Tag Archives: não bộ

Có nên cho thai nhi nghe nhạc ?

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu chứng minh lợi ích của việc nghe nhạc đối với sự phát triển não bộ của thai nhi. Nhưng nếu sử dụng tai nghe không đúng cách sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thính giác của bé.

Nghe nhạc nhiều, bé có thông minh hơn ?

Trong vài thập kỷ qua, nhiều nhà khoa học trên thế giới như Chapman (1975 – Đại học New York, Mỹ), Shahidullah and Hepper (1992), đã nghiên cứu về lợi ích của việc cho bé nghe nhạc từ trong bào thai.
Theo hai nhà khoa học này, não bé sẽ phát triển theo chiều hướng tốt, cải thiện giấc ngủ bé sau sinh, phát triển tính cách bé về sau nếu cho nghe nhạc đúng cách.

co-nen-cho-thai-nhi-nghe-nhac

Nghe nhạc quá to ảnh hưởng đến thính giác của thai nhi từ trong bụng mẹ

Tiến sĩ Thomas Verny, M.D. (bác sĩ tâm thần học Mỹ) cũng khẳng định trong cuốn sách “Cuộc sống bí mất của thai nhi”của mình: Việc cho bé nghe nhạc từ khi còn trong bụng mẹ đóng vai trò lớn trong việc phát triển trí thông minh của bé, giúp bé tập trung chú ý hơn về sau, phát triển tốt về học tập, ngôn ngữ và trí nhớ và kích thích khả năng âm nhạc tiềm ẩn sau này.

Tuy nhiên, theo tiến sĩ Janet DiPietro, chuyên gia tâm lý học Đại học Johns Hopkins (Anh), đến nay, chưa có bằng chứng thực sự đáng tin cậy về ảnh hưởng của những kích thích âm nhạc đến sự phát triển trí tuệ thai nhi.

Một số bà mẹ cho rằng, thai nhi tỏ ra vui vẻ, thư giãn khi được nghe các giai điệu quen thuộc. Nhưng theo tiến sĩ DiPietro, đó chỉ là cảm giác chủ quan của thai phụ.

Hiện các nhà khoa học đã ghi nhận rằng, thai nhi từ tháng thứ tư đã có phản ứng với các giai điệu âm nhạc cũng như những âm thanh khác của thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, người ta không biết đó là biểu hiện của sự thích thú hay khó chịu.

Một số nghiên cứu cho thấy, thai nhi cử động, hít thở theo nhịp nhạc. Nhưng giới chuyên môn cũng chưa biết liệu điều này có tốt cho bé hay không. Lợi ích có thể nhận thấy của âm nhạc đối với thai nhi là nó giúp bà mẹ thư giãn, ngủ ngon hơn.

Chị Thanh Loan (Kim Mã, Hà Nội) cho biết “Đúng là có nhiều thông tin nói về ảnh hưởng của âm nhạc đến não bộ của trẻ nhưng luồng thông tin này cũng có nhiều chiều. Nghe nhạc có lợi ích dễ nhận thấy là giúp các bà mẹ thư giản, giảm stress căng thẳng. Nhưng tôi nghĩ nếu nghe nhạc quá nhiều, bật quá to, bản thân các bà bầu cũng bị ảnh hưởng, mệt mỏi hơn. Thai nhi từ 4 tháng tuổi đã có những phản ứng trước các âm thanh này. Liệu nghe nhạc to thường xuyên, bé có bị ảnh hưởng không?”.

Nghe nhạc quá to ảnh hưởng tới thính giác

Rất nhiều bà mẹ cũng lo lắng về việc cho thai nhi nghe nhạc bao lâu là đủ và nghe ở mức độ âm lượng như thế nào. Nhưng đa phần họ lại chủ quan vì nghĩ rằng sản phẩm riêng dành cho thai nhi và trẻ em sẽ chỉ giúp con thông minh, không có tác dụng phụ.

Thực tế, hậu quả của việc cho trẻ nghe nhạc qua tai nghe dễ khiến trẻ bị điếc đã được cảnh báo từ lâu. Theo nghiên cứu của các bác sĩ Sản khoa, thông thường đến tháng thứ tư, thai nhi có thể phản ứng với những âm thanh bên ngoài nhưng không phải thai đạp mạnh là biểu hiện thích nghe nhạc.

Nhưng chủ yếu thời gian trong bụng mẹ thai nhi đều ngủ. Khi nghe âm thanh bất ngờ làm gián đoạn giấc ngủ của trẻ do vậy có thể gây rối loạn nhịp sinh học. Nhiều ông bố bà mẹ có thói quen mở nhạc thật to vì sợ con không nghe thấy là sai lầm.

Bởi lẽ, nước ối có khả năng khuyếch đại âm thanh, nếu nghe to sẽ ảnh hưởng đến thính lực của đứa bé sau khi ra đời. Khi cho trẻ nghe qua tai nghe, người lớn không thể kiểm soát được cường độ âm thanh lớn hay nhỏ nên trẻ dễ bị ảnh hưởng tới thính lực.

Thai nhi hay trẻ vừa sinh và thậm chí cả người lớn cũng chỉ tiếp nhận được một lượng âm thanh nhất định. Nếu nhạc to quá, khi sinh ra thính giác của trẻ có thể không tốt.

Thói quen bật nhạc thật to vì sợ thai nhi không nghe rõ, nhất là khi áp sát tai nghe vào thành bụng hoặc dùng các thiết bị truyền âm đặc biệt để nói chuyện với thai nhi, có thể gây hại cho thính giác còn non nớt của bé.

Nguy hiểm hơn, mức độ an toàn của các thiết bị hỗ trợ giáo dục thai nhi từ trong bụng mẹ như máy nghe nhạc, thiết bị trò chuyện với thai nhi… đều chỉ là thông tin do nhà sản xuất cung cấp, chưa được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học hay cơ quan có thẩm quyền.

Đó là chưa kể đến các sản phẩm tai nghe hàng nhái, sản xuất không đúng qui chuẩn, kém chất lượng càng dễ ảnh hưởng tới thính giác của trẻ.

Nguồn giáo dục

Đọc sách – những lợi ích không nhỏ cho sức khỏe

Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn

Có phải từ lâu bạn đã bỏ đi thói quen đọc sách? Lướt web hay “nấu cháo” điện thoại đã trở thành thói quen hàng ngày của bạn? Nếu đúng như vậy thì bạn hãy xem xét lại các thói quen của mình nhé.

Thay vì cả ngày ôm máy tính, điện thoại, bạn hãy dành cho mình một thời gian nhất định để đọc sách. Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn.

Dưới đây là những lợi ích cho sức khỏe từ việc đọc sách.

1. Phòng chống lão hóa não: Cũng giống như cơ bắp của cơ thể, não bộ cũng cần phải rèn luyện để trở nên tráng kiện và khỏe mạnh hơn. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đọc sách cũng có thể kích thích não bộ hoạt động liên tục, từ đó phòng ngừa lão hóa não rất tốt.

doc-sach-nhung-loi-ich-khong-nho-cho-suc-khoe

2. Giảm stress: Theo nghiên cứu của “Phòng thí nghiệm trí tuệ” thuộc trường Đại học Sussex (Anh), trong số các cách giảm stress, hiệu quả của việc đọc sách là cao nhất.

Đọc sách có thể khiến mức độ stress giảm tới 68% chỉ trong 6 phút, hiệu quả cao hơn rất nhiều so với nghe nhạc và đi bộ. Các nhà tâm lý cho rằng, khi đọc sách, suy nghĩ của mọi người sẽ tập trung vào văn bản nên thể chất và tinh thần căng thẳng có thể sẽ được thư giãn.

3. Cải thiện trí nhớ: Mỗi một cuốn sách đều có hàng triệu thông tin, bao gồm bối cảnh, cốt truyện, tên nhân vật, những miêu tả chi tiết, nên khi đọc sách não bộ sẽ dễ dàng ghi nhớ những thứ này.

Một khi não liên tục được làm việc với các thông tin, xử lý thông tin thì khả năng nắm bắt, nhạy bén với thông tin cũng tăng lên. Từ đó, trí nhớ của bạn cũng được cải thiện tốt hơn.

4. Lối sống lành mạnh hơn: Một cuộc nghiên cứu ở Mỹ phát hiện, những người thích đọc sách thì cũng sẽ có thói quen nghỉ ngơi hợp lý và thói quen ăn uống lành mạnh hơn.

Nguyên nhân lý giải cho điều này là do nhờ đọc sách, họ học hỏi được vô vàn kiến thức về sức khỏe từ trong sách vở. Mặt khác đọc sách cũng giúp họ quý trọng cuộc sống cũng như yêu quý bản thân mình hơn.

5. Nâng cao sự tập trung: Trong thời đại internet, chúng ta phải hoàn thành rất nhiều nhiệm vụ trong thời gian ngắn như kiểm tra thư, nói chuyện qua mạng, nghe điện thoại… Các hoạt động này diễn ra liên tục có thể khiến bạn làm việc “như một cái máy” và sự tập trung của bạn cũng bị giảm đi.

Nhưng khi đọc sách, mọi sự chú ý của bạn đều tập trung vào những trang sách. Điều này có thể giúp bạn rèn được tính tập trung, chuyên tâm hơn, nâng cao hiệu quả công việc.

6. Điều trị chứng trầm cảm: Các bác sĩ về thần kinh học tại Anh đang thử nghiệm một phương pháp trị liệu chứng trầm cảm mới, đó là đưa ra một danh sách đầu mục các loại sách cho người bệnh. Kết quả là những người chăm đọc sách thì ít bị căng thẳng và trầm cảm hơn những người ít đọc.

Vậy nên, theo các chuyên gia, đọc sách có thể phát huy hiệu quả tích cực đối với những người mắc bệnh trầm cảm ở thể nhẹ hoặc vừa phải.

Kiến thức sức khỏe

Lập bản đồ hoạt động của não

Hiện nay, một số bệnh về tâm thần kinh như Alzheimer, trầm cảm, tâm thần phân liệt… đang có xu hướng gia tăng và con người chưa thể khống chế được hoàn toàn những căn bệnh này. Vì vậy, các nhà khoa học có ý tưởng thiết lập được hoàn chỉnh bản đồ hoạt động của não bộ để con người có thể tìm ra được các liệu pháp hữu hiệu chữa trị cho các bệnh trên.

Từ những thành công bước đầu về nghiên cứu não bộ

Từ lâu người ta đã biết thông tin xuất phát từ những tế bào thần kinh ở các vị trí cư trú, lưu giữ trong não, sau đó được chuyển tải đến những tế bào thần kinh ở những vị trí  xử lý (khu chức năng điều khiển một hoạt động nhất định). Thế nhưng làm thế nào để tế bào thần kinh ở vị trí cư trú, lưu giữ nhận biết và chuyển tải thông tin đến đúng những tế bào thần kinh ở vị trí xử lý lại là vấn đề được đặt ra. Và để giải mã câu hỏi này, các nhà khoa học đã tạo ra một loại virut không gây bệnh, mang công thức di truyền, cảm thụ được với ánh sáng và tiêm chúng vào chân chuột. Virut này len lỏi vào các nhân tế bào não và sử dụng tế bào não như một nhà máy riêng để chuyển tải công thức di truyền. Tiếp theo, họ cấy những sợi quang vào các vùng khác nhau trong não chuột để truyền tải ánh sáng. Mỗi sợi quang như thế được coi như một “công tắc đèn”. Đồng thời họ cũng cấy các vi điện cực vào giữa các tế bào não để phát hiện tín hiệu các tế bào di chuyển đi qua các sợi trục mỗi khi ánh sáng từ sợi quang được bật lên. Sau đó họ bật, tắt đèn hàng chục nghìn lần trong phòng nuôi chuột thử nghiệm. Mỗi lần bật đèn như vậy thì nhờ công thức di truyền cảm thụ với ánh sáng mà các sợi quang sẽ phát sáng và nhờ điện cực mà họ ghi lại được các tín hiệu chuyển tải thông tin. Tập hợp hàng nghìn lần ghi nhận tín hiệu, các nhà khoa học đi đến kết luận: “Với một loại thông tin nhất định thì não chuột tạo ra một bản đồ đường đi đến một số vùng riêng biệt”. Giả sử không có được con đường riêng biệt tương thích cho mỗi loại thông tin, thì sự chuyển tải sẽ lộn xộn, chồng chéo, nhầm lẫn, dẫn tới rối loạn các hoạt động.

thiet-lap-ban-do-hoat-dong-cua-nao

Gần đây, các chuyên gia của Đại học Khoa học và Viện công nghệ Kavli (Na Uy) đã công bố một nghiên cứu cho thấy: Trong não bộ có chứa nhiều bộ nhớ được ví như các “túi riêng” giống như ánh sáng chia thành các “bít” lượng tử; mỗi bộ nhớ chỉ dài 125mili giây, điều này cho phép não có thể trao đổi những ký ức khác nhau 8 lần trong 1 giây. Bộ não không cho phép lẫn lộn, không bao giờ trộn lẫn các ký ức khác nhau. Những giây phút ta cảm thấy bối rối về một ký ức cũ chính là lúc bộ não ta đạng chọn lựa ra một bản đồ ký ức cũ đó, chứ không thể chọn bản đồ ký ức nào khác.

Năm 2009, các nhà khoa học Anh, Thụy Sĩ đã tiêm một phần não của chuột bị bệnh Alzeimer vào não chuột lành, sau đó họ phát hiện chuột lành cũng bị mắc bệnh Alzheimer. Trước đây, giới khoa học thường coi prion như mộ loại protein đặc biệt, có tính lây truyền qua tiêm chích (ví dụ như prion trong bệnh não xốp – Cretzfeldt-Jacob). Theo TS. Markus Tolnay, các protein TAU trong bệnh Alzheimer cũng là những prion đặc thù nằm trong tế bào thần kinh có khả năng vượt ra ngoài màng tế bào, xâm nhập các tế bào lành chung quanh. Xét ở khía cạnh nào đó, cách lây truyền của các prion là tạo ra con đường truyền từ tế bào thần kinh bị bệnh đến các tế bào thần kinh lành.

Những thử nghiệm trên là những dự án chỉ mang tính riêng lẻ, độc lập và khác nhau về chủ đề, qui mô, kết quả… nhưng có một điểm chung nhất là từng bước, các nhà khoa học đã tìm được cách tiếp cận và ghi chép được các hoạt động của não mà trước hết là trong lĩnh vực lưu giữ chuyển tải thông tin giữa các tế bào thần kinh lành với nhau cũng như giữa các tế bào thần kinh bị bệnh và tế bào thần kinh lành. Đây là những vấn đề mấu chốt trong hoạt động của não. Trong khoa học khi tìm được cách tiếp cận cũng có nghĩa là sẽ giải thích được hiện tượng, tìm ra qui luật.

Đến tham vọng lập bản đồ hoạt động của não bộ

Ngày 2/4/2013, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã công bố quyết định bỏ ra 100 triệu USD tiền ngân sách để tài trợ cho các nghiên cứu dài hạn về thần kinh học để phát triển các công cụ và công nghệ mới nghiên cứu về bộ não con người, động vật trên qui mô lớn nhằm giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về tư tưởng hành vi con người và phát triển những phương pháp mới chẩn đoán điều trị tốt hơn nữa các bệnh thần kinh tâm thần (được gọi tắt là lập bản đồ hoạt động não). Một lý do khác mà Tổng thống Barack Obama không đề cấp đến là quyết định này được đưa ra đúng vào lúc việc nghiên cứu não đã qua giai đoạn mò mẫm và tiên liệu sẽ đạt được những thành tựu lớn trong tương lai gần.

Theo Giám đốc Viện Nghiên cứu sức khỏe (NIH) của Mỹ, Francis Collin: Khoản tài chính 100 triệu USD là ít ỏi, chỉ bằng 1% khoản tiền mà NIH chi ra cho các nghiên cứu về não nhưng nó có tính bước ngoặt. Với khoản tiền tài trợ ban đầu này, các nhà khoa học sẽ có điều kiện vạch ra một kế hoạch nghiên cứu tổng thể hơn trên nhiều mạch thần kinh, từ đó cho phép nhận ra những hoạt động phối hợp của các tế bào thần kinh, nhằm hiểu biết cụ thể, sâu sắc hơn những điều bí ẩn về não. Đây chính là ý nghĩa đầy tham vọng của dự án lập hoàn chỉnh bản đồ hoạt động của não và vai trò của dự án này có thể sánh ngang với dự án lập bản đồ gen người đã thực hiện trước đây.

Vũ Trung Hải (Tổng hợp)

Theo SKDS