Tag Archives: nghien cuu

Thói quen giúp tỉnh táo không cần caffeine

Các chất chứa caffeine giúp bạn tỉnh táo những dùng quá nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bạn. Đây là giải pháp thay thế hoàn hảo cho cả gia đình.

1. Uống nước
Thay vì uống nước trái cây, đồ uống có caffeine hay thức uống giàu năng lượng, bạn nên uống một hoặc hai ly nước để thanh lọc cơ thể, làm sạch da và cải thiện hệ tiêu hóa vì nước giúp loại bỏ những chất độc ra khỏi cơ thể. Theo tờ Havard Health Publications cho hay, nước là chất dinh dưỡng duy nhất giúp bạn duy trì phong độ trong những hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian.

thoi-quen-giup-tinh-tao-khong-can-caffeine
Lời khuyên: Bạn nên cho thêm một quả chanh để biến nước trở thành loại thức uống giàu năng lượng tự nhiên với chất điện giải giúp các tế bào sản sinh năng lượng.

2. Ăn các loại chất béo có lợi
Bạn không nên loại toàn bộ chất béo ra khỏi khẩu phần ăn của mình. Các loại chất béo có lợi rất cần thiết để cơ thể hấp thụ các chất chống ô xi hóa. Cơ thể cần chất béo để hấp thụ một số chất ô xi hóa từ ruột vào máu. Ngoài ra, các chất béo này còn giúp cơ thể chống lại một số gốc tự do và tăng cường sự tập trung, tỉnh táo.
Lời khuyên: Để có được mức năng lượng tối đa thì các chất béo từ bơ, dầu ô liu, dừa và cá là tốt nhất.

3. Đi rảo bước
Đi rảo bước mỗi ngày là khởi đầu tốt để tăng mức hoạt động. Luyện tập khiến cơ thể sản sinh epinephrine và norepinephrine, những hoóc môn có thể khiến bạn cảm thấy tràn đầy năng lượng. Tất cả các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người hoạt động nhiều sẽ ít cảm thấy mệt mỏi hơn người hoạt động ít.
Lời khuyên: hãy tập aerobic từ 30 đến 60 phút, 3 đến 5 ngày một tuần để tăng cường năng lượng và sức khỏe tim mạch.

4. Nghe một bài hát bạn ưa thích

thoi-quen-giup-tinh-tao-khong-can-caffeine1
Để nhanh chóng tràn đầy năng lượng, bạn hãy bật bài hát mình ưa thích và bắt đầu nhảy. Theo một nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí thần kinh học châu Âu, âm nhạc sẽ cải thiện tinh thần và phục hồi năng lượng vì nó tiếp thêm sinh lực cho cơ thể bằng cách kích thích một số vùng trên não.

5. Mát xa tai
Mát xa tai tăng cường tuần hoàn máu, vì vậy bạn sẽ khôi phục năng lượng nhanh chóng. Tiến sĩ Art Karno, chuyên gia chữa bệnh bằng phương pháp nắn khớp xương tại California cho hay tai chứa các huyệt có thể kích thích các vùng, tổ chức, hệ cơ quan trong cơ thể. Ông khuyến cáo mọi người nên mát xa toàn bộ tai bao gồm cả các thùy, đồng thời thở ba lần.
Lời khuyên: Bắt đầu ở thùy, sau đó mát xa lên phía trên tai.

6. Tắm nước ấm
Trong khi tắm nước nóng khiến bạn thấy thư giãn, thoải mái thì tắm nước ấm (khoảng 50 độ) sẽ kích thích cơ thể và tăng tuần hoàn máu khiến bạn tỉnh táo hơn. Tim Ferris, tác giả The 4-hour Body cho hay tắm nước ấm có thể thúc đẩy tiêu hóa, tăng năng lượng, hỗ trợ hệ miễn dịch, cải thiện chức năng sinh lý và cho bạn làn da, mái tóc khỏe mạnh.
Lời khuyên: Tắm bình thường sau đó giảm nhiệt độ trong khoảng 5 phút cuối.

Theo sức khỏe đời sống

Giảm rủi ro ung thư da nhờ uống cà phê

Một tách cà phê mỗi ngày có thể giúp hạ thấp rủi ro phát triển bệnh ung thư da phổ biến nhất – ung thư tế bào đáy, theo Daily Mail.

Bác sĩ Jiali Han, giáo sư tại Bệnh viện Brigham and Women (Mỹ) cho biết: “Dữ liệu chúng tôi thu thập được cho thấy số lượng cà phê bạn tiêu thụ có thể hạ thấp rủi ro phát triển bệnh ung thư tế bào đáy”.

giam-rui-ro-ung-thu-da-nho-uong-ca-phe

Bệnh ung thư tế bào đáy mặc dù phát triển chậm nhưng là căn bệnh đáng chú ý và là gánh nặng lên hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Ước tính tại Anh mỗi năm có 80.000 ca mắc bệnh này.

Tổng cộng có 112.897 người tham gia nghiên cứu, trong đó có 22.786 người phát triển bệnh ung thư tế bào đáy trong 20 năm theo dõi.

Theo đó, các nhà nghiên cứu theo dõi ảnh hưởng qua lại giữa việc tiêu thụ cà phê và bệnh ung thư tế bào đáy của các đối tượng, cho thấy việc uống cà phê mỗi ngày giúp hạ thấp nguy cơ phát triển bệnh này.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Nghiên cứu ung thư.

