoài ra còn có thể gặp chảy máu trong trĩ, polyp, nứt kẽ hậu môn, Crohn đại – trực tràng…

Loét dạ dày có thể được phát hiện qua kỹ thuật nội soi

Loét dạ dày có thể được phát hiện qua kỹ thuật nội soi

Xuất huyết từ ruột non: Có nhiều nguyên nhân gây chảy máu ở ruột non, và thông thường xuất huyết ở ruột non là một trong các bệnh lý khó phát hiện nhất.

Thương hàn: Ngoài những triệu chứng của bệnh cảnh thương hàn, biến chứng chảy máu thường xảy sau 1 – 2 tuần do biến chứng loét ruột, có thể kèm theo biến chứng thủng ruột. Bệnh nhân đau bụng, đại tiện phân có màu đỏ gạch hoặc đỏ sẫm. Ngoài điều trị chảy máu cần chú ý điều trị thương hàn.

Viêm ruột xuất huyết hoại tử: Đây là một cấp cứu nội – ngoại khoa. Bệnh cảnh thường là nặng nếu xảy ra ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng là tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng, sốt cao 40 – 41oC. Đau và trướng bụng, đại tiện phân đen mùi thối khắm. Điều trị bằng kháng sinh, truyền dịch, cân nhắc điều trị ngoại khoa khi có biến chứng.

Bệnh Crohn: Thường gặp là tổn thương vùng hồi manh tràng với đau bụng, đại tiện phân lỏng từng đợt kèm theo sốt, máu lắng tăng. Biến chứng chảy máu thường gặp vào giai đoạn 2 hoặc 3 của bệnh với tổn thương loét hoặc rò thủng vách ruột. Điều trị bằng kháng sinh, corticoid và thuốc ức chế miễn dịch.

Ngoài ra, còn có thể gặp chảy máu ruột non từ các nguyên nhân hiếm gặp khác như: lồng ruột, loét túi thừa Meckel, lao ruột, ung thư ruột non, hoặc chảy máu từ ruột non trong bệnh lý chảy máu toàn thể như trong sốt xuất huyết, bệnh bạch cầu cấp, hội chứng urê máu cao…

Tóm lại, biểu hiện xuất huyết đường tiêu hóa dưới rất đa dạng, nguyên nhân thì nhiều, dễ làm người bệnh chủ quan, vì vậy mỗi người bệnh cần có ý thức tự bảo vệ mình, nếu có biểu hiện bất thường nên tới khám tại các cơ sở y tế để được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

(Theo suckhoedoisong.vn)

Những món ăn nguy hiểm khi dùng chung

Với nhiều người, một bữa ăn lớn với đủ loại hương vị rất khoái khẩu. Nhưng một số thức ăn không kèm được với các loại khác, do vậy khi dùng chung sai lầm, người ta có thể không hấp thụ được dưỡng chất trong đó, thậm chí có tác dụng phụ nghiêm trọng.

Cua và quả hồng là một ví dụ điển hình. Khi ăn cùng nhau chúng gây ỉa chảy.

Li Hongyan, một chuyên gia dinh dưỡng cao cấp tại Tập đoàn thực phẩm Tongmai (Thượng Hải) giới thiệu một số lưu ý về các món ăn:

Đậu phụ và cải bó xôi

Khi ăn chung, chúng ảnh hưởng đến việc hấp thụ canxi và có thể dẫn tới lắng đọng trong ruột. Cải bó xôi chứa axit oxalic, có thể phản ứng với canxi trong đậu phụ ở ruột và hình thành các kết tủa canxi oxalate không tan.

Sữa và chocolate

nhung-mon-an-nguy-hiem-khi-dung-chung

Bạn có thể không tin điều này, nhưng sữa và chocolate không hợp nhau. Trong khi sữa giàu protein và canxi, thì chocolate chứa axit oxalic. Khi ăn chung với nhau, chúng cũng tạo thành chất kết tủa canxi oxalate, không tiêu hóa được và có thể gây ỉa chảy.

