Tag Archives: Lão hóa

Những nguy cơ làm tăng lão hóa

Nhiều thói quen tưởng chừng vô hại như nghiện ăn đường, ít thời gian cho bạn bè… đang âm thầm làm chúng ta lão hóa mỗi ngày.

1. Thường xuyên căng thẳng

Chúng ta không thể thoát khỏi căng thẳng, nhưng có thể cố gắng kiềm chế cảm giác quá lo lắng. Lo lắng không chỉ làm cho chúng ta không hạnh phúc, sốt ruột và mệt mỏi, mà còn thực sự khiến bạn già đi. Việc liên tục tiết ra cortisol, norepinephrine và adrenaline sẽ khiến cơ thể suy giảm hệ miễn dịch, tăng huyết áp, ảnh hưởng đến giấc ngủ, trí nhớ và tâm trạng.

Những gì bạn có thể làm: Xua tan lo lắng bằng những quan điểm tích cực. Mỗi khi lo lắng, hãy hít thở thật sâu. Hãy tham gia một vài hoạt động thể chất như đi bộ hoặc một vài tư thế yoga. Ngồi thiền cũng là rất hữu ích. Đừng để cảm giác lo lắng bám đuổi bạn.

2. Không dùng kem chống nắng

nhung-nguy-co-lam-tang-lao-hoa

Chắc chắn bạn nhớ dùng kem chống nắng khi đi đến bãi biển, nhưng khi lái xe đi làm, dắt chó đi dạo hay đi làm việc vặt, có thể bạn đã quên. Thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể gây lão hóa sớm một cách đáng kể. Các nhà nghiên cứu tại Australia gần đây trong một khảo sát có 900 người tham gia đã chỉ ra rằng những người sử dụng kem chống nắng hàng ngày có làn da đẹp, mịn màng và tươi trẻ hơn. Vì vậy, bỏ qua kem chống nắng hàng ngày không những làm tăng nguy cơ ung thư da mà còn làm suy yếu các tế bào và làm da chúng ta dễ bầm tím, tổn thương.

Những gì bạn có thể làm: Hãy tìm một kem chống nắng phổ biến có thể bảo vệ da bạn chống lại tia UVA và UVB với SPF ít nhất là 15, tốt hơn là ở mức 30. Sử dụng một đồng xu để dàn đều kem chống nắng trên gương mặt bạn và cả vùng da dễ tiếp xúc với ánh nắng mỗi ngày. Khi sử dụng kem chống nắng đã trở thành một thói quen, mỗi ngày bạn chỉ mất vài phút để trẻ ra đến 5 tuổi.

3. Nghiện ăn đường

nhung-nguy-co-lam-tang-lao-hoa1

Chúng ta biết đường có nhiều lợi ích khác nhau, nhưng các chuyên gia y tế hiện nay tin rằng đường đang âm thầm làm chúng ta lão hóa. Đường làm tổn thương da của chúng ta bằng cách làm khô các collagen và elastin tự nhiên dẫn đến da xấu đi, nhăn nheo, chảy xệ và dễ hình thành nếp nhăn. Quá trình này cũng gây ra quầng thâm và bọng mắt, khiến chúng ta già đi. Những triệu chứng này bắt đầu lúc khoảng 35 tuổi và nhanh chóng tăng lên sau đó.

Những gì bạn có thể làm: Rất khó khăn để loại bỏ đường một cách hoàn toàn nhưng bạn hãy cố gắng tiêu thụ đường ở mức tối thiểu. Hãy đặt ra mục đích tiêu thụ không quá 10% lượng calo hàng ngày có nguồn gốc từ đường. Đọc nhãn hiệu và cố gắng hạn chế ăn đường.

4. Bạn nghĩ tập thể dục chỉ để giảm cân

Cho dù bạn cần phải giảm cân hay không, tập thể dục sẽ giúp bạn trẻ ra. Tập thể dục, thậm chí thường xuyên nhất hay đơn giản chỉ là 30 phút đi bộ mỗi ngày có thể làm giảm viêm, hạ huyết áp, cải thiện trí nhớ và sự tập trung, tăng trương lực cơ, trên hết là làm giảm đáng kể căng thẳng mãn tính. Thêm vào đó, tập thể dục thường xuyên sẽ giúp tránh xa tăng cân, bảo vệ cơ bắp và mật độ xương của bạn.

Những gì bạn có thể làm: Đi dạo hàng ngày với một người bạn hoặc thú cưng, hãy tham gia một môn thể thao với một nhóm bạn hoặc lớp học. Có một người bạn để cùng tập thể dục hoặc tìm một sự kiện thể thao để tham gia. Những điều đó có thể làm tăng cảm hứng để bạn tập thể dục mỗi ngày và khiến bạn trở nên năng động.

5. Giận dữ hoặc thù hận

Giữ một mối hận thù hay giận dữ không chỉ gây tổn hại cho sức khỏe tinh thần của bạn, mà còn khiến bạn già đi nhanh chóng. Nếu có thể để mọi thứ ra đi, bạn sẽ trẻ ra một vài năm tuổi. Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa sự tha thứ và sức khỏe thể chất. Một nghiên cứu được công bố trên “Tạp chí y học hành vi” cho thấy thiếu sự bao dung làm giảm chất lượng giấc ngủ, tăng kích thích tố căng thẳng, tăng huyết áp cũng như lượng đường trong máu, dẫn đến tăng cân và tăng khả năng cần thuốc. Trong thời gian ngắn, hãy học cách cho đi, và bạn có thể sống lâu hơn.

Những gì bạn có thể làm: Nhận thức được rằng hận thù và oán giận làm tổn thương bạn nhiều hơn người khác. Sự tha thứ không có nghĩa là bạn cần trở thành một nạn nhân hoặc vì một niềm tin không chắc chắn. Cho đi và bạn có thể hạnh phúc và sống lâu hơn. Và đó cũng là sự trả thù cao thượng nhất.

6. Bạn dành quá ít thời gian cho bạn bè

Khi còn trẻ, bạn bè có thể là ưu tiên trong lịch sinh hoạt của bạn, nhưng khi chúng ta có nhiều trách nhiệm hơn, yêu cầu công việc, các đối tác, nuôi dạy con cái và nghĩa vụ với gia đình sẽ lấy đi của bạn rất nhiều thời gian. Bạn nên dành thời gian cho bạn bè. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình bạn bền vững là yếu tố dự báo tích cực về tuổi thọ cao hơn và gia đình. Tình bạn đẹp và bền chặt có thể giúp làm giảm bớt trầm cảm và căng thẳng tinh thần, cũng như làm giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh mãn tính, tất cả đều khiến chúng ta già đi.

Những gì bạn có thể làm: Dành thời gian ở bên bạn bè thường xuyên hơn, ít nhất là một lần một tuần. Liên lạc qua các phương tiện liên lạc hiện đại nếu bạn không thể làm gì hơn. Hãy thăm hỏi với một người bạn cũ và nối tiếp một tình bạn lâu dài.

7. Dính chặt lấy chiếc điều khiển

Nghiên cứu 11.000 người lớn trên “Tạp chí y học thể thao” đã phát hiện ra rằng mỗi giờ ngồi trước TV đã rút ngắn tuổi thọ của bạn 22 phút, thậm chí nhiều hơn. Những người xem TV hơn 6 tiếng mỗi ngày có tuổi thọ thấp hơn trung bình 5 năm so với những người không xem TV. Và trong khi bạn không thể thay đổi một công việc ít vận động, bạn có thể kiểm soát thời gian xem TV của mình.

Những gì bạn có thể làm: Giải pháp đơn giản nhất chỉ đơn giản là xem TV ít hơn. Có một số thủ thuật bạn có thể muốn thử. Cố gắng đứng dậy và đi bộ xung quanh trong những dịp cuối tuần.

8. Bạn lười “yêu”

Tình dục không những khiến bạn cảm thấy hạnh phúc mà còn mang lại những lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy một đời sống tình dục tích cực có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn, hạ huyết áp, giảm đau, giảm trầm cảm. Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ còn nhấn mạnh “yêu” thậm chí có thể giảm nguy cơ một số loại ung thư. Trong khi “yêu”, các hóa chất như endorphin, serotonin và các chất miễn dịch giúp thúc đẩy tâm trạng không chỉ giúp bạn khỏe mạnh và hạnh phúc hơn, mà còn có thể khiến bạn trông trẻ hơn tuổi.

Những gì bạn có thể làm: Ngủ nhiều hơn và tập thể dục có thể làm tăng ham muốn tình dục và năng lượng. Ngoài ra, bạn có thể thử đọc tài liệu khiêu dâm hoặc lãng mạn, hay thay đổi trang phục để có được cảm hứng. Cắt bớt chương trình truyền hình yêu thích để có thêm thời gian cho tình yêu.

Theo sức khỏe đời sống

Nỗi ám ảnh cho xương khớp mỗi khi thay đổi thời tiết

Nguyên nhân

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, có đến 66% người từ 40 tuổi trở lên mắc nguy cơ thoái hóa khớp, những vị trí thường gặp nhất là cột sống thắt lưng (43%) và khớp gối (35%). Các bệnh về xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, và việc thời tiết thay đổi cũng có liên quan mật thiết đến diễn biến của các bệnh về khớp do sự thay đổi áp suất khí quyển, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Khi trời trở lạnh, áp suất khí quyển giảm xuống, các mô nở ra tạo áp lực cho khớp, độ ẩm tăng góp phần gây nên sưng mỏi khớp. Đồng thời mạch máu bị co lại khi nhiệt độ giảm xuống, khiến máu trong cơ thể lưu thông kém làm chân tay càng đau buốt, tê cứng hơn.

noi-am-anh-cho-xuong-khop-moi-khi-thay-doi-thoi-tiet

Với những người lớn tuổi, khi các tế bào xương dần dần bị lão hóa, các hóc-mon sinh dục giảm thấp, việc hấp thụ canxi và vitamin sút giảm dẫn đến bệnh loãng xương và các nguy cơ của thoái hóa khớp, thì thời tiết xấu lại là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về khớp hoành hành. Ngoài ra, những nguyên nhân dẫn đến chứng thoái hóa khớp ở người lớn tuổi như: tình trạng béo phì, yếu tố di truyền, các chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp… gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến biến dạng khớp, tràn dịch khớp và phế khớp.

Những khớp nào dễ bị thoái hóa?

Các khớp xương đều có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp háng, khớp gối. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, sau đó sẽ kéo dài cả ngày, tăng cao khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, gây ảnh hưởng đến thần kinh tọa, làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

Cột sống cổ: Biểu hiện chủ yếu bằng đau cổ, hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động, nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối.

Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn, đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi, cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi.

Chăm sóc sức khỏe các khớp thế nào?

Để hạn chế các nguy cơ về loãng xương và thoái hóa khớp nên có một chế độ sinh họat hợp lý. Thường xuyên tập luyện các khớp xương như: xoay, xoa bóp, đi lại và tập thể dục tùy theo điều kiện mỗi người.

Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng không kém trong việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là can-xi và vitamin D giúp xương chắc khỏe. Nhưng thực sự cơ thể chúng ta có được bổ sung đầy đủ chưa?

Theo nghiên cứu, glucosamine được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sụn, mô liên kết đệm khớp. Glucosamine tăng cường chất dịch không những làm giảm đau viêm khớp, mà còn ngăn ngừa biến chứng. Trong thức ăn hàng ngày không có nguồn cung cấp chính thành phần quan trọng này, chính vì thế sản phẩm duy trì xương khớp khỏe mạnh của Herbalife – Joint Support Advanced- với các thành phần Glucosamine chiết xuất từ rễ Scutellaria cùng với các khoáng chất như mangan, selen và đồng giúp tăng khả năng tổng hợp sụn khớp, giảm quá trình viêm khớp và hỗ trợ quá trình lão hóa lành mạnh.

Nguồn sức khỏe đời sống

Người bị béo phì nên hạn chế ăn muối

Một nghiên cứu mới của Mỹ cho thấy, thanh thiếu niên béo phì ăn nhiều thực phẩm chứa quá nhiều muối có thể già nhanh hơn.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu Mỹ cũng chỉ ra rằng, tiêu thụ quá nhiều muối có thể khiến con người dễ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Georgia Regents, tại Augusta, Mỹ tiết lộ rằng việc giảm lượng muối ăn có thể làm chậm quá trình lão hóa của các tế bào. Điều này đặc biệt hiệu quả cho những người bị thừa cân hoặc béo phì. Tuổi thọ thường bị rút ngắn do hút thuốc, thiếu vận động và dung nạp lượng chất béo cao.

beo-phi-khi-an-nhieu-muoi

Kết luận trên được rút ra dựa trên một cuộc khảo sát với 766 người từ 14 -18 tuổi về mức độ tiêu thụ muối. Trẻ vị thành niên bị béo phì ăn quá nhiều muối làm cho Telomere ngắn hơn so với những người ăn ít muối. Các Telomere giống áo khoác sinh học ở 2 đầu nhiễm sắc thể và bảo vệ các ADN khỏi những nguy hại. Khi chúng ta già đi, các Telomere ngày càng ngắn hơn, dẫn đến DNA bị nguy hại và nguy cơ cao mắc các bệnh như Anzheimer, tiểu đường và tim mạch. Các Telomere ngắn hơn bình thường là dấu hiệu bệnh tật và có nguy cơ dẫn đến tử vong.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Haidong Zhu cho biết: “Ngay cả đối với những người trẻ tuổi tương đối khỏe mạnh, việc ăn nhiều thức ăn chứa muối có thể đẩy nhanh quá trình lão hóa tế bào, đặc biệt ở trẻ béo phì”.

Giảm lượng muối trong chế độ ăn của trẻ có thể là bước đầu tiên dễ dàng hơn cho việc giảm cân của những trẻ thừa cân và cũng là cách giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

Đa số thực phẩm chế biến sẵn thường chứa nhiều muối. Vì vậy, các bậc phụ huynh nên cho con em mình ăn thêm rau xanh và trái cây tươi cho một bữa ăn nhẹ thay vì khoai tây chiên.

Theo đời sống pháp luật

Lão hóa liên quan tới bệnh tim mạch

Các nhà khoa học Đan Mạch vừa công bố một nghiên cứu mới trên khoảng 11.000 thành viên có 4 dấu hiệu lão hóa: hói hai bên trán kéo đến vùng thái dương, nhăn dái tai, lắng đọng mỡ quanh mí mắt, hói vòng quanh đầu. Kết quả, những người này sẽ tăng 57% nguy cơ nhồi máu cơ tim và 39% nguy cơ phát triển bệnh tim. Trong đó, hai dấu hiệu phổ biến của tuổi già là tóc bạc và xuất hiện nếp nhăn không liên quan đến việc tăng nguy cơ bệnh tim.

lao-hoa-lien-quan-toi-benh-tim-mach

Mặc dù nghiên cứu không chứng minh được các dấu hiệu lão hóa gây ra bệnh tim và ngược lại, nhưng nếu bạn già đi so với lứa tuổi có thể là một dấu hiệu sức khỏe của tim kém. Kết quả nghiên cứu cũng là lời nhắc nhở các bác sĩ nên dành thời gian xem xét toàn diện cho bệnh nhân để có kết quả thật chính xác, giúp người bệnh có kế hoạch tầm soát bệnh tim mạch.

Lan Thu

(Theo Scientific Sessions ,12/2012)

Trà xanh có những tác dụng không nhỏ đối với sức khỏe

Ai cũng biết, trà xanh có những tác dụng không nhỏ đối với sức khỏe. Một chén trà mỗi sáng có thể hạn chế sự phát triển của căn bệnh ung thư, giúp điều trị căn bệnh tim mạch, giúp lợi tiểu, giúp tiêu hóa tốt…

Một chén trà mỗi sáng cũng giúp bạn nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tăng cường sinh lực và phòng chống bệnh tật.

1. Giảm cân

Trà xanh giúp đẩy nhanh quá trình trao đổi chất của cơ thể, chuyển hóa mỡ thành năng lượng, và giải phóng năng lượng ra bên ngoài. Sở dĩ như vậy mà những người béo phì thường lựa chọn cách uống trà xanh để giải nhiệt trong những ngày hè này sau những bài tập thể dục giảm cân.

2. Ngăn ngừa quá trình lão hóa

Trong trà xanh có chứa những chất tốt cho sức khỏe, ngăn ngừa các bệnh như ung thư, tim mạch. Trong trà xanh còn chứa những chất giúp kích thích cơ thể bổ sung cholesterol tốt, và thải loại ra những cholesterol xấu.

che-xanh

3. Trị mụn

Nhiều loại mỹ phẩm giúp làm đẹp tự nhiên và trị mụn hiệu quả sử dụng những thành phần có trong trà xanh. Sử dụng trà xanh làm nước rửa mặt giúp da mặt sát khuẩn, ngăn ngừa và trị mụn rất hiệu quả. Nếu bạn đang trong thời kì đèn đỏ thì một cốc trà xanh mỗi ngày là rất tốt cho việc chăm sóc làn da không bị mụn.

4. Làm sạch răng miệng

Trà xanh có chữa những chất diệt khuẩn không chỉ tốt cho da mà còn tốt cho răng miệng, uống trà xanh mỗi ngày bạn còn ngăn ngừa được tình trạng sâu răng.

5. Chống lão hóa và cải thiện trí nhớ

Bạn đang bước sang độ tuổi 40, độ tuổi mà bạn cảm thấy mình không còn minh mẫn như xưa nữa, hãy bổ sung trà xanh mỗi ngày để giúp chống lão hóa da và cải thiện trí nhớ. Bạn sẽ thấy hiệu quả hơn hẳn so với những người cùng lứa tuổi đấy.

6. Giảm nguy cơ ung thư

Trong nước chè xanh có chất catechin có tác dụng giảm nguy cơ gây ung thư, giảm kích thước khối u, tác dụng chống phóng xạ, giảm lượng đường trong máu, giảm cholesterol, diệt khuẩn, diệt virut cúm, chống hôi miệng.

7. Chống cúm

Vitamin C có trong nước chè xanh làm tăng sức đề kháng, chống cúm. Vitamin nhóm B trợ giúp cho quá trình trao đổi cacbon hydrat. Flavonoid có tác dụng giảm huyết áp, tăng độ bền vững thành mạch.

8.. Chống oxi hóa mạnh

Chè xanh chứa một chất chống oxi-hóa mạnh có thể diệt các gốc tự do. Chính nhờ chất chống oxi hoá mạnh này mà trà xanh có nhiều ảnh hưởng tốt khác ngoài việc bảo vệ các tế bào da. Nước chè tươi đặc còn có chất diệt khuẩn, sát trùng mạnh, nên dùng để rửa mặt, trị mụn ,rất có hiệu quả.

9. Giảm lượng đường trong máu

Trong nước chè xanh cũng có chất Polysaccarides làm giảm lượng đường trong máu, vitamin E tác dụng chống ôxy hóa và hạn chế lão hóa. Chất theamin tạo cho nước chè xanh có hương vị đặc biệt.

10. Lợi tiểu, giảm huyết áp

Uống trà giúp lợi tiểu và giảm sung, ức chế sự hấp thu của tiểu quản thận, kích thích trung khu vận động của huyết quản, gia tăng độ lọc của thận, từ đó có tác dụng lợi tiểu. Ngoài ra, hóa chất hỗn hợp trong trà còn có tác dụng tốt trong việc giảm huyết áp, những bệnh nhân cao huyết áp rất thích hợp uống trà đậm vừa phải.

11. Phòng chống bệnh tim

Hợp chất trong trà có hiệu quả tăng cường độ đàn hồi của cơ tim, giảm lượng mỡ trung tính và cholesterol trong máu; vitamin C và P cũng có tác dụng xúc tiến vào bài tiết cholesterol. Caffeine, theophylline và pentoxifylline có trong trà kích thích tim một cách trực tiếp, mở rộng huyết quản, để máu có thể truyền vào tim một cách đầy đủ.

12. Tăng cường khả năng sinh dục

Trà cũng có lợi cho việc tăng cường khả năng tình dục. Trong trà có chứa 20 – 30% hợp chất có thể ức chế và giết khuẩn, ngăn ngừa cơ quan sinh dục bị viêm. Một ví dụ nữa là hương vị trà có tác dụng hưng phấn thần kinh, chống mệt mỏi.

Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng chè xanh: không nên uống lúc đói vì chất tanin dễ gây kích ứng niêm mạc dạ dày. Nước trà xanh dễ thiu cho nên khi rửa trà phải thật sạch, chần nước thật sôi và không nên uống nước chè xanh đã để qua đêm. Với những người thần kinh nhạy cảm, khó ngủ thì không nên uống trà vào buổi tối, vì chất cafein trong chè xanh sẽ gây kích thích làm mất ngủ.

Theo giáo dục

Đọc sách – những lợi ích không nhỏ cho sức khỏe

Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn

Có phải từ lâu bạn đã bỏ đi thói quen đọc sách? Lướt web hay “nấu cháo” điện thoại đã trở thành thói quen hàng ngày của bạn? Nếu đúng như vậy thì bạn hãy xem xét lại các thói quen của mình nhé.

Thay vì cả ngày ôm máy tính, điện thoại, bạn hãy dành cho mình một thời gian nhất định để đọc sách. Đọc sách không chỉ giúp nâng cao kiến thức, mà còn vô cùng có lợi cho sức khỏe của bạn.

Dưới đây là những lợi ích cho sức khỏe từ việc đọc sách.

1. Phòng chống lão hóa não: Cũng giống như cơ bắp của cơ thể, não bộ cũng cần phải rèn luyện để trở nên tráng kiện và khỏe mạnh hơn. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đọc sách cũng có thể kích thích não bộ hoạt động liên tục, từ đó phòng ngừa lão hóa não rất tốt.

doc-sach-nhung-loi-ich-khong-nho-cho-suc-khoe

2. Giảm stress: Theo nghiên cứu của “Phòng thí nghiệm trí tuệ” thuộc trường Đại học Sussex (Anh), trong số các cách giảm stress, hiệu quả của việc đọc sách là cao nhất.

Đọc sách có thể khiến mức độ stress giảm tới 68% chỉ trong 6 phút, hiệu quả cao hơn rất nhiều so với nghe nhạc và đi bộ. Các nhà tâm lý cho rằng, khi đọc sách, suy nghĩ của mọi người sẽ tập trung vào văn bản nên thể chất và tinh thần căng thẳng có thể sẽ được thư giãn.

3. Cải thiện trí nhớ: Mỗi một cuốn sách đều có hàng triệu thông tin, bao gồm bối cảnh, cốt truyện, tên nhân vật, những miêu tả chi tiết, nên khi đọc sách não bộ sẽ dễ dàng ghi nhớ những thứ này.

Một khi não liên tục được làm việc với các thông tin, xử lý thông tin thì khả năng nắm bắt, nhạy bén với thông tin cũng tăng lên. Từ đó, trí nhớ của bạn cũng được cải thiện tốt hơn.

4. Lối sống lành mạnh hơn: Một cuộc nghiên cứu ở Mỹ phát hiện, những người thích đọc sách thì cũng sẽ có thói quen nghỉ ngơi hợp lý và thói quen ăn uống lành mạnh hơn.

Nguyên nhân lý giải cho điều này là do nhờ đọc sách, họ học hỏi được vô vàn kiến thức về sức khỏe từ trong sách vở. Mặt khác đọc sách cũng giúp họ quý trọng cuộc sống cũng như yêu quý bản thân mình hơn.

5. Nâng cao sự tập trung: Trong thời đại internet, chúng ta phải hoàn thành rất nhiều nhiệm vụ trong thời gian ngắn như kiểm tra thư, nói chuyện qua mạng, nghe điện thoại… Các hoạt động này diễn ra liên tục có thể khiến bạn làm việc “như một cái máy” và sự tập trung của bạn cũng bị giảm đi.

Nhưng khi đọc sách, mọi sự chú ý của bạn đều tập trung vào những trang sách. Điều này có thể giúp bạn rèn được tính tập trung, chuyên tâm hơn, nâng cao hiệu quả công việc.

6. Điều trị chứng trầm cảm: Các bác sĩ về thần kinh học tại Anh đang thử nghiệm một phương pháp trị liệu chứng trầm cảm mới, đó là đưa ra một danh sách đầu mục các loại sách cho người bệnh. Kết quả là những người chăm đọc sách thì ít bị căng thẳng và trầm cảm hơn những người ít đọc.

Vậy nên, theo các chuyên gia, đọc sách có thể phát huy hiệu quả tích cực đối với những người mắc bệnh trầm cảm ở thể nhẹ hoặc vừa phải.

Kiến thức sức khỏe

Thực phẩm có hại cho làn da của chị em phụ nữ

Có thể bạn không biết rằng một số thực phẩm thực sự không tốt cho làn da của bạn, khiến cho bạn già đi trước tuổi. Vậy, để cải thiện sức khỏe nói chung và bảo vệ làn da và không bị già nhanh bạn cần phải suy nghĩ trước khi sử dụng các loại thực phẩm sau đây.

Muối

Theo nghiên cứu các chuyên gia dinh dưỡng, nếu cơ thể bạn hấp thu nhiều natri mỗi ngày thì bạn có thể phải đối mặt với nguy cơ huyết áp cao, thậm chí có thể làm da yếu bởi khi đó các collagen trong da bị tác động mạnh.

Bên cạnh đó, nó có thể gây ra nếp nhăn, đặc biệt là với những vùng da mỏng như xung quanh mắt. Ngoài ra, ăn nhiều muối cũng có thể gây ra bọng mắt, làm cho mắt sưng phồng. Vì thế, để bảo vệ làn da bạn hãy ăn nhiều rau, ăn ít muối.

Đường
dinh-duong
Những đồ ăn ngọt như bánh, kẹo … là những đồ ăn ngọt được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, ăn đồ ngọt quá thường xuyên có thể khiến bạn già nhanh hơn.

Quá trình lão hóa của các tế bào là do viêm. Do đó, nếu muốn có vẻ trẻ trung, bạn phải tránh những yếu tố có thể gây ra viêm, bạn nên hạn chế những món ăn có chứa nhiều đường.

Cà phê

Cà phê không chỉ làm xỉn bộ răng của bạn mà chúng còn khử nước của cơ thể, khiến da bạn khô và nhanh già. Thêm vào đó, những nếp nhăn xung quanh mắt càng ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng cà phê có thể là một điều cần thiết của một cuộc sống bận rộn, vì vậy nếu bạn không tỉnh táo, hãy nghĩ đến chuyện uống trà xanh. Đây là một chất chống oxy hóa tuyệt vời và giữ cho da ít bị mất nước, nhờ hàm lượng caffeine thấp hơn so với cà phê. Do vậy, bạn không nên uống quá nhiều cà phê mỗi ngày.

Thịt đỏ

Theo nghiên  cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy rằng, ăn thịt đỏ nhiều hơn một tuần có liên quan đến sự xuất hiện của các nếp nhăn, cũng như nguy cơ về sức khỏe.

Theo nghiên cứu, mức độ cao của carnitine, một hợp chất dồi dào có trong chất đạm động vật, có thể làm cứng thành mạch máu, làm cho da nhăn sớm, mất đi sự trẻ trung. Thịt đỏ có thể là một nguồn cung cấp vitamin B12, mà là rất quan trọng cho tế bào hồng cầu và chức năng của não. Vì vậy, nếu bạn là một người thích thịt đỏ thì hãy ăn một cách hạn chế.

Chất cồn

Trừ rượu vang đỏ, chất cồn có thể gây hư hại cho da của bạn. Chất cồn làm khử nước trong cơ thể, dẫn đến hậu quả là để lại làn da khô và không mịn màng. Do quá trình chuyển hóa rượu mà gan cũng giải phóng các gốc tự do lão hóa ra da, càng làm cho da xấu hơn và nhanh lão hóa hơn.

Chất béo bão hòa

Chất béo bão hóa có nhiều trong thịt lẫn mỡ và các sản phẩm sữa còn nguyên chất béo, chất béo no (hay chất béo bão hòa) có thể khiến bạn trông già hơn. Các chuyên gia cho biết ăn quá nhiều chất béo no có thể gây ra chứng viêm lão hóa da, đồng thời tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ.

Nếu muốn giảm được nguy cơ trên, bạn hãy ăn thực phẩm như dầu ôliu, dầu lạc, dầu ngũ cốc… Trong những loại dầu này có chứa nhiều chất béo no đơn chất, là chất béo có lợi cho cơ thể.

Để làn da tươi trẻ, bạn nên hạn chế tối đa việc dùng chất béo nguồn động vật như mỡ heo, bò, gà…Hạn chế dùng các thực phẩm chế biến sẵn có sử dụng các loại bơ thực vật (margarin). Thay vào đó, dùng các dầu có lợi như dầu ô liu, dầu mè, dầu đậu nành…; Hoàn toàn không dùng thực phẩm chứa chất béo dạng trans trên mức cho phép.

Ngoài ra, trong bữa ăn hàng ngày nếu bạn ăn quá nhiều thực phẩm cay có  thể sẽ gây hại cho da của bạn. Thức ăn cay có thể làm giãn mạch máu ở những người dễ bị mụn trứng cá – căn bệnh viêm nhiễm da mãn tính, xuất hiện các mụn đỏ tấy trên da, làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp thẩm mỹ hoặc phụ nữ đang trải qua thời kỳ mãn kinh.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, để giữ làn da luôn khỏe khoắn và trẻ trung đó chính là việc nuôi dưỡng từ bên trong. Chế độ ăn uống hợp lý, trong đó có chứa các loại thực phẩm chống oxy hóa có thể giúp làn da bạn luôn tươi khỏe.

Nguồn vnmedia

Thực phẩm tuyệt vời ngừa lão hóa

Dâu, bơ, tỏi, rau xanh đậm lá, rượu vàng đỏ… được xem là những thực phẩm có công dụng ngăn ngừa lão hóa hiệu quả, theo MindBodyGreen.

1. Các loại dâu

cac-loai-dau

Đây là loại trái cây được nhiều người yêu thích. Những quả mọng này còn là nguồn cung cấp dồi dào chất chống oxy hóa, giúp tăng cường sức khỏe cho các tế bào và bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật.

2. Bơ

Bơ cung cấp cho cơ thể một lượng đáng kể vitamin E, kali và chất chống oxy hoá.

3. Tỏi

Tỏi có khả năng làm giảm cholesterol và huyết áp, đồng thời giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Đây cũng là loại thực phẩm tăng cường sức đề kháng với virus và vi khuẩn gây bệnh, làm giảm sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư.

4. Yến mạch, gạo lứt

Yến mạch, gạo lứt là nguồn cung cấp chất xơ tuyệt vời, giúp đường ruột được thông thoáng và loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể. Ngũ cốc nguyên hạt cũng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và tiểu đường.

5. Rau xanh đậm

Các loại rau có lá xanh đậm chứa nhiều chất chống oxy hóa chống lại các gốc tự do, nguyên nhân gây ra lão hóa sớm. Đặc biệt, cải bina (cải bó xôi) và cải xoăn có thể bảo vệ cơ thể khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tia UV.

6. Rượu vang đỏ

ruou-vang-do

Có thể bạn không tin nhưng một ly rượu vang đỏ hoàn toàn có khả năng bảo vệ tim khỏi những bệnh tật. Trong rượu vang đỏ có chứa chất chống oxy hóa tuyệt vời gọi là resveratrol, có tác dụng chống đông máu. Nếu bạn không không thích uống rượu, cũng có thể sử dụng resveratrol ở dạng thuốc bổ sung.

7. Các loại hạt

Trong các loại hạt chứa rất nhiều protein, omega 3, vitamin E và canxi.

8. Đậu

Đây là thực phẩm rất dồi dào chất chống oxy hóa và khoáng chất quan trọng đối với sức khỏe. Bởi vì đậu rất ít chất béo nhưng lại giàu chất xơ, bạn chắc chắn sẽ không muốn bỏ lỡ loại thực phẩm tuyệt vời này.
Theo VNE

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Cách tự giúp mình giảm nguy cơ thoái hóa khớp

Nhiều người lầm tưởng rằng những bước chân nặng nề khó nhọc, sự mỏi nhức của các khớp chỉ diễn ra ở tuổi già nhưng thực tế quá trình thoái hóa khớp diễn ra ngay cả khi chúng ta đang còn trẻ. Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hoá không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống…

Chất lượng cuộc sống bị giảm sút khi khớp bị đau

Thoái hoá khớp là hậu quả của mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp và thoái giáng tổ chức sụn khớp: quá trình thoái giáng sụn tăng lên trong khi quá trình tổng hợp sụn giảm sút; làm thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến hiện tượng sụn khớp bị nhuyễn hoá, nứt, loét và mỏng dần, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn. Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, tràn dịch ổ khớp, biến dạng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp, gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. Các khớp hay bị thoái hoá là những khớp phải chịu sức nặng của cơ thể (các khớp tải trọng) như khớp gối, khớp háng, khớp cột sống…

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_01

Diễn viên múa balê dễ bị chấn thương khớp

Truy tìm nguyên nhân

Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ cơ bản gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:

– Yếu tố di truyền: thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.

– Lão hoá: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.

– Yếu tố cơ học: các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp vai của các võ sĩ quyền anh; khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông;  khớp gối của vận động viên bóng rổ hoặc cử tạ, khớp cổ chân của diễn viên balê, vận động viên bóng đá; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ; thợ mỏ than, người đội đá, cát, đất…

– Yếu tố dinh dưỡng: thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.

– Các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_02

Thoái hóa khớp

Có thể trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?

Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ đã phân tích ở trên càng sớm càng tốt. Mục đích là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. Ngược lại các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:

Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc, giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì. Tập thể dục thường xuyên và vừa sức, như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30- 60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.

Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để đưa khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm những nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.

Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.

Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.

Dự phòng bằng sử dụng thuốc có tác dụng trên cấu trúc sụn khớp. Hiện các thuốc này mới được khuyến cáo dùng để điều trị bệnh thoái hoá khớp, chưa có các nguyên cứu về chỉ định dự phòng thoái hoá khớp (ở giai đoạn tiền lâm sàng: khi mà các triệu chứng thoái hoá khớp chưa biểu hiện trên lâm sàng).

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Bệnh khớp trong mùa rét

Thời tiết lạnh là lý do khiến nhiều bệnh lý cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hoá khớp tiến triển. Trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn, gây co các mạch máu ngoại vi làm giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp gây các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng. Xin giới thiệu một số bệnh khớp thường gặp và chịu ảnh hưởng nhiều khi thời tiết giá lạnh.

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim, hay gặp ở lứa tuổi học đường, xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn bêta nhóm A. Trẻ có biểu hiện ban đầu như viêm họng, sốt cao. Sau vài tuần kể từ khi bị viêm họng, trẻ có thể xuất hiện các viêm khớp cấp do thấp. Viêm khớp có tính chất xảy ra đột ngột, hay gặp ở các khớp to vừa như khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng thường khỏi nhanh hơn khi dùng thuốc chống viêm. Trong khi biểu hiện ở khớp thường khỏi nhanh, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng thì biểu hiện ở tim thường nặng nề và là biểu hiện nguy hiểm nhất của bệnh. Ngoài các triệu chứng ở khớp, ở tim… trẻ còn có thể có các triệu chứng thần kinh như múa giật, liệt, hôn mê; đau bụng, tiểu ra máu…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_benh_khop_trong_mua_ret

Tắc mạch đầu chi hay gặp trong mùa lạnh

Viêm khớp dạng thấp là bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả hai bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay… một hoặc vài tiếng, mới giảm bớt cảm giác cứng khớp. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Đau vai gáy, đau thắt lưng, viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương trong chứng bệnh đau cân cơ (fibromyalgia). Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính… Do trời lạnh, các cơ thưòng co lại để sinh nhiệt (rét run), tư thế “so vai, rụt cổ” do các cơ vùng gáy co lại để hạn chế tối đa trao đổi nhiệt với môi trường lạnh xung quanh. Các tư thế này phải duy trì trong thời gian dài làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây mệt và mỏi cơ. Có thể đau một hay hai bên bả vai, hạn chế các động tác của cột sống như cúi, ưỡn, nghiêng… Các triệu chứng hay đi kèm là trạng thái mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ…

Co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể. Khi tiếp xúc với lạnh, đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức.  Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hoá, xơ hoá phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Thoái hoá khớp là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hoá của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hoá, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động.  Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Phòng bệnh: Ngoài các biện pháp bảo vệ sức khoẻ chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình, các bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần lưu ý là khi trời lạnh, nhất là kèm theo mưa phùn thì phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hoà nhiệt độ (nếu có điều kiện). Một đặc điểm quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp, duy trì lâu dài, hàng năm, có khi suốt đời.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bước ngoặc lớn trong điều trị thoái hóa khớp

Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trở thành chất xúc tác mạnh mẽ cho y học hiện đại phát triển, nhiều kỹ thuật điều trị mới ra đời, giúp con người có nhiều hơn các biện pháp chống đỡ với bệnh tật. Trong đó điều trị thoái hóa khớp bằng phương pháp tế bào gốc đang hứa hẹn những thay đổi quan trọng cho bệnh lý này.

Điều khó tránh khỏi của thời gian

buoc_ngoac_lon_trong_dieu_tri_thoai_hoa_khop

Cấy ghép tế bào gốc từ thận cho bệnh nhân khớp.

Thoái khớp là tình trạng lão hóa của sụn khớp và tổ chức xương dưới sụn, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như di truyền, nội tiết, chuyển hóa và chấn thương, biểu hiện bằng những thay đổi về hình thái và tính chất của sụn khớp như sụn bị nhuyễn hoá, kém tính đàn hồi, nứt ra và mỏng đi, tổ chức xương dưới sụn bị xơ hóa, tạo ra các gai xương và hốc xương dưới sụn. Biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng đau nhức khớp, có thể tràn dịch khớp, biến dạng khớp, hạn chế vận động khớp, làm ảnh hưởng đến lao động, sinh hoạt hàng ngày.

Các phương pháp điều trị hiện nay nhằm vào 2 mục tiêu chính là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp và giảm đau, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Việc phòng bệnh tập trung vào phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp và tránh cho khớp bị quá tải (tư thế làm việc hợp lý), giữ cân nặng hợp lý, tránh béo bệu. Có nhiều các biện pháp điều trị khác nhau từ không dùng thuốc (vật lý trị liệu, xoa bóp, kéo giãn, tắm bùn, tập luyện thể dục hợp lý…) đến sử dụng các thuốc có tác dụng làm chậm quá trình thoái khớp; các phương pháp can thiệp (nội soi khớp, phẫu thuật chỉnh sửa khớp) và phẫu thuật thay khớp nhân tạo khi các biện pháp điều trị trên thất bại.

Tế bào gốc trở thành hy vọng lớn

buoc_ngoac_lon_trong_dieu_tri_thoai_hoa_khop02

Lấy tế bào khớp ra nuôi cấy rồi cấy lại vào nơi tế bào khớp bị suy thoái.

Với sự phát triển của di truyền học, sinh học phân tử trong những năm gần đây, nhất là sau khi giới khoa học đã giải mã được bộ gen người năm 2001, thì nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng tế bào gốc trong điều trị nhiều bệnh nan y như bệnh tự miễn, ung thư, đái tháo đường, Parkinson…

Tế bào gốc (stem cells) là những tế bào có khả năng tự tái tạo bằng cách phân chia tế bào và có khả năng biệt hoá thành nhiều loại tế bào khác nhau. Với khả năng này, chúng có thể hoạt động như một hệ thống sửa chữa, thay thế các tế bào chết.

Có 3 loại tế bào gốc chính là: tế bào gốc từ phôi thai (embryonic stem cells) hình thành sau khi thụ tinh. Nhóm thứ hai là tế bào gốc từ tế bào gốc trưởng thành (adult stem cells) ở tuỷ xương, sụn khớp, da, giác mạc… Nhiệm vụ của tế bào gốc trưởng thành là thay thế, sửa chữa, bù đắp cho các tế bào đã chết. Việc sử dụng các tế bào gốc trưởng thành an toàn hơn nhưng số lượng tế bào ít hơn. Hơn nữa, chúng lệ thuộc vào tuổi của người có tế bào gốc, tế bào gốc của người trẻ phát triển nhanh hơn người già. Nhóm thứ ba là tế bào gốc sơ sinh (infant stem cells) ở dây rốn và nhau thai. Đây là nhóm tế bào gốc có ưu điểm hơn hai loại tế bào trên về nhiều phương diện và đang được nghiên cứu nhiều.

Phương pháp cấy ghép bằng tế bào sụn khớp đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật từ những thập niên 70-80 của thế kỷ XX, nghiên cứu trên người vào những thập niên 90. Trong số các nghiên cứu đó, đáng chú ý nhất là nghiên cứu của TS. Lar Peterson và nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học Goterbeg (Thụy Điển) sử dụng phương pháp cấy ghép sụn khớp tự thân. Các tác giả đã sử dụng phương pháp ghép sụn tự thân (autograft) cho một số bệnh nhân trẻ tuổi bị thoái khớp gối thứ phát sau chấn thương. Các tế bào sụn được lấy ra từ sụn khớp, sau đó được nuôi cấy trong một môi trường đặc biệt để được nhân lên, rồi chúng được ghép vào nơi thiếu hụt sụn khớp.

Do đó kỹ thuật này bao gồm nhiều công đoạn. Trước tiên, tiến hành nội soi khớp để xác định vị trí sụn bị tổn thương chuẩn bị cho ghép sụn, lấy một ít tổ chức sụn ở vùng khớp không bị tổn thương. Các tế bào sụn được nuôi cấy trong một môi trường giàu dinh dưỡng, có nhiều yếu tố tăng trưởng trong vài tuần và các tế bào này được nhân lên nhiều lần về số lượng, tồn tại ở dạng dịch đặc. Sau đó các tế bào sụn được cấy ghép vào vị trí sụn bị thiếu hụt. Các tế bào sụn này phải mất vài tháng mới chuyển thành tổ chức sụn bình thường.

Các nhà khoa học Úc, đứng đầu là GS. Silviu Itescu vừa công bố những kết quả về sử dụng tế bào gốc trưởng thành của cá thể khác (allograft) trong điều trị thoái hoá khớp gối. Nghiên cứu tiến hành ở một số con cừu cái sau mãn kinh bị thoái hoá khớp gối. Sau khi cắt sụn chêm, chúng được chia làm 3 nhóm: nhóm chứng, nhóm được điều trị bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic (chất nhày dịch khớp nhân tạo) đơn thuần và nhóm được tiêm nội khớp đồng thời acid hyaluronic và tế bào gốc trưởng thành; chúng được theo dõi trong 6 tháng. Kết quả là sau 6 tháng, sụn khớp gối của nhóm được điều trị bằng tế bào gốc tái tạo lại dầy hơn và rộng hơn 20 % so với nhóm chỉ được tiêm acid hyaluronic đơn thuần. Sụn khớp mới này giàu chất cơ bản proteoglycan, chứng tỏ chất lượng cao của sụn mới tái tạo. Nhóm tiêm acid hyaluronic đơn thuần không có cải thiện rõ rệt về bề dầy sụn khớp.

Tuy nghiên cứu mới chỉ ở pha 2 trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, nhưng cho phép chúng ta có thể hy vọng vào hiệu quả của phương pháp điều trị này trong tương lai. Tại Việt Nam, từ vài năm nay đã có các trung tâm nghiên cứu tế bào gốc và đã có những nghiên cứu ứng dụng cho một số bệnh lý như bỏng, lột da lâu lành…

TS.BS. Đào Hùng Anh
Theo SKĐS

Nguyên nhân chủ yếu của sự lão hóa về tính năng tính dục

Cuộc sống hiện đại ngày càng bận rộn, áp lực công việc cũng gia tăng là những nguyên nhân gây ra sự giảm sút các tính năng của cơ thể. Một khi con người ăn ngon mặc đẹp thì nhu cầu được quan tâm chăm sóc về tính năng cũng cần được chú ý hơn nhiều. Do đó, câu hỏi: “Khi nào nam giới bị giảm sút về tính năng tính dục” cần có được câu trả lời thích đáng và luôn thu hút được sự chú ý của các đấng mày râu.

Nguyên nhân chủ yếu của sự lão hóa về tính năng tính dục
nguyen-nhan-chu-yeu-cua-su-lao-hoa-ve-tinh-nang-tinh-duc
Thông thường, nam giới khi bước vào độ tuổi 50 – 60 tuổi về sau, khi tuổi tác càng tăng thì các tế bào trong tinh hoàn dần bị lão hóa và có những biến đổi tính dục. Lượng testosterone tiết ra ít dần, kích thước tinh hoàn tương đối nhỏ, lúc này các cơ quan tổ chức của cơ thể cũng dần bị lão hóa, khả năng tính dục cũng dần lão hóa. Khoảng 60 tuổi về sau, tinh hoàn nhỏ hẳn một cách rõ rệt. Do đó, có thể nói rằng chức năng của tinh hoàn có tác dụng then chốt trong sự ảnh hưởng của nó đối với tính năng tính dục của nam giới.

Sự cương cứng dương vật ở nam giới khi lớn tuổi cần một thời gian dài hơn và phải gia tăng lượng kích thích trực tiếp lên dương vật. Nam giới sau 60 tuổi trở đi thì mật độ cương cứng của dương vật và lượng tinh dịch phóng ra cũng giảm sút. Một cơ thể khỏe mạnh và có một tố chất cơ thể tốt là những yêu cầu quan trọng để có một tính năng tính dục như mong muốn. Ngoài ra, có những nhân tố khác không thể bỏ qua như tác động của xã hội, tâm lý cũng ảnh hưởng đến tính năng tính dục.

Những biểu hiện suy yếu

Nam giới ở tuổi trung niên đang ở giai đoạn sức khỏe cường tráng, hôn nhân mỹ mãn. Tuy nhiên, có một bộ phận nam giới ở độ tuổi 40 – 50 thì tính năng tính dục đã bị giảm sút rõ rệt. Những biểu hiện chủ yếu là: khả năng phản ứng về tính dục chậm chạp hẳn, sau khi quan hệ cảm thấy rất mệt mỏi, khoảng cách thời gian giữa các lần để dương vật cương cứng dài hơn trước. Khi nam giới có cảm giác “trên bảo dưới không nghe” sẽ làm gia tăng sự phiền muộn và sự suy giảm đó ngày càng nặng nề hơn.

Tuy khả năng tính dục của nam giới tuân theo quy luật vể tuổi tác là có thật, nhưng nếu chúng ta có những phươngthức chăm sóc cơ thể một cách đúng mức thì việc kéo dài khả năng đó vẫn luôn là có thể.

Những biểu hiện chứng tỏ nam giới đã bị lão hóa?

Thị lực: thủy tinh thể của nhãn cầu dày hơn, thị lực bị lão hóa thấy rõ, khả năng tập trung kém.

Tóc: đầu tiên là xuất hiện hiện tượng tóc bị khô, nang tóc trên da đầu ít dần, tóc ngày càng thưa, tóc lâu dài.

Tần số sinh hoạt tình dục: số lần quan hệ tình dục giảm dần. Khi nam giới khoảng 30 tuổi đang trong giai đoạn cao trào của tính dục thì mỗi năm số lần quan hệ sẽ không dưới 100 lần, 40 tuổi không dưới 80 lần, 50 tuổi không dưới 60 lần, 60 tuổi trở lên thì số lần quan hệ không dưới 50 lần.

Về khả năng cương cứng của dương vật: nam giới trước 50 tuổi thì khả năng cương cứng dương vật sẽ thấp hơn khi họ 20 tuổi là chuyện rất bình thường, nhưng khi có cảm giác khả năng này thực hiện rất khó khăn thì chứng tỏ bạn đã trong tình trạng suy yếu về khả năng tính dục.

Mỡ: tỉ lệ mỡ trong cơ thể ngày càng tăng, xuất hiện sự tích mỡ trong cơ thể, tỉ lệ hàm lượng chất béo trong các cơ và trong các cơ quan càng ngày càng nhiều.

Cơ và xương: cơ bị teo và chảy xệ, xương dần bị thoái hóa.

Sức chịu đựng và khả năng hô hấp: thể lực giảm sút rõ rệt. Ví dụ: nam giới khi 70 tuổi, thể lực chỉ bằng phân nửa so với thời còn 20 tuổi.

Chức năng của phổi: xương lồng ngực bắt đầu trở nên cứng hơn, gánh nặng đè lên các cơ đảm nhiệm việc hô hấp ngày càng nhiều, khi hít thở có càng nhiều vật chất có hại tích tụ trong phổi.

Chức năng của nội tạng: khả năng điều hòa nhịp tim kém, số lần tim đập nhanh nhất của mỗi phút cũng thấp hơn nhịp đập chuẩn.

Thính lực: màng nhĩ dày hơn, lỗ tai dần nhỏ lại, khả năng phân biệt âm thanh, đặc biệt là đối với những âm thanh có tần số cao càng khó phân biệt hơn.

Thoái hóa khớp: Có thuốc chữa khỏi không?

Thoái hóa khớp (hư khớp) không phải là một bệnh mà là tình trạng lão hóa (già) của khớp. Ở đầu xương bao giờ cũng có một lớp sụn, lớp sụn này giúp cho khớp trơn tru, dễ dàng trong vận động, chịu được sức nén, hoạt động. Lớp sụn này luôn luôn được đổi mới, mòn đến đâu đắp lên đến đấy, hỏng đến đâu phục hồi đến đấy. Quá trình cứ xây xây, phá phá như thế kéo dài cho đến tuổi già và từ 50 tuổi trở đi thì quá trình phá nhiều hơn xây, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi, ngày càng nứt nẻ ra… để trơ lại lớp xương ở bên dưới.

Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… đây chính là tình trạng mà ta gọi là thoái hóa.

thoai_hoa_khop_co_thuoc_chua_khoi_khong

Có nhiều nguyên nhân gây thoái hóa nhưng chủ yếu là sự lão hóa của cơ thể (sau tuổi 50 con người đã có những biểu hiện của sự lão hóa). Mức độ lão hóa khác nhau tùy thuộc vào từng cá thể và điều kiện sống của cá thể đó. Thực tế thoái hóa khớp thường biểu hiện ở 3 vị trí: cột sống, khớp gối và khớp háng.

Để điều trị thoái hóa khớp người ta sử dụng phối hợp phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chườm ngải cứu, đắp bùn nóng…

Các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp:

– Thuốc giảm đau, chống viêm (paracetamol, aspirin, meloxicam, diclofenac): Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm từ nhẹ đến nặng (các thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời).  Nói chung nên hạn chế dùng kéo dài vì những tác dụng không mong muốn của thuốc như loét dạ dày – tá tràng…

– Thuốc bổ sung chất nhày cho khớp: sử dụng những chế phẩm có cấu trúc phân tử gần giống như dịch khớp tiêm vào ổ khớp. Chỉ tiêm khi có hiện tượng  đau, khô khớp, khó vận động và thường tiêm vào khớp gối.

– Thuốc dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin sulfat. Gần đây chất này được nhiều tác giả nghiên cứu để điều trị thoái hóa khớp do có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

– Các thuốc bôi, xoa ngoài: tùy theo thành phần hoạt chất trong đó có tác dụng giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, giãn cơ.

– Các thuốc bổ: các thuốc bổ gân, bổ xương… (có giá trị về mặt tâm lý hơn là giá trị thực tế).

Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với vật lý trị liệu và các liệu pháp vận động khác. Khi khớp bị tổn thương quá nặng, mất khả năng vận động phải thay khớp.

Thoái hóa khớp là một tất yếu của tuổi già vì thế không có thuốc chữa khỏi hẳn. Chỉ có thể làm chậm lại quá trình này bằng tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe. Tuyệt đối không cho tăng cân (vì nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần), tránh các động tác có hại cho khớp và chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (người có bàn chân vẹo, chân chữ O, X )…

Theo SKĐS

Những yếu tố gây bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương xảy ra khi cơ thể không thể bù đắp lượng canxi xương tương xứng với lượng canxi đã mất. Bệnh thường diễn ra cùng với sự lão hóa của cơ thể, đặc biệt ở phụ nữ.

nhung_yeu_to_gay_benh_loang_xuong

Theo các chuyên gia, ước tính mỗi năm có hơn 1,5 triệu người Mỹ bị gãy xương liên quan tới bệnh loãng xương.

Hội phẫu thuật chỉnh hình Mỹ đã đưa ra một số yếu tố thường gặp có thể gây bệnh loãng xương, bao gồm: tuổi cao; chưa thực hiện đủ các bài tập giảm cân; thiếu hụt nồng độ estrogen sau mãn kinh; không bổ sung đủ canxi hoặc vitamin D trong chế độ ăn; mất sự cân bằng một số hormon; do yếu tố di truyền, trong đó có yếu tố chủng người da trắng hoặc người châu Á; thói quen uống rượu hoặc hút thuốc lá.

Minh Quang (Theo HealthDay News, 17/7/2008)
Theo SKĐS

Điều đáng lo lão hóa mắt ở người cao tuổi

Ngày nay, người cao tuổi (NCT) cũng giống như người trẻ hay mắc phải các căn bệnh thời đại như: bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường… Ngoài ra, quy luật của tuổi tác cũng khiến NCT mắc thêm nhiều bệnh, nhất là các bệnh lý về mắt. Hiểu biết đúng về một số diễn biến cũng như các bệnh lý về mắt thường gặp ở NCT giúp phòng tránh tốt hơn căn bệnh này khi về già.

Với mi mắt

Do tiêu mất nhiều sợi chun và sợi hồ nên mi trên sa xuống và mi dưới cũng trễ xuống. Mi trên sa xuống, đây không phải là bệnh sụp mi do thần kinh. Nó làm cho mắt nhắm, mở kém linh hoạt nhưng không bao giờ che lấp, cản trở thị lực. Mi dưới trễ xuống, làm lỗ lệ không khớp vào diện nhãn cầu góc dưới trong. Do đó, nước mắt thoát không tốt, dễ tràn ra gò má.

Về tuyến lệ

Các tuyến lệ phụ, nằm rải rác ở kết mạc mi, nay bị teo mất nhiều. Mà các tuyến lệ này có chức năng tiết nước mắt thường xuyên, thường trực. Do đó, NCT rất ít nước mắt. Còn việc NCT đôi lúc có trào ồ ạt nước mắt (quen gọi là chảy nước mắt sống) thì lại là vấn đề khác. Đó là do tuyến lệ chính (nằm ở phía sau ngoài mi trên) phải tiết bù cho tuyến lệ thường trực để tránh khô mắt. Tuyến lệ chính chỉ làm việc khi có gió bụi hoặc khói kích thích. Hiện tượng đó dễ làm NCT tưởng lầm là mình nhiều nước mắt.

Về kết mạc và giác mạc

Kết mạc (niêm mạc phủ sau hai mi và trước lòng trắng) thì mỏng ra. Khi làm phẫu thuật kết mạc hoặc tiêm dưới kết mạc, người ta phải để ý tránh rách, bục kết mạc do nó đã yếu, mỏng.

Giác mạc (ta quen gọi là lòng đen mắt) thì NCT hay có các cung đục màu trắng hoặc vòng đục trắng vòng theo phần rìa. Hiện tượng đó gọi là dấu hiệu mắt thiên nga (mắt ngỗng trời). Tuy nhiên, nó không bao giờ lấn vào phần trung tâm. Do đó, không cản trở thị lực.

Về thể thủy tinh

Thể thủy tinh (TTT) người già thường bị xơ cứng. Nó không phồng lên được để tăng công suất qui tụ khi nhìn gần mà chuyên môn gọi là điều tiết. Do đó, NCT thường phải đeo kính lão (kính hội tụ mang dấu dương) khi nhìn gần. Thực ra, dấu hiệu này xảy ra rất sớm ở nam giới tuổi 45 trở ra, tuổi nữ giới 40 – 43 trở ra.

lao-hoa-mat-o-nguoi-cao-tuoi

TTT người già thường hay bị đục. Từ tuổi 70, TTT của ai cũng bắt đầu đục. Đục nhiều đến mức làm giảm thị lực, cản trở sinh hoạt thì mới phải mổ. Thể thủy tinh trước khi đục hẳn thì nó đặc, tăng công suất thay cho kính lão. Nhiều người đang dùng kính thấy bỏ kính ra đọc, viết lại rõ hơn là đeo kính. Chớ vội mừng, đó là dấu hiệu ban đầu của đục TTT.

Dịch kính mắt

Dịch kính là một tổ chức chiếm 3/4 dung tích nhãn cầu. Nó ở phần sau TTT. Bình thường, nó nhầy, keo như lòng trắng trứng sống. Dịch kính của người già bị lỏng ra, nhất là ở phần trung tâm, nó vừa lỏng, vừa dễ bị các đốm đục, gây cảm giác ruồi bay trước mắt. Nhiều khi dịch kính người già có các nang rỗng nhỏ, thưa thớt.

Võng mạc

Võng mạc NCT cũng mỏng đi, cũng xơ, co. Do đó, rất có thể bị các mảng khuyết ở một vài chỗ. Ổ khuyết ở trung tâm được gọi là nang hoàng điểm.

Về kích thước nhãn cầu

Nhãn cầu NCT thường co nhỏ lại. Do đó, trục trước sau nhãn cầu cũng ngắn bớt đi khoảng nửa ly, làm cho mắt bị viễn thị trục. Cho nên, nếu vừa phải đeo kính đọc sách, vừa phải đeo kính hội tụ số nhẹ để nhìn xa, thì cũng không lấy gì làm lạ. Tức là mắt đó vừa bị lão thị, vừa bị viễn thị trục, do nhãn cầu co ngắn lại.

Bệnh lý về mắt ở NCT cần lưu ý

Bệnh đục thể thủy tinh: Đây là bệnh của con dao mổ. Không có thuốc tra, rỏ hay uống để làm tiêu TTT đục hoặc chặn lại diễn biến của đục. Cũng không có mức độ chuẩn thị lực còn mấy phần 10 thì phải mổ. NCT nên theo lời khuyên của chuyên khoa mắt. Ngày nay, phẫu thuật nhanh, gọn và hậu phẫu ngắn đi nhiều. Khi các cụ thấy giảm thị lực đến mức ảnh hưởng đến công việc hoặc sinh hoạt thì nên đi mổ. Trước kia thì khuyên mổ lúc thị lực 1/20. Nay thì mổ cả mắt thị lực từ 4/10 trở xuống.

Bệnh glôcôm hay còn gọi là bệnh cao nhãn áp nguyên phát, phải được phát hiện sớm và điều trị hợp lý bằng thuốc hay phẫu thuật (tùy theo giai đoạn của bệnh). Không phải ai cao tuổi cũng bị glôcôm, nhưng người già dễ xảy ra glôcôm nếu đã có các yếu tố bẩm sinh, di truyền, góc tiền phòng không đủ độ rộng nay thêm việc co hẹp góc tiền phòng hoặc xơ hóa hệ thống bè dẫn lưu thủy dịch (do tuổi cao) thì bệnh bùng phát ra. Ở tuổi 40, 45 trở ra, cần theo dõi nhãn áp. Mắt không đau nhức nhưng cứ mờ đi, không bị bệnh về giác mạc hoặc về thể thủy tinh thì nên đi đo nhãn áp. Có nhiều người không đau nhức, khi đo nhãn áp mới biết bị glôcôm. Có người gai thị đã lõm, đã teo trắng, cứ được chẩn đoán là teo gai. Trường hợp đó là do glôcôm góc mở, glôcôm đơn thuần, nó không gây đau nhức dù nhãn áp đã rất cao.

Tóm lại, những diễn biến không mong muốn ở mắt NCT nói chung là do quy luật, nhưng NCT cần lưu ý về hai bệnh tuổi già là đục TTT và glôcôm. Còn những diễn biến như sa mi, trễ mi, chảy nước mắt sống, cảm giác ruồi bay, mắt thiên nga… thì không đáng lo lắm. Đó là diễn biến thông thường không lúc về già. Tuy nhiên, để hạn chế sự lão hóa, NCT nên ăn thay đổi nhiều loại thực phẩm, rau quả khác nhau, khi cần có thể dùng thêm thuốc bổ theo chỉ định của bác sĩ.

BSCKII. Hoàng Sinh

Theo SKDS

Giai đoạn lão hoá của cơ thể

Theo thời gian, cơ thể con người sẽ bị lão hóa, thể hiện bằng những biến đổi về hình thái và chức năng của các bộ phận của cơ thể. Quá trình lão hóa không diễn ra đột ngột, mà đến từ từ.

Tim: Lão hóa từ tuổi 40

Ở tuổi 40, mạch máu dần mất đi sự đàn hồi, động mạch cũng có thể trở nên cứng hoặc bị tắc, nguyên nhân gây ra sự thay đổi này là do chất béo tích tụ ở động mạch vành. Điều này làm cho hiệu quả truyền máu của tim tới toàn bộ cơ thể cũng bắt đầu giảm xuống. Do đó, để giữ cho trái tim khỏe mạnh, tốt nhất bạn không nên ăn quá nhiều chất béo bão hòa.

Phổi: Lão hóa từ tuổi 20

Dung tích của phổi bắt đầu giảm dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40, một số yếu tố như lồng ngực biến dạng, các khớp bị cứng, nhu mô phổi giảm đàn hồi… kết hợp với sự xơ cứng ở cơ bắp và xương sườn buồng phổi có thể khiến cho nhiều người bị khó thở.

Hoạt động của phổi gặp khó khăn, đồng nghĩa với việc không khí sau khi hít thở sẽ lưu lại trong phổi nhiều hơn dẫn tới khó thở.

Da: Lão hóa từ khoảng tuổi 25

Cùng với sự giảm tốc của quá trình tạo collagen, da bắt đầu lão hóa tự nhiên từ tuổi 25. Các tế bào da chết sẽ không biến mất một cách nhanh chóng, trong khi lượng tế bào da mới có thể giảm đi chút ít. Kết quả là da sẽ xuất hiện nếp nhăn và trở nên mỏng hơn, ngay cả khi dấu hiệu lão hóa da ban đầu có thể đến tận tuổi 35 mới xuất hiện.

lao_hoa_01

Phụ nữ thường bị lão hóa da từ tuổi 25

Ngực: Lão hóa từ tuổi 35

Phụ nữ đến tuổi 35, các mô vú và chất béo trong ngực bắt đầu mất dần, kích cỡ và sự căng đầy cũng giảm xuống. Từ tuổi 40, ngực phụ nữ bắt đầu chảy sệ, quầng vú (khu vực xung quanh đầu vú) bị thu hẹp mạnh.

Cơ quan sinh sản: Lão hóa từ tuổi 35

Cơ quan sinh sản của các chị em bắt đầu suy giảm sau tuổi 35. Nội mạc tử cung có thể trở nên mỏng hơn, khiến việc thụ tinh gặp khó khăn hoặc tạo thành môi trường kháng tinh trùng. Khả năng sinh sản của đàn ông cũng bắt đầu suy giảm ở độ tuổi này. Sau tuổi 40, chất lượng tinh trùng giảm xuống, nên khả năng có con của nam giới cũng có dấu hiệu suy giảm.

Cơ bắp: Lão hóa từ tuổi 30

Sau tuổi 30, tốc độ lão hóa của cơ bắp còn nhanh hơn cả tốc độ phát triển. Ở độ tuổi này, hầu hết chúng ta có xu hướng tích trữ chất béo nhiều hơn và đốt cháy lượng calo ít hơn nên cơ bắp dần bị mất đi. Qua tuổi 40, tốc độ lão hóa cơ bắp của con người càng tăng nhanh hơn. Thường xuyên luyên tập có thể giúp ngăn chặn sự lão hóa cơ bắp.

Xương: Lão hóa từ tuổi 35

Sau tuổi 35, xương bắt đầu mòn và rơi vào quá trình lão hóa tự nhiên do các tế bào xây dựng xương hoạt động kém hơn. Xương của phụ nữ mãn kinh mòn nhanh hơn và có thể gây ra bệnh loãng xương. Kích thước và sự suy giảm mật độ xương có thể làm giảm chiều cao của bạn.

Răng: Lão hóa từ tuổi 40

Khi chúng ta già đi, lượng nước bọt tiết ra cũng ít đi. Nước bọt có thể rửa sạch vi khuẩn, nếu nước bọt ít đi, răng và nướu của chúng ta dễ bị hôi. Sau khi các mô nha chu mất dần, nướu răng sẽ bị thu hẹp, đây là triệu chứng thường gặp ở người lớn trên 40 tuổi.

Thính lực: Lão hóa từ khoảng tuổi 55

Hơn một nửa số người trên 60 tuổi có thể bị giảm thính lực do lão hóa. Triệu chứng này gọi là điếc lão hóa, là do sự thiếu “các tế bào lông” gây ra. Tế bào lông cảm quan trong tai có thể tiếp nhận sự rung động của âm thanh và truyền âm thanh tới não bộ.

Theo 24h

Chứng bệnh nhanh lão hóa

Lão hóa – quy luật của tự nhiên

Khi người ta càng lớn tuổi thì cơ thể càng có những thay đổi về giải phẫu và chức năng, đặc biệt là da và các cơ quan khác có xu hướng già đi, suy giảm tất cả các chức năng, đồng thời sự tái tạo kém hơn khi còn trẻ. Tuy nhiên, sự lão hóa có thể xảy ra sớm hơn do những tác động môi trường bên ngoài như ánh nắng, ô nhiễm môi trường… Ngoài ra, có nhiều bệnh lý liên quan tới lão hóa sớm của cơ thể. Cho tới nay, người ta biết được hơn 100 bệnh biểu hiện bệnh lý lão hóa sớm. Đại đa số những bệnh này là do yếu tố di truyền mặc dù bệnh không xuất hiện sớm ngay trong những năm đầu của cuộc đời. Các biểu hiện lão hóa da sớm thường biểu hiện là teo da, giảm tổ chức mỡ dưới da, da nhăn nheo, tóc bạc sớm, rụng tóc, teo móng tay, móng chân, thay đổi sắc tố trên da, da loang lổ trắng đen, loét da và da bị xơ cứng.

chung_lao_hoa_som

Hội chứng lão hóa sớm

Lão hóa sớm

Trong số các hội chứng bệnh lý lão hóa sớm có Hội chứng lão hóa Werner. Đây là hội chứng lão hóa sớm ở người trưởng thành. Bệnh thường bắt đầu sau tuổi dậy thì, bệnh tiến triển nặng dần theo thời gian. Biểu hiện của bệnh là vóc người nhỏ bé, lão suy, đục thủy tinh thể, cứng khớp, sớm mãn kinh, xơ vữa động mạch sớm, và những biểu hiện lão hóa da sớm như tóc bạc sớm, xơ cứng bì, rụng tóc hói, các loét da và có nguy cơ bị bệnh ác tính cao hơn. Bệnh nhân còn có những biểu hiện thoái hóa nhiễm sắc thể, biến đổi chuyển hóa tổ chức, có những bất thường về hệ miễn dịch và nội tiết. Đây bệnh di truyền gen lặn, tần suất mắc khoảng 1-5%o. Đặc điểm bệnh học là lão hóa không đồng đều. Thượng bì teo, một số tuyến phụ da bị mất, trung bì dày, thoái hóa trung bì và cả hạ bì. Các mạch máu và thần kinh cũng bị biến đổi giống như trong bệnh tiểu đường. Những bất thường đó thường thấy rõ ở mặt, các chi hơn là thân mình.

Biểu hiện của bệnh sớm nhất có thể nhận thấy được là tóc bị bạc ở vùng thái dương, thường xảy ra trong độ tuổi 14-18. Tóc bạc nhanh và kèm theo rụng tóc. Tuy nhiên, những biểu hiện lão hóa thấy rõ nhất là vào lứa tuổi từ 18 đến 30 nhưng đôi khi cũng có thể xuất hiện sớm hơn. Chân, bàn chân và bàn tay thường bị tổn thương nặng nhất. Vùng mặt, cổ nhẹ hơn. Biểu hiện da teo và mất dần lớp mỡ dưới da làm cho da căng, bóng và dính vào dưới da. Da vùng chân mỏng đi, nhẽo, trái ngược với một số vùng da bình thường hoặc vùng thân bị béo phì và có thể kèm theo xơ cứng bì hoại thư ở đầu chi. Các biểu hiện da mềm, nhiễm sắc tố lan tỏa và giãn mạch máu thường thấy rõ ở các chi, mặt và cổ. Dầy sừng các điểm hay bị tỳ đè như ở bàn chân, mắt cá sau khi bong ra có thể để lại vết loét không đau. Giọng nói có thể cao hoặc bị khàn do teo mỏng dây thanh âm và dính nắp thanh quản. Trí tuệ phát triển bình thường.

Đa số người bệnh có dáng vóc nhỏ, suy giảm tuyến sinh dục gây ra lông vùng nách, sinh dục thưa hoặc không có lông, tuy nhiên có một số trường hợp phát triển vóc dáng bình thường và vẫn có thể sinh đẻ. Một số tuyến nội tiết khác cũng có thể bị ảnh hưởng như tiểu đường gặp khoảng 30%, và nhiều người bị rối loạn hấp thu glucoza. Tỷ lệ mắc ung thư cao, đặc biệt là sarcôm xơ gặp khoảng 20% trường hợp. Carcinoma có thể xảy ra trên các vết loét ở chân, nhưng hiếm gặp. Xơ vữa động mạch thường xảy ra sớm. Các rối loạn chuyến hóa có thế xảy ra. Bệnh nhân thường tử vong vào tuổi từ 40 đến 60 do bệnh lý nhồi máu cơ tim hay do ung thư. Chụp XQ có thể thấy rõ can xi hóa động mạch, dây chằng, gân và tổ chức dưới da đồng thời với hiện tượng loãng xương rất nặng, đặc biệt ở chân.

Những đặc điểm nổi bật của bệnh này là già trước tuổi, cơ thể không phát triển đầy đủ, biểu hiện giống như bệnh xơ cứng bì, đục thủy tinh thể là những triệu chứng rất đặc biệt không nhầm lẫn với bệnh khác được. Nghiên cứu về gen thì thấy  biến đổi gen WRN.

Điều trị chủ yếu là hỗ trợ và giảm các triệu chứng, trong đó cần quan tâm đến các vết loét ở chân, một số trường hợp phải cắt cụt nếu bị nặng. Đục thủy tinh thể cũng cần chăm sóc và có thể mổ. Phẫu thuật thẩm mỹ với mục đích tạo hình làm đẹp có thể áp dụng cho một số trường hợp.

Theo suckhoevadoisong