Nguy cơ đột quỵ do hấp thụ nhiều muối

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, ở người cao tuổi, lượng muối hấp thụ quá cao mỗi ngày có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Những nghiên cứu trước đó cho thấy, lượng muối đưa vào cơ thể quá nhiều có thể dẫn đến bệnh cao huyết áp, tuy nhiên chưa có nhận định hay giải thích nào trước đây về mối liên hệ giữa lượng muối cao và bệnh tim mạch và đột quỵ.

dot-quy

Kết quả nghiên cứu tiến hành trong 10 năm, với 2700 người cao tuổi tham gia cho thấy, tỉ lệ nhóm người có lượng muối cao, bị mắc bệnh đột quỵ cao gấp 3 lần so với nhóm người bình thường.

Hãng Reuters trích dẫn một công bố đăng tải trên tạp chí Đột quỵ của Mỹ ngày 26/4, cho biết lượng muối cao có thể nhanh chóng ảnh hưởng huyết áp, không giống với lượng muối có ảnh hưởng lâu dài đến bệnh tim mạch và đột quỵ, do vậy sẽ rất khó khăn để tìm ra mối liên quan giữa chúng.

Tổ chức y tế Thế giới khuyến cáo lượng muối tiêu thụ mỗi ngày tối đa không quá 2000mg. Tuy nhiên nghiên cứu mới nhất lại tham khảo số liệu “không quá 1500mg mỗi ngày” do Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo đưa ra. Nhưng lượng muối ăn trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 3031mg.

Trong 10 năm, có khoảng 235 người thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu, bị đột quỵ. Cụ thể là 66 người trong 558 người có lượng muối trên 4000mg mỗi ngày, bị mắc bệnh đột quỵ; còn trong 320 người có lượng muối dưới 1500mg, chỉ có 24 người bị đột quy.

Đứng đầu dự án nghiên cứu, ông Hannah Gardner, cho biết “Lượng muối cao trong cơ thể tương đối phổ biến và có liên quan đến bệnh đột quỵ.” Ông cho rằng, mặc dù không thể ngay lập tức khẳng định lượng muối cao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến đột quỵ, nhưng thực tế cho thấy sử dụng ít muối sẽ có cuộc sống khỏe mạnh hơn.

Béo phì có tính lây nhiễm

Béo phì là do vi khuẩn gây ra, vậy thì nó có tính lây nhiễm, có thể đến từ một vài nhân tố môi trường không rõ hoặc đến từ cha mẹ.

Một nghiên cứu cho thấy, béo phì do nhiễm trùng vi khuẩn gây ra, chứ không phải do chế độ ăn uống quả tải, ít luyện tập hay nhân tố di truyền, điều này có thể ảnh hướng sâu rộng tới hệ thống y tế công cộng, ngành y dược và ngành chế biến thực phẩm.

beo-phi-co-tinh-lay-nhiem

Các nhà khoa học thế giới đã nghiên cứu trong vòng 8 năm, phát hiện này đã giải thích mối liên hệ giữa vi khuẩn đường ruột với béo phì.

Các nhà nghiên cứu Thượng Hải đã tìm ra vi khuẩn nhân loại liên quan tới béo phì và đã nuôi thử nghiệm trên chuột bạch, rồi tiến hành so sánh sự gia tăng cân nặng với chuột không nuôi vi khuẩn. Mặc dù chuột không nuôi vi khuẩn được ăn uống với chế độ giàu chất béo và không cho luyện tập nhưng lại không có triệu chứng béo phì.

Giáo sư Zhao Liping thuộc đội nghiên cứu của trường Đại học Giao thông Thượng Hải, người triển khai nghiên cứu này, cho biết: “Đây là một hiện tượng vô cùng quan trọng. Nó là bằng chứng còn thiếu cuối cùng chứng minh vi khuẩn gây béo phì”.

Nhà sinh vật học David Weinkove của trường Đại học Durham cho rằng: “Nếu béo phì là do vi khuẩn gây ra, vậy thì nó có tính lây nhiễm, có thể đến từ một vài nhân tố môi trường không rõ hoặc đến từ cha mẹ. Theo ông, nghiên cứu của giáo sư Zhao đã mở đường cho việc trị bệnh béo phì bằng dược liệu”.

Nguồn giáo dục

Những bệnh do máy in trong văn phòng gây ra

Ngồi cạnh một chiếc máy in laser trong phòng làm việc, người ta lờ mờ đoán rằng nó có thể gây hại cho sức khỏe. Đúng vậy, hoạt động của máy in có thể sinh ra những hạt siêu mịn ảnh hưởng đến hệ hô hấp của chúng ta.

Mặc dù lĩnh vực nghiên cứu về tác động của máy in đối với sức khỏe vẫn ở giai đoạn sơ khai nhưng các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, máy in laser có thể tạo ra “trận mưa” các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí. Chúng ta có thể hít sâu vào phổi, về lâu dài đây là nguy cơ đối với sức khỏe.

nhung-benh-do-may-in-trong-van-phong-gay-ra

Một chuyên gia về lĩnh vực này, Giáo sư Lidia Morawska – Giám đốc Phòng thí nghiệm quốc tế về chất lượng không khí và y tế tại ĐH công nghệ Queensland, Australia bắt đầu từ một nghiên cứu năm 2007 phát hiện ra rằng, máy in laser văn phòng thải ra một lượng đáng kể hạt siêu mịn. “Chúng tôi thấy rằng một số máy in trong văn phòng phát thải đáng kể, vì vậy đã sơ tán chúng ra các hành lang, nơi có hệ thống thông gió tốt hơn”, GS nói.