Sữa và bưởi

Protein trong sữa có thể phản ứng với axit tươi trong bưởi và khiến cho bụng chướng lên. Nếu quá nhiều có thể gây tiêu chảy.

Sữa chua với jăm bông và thịt hun khói

Nhiều người thích ăn bánh sandwich với sữa chua. Tuy nhiên, jam bông và thịt hun khói trong bánh sandwich khi tương tác với sữa chua có thể gây ung thư. Để tăng thời hạn bảo quản thịt, nhà sản xuất bổ sung nitrate để ngăn ngừa sự phân hủy. Nhưng khi nitrate gặp axit hữu cơ, nó có thể chuyển thành nitrosamine, một chất sinh ung thư.

Sữa đậu nành và trứng

Sữa đậu nành chứa các dưỡng chất như protein thực vật, chất béo, carbonhydrat, vitamin và khoáng chất. Uống một mình nó sẽ rất giàu dinh dưỡng. Nhưng nếu ăn chung với sữa, nó thể tạo ra phản ứng khiến cơ thể không hấp thụ được protein. Dĩ nhiên, trứng ăn một mình cũng rất bổ.

Thịt bò và hạt dẻ

Cả hai loại thức ăn này đều tốt cho dạ dày. Tuy nhiên hạt dẻ giàu vitamin C, có thể tương tác với các nguyên tố vi lượng trong thịt bò và làm giảm dưỡng chất của hạt dẻ. Nó cũng không tốt cho tiêu hóa và có thể gây khó tiêu.

Cua và nước chè

Chè chứa nhiều axit tannic như quả hồng, vì thế phản ứng không tốt khi gặp protein trong cua.

Tôm và vitamin C

Nếu bạn ăn tôm và đồng thời ăn nhiều vitamin C trong cùng ngày, bạn có thể gặp nguy hiểm. Tôm chứa hợp chất phản ứng với vitamin C để tạo ra asen độc hại.

Củ cải trắng và cà rốt

Men trong cà rốt có thể phá hủy vitamin C trong củ cải trắng. Để hấp thu dưỡng chất tốt nhất, bạn hãy ăn chúng riêng ra.

Theo VnExpress (Shanghai Daily)

Đề phòng ngộ độc khi chọn mua nấm kim châm

Để chủ động đề phòng ngộ độc thực phẩm và giảm các bệnh do ăn uống, người tiêu dùng nên tìm hiểu kỹ thông tin về sản phẩm, nhãn mác, bao gói trước khi quyết định mua thực phẩm nói chung và nấm tươi nói riêng.

Nấm kim châm là loại nấm tươi, có vị thơm, giòn được nhiều gia đình lựa chọn trong bữa ăn của gia đình. Theo các nhà khoa học, nấm kim châm có khả năng chống ung thư, làm đẹp da phụ nữ, có vị ngon, dễ ăn và được người tiêu dùng ưa chuộng hơn so với các loại nấm tươi khác. Tuy nhiên, thời gian gần đây xuất hiện nhiều thông tin về loại nấm này như không hạn sử dụng, không bảo quản lạnh… gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng.

nam-kim-cham

Tại các cửa hàng rau sạch và siêu thị, nấm kim châm bày bán đều được đóng gói trong bao bì túi nilon, trên bao bì có ghi đầy đủ thông tin về ngày sản xuất, hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng…. Nhưng ở các chợ đầu mối hay một số chợ bán lẻ vẫn có quầy, sạp, kiốt bày bán loại nấm kim châm không có nguồn gốc xuất xứ, thiếu thông tin về nhà sản xuất, hướng dẫn sử dụng và hạn sử dụng. Vì vậy, khi chọn mua nấm tươi người tiêu dùng nên lưu ý một số điểm sau đây:

– Xem xét kỹ các thông tin được in trên bao bì sản phẩm.

– Chọn những gói nấm còn tươi và có màu trắng.

– Nấm không bị dập nát, không rỉ nước nhờn.

