Tag Archives: ký sinh trùng

Bệnh viêm da do ký sinh trùng

Demodex là một loại ký sinh trùng thuộc ngành động vật chân đốt nhỏ với khoảng 65 loài khác nhau. Demodex ký sinh chủ yếu ở nang lông những vùng da mỡ, đặc biệt là ở trán, gò má, hai bên cánh mũi, lông mi, lông mày, lông nách, hoặc ở các vùng kín. Mùa lạnh ít tắm rửa bệnh có thể tăng nặng.

Demodex ký sinh trên da người
Trong số 65 loài, có ít nhất 2 loài Demodex sống ký sinh trên da người, ở nang lông, tóc và ở tuyến bã. Chu kỳ của Demodex gồm 5 giai đoạn: trứng, ấu trùng, tiền nhộng, nhộng và con trưởng thành. Từ giai đoạn trứng đến tiền nhộng khoảng 3 – 4 ngày và 7 ngày từ nhộng phát triển thành con trưởng thành. Demodex thường sống thành đôi, vòng đời từ 18 – 24 ngày trên vật chủ. Sau khi giao phối, chúng đi sâu vào bên trong da và đẻ trứng ở nang lông hoặc tuyến bã, mang theo vi khuẩn và bài tiết chất thải, chết ở trong da ngay sau khi đẻ trứng. Sau khi chết, xác của chúng hóa lỏng và phân hủy trong da và gây phản ứng dị ứng ở một số bộ phận mô da, đốm đỏ. Viêm dị ứng da tại chỗ, ban đỏ, sẩn và mụn mủ là phản ứng bởi hệ thống miễn dịch và phản ứng viêm tại chỗ. Con cái đẻ 20 – 24 trứng trong nang tóc.

benh-viem-da-do-ky-sinh-trung

Dấu hiệu bệnh
Triệu chứng của viêm da do Demodex thường hay gặp ở da vùng mặt, lứa tuổi trung niên hay mắc bệnh, đặc biệt khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu thì chúng nhanh chóng tăng sinh số lượng con ghẻ và khi đó gây nên tình trạng viêm tại chỗ và nhanh chóng lan rộng.

Bệnh thường lây theo đường tiếp xúc trực tiếp hoặc có thể là do bụi có chứa trứng bám vào da, hoặc đồ dùng chung. Nếu da tiết bã nhờn nhiều, da mặt bẩn, vết thương, môi trường độ ẩm cao như thời tiết mưa phùn gió bấc, mỹ phẩm kích ứng… là các yếu thuận lợi cho bệnh phát triển và lan rộng nhanh chóng. Demodex có thể sống mọi nơi trên cơ thể, chỗ có nang lông và tuyến bã, nhiều nhất ở mặt đặc biệt ở mũi, trán, cằm và má. Những khu vực này có điều kiện thích hợp nhất để chúng sống, sinh sản và là nơi có nhiệt độ thuận lợi nhất cho chúng phát triển.

Loài Demodex folliculorum thường sống ở chân lông mi và có thể đó là lý do gây ra viêm, ngứa và nhiễm khuẩn mi mắt. Chân tóc cũng thường bị nhiễm khuẩn với biểu hiện ngứa. Do miệng của Demodex sắc nên chúng có thể cắn đốt trong tế bào để hút chất dinh dưỡng. Chúng ăn những tế bào chết, chất dầu có trong chất bã nhờn tiết ra từ các tuyến trên bề mặt da, chúng di chuyển chậm với vận tốc 8 – 16cm trong 1 giờ và thích nghi trong môi trường ẩm, ấm và thường hoạt động nhiều nhất vào ban đêm. Sống bên trong các tuyến bã nhờn và nang lông, sau khi giao phối chúng đào hang vào da, đẻ trứng, gây nhiễm khuẩn da. Trong suốt chu kỳ phát triển, loại côn trùng này phá hủy lớp da mà chúng ký sinh hoặc những nơi da thường bài tiết chất nhờn để tại đó chúng đẻ trứng và chết. Sau khi chết, xác chúng trở thành chất lỏng và phân hủy bên trong da gây phản ứng dị ứng ngứa.

Biểu hiện bệnh đa dạng: Ký sinh trùng Demodex có thể tồn tại trên da người khỏe mà không có biểu hiện lâm sàng. Hầu hết bệnh nhân bị bỏ sót, không được chẩn đoán viêm da do Demodex mà thường chẩn đoán nhầm với bệnh viêm da tiếp xúc, trứng cá đỏ hoặc viêm da quanh miệng. Do tổn thương hay gặp ở vùng mặt, nên người bệnh bị ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống.

Nếu bệnh nhân có số lượng lớn Demodex trên vảy da, nang lông hoặc khi cơ thể suy giảm miễn dịch, chúng gây bệnh. Bệnh viêm da do Demodex có 3 thể bệnh chính: Thể viêm nang lông dạng vảy phấn là thể nhẹ nhất, biểu hiện thương tổn là các đám da đỏ, bề mặt có những vảy da, nút sừng ở nang lông, cảm giác kiến bò trên da; Thể viêm da dạng trứng cá; Thể trứng cá đỏ thể u hạt, gặp ở những người suy giảm miễn dịch.

Tổn thương do Demodex gây ra là các đám đỏ da, mụn mủ, sẩn đỏ, giãn mạch, có thể gây rụng lông mày, lông mi, rụng tóc, viêm bờ mi, ngứa như cảm giác kiến bò, rát vùng tổn thương. Ở vị thành niên, bệnh này thường bị chẩn đoán nhầm là mụn trứng cá. Nếu viêm da nhiều lần và nặng thường để lại da mặt thô ráp và xấu.

Điều trị
Phải diệt ký sinh trùng càng sớm càng tốt, chống bội nhiễm. Khi đã loại bỏ Demodex, tình trạng nhiễm khuẩn sẽ dừng lại, các vết thương sẽ lành, lỗ chân lông sẽ trở nên nhỏ hơn và chất dầu sẽ giảm tiết hơn. Bôi mỡ salicylic, thoa mỡ hoặc gel metronidazole kèm theo uống metronidazole hoặc ivermectin sẽ giảm nhanh triệu chứng cho bệnh nhân. Nên thoa thuốc vào lông mi vào ban đêm để tránh hiện tượng đào hầm hoặc loại ký sinh trùng ra khỏi vùng nhiễm nang lông.

