Tag Archives: mạn tính

Biến chứng tiểu đường – âm thầm mà nguy hiểm

 Diễn biến âm thầm, khó nhận biết

Thống kê của Dự án Quốc Gia phòng chống Đái Tháo Đường năm 2008 cho thấy khoảng 70% người bệnh tiểu đường đã bị biến chứng trước thời điểm phát hiện bệnh. Hầu hết người bệnh nhập viện để điều trị các biến chứng như: mờ mắt, loét chân lâu lành, mỡ máu cao… sau đó mới phát hiện tiểu đường. Dấu hiệu biến chứng thường bị bỏ qua vì dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lí khác. Nhiều người giảm thị lực mờ mắt do biến chứng võng mạc nhưng lại cho rằng đó là dấu hiệu của tuổi già. Rối loạn cương dương là biến chứng gặp ở hầu hết nam giới bị tiểu đường nhưng dễ bị nhầm lẫn với giảm sinh lý ở người lớn tuổi. Có những biến chứng dễ dàng nhận biết qua cảm nhận của cơ thể như cảm giác tê bì ở tay chân, khô cứng khớp khó vận động… nhưng cũng có biến chứng chỉ được phát hiện khi thực hiện xét nghiệm máu hoặc các kĩ thuật phức tạp hơn như biến chứng thận.

Thạc sĩ Nguyễn Huy Cường – Nguyên phó khoa Đái Tháo Đường Bệnh viện Nội tiết Trung Ương cho biết “Mặc dù việc điều trị ĐTĐ ngày nay khoa học hơn với nhiều thuốc hạ đường huyết nhưng người bệnh vẫn có nguy cơ bị biến chứng nặng ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe”.

bien-chung-tieu-duong

Kiểm soát biến chứng nhờ chỉ số HbA1c

Hầu hết người bị tiểu đường hiện nay theo dõi chỉ số đường huyết, điều này mới chỉ đáp ứng 50% mục tiêu điều trị. 50% còn lại là điều trị tích cực các biến chứng, có thể thực hiện tốt bằng việc kiểm soát chỉ số HbA1c. Chỉ số này phản ánh lượng đường trong máu trong suốt 3 tháng gần nhất và có liên hệ chặt chẽ với biến chứng tiểu đường.

HbA1c là dạng gắn kết của đường trong máu với Hemoglobin của hồng cầu, đời sống của hồng cầu trong máu kéo dài 120 ngày, do đó chỉ số HbA1c cho biết tình trạng đường huyết trong suốt 3 tháng gần nhất. Người bệnh chỉ cần thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày là đường huyết giảm nhưng HbA1c chỉ giảm khi tuân thủ điều trị trong cả 3 tháng. Vì vậy, đây là chỉ số trung thực nhất để đánh giá kết quả điều trị.

Theo hai nghiên cứu quy mô lớn – UKPDS (the UK Prospective Diabetes Study) và DCCT (the Diabetes Control and Complications Trial) – cho thấy nếu giảm HbA1c < 7,2% thì giảm mù tới 72%, suy thận giai đoạn cuối giảm 87%, cắt cụt chân giảm 67%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cứ giảm HbA1c được 1% thì giảm nguy cơ biến chứng vi mạch tới 20-30% (bao gồm: biến chứng ở võng mạc, thần kinh và tổn thương ở cầu thận), 43% nguy cơ cắt cụt hoặc tử vong do bệnh mạch máu ngoại biên và 16% nguy cơ suy tim. Các chuyên gia khuyến cáo, người bệnh nên kiểm soát để chỉ số này nhỏ hơn 6.5%.