– Trên bao bì có thông tin về nhà cung cấp để tránh mua phải các loại nấm không đảm bảo chất lượng.

Anh Nguyễn Văn Nam, Trưởng quầy rau củ quả Siêu thị Hiway Hà Đông cho biết: “Nấm kim châm nếu được bảo quản theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất (từ 1 độ C đến 5 độ C) có thể sử dụng trong vòng 45 ngày, kể từ ngày sản xuất. Nếu không được bảo quản đúng điều kiện, nấm kim châm sẽ nhanh hỏng và ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Tùy điều kiện thời tiết, có thể để nấm bên ngoài từ một đến 3 ngày, sau khi mang ra từ điều kiện bảo quản lạnh”.

Theo VNE

Mẹo chọn cà chua ngon và an toàn cho các bà nội trợ

Cà chua là thứ quả được phụ nữ ưa dùng trong nấu nướng và làm đẹp, nên trước các thông tin về ngộ độc thực phẩm từ rau, củ, quả, các bà nội trợ cũng không tránh khỏi băn khoăn.

Nhiều người tìm mua, thậm chí đặt mua loại cà chua chín cây. Nhưng nếu mua ở ngoài chợ, bạn cũng có thể phân biệt cà chua chín cây và cà chua chín giấm, bằng cách quan sát:

Cà chua chín tự nhiên thường có màu đỏ, vỏ quả căng mọng và nếu để ý kỹ có thể nhìn thấy những nhũ lấm tấm ở thịt quả qua vỏ. Khi sờ vào những trái cà chua chín cây thường có cảm giác hơi mềm. Bổ quả cà chua ra thấy hạt màu trắng vàng chứ không xanh, ruột cũng chín đỏ, chín mềm và có bột. Với loại cà chua này, bạn nên lựa những quả đỏ hồng, chắc tay. Không nên lấy những quả bị dập ủng, hay quá nhũn, vì đây có thể là những quả cà chua đã hỏng.
chon-ca-chua

Ngoài ra, bạn cũng có thể quan sát kỹ phần cuống của quả. Nếu cuống còn tươi xanh, dùng tay kéo nhẹ vẫn dính chặt vào phần trái, mà trái đã chín tức là trái chín cây.

Khác với cà chua chín cây, những trái cà chua giấm bằng thuốc hóa học thường cứng, không thơm và không đỏ mọng. Khi nấu, quả cà chua chín giấm thường rất lâu nhừ hoặc khi nhừ thì chỉ có ít bột và màu đỏ nhợt nhạt.

Tuy nhiên, do các loại cà chua chín giấm được bán phổ biến ở các chợ, nên để bảo đảm an toàn nhiều người tiêu dùng kỹ tính thường chọn mua cà chua già, đã gần chín từ các ruộng, vườn về nhà tự ủ hoặc mua lượng lớn cà chua chín cây về làm sốt cà chua bằng cách: Hấp cà chua chín, bóc vỏ, bỏ hạt, nghiền nhuyễn. Cho vào cà chua nghiền một chút muối, đun sôi, để nguội rồi đóng chai, dùng dần.

Khác các loại rau củ khác, để bảo quản cà chua, tốt nhất bạn nên để quả ở nơi khô ráo, thoáng mát. Không nên để cà chua trong túi nilon hoặc cho vào tủ lạnh.

Quyên Quyên

Theo dân việt

Bí quyết tránh ngộ độc thực phẩm mà người nội trợ nên biết

Ai trong chúng ta ít nhất cũng đã bị nhiễm độc thực phẩm, người nhẹ thì tự khỏi, người nặng phải đi bệnh viện. Vì thế, ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Khi bị ngộ độc thực phẩm, người bệnh không chỉ tốn tiền chạy chữa mà còn gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Đâu là nguyên nhân?

