Tag Archives: nấm candida

Viêm âm đạo do nấm Candida: Vì sao hay tái phát?

Nấm âm đạo thường gặp ở phụ nữ là do một loại nấm có tên Candida Albicans gây ra. Ở điều kiện bình thường, nấm thường trực trong môi trường ở dạng bào tử nhưng không gây bệnh. Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi như thời tiết nóng, ẩm hoặc có nguyên nhân nào đó gây mất cân bằng môi trường sinh lý âm đạo, nấm mới phát triển và gây bệnh.

Điều kiện để nấm Candida phát triển và gây bệnh

Candida là một loại nấm men có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước nhỏ khoảng 2-5 µm, thường sống hoại sinh trong đường tiêu hóa của người, động vật và trong âm đạo… Ở người khoẻ mạnh bình thường, nấm candida tìm thấy được 30% ở miệng, 38% ở ruột, 39% ở âm đạo, 17% ở phế quản…

Nấm Candida có thể phát triển và gây bệnh ở bất cứ đâu trên cơ thể con người nhưng chủ yếu ở da, niêm mạc. Niêm mạc ở âm hộ, âm đạo của phụ nữ là nơi có thể dễ dàng bị nấm Candida ký sinh tại chỗ phát triển và gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi.

viem-am-dao-do-nam-candida-vi-sao-hay-tai-phat

Bệnh viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh thường gặp trong các bệnh phụ khoa. Bệnh có liên quan đến việc sử dụng kháng sinh có phổ diệt khuẩn rộng và kéo dài, ở phụ nữ có thai vào 3 tháng cuối của thai kỳ, có độ pH ở âm đạo thấp và người bị bệnh tiểu đường… làm cho nấm ký sinh có cơ hội phát triển gây bệnh. Ở những đối tượng nữ có hoạt động tình dục mạnh hoặc dùng thuốc phòng tránh thai cũng là người có thể có yếu tố nguy cơ bị mắc bệnh viêm âm hộ, âm đạo do nấm Candida. Bệnh nhân thường có biểu hiện triệu chứng ngứa ngáy âm hộ, có cảm giác nóng bỏng, giao hợp bị đau đớn và khó khăn… Khám phụ khoa thấy niêm mạc âm hộ, âm đạo bị viêm đỏ, có mảng màu trắng, dịch tiết ra như sữa đông. Tổn thương có thể lan ra  quanh âm hộ và háng bẹn của bệnh nhân.

Bệnh hay tái phát

Bệnh do nấm Candida ở âm đạo phụ nữ nhưng khi điều trị muốn khỏi bệnh phải điều trị cả cho vợ và chồng. Ở nhiều phụ nữ sau điều trị nấm âm đạo rất hay tái phát, ngoài nguyên nhân do chồng không cùng điều trị thì còn do người phụ nữ chủ quan, không làm đúng theo lời dặn của bác sĩ trong vệ sinh cá nhân như giặt riêng đồ lót bằng xà phòng, phơi khô ngoài nắng to trước khi mặc để tránh nhiễm nấm từ những đồ lót mặc lần trước. Không tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ là khi dùng hết thuốc phải khám và xét nghiệm lại theo đúng lịch hẹn, dẫn đến tình trạng thuốc uống thuốc chưa đủ liều, đặt chưa trị dứt điểm sạch nấm. Đặc biệt, một số trường hợp còn tự ý mua thuốc đặt khi thấy có biểu hiện ngứa, ra khí hư, do đó làm tăng nguy cơ kháng thuốc, tái phát rất cao.

Cách phòng như thế nào?

Viêm âm đạo do nấm candida gây ngứa rát, khó chịu khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt hằng ngày và rất dễ tái phát môi trường pH dễ thay đổi. Vì vậy, để tránh nhiễm nấm, chị em nên thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục, giữ quần áo khô ráo, sạch sẽ, phơi ở nơi có ánh sáng mặt trời. Khi vệ sinh chỉ nên rửa ở bên ngoài, không nên thụt rửa sâu để tránh làm mất cân bằng môi trường pH. Khi nhiễm nấm, cần đi khám, xét nghiệm và tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Nếu phụ nữ có gia đình bị nhiễm nấm thì nên điều trị cả hai vợ  chồng. Vì khi giao hợp, các vi khuẩn nấm sẽ đọng lại ở bao quy đầu của người chồng và đây là nguyên do khiến người vợ rất dễ nhiễm nấm trở lại.

Bác sĩ  Thu Lan

Theo SKDS

Viêm âm đạo do nấm Candida: Vì sao hay tái phát?