Ngăn ngừa biến chứng bằng thảo dược

Sử dụng thảo dược trong điều trị tiểu đường thu hút được nhiều sự quan tâm do tính an toàn khi dùng dài ngày, nhất là với bệnh mạn tính phải điều trị suốt đời như tiểu đường. Các thảo dược nổi bật phải kể đến là: Khổ qua, Dây thìa canh, Tảo Spirulina. Theo nghiên cứu của BV Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh sau 12 tuần điều trị, Khổ qua làm giảm 1% chỉ số HbA1c (từ 8.5% xuống 7.5%) do đó làm giảm đáng kể nguy cơ biến chứng trên mắt, thận, thần kinh. Khổ qua và Dây thìa canh ngoài tác dụng hạ đường huyết còn làm giảm cholesterol máu nên ngăn ngừa biến chứng tim mạch. Tảo Spirulina giúp điều hòa huyết áp, bổ sung chất chống oxy hóa.

Các chuyên gia đã nghiên cứu phối hợp 3 thảo dược trên với các vị thuốc có công dụng hạ đường huyết như Thương truật, Sinh địa, Hoài sơn, Linh chi tạo nên công thức tối ưu cho người bệnh tiểu đường. Công nghệ hiện đại cho phép tách chiết tốt các hoạt chất trong các thảo dược này và sản xuất dưới dạng viên nang TĐcare tiện dùng. Tác dụng làm giảm HbA1c, ngăn ngừa biến chứng tiểu đường của TĐcare đã được nhiều người bệnh ghi nhận. Các chuyên gia khuyến cáo người bệnh nên sử dụng TĐcare 4-6 viên/ngày và định kì kiểm tra HbA1c 3 tháng/lần để kiểm soát biến chứng tiểu đường.

Theo sức khỏe đời sống

Hội chứng mệt mỏi mãn tính

Nguyên nhân của hội chứng mệt mỏi mãn tính là không rõ, mặc dù có nhiều giả thuyết – từ nhiễm virus đến tâm lý căng thẳng. Một số chuyên gia tin rằng hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể được kích hoạt bởi một sự kết hợp của các yếu tố.

Triệu chứng

Hội chứng mệt mỏi mãn tính thường được biểu hiện các triệu chứng như: Mất trí nhớ hoặc mất tập trung; Đau họng không rõ căn nguyên; Hạch to ở cổ hoặc nách; Đau cơ không rõ nguyên nhân; Đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ; Đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng; Rối loạn giấc ngủ; Cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần.

Mệt mỏi có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc rối loạn tâm lý. Nói chung nên đến gặp bác sĩ nếu bạn có mệt mỏi dai dẳng hoặc quá mức.

hoi-chung-met-moi-man-tinh

Nguyên nhân

Các nhà khoa học không biết chính xác những gì gây ra hội chứng mệt mỏi mãn tính. Một số trong những yếu tố đã được nghiên cứu bao gồm:

Nhiễm virus: Hội chứng mệt mỏi mãn tính sau khi bị nhiễm virus. Virus nghi ngờ đã bao gồm Epstein-Barr, herpesvirus…

Rối loạn hệ thống miễn dịch: Các hệ thống miễn dịch của người có hội chứng mệt mỏi mãn tính bị suy giảm sau khi bị nhiễm trùng, sau khi rối loạn về tâm lý, rối loạn dinh dưỡng,…

Sự mất cân bằng nội tiết tố: Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể có bất thường hormon được tiết ra từ vùng dưới đồi, tuyến yên hoặc tuyến thượng thận.

Rối loạn giấc ngủ: Mệt mỏi mãn tính có thể được gây ra bởi rối loạn giấc ngủ. Rối loạn giấc ngủ kéo dài lại gây ra mệt mỏi mạn tính.

Vấn đề y tế: Mệt mỏi là một triệu chứng phổ biến trong một số bệnh lý như chẳng hạn như thiếu máu, tiểu đường và tuyến giáp (hypothyroidism).

Các vấn đề sức khỏe tâm thần: Mệt mỏi cũng là một triệu chứng của một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm:

Tuổi: Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường ảnh hưởng đến những người ở độ tuổi 40 và 50.

Quan hệ tình dục không thỏa mãn: Phái nữ được chẩn đoán mắc hội chứng mệt mỏi mãn tính nhiều hơn là nam giới,

Lối sống: Những người thừa cân và không hoạt động có nhiều khả năng phát triển hội chứng mệt mỏi mãn tính. Căng thẳng cũng dường như là một yếu tố.