Đúng như tên gọi, đó là những hạt siêu mịn, đường kính chưa đầy 0,1 micromet, tức là kích thước này tương đương 1 milimet chia thành 10.000 phần. Chu trình hình thành hạt như sau: Khi mực in và giấy đi qua các con lăn máy của máy in đang nóng, hóa chất ở dạng hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trôi vào không khí. Các hợp chất này sau đó phản ứng với ozone trong không khí và ngưng tụ, hình thành các hạt siêu mịn. Ở đây, nhiệt độ của máy in đóng vai trò chính, nhiệt độ càng cao thì các hạt được sinh ra càng nhiều. Tùy từng loại máy, đời máy in hoặc hoạt động của máy in ít hay nhiều mà lượng hạt sinh ra ở các mức độ khác nhau.

Tuy nhiên, tác hại của các hạt này vẫn là đề tài đang được nghiên cứu nhưng có bằng chứng cho thấy, các hạt có kích thước tương tự từ các nguồn khác có thể ảnh hưởng xấu đến phổi và tim. Các nguồn khác ở đây có thể kể đến như khí thải xe, đốt gỗ, nến và nấu ăn.

Đến nay thế giới vẫn chưa có các nghiên cứu quy mô lớn nhằm trả lời câu hỏi về sự an toàn của máy in văn phòng, vì thế Tổ chức Y tế Thế giới cũng chưa đưa ra bất kỳ hướng dẫn về mức độ an toàn của các hạt siêu mịn. Tuy nhiên, để bảo vệ sức khỏe, tránh nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, chuyên gia Morawska đã có lời khuyên để giảm thiểu tiếp xúc với các hạt siêu mịn từ máy in laser:

– Hãy chắc chắn rằng văn phòng lưu thông gió tốt với bên ngoài.

– Nếu có thể, hãy để máy in mà nhiều người sử dụng ở khu vực thông gió tốt.

– Tránh đứng gần khi máy in đang hoạt động.

– Những người có bệnh hen suyễn hoặc bệnh tim, tốt nhất không nên ngồi gần máy in hoạt động công suất cao.

Theo gia đình

Nguyên nhân người béo phì rất khó giảm cân

Ngay cả khi không béo phì, việc duy trì trọng lượng cơ thể đã có thể là một cuộc đấu tranh bởi sự cám dỗ của những món ăn ngon hay làm sao để tập thể dục đều đặn. Nhưng đối với người béo phì “cuộc chiến” này còn cam go hơn rất nhiều.

Theo một nghiên cứu mới đây, sau một thời gian tiêu thụ quá nhiều chất béo, cơ chế hoạt động của dạ dày cũng khó để trở lại như bình thường

nguyen-nhan-nguoi-beo-phi-rat-kho-giam-can

Nghiên cứu được thực hiện ở chuột để biết rằng cuối cùng, việc tiêu thụ nhiều chất béo có ảnh hưởng như thế nào trong việc giảm cân. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những tác động từ Leptin-kích thích tố giúp cân bằng năng lượng và có nhiệm vụ ra tín hiệu cho não biết cơ thể đã no, từ đó, giúp kiềm chế lượng thức ăn vào cơ thể.

Tác giả chính của nghiên cứu này, GS. Amanda Page cho biết: “Với những con chuột có chế độ ăn giàu chất béo, kích thích tố Leptin đã bớt nhạy trong việc ra tín hiệu cho não biết là cơ thể đã no. Có nghĩa là những người béo phì sẽ phải ăn nhiều hơn người bình thường thì mới có cảm giác no, vì thế họ rất khó giảm cân”.

Các nhà nghiên cứu đã chia chuột thành 3 nhóm và thử nghiệm trong 24 tuần. Một nhóm chuột được nuôi với chế độ ăn uống đạt chuẩn, một nhóm tiêu thụ nhiều chất béo, còn một nhóm tiêu thụ nhiều chất béo trong thời 12 tuần đầu, sau đó, tiêu thụ một chế độ ăn đạt chuẩn trong 12 tuần tiếp theo. Kết quả cho thấy rằng tác dụng của Leptin đã bớt nhạy ở những con chuột có chế độ ăn giàu chất béo sau đó chuyển sang chế độ ăn đạt chuẩn.

Điều này có thể giải thích tại sao người béo lại thường quay lại với chế độ ăn giàu chất béo như trước.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh(CDC), hơn 1/3 người Mỹ được coi là béo phì. CDC cho rằng việc nắm được chỉ số khối của cơ thể sẽ tìm ra cách để đạt được và duy trì một trọng lượng khỏe mạnh và hoạt động thể chất thường xuyên có thể giúp chống lại béo phì. Nhưng trên hết, người béo phì cần có mục tiêu để có thể giảm cân dễ dàng hơn.

Mai Phương

Theo Medicaldaily

Bí quyết giúp giảm thiểu ung thư cổ tử cung

Phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ, tập thể dục.

Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học của Trường Imperial Luân Đôn, Anh tiến hành chỉ ra rằng, phụ nữ có thể giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách ăn uống điều độ để có được chỉ số trọng lượng cơ thể bình thường, tập thể dục ít nhất 40 phút mỗi ngày và uống cà phê. Theo các nhà nghiên cứu, con số ung thư cổ tử cung có thể giảm đến một nửa nếu các chị em theo được những quy tắc sống đơn giản trên.

bi-quyet-giup-giam-thieu-ung-thu-co-tu-cung

Với hơn 6.500 trường hợp chẩn đoán mỗi năm, ung thư cổ tử cung, đôi khi còn gọi là ung thư màng trong tử cung, là một trong những loại ung thư phụ khoa thường gặp nhất. Ung thư cổ tử cung thường liên quan đến việc xuất hiện của một lượng estrogen quá lớn trong cơ thể, tạo ra sự mất cân bằng màng tử cung, màng nhầy bao phủ phía trong tử cung.

