Tag Archives: mang thai

Stress làm tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh

Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ tại Trung tâm Y tế Wexner thuộc ĐH bang Ohio ở TP Colombus được công bố trên tạp chí Human Reproduction cho thấy tình trạng stress ở phụ nữ có thể làm giảm gấp đôi cơ hội mang thai so với người bình thường.

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 501 đôi bạn đời đang muốn có con tại bang Michigan và Texas, theo dõi họ trong vòng một năm.

stress-lam-vo-sinh

Những phụ nữ có độ tuổi từ 18 đến 40 trong các cặp này được thử nghiệm mẫu nước bọt vào buổi sáng ngay sau kỳ kinh nguyệt để đo lường hàm lượng cortisol và alpha-amylase, tức những dấu chỉ cho thấy khả năng bị stress.

Sau 12 tháng, có 347 phụ nữ mang thai (87%) và 54 người (13%) không thụ thai dù vẫn giữ quan hệ tình dục bình thường với người bạn đời.

Sau khi phân tích số liệu, nhóm nghiên cứu nhận thấy những phụ nữ có mức độ alpha-amylase cao nhất có cơ hội mang thai trong mỗi tháng thấp hơn 29% so với những phụ nữ có mức độ enzyme là dấu chỉ cho tình trạng này thấp nhất.

Đặc biệt các nhà khoa học nhận thấy những phụ nữ có mức độ dấu chỉ stress cao nhất có nguy cơ bị xếp vào dạng vô sinh theo định nghĩa lâm sàng (tức không mang thai dù vẫn giữ quan hệ tình dục bình thường trong vòng 12 tháng) cao gấp đôi so với bình thường.

Trưởng nhóm nghiên cứu TS Courtney Denning-Johnson Lynch nói bà hy vọng phát hiện này sẽ khiến những phụ nữ gặp khó khăn trong việc mang thai có thể tìm phương pháp giảm stress như tập thiền, yoga… Tuy nhiên, TS Lynch nhấn mạnh rằng stress chỉ là một trong nhiều yếu tố gây khó mang thai.

Nguồn đọc báo

Khi mang thai cẩn thận những loại thuốc Đông y

So với thuốc tân dược thì Đông y thường ít ảnh hưởng tới sức khỏe của người mẹ và thai nhi nên phần nhiều được chọn lựa để bồi bổ cho người mẹ mang thai. Dĩ nhiên không phải vị thuốc Đông y nào cũng vô hại cho thai kỳ. Do đó cần nắm một số vị thuốc thuộc loại này để chủ động không sử dụng vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

khi-mang-thai-can-than-voi-mot-so-loai-thuoc-dong-y

Việc sử dụng thuốc Đông y dù là những vị thuốc tốt cho thai nhưng nếu không được kiểm soát về nguồn gốc xuất xứ, không đáng tin cậy về cách bào chế thì thuốc đó cũng có thể gây hại đến sức khỏe của thai nhi và người mẹ mang thai.

Thuốc Đông y còn hợp với từng người, vì vậy có người uống một vài thang đã thấy có công hiệu, song nhiều người uống nhiều vẫn chưa thấy chuyển biến gì. Do vậy, trong thời kỳ mang thai dù uống thuốc tân dược hay thuốc Đông y cũng phải hết sức cẩn thận để không gây ảnh hưởng tới thai nhi. Vừa uống thuốc, vừa “nghe ngóng” và theo dõi cơ thể mình xem có điều gì khác lạ để báo kịp thời cho thầy thuốc biết, đồng thời phải ngừng ngay không được uống tiếp.

Người đang mang thai nếu muốn bồi bổ bằng thuốc Đông y cũng cần đến gặp thầy thuốc để bắt mạch kê đơn, không nhờ người bốc hộ. Vì mỗi người mang thai có thể trạng và sức khỏe khác nhau.

Ngoài ra, cần chú ý mua thuốc ở nơi có uy tín, rõ nguồn gốc. Sắc thuốc uống theo thang, đúng liều lượng không tùy tiện lạm dụng khi dùng thuốc. Trước khi sắc, rửa sạch thuốc nhiều lần cho hết chất bẩn, chất bảo quản còn tồn lưu trong thuốc.

Cách tốt nhất và an toàn hơn là người mẹ nên bồi bổ sức khỏe bằng cách ăn uống, ăn đủ chất, sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý, tập thể dục đều đặn như vậy sẽ an toàn và hiệu quả nhất để bảo vệ sức khỏe cho mẹ và thai nhi.

Tóm lại, nếu thấy cần sử dụng đến thuốc Đông y dù là thuốc bổ cũng nên xin ý kiến của bác sĩ, không tùy tiện sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào.

BS. Hoàng Tuấn Linh

Theo SKDS

Có thể sinh non vì viêm lợi

Phụ nữ mang thai nếu không được điều trị dứt điểm bệnh về răng lợi thì có nguy cơ đẻ non trước 35 tuần cao gấp 3 lần so với bình thường, các nhà khoa học Mỹ tuyên bố.

Việc điều trị dứt điểm bệnh răng lợi sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ sinh non này.

Đây là kết quả nghiên cứu của Hiệp hội nghiên cứu về răng miệng của Mỹ tiến hành với 160 phụ nữ mang thai từ 6 đến 20 tuần. Tất cả đều mắc bệnh về răng lợi và 1/3 trong số đó đã được điều trị thành công.

Điều trị dứt điểm bệnh răng lợi sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ sinh non.

Điều trị dứt điểm bệnh răng lợi sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ sinh non.

Các bác sĩ đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa việc điều trị thành công bệnh răng miệng với việc sinh con đủ tháng của phụ nữ. Theo nghiên cứu, việc nhiễm trùng nướu sẽ làm gia tăng quá trình sản xuất prostaglandin và các yếu tố gây hoại tử u – những chất gây ra cơn đau đẻ. Điều này dẫn đến khả năng sinh sớm ở phụ nữ.

Dù cho rằng kết luận này còn nhiều tranh cãi, nhưng các chuyên gia vẫn khuyên những phụ đang mang thai nên chú ý chăm sóc răng và lợi cẩn thận.

Iain Chapple, giáo sư của Trường Nha khoa Birmingham cho rằng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi. Bởi trong những cuộc nghiên cứu được tiến hành trước đó, một số chỉ ra mối liên hệ giữa bệnh răng lợi và khả năng sinh con sớm, trong khi số khác thì không.

Trong khi đó, giáo sư Nigel Carter, Giám đốc Tổ chức sức khỏe về Răng miệng của Anh lại cho rằng, kết quả trên đã bổ sung thêm bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa bệnh răng lợi và khả năng sinh con sớm. “Nó nhắc nhở những phụ nữ mang thai cần quan tâm hơn tới sức khỏe răng lợi của mình trong suốt quá trình đó, và chấp nhận những biện pháp điều trị nếu muốn tránh rủi ro sinh con sớm”, ông nhấn mạnh.

Theo VnExpress

Sai lầm do nôn nóng muốn giảm cân

Thừa cân, béo phì khiến nhiều người thiếu tự tin nên tìm cách giảm cân. Có nhiều cách khác nhau để giảm cân, nhưng giữa rừng thông tin về giảm cân cấp tốc không phải ai cũng biết tác hại của nó.

Nôn nóng giảm cân lúc đang cho con bú

Sau khi sinh con chị em vẫn thường bị thừa cân, béo phì nên ra sức áp dụng các biện pháp giảm cân. Tuy nhiên, chính sự nôn nóng giảm cân trong thời kỳ cho con bú đã gây tác hại cho cả mẹ và con. Theo các chuyên gia, việc giảm cân phải được bà mẹ kiểm soát ngay từ khi mang thai và có những phương pháp khoa học.

Theo TS.Nguyễn thị Lâm, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hiện nay một số bà mẹ cho con bú thường chưa biết cách kiểm soát cân nặng nên đã có những sai lầm.

sai-lam-do-non-nong-muon-giam-can

Ví dụ để dự phòng thừa cân, béo phì thì ngay cả thời gian mang thai tuy bà mẹ phải bồi dưỡng những cũng chỉ nên ở mức vừa phải. Các bà bầu chỉ nên tăng từ 9 – 12 kg trong thời kỳ mang thai là đủ để sinh ra một đứa con khỏe mạnh. Thế nhưng nhiều bà bầu bồi dưỡng quá và sau khi sinh con cân nặng lại tăng quá. Đến lúc này các bà mẹ mới tập trung giảm cân qua nhanh. Điều này cũng không tốt.

Ngược lại, có những bà mẹ sợ thừa cân, béo phì lại ăn quá ít. Có bà mẹ còn uống trà giảm béo, gây nhuận tràng, mất chất dinh dưỡng. Điều này ảnh hưởng đến lượng sữa cho con bú và khiến cả mẹ với con đều mệt mỏi.