Biến chứng

Biến chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm: trầm cảm; sống cô lập; hạn chế lối sống; giảm năng suất làm việc

Khám và chẩn đoán

Không có cách khám duy nhất nào để xác định chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính. Cần phải khám sức khỏe tổng quát, khám lâm sàng và sẽ hướng đến chẩn đoán mệt mõi mãn tính sau khi đã loại hết các bệnh lý khác.

Nhưng chú ý, hội chứng này có nhiều triệu chứng sẽ đan chéo tạo vòng luẩn quẩn trong chẩn đoán, có thể là triệu chứng chính hoặc có thể là hậu quả của triệu chứng khác, do đó bác sĩ có nhiều kinh nghiệm sẽ chẩn đoán chính xác hơn.

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Để đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính và mệt mỏi phải kéo dài trong sáu tháng hoặc hơn, cùng với ít nhất bốn trong những dấu hiệu và triệu chứng sau đây: mất trí nhớ hoặc mất tập trung; đau họng không rõ căn nguyên; hạch to ở cổ hoặc nách của bạn; đau cơ không rõ nguyên nhân; đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ; đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng; rối loạn giấc ngủ; cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị hội chứng mệt mỏi mãn tính tập trung vào giảm triệu chứng. Có thể tập trung cắt đứt một triệu chứng nào nặng nhất trước.

Thuốc chống trầm cảm: Nhiều người có hội chứng mệt mỏi mãn tính cũng bị trầm cảm. Điều trị trầm cảm của bạn có thể làm cho nó dễ dàng hơn để bạn có thể đối phó với những vấn đề liên quan với hội chứng mệt mỏi mãn tính. Và liều thấp của một số thuốc chống trầm cảm cũng có thể giúp cải thiện giấc ngủ và giảm đau.

Thuốc ngủ: Nếu các biện pháp nhẹ như tránh caffeine, rượu không giúp cải thiện giấc ngủ tốt hơn thì cần uống thuốc ngủ theo toa.

Tập thể dục: Tập thể dục đều đặc và vừa sức là liều thuốc không thể thiếu. Cường độ tăng dần theo thể trạng của mỗi người.

Tư vấn tâm lý: Nói chuyện với một bác sĩ tâm lý để giải tóa về mặt tâm lý để lấy lại thăng bằng trong cuộc sống.

Giảm bớt căng thẳng: Thư giãn, nghỉ ngơi.

Cải thiện thói quen ngủ: Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Hạn chế  cà phê, rượu và thuốc lá.

Làm việc khoa học.

Thuốc thay thế

Bổ sung các loại vitamin và vi lượng cần thiết cho cơ thể.

Bổ sung các thiếu sót về nội tiết tố cần thiết.

Nguồn báo đất việt

Đề phòng trào ngược dạ dày thực quản

Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu đa trung tâm tại Seoul, Hàn Quốc vừa được công bố trên tạp chí y khoa ”BMC Pulmonary Medicine”.

Kết quả phân tích dữ liệu từ 141.057 bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính cho thấy tỉ lệ mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở các bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính khá cao (lên đến 28%). Nhóm nghiên cứu nhận thấy hầu như các thuốc sử dụng để điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Đặc biệt, khi so sánh với nhóm bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính mà không kèm theo bệnh trào ngược dạ dày thực quản, nhóm có kèm theo bệnh trào ngược dạ dày thực quản luốn luôn có tỉ lệ phải nằm viện để điều trị cao hơn 1,54 lần và tỉ lệ phải vào viện cấp cứu vì các cơn khó thở cấp cũng cao hơn 1,55 lần.
trao-nguoc-da-day