Lời khuyên của bác sĩ
Phòng bệnh rất quan trọng vì loại ký sinh trùng này dễ lây lan từ người này sang người khác. Tốt nhất là bệnh nhân nên vệ sinh da mặt mỗi ngày; tẩy tế bào chết định kỳ để loại bỏ nơi trú ẩn và thức ăn của ký sinh trùng. Các chuyên gia khuyên nên chăm sóc tại nhà, gồm lau rửa mí mắt 2 lần/ ngày bằng xà phòng và dùng mỡ kháng sinh vào ban đêm cho đến khi hết các triệu chứng. Dùng xà phòng gội đầu mỗi ngày. Có thể dùng sữa hoặc xà phòng diệt khuẩn rửa mặt hàng ngày. Thường xuyên giặt sạch khăn trải giường, vỏ gối. Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân như bắt tay, dùng chung quần áo, ôm, hôn nhau…

BS. Ninh Thanh Tùng
Theo sức khỏe đời sống

Phòng bệnh bằng cách không ăn hải sản tươi sống

Mùa hè là mùa du lịch, nhiều du khách thích ăn hải sản như lẩu, gỏi… Nhưng trong các loại hải sản tươi sống hấp dẫn đó lại tiềm ẩn một nguy cơ làm cho bạn có thể bị nhiễm bệnh giun sán. Làm sao vẫn được thưởng thức món hải sản ngon lành mà không bị mắc bệnh? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc trả lời câu hỏi đó.

Bệnh có thể mắc từ ăn cá, tôm nước ngọt

Các nghiên cứu cho thấy, nhiều loại cá nước ngọt như cá quả (còn có tên gọi khác là cá chuối, cá lóc…), cá trê, lươn, ếch, sên, ốc…trong cơ và gan của chúng có chứa nhiều loại ấu trùng giun sán như ấu trùng Gnathostoma gây bệnh giun đầu gai. Bất cứ cơ quan nào của cơ thể cũng có thể bị ấu trùng giun tấn công, với triệu chứng thường gặp là vùng da sưng đỏ, nổi ngứa, ban đỏ. Khi Gnathostoma di chuyển lên hệ thần kinh thì bệnh nhân có thể viêm màng não do ký sinh trùng. Cá trắm, cá chép, cá diếc, có chứa ấu trùng sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini. Khi vào cơ thể người chúng gây tổn thương gan, đường mật. Những loại ốc, cua, tôm là vật chủ trung gian truyền bệnh của bệnh sán lá phổi.

Bệnh gặp ở hầu hết các nơi người dân có tập quán ăn cua, tôm nướng, chưa được nấu chín. Khi ăn phải tôm, cua nước ngọt có mang ấu trùng sán lá phổi (Paragonimus westermani) bệnh nhân bị ho dai dẳng, khạc đờm màu gỉ sét giống bệnh lao. Ăn ốc dễ nhiễm sán máng và sán còn xâm nhập cơ thể qua da khi người hoạt động dưới nước. Ở người, sán trưởng thành ký sinh ở đoạn ruột cuối hay ở bàng quang. Trứng sán thải theo phân và nước tiểu ra ngoài, khi gặp nước ngọt nở ra ấu trùng. Ấu trùng xâm nhập vào vật chủ trung gian là ốc rồi phát triển thành vĩ ấu trùng ra khỏi ốc vào nước; từ nước vĩ ấu trùng xâm nhập qua da vào cơ thể người. Trong cơ thể sán máng và trứng sán ký sinh và gây tổn thương ở ruột, gan, phổi, tim, não, thận, bàng quang… có khi gây tử vong.

phong-benh-bang-cach-khong-an-hai-san-tuoi-song

Nguy cơ bệnh tật do ăn hải sản sống

Ăn cá biển thì nguy cơ nhiễm giun tròn rất cao. Giun tròn Anisakia sống ký sinh ở các loại cá biển như cá voi, hải cẩu, cá heo. Theo dây chuyền “cá ăn cá”, bệnh lây lan sang nhiều loài cá mà con người hay ăn như: cá mực, cá thu, cá mòi, cá tuyết, cá bơn, cá đá, cá hồi, cá ngừ và các loại cá biển khác, với tỷ lệ nhiễm bệnh của cá biển lên tới 80%. Người ăn phải các ấu trùng của giun trong cá biển ở dạng tái, sống, nấu chưa chín, muối, hay làm gỏi. Trong cơ thể, ấu trùng được giải phóng ra sẽ bám hoặc rúc một phần vào niêm mạc dạ dày hay ruột non, gây loét tại chỗ, phù nề và hình thành các u hạt.

Trong vài giờ kể từ khi nuốt phải ấu trùng giun, bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, nôn và đau vùng thượng vị mỗi lúc một nặng, có khi đau bụng dữ dội biểu hiện như một cấp cứu bụng ngoại khoa. Các phản ứng dị ứng, sốc phản vệ có thể xuất hiện. Nếu nhiễm giun Anisakia ở ruột thường xảy ra trong vòng 1 – 2 tuần với các triệu chứng: đau bụng từng cơn, đau quặn xuất hiện ở phần bụng dưới, thường gặp đau khu trú ở vùng hồi manh tràng, kèm theo tiêu chảy, buồn nôn, nôn, trướng bụng và sốt nhẹ. Ở thể bệnh mạn tính: xuất hiện từ vài tuần tới vài năm sau khi ăn hải sản nhiễm giun, bệnh nhân có biểu hiện giống như các trường hợp loét dạ dày, viêm dạ dày, u dạ dày, tắc ruột hoặc viêm ruột.

Hàu là loại hải sản được thu hoạch tự nhiên hoặc nuôi ở các vùng ven biển. Hàu sống là món ăn phổ biến tại nhiều nước trên thế giới. Hàu sống được ăn tái với chanh hoặc mù tạt. Tuy món hàu sống cung cấp nhiều chất đạm, vitamin, kẽm… cho cơ thể nhưng chúng cũng mang vi khuẩn họ Vibrio gây bệnh tả cho thực khách dùng món này. Cho nên ăn hàu nấu chín vẫn là lựa chọn khôn ngoan của bạn vì vẫn rất bổ và an toàn.