Nhiễm vi sinh vật: Nguyên nhân này chiếm từ 33 – 49% các ca ngộ độc thực phẩm các ca ngộ độc thực phẩm. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các chủng Salmonella, E.Coli, Clostridium Perfringens, Listeria. Trong số các chủng này, vi khuẩn Salmonella (có trong thịt, nghêu, sò, gà chưa nấu chín, sữa sống, trứng sống…) là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc. Khuẩn Listeria (trong thịt ướp lạnh, chế phẩm sữa chưa tiệt trùng, thịt nguội…) ít gặp hơn nhưng lại khá nguy hiểm bởi chúng vẫn phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (4-6oC); khuẩn Clostridium Perfringens hay phát sinh trong các món được nấu nướng và hâm nóng.

ngo-doc

Nhiễm hóa chất: Chiếm từ 11 – 27%. Các hóa chất thường có mặt trong thực phẩm này là chất bảo quản thực phẩm, chất bảo vệ thực vật.

Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Chỉ chiếm từ 6 – 37,5% ca ngộ độc, nhưng lại rất nguy hiểm cho sức khỏe vì dễ dẫn đến sốc phản vệ và tử vong, như trường hợp ăn phải nấm độc hay cá nóc là ví dụ. Rất nhiều thực phẩm ẩn chứa đằng sau sự tươi ngon là liều thuốc độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, măng tươi chứa chất xyanua (CN) có thể gây tử vong ở liều 50-90mg/kg; măng chua acid cyanhydric (HCN) có thể gây ngộ độc cấp tính; khoai tây mọc mầm hay khi vỏ đã chuyển sang màu xanh chứa ancaloid có thể gây ngộ độc cấp tính… Đặc biệt, do thời tiết nóng ẩm của nước ta nên nấm mốc trong thực phẩm có điều kiện phát triển rất nhanh. Không chỉ gây hỏng thực phẩm, nấm mốc còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm có thể gây ung thư gan.

Ngoài các nguyên nhân trên, có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Tác hại khi dùng thực phẩm nhiễm bẩn

Các triệu chứng đầu tiên của ngộ độc cấp tính thực phẩm là đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Nặng hơn thì kèm theo các biểu hiện trên là rối loạn cảm giác, nhức đầu, mệt lả, hôn mê, liệt chi; thay đổi huyết áp, bí tiểu… Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ bị tai biến suy tuần hoàn cấp hay trụy tim mạch và tử vong.

Trong trường hợp bị nhiễm độc do kí sinh trùng hoặc do các chất độc chưa đủ mạnh… thì các triệu chứng sẽ diễn ra chậm hơn. Sự nhiễm độc đó được gọi chung là nhiễm độc tiềm ẩn. Nếu bị nhiễm liên tục có thể sau một thời gian sẽ dẫn đến ung thư, các rối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai…

Ngoài ra, còn có những người bị ngộ độc mạn tính do di chứng của ngộ độc cấp hoặc do hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn. Bệnh nhân dạng này có biểu hiện phát bệnh lặp lại thường xuyên hoặc theo chu kỳ. Bệnh thường khó chữa hoặc không chữa khỏi.

Điều nguy hại của ngộ độc thực phẩm dù ở thể nào cũng làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân được cấp cứu kịp thời và chữa trị tốt thì thời gian hồi phục cũng rất lâu. Những trường hợp ngộ độc cấp rất nặng, ngộ độc cấp không được cứu chữa kịp thời hoặc hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn kéo dài dẫn đến bệnh hiểm nghèo… chắc chắn sẽ tử vong.

Điều cần làm để có bữa ăn sạch

Sử dụng nước sạch và thực phẩm tươi. Đây là các thực phẩm có độ an toàn cao nhất, vì thế, khi chọn thực phẩm, cần lựa chọn thực phẩm tươi và nguyên vẹn, đã được tiệt khuẩn. Dùng nước sạch để xử lí thực phẩm. Không sử dụng thực phẩm đã hết hạn sử dụng.