Như vậy, việc kiểm soát cân nặng là việc làm cần thiết, tuy nhiên việc làm này phải được thực hiện một cách khoa học và duy trì thường xuyên chứ không phải chỉ trong một sớm một chiều. Sự nôn nóng của chị em không những khiến quá trình giảm cân không được như mong muốn mà còn có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của con. Các bà mẹ nên thận trọng trước khi áp dụng bất kỳ phương pháp giảm cân nào trong thời kỳ cho con bú.

Hậu quả của việc giảm cân cấp tốc

Không chỉ chị em sau sinh phải đối mặt với những nguy cơ khi nôn nóng giảm cân mà các chuyên gia cũng chỉ ra rằng, với mọi đối tượng thì việc giảm cân thiếu khoa học cũng có thể dẫn tới những nguy hại khôn lường.

Nhiều người vì muốn giảm cân nhanh thường nhịn ăn, bỏ bữa, nhưng theo các chuyên gia, ăn kiêng quá mức, thiếu tính khoa học sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả xấu đối với cơ thể như: vô sinh, hạ huyết áp, hệ miễn dịch kém, biếng ăn…

Ngoài ra, để nhịn được lâu nhiều người dùng đến sự hỗ trợ của thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc hoặc không có sự hướng dẫn của bác sỹ. Theo chuyên gia dinh dưỡng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Nếu dùng thuốc chúng ta sẽ không có cảm giác đói, cảm giác thèm ăn thì sẽ giảm cân rất nhanh nhưng sẽ rất nguy hại đến sức khỏe. Trong trường hợp dùng những thuốc thải chất béo sẽ khiến cơ thể không thể hấp thu chất béo, đồng thời cơ thể sẽ không hấp thu được các chất tan trong chất béo. Như vậy cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Theo VnMedia

Phòng ngừa bệnh nội tiết khi mang thai

Bước 1

Rửa mặt mỗi buổi sáng và buổi chiều với xà bông nhẹ không chứ hoặc chứa rất ít hương liệu và phụ gia. Hormone sản sinh ra khi phụ nữ mang thai có thể làm da chị em sinh dầu nhiều quá mức, vì vậy, việc giữ da khô thoáng sạch sẽ là rất quan trọng. Ngoài sáng và chiều, những giờ khác bạn cũng có thể rửa mặt bằng nước ấm.

Bước 2

Lau mặt bằng khăn lông khô và mềm mại, nên nhớ rằng trong giai đoạn này da của bạn rất nhạy cảm. Thoa một lớp mỏng kem dưỡng ẩm làm sáng da lên vùng mặt và cổ. Việc dùng kem dưỡng ẩm cũng có thể ngăn ngừa việc da sản sinh dầu thừa.

phong-ngua-benh-noi-tiet-khi-mang-thai

hình minh họa

Bước 3

Thay đổi thói quen trang điểm của bạn, chỉ sử dụng phấn make-up vào những thời điểm nhất định, và chỉ khi thật cần thiết. Chọn phấn trang điểm không chứa dầu là cách an toàn nhất để không làm tắc nghẽn lỗ chân lông. Tránh sử dụng phấn hàng ngày chỉ để trang điểm che mụn trứng cá, vì một số mỹ phẩm có thể làm cho tình trạng mụn tồi tệ hơn.

Bước 4

Tránh dùng tay sờ lên vùng da mặt, tay có rất nhiều vi khuẩn, có thể lây sang da mặt và làm tình trạng mụn nặng hơn. Ngoài việc giữ bàn tay xa khỏi gương mặt bạn, nên nhớ cột tóc gọn gàng, việc tóc bẩn chạm vào da cũng là nguyên nhân khiến da bị kích ứng và sinh mụn. Vệ sinh điện thoại và gối nằm cũng là việc cần thiết nếu bạn muốn ngừa mụn triệt để.

Bước 5

Một lời khuyên cũ nhưng luôn đúng, hãy uống ít nhất 8 ly nước mỗi ngày. Ăn nhiều rau xanh và các loại hoa quả để bổ sung vitamin và bảo vệ làn da của bạn. Tránh ăn các thực phẩm cay và đồ chiên xào hoặc các món ngọt như socola vì chúng có thể khiến việc tiết chất nhờn trên da trầm trọng hơn.

Bước 6

Nếu sau khi áp dụng các biện pháp trên từ 3-4 tuần mà không thấy làn da có tiến triển tốt hơn thì bạn nên đến gặp bác sĩ da liễu. Có thể tình trạng mụn của bạn cần đến sự cang thiệp như uống thuốc, khi ấy bạn cần được bác sĩ chuyên khoa tư vấn loại thuốc không gây hại cho thai nhi.

Nguồn afamily

Những nguy hiểm do mang thai mà nhiễm bệnh lậu

Khi phụ nữ bị nhiễm vi khuẩn lậu thì những nguy cơ cho sức khỏe sinh sản rất nghiêm trọng bao gồm: bệnh viêm tiểu khung, vô sinh do tắc vòi trứng, chửa ngoài tử cung và đau vùng tiểu khung mạn tính.

Các biểu hiện toàn thân ở trẻ có thể gặp nhưng hiếm. Phụ nữ mang thai đều cần làm test tầm soát ngay từ lần khám thai đầu tiên và lần nữa vào 3 tháng cuối. Ngoài những yếu tố nguy cơ thông thường, phụ nữ mang thai được coi là có nguy cơ cao nếu sống ở những khu vực có tần suất cao nhiễm bệnh lậu.

mang-thai-ma-nhiem-benh-lau-nguy-hiem-nhu-the-nao

Người ta đã biết rõ các bệnh lây truyền qua đường tình dục đôi khi có thể gây sảy thai nhưng nguy cơ khác nhau đối với từng loại nhiễm khuẩn. Đối với bệnh lậu thì có nhiều thông tin trái chiều về sự cố gây sảy thai. Nhiều thông tin cho rằng, nếu bệnh lậu không được điều trị thì có nguy cơ gây sảy thai và ít nhất cũng có một nghiên cứu cho thấy có tăng nguy cơ đẻ non.

Phụ nữ khi mang thai mắc bệnh lậu nếu không điều trị thì khi sinh đẻ có thể gây ra những biến chứng đe dọa sinh mạng cho trẻ và bệnh lậu không được điều trị từ trước khi có thai có thể dẫn đến bệnh viêm tiểu khung và bệnh này là yếu tố nguy cơ của chửa ngoài tử cung. Nhìn chung, bệnh lậu khi có thai không phải là sự kết hợp tốt và bệnh có thể điều trị dễ dàng, do đó nên tham khảo ý kiến thầy thuốc nếu như có triệu chứng của bệnh lậu hoặc cảm thấy có nguy cơ.

Cần nhắc lại là nhiều phụ nữ không có bất cứ triệu chứng gì khi bị nhiễm vi khuẩn lậu. Phòng bệnh lậu và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác: dùng bao cao su cho nam là cách tốt nhất nhưng phải dùng đúng cách (ngay từ đầu, bao nguyên vẹn), có thể dùng bao cao su cho nữ nhưng không dùng đồng thời cả hai. Cần nhớ, bất cứ ai không có mối quan hệ một vợ một chồng lâu dài đều cần tự bảo vệ khi hoạt động tình dục như một thông lệ.

Nguồn sức khỏe

Mẹ ăn nhiều khi mang thai, con dễ béo phì

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Sản khoa và phụ khoa Canada cho thấy, sản phụ thường có tâm lý ăn thật nhiều khi mang bầu để cung cấp đủ chất dinh dưỡng nuôi con, việc ăn cho hai người khiến các bà mẹ cảm thấy yên tâm khi thường xuyên bổ sung các chất ngọt, chất béo. Nhưng điều này làm tăng nguy cơ sinh mổ cho mẹ và béo phì cho con sau khi trẻ chào đời.

me-an-nhieu-khi-mang-thai

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu chế độ dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe trong khi mang bầu và sau khi sinh của 172 sản phụ ở Ontario, Canada từ năm 1995 – 2001. Hơn một nửa trong số này tăng cân quá mức khi mang thai, những sản phụ tăng cân nhiều trong nửa đầu thai kỳ có nhiều khả năng cho ra đời những trẻ sơ sinh nặng cân hơn với 14% mỡ cơ thể. Theo TS. Daveport, trưởng nhóm nghiên cứu, việc bổ sung chất dinh dưỡng để nuôi con trong quá trình mang thai là cần thiết nhưng các sản phụ tránh tâm lý càng bồi bổ nhiều càng tốt vì việc tăng cân quá nhiều khi mang thai dễ dẫn đến các biến chứng khi sinh như sinh mổ và con dễ bị béo phì sau khi ra đời. Sản phụ nên thường xuyên đi bộ 3 lần/tuần và tuân thủ chế độ dinh dưỡng thích hợp để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé.