Cách ăn hải sản an toàn

Hầu hết giun sán hoặc trứng hay ấu trùng của chúng đều bị tiêu diệt bởi nhiệt độ nước sôi trong thời gian nấu chín hải sản. Chẳng hạn, ấu trùng giun Anisakia trong cá biển bị chết khi nấu ở nhiệt độ 60oC hoặc làm lạnh đến -20oC trong 3 – 7 ngày nhưng chúng không chết khi ngâm muối, tẩm nước sốt hay hun khói lạnh chưa tới 60oC. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh tốt nhất là ăn chín uống sôi. Dù chế biến thức ăn trong gia đình hay bạn đi ăn uống ở các điểm du lịch thì cũng nhất quyết yêu cầu nhà hàng phải nấu chín kỹ hải sản mới ăn. Tuyệt đối tránh ăn cá mực hoặc các loại cá biển còn sống, tái hay chưa nấu chín, nhất là cá hồi, cá mòi, cá thu…

Khi chế biến cá, nên loại bỏ nội tạng cá vì ấu trùng trong cá thường tồn tại dưới dạng giun xoắn hoặc cuộn chặt, không màu trong các ổ tròn có đường kính khoảng 3mm hoặc ấu trùng màu đỏ tía nằm tự do trong cơ hoặc nội tạng, rất khó nhìn nên cần phải nấu chín kỹ mới ăn. Bạn cần biết rằng, cho đến nay, nhiều loại bệnh giun sán, ví dụ bệnh giun tròn Anisakia vẫn chưa có thuốc điều trị. Người ta chỉ có thể dùng phương pháp nội soi dạ dày hoặc đại tràng ống mềm để gắp loại bỏ ấu trùng hoặc phải phẫu thuật lấy giun trong những trường hợp nặng. Vì vậy, nấu chín kỹ hải sản là cách ăn khoa học vệ sinh và tốt nhất cho sức khỏe.

Nguồn giáo dục

Viêm cơ nhiễm khuẩn: Cách điều trị

Viêm cơ nhiễm khuẩn (viêm cơ sinh mủ) là các tổn thương cơ do vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây nên. Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh… Tuy nhiên nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp-xe. Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ hai yếu tố là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương. Chính tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh. Tại Khoa cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, viêm cơ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 2%. Có những trường hợp viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị nội khoa đơn thuần, song có những trường hợp phải kết hợp cả nội khoa và phẫu thuật. Dùng kháng sinh sớm, thích hợp. Cần phải điều trị kháng sinh đủ thời gian là khoảng 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao và đau nhiều thì cần dùng thêm thuốc hạ sốt, giảm đau như paracetamol. Cần nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Khi đã hình thành ổ mủ trong cơ thì cần phải chọc hút dẫn lưu mủ hoặc phẫu thuật để dẫn lưu mủ và lọc bỏ tổ chức hoại tử. Ngoài ra cần điều trị các biến chứng như viêm khớp, suy thận, sốc nhiễm khuẩn.

viem_co_nhiem_khuan_cach_dieu_tri

Để phòng bệnh, cần thực hiện vô trùng tuyệt đối khi làm thủ thuật như châm cứu, tiêm truyền, tiêm vào khớp… Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại da (mụn nhọt, vết loét…). Không làm vỡ, chích nặn sớm các thương tổn mụn nhọt ngoài da. Điều trị tốt một số bệnh nguy cơ, đặc biệt là đái tháo đường, tránh lạm dụng corticoid trong điều trị.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn: Cách phòng, chẩn đoán và điều trị

Viêm cơ nhiễm khuẩn còn gọi là viêm cơ sinh mủ là các tổn thương cơ do vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây nên. Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh. Các vi khuẩn kị khí ít gặp hơn. Tuy nhiên nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp-xe. Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ hai yếu tố là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương, tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh. Bệnh được mô tả lần đầu tiên bởi Sriba ở vùng nhiệt đới vào năm 1885 nên còn có tên gọi là viêm cơ vùng nhiệt đới. Tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, viêm cơ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 2%.

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn

benh_viem_co_nhiem_khuan_cach_phong_chan_doan_va_dieu_tri_01

Viêm cơ ức đòn chũm (sau gáy).

Đầu tiên là viêm cơ nhiễm khuẩn hay gặp ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đó là các bệnh nhân bị đái tháo đường, điều trị corticoid kéo dài, những người suy kiệt… Thứ hai là các tổn thương da như chấn thương, vết thương hở hay mụn nhọt ngoài da. Chính người bệnh thường chủ quan, ít chú ý đến những mụn nhọt, vết thương nhỏ trên cơ thể, mặc dù đây lại chính là đường giúp vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Khi bị mụn nhọt, nhiều bệnh nhân nặn mủ ở giai đoạn sớm hoặc trong quá trình chích nặn không đảm bảo vô khuẩn và không chăm sóc vết thương tốt. Thứ ba là các thủ thuật y tế không bảo đảm vô khuẩn như tiêm chích, châm cứu, phẫu thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể người bệnh.

Các biểu hiện lâm sàng của viêm cơ nhiễm khuẩn

Biểu hiện toàn thân của viêm cơ nhiễm khuẩn là hội chứng nhiễm khuẩn. Người bệnh bị sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn, mắt trũng, hơi thở hôi. Biểu hiện tại chỗ chính là viêm cơ. Bất kỳ cơ nào cũng có thể bị viêm. Có thể một cơ bị viêm hay nhiều cơ bị viêm cùng một lúc. Tuy nhiên có 3 vị trí hay gặp nhất là mặt trước cơ đùi, mông và cơ thắt lưng chậu. Viêm cơ thường trải qua 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu thường xảy ra trong 2 tuần đầu. Cơ sưng tại chỗ, có thể kèm đỏ hoặc không, đau và căng nhẹ. Nếu chọc hút sẽ chưa có mủ. Giai đoạn này các triệu chứng thường không rõ ràng nên dễ bị bỏ qua. Thường sau 10-30 ngày, bệnh chuyển sang giai đoạn 2, với biểu hiện cơ to ra, sưng nóng đỏ đau rõ. Khám cơ có thể thấy dấu hiệu bùng nhùng, dấu hiệu phù nề ấn lõm. Chọc hút có thấy mủ. Bệnh thường được chẩn đoán giai đoạn này. Nếu không được chữa đúng cách bệnh có thể tiến tới giai đoạn 3 với các biểu hiện hệ thống, gây ra các biến chứng như áp-xe nơi khác, viêm khớp lân cận, sốc nhiễm khuẩn, suy chức năng thận. Riêng đối với viêm cơ thắt lưng chậu thì triệu chứng tại chỗ khó phát hiện vì cơ ở sâu. Bệnh nhân thường đau ở vùng mạng sườn, hạ sườn. Có một triệu chứng gợi ý là bệnh nhân không duỗi được chân ở bên có cơ bị tổn thương trong khi mọi động tác khác của khớp háng (gấp, dạng, khép, xoay…) đều bình thường. Khối áp-xe có thể di chuyển xuống các cơ quan lân cận phía dưới như khớp háng, phần trên đùi, cơ mông… Ngoài nguyên nhân do các vi khuẩn sinh mủ, viêm cơ thắt lưng chậu còn có thể do vi khuẩn lao gây nên, xuất hiện sau viêm đốt sống đĩa đệm.