Vệ sinh sạch sẽ. Các vi khuẩn có độc tố thường có ở tay, áo quần và dụng cụ nhà bếp, đặc biệt là các loại dao, thớt…, nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ, qua sự tiếp xúc có thể truyền chúng vào thực phẩm gây nên ngộ độc. Vì thế, hãy rửa tay sạch sẽ trước khi sử dụng thực phẩm và thường xuyên rửa tay trong suốt quá trình chế biến. Rửa và vệ sinh tất cả bề mặt và thiết bị dùng để chế biến thực phẩm; Bảo vệ khu vực bếp và thực phẩm khỏi gián, bọ, chuột và các động vật khác. Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh.

Để riêng thực phẩm sống và đã nấu chín. Thực phẩm sống, đặc biệt là thịt, gia cầm, hải sản có thể chứa vi sinh vật nguy hiểm, sẽ truyền sang thực phẩm khác trong quá trình chế biến và cất giữ. Hãy sử dụng riêng từng dụng cụ, thiết bị như dao, thớt trong chế biến thực phẩm sống. Khi cất giữ, hãy xếp riêng từng loại vào âu có nắp đậy kín.

Nấu chín. Nhiệt độ cao sẽ diệt hầu hết các vi khuẩn gây bệnh, vì thế, khi chế biến thực phẩm, bạn nên nấu chín, đặc biệt là thịt, gia cầm, trứng và hải sản.
Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn: Dù tươi sống hay đã nấu chín, chỉ sau một thời gian nhất định là các vi khuẩn gây bệnh sẽ tấn công thực phẩm. Chính vì thế, việc bảo quản thực phẩm là rất quan trọng. Không giữ thực phẩm đã chín tới ở nhiệt độ phòng nhiều hơn 2 giờ. Hâm thực phẩm đã nấu chín ở nhiệt độ trên 60oC trước khi sử dụng. Không bảo quản thực phẩm quá lâu dù trong tủ lạnh.

theo sức khỏe đời sống

Những loại thực phẩm dễ gây ngộ độc

Thực phẩm chúng ta dùng hàng ngày nhìn công dụng rất tốt nhưng do bảo quản, cách trồng nên biến chất, gây ra độc tố. Hãy lưu ý những thực phẩm sau.

Giá đỗ không rễ

Có loại giá đỗ, đặc biệt là giá đỗ tương (màu vàng) trong quá trình làm sử dụng thuốc diệt cỏ, làm cho giá đỗ mọc lên to khỏe và không có rễ. Trong thuốc diệt cỏ có chất gây ra ung thư, giá đỗ không gốc lại hấp thụ chất độc này. Chính vì vậy, nên tránh xa loại giá đỗ không rễ.

Bí đỏ (bí ngô) già để lâu

magie-va-chua-tri-chung-chuot-rut

Bí đỏ có lượng đường cao đồng thời do thời gian lưu trữ quá lâu dẫn đến bên trong bí đỏ biến chất làm thay đổi bản chất và tác dụng tốt của bí đỏ, ăn vào rất không tốt cho sức khỏe.

Gừng tươi bị dập nát

Gừng tười bị dập nát sẽ sản sinh ra một chất độc rất mạnh, chúng ta ăn vào sẽ làm cho tế bào gan trúng độc, tổn hại đến chức năng gan. Vì vậy, khi lựa chọn gừng tươi, nên chọn gừng có màu sáng mịn, bề mặt bên ngoài hoàn hảo không vết xước.

Đỗ dẹt

Loại đỗ này có chứa một chất tụ máu – clusterin, làm cho dịch huyết ngưng tụ đông đặc lại, là một loại protein độc hại, đặc biệt vào mùa thu thành phần độc hại này có hàm lượng cực cao. Nếu chúng ta ăn vào sẽ bị trúng độc, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa…. Tuy nhiên loại độc tố này sẽ bị phá hỏng khi được xử lý ở nhiệt độ cao. Vì vậy, muốn ăn thực phẩm này nên xào nấu ở nhiệt độ cao, không được xào tái, phải hoàn toàn chín mới ăn.