Theo TS. Teresa Norat, phụ trách nghiên cứu này: “Nếu bạn tập thể dục hàng ngày và không bị quá cân, như thế bạn giảm được đáng kể nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, bạn sẽ cải thiện được nhiều tình trạng sức khỏe nói chung, điều mà không thể bỏ qua. Tuy vậy, ở Anh, chỉ có 56% phụ nữ làm theo những lời khuyên này và chỉ có 39% phụ nữ không bị thừa cân”.

Đây không phải lần đầu một nghiên cứu tìm ra tác dụng chống ung thư của cà phê. Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ đã cho biết rằng, cứ uống 3 tách cà phê mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ ung thư da. Mới đây hơn, một nghiên cứu của Mỹ đã chỉ ra rằng, cà phê không khử có một tác dụng bảo vệ họng của chúng ta. Còn theo các nhà khoa học Thụy Điển, trong trường hợp ung thư cổ tử cung, các bệnh nhân nữ có thể giảm nguy cơ tái nhiễm bằng cách uống cà phê. Như vậy, cà phê có nhiều tác dụng trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung.

Theo Sức khỏe đời sống

Những thực phẩm dành cho bệnh nhân ung thư vú

Sau hai thập kỷ chứng kiến sự gia tăng số người bị ung thư vú, số người bị bệnh đang giảm đi trong những năm gần đây. Tuy nhiên, chuyên gia đang ra sức kiếm tìm những con đường mới để cứu sống tính mạng của bệnh nhân.

“Chúng ta phải có cái nhìn toàn diện về khả năng sống của người bệnh,” BS. Alison Estabrook, trưởng nhóm phẫu thuật vú tại St. Luke’s-Roosevelt và là giám đốc Trung tâm Ung thư vú nói. “Rõ ràng là thói quen ăn uống tốt sẽ làm tăng khả năng không bị ung thư vú hoặc không bị tái phát.”

Không phải bác sĩ ung thư nào cũng nắm rõ mối liên quan giữa dinh dưỡng và tuổi thọ, nhưng các bác sĩ chuyên về dinh dưỡng cho biết có một số loại thực phẩm mà phụ nữ nên đưa vào chế độ ăn của mình để làm tăng khả năng sống.

Đậu nành
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu
BS Barry Boyd, sáng lập viên của chương trình y học tích hợp tại Bệnh viện Greenwich-Hệ thống Y tế Yale, cho rằng phụ nữ không còn phải sợ  ăn đậu nành.

“Đã từng có mối lo ngại rằng các thành phần của đậu nành có những đặc tính giống estrogen có thể tác động đến sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú,” Boyd nói. “Khoa học đã chứng mình đậu nành không chỉ không gây nguy cơ mà còn mang lại lợi ích.”

Một nghiên cứu trên tờ American Journal of Clinical Nutrition đã tìm hiểu về khẩu phần đậu nành ở 9.500 phụ nữ có chẩn đoán ung thư vú tại Mỹ và Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu, việc tiêu thụ các isoflavon, chủ yếu có trong đậu nành, đã “làm giảm đáng kể nguy cơ tái phát” ở những bệnh nhân ung thư vú có chẩn đoán là ung thư xâm lấn.

Nghiên cứu mới được công bố năm nay trên tờ Asian Pacific Journal of Cancer Prevention cũng cho kết quả tương tự. Phân tích hơn 11.000 bệnh nhân ung thư vú đã cho kết luận là ăn đậu nành có liên quan với giảm nguy cơ tử vong và giảm số ca tái phát do bệnh.

Hội Ung thư Mỹ, vốn thận trọng hơn trong các khuyến nghị, cũng lưu ý rằng đậu nành là một nguồn protein thay thế tốt, “phụ nữ bị ung thư vú chỉ nên ăn với lượng vừa phải” và không nên dùng những loại thuốc viên, bột hoặc chế phẩm bổ sung chứa nhiều isoflavon.

Cải xoăn, khoai lang và bí ngồi
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu1
Ăn những thực phẩm giàu carotenoid đã được biết là có liên quan với giảm nguy cơ tái phát ung thư vú. Carotenoid là sắc tố tự nhiên có trong các loại thực phẩm có màu vàng cam (như cà rốt, khoai lang và bí ngồi) và những loại rau lá xanh thẫm như cải xoăn, cải bó xôi và cải Thụy Sĩ.

Một nghiên cứu năm 2009 đăng trên tạp chí Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention đã cho thấy tăng lượng carotenoid có liên quan với “khả năng sống sau khi bị ung thư vú cao hơn.” Kết quả nghiên cứu dựa trên một phần của Nghiên cứu Lối sống và ăn uống lành mạnh của phụ nữ, được sự tài trợ của Các Viện y tế quốc gia Mỹ.

Để tăng luợng carotenoid, BS Mitchell Gaynor, sáng lập viên tổ chức Gaynor Integrative Oncology, khuyên bệnh nhân ăn nhiều các loại rau thuộc họ cải. : “Ngày nay chúng ta hiểu ung thư tương đối khác với những năm 1970. Chúng ta đã biết rằng một số loại thực phẩm khiến cho cơ thể trở nên không thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Mục tiêu là kiềm chế tế bào ung thư, và những gì chúng ta ăn vào có thể tạo nên sự khác biệt.”

Ví dụ về những loại rau thuộc họ Cải gồm súp lơ xanh, cải xoăn, bắp cải và súp lơ.

Cá hồi, cá ê-phin và cá tuyết

Ăn các loại cá giàu axít béo omega-3 cũng cải thiện tiên lượng của ung thư vú. Những loại cá này gồm cá hồi, cá ê-phin, cá tuyết, cá bơn halibut và cá mòi.