Để chẩn đoán bệnh cần phải làm các xét nghiệm gì?

benh_viem_co_nhiem_khuan_cach_phong_chan_doan_va_dieu_tri_02

Viêm cơ cẳng chân.

Triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn đầu thường không rõ ràng nên đa số các trường hợp chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Các xét nghiệm máu cho thấy các biểu hiện viêm rõ như tăng số lượng bạch cầu máu, tăng tốc độ máu lắng, tăng CRP. Cần phải làm xét nghiệm dịch chọc hút cơ viêm. Xét nghiệm dịch ổ áp-xe có thể thấy nhiều bạch cầu đa nhân trung tính. Phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng soi tươi, cấy bệnh phẩm phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Ngoài ra người ta còn cấy máu để xác định vi khuẩn. Cũng cần làm test Mantoux đối với những trường hợp nghi do lao. Ở một số cơ sở y tế chuyên khoa bệnh nhân có thể được siêu âm cơ với đầu dò tần số cao trên 5 – 7,5 MHz. Siêu âm rất có giá trị trong chẩn đoán các cơ viêm ở sâu như cơ thắt lưng chậu, giúp hướng dẫn chọc hút dịch ổ áp-xe lấy bệnh phẩm xét nghiệm cũng như để dẫn lưu mủ. Chụp Xquang quy ước chủ yếu là để phát hiện các tổn thương xương khớp kèm theo. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ hạt nhân được chỉ định để phát hiện viêm cơ thắt lưng chậu, tổn thương đốt sống hoặc tủy sống.

Điều trị bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn như thế nào?

Có những trường hợp viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị nội khoa đơn thuần, song có những trường hợp phải kết hợp cả nội khoa và phẫu thuật. Dùng kháng sinh sớm, thích hợp. Cần phải điều trị kháng sinh đủ thời gian là khoảng 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao và đau nhiều thì cần dùng thêm thuốc hạ sốt, giảm đau. Cần nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Khi đã hình thành ổ mủ trong cơ thì cần phải chọc hút dẫn lưu mủ hoặc phẫu thuật để dẫn lưu mủ và lọc bỏ tổ chức hoại tử. Ngoài ra cần điều trị các biến chứng như viêm khớp, suy thận, sốc nhiễm khuẩn.

Làm thế nào để phòng bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn?

Cần thực hiện vô khuẩn tuyệt đối khi làm thủ thuật như châm cứu, tiêm truyền, tiêm vào khớp… Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại da (mụn nhọt, vết loét…). Không làm vỡ, chích nặn sớm các thương tổn mụn nhọt ngoài da. Cần điều trị tốt một số bệnh nguy cơ, đặc biệt là đái tháo đường. Cần tránh lạm dụng corticoid trong điều trị.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa khớp Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh loét giác mạc

Nếu ví con mắt như một cái máy ảnh, thì giác mạc là một thấu kính quan trọng trong hệ thống quang học của máy ảnh đó. Giác mạc chiếm đến 2/3 lực khúc xạ của mắt, vì vậy những tổn thương trên giác mạc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực của người bệnh. Một trong những tổn thương rất nặng của giác mạc gây ảnh hưởng trầm trọng đến thị lực là bệnh loét giác mạc.

tim_hieu_benh_loet_giac_mac

Nguyên nhân gây loét giác mạc

Đây là một bệnh khá thường gặp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mù lòa. Loét giác mạc là hiện tượng mất tổ chức giác mạc do hoại tử, gây ra bởi một quá trình viêm trên giác mạc. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra loét giác mạc: do vi khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, moraxella…); do nấm (aspergillus fumigatus, fusarium solant, candida albicans, histoblasma,…); do virut (her pes simple, herpes zoster) hoặc do ký sinh trùng (acanthamoeba). Khi giác mạc còn nguyên vẹn thì hầu hết các yếu tố gây bệnh không xâm nhập được vào giác mạc. Loét giác mạc thường xuất hiện sau một chấn thương gây tổn hại lớp tế bào biểu mô (lớp tế bào bề mặt của giác mạc). Chấn thương giác mạc có thể từ bên ngoài: chấn thương trong sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là chấn thương trong nông nghiệp (do hạt thóc bắn vào mắt hoặc lá  quệt vào mắt). Do vậy, trong các mùa gặt số lượng bệnh nhân bị loét giác mạc thường tăng lên. Tổn thương giác mạc cũng có thể do bệnh tại mắt (do lông quặm, lông xiêu cọ vào mắt) hoặc do những phương pháp điều trị phản khoa học: đánh mộng mắt bằng búp tre, đắp nhái vào mắt để điều trị…

Biểu hiện của bệnh

Khi bị loét giác mạc bệnh nhân sẽ thấy  mắt bị đỏ, đôi khi sưng nề, mắt cộm chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, rất khó mở mắt. Thị lực bệnh nhân giảm nhiều, trường hợp nặng mắt chỉ còn cảm nhận được ánh sáng. Khám mắt sẽ thấy mi và kết mạc phù nề, trường hợp nặng có thể gây sụp mi mắt. Trên giác mạc có một ổ loét. Tùy nguyên nhân mà ổ loét có đặc điểm khác nhau. Nếu loét giác mạc do vi khuẩn: ổ loét có ranh giới không rõ, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử bẩn, khi nhuộm giác mạc bằng fluorescein 2% ổ loét sẽ bắt màu xanh, nếu ổ loét hoại tử nhiều sẽ có màu vàng xanh. Nếu loét giác mạc do nấm: ổ loét ranh giới rõ, bờ gọn thường có hình tròn hoặc bầu dục, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử dày, đóng thành vảy gồ cao, bề mặt vảy khô ráp và khó bóc. Nếu loét giác mạc do virut herpes: ổ loét có thể có hình cành cây hoặc hình địa đồ. Nếu loét giác mạc do acanthamoeba (amíp): ổ loét giác mạc thường kèm theo áp xe giác mạc hình vòng. Giác mạc xung quanh ổ loét bị mờ đi (do thâm nhiễm các tế bào viêm và dịch). Tiền phòng có thể có ngấn mủ.