M.H (Theo Dailymail, 7/2013)

Theo SKDS

Béo phì khi mang thai và giải pháp điều trị

Béo phì ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của các bà mẹ mạng thai, thậm chí nó có khả năng gây ra những biến chứng nghiêm trọng cho thai nhi. Vậy nên, cần có những phương pháp chăm sóc đặc biệt khi mang thai để đảm bảo sức khỏe của mẹ và bé.

Tại các nước đang phát triển, béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng, gặp nhiều ở thành phố hơn ở nông thôn. Ở Việt Nam, tỉ lệ thừa cân và béo phì trung bình 6 – 10%.

Những ảnh hưởng xấu ở phụ nữ có béo phì cho thai nhi

Phụ nữ có béo phì thì khả năng thụ thai rất khó khăn do kinh nguyệt không đều, chu kỳ  phóng noãn không xảy ra có tỉ lệ cao, sự hòa hợp giữa noãn và tinh trùng có nhiều bất lợi. Trường hợp, khi đã thụ thai rồi thì nguy cơ sảy thai là khá phổ biến. Các nhà nghiên cứu giải thích rằng, tỉ lệ sảy có thể là do bản thân chất lượng phôi kém cộng với những thay đổi bất lơi của lớp nội mạc tử cung do béo phì.

Ngoài ra, dị tật bẩm sinh xuất hiện ở thai nhi rất cao.

Bằng chứng khoa học cho thấy trẻ được sinh ra từ những bà mẹ béo phì sẽ dễ bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2, bệnh tim mạch và cả béo phì. Điều này có  thể do những biến đổi bên  ngoài bộ gen của phôi thai vì những thay đổi của môi trường tử cung ở bà mẹ thừa cân. Khi đến giai đoạn chuyển dạ sinh, ngôi thai bất thường, sinh khó do phần mềm quá nhiều. Bé sinh ra khả năng đề kháng kém, dễ bị nhiễm trùng sơ sinh.

Nguy cơ ảnh hưởng của thai cho bà mẹ bị béo phì

Tất cả phụ nữ khi mang thai đều có thể bị các biến chứng do thai nghén nhưng người bị béo phì sẽ phải đối mặt với nhiều biến chứng hơn. Trong thai kỳ: gặp khó khăn khi mang thai bởi sự phát triển của thai và sự phát triển của cơ thể mình làm cho họ cảm thấy nặng nề và mệt nhọc. Hệ thống cơ xương phải chịu một lúc cả trọng lượng thai và trong lượng dư thừa của cơ thể mẹ. Người mẹ có thể mắc bệnh đái tháo đường, tiền sản giật, viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc mỡ do sự vận động kém do thường ở trong một trạng thái lâu không thể vận động được, gặp hiện tượng ngưng thở tạm thời lúc đang ngủ. Trong giai đoạn chuyển dạ khả năng sinh mổ nhiều hơn là sinh thường, ở giai đoạn hậu phẫu tình trạng liền sẹo chậm, dễ bị ứ dịch lòng tử cung.

Những giải pháp điều trị ở những phụ nữ béo phì muốn sinh con

Điều đầu tiên phải đi khám phụ khoa, kiểm tra hệ sinh dục và tính chất chu kỳ kinh của người béo phì. Một khi kiểm tra phụ khoa bình thường, bác sĩ chuyên khoa có những lời khuyên về khả năng thụ thai tại thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt.

benh-beo-phi-thai-phu-va-bien-phap

Bản thân có những bệnh lý có săn tư  trươc , chun g ta nên đi điêu trị tích cực và tình trạng sức khỏe ổn định rồi mới có thai. Cụ thể: bệnh đái tháo đường, nên điều trị đường huyết luôn luôn ổn định ở mức chỉ số 5,5 – 6,3mmol/l. Bệnh lý tăng huyết áp, cần điều trị khi huyết ổn định ở mức 120 – 130/ 70 – 80mmHg.

Bước kế tiếp cực kỳ quan trọng làm sao cho trọng lượng cơ thể giảm dần bằng cách chế độ luyện tập cơ thể và chế độ ăn uống ở người béo phì.

Hãy ăn ít năng lượng hơn trước bằng cách trước mỗi bữa ăn uống một ly nước khoáng, ăn một chén canh rau, hoặc ăn một đĩa rau luộc… để tạo cảm giác no, làm giảm bớt lượng thức ăn khác. Tăng cường rau xanh trong mỗi bữa ăn, ăn trái cây chín ở mức vừa phải không quá 500g/ngày, chọn loại trái cây ít ngọt, vì chúng cung cấp nhiều chất xơ có tác dụng kéo chất mỡ dư thừa ra ngoài qua phân, chống táo bón. Nên ăn thịt nạc, cá, tôm, cua, đậu, không ăn: óc heo, thận, tim, gan, lòng đỏ trứng vì những thức ăn này chứa nhiều cholesterol và chất béo khác. Khi chế biến thức ăn nên chế biến dưới dạng luộc, hấp, hạn chế chiên xào, để giảm lượng dầu mỡ vì ăn nhiều dầu thực vật cũng vẫn bị béo. Nên ăn nhiều vào bữa sáng, giảm về trưa, ăn hạn chế về buổi tối, nên ăn đều đặn không nên bỏ bữa. Cung cấp đủ vitamin và muối khoáng: những khẩu phần ăn dưới 1.200kcal thường thiếu hụt vitamin và khoáng chất cần thiết như canxi, sắt, vitamin E… Nên uống thêm viên polyvitamin và khoáng chất hàng ngày.

Nhất thiết phải có chế độ rèn luyện thể dục  thể thao hàng ngày, không nên biện lý do này, lý do kia để lẩn tránh việc luyện tập. Mỗi ngày trung bình phải có 1 – 2 tiếng đồng hồ dành cho sự luyện tập cơ thể. Cụ thể chúng ta đi bộ, chạy bộ, thể dụng nhịp điệu, bơi lặn, đạp xe… rèn luyện như thế nào để ra mồ hôi nhiều là đạt hiệu quả.

Làm gì khi người béo phì đã có thai?

Ở người béo phì sau khi xác định có thai: cần thiết đi khám bác sĩ sản khoa và bác sĩ dinh dưỡng, để lên kế hoạch chăm sóc đặc biệt. Giám sát kỹ chỉ số đường huyết, chỉ số huyết áp cũng như các thông số sinh hóa về chức năng gan, chức năng thận trong suốt thai kỳ làm sao duy trì các chỉ số luôn luôn trong giới hạn bình thường. Cụ thể làm các xét nghiệm trong 3 tháng đầu thai kỳ, để có những kết quả chính xác và hướng điều trị hợp lý. Mỗi giai đoạn của thai kỳ có những mối nguy cơ cần phải dự phòng trước để tránh xảy ra những biến chứng đó.

Ba tháng đầu khả năng sảy thai cao, cần cho thuốc dưỡng thai như Utrogestan hoặc Duphaston và thuốc chống co thắt spasmaverin hoặc spassles. Ba tháng giữa nguy cơ sảy thai to, tiền sản giật xuất hiện đái tháo đường thai kỳ… Việc theo dõi và xử trí kịp thời là khâu rất quan trọng.

Ba tháng cuối của thai kỳ nguy cơ thai kỳ đối với người béo phì vẫn luôn rình rập. Tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, hội chứng ống cổ tay khi mang thai, giãn khớp cùng chậu và sinh non là những bệnh lý có thể xảy ra ở đối tượng trên. Điều quan trọng tuân thủ tốt theo sự chỉ dẫn và điều trị của bác sĩ.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Theo SKDS

Phụ nữ mang thai dễ tăng huyết áp cao nếu ngủ ngáy

Các bác sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu các dạng khủng hoảng liên quan đến hệ thần kinh tại Trường đại học Michigan, Mỹ cho biết: phụ nữ mang thai ngủ ngáy có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao gấp 2 lần so với người bình thường.

Nghiên cứu tập trung vào 1.700 phụ nữ mắc chứng ngủ ngáy khi mang thai (số này chiếm khoảng 1/4 số phụ nữ mang thai thông thường) tại Mỹ. Phần lớn trong số họ có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao gấp đôi so với những phụ nữ mang thai bình thường khác. Theo BS. Louise O’Brien, tình trạng này có thể dẫn tới chứng kinh giật nguy hiểm trong quá trình mang thai.  BS. O’Brien còn cho biết thêm: những phụ nữ này còn có nguy cơ sinh ra những đứa trẻ có cân nặng và kích thước nhỏ hơn bình thường.

phu-nu-mang-thai-de-tang-huyet-ap-cao-neu-ngu-ngay

Việc ngủ ngáy khi mang thai là điều rất khó xử lý, bởi nó liên quan đến tình trạng hẹp đường hô hấp ở người mẹ và rất nguy hiểm cho bào thai, thậm chí có thể gây tử vong cho đứa trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ do thiếu ôxy. Các chuyên gia cho rằng: phụ nữ mang thai nếu mắc phải chứng ngủ ngáy cần hết sức cẩn trọng trước các dấu hiệu về sức khoẻ, bất kỳ một biểu hiện bất thường về sức khoẻ của người mẹ đều có liên quan mật thiết đến tình trạng sức khoẻ của đứa trẻ trong bụng.