Nghiên cứu năm 2011 trên tờ Journal of Nutrition cho thấy các a xít béo EPA và DHA từ cá  “ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư vú” và làm giảm “tiến triển của khối u vú.” Những người đã chẩn đoán và điều trị ung thư vú giai đoạn đầu và có lượng EPA vào DHA cao hơn giảm được xấp xỉ 25% nguy cơ tái phát.

Điều quan trọng cần lưu ý là lợi ích chỉ gắn liền với việc ăn cá, chứ không phải với uống bổ sung dầu cá.

Gaynor cho rằng ăn cá giàu omega-3 cũng tốt cho sức khỏe vì nó hỗ trợ cho hệ miễn dịch và làm giảm nguy cơ bệnh tim và tiểu đường của phụ nữ.

Tuy nhiên Hội Ung thư Mỹ cảnh báo không nên ăn quá nhiều những thực phẩm giàu chất béo này: “Chế độ ăn giàu chất béo thường cũng chứa nhiều calo và có thể gây béo phì, mà béo phì lại làm tăng nguy cơ của nhiều loại ung thư.”

Đậu đỗ và ngũ cốc nguyên cám
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu2
“Một chế độ ăn giàu chất xơ làm giảm tử vong nói chung ở bệnh nhân ung thư vú,” đó là ý kiến của BS. Keith Block, giám đốc y tại tại Trung tâm điều trị ung thư tích hợp ở Skokie, bang Illinois (Mỹ).

Theo BS. Block thì chất xơ cớ lợi là vì nó có thể giúp kiểm soát sự thèm ăn và làm giảm lượng calo hấp thu. Việc đạt và duy trì cân nặng bình thường, nhất là sau khi mãn kinh, được xem là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sống.

“Khi xét đến bệnh ung thư, thì phần là do tăng cân,” bà nói. “Bạn càng béo, lượng estrogen lưu hành trong cơ thể sẽ càng nhiều và càng có nhiều estrogen thì nguy cơ ung thư vú càng tăng.

“Nhưng khả năng sống sau khi bị ung thư không chỉ phụ thuộc vào việc ăn một loại quả hay rau nào đó, mà nó liên quan đến việc lựa chọn lối sống lành mạnh, bao gồm cả tập thể dục. Chế độ ăn chỉ là một phần của toàn bộ bức tranh.”

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Nhận biết ung thư ruột

Ung thư ruột là một trong những loại ung thư có khả năng điều trị thành công nếu được phát hiện sớm. Dưới đây là cách giúp giảm thiểu nguy cơ từ căn bệnh này.

1. Nhận biết các dấu hiệu bệnh

Ung thư ruột có một vài dấu hiệu cảnh báo sớm và phát triển nhiều năm trước khi lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Đối với nhiều người, đi ngoài ra máu thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Nếu phát hiện dấu hiệu này hay có những triệu chứng khác thường trong thói quen vệ sinh, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Bác sĩ Rosemary Lester tại Victoria’s Chief Health còn cho biết: “Những dấu hiệu khác bao gồm tiêu chảy hoặc táo bón, chướng bụng và thường xuyên cảm thấy mệt mỏi”.

ung-thu-duong-mat

2. Chú ý tiền sử mắc bệnh của các thành viên trong gia đình

Cần có những hiểu biết về bệnh sử của gia đình bạn. Đối với một số người, ung thư ruột có thể di truyền trong gia đình bởi những tổn thương trong gene truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu một người họ hàng gần đã mắc bệnh này, đặc biệt nếu họ trẻ hơn 50 tuổi khi được chẩn đoán bệnh, bạn cần trao đổi với bác sĩ của mình.

3. Thường xuyên kiểm tra sàng lọc ung thư ruột

Việc kiểm tra thường xuyên nhằm phát hiện polyp và ung thư ở giai đoạn đầu, tạo điều kiện cho việc chữa trị sau này. Phó giáo sư Graham Newstead từ Bowel Cancer Australia khuyến khích mọi người tham gia xét nghiệm FOBT (faecal occult blood test – xét nghiệm máu ẩn trong phân) bởi việc này rất đơn giản, không đau đớn, đồng thời tỷ lệ sống sót khoảng 90% đối với những người được chữa trị sớm.

4. Giảm lượng cholesterol trong cơ thể

Thuốc statins nhằm giảm cholesterol thường được những bệnh nhân tim mạch sử dụng. Tuy nhiên, hiện thuốc này được cho là làm giảm nguy cơ ung thư ruột khoảng 82% trong 5 năm. Đây chính là kết luận của nhóm bác sĩ tại Bệnh viện đại học Norwich, những người chứng minh mối liên hệ giữa hàm lượng cholesterol cao và ung thư ruột. Mặc dù vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa nhưng việc giảm cholesterol vẫn tốt cho sức khỏe ở nhiều phương diện khác nhau.

5. Bổ sung nhiều chất xơ

Các nhà nghiên cứu đã so sánh số liệu từ 2 triệu người và nhận thấy việc tăng cường hấp thụ chất xơ khoảng 10 g một ngày có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư ruột khoảng 10%. Dường như chất xơ từ ngũ cốc cung cấp sự bảo vệ nhiều hơn từ trái cây và rau củ, vì vậy nên ăn nhiều bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt, gạo lức. Theo các bác sĩ, chất xơ giảm thời gian những chất thải tồn tại trong ruột và kích thích sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột.

6. Ăn đậu hạt và trái cây khô

Một nghiên cứu cho thấy việc ăn đậu hạt các loại như đậu lăng và đậu đỏ 3 lần một tuần giảm thiểu sự hình thành polyp trong ruột tới 30%. Theo tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Yessenia Tantamango, đậu hạt, trái cây khô và gạo lức chứa hàm lượng chất xơ cao, được biết đến với tác dụng làm giảm các tác nhân gây ung thư, do đó chúng trở thành những “vũ khí” lợi hại trong việc chống ung thư ruột.

7. Chú ý tới chế độ ăn uống, giảm béo

Béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột, đặc biệt đối với nam giới. Tuân theo một chế độ ăn uống hợp lý có thể ngăn ngừa tới 1/3 khả năng ung thư ruột. Các chuyên gia cũng khuyến cáo việc hạn chế sử dụng rượu, caffeine và thịt đỏ. Cần giảm hấp thụ thịt đỏ và những loại thịt đã chế biến sẵn như xúc xích, thịt muối xông khói, giăm bông bởi chúng có liên quan tới việc gia tăng nguy cơ ung thư ruột.

Theo VnExpress

Tự khám bệnh ở nhà với các chị em

Đôi lúc, chị em cũng nên “cởi” khi một mình để tự khám bệnh cho cơ thể. Ngoài việc tự kiểm tra ngực để tầm soát nguy cơ ung thư, tự khám cũng cho bạn biết được một số bệnh khác dưới đây.

Buồng trứng đa nang

Theo giáo sư Helena Teede thuộc tổ chức sức khỏe phụ nữ The Jean Hailes Foundation, thông thường, lông mu sẽ phát triển thành hình tam giác nhưng nếu của bạn có hình vuông, phần trên rốn và đùi rậm rạp thì đó có thể là dấu hiệu của buồng chứng đa nang.

tu-kham-benh

Dấu hiệu tiểu đường

Sự gia tăng lượng glucose trong máu khiến tuyến tụy phải thường xuyên tiết ra insulin. Theo thời gian, tình trạng này sẽ đưa đến hiện tượng kháng insulin. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường túyp 2, tim mạch và béo phì.

Trong cuốn sách The Skinny, tiến sĩ Louis Aronne cho biết một triệu chứng luôn là dấu hiệu kháng insulin là những nốt xuất hiện trên vùng da mặt, cổ, nách và những vùng da có nếp gấp, vùng da nhăn. Các dấu hiệu khác gồm mảng đen và dày bất thường xuất hiiện thường ở quanh cổ, dưới cánh tay, hố nách, trên khuỷu tay, đầu gối và các khớp ngón tay. Nếu có những dấu hiệu trên, tốt nhất bạn nên chuyển sang chế độ ăn giàu protein để có chỉ số đường huyết (GI ) thấp.

Cholesterol cao

Thường những đốm vàng hoặc trắng trên mi mắt gọi là xanthomata có thể là dấu hiệu nhận biết. Nhưng Giáo sư James Tatoulis – cố vấn y tế của quỹ Heart Foundation – cho biết sự tích tụ chất béo tương tự có thể xảy ra ở vùng khác trên cơ thể như lưng, mông, đùi hoặc trên cả dây chằng khu vực khuỷu tay, khớp ngón tay, đầu gối…

Nguy cơ ung thư hắc tố
Tiến sĩ David Duffy thuộc viện Nghiên cứu Y học Queensland nói “Những người có trên 100 nốt ruồi trên cơ thể thì có nguy cơ hình thành khối u ác tính cao hơn rất nhiều so với người bình thường.

Theo NLĐ

Ăn tỏi để giảm nguy cơ ung thư phổi

Nguy cơ ung thư phổi giảm 44% khi ăn tỏi sống ít nhất 2 lần/tuần và giảm 30% ngay cả khi đối tượng có hút thuốc, theo Daily Mail.

Nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa dịch bệnh tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) đã so sánh 1.424 bệnh nhân ung thư phổi và 4.500 người trưởng thành khỏe mạnh.

Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Cancer Prevention Research cho thấy, những người ăn tỏi sống ít nhất 2 lần/tuần thì giảm được 44% nguy cơ bị ung thư phổi.

an-toi

Ngay cả khi đối tượng hút thuốc hoặc bị phơi nhiễm với dầu ăn ở nhiệt độ cao, yếu tố vốn được cho là có thể dẫn đến bệnh ung thư phổi thì nguy cơ bị bệnh này cũng giảm 30%.

Dù vậy, nghiên cứu không nhận thấy rõ tác dụng tương tự khi đối tượng ăn tỏi đã nấu chín.

Nghiên cứu trước đó cho thấy, thành phần quan trọng của tỏi là hóa chất allicin được sản sinh khi thái tỏi. Hóa chất này làm dịu đi tình trạng viêm nhiễm trong cơ thể và hoạt động như chất chống ô xy hóa, làm giảm những hư hại từ gốc tự do đối với các tế bào của cơ thể.

Một nghiên cứu khác phát hiện tỏi có thể ngăn ngừa bệnh cảm thông thường, các siêu vi khuẩn và ngay cả bệnh sốt rét.

Theo Thanh Niên Online

Trẻ em hưởng 40% trí thông minh từ bố mẹ

Phát hiện từ một cuộc nghiên cứu lớn chưa từng có về trí thông minh của trẻ nhỏ đã “đổ thêm dầu” vào cuộc tranh cãi rằng trí thông minh là sản phẩm của tự nhiên hay do di truyền.

Tiến sĩ Beben Benyamin, từ Đại học Queensland và cộng sự đã phân tích ADN từ 18.000 trẻ em tuổi từ 6 đến 18 ở Australia, Hà Lan, Anh và Mỹ, cùng với chỉ số thông minh IQ của các em. Họ tìm hiểm mối liên quan giữa sự khác biệt cấu trúc trong ADN của các em nhỏ với sự khác biệt trong chỉ số IQ.

Kết quả cho thấy, từ 20 đến 40% IQ của trẻ là do yếu tố gene, thấp hơn con số dự báo 40-50% như các nghiên cứu trước kia chỉ ra.

huong_tri_thong_minh_tu_ba_me_01

Ảnh: io9.com.

Cụ thể, một gene có tên gọi FNBP1L có liên hệ mật thiết với trí thông minh của trẻ nhỏ. Cũng chính gene này trước đây được khẳng định là gene có ý nghĩa nhất chỉ báo trí thông minh ở người trưởng thành.

Tiến sĩ Beben cho biết: “Ước ượng về tỷ lệ đóng góp của ADN lần này thấp hơn các nghiên cứu trong gia đình, nhưng nó cũng nhất quán với kết luận rằng trí thông minh thủa nhỏ là do thừa kế”.

Điều đó cũng có nghĩa có thể rất nhiều gene góp phần vào trí thông minh ở trẻ, mỗi gene một ít, nhưng cộng hưởng tạo nên tác dụng, nghiên cứu phỏng đoán.

Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ là rất quan trọng, bởi IQ là chỉ số tốt để chỉ báo về tuổi thọ, trình độ học vấn và thu nhập khi trưởng thành, giáo sư Benyamin cho biết.

Theo vnexpress

Phương pháp mới chữa cận thị không cần mổ laser

Trong tương lai không xa, các nhà khoa học sẽ bào chế thuốc nhỏ mắt để chữa trị cận thị mà không cần mang kính.

Các nhà khoa học Anh đã phát hiện ra 24 loại gene chứa thông tin về chứng cận thị, mở đường cho việc bào chế thuốc nhỏ mắt để chữa trị mà không cần mổ laser.

phuong_phap_moi_chua_can_thi_khong_can_mo_laser

Đó sẽ là một loại thuốc ngăn ngừa chứng cận thị hoặc không làm cận thị gia tăng và có thể được sử dụng rộng rãi. Điều này sẽ giúp giảm một khoản chi phí đáng kể trong việc mổ laser chữa cận hay mua kính áp tròng sử dụng. Quan trọng hơn, các thế hệ tương lai sẽ không còn có nguy cơ gặp phải biến chứng của cận thị, dẫn đến mù lòa.

Gần 3 năm trước, giáo sư Chris Hammond thuộc ĐH Hoàng đế London (Anh) đã phát hiện ra gene đầu tiên gây ra bệnh cận thị. Được gọi là RASGRF1, gene này có vai trò quan trọng trong việc phát triển mắt và truyền các tín hiệu thị giác lên não để xử lý. Khi gene này bị lỗi, nhãn cầu có thể to ra, làm các vật ở xa có vẻ nhòa hoặc mờ đi.

Giáo sư Chris Hammond chia sẻ:“Nhiều năm qua chúng tôi đã biết yếu tố quan trọng nhất trong chứng cận thị là có cha mẹ cận thị. Đây là lần đầu tiên chúng tôi xác định được những gene có liên quan”.

Ông cũng nói thêm, ta có thể sử dụng liệu pháp gene – tiêm những gene khỏe mạnh vào mắt nhưng theo ông: “Liệu pháp gene là một can thiệp lớn. Thay vào đó, chúng tôi đang tìm cách bào chế một loại thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc viên can thiệp vào tiến trình sinh học dẫn đến cận thị”.

Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 15 năm nữa, một loại thuốc ngăn ngừa chứng cận thị hoặc không làm cận thị gia tăng có thể được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nghiên cứu và thực hiện những cuộc thử nghiệm nghiêm ngặt trước khi sử dụng rộng rãi loại thuốc này.

Các gene không phải là yếu tố duy nhất gây ra sự bùng phát của cận thị. Lối sống của một đứa trẻ cũng đóng vai trò lớn, nếu dành quá nhiều thời gian ngồi trước màn hình vi tính hay đọc sách trong điều kiện thiếu ánh sáng cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh cận thị.

Nguồn tham khảo: Dailymail
Theo Kênh 14

Tế bào não tăng dẫn đến tự kỷ

Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia Đại học California (UOC), Mỹ phát hiện thấy, gia tăng tế bào não là thủ phạm làm tăng bệnh tự kỷ ở trẻ nhỏ. Cụ thể, nếu não của trẻ sản xuất quá nhiều tế bào, nhất là trong vùng thùy não trước, nơi đảm nhận xử lý cảm xúc và truyền thông sẽ làm tăng rủi ro mắc bệnh.

tre_e_tu_ky

 Ảnh minh họa

Kết luận này trùng khớp với thực tế, những đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ thường có kích thước vùng não nói trên lớn hơn những đứa trẻ bình thường. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện thấy bệnh tự kỷ phát triển ngay từ giai đoạn mang thai, nhất là từ tháng thứ 4 trở đi, khi các tế bào não ở vùng thùy trán trước phát triển mạnh. Nghiên cứu ở 6 đứa trẻ không mắc bệnh và 7 đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ, tất cả đã chết, nhóm đề tài đã phát hiện thấy vùng thùy não trước ở những đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ có số lượng tế bào tăng tới 67% so với những đứa trẻ khỏe mạnh và từ sự gia tăng về số lượng tế bào này đã gây gián đoạn chức năng của não. Ngoài ra, có từ 10 – 20% số ca mắc bệnh là do yếu tố di truyền, yếu tố khách quan trong giai đoạn thai kỳ mà đến nay khoa học chưa giải thích được. Phát hiện trên mở ra một hướng đi mới, giúp hiểu thêm về bệnh tự kỷ, căn bệnh đến nay vẫn chưa có thuốc đặc trị.

Theo suckhoevadoisong

Em bé nhẹ cân có thể bị tự kỷ

Sau nghiên cứu ở một nhóm trẻ song sinh, nhóm chuyên gia ở Đại học Northwestern, Mỹ (NU) phát hiện thấy những đứa trẻ sinh ra nhẹ cân có tỷ lệ mắc bệnh tự kỷ hay còn gọi là rối loạn phổ tự kỷ (ASD) cao hơn so với những đứa trẻ có trọng lượng bình thường.

be_nhe_Can_bi_tu_ky

Ảnh minh họa (nguồn Internet)

Trước nghiên cứu trên, khoa học đã phát hiện thấy trong những ca song sinh nếu một trẻ mắc bệnh tự kỷ thì đứa trẻ còn lại cũng sẽ mắc bệnh theo vì chúng có tới 100% gen giống nhau, nhưng trong nghiên cứu của NU, các nhà khoa học còn tìm thấy những nguyên nhân khác mang tính môi trường.

Theo đó, nếu trọng lượng sơ sinh giảm 100g thì tỷ lệ mắc bệnh ASD lại tăng tới 13%. Kết luận này được dựa vào nghiên cứu ở 3.725 cặp song sinh tại Thụy Điển, trong những cặp song sinh này, có cặp trọng lượng khi sinh chênh nhau tới 400g (khoảng 15%) và đây chính là yếu tố làm tăng bệnh ASD.

Theo suckhoevadoisong

Thuốc chữa động kinh củng là nguyên nhân gây tự kỷ

Cho đến nay nguyên nhân nào gây ra bệnh tự kỷ vẫn còn là bí mật với các nhà khoa học và thầy thuốc. Như mới đây một nhóm nghiên cứu chung của các nhà khoa học Liverpool và Manchester, Anh đã phát hiện, có thể thuốc điều trị động kinh là một trong các nguyên nhân có thể gây ra tự kỷ ở trẻ em.

thuoc_dong_kinh

Trong số 632 trẻ nghiên cứu, có một nửa số trẻ có mẹ dùng thuốc điều trị động kinh trong thời kỳ mang thai, trong đó 64 bà mẹ dùng valproate, 44 dùng lamotrigine, 76 bà mẹ dùng carbamazepin và 65 bà mẹ dùng thuốc điều trị động kinh khác. Trong số này họ đã phát hiện 9 trẻ mắc bệnh tự kỷ.

Nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra rằng: mẹ dùng thuốc chống động kinh như valproate khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ tự kỷ cho trẻ lên gấp 7 so với không dùng. Bản thân valproate cũng có nguy cơ gây bệnh tự kỷ cao hơn các loại thuốc chống động kinh khác.

Theo suckhoevadoisong

Hi vọng chữa tự kỷ ở trẻ

Nghiên cứu mới đây đã tìm ra vùng não chi phối nhận thức xã hội, điều này có thể mang lại lợi ích cho điều trị bệnh tự kỷ ở trẻ.

hi_vong_chua_tu_ky

Các nhà khoa học thuộc Viện công nghệ Massachusetts và Trường đại học Yale (Mỹ) đã tiến hành chụp cắt lớp não của 13 trẻ từ 6 – 11 tuổi trong khi chúng được nghe các câu chuyện. Tại thời điểm nghe nội dung câu chuyện, nhóm nghiên cứu nhận thấy có các hoạt động gia tăng ở những vùng não đặc trưng. Khi câu chuyện chuyển sang chủ đề khác như mô tả thế giới vật chất hoặc hình ảnh trực quan, thì hoạt động của những vùng não này giảm.

Theo nhóm nghiên cứu, kết quả này là nền tảng cho những nghiên cứu về phát triển xã hội không bình thường như trong bệnh tự kỷ. Trẻ bị bệnh tự kỷ tỏ ra rất khó khăn trong việc hiểu những suy nghĩ của người khác. Việc hiểu rõ về cơ chế nhận thức ý nghĩ của các vùng não đặc trưng có thể giúp tìm ra những sai sót trong não của bệnh nhân tự kỷ, dẫn tới những can thiệp chính xác vào hệ thần kinh, giúp cải thiện tình trạng bệnh cho bệnh nhân.

Lớn tuổi sinh con , trẻ có thể bị tự kỷ

Nam giới làm cha khi đã nhiều tuổi dễ truyền các đột biến di truyền mới cho con.

lon_tuoi_de_sinh_con_tu_ky

Một nghiên cứu mới đây cho thấy nam giới sinh con khi đã nhiều tuổi dễ truyền các đột biến di truyền mới cho con, làm tăng nguy cơ trẻ bị mắc các rối loạn như tự kỷ và tâm thần.

Các nhà nghiên cứu ở Iceland đã kiểm tra bộ gen của 78 gia đình để tìm kiếm các đột biến mới khi chúng lần đầu xuất hiện và nghiên cứu xem số lượng những đột biến ở trẻ có liên quan đến tuổi của bố.

Trong 78 gia đình này có 44 trẻ bị tự kỷ và 21 trẻ bị tâm thần. Trong phần lớn các gia đình, bố mẹ không mắc những rối loạn này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy cứ tăng mỗi 1 tuổi thì người bố được dự đoán là sẽ truyền thêm hơn 2 đột biến gen mới sang cho con. Hơn 97% những đột biến mới này ở trẻ được giải thích là do có bố lớn tuổi.

Nghiên cứu được đăng ngày 22/8 trên tạp chí Nature.

Theo 24h