Điều trị bệnh

Loét giác mạc là môt bệnh nặng, khó điều trị và gây ra nhiều biến chứng. Khi điều trị khỏi bệnh sẽ để lại sẹo trên giác mạc gây giảm thị lực. Trường hợp bệnh nặng, điều trị không hiệu quả có thể phải bỏ nhãn cầu.

Khi bị loét giác mạc, bệnh nhân cần phải đến khám tại các cơ sở nhãn khoa. Tại đây, nhân viên y tế nạo ổ loét giác mạc lấy bệnh phẩm, làm xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh và điều trị bằng các thuốc đặc hiệu. Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc trong những trường hợp nặng có thể phải phẫu thuật ghép giác mạc, với mục đích thay thế giác mạc bệnh lý bằng mô giác mạc lành. Bệnh nhân tuyệt đối không được mua thuốc tại các hiệu thuốc để tự điều trị. Hiện nay, tại các hiệu thuốc có rất nhiều loại thuốc nhỏ mắt có chứa corticosteroid được bán tràn lan. Nếu bệnh nhân bị loét giác mạc mà dùng những thuốc này sẽ làm bệnh trở nên trầm trọng và gây ra những biến chứng rất nguy hiểm. Khi bị các chấn thương mắt dù nhẹ bệnh nhân cũng nên đến các cơ sở nhãn khoa để khám và điều trị, tránh để muộn có thể gây ra biến chứng loét giác mạc. Đặc biệt, khi bị bụi bay vào mắt, bệnh nhân nên đến cơ sở y tế để lấy, không nên tự ý lấy hoặc nhờ người khác lấy ra có thể gây biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân cũng không nên dụi mắt vì sẽ làm tổn thương nặng thêm.

Theo SKĐS

Bệnh giun móc chó, mèo dưới da- cần đề phòng

Vừa qua, một phụ nữ cư ngụ tại Khương Đình, Hà Nội đã phải vào bệnh viện vì trên nhiều vùng da cơ thể, nổi lên những đám ngoằn ngoèo nhìn giống như những mạch máu nhỏ, nhưng lại gây ngứa ngáy dữ dội. Kết quả xét nghiệm cho thấy chị đã bị nhiễm một loại giun móc, vốn chỉ sống ký sinh trong chó, mèo…

Tên khoa học của loài giun này là Anylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephalaoccur, sống ký sinh trong hệ tiêu hóa của chó, mèo và một vài loài động vật hoang dã khác.

Theo chu trình phát triển, giun đẻ trứng, trứng sẽ theo phân ra ngoài rồi từ 3 đến 6 ngày – tùy theo nhiệt độ, môi trường, trứng nở thành ấu trùng. Ấu trùng giun móc chó, mèo phát triển tốt trong những vùng đất ẩm hoặc bùn sình rồi sau đó, khi chó, mèo tiếp xúc với đất có ấu trùng, nó sẽ đi xuyên qua da chó, mèo, vào máu, về tim, về phổi rồi cuối cùng trưởng thành ở ruột non của chó, mèo.

Giai đoạn ấu trùng phát triển trong đất ẩm, bùn sình, và nếu gặp người đi chân đất, hoặc dùng tay không bốc đất, nó sẽ theo các lỗ chân lông chui vào cơ thể. 30 phút sau khi xâm nhập vào cơ thể, thường có triệu chứng ngứa nhẹ. Theo các tài liệu về bệnh học ký sinh trùng, ấu trùng có thể nằm im dưới da cả tuần hay cả tháng, hoặc cũng có thể di chuyển ngay, tạo thành những hang ngoằn ngoèo, rộng từ 2 đến 3mm, nhìn thấy bằng mắt thường.

Trung bình mỗi ngày, ấu trùng đi được từ 3 đến 4cm, gây cảm giác ngứa ngáy khó chịu. Nếu có nhiều ấu trùng xâm nhập thì những hang ngằn ngoèo này rất đa dạng. Những vị trí ấu trùng thường xâm nhập là bàn chân, khe ngón chân, ngón tay, đôi khi ở dưới móng. Do vật ký sinh của ấu trùng giun móc là chó, mèo nên khi vào người, nó chỉ sống được từ 4 đến 8 tuần  rồi chết, tạo thành kén, y học gọi là ngõ cụt ký sinh.

Ở Việt Nam, giun móc chó, mèo có mặt khắp nơi. Bệnh viện Nhiệt đới Tp HCM đã từng tiếp nhận và điều trị cho nhiều bệnh nhân nhiễm loại ấu trùng này. Bác sĩ Trần Phủ Mạnh Siêu, Trưởng khoa Xét nghiệm BV Nhiệt đới cho biết trước đây, có một người đàn ông 35 tuổi, cư ngụ tại quận 8, Tp HCM, vào viện với triệu chứng ngứa vùng ngực kéo dài. Qua thăm khám, dưới da bụng, ngực, mặt trong cánh tay phải, xuất hiện một số đường ngoằn ngoèo. Kết quả xét nghiệm cho thấy bệnh nhân bị nhiễm giun móc chó, mèo.

Theo bác sĩ Trần Phú Mạnh Siêu, giun móc chó, mèo có nhiều loại như Ancylostoma tubaeforme, thường thấy ở mèo; Ancylostoma caninum thấy ở chó, Ancylostoma brazilense và Uncinaria stenocephalaoccur, thường thấy ở cả chó và mèo. Những loại giun móc này có thể lây nhiễm sang người nếu thường xuyên tiếp xúc với chó, mèo hoặc đi chân trần trên nền đất ẩm có chứa phân chó, mèo.

benh_giun_moc_cho_duoi_daGiun móc chó, mèo ở bụng một bệnh nhân.

Gần đây nhất, tháng 11/2012, 3 nữ du khách từ Tp HCM đi nghỉ mát tại một resort ở Bình Thuận. Trong quá trình nghỉ dưỡng, họ được nhân viên chăm sóc da (spa) tư vấn đắp bùn rồi ủ người trong cát để giải trừ độc tố ở gan vì bùn và cát có muối khoáng, có chất nóng nên sẽ hút hết… chất độc (?!).

Sau chuyến du lịch trở về, cả ba thấy ngứa nhiều vùng trên da. Một trong 3 người là chị M, kể: “Một tuần sau khi về, tôi cảm thấy ngứa ở ống chân như kiến bò. Lấy tay gãi chỗ ngứa thì thấy có một vệt nhỏ như sợi chỉ, màu hồng, di chuyển. Điện thoại hỏi bộ phận spa ở resort thì họ nói bùn nhập từ Trung Quốc nên tôi rất sợ”.