Theo y học cổ truyền

Giảm rủi ro u não bằng cách bổ xung Axit folic

Một nghiên cứu tại Úc cho thấy phụ nữ đang có kế hoạch sinh con nếu bổ sung axit folic có thể giúp giảm rủi ro phát triển u não ở trẻ đến 50%, theo IANS.

Nghiên cứu trên kéo dài 5 năm do Viện Ung bướu não trẻ em của Úc thực hiện. Giáo sư Elizabeth Milne thuộc Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em Telethon làm trưởng nhóm.

giam-rui-ro-u-nao-bang-cach-bo-xung-axit-folic
“Nghiên cứu cho thấy việc thiếu hụt axit folic hay còn gọi là folate có thể khiến cơ thể hình thành u não. Đây là nghiên cứu đầu tiên về tác động của một loại vitamin với sự phát triển của khối u não ở trẻ. Các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào tác động chung của các loại vitamin A, B6, B12, C với dị tật ống thần kinh của trẻ”, giáo sư Elizabeth Milne cho biết.

Nghiên cứu nhấn mạnh đây là thông điệp dành cho những phụ nữ đang có kế hoạch sinh con cần bổ sung axit folic trong chế độ dinh dưỡng hằng ngày của mình.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Cancer Epidemiology.

Theo thanh niên

Stress có nguy cơ làm giảm khả năng thụ thai

Theo thông kê của Bộ Y tế, số người vô sinh ở Việt Nam ở mức 8% trong đó 10 – 15% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Mỗi ngày Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Phụ sản TƯ tiếp nhận khám, tư vấn và điều trị cho khoảng trên 100 ca vô sinh.

Các chuyên gia cảnh báo rằng điều khó khăn nhất trong điều trị vô sinh là tâm lý của cả bệnh nhân và bác sĩ. Người đi chữa vô sinh thường rất sốt ruột dẫn đến việc điều trị một lúc nhiều thầy, thậm trí kết hợp cả Đông y và Tây y nên có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm bởi sự tương tác thuốc. Có nhiều bằng chứng chứng minh rằng những người quá lo lắng sẽ giảm 12% cơ hội thụ thai so với những phụ nữ khác và họ cũng biết điều đó.
stress
Nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Cecilia Pyper, ĐH Oxford  đã tiến hành các xét nghiệm nước bọt, phân tích hàm lượng hoóc môn cortisol (hoóc môn tiết ra khi cơ thể stress) và ảnh hưởng của nó tới khả năng thụ thai. Tất cả các phụ nữ tham gia nghiên cứu đều từ độ tuổi 18 đến 40 và đang cố gắng có con tự nhiên. Họ phát hiện ra rằng: “Stress làm giảm đáng kể cơ hội thụ thai mỗi ngày trong giai đoạn dễ có bầu nhất của chu kỳ kinh nguyệt”.

Theo một nghiên cứu khác của Đại học California (Mỹ), tình trạng stress, trầm uất, nóng nảy, giận dữ sẽ hạn chế đáng kể khả năng thụ thai ở những phụ nữ đang điều trị vô sinh hoặc hiếm muộn. Việc căng thẳng sẽ làm giảm đáng kể lượng hooc môn trong máu và tác động tới sự di chuyển của trứng hay tinh trùng.

Tuy nhiên để vượt qua qua bản thân, gia đình và xã hội để có được tâm trạng thoải mái đối với nhưng ca vô sinh là rất khó khăn.

Nguồn sức khỏe

Những nguyên nhân phổ biến gây tụt huyết áp

Tụt huyết áp hay còn gọi là huyết áp thấp, là một thuật ngữ để chỉ khi áp lực máu tác động lên thành động mạch sau mỗi nhịp tim thấp hơn so với bình thường. Tình trạng này ảnh hưởng đến một lượng lớn dân số thế giới, song đa số chúng ta ít để ý và thường bỏ qua. Theo các chuyên gia, việc thường xuyên bị tụt huyết áp có thể cản trở ôxy cũng như các chất dinh dưỡng quan trọng lưu thông lên não, dẫn đến nhiều rủi ro sức khỏe, thậm chí gây tử vong.

Có rất nhiều nguyên nhân gây tụt huyết áp, nhưng dưới đây là 10 nguyên nhân phổ biến nhất mà chúng ta nên biết và khắc phục trước khi quá muộn.

Mất nước. Đây là một trong những vấn đề mà chúng ta đối mặt hàng ngày. Nguyên nhân của mất nước có thể là do nôn ói, tiêu chảy kéo dài hay do tập luyện, ra nhiều mồ hôi và sốc nhiệt. Nếu không bổ sung lượng nước kịp thời có thể dẫn tới tình trạng tụt huyết áp với các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt hoặc ngất xỉu.

do-huyet-ap

Mất máu. Mất máu dù ít hay nhiều đều có thể làm giảm huyết áp. Các trường hợp mất máu gây tụt huyết áp nhanh gồm tai nạn, phẫu thuật hay nhiều nguyên nhân khác.

Viêm nội tạng. Khi các bộ phận trong cơ thể bị viêm, các chất lưu di chuyển khỏi mạch máu để tập trung vào các mô bị viêm xung quanh nội tạng và các khu vực lân cận rồi rút máu, làm mạch máu thiếu hụt một lượng lớn máu gây hạ huyết áp.

Cơ tim yếu. Nếu bạn bị yếu cơ tim, bạn rất dễ bị hạ huyết áp. Cơ tim yếu sẽ làm cho tim gặp trở ngại trong việc bơm máu, làm giảm lượng máu được bơm. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cơ tim yếu, có thể là do bị nhồi máu cơ tim nhiều lần hay một số cơ tim bị nhiễm trùng do virus.

Nghẽn tim. Tình trạng này có thể xảy ra do nhồi máu cơ tim hay chứng xơ vữa động mạch. Khi đó, các mô đặc biệt giúp dẫn truyền dòng điện trong tim bị tổn hại, gây cản trở một vài hay tất cả các tín hiệu điện đi đến các bộ phận khác của tim, làm cho tim co bóp bất thường, ảnh hưởng đến huyết áp.

Nhịp tim nhanh bất thường. Nhịp tim nhanh cũng có thể gây tụt huyết áp. Khi tim đập không đều hoặc quá nhanh, các tâm thất của tim do đó cũng sẽ co bóp với một nhịp độ không bình thường. Chính vì điều này, tâm thất không nhận đủ lượng máu tối đa trước khi co bóp, vì vậy lượng máu trong mạch bị giảm, cho dù nhịp tim đập nhanh.

Mang thai. Phụ nữ mang thai có nguy cơ cao bị tụt huyết áp. Dù đây là hiện tượng thường thấy trong thai kỳ nhưng tốt hơn là chị em nên kiểm soát càng chặt càng tốt nhằm phòng tránh các biến chứng.

Nhiễm trùng nặng. Theo đó, vi khuẩn ở những nơi bị nhiễm trùng như phổi hay bụng thâm nhập vào dòng máu, sau đó sản sinh ra các độc tố làm ảnh hưởng đến các mạch máu, dẫn đến huyết áp bị hạ.

Thiếu hụt dinh dưỡng. Tất cả mọi người đều cần bổ sung dinh dưỡng để sống khỏe mạnh và hạnh phúc. Việc thiếu hụt bất kỳ chất dinh dưỡng nào ở bất kỳ thời điểm nào cũng có thể gây ra các biến chứng, trong đó có tình trạng hạ huyết áp.

Các vấn đề nội tiết. Các vấn đề về nội tiết như suy giảm chức năng tuyến giáp, bệnh ở tuyến cận giáp, tuyến thượng thận suy yếu, hạ đường huyết và bệnh tiểu đường… đều có thể gây tụt huyết áp. Theo các chuyên gia, sở dĩ chứng hạ huyết áp xảy ra khi mắc các vấn đề về nội tiết là vì một số biến chứng xuất hiện trong quá trình sản xuất hormone tuyến nội tiết.

Theo Báo Cần Thơ

Nguyên nhân của bệnh đãng trí

Thiếu vitamin B12 có thể dẫn tới bệnh suy giảm trí nhớ. Khoảng 40% phụ nữ trở nên đãng trí hơn vào thời kỳ mãn kinh. Trí nhớ có thể bị ảnh hưởng sau một chuyến bay kéo dài hơn bốn giờ đồng hồ.

Dưới đây là những nguyên nhân của “chứng hay quên”, theo Body and Soul.

1. Huyết áp cao

Nghiên cứu tại Mỹ thực hiện trên hơn 30 nghìn người trong vòng bốn năm cho thấy, người cao huyết áp thể hiện kém hơn trong những bài kiểm tra trí nhớ và giảm sút trí nhớ nhanh hơn qua thời gian.