Mộc nhĩ tươi

Trong mộc nhĩ tươi có một loại chất nhạy cảm với ánh sáng, sau khi dung nạp vào cơ thể, dưới sự chiếu dọi của ánh nắng mặt trời qua da sẽ gây ra viêm da, ngứa ngày, phù thũng, đau nhức, có người còn bị sưng phù cổ hhongj nên làm cho hô hấp khó khăn. Vì vậy, chỉ nên lựa chọn mộc nhĩ khô, ngâm trong nước nóng xong đưa ra nấu thì mới an toàn.

Cà chua chưa chín

Cà chua chưa chín hàm chứa một loại chất có độc, sau khi ăn vào sẽ có các hiện tượng như buồn nôn, nôn mửa, hoa mắt chóng mặt, chảy nước dãi vv. Nếu ăn sống nguy hại càng lớn.

Theo Dân trí/SKDS

Phương pháp chữa bệnh bãi não và tự kỷ bằng châm cứu

Bệnh viện Châm cứu Trung ương đang miễn hoàn toàn viện phí, tiền thuốc điều trị cho trẻ bại não, tự kỷ, câm điếc; mở ra cơ hội hòa nhập cho hàng ngàn trẻ em.

Mỗi năm, cả nước có khoảng 200.000 trẻ em bại não. Nhiều em trong số đó đã được Bệnh viện Châm cứu Trung ương mang lại cuộc sống bình thường nhờ phương pháp châm cứu phục hồi chức năng.

80%-90% liệt tứ chi

Di chứng sau một lần viêm não khiến Lê Trọng Huy (4 tuổi, ngụ Hà Nội) từ một cậu bé khỏe mạnh, vui vẻ bỗng liệt toàn thân, nằm bất động và không thể nói được. Sau 2 đợt điều trị bằng điện châm, thủy châm kết hợp với xoa bóp bấm huyệt và tập vận động tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, Huy đã ngồi dậy và bước đi chập chững. Chị Nguyễn Thanh Hoài, mẹ Huy, không giấu được niềm vui: “Dù cháu chưa nói được, bước chân vẫn run run nhưng thế này là tiến bộ lắm rồi”.

cham_cuu_chua_tu_ky

Châm cứu chữa bại não

TS-BS Nguyễn Thị Tú Anh, Trưởng Khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết mới đây, bé Nguyễn Đức Hoàng (3 tuổi, ngụ Hà Nội) bị liệt tứ chi do viêm đa rễ thần kinh cũng đã khỏi bệnh sau 2 đợt điều trị. Ngoài ra, rất nhiều cháu sau khi điều trị đã trở lại trường học.

Cũng theo bác sĩ Anh, gần 90% bệnh nhân được chữa trị tại đây là bệnh nhân bại não, phần lớn ở thể nặng và rất nặng. Trong đó, trẻ bị liệt tứ chi chiếm khoảng 80% – 90%, liệt nửa người chiếm 5% – 7%, còn lại là liệt hai chân.

18%-21% khỏi bệnh hoàn toàn

Để tạo lập các chức năng vận động, nghe nói, giao tiếp, cải thiện trí nhớ, bệnh nhi được điều trị bằng phương pháp điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt, tập vận động và giáo dục hòa nhập. Theo các bác sĩ ở Bệnh viện Châm cứu Trung ương, họ sẽ tác động, kích thích các huyệt, dưỡng khí, thông kinh lạc… giúp hệ thần kinh trung ương của trẻ phục hồi và dần vận động, giao tiếp được. Liệu trình điều trị một đợt thường kéo dài từ 25-30 ngày, thời gian nghỉ 3-4 tuần rồi lặp lại đợt tiếp theo. Với trẻ bại não, việc điều trị bằng châm cứu thực hiện khi trẻ được 6 tháng tuổi với cân nặng 7-8 kg.

Kết quả theo dõi, đánh giá trên 4.000 bệnh nhi bại não điều trị trong giai đoạn 2009-2011 tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương bằng phương pháp châm cứu phục hồi chức năng cho thấy: tỉ lệ khỏi bệnh hoàn toàn (đi lại, nói, đi học, hòa nhập tốt) chiếm 18% – 21%; cải thiện rõ rệt (ngồi vững, bò, đứng vịn, đứng, đi men, nói thêm từ, hiểu lời nói) chiếm 60% – 75%. Chỉ còn 1% – 5% trẻ không cải thiện do chịu ảnh hưởng bởi một số bệnh lý khác.

PGS-TS Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết bệnh viện miễn hoàn toàn viện phí, tiền thuốc cũng như các loại tiền thủ thuật với những trẻ bại não, tự kỷ, câm điếc hoặc có di chứng viêm não. Chính vì thế, đây là cơ hội để hàng trăm ngàn trẻ mắc bệnh bại não được điều trị phục hồi chức năng, sớm hòa nhập cộng đồng.

Dễ bại não do tai biến sản khoa

Trẻ em bị các bệnh liên quan đến não thường có 15% từ các nguyên nhân trước khi sinh. Đó là người mẹ nhiễm virus (cúm, rubella) khi mang thai dưới 3 tháng, ngộ độc, bệnh tiểu đường, cao huyết áp, dùng thuốc hoặc chụp X-quang trong lúc mang thai. Ngoài ra, từ 40% – 60% là do mẹ gặp tai biến sản khoa, đẻ khó phải can thiệp bằng foocxep, đẻ non, chuyển dạ kéo dài khiến não bị ảnh hưởng dẫn đến di chứng điếc, câm, chậm nói. Số còn lại là do di chứng của viêm não, viêm màng não mủ, dị dạng mạch máu não, sang chấn sọ não.

Theo 24h

Những thói quen xấu gây hai cho hô hấp và tim mạch

Có những thói quen hoặc do tính chất công việc bạn phải tiếp xúc với một môi trường mà bạn tưởng rằng vô hại đối với sức khoẻ, song theo kết quả một cuộc khảo sát mới đây những yếu tố môi trường đó là nguy cơ tiềm ẩn gây bệnh và phá hủy sức khoẻ chúng ta.

Ngồi gần máy móc và thiết bị điện tử thường xuyên gây hại cho tim, phổi

Công việc văn phòng luôn khiến chúng ta bận rộn xung quanh các thiết bị máy móc. Một vài thiết bị không thể thiếu trong các công sở đó là máy tính, máy phôtô coppy và một số thiết bị văn phòng khác được xem là nguyên nhân gây hại cho sức khoẻ, làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do liên quan đến thiếu vận động và stress. Ngoài ra, kết quả khảo sát mới đây về tình trạng sức khoẻ của các nhân viên làm việc trong các văn phòng vừa cho thấy: phòng đặt các loại máy móc phục vụ công việc văn phòng là một trong những nơi không khí chứa nhiều tạp chất và bụi rất có hại cho sức khoẻ hệ hô hấp.

Các nhà khoa học chuyên ngành hô hấp tại Trường đại học Birmingham, Mỹ cho biết: xung quanh chiếc máy phôtô coppy – một thiết bị phổ biến trong các văn phòng – không khí luôn có chứa rất nhiều bụi giấy và chất hoá học có tên gọi VOC rất có hại cho hệ hô hấp. Những người làm việc trong môi trường thường xuyên phải tiếp xúc với máy phôtô coppy thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp do tiếp xúc với các bụi giấy trong không khí. Bên cạnh đó là nguy cơ tắc nghẽn mạch máu do thiếu ô xy dẫn tới tỉ lệ mắc bệnh tim mạch tăng cao. Theo giáo sư Jon Ayres – chuyên khoa hô hấp – Trường đại học Birmingham, sự ô nhiễm không khí xung quanh nơi đặt các máy phôtô coppy hoạt động liên tục còn có thể là nguyên nhân làm gia tăng các trường hợp mắc hen suyễn, đột quỵ, đau tim và thậm chí cả ung thư.