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính hay còn gọi là viêm phế quản mãn và khí phế thủng là bệnh lý mà khí quản, phế quản (đường dẫn khí vào phổi chúng ta) bị viêm mãn tính nên hẹp lại và tiết nhiều chất nhày nhớt, đồng thời 2 lá phổi của chúng ta cũng xơ cứng căng to không còn giãn nỡ đàn hồi tốt theo nhịp thở. Nguyên nhân đứng hàng đầu là do hút thuốc lá và không khí ô nhiễm. Bệnh thường có biểu hiện khó thở, ho kéo dài, ho đàm nhớt, có khi có những cơn khó thở khò khè dữ dội phải nhập viện. Việc điều trị chỉ làm giảm triệu chứng chứ không hồi phục hoàn toàn , nên tốt nhất là cai thuốc lá.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là bệnh gây ra do sự trào ngược quá nhiều chất acid của dịch vị lên thực quản làm hư hại và lở loét thực quản. Bệnh thường gặp ở người béo phì, uống rượu, hút thuốc lá, nam giới. Bệnh có triệu chứng nóng rát vùng trước ngực, ợ chua, ợ trớ thức ăn hoặc dịch vị lên miệng. Bệnh rất dễ tái phát và cần được điều trị duy trì lâu dài phối hợp với chế độ ăn uống thích hợp.

BS Trần Ngọc Lưu Phương

Phó khoa Nội tiêu hóa – BV Nguyễn Tri Phương

Ảnh hưởng của bệnh viêm vùng chậu với chị em

Nếu bệnh viêm vùng chậu (PID) “tấn công” chị em nhiều hơn một lần thì nó có thể tăng gấp đôi nguy cơ vô sinh, và tăng gấp bốn lần nguy cơ đau vùng chậu mãn tính.

Các nhà nghiên cứu ở Baltimore cũng phát hiện ra rằng các cô gái trẻ bị mắc bệnh này tái đi tái lại nhiều lần có thể tăng nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp năm lần.

Để nghiên cứu những hậu quả lâu dài của bệnh, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm trẻ em Johns Hopkins ở Baltimore đã theo dõi 831 phụ nữ lứa tuổi từ 14 tuổi và 38 trong bảy năm, sau chẩn đoán PID ban đầu của họ. Những người tham gia ban đầu bị mắc PID mức độ từ nhẹ đến trung bình và một số đã mắc PID mãn tính.

viem-vung-chau-benh-nguy-hiem-de-doa-chi-em

Kết quả cho thấy gần một phần năm trong số đó bị vô sinh và 43% bị đau vùng chậu mãn tính. Phụ nữ mắc PID thường xuyên thì khả năng bị đau vùng chậu mãn tính tăng gấp bốn lần, cũng như tăng gấp đôi khả năng vô sinh so với những người phụ nữ chỉ mắc PID một lần.

PID là một biến chứng của bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI), và được đặc trưng bởi viêm tử cung, ống dẫn trứng hoặc cơ quan sinh sản khác. Nó cũng có thể gây ra đau vùng chậu mãn tính và thai ngoài tử cung.

Trước đây, Chlamydia và bệnh lậu là nguyên nhân chính của PID, nhưng nghiên cứu gần gây cho thấy những bệnh lây truyền qua đường tình dục chiếm khoảng 1/3 các trường hợp PID và các tác nhân gây bệnh khác như Mycoplasma genitalium cũng đang gây ra rất nhiều trường hợp mắc PID.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, PID ảnh hưởng đến hơn 800.000 phụ nữ Mỹ mỗi năm, trong đó tỷ lệ mắc vô sinh là 1/10. “Khi nói đến PID, chúng ta phải luôn thận trọng hơn bao giờ hết” Tiến sĩ Maria Trent, nghiên cứu viên ở Trung tâm Trẻ em Johns Hopkins đã cho biết. “Mặc dù PID đã thay đổi theo thời gian, nó vẫn còn là một căn bệnh có thể gây ra những hậu quả bất lợi đến khả năng sinh đẻ của người phụ nữ và có thể dẫn đến đau vùng chậu mạn tính”, ông nhấn mạnh.