Tiến sĩ Gavin Lambert từ Viện Tim và Tiểu đường Baker IDI cho biết: “Sự gia tăng huyết áp có thể đồng nghĩa với sự thay đổi trong cấu trúc mạch máu khiến thành mạch dày hơn và việc lưu thông máu trong cơ thể trở nên khó khăn. Kết quả là các cơ quan trong cơ thể cũng sẽ bị tổn thương. Não bộ cũng là một trong số đó. Điều này tác động tới nhận thức và khả năng ghi nhớ của con người. Vì thế, hãy duy trì một chế độ ăn cân bằng, cân nặng hợp lý, vận động thường xuyên, không hút thuốc. Nếu bạn đang dùng thuốc điều trị huyết áp, uống thuốc thường xuyên để ổn định huyết áp”.

2. Trải qua các chuyến bay kéo dài

may-bay

Trí nhớ có thể bắt đầu bị ảnh hưởng sau một chuyến bay kéo dài hơn bốn giờ đồng hồ. Điều này gây ra các cơn nhức đầu và có thể ảnh hưởng tới trí nhớ ngắn hạn. Thông thường, mọi người sẽ hồi phục nhưng có thể không nhớ lại chính xác được những gì đã xảy ra vào thời điểm đó.

3. Thiếu vitamin B12

Theo Denise Griffiths, phát ngôn viên của Hiệp hội các chuyên gia dinh dưỡng Australia, việc thiếu hụt vitamin B12 có thể dẫn tới những thay đổi trong nhận thức, từ chứng hay quên tới bệnh suy giảm trí nhớ. Các nhà khoa học tin rằng vitamin B12 có thể bảo vệ bao myelin – lớp vỏ bao quanh sợi trục tế bào thần kinh. Nếu lớp vỏ này bị tổn thương nó có thể ảnh hưởng tới việc truyền thông điệp tới não bộ và từ não bộ đi nơi khác.

4. Mãn kinh

Nghiên cứu do Đại học Illinois thực hiện vào năm 2008 đã tìm thấy sự liên kết giữa những cơn “bốc hỏa” và trí nhớ kém ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh. Nghiên cứu này theo sau một nghiên cứu khác cho thấy, có tới khoảng 40% phụ nữ cho biết họ trở nên đãng trí hơn vào thời kỳ mãn kinh.

Theo Giáo sư Pauline Maki, phụ nữ càng có nhiều cơn “bốc hỏa” thì trí nhớ càng kém. Maki cũng nhận thấy những phụ nữ bị các cơn bốc hỏa này làm gián đoạn giấc ngủ thậm chí có trí nhớ còn tệ hơn nữa.

Bà Elizabeth Farrel, bác sĩ tư vấn phụ khoa từ Women’s Health cho biết, mặc dù không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy mãn kinh gây ra chứng mất trí nhớ, nhiều phụ nữ trong thời kỳ này vẫn tiếp tục cho biết cảm giác rối tung trước mọi thứ của mình. Bà phát biểu: “Mọi người thường phải ‘đấu tranh’ với việc tìm kiếm từ ngữ và quên tên người khác. Chị em nên nói chuyện với bác sĩ về các triệu chứng này nếu nó ảnh hưởng tới cuộc sống của mình”.

cang-thang

5. Hóa trị liệu

Nghiên cứu tại Đại học Standford (Mỹ) cho thấy những bệnh nhân ung thư vú trải qua hóa trị liệu phải chịu một vài ảnh hưởng tới những phần não chịu trách nhiệm về ghi nhớ.

Theo Tiến sĩ Helen Zorbas, Giám đốc điều hành Viện Ung thư Australia, một trong những tác dụng phụ không mong muốn của hóa trị liệu là “chemo brain” (hóa trị gây suy giảm chức năng não). Tác động này có thể nhẹ hoặc đáng kể tùy theo từng trường hợp. Đó là cảm giác hơi mơ hồ, hay nhầm lẫn và chứng hay quên nhẹ thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn khi tiến hành điều trị và hầu hết trường hợp đều trở lại bình thường sau đó.

6. Vấn đề về tuyến giáp

Suy chức năng tuyến giáp là tình trạng giảm chức năng tuyến giáp dẫn tới giảm sản sinh hormone tuyến giáp. Từ đó làm chậm quá trình trao đổi chất, gây mệt mỏi và có thể làm giảm trí nhớ. Suy giảm tuyến giáp thường xảy ra phổ biến sau tuổi 40 và tác động tới khoảng từ 6 đến 10% phụ nữ và một số lượng nhỏ hơn ở nam giới.

Bác sĩ Ronald McCoy, phát ngôn viên của Royal Australian College of General Practitioners cho hay, khi đang gặp một vấn đề sức khỏe gây ra mệt mỏi, bạn sẽ dễ dàng trở nên đãng trí hơn. Nhưng khi suy chức năng tuyến giáp được chữa trị, mọi người sẽ hồi phục tốt và trí nhớ cũng được khôi phục. Suy giảm tuyến giáp có thể được điều trị bằng thuốc.

7. Rượu

Uống quá nhiều rượu có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lên vùng nhớ hippocampus – phần não bộ có chức năng lưu trữ thông tin và hình thành ký ức; ngăn cản việc chuyển ký ức từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn. Bởi vậy những người uống rượu thường không thể nhớ những gì đã xảy ra trong suốt khoảng thời gian họ uống.

8. Mang thai

Mang thai có thể tác động tới trí nhớ của thai phụ. Theo nhà nghiên cứu – Tiến sĩ Julie Henry, thành viên trong một nghiên cứu của Đại học New South Wales: “Những công việc đòi hỏi việc ghi nhớ thường xuyên như nhớ số điện thoại của bạn bè, người thân thường khó bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, đó lại là một chuyện khác khi bạn phải ghi nhớ thêm những số điện thoại mới hoặc phải giữ trong đầu hàng loạt thông tin khác”. Bà cho biết, những thay đổi đột ngột của cơ thể khi mang thai có thể chính là lý do.

Nguồn khoa học

Những tư thế ngồi cần tránh khi mang thai

Ngồi bắt chéo chân hay gập gối

Chị em thường hay bắt chéo chân khi ngồi vì tư thế này khá duyên nhưng thói quen này góp phần làm hạn chế sự lưu thông máu, giãn tĩnh mạch. Đặc biệt, phù chân là hiện tượng hay gặp ở các bà bầu, tư thế này càng khiến máu dồn về phía chân gây to chân thêm. Ngoài ra, khi có bầu, chị em không nên gập gối vì sẽ khiến lưng dưới bị đặt nặng áp lực. Ngược lại, phụ nữ có thai nên phân đều lực lên cả hai chân, ngồi thẳng lưng.

Ngồi không tựa lưng

mang-thai

Tư thế ngồi không tựa lưng sẽ khiến bạn bị đau lưng. Tốt nhất, các bà bầu nên để lưng được hỗ trợ bằng vật tựa và luôn giữ cho cột sống thẳng. Tránh ngồi ghế đẩu hoặc ghế có tựa lưng thấp khi mang thai.

Ngồi ngửa, thõng vai

Thông thường khi ở nhà, chúng ta hay ngồi ngửa người, bụng cao, vai buông thõng. Tuy nhiên, tư thế ngồi này không thích hợp cho thai phụ vì nó sẽ khiến vùng lưng phía dưới bị đặt trong tình trạng căng thẳng và gây đau.

Ngồi gập người về phía trước

Tư thế ngồi này tạo áp lực lên bụng, không những khiến cho mẹ bầu thấy không thoải mái mà còn gây nguy hiểm cho thai nhi. Trong giai đoạn thai nhi đang phát triển, ngồi gập có thể khiến lồng ngực của bạn để lại dấu tích vết vĩnh viễn trên cơ thể mềm mại của đứa bé.

Ngồi nửa mông

Chị em thường ngồi nửa mông mỗi khi trên giường nhưng theo các chuyên gia, tư thế ngồi này gây nhiều áp lực lên cột sống. Đó là lý do tại sao thai phụ thường cảm thấy đau nhói ở lưng khi ngồi lâu tư thế này.

H.Trang (Theo Boldsky.com)

Cẩn trọng việc stress khi mang thai

Đối với phụ nữ mang thai, khả năng đáp ứng đối với những thay đổi về áp lực công việc, tình cảm, đời sống sẽ kém hơn nhiều so với người bình thường. Do đó, nguy cơ bị stress trong thai kỳ là rất lớn.

Stress là cách mà cơ thể chúng ta phản ứng lại một điều gì đó vượt ra khỏi giới hạn chịu đựng bình thường. Đối với người bình thường, stress tác động xấu đến sức khỏe về mọi mặt như thể chất, thần kinh, tâm lý… làm tăng nguy cơ dẫn đến các tình trạng bệnh lý như tăng huyết áp, trầm  cảm và có thể làm nặng thêm những bệnh lý đang có sẵn.

stress-khi-mang-thai-can-can-trong

Đối với phụ nữ mang thai rất cần môi trường sống và làm việc bình thường, không bị mệt mỏi, căng thẳng. Khi tâm lý và sức khoẻ bà mẹ ổn định thì sự phát triển của thai nhi sẽ  tốt hơn nhiều. Tuy nhiên, nếu bà mẹ bị stress thường ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thai nhi qua chế độ ăn uống nghỉ ngơi không được tốt của bà mẹ khi bị stress. Một số nghiên cứu cho thấy stress mức độ nặng ở phụ nữ mang thai có thể làm tăng nguy cơ sảy thai lên 3-4 lần hoặc đẻ non hoặc sinh con nhẹ cân lên gấp 2 lần. Ngoài ra, ở những phụ nữ mang thai bị stress, người ta đã tìm thất chất coticotrophin hormon (CRH) trong máu tăng cao; chất này cản trở sự chuyển chất dinh dưỡng và ôxy từ máu mẹ qua nhau thai để sang thai nhi.

Nếu thai phụ mắc những bệnh có thể gây ra stress hay trầm cảm thì cần được bác sĩ tư vấn và dùng thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Hầu hết các thuốc được bác sĩ kê đơn cho thai phụ không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến thai nhi. Đa số bệnh lý trong thai kỳ nếu không được điều trị thì sẽ ảnh hưởng xấu đến thai kỳ hơn là những tác dụng phụ của việc điều trị  gây ra. Bác sĩ sẽ cân nhắc cho thai phụ và tư vấn kỹ trước khi cho dùng thuốc. Sự  hiểu biết và tâm lý an tâm sau khi được cung cấp đầy đủ thông tin là một trong những yếu tố quan trọng giúp bà mẹ không bị stress khi phải cần điều trị một bệnh  lý nào đó trong thời gian mang thai.

Để phòng tránh và giảm stress, phụ nữ mang thai cần có chế độ dinh dưỡng, làm việc phù hợp, dành nhiều thời gian nghỉ ngơi để bảo vệ sức khỏe của bạn và em bé. Nếu  cảm thấy lo lắng về một điều gì đó, thai phụ nên chia sẻ với người thân, bạn bè hoặc với chuyên gia về sức  khỏe để được thoải mái hơn. Khám thai đầy đủ và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Thai phụ nên chọn những bài tập thể dục an toàn, nhẹ nhàng trong thời gian mang thai theo sự hướng dẫn của bác sĩ để tăng cường sức khỏe, cải thiện tâm trạng mệt mỏi và căng thẳng.

Thạc sĩ, Bác sĩ Ngô Thị Yên

Theo SKDS

Tình trạng loãng xương ở sản phụ sau sinh

Tình trạng giảm mật độ khoáng xương (có thể hiểu là loãng xương) lúc mang thai và sau khi sinh cho em bé bú là tình trạng thiếu canxi sinh lý.

Dấu hiệu cơ bản của chứng loãng xương là sau khi sinh con từ 1-2 tháng, sản phụ bắt đầu xuất hiện tình trạng đau nhức khắp người, nhất là khu vực vai, lưng, bàn chân. Một số người không thấy có triệu chứng gì khi bị loãng xương hoặc bỏ qua những triệu chứng nhẹ như đau lưng âm ỉ.

tinh_trang_loang_xuong_o_san_phu_sau_sinh

Nguyên nhân

– Do tình trạng mật độ xương trong khoảng thời gian mang thai và cho con bú.

– Do một lượng lớn vitamin D từ cơ thể mẹ đã bị tiêu hao vì phải nuôi dưỡng thai nhi.

– Khi mang thai, nồng độ estrogen trong cơ thể bạn tăng lên. Điều này có tác động đến sự hoạt động của các cơ, gân, dây chằng, đặc biệt là vùng khớp cùng của xương chậu (biểu hiện là tình trạng đau lưng, mỏi khớp khi mang thai và kéo dài đến khoảng thời gian sau sinh).

– Căng thẳng, bận rộn chăm con khiến cơ thể mệt mỏi và hay xuất hiện những cơn đau mỏi xương khớp.

Điều trị

Phần lớn các trường hợp loãng xương ở phụ nữ sau sinh là hội chứng loãng xương sinh lý. Tình trạng này sẽ được cải thiện đáng kể sau 6-12 tháng cho con bú và có thể khỏi sau 6-12 tháng ngừng cho con bú.

Với những trường hợp loãng xương nghiêm trọng, khi ấy bạn có thể phải sử dụng thuốc giảm đau hoặc dùng các loại thuốc uống, thuốc bổ sung vitamin D, theo điều trị và chỉ định của bác sĩ…

Phòng chứng loãng xương sau sinh

– Canxi là thành phần cấu trúc quan trọng của xương. Vì vậy, bạn nên cung cấp đầy đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua ăn uống và vận động hợp lý mỗi ngày. Hàm lượng canxi trong thời gian cho con bú luôn cao hơn bình thường, khoảng 1.500mg/ngày. Các thực phẩm giàu canxi là sữa, đậu tương, lòng đỏ trứng, rau cải, cá tôm…

– Nên bổ sung thêm các nguồn thực phẩm giàu vitamin D như trứng, nấm tươi, lươn, trai, sò…

Sinh khi sinh con khoảng một tháng, sức khỏe của sản phụ đã phục hồi, có thể tham gia các hoạt động thể dục thể thao vừa sức, nhẹ nhàng. Không chỉ phòng được chứng loãng xương, vận động còn giúp bạn tăng cường sức khỏe và sớm lấy lại vóc dáng sau sinh.

BS. Huy An
Theo SKĐS

Khi bị rạn da phải làm sao?

Rạn da thường xảy ra ở những vùng da mỏng và yếu như da vùng bụng, mặt trong đùi, bẹn, mông… Tuy không ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng rạn da lại làm mất đi vẻ đẹp của cơ thể, ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Mang thai và béo phì dễ bị rạn da

Da được cấu tạo bởi 3 lớp: ngoài cùng là lớp biểu bì, ở giữa là lớp trung bì và lớp trong cùng là hạ bì. Rạn da xảy ra ở lớp giữa, có mô liên kết, nơi mà sự đàn hồi ở da giúp da luôn ở hình dạng vốn có của nó. Nếu lớp da ở giữa này bị kéo giãn trong một thời gian dài như thời gian mang thai to hoặc béo phì, da mất sự đàn hồi do bị gãy, đứt các tổ chức liên kết dưới da cấu tạo bởi các sợi collagen và elastin, hậu quả là rạn da. Sự rạn da xảy ra do các hormon trong cơ thể thay đổi quá nhanh, không thích ứng với sự phát triển của các tế bào da, khiến cho da bị rạn và để lại vết rạn. Sự thay đổi các hormon trong giai đoạn dậy thì, thai nghén, thay đổi về trọng lượng một cách đột ngột như sụt giảm cân hoặc tăng cân quá nhanh sẽ làm mất tính đàn hồi của da mà gây rạn da. Một người có dùng các loại thuốc chứa corticoid dài ngày cũng có thể gây rạn da. Nếu bôi thuốc diện rộng, thuốc có thể gây rạn da cả vùng đó nhất là khi dùng băng bịt thuốc này hoặc bôi ở vùng nếp gấp.

ran_da_01

Rạn da đùi ở tuổi dậy thì.

Rạn da thường gặp ở phụ nữ, không phân biệt tuổi tác, trong đó phụ nữ mang thai, những người béo phì hoặc thanh niên nam nữ ở độ tuổi dậy thì mà cơ thể phát triển quá nhanh dễ bị rạn da hơn những người khác. Đối với phụ nữ mang thai, đến tháng thứ 6 – 7 thường thấy rạn da ở bụng, háng, đùi và vú. Một số thanh niên, thiếu nữ dậy thì khi da giãn không kịp để thích nghi với sự thay đổi của trọng lượng cũng bị rạn da. Những người bị mắc các bệnh về da hoặc các bệnh về nội tiết cũng dễ bị rạn da. Các hormon trong cơ thể thay đổi hoặc sử dụng thuốc chứa hormon điều trị kéo dài sẽ gây sự thay đổi cấu trúc da và rạn da. Rạn da cũng có tính di truyền, nếu người mẹ mắc chứng rạn da thì con gái cũng dễ mắc.

Biểu hiện rạn da

Rạn da biểu hiện bằng những vệt dài thành từng đám nhỏ trên bề mặt da trông giống như da cá đã đánh vẩy nhưng không gây ra cảm giác đau hoặc ngứa ngáy gì. Vết da bị rạn được hình thành qua 2 thời kỳ: thời kỳ đầu là những vệt đỏ, đỏ tím, có hay không kèm theo ngứa, nhưng không đau; thời kỳ thứ 2, da chuyển sang màu trắng có ánh như xà cừ và hình thành các đường rạch lõm, đây là lúc tạo vết rạn, khi đó có sự tương phản khá rõ giữa làn da bình thường và vết rạn, sờ vào sẽ có cảm giác hơi sần. Vị trí rạn da thường gặp ở bụng, đùi, bẹn, hông, vú, mông, đầu gối, bắp chân, khuỷu tay, thắt lưng.

ran_da_02

Ăn nhiều rau và trái cây giúp da dẻo dai.

Phương pháp chữa trị và phòng tránh

Rất khó để xóa hẳn các vết rạn trên da vì không có cách nào phục hồi lại các sợi collagen và elastin khi nó đã bị đứt gãy. Nếu bạn nghe quảng cáo của các thẩm mỹ viện là chiếu laser,  CO2, IPL… làm hết vết rạn thì đừng quá tin. Kỹ thuật siêu mài mòn có thể làm vết rạn khó thấy hơn, nhưng hiệu quả không đáng kể, bởi các sợi đàn hồi của da nằm sâu ở lớp trung bì không thể mài tới được. Trường hợp mài sâu quá sẽ làm tổn thương da, gây thâm nám. Phương pháp duy nhất có thể làm vùng da bị rạn trở lại bình thường là cắt bỏ lớp da rạn, làm căng da hay ghép da thay thế vùng bị rạn bằng phẫu thuật thẩm mỹ. Tuy nhiên trên thực tế, người ta có thể làm mờ vết rạn bằng các loại thuốc bôi có chứa tretinoin, lécithine, các dầu thiên nhiên, các vitamine C, E… và việc dùng thuốc ngay khi các vết rạn mới xuất hiện sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Các loại chế phẩm có thể làm mờ nhạt và giảm kích thước vết rạn, hạn chế sự phát triển của chúng gồm: các loại dầu chiết xuất từ hướng dương, dầu đậu nành, dầu oliu xoa đều lên các vùng da bị rạn hằng ngày trước khi đi ngủ giúp khôi phục độ đàn hồi cho da và hoạt động của các tế bào biểu bì da. Dùng lòng trắng trứng bôi đều lên vùng da bị rạn sau đó rửa sạch bằng nước lạnh, có thể làm mờ đi các vết rạn một cách nhanh chóng vì lòng trắng trứng có công dụng kỳ diệu trong việc khôi phục và tái tạo collagen cho da. Dùng sữa bò tươi mát-xa vùng da bị rạn vào mỗi buổi tối cũng có hiệu quả tốt.

Phòng rạn da bằng cách: kiểm soát cân nặng, không để tăng cân quá nhanh trong thời gian ngắn. Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao giúp cơ bắp săn chắc. Thực hiện chế độ ăn uống hợp lý. Ăn các thức ăn có chứa nhiều protein giúp tổng hợp collagen nuôi dưỡng da. Nên ăn nhiều rau xanh và trái cây chín vì loại thực phẩm này là nguồn cung cấp carotinit, các vitamin và khoáng chất dồi dào cho cơ thể rất cần cho da mịn màng dẻo dai. Phụ nữ có thai nên đi khám định kỳ để có được lời khuyên thích hợp cho việc dùng thuốc phòng chống rạn da mà không ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi.

Theo suckhoevadoisong

Chữa bệnh viên xoan với phụ nữ cho con bú

Viêm mũi xoang là bệnh phổ biến ở Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng.

Theo thống kê, 70% phụ nữ có thai bị ngạt tắc mũi và có thể dẫn tới viêm xoang nếu không được điều trị thích hợp. Viêm xoang vẫn có thể tồn tại ngay cả khi đang mang thai hoặc bà mẹ mắc phải sau sinh.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thường có tâm lý ngại sử dụng thuốc, chính vì thế mà họ cố chịu đựng cho tới khi không thể. Lúc này bệnh lý xoang thường đã nặng và đã có biến chứng, hay gặp nhất là viêm thanh quản, viêm phế quản.

Viêm xoang là hiện tượng bít tắc các lỗ thông từ xoang đổ ra mũi gây ra hiện tượng ứ trệ dịch trong xoang, làm vi khuẩn phát triển và gây nên quá trình viêm. Sự bít tắc các lỗ thông của xoang có thể gây ra do rất nhiều nguyên nhân nhưng thường là do viêm nhiễm từ mũi.

Mục đích khi điều trị là trả lại sự thông thoáng cho hệ thống lỗ thông của mũi xoang. Điều trị viêm mũi xoang đặc biệt là viêm mũi xoang mạn tính gặp rất nhiều khó khăn vì cấu tạo của hệ thống mũi xoang rất phức tạp nên bệnh hay tái phát, đồng thời quan niệm chưa đúng đắn của bệnh nhân trong quá trình điều trị làm giảm tỷ lệ thành công khi chữa viêm mũi xoang.

Thuốc chữa viêm mũi xoang là những thuốc có thể can thiệp để giải phóng tình trạng tắc nghẽn của lỗ thông mũi xoang. Các thuốc này phải được phối hợp đồng bộ dưới sự theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc tai mũi họng. Tùy theo giai đoạn của viêm mũi xoang, loại viêm mũi xoang (viêm mũi xoang mủ, viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang do nấm…) mà thầy thuốc ra quyết định sử dụng thuốc như thế nào.

Thuốc toàn thân

– Kháng sinh uống hoặc tiêm: Ở phụ nữ đang cho con bú thường sử dụng nhóm ß lactam.

– Thuốc chống viêm, giảm phù nề để giải phóng lỗ thông mũi xoang.

Thuốc hay sử dụng là kháng viêm nhóm steroid và non steroid như prednisolone, medrol, medexa, celestene… Nhóm thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ như loét, thủng dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tăng đường huyết, suy tuyến thượng thận… Chính vì thế các thuốc này thường được dùng trong thời gian ngắn (dưới 1 tuần ở giai đoạn cấp) và phải được thầy thuốc chỉ định mới dùng.

Nhóm thuốc chống viêm do các men đảm nhận để chống phù nề như alphachymotrypsine choay uống hoặc ngậm.

– Thuốc giảm đau như paracetamol.

– Thuốc long đờm: acetylcysteine, ambroxol, carbocisteine.

– Thuốc chống dị ứng: telfast, clarytine…

chua_viem_cho_phu_nu_mang_thai

Phẫu thuật chữa viêm xoang khi điều trị nội khoa thất bại.

Thuốc tại chỗ

Là phươmg pháp điều trị hữu hiệu nhất với viêm mũi xoang cho các phụ nữ nuôi con bú.

Thuốc chống viêm, chống xung huyết mũi, thuốc co mạch.

Nhóm thuốc nhỏ mũi thường phải phối hợp giữa kháng sinh với một số thành phần chống viêm, giảm phù nề, giảm xung huyết mới có hiệu quả.

Kháng sinh nhóm moxifloxacine hydrochloride, tobramycine thường được sử dụng để bào chế làm thành phần của thuốc nhỏ mũi. Lý do chính là qua nghiên cứu người ta nhận thấy khả năng thấm qua máu thấp dưới 2%, đồng thời thuốc lại không bị hấp thu qua đường tiêu hoá nên khá an toàn khi sử dụng. Tuy nhiên khi dùng kéo dài thuốc nhỏ mũi chứa kháng sinh thì khả năng tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, bao gồm cả nấm có thể xảy ra. Nếu bội nhiễm xuất hiện phải ngưng thuốc và chuyển sang phương pháp điều trị thích hợp khác.

Thuốc co mạch – chống ngạt là loại thuốc hiện nay đang được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng thu nhỏ tổ chức cương ở cuốn mũi dưới, chống xung huyết niêm mạc. Thuốc tác dụng nhanh trong vài phút và duy trì trong nhiều giờ sau đó. Thuốc nhỏ mũi có khả năng gây các phản ứng dị ứng tại chỗ như cảm giác ngứa mũi, sưng mũi, đỏ cánh mũi, đau nhức dọc theo sống mũi… tuy không xảy ra tới 3% các trường hợp dùng thuốc.

Một số bệnh nhân gặp phản ứng không dung nạp thuốc. Tại niêm mạc hốc mũi biểu hiện có cảm giác như kim châm, hiếm gặp phản ứng dị ứng toàn thân như phù da, niêm mạc vùng mặt, ngoại lệ có thể gây phù Quincke. Trong trường hợp này phải ngưng dùng thuốc ngay và trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị.

Thuốc nên sử dụng trong 7 – 10 ngày. Không nên điều trị kéo dài nếu không có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

Các thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa… dạng xịt phun sương. Thuốc corticoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2 % hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng cách cũng sẽ gây một số biến chứng của corticoid nói chung như ức chế vỏ thượng thận tiết hormon làm tuyến vỏ thượng thận bị teo. Gây hội chứng biến dưỡng hậu quả từ việc tăng giữ muối, nước gây hiện tượng béo giả, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, gây tăng đường huyết – nguy cơ của đái tháo đường bên cạnh đó làm tăng huyết áp, giảm kali máu kết hợp rối loạn cân bằng muối – nước gây nhiều bất lợi cho người bị bệnh tim mạch, người glaucoma… Rối loạn quá trình tái tạo xương, biến dưỡng cơ dẫn đến loãng xương và teo cơ. Giảm sức đề kháng chung của cơ thể nên rất dễ bị nhiễm trùng, nhiễm nấm đặc biệt là ở hệ thống mũi xoang. Một số trường hợp xuất hiện rối loạn kinh nguyệt hoặc chảy máu mũi. Những thuốc này cũng bài tiết qua sữa nên cần cân nhắc trước khi dùng.

Phòng bệnh

Viêm mũi xoang là loại bệnh có thể phòng tránh được nếu bạn có chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh như ở những người có cơ địa dị ứng cần tự tìm hiểu xem mình có thể bị dị ứng với loại thức ăn nào để phòng tránh. Ví dụ, nếu bạn ăn tôm mà xuất hiện hắt hơi nhiều, ngứa mũi thì nên dừng ngay loại thức ăn đó. Đeo khẩu trang khi đi ở những nơi nhiều bụi bẩn… Nếu xuất hiện tình trạng ngạt mũi tăng cần phải sử dụng thuốc để điều trị ngay, tránh việc lỗ thông mũi xoang bị tắc. Trong trường hợp cần sử dụng thuốc phải được đi khám và điều trị tại cơ sở chuyên khoa để an toàn và hiệu quả.

Theo 24h

Phương pháp chữa bệnh viêm xoang ở phụ nữ cho con bú

Viêm mũi xoang là bệnh phổ biến ở Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng.

Theo thống kê, 70% phụ nữ có thai bị ngạt tắc mũi và có thể dẫn tới viêm xoang nếu không được điều trị thích hợp. Viêm xoang vẫn có thể tồn tại ngay cả khi đang mang thai hoặc bà mẹ mắc phải sau sinh.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thường có tâm lý ngại sử dụng thuốc, chính vì thế mà họ cố chịu đựng cho tới khi không thể. Lúc này bệnh lý xoang thường đã nặng và đã có biến chứng, hay gặp nhất là viêm thanh quản, viêm phế quản.

Viêm xoang là hiện tượng bít tắc các lỗ thông từ xoang đổ ra mũi gây ra hiện tượng ứ trệ dịch trong xoang, làm vi khuẩn phát triển và gây nên quá trình viêm. Sự bít tắc các lỗ thông của xoang có thể gây ra do rất nhiều nguyên nhân nhưng thường là do viêm nhiễm từ mũi.

Mục đích khi điều trị là trả lại sự thông thoáng cho hệ thống lỗ thông của mũi xoang. Điều trị viêm mũi xoang đặc biệt là viêm mũi xoang mạn tính gặp rất nhiều khó khăn vì cấu tạo của hệ thống mũi xoang rất phức tạp nên bệnh hay tái phát, đồng thời quan niệm chưa đúng đắn của bệnh nhân trong quá trình điều trị làm giảm tỷ lệ thành công khi chữa viêm mũi xoang.

Thuốc chữa viêm mũi xoang là những thuốc có thể can thiệp để giải phóng tình trạng tắc nghẽn của lỗ thông mũi xoang. Các thuốc này phải được phối hợp đồng bộ dưới sự theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc tai mũi họng. Tùy theo giai đoạn của viêm mũi xoang, loại viêm mũi xoang (viêm mũi xoang mủ, viêm mũi xoang dị ứng, viêm xoang do nấm…) mà thầy thuốc ra quyết định sử dụng thuốc như thế nào.

Thuốc toàn thân

– Kháng sinh uống hoặc tiêm: Ở phụ nữ đang cho con bú thường sử dụng nhóm ß lactam.

– Thuốc chống viêm, giảm phù nề để giải phóng lỗ thông mũi xoang.

Thuốc hay sử dụng là kháng viêm nhóm steroid và non steroid như prednisolone, medrol, medexa, celestene… Nhóm thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ như loét, thủng dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tăng đường huyết, suy tuyến thượng thận… Chính vì thế các thuốc này thường được dùng trong thời gian ngắn (dưới 1 tuần ở giai đoạn cấp) và phải được thầy thuốc chỉ định mới dùng.

Nhóm thuốc chống viêm do các men đảm nhận để chống phù nề như alphachymotrypsine choay uống hoặc ngậm.

– Thuốc giảm đau như paracetamol.

– Thuốc long đờm: acetylcysteine, ambroxol, carbocisteine.

– Thuốc chống dị ứng: telfast, clarytine…

Thuốc chữa viêm xoang ở phụ nữ cho con bú, Sức khỏe đời sống, viem mui, viem xoang, suc khoe, ba bau, mang thai, thuoc

chua_viem_xoan

Phẫu thuật chữa viêm xoang khi điều trị nội khoa thất bại.

Thuốc  tại chỗ

Là phươmg pháp điều trị hữu hiệu nhất với viêm mũi xoang cho các phụ nữ nuôi con bú.

Thuốc chống viêm, chống xung huyết mũi, thuốc co mạch.

Nhóm thuốc nhỏ mũi thường phải phối hợp giữa kháng sinh với một số thành phần chống viêm, giảm phù nề, giảm xung huyết mới có hiệu quả.

Kháng sinh nhóm moxifloxacine hydrochloride, tobramycine thường được sử dụng để bào chế làm thành phần của thuốc nhỏ mũi. Lý do chính là qua nghiên cứu người ta nhận thấy khả năng thấm qua máu thấp dưới 2%, đồng thời thuốc lại không bị hấp thu qua đường tiêu hoá nên khá an toàn khi sử dụng. Tuy nhiên khi dùng kéo dài thuốc nhỏ mũi chứa kháng sinh thì khả năng tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, bao gồm cả nấm có thể xảy ra. Nếu bội nhiễm xuất hiện phải ngưng thuốc và chuyển sang phương pháp điều trị thích hợp khác.

Thuốc co mạch – chống ngạt là loại thuốc hiện nay đang được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng thu nhỏ tổ chức cương ở cuốn mũi dưới, chống xung huyết niêm mạc. Thuốc tác dụng nhanh trong vài phút và duy trì trong nhiều giờ sau đó. Thuốc nhỏ mũi có khả năng gây các phản ứng dị ứng tại chỗ như cảm giác ngứa mũi, sưng mũi, đỏ cánh mũi, đau nhức dọc theo sống mũi… tuy không xảy ra tới 3% các trường hợp dùng thuốc.

Một số bệnh nhân gặp phản ứng không dung nạp thuốc. Tại niêm mạc hốc mũi biểu hiện có cảm giác như kim châm, hiếm gặp phản ứng dị ứng toàn thân như phù da, niêm mạc vùng mặt, ngoại lệ có thể gây phù Quincke. Trong trường hợp này phải ngưng dùng thuốc ngay và trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị.

Thuốc nên sử dụng trong 7 – 10 ngày. Không nên điều trị kéo dài nếu không có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

Các thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa… dạng xịt phun sương. Thuốc corticoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2 % hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng cách cũng sẽ gây một số biến chứng của corticoid nói chung như ức chế vỏ thượng thận tiết hormon làm tuyến vỏ thượng thận bị teo. Gây hội chứng biến dưỡng hậu quả từ việc tăng giữ muối, nước gây hiện tượng béo giả, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, gây tăng đường huyết – nguy cơ của đái tháo đường bên cạnh đó làm tăng huyết áp, giảm kali máu kết hợp rối loạn cân bằng muối – nước gây nhiều bất lợi cho người bị bệnh tim mạch, người glaucoma… Rối loạn quá trình tái tạo xương, biến dưỡng cơ dẫn đến loãng xương và teo cơ. Giảm sức đề kháng chung của cơ thể nên rất dễ bị nhiễm trùng, nhiễm nấm đặc biệt là ở hệ thống mũi xoang. Một số trường hợp xuất hiện rối loạn kinh nguyệt hoặc chảy máu mũi. Những thuốc này cũng bài tiết qua sữa nên cần cân nhắc trước khi dùng.

Phòng bệnh

Viêm mũi xoang là loại bệnh có thể phòng tránh được nếu bạn có chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh như ở những người có cơ địa dị ứng cần tự tìm hiểu xem mình có thể bị dị ứng với loại thức ăn nào để phòng tránh. Ví dụ, nếu bạn ăn tôm mà xuất hiện hắt hơi nhiều, ngứa mũi thì nên dừng ngay loại thức ăn đó. Đeo khẩu trang khi đi ở những nơi nhiều bụi bẩn… Nếu xuất hiện tình trạng ngạt mũi tăng cần phải sử dụng thuốc để điều trị ngay, tránh việc lỗ thông mũi xoang bị tắc. Trong trường hợp cần sử dụng thuốc phải được đi khám và điều trị tại cơ sở chuyên khoa để an toàn và hiệu quả.

Theo suckhoevadoisong/24h