Chạy bộ bên lề đường làm gia tăng nguy cơ viêm nhiễm đường hô hấp

Một cuộc khảo sát của trường đại học Imperial College – thành phố London – Anh tiến hành trên các đường phố ở thủ đô London – Anh mới đây vừa cho biết: những người có thói quen chạy bộ dọc theo đại lộ Marylebone và một số đường phố đông đúc khác ở London đã hít phải một lượng khí ô nhiễm tương đương với việc hút thuốc lá trong vòng 48 phút. Nguyên nhân là bởi khi chạy bộ, hệ hô hấp và hệ tim mạch phải vận động tích cực hơn bình thường, trong khi đó đường phố – nơi các phương tiện giao thông qua lại tấp nập – lại là nơi có nồng độ cao khí thải cacbonic và nhiều khí thải độc hại khác. Những người chạy bộ trên lề đường có nguy cơ hít phải khí thải độc hại cao, đặc biệt là khí thải do quá trình đốt cháy nhiên liệu của các động cơ diesel, dẫn tới nguy cơ bị mắc các bệnh về phổi.

Ngoài ra, kết quả kiểm tra của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Edinburgh – Anh quốc còn cho thấy: những người có thói quen đi bộ hoặc tập thể dục dọc lề đường đông xe cộ qua lại có nguy cơ mắc stress và bệnh tim mạch cao gấp 3 lần bình thường. Xét nghiệm máu ở những người này cho thấy nồng độ protein t-PA thấp hơn bình thường, điều này làm ngăn cản quá trình lưu thông máu và gia tăng tình trạng vón cục trong các mạch máu, dễ dẫn tới bệnh tim mạch.

Nguy cơ nhiễm độc do sử dụng thường xuyên hoá chất tẩy rửa

thoi_wen_xau_co_hai_cho_tim_mach

Nên mở cửa sổ để tiếp nhận không khí trong lành.

Các sản phẩm làm sạch, khử mùi không khí và các hoá chất dùng để tẩy rửa thảm, lau màn hình tivi, máy tính… không hề vô hại như nhiều người vẫn tưởng. Trong thành phần của chúng có chứa rất nhiều hoá chất, khi sử dụng có thể lưu lại trong không khí các hoá chất hữu cơ dễ bay hơi rất có hại cho sức khoẻ có tên gọi là VOCs – một trong những nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh về đường hô hấp, hen suyễn và ung thư. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Curtin – Australia, những hoá chất có trong các sản phẩm làm sạch, tẩy rửa có tác động rất nguy hại đến sức khoẻ trẻ nhỏ, làm gia tăng tình trạng hen suyễn ở trẻ dưới 3 tuổi. Thay vì sử dụng các sản phẩm khử mùi không khí, chúng ta nên mở cửa sổ để tiếp nhận không khí trong lành mỗi ngày.

Nước mưa – yếu tố gây độc

Cùng với quá trình công nghiệp hoá, không khí ngày càng trở nên bị ô nhiễm và hiện tượng mưa axít xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp thế giới. Những cơn mưa này mang theo nó các bụi bẩn, các thành phần hoá chất ô nhiễm do khí thải công nghiệp tích tụ lại dưới các đám mây. Vào mùa hè, thời điểm cuối ngày là thời điểm nồng độ khí ô nhiễm lên cao nhất và những cơn mưa xuất hiện vào thời điểm này mang theo rất nhiều tạp chất ô nhiễm. Chạy bộ ngoài trời mưa hoặc tiếp xúc với nước mưa chứa nhiều khí, bụi ô nhiễm là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các ca mắc bệnh viêm phổi, viêm đường hô hấp tại nhiều quốc gia trên thế giới. Thời điểm tốt nhất để đi dạo bộ ngoài trời đó là sau khi mưa tạnh, đó là lúc không khí vừa được gột sạch bụi bẩn và các hoá chất độc hại đã được trút xuống.

Theo suckhoevadoisong/24h