Chẳng riêng gì chị, hai người bạn cùng đi với chị, một người ngứa ở đùi và ống chân, một người ngứa ở ngực. Đi khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược, cả ba phát hoảng khi biết mình nhiễm giun móc chó, mèo – vốn là bệnh thường gặp ở trẻ từ 3 đến 8 tuổi vì chúng thường chơi dưới đất, cát! Sau khi được điều trị bằng thuốc, cả ba đã bình phục hoàn toàn.

Tương tự như vậy – nhưng nặng hơn là ông K, ở Lâm Đồng, làm nghề trồng rau. Một hôm, ông phát hiện ở mặt trên bàn chân, bắp chân, bụng, ngón tay, mu bàn tay có nhiều đám ngoằn ngoèo, di chuyển liên tục khiến ông ngứa ngáy rất khó chịu. Đi khám, ông được bác sĩ định bệnh là… giãn mao mạch ngoại biên!

Uống thuốc mãi không khỏi, ông xuống Tp HCM, đến Trung tâm chẩn đoán Y khoa Hòa Hảo thì mới hay ông đã nhiễm giun móc chó, mèo mà nguyên nhân là ông thường xuyên đi chân đất, cũng như dùng tay không bốc phân động vật đã ủ khô để bón rau. Cũng may những tổn thương trên da chưa bị nhiễm khuẩn thứ phát nên một tuần sau khi điều trị, ông đã lành bệnh.

Người Việt thường có tập tục nuôi chó, mèo trong nhà nên cũng cần phải nói thêm về những loại ký sinh trùng sống trong chó, mèo nữa: Đó là giun chỉ Dirofilaria Repens, Thelazia callipaeda và Toxacara.. Khi xâm nhập vào người, những loại giun này thường cư trú ở mắt, dưới kết mạc, ngoài ra còn có thể tìm thấy ở phổi, cơ, não, mô mềm như vú, dưới da, gan. Đã từng có một bệnh nhân thấy cộm ở mắt trái, soi gương rồi lật mí mắt ra xem thì thấy có 3 con giun nhỏ chui ra nhưng mắt vẫn cộm và ngứa. Khi đến bệnh viện để kiểm tra, các bác sĩ đã gắp nốt số giun còn lại đang “thường trú” trong mắt, tổng cộng là 7 con, loại Thelazia callipaeda, sống ký sinh ở chó.

Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Đề, người nhiễm các loại ký sinh trùng này ngày càng phổ biến, có năm phát hiện tới hơn 40 trường hợp. Trước đây, một khảo sát với 323 phụ nữ có thai, sinh sống ở huyện Củ Chi trên 5 năm, thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện Củ Chi thì thấy tỉ lệ nhiễm giun lươn là 8%, nhiễm giun móc chó, mèo là 18%, giun đũa chó mèo 41%, đa nhiễm giun là 54%.

Theo các chuyên gia về ký sinh trùng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nhiễm ấu trùng giun móc chó, mèo, chẳng hạn như tiếp xúc với đất, cát bằng tay không hoặc chân không (bón phân, trồng trọt, đi chân không hoặc chơi đùa ở những nơi chó, mèo thường phóng uế). Bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng và có thể điều trị dễ dàng chỉ với một liều thuốc duy nhất.

Bác sĩ Đỗ Ngọc Ánh, giảng viên Bộ môn Ký sinh trùng – Học viện Quân y, nói: “Điều trị cần được thực hiện sớm khi tổn thương còn khu trú và chưa có nhiễm khuẩn thứ phát. Triệu chứng ngứa sẽ giảm đáng kể trong vòng từ 1 đến 2 ngày sau khi uống thuốc và hầu hết tổn thương sẽ lành trong vòng 1 tuần”.

Để phòng ngừa, biện pháp tốt nhất là không nên dùng tay không tiếp xúc với đất cát, thường xuyên mang giày, dép, găng tay nếu phải hoạt động ở những nơi đất, cát ẩm ướt. Tập thói quen rửa tay trước khi ăn, hạn chế cho trẻ con chơi với chó, mèo, hạn chế ăn tiết canh, gỏi cá sống hoặc uống rượu pha tiết. Nhà có nuôi chó, mèo, nên tẩy giun cho chúng theo định kỳ. Phân chó, mèo thải ra, nên chôn sâu xuống đất sau khi đã rắc vôi.

Theo 24h

Viêm kết mạc do khô mắt?

Tôi năm nay 73 tuổi, gần đây cảm giác lúc nào cũng như có bụi trong mắt, sợ ánh sáng có người bảo bị khô mắt. Tôi đi khám được bác sĩ chẩn đoán viêm kết mạc, dùng nhiều loại thuốc nhỏ mắt nhưng không khỏi. Xin hỏi tôi bị bệnh gì và cách chữa ra sao?

Lê Thị Hòa(Quảng Ngãi)

Viêm kết mạc là bệnh hay gặp có thể do nhiều nguyên nhân gây nên như nhiễm virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, kích thích, dị ứng… Ngoài ra, ở người cao tuổi còn gặp viêm kết mạc do khô mắt. Tùy nguyên nhân, nếu viêm kết mạc do vi khuẩn thì sử dụng kháng sinh (dùng thuốc nhỏ mắt cloroxit hoặc gentamicin, SMP…; trẻ sơ sinh dùng argyrol). Nếu viêm kết mạc dị ứng thì phải dùng dexamethason hoặc hydrocortison… Nếu do khô mắt phải dùng nước mắt nhân tạo. Muốn biết chắc có phải do khô mắt hay không thì cần đi khám để bác sĩ chuyên khoa mắt thử test sehimer – là dùng một giấy thử (giấy dùng trong phòng thí nghiệm) đặt vào mắt sau 10 phút, nếu nước mắt ngấm ướt giấy có đường kính dưới 10cm thì được coi là khô mắt. Trường hợp của bác có thể bị viêm kết mạc do khô mắt.

viem_ket_mac_do_kho_mat

Nguyên nhân khô mắt ở người cao tuổi là do tuyến nước mắt ở tuổi này hoạt động chậm lại, không cung cấp đủ nước mắt để bôi trơn khi nháy mắt. Ngoài ra, một số thuốc như thuốc điều trị tăng huyết áp cũng làm giảm nước mắt.