Trong số những người tham gia ở độ tuổi thiếu niên, theo những phát hiện này thì gần 40% bị đau vùng chậu mãn tính (kết quả được công bố vào tháng 9/2011 trong tạp chí Sexually Transmitted Diseases). Những phụ nữ trẻ bị mắc PID thường xuyên cũng có nguy cơ đau vùng chậu mãn tính gấp 5 lần so với bạn tình của họ.

Trent cho biết: “Thực tế là gần 1/5 những cô gái này đã có dấu hiệu vô sinh là khá đáng báo động, và có nghĩa rằng những con số sẽ tăng lên khi các cô gái lớn tuổi hơn và tích cực cố gắng để có thai”.

Theo afamily

Viêm túi mật có thể gây nguy hiểm

Hơn 90% các trường hợp viêm đường mật – túi mật có nguyên nhân do sỏi và giun đũa chui vào đường mật – túi mật, nhất là khi có tắc nghẽn ống mật. Trong nhóm bệnh lý này, bệnh viêm túi mật cấp là một cấp cứu về tiêu hóa, thường do sỏi mật gây nên; trong khi đó viêm túi mật mạn tính lại có biểu hiện của những rối loạn tiêu hóa mạn tính, dai dẳng. Bệnh hay gặp ở nữ, tuổi thường gặp từ 40 – 60 tuổi. Bệnh cần được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để phòng những biến chứng có thể dẫn tới tử vong.

Cách nhận biết bệnh

Tùy theo biểu hiện viêm túi mật cấp tính hay mạn tính mà lâm sàng có các triệu chứng khác nhau.

Với viêm túi mật cấp tính
Thường khởi phát bởi cơn đau quặn gan, sau đó diễn tiến đưa đến nhiễm khuẩn và tắc mật. Có khoảng 60 – 70% bệnh nhân với cơn đau đầu tiên tự lui bệnh. Tuy nhiên, những cơn đau kéo dài về sau sẽ đưa đến đau lan tỏa cả vùng hạ sườn phải, lan đến vùng bả vai phải, vai phải. Đau tăng khi ho và hít sâu, bệnh nhân thường nôn và chán ăn. Vàng da chỉ xuất hiện khi có viêm phù nề hoặc hạch chèn ép vào đường dẫn mật chính nên thường không có hoặc đến muộn.

viem-tui-mat-gay-nguy-hiem-1

Khám vùng hạ sườn phải thường rất đau, túi mật to và đau trong khoảng 50% trường hợp, nghiệm pháp Murphy (+), có thể có dấu hiệu liệt ruột vùng hạ sườn phải. Xét nghiệm công thức máu: bạch cầu và bạch cầu đa nhân trung tính cao. Bilirubin máu bình thường, trong trường hợp bilirubin máu cao thì có kèm thêm tắc hoặc viêm đường mật chính. Siêu âm là một chẩn đoán tốt, nhạy và chính xác, giúp chẩn đoán viêm túi mật cấp với hình ảnh túi mật to. Ngoài ra, siêu âm còn giúp chẩn đoán nguyên nhân như sỏi, giun và biến chứng như thủng, xuất tiết dịch quanh túi mật và trong ổ bụng, cũng như bệnh lý kèm theo của gan và tụy.

Với viêm túi mật mạn tính
Túi mật viêm mạn tính là một loại bệnh thường gặp trên lâm sàng. Bệnh có thể do viêm túi mật cấp chuyển sang, tuy nhiên cũng có nhiều bệnh nhân không có tiền sử viêm túi mật cấp. Bệnh có thể đi kèm với sỏi mật do mật ứ đọng gây nên, nhưng cũng có nhiều bệnh nhân không có sỏi mật. Viêm túi mật mạn tính có đặc điểm là có nhiều lần tái phát triệu chứng như sỏi mật. Bệnh nhân đau âm ỉ và ấn đau vùng hạ sườn phải, đau xuyên lên vai lưng phải, bụng trên đầy, ngực tức, ợ hơi, biếng ăn, sắc mặt kém tươi nhuận, mệt mỏi, rêu lưỡi trắng nhày hoặc vàng nhày.

Các triệu chứng trên không nặng nhưng dai dẳng không hết, lúc ăn các chất dầu mỡ khó tiêu vào thì đau tăng, miệng khô, họng khô. Người bứt rứt, táo bón, nước tiểu vàng đậm, nếu có sỏi ống mật thường kèm nôn, buồn nôn, lưỡi đỏ, ít rêu. Chẩn đoán hiện nay chủ yếu dựa vào hình ảnh siêu âm. Thông thường, viêm túi mật cấp để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị như viêm mủ túi mật, ứ nước túi mật, hoại thư và thủng túi mật. Trong khi đó với viêm túi mật mạn tính, nếu không được điều trị dứt điểm, sẽ làm tăng nguy cơ dẫn tới ung thư túi mật.

Nguyên nhân gây viêm túi mật

Hơn 90% các trường hợp liên quan đến sỏi và giun ở đường mật – túi mật. Khi có sỏi đường mật nhất là sỏi cổ túi mật hoặc giun chui đường mật sẽ gây tắc nghẽn đường mật, muối mật kích thích gây tổn thương thành túi mật, lúc đó vi khuẩn sẽ xâm nhập vào trong túi mật và phát triển gây ra viêm túi mật cấp. Sự căng của túi mật gây ra thiếu máu kèm viêm nhiễm có thể gây hoại thư túi mật. Một số hiếm trường hợp viêm túi mật không do tắc nghẽn như do chấn thương bụng vùng túi mật, trong đái tháo đường, viêm nút quanh động mạch, nhiễm khuẩn huyết.

Bệnh gây ra do vi khuẩn chiếm đến 50 – 85% trường hợp. Vi khuẩn thường gặp là E.coli, Klebsiella, Streptococcus nhóm D, Staphylococcus, và Clostridium.

viem-tui-mat-gay-nguy-hiem-2

Điều trị thế nào?

Điều trị nội khoa: Nghỉ ngơi, truyền dịch để nuôi dưỡng và cân bằng nước điện giải. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn như nospa hay sparmaverin. Tùy theo tình trạng cụ thể mà bác sĩ sẽ cho chỉ định dùng kháng sinh phù hợp

Điều trị ngoại khoa: Chỉ tiến hành mổ cấp cứu trong trường hợp không đáp ứng với điều trị nội khoa mà tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng hoặc có biến chứng ngoại khoa như túi mật hoại tử, thấm mật phúc mạc và viêm phúc mạc mật. Hiện nay thường mổ túi mật qua đường nội soi.

Chế độ dinh dưỡng khi bị viêm túi mật
Khi bị viêm túi mật cấp tính, cần để cho túi mật nghỉ ngơi bằng cách loại bỏ hoặc giảm bớt các chất béo trong chế độ ăn và cả chất protid vì chúng làm cho túi mật tăng co bóp. Chế độ ăn chỉ nên có glucid như nước đường, nước quả, nước rau, cho thêm bột ngũ cốc, khoai nghiền. Nên ăn nhạt, nhiều chất xơ để chống táo bón, có thể cho ăn sữa đã tách bơ.

Trong trường hợp bị viêm túi mật hoặc đường mật mạn tính, bệnh nhân thường có triệu chứng rối loạn tiêu hóa, cần áp dụng một chế độ ăn nương nhẹ chức năng mật, tương tự như chế độ ăn nương nhẹ chức năng gan, cụ thể là hạn chế chất béo. Người bị viêm túi mật và đường mật mạn tính mỗi ngày chỉ nên ăn thịt một lần, dùng loại thịt trắng và nạc, không có mỡ. Dùng thịt tươi, nấu đơn giản. Đạm thực vật (đậu, đỗ) nên ăn dưới dạng nghiền nát, ninh nhừ. Với các thức ăn giàu glucid, nên dùng nhiều vì dễ tiêu, không ảnh hưởng xấu đến mật, không dùng chocolate, ca cao, các thức ăn có trộn thêm trứng và bột (ví dụ bánh ngọt) vì gây khó tiêu.

BS.Nguyễn Bạch Đằng

Theo SKDS