Nấm âm đạo thường gặp ở phụ nữ là do một loại nấm có tên Candida Albicans gây ra. Ở điều kiện bình thường, nấm thường trực trong môi trường ở dạng bào tử nhưng không gây bệnh. Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi như thời tiết nóng, ẩm hoặc có nguyên nhân nào đó gây mất cân bằng môi trường sinh lý âm đạo, nấm mới phát triển và gây bệnh.

viem_am_dao_do_nam_candida_vi_sao_hay_tai_phat

Điều kiện để nấm Candida phát triển và gây bệnh

Candida là một loại nấm men có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước nhỏ khoảng 2-5 µm, thường sống hoại sinh trong đường tiêu hóa của người, động vật và trong âm đạo… Ở người khoẻ mạnh bình thường, nấm candida tìm thấy được 30% ở miệng, 38% ở ruột, 39% ở âm đạo, 17% ở phế quản…

Nấm Candida có thể phát triển và gây bệnh ở bất cứ đâu trên cơ thể con người nhưng chủ yếu ở da, niêm mạc. Niêm mạc ở âm hộ, âm đạo của phụ nữ là nơi có thể dễ dàng bị nấm Candida ký sinh tại chỗ phát triển và gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi.

Bệnh viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh thường gặp trong các bệnh phụ khoa. Bệnh có liên quan đến việc sử dụng kháng sinh có phổ diệt khuẩn rộng và kéo dài, ở phụ nữ có thai vào 3 tháng cuối của thai kỳ, có độ pH ở âm đạo thấp và người bị bệnh tiểu đường… làm cho nấm ký sinh có cơ hội phát triển gây bệnh. Ở những đối tượng nữ có hoạt động tình dục mạnh hoặc dùng thuốc phòng tránh thai cũng là người có thể có yếu tố nguy cơ bị mắc bệnh viêm âm hộ, âm đạo do nấm Candida. Bệnh nhân thường có biểu hiện triệu chứng ngứa ngáy âm hộ, có cảm giác nóng bỏng, giao hợp bị đau đớn và khó khăn… Khám phụ khoa thấy niêm mạc âm hộ, âm đạo bị viêm đỏ, có mảng màu trắng, dịch tiết ra như sữa đông. Tổn thương có thể lan ra  quanh âm hộ và háng bẹn của bệnh nhân.

Bệnh hay tái phát

Bệnh do nấm Candida ở âm đạo phụ nữ nhưng khi điều trị muốn khỏi bệnh phải điều trị cả cho vợ và chồng. Ở nhiều phụ nữ sau điều trị nấm âm đạo rất hay tái phát, ngoài nguyên nhân do chồng không cùng điều trị thì còn do người phụ nữ chủ quan, không làm đúng theo lời dặn của bác sĩ trong vệ sinh cá nhân như giặt riêng đồ lót bằng xà phòng, phơi khô ngoài nắng to trước khi mặc để tránh nhiễm nấm từ những đồ lót mặc lần trước. Không tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ là khi dùng hết thuốc phải khám và xét nghiệm lại theo đúng lịch hẹn, dẫn đến tình trạng thuốc uống thuốc chưa đủ liều, đặt chưa trị dứt điểm sạch nấm. Đặc biệt, một số trường hợp còn tự ý mua thuốc đặt khi thấy có biểu hiện ngứa, ra khí hư, do đó làm tăng nguy cơ kháng thuốc, tái phát rất cao.

Cách phòng như thế nào?

Viêm âm đạo do nấm candida gây ngứa rát, khó chịu khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt hằng ngày và rất dễ tái phát môi trường pH dễ thay đổi. Vì vậy, để tránh nhiễm nấm, chị em nên thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục, giữ quần áo khô ráo, sạch sẽ, phơi ở nơi có ánh sáng mặt trời. Khi vệ sinh chỉ nên rửa ở bên ngoài, không nên thụt rửa sâu để tránh làm mất cân bằng môi trường pH. Khi nhiễm nấm, cần đi khám, xét nghiệm và tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Nếu phụ nữ có gia đình bị nhiễm nấm thì nên điều trị cả hai vợ  chồng. Vì khi giao hợp, các vi khuẩn nấm sẽ đọng lại ở bao quy đầu của người chồng và đây là nguyên do khiến người vợ rất dễ nhiễm nấm trở lại.

Bác sĩ  Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Viêm màng bồ đào là gì?

Viêm màng bồ đào là bệnh lý ở mắt do nhiều nguyên nhân gây ra, bệnh có thể tự xác định được nhưng tìm nguyên nhân thường khó khăn. Bệnh có nhiều biến chứng, hay tái phát và dễ dẫn đến mù lòa.

Màng bồ đào (MBĐ) từ trước ra sau gồm mống mắt, thể mi, hắc mạc. Có ba loại viêm MBĐ: viêm MBĐ trước là viêm mống mắt và thể mi, viêm MBĐ trung gian và viêm MBĐ sau là viêm hắc mạc, có khi là viêm hắc võng mạc

tim-hieu-ve-benh-viem-mang-bo-dao

Viêm màng bồ đào do đâu?

Viêm màng bồ đào là một bệnh do nhiều nguyên nhân phức tạp, có khi đan chéo nhau.

Do tụ cầu, liên cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, virus hecpet, nấm candida, kí sinh trùng toxoplasma gondii, riketzia

Do nhiễm độc: như chất độc, thức ăn biến chất; Do nội sinh như teo, thoái hóa tổ chức xuất huyết; Do bệnh tự miễn (trong cơ thể có kháng thể chống màng bồ đào);

Do chấn thương; Thứ phát từ các bệnh toàn thân: collagenose, sarcoidose, bệnh Behcet, bệnh da liễu, bệnh máu.

Ngoài ra, viêm MBĐ chưa rõ nguyên nhân: Nhãn viêm đồng cảm; viêm mống mắt nhược sắc.

Cách phát hiện viêm MBĐ

Với viêm màng bồ đào trước, dấu hiệu dễ thấy là cương tụ mạch máu ở lòng trắng (ở sát rìa lòng đen gọi là cương tụ rìa). Ta không được lầm nó với bệnh đau mắt đỏ thông thường (mạch máu cương tụ rộng khắp ở lòng trắng, càng gần lòng đen màu đỏ càng thưa nhạt). Bệnh nhân nhìn thấy mờ, nhìn hình như qua một lớp màng sương mờ.

Với viêm màng bồ đào sau, người bệnh không thấy cương tụ vùng rìa nhưng hay xuất hiện đau đầu, nhức trong nhãn cầu,  nhìn mờ.

Những điều đáng lo nhất khi viêm MBĐ

Với viêm màng bồ đào trước: Đáng lo nhất là tình trạng dính đồng tử hoặc bít đồng tử. Tổn thương này vừa gây mù lòa vừa gây biến chứng tăng nhãn áp (do cản trở lưu thông thủy dịch từ khoang sau ra khoang trước của nhãn cầu). Việc cho nhỏ atropin làm giãn đồng tử, chống dính chiếm 70% ý nghĩa điều trị cấp cứu.

Với viêm màng bồ đào sau: Điều đáng lo nhất là dịch kính đục thành mảng thô hoặc mủ dịch kính. Các tổn thương này hay gây tổ chức hóa dịch kính biến chứng co kéo gây bong võng mạc, teo nhãn cầu. Đặc biệt các viêm màng bồ đào sau do virut thường gây hóa mủ dịch kính nhanh chóng. Khi có các dấu hiệu bất thường ở mắt như đã nói ở trên, bệnh nhân phải đến khám tại cơ sở nhãn khoa. Cách điều trị cụ thể, việc theo dõi lâu dài sẽ do cơ sở nhãn khoa tiến hành, chỉ định hoặc hẹn khám định kì. Viêm MBĐ dễ tái phát, người bệnh phải gắn bó với cơ sở nhãn khoa lâu dài.

tim-hieu-ve-benh-viem-mang-bo-dao-1

Điều trị viêm MBĐ

Do viêm MBĐ có nhiều nguyên nhân nên việc điều trị cần căn cứ vào nguyên nhân để cho thuốc đặc hiệu. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp viêm MBĐ cần được sử dụng trước thuốc giãn đồng tử và liệt thể mi để tránh dính đồng tử và giảm đau. Thuốc thường dùng là dung dịch atropin 1 – 4% hoặc mỡ atropin 1% tra mắt.

Thuốc chủ lực trong điều trị viêm MBĐ là chống viêm corticosteroit, có thể dùng theo các đường khác nhau phối hợp như tiêm cạnh nhãn cầu, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch hoặc uống, tra mắt (chỉ có tác dụng trong điều trị viêm MBĐ trước). Liều lượng và cách dùng theo chỉ định của bác sĩ và cần được theo dõi chặt chẽ khi sử dụng cho người bị loãng xương, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, tăng huyết áp… Các thuốc chống viêm không steroit được dùng trong các trường hợp chống chỉ định dùng corticosteroit. Ngoài ra, người bệnh còn có thể được sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong các trường hợp viêm MBĐ liên quan đến yếu tố miễn dịch và không đáp ứng với corticosteroit.

Phương pháp phẫu thuật cũng được lựa chọn để điều trị biến chứng của viêm MBĐ như phẫu thuật bong võng mạc, phẫu thuật lấy thủy tinh thể, phẫu thuật lỗ rò điều trị tăng nhãn áp, cắt dịch kính…

Người bệnh khi phát hiện có những biểu hiện đầu tiên như kể trên thì cần đến chuyên khoa mắt để được khám, điều trị đúng và theo dõi chặt chẽ, ngăn ngừa biến chứng có thể xảy ra.

ThS.BS. Cù Thanh Phương (Bệnh viện Mắt TW)

Theo SK&DS