Để chữa khô mắt, trong trường hợp này có thể dùng nước mắt nhân tạo có bán ở các hiệu thuốc. Tuy nhiên cần đến khám tại chuyên khoa mắt để được chẩn đoán chắc chắn và được hướng dẫn chữa trị cụ thể.

BS. Ngô Thị Hường
Theo SKDS

5 biểu hiện thường gặp của bệnh viêm âm đạo

Viêm âm đạo là bệnh thường thấy ở XX, song không phải ai cũng có biểu hiện giống nhau!

1. Viêm âm đạo do nhiễm ký sinh trùng roi Trichomonas

Triệu chứng: Khí hư màu vàng xanh, loãng, có bọt, tanh, trường hợp viêm nặng chất tiết âm đạo kèm theo máu, khó đi tiểu hoặc đi tiểu rát.

Tác hại: Viêm âm đạo do nhiễm ký sinh trùng roi Trichomonas có thể dẫn tới các bệnh như viêm niệu đạo, viêm bàng quang, viêm bể thận. Trùng roi Trichomonas còn có thể nuốt tinh trùng dẫn đến tình trạng vô sinh, ảnh hưởng đến “chuyện ấy”.

2.Viêm âm đạo do nấm Candida

5_bieu_hien_thuong_gap_viem_am_dao_01

Triệu chứng: Xuất hiện huyết trắng loãng hoặc đặc, màu trắng đục, kèm theo nóng ngứa âm đạo hoặc đau khi làm “chuyện ấy”, đôi khi kèm theo đi tiểu thường xuyên và bị rát khi đi tiểu.

Nguy hại: Viêm âm đạo do nấm Cadida gây ra là một bệnh khó chữa, dễ dẫn tới dị tật bào thai và các bệnh nhiễm trùng khác.

3. Loét cổ tử cung

Triệu chứng: Loét cổ tử cung là do viêm cổ tử cung mãn tính gây ra, thường là khí hư ra nhiều, có màu vàng hoặc màu vàng giống như mủ, tùy theo mức độ xói mòn, bệnh được chia thành 3 loại: nhẹ, vừa và nặng.

Tác hại: Loét cổ tử cung là nguyên nhân gây ra bệnh dính âm đạo, dính cổ tử cung.

4. Viêm âm đạo không rõ

Triệu chứng: Âm đạo có cảm giác nóng, kèm theo khó chịu ở vùng chậu. Khí hư ra nhiều, có mùi khó chịu, tiểu thường xuyên, tiểu gấp và đau rát khi đi tiểu.

Tác hại: Những biểu hiện trên là nguyên nhân gây ra bệnh dính các bộ phận (adhesions) bên trong xương chậu, dễ gây ra bệnh viêm vùng chậu, vỡ màng ối sớm và viêm màng não.

5. Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis)

5_bieu_hien_thuong_gap_viem_am_dao_02

Triệu chứng: Tăng chất tiết âm đạo, khí hư màu xám, có bọt. Niêm mạc âm đạo có những điểm xuất huyết nhỏ lấm tấm, ngoài ra, bộ phận sinh dục sẽ có cảm giác ngứa và có mùi khó chịu.

Tác hại: Gây ra nhiễm trùng bộ phận sinh dục, bệnh viêm vùng chậu, viêm thận, đau khi quan hệ.

Viêm âm đạo cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời

Nếu âm đạo bị ngứa hay có mùi khó chịu, rất có thể bạn đang bị nhiễm khuẩn. Những người mắc bệnh nặng, khi làm “chuyện ấy” có thể lây truyền sang đối phương. Viêm âm đạo là bệnh thường thấy ở các XX, nhưng nếu phát hiện ra muộn thì sẽ phải mất thời gian dài để điều trị triệt để. Do vậy, chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ giúp bạn kiểm soát được bệnh tật và rút ngắn thời gian chữa bệnh.

Theo ione.vnexpress.net

Viêm âm đạo do trùng roi

viem_am_dao_do_trung_roiĐây là một trong những loại bệnh hay gặp nhất ở chị em  nhất là những đối tượng sinh hoạt tình dục bữa bãi. Hầu hết, khi mắc bệnh người bệnh rất ngại nói bệnh của mình nên không đi gặp bác sĩ, chỉ khi thấy khí hư ra quá nhiều, có mùi, âm hộ ngứa rát khó chịu mới đi khám khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn. Trùng roi là một loại ký sinh trùng có tên là Trichomonas vaginalis mà mắt thường không nhìn thấy được. Chúng sống ký sinh ở âm đạo, dịch tiết âm đạo, các nếp nhăn của da ở bộ phận sinh dục gây nên các triệu chứng viêm nhiễm. Trùng roi thích ứng với môi trường khác nhau rất mạnh, có thể sinh sôi trong điều kiện 25-40oC và lan truyền chủ yếu qua con đường giao hợp, thế nhưng vấn đề vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường như nguồn nước, đồ dùng cá nhân… bị nhiễm bẩn, trùng roi có thể xâm nhập vào đường sinh dục rồi gây bệnh. Lúc mới mắc, người bệnh chỉ cảm thấy ngứa nhiều ở âm đạo, âm hộ, sau đó thì thấy sưng, viêm tấy, âm đạo có nhiều khí hư có mùi, màu vàng, xanh, khi giao hợp bị đau. Nếu không chữa trị dứt điểm và kịp thời, người bệnh có thể gặp các biến chứng như viêm vòi trứng, rong kinh, vô sinh, viêm nhiễm đường tiết niệu. Hiện có rất nhiều phương pháp điều trị bệnh trùng roi âm đạo do Trichomonas vaginalis nhưng một trong những nguyên tắc điều trị đạt kết quả là phải điều trị cho cả vợ lẫn chồng và phải kiêng giao hợp khi đang chữa bệnh. Phải kiên trì chữa bệnh, khi thấy triệu chứng đã hết, phải làm xét nghiệm ít nhất 3 lần âm tính mới được coi là khỏi bệnh. Bên cạnh đó, việc giữ vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục, thường xuyên thay giặt quần lót, tránh dùng chung chậu rửa, bồn tắm… sẽ làm giảm mức độ viêm nhiễm. Và một trong những cách phòng bệnh hiệu quả nữa là nên quan hệ một vợ một chồng, lành mạnh, thủy chung.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Cách phòng tránh viêm âm đạo – Âm hộ

Bộ phận sinh dục phụ nữ có chức năng sinh lý đặc biệt để đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ. Bộ phận này có cấu tạo giống một ống đèn xếp mở ra ngoài cơ thể, lại có vị trí gần nơi bài tiết phân, nước tiểu hàng ngày khiến cho âm hộ luôn ẩm ướt. Nếu không vệ sinh tốt sẽ sinh mùi hôi khó chịu làm giảm sự hấp dẫn, giảm khoái cảm, giảm ham muốn của phụ nữ. Đồng thời tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng hoạt động gây ra viêm nhiễm, nấm ngứa tại chỗ hoặc có thể vào sâu, lan rộng đến âm đạo, tử cung, buồng trứng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sinh khoẻ sinh sản của phụ nữ.

cach_phong_tranh_viem_am_dao_am_ho

Nguyên nhân gây viêm nhiễm âm hộ – âm đạo

Bình thường, ở môi trường âm đạo luôn tồn tại hệ vi khuẩn sống hoại sinh, trong đó phải kể đến 7 loại vi khuẩn lactobacilli giúp cân bằng sinh lý âm đạo. Sự tồn tại của các vi khuẩn có lợi đã ức chế vi khuẩn có hại gây bệnh. Bất cứ tác động nào gây mất cân bằng hệ vi khuẩn này đều tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại gây viêm nhiễm. Do vậy mà bệnh lý thường gặp ở phụ nữ là viêm âm hộ – âm đạo. Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, tuy không gây hại trực tiếp đến tính mạng nhưng gây xáo trộn trong sinh hoạt cá nhân, đời sống tình dục… Một số trường hợp do điều trị muộn hoặc không đúng cách sẽ để lại di chứng như: teo hẹp vòi trứng, gây vô sinh hoặc thai ngoài tử cung… Với người đang mang thai có thể dẫn đến sảy thai hoặc đẻ non.

Có nhiều nguyên nhân gây viêm nhiễm âm hộ – âm đạo, song chủ yếu là do thiếu hiểu biết về vệ sinh sinh dục và vệ sinh tình dục cũng như môi trường nóng, ẩm, dễ ô nhiễm. Mùa nắng nóng mặc quần lót, quần dài quá chật cũng có thể tạo ra một môi trường ẩm ướt thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, gây viêm nhiễm. Ngoài ra việc sử dụng bừa bãi các thuốc kháng sinh, Corticoid, làm thay đổi môi trường acid của âm đạo cũng góp phần làm gia tăng sự viêm nhiễm do vi khuẩn gây bệnh có điều kiện phát triển vượt qua cả sức tự bảo vệ của cơ thể.

Cách phòng tránh viêm nhiễm âm hộ – âm đạo

– Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên trong thời kỳ kinh nguyệt, thai nghén, hậu sản, trước và sau khi quan hệ tình dục.

– Giữ cho vùng kín càng khô ráo càng tốt. Tránh mặc quần áo chật, quần ẩm ướt, không nên mặc đồ lót bó sát ngăn da tiếp xúc với không khí gây rối loạn tuần hoàn máu, thay quần lót thường xuyên.

– Không thụt rửa âm đạo khi không có chỉ dẫn của thầy thuốc, vì việc thụt rửa dễ ảnh hưởng tới độ pH, cân bằng sinh lý âm đạo.

– Không nên dùng xà bông hay các chất tẩy rửa mạnh để vệ sinh vùng kín. Khi sử dụng dung dịch vệ sinh phụ nữ cần chọn lựa sản phẩm phù hợp, không nên sử dụng thường xuyên những dung dịch sát khuẩn mạnh, tránh làm xáo trộn môi trường tự nhiên của âm đạo.

– Không dùng nước bẩn có nhiều vi sinh vật như nước ao hồ, kênh rạch để tắm rửa vệ sinh.

– Nên đi khám phụ khoa định kỳ hàng năm. Khi đã mắc bệnh phải đi khám phụ khoa ngay để xác định nguyên nhân gây bệnh và có biện pháp điều trị kịp thời.

Bác sĩ  Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Viêm âm đạo do trùng roi

Viêm âm đạo do trùng roi là một bệnh khá phổ biến. Bệnh do trùng roi (trichomonas vaginalis) – một loại ký sinh trùng sống trong bộ phận sinh dục gây nên. Đây là bệnh lây truyền qua đường quan hệ tình dục, giữa người lành và người mang bệnh.

Đường lây nhiễm

Bệnh trùng roi sinh dục lây qua quan hệ tình dục là chủ yếu. Ngoài ra bệnh còn có thể lây qua bồn tắm, khăn tắm ẩm ướt bị nhiễm trùng roi. Người mẹ mang thai bị trùng roi có thể lây cho trẻ khi sinh qua đường tự nhiên. Tỷ lệ nữ bị bệnh nhiều hơn nam gấp 10 lần. Quan hệ tình dục không được bảo vệ với nhiều bạn tình là nhóm người có nguy cơ cao bị nhiễm trùng roi.

viem_am_dao_trung_roi

Trùng roi nhìn dưới kính hiển vi. Ảnh: TL

Cách phát hiện

Đối với đàn ông: Một số người có biểu hiện ngứa ở quy đầu, đái buốt, đái rắt, có khi có tiết dịch ở quy đầu. Những trường hợp mạn tính rất ít có triệu chứng lâm sàng nên nhiều người không biết mình có bệnh. Thỉnh thoảng chỉ thấy khó chịu dọc theo niệu đạo và có tiết dịch nhầy buổi sáng.

Phụ nữ: Ra khí hư màu vàng, hơi xám, đặc biệt có bọt và mùi hôi nặng. Đôi khi khí hư nhiều, màu xanh hơn nếu nhiễm thêm vi khuẩn khác. Người bệnh bị ngứa nhiều ở âm đạo, âm hộ, có khi bị sưng đỏ và có những vết loét trợt ở bộ phận sinh dục ngoài. Có cảm giác đau rát khi giao hợp hoặc khi đi tiểu.

Phải điều trị phối hợp

Để điều trị bệnh trùng roi âm đạo Trichomonalis vaginalis có hiệu quả cần phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản là thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục để làm giảm mức độ viêm nhiễm, điều trị cho cả vợ lẫn chồng vì bệnh có thể lây từ vợ sang chồng và ngược lại; đồng thời trong thời gian điều trị tuyệt đối không được giao hợp để hạn chế điều kiện và cơ hội lây truyền thì mới có kết quả mong muốn. Trong chỉ định điều trị, thầy thuốc thường dùng các loại thuốc diệt trùng roi phối hợp với các thuốc diệt nấm và vi khuẩn vì qua quá trình điều trị trùng roi, môi trường âm đạo  có thể thay đổi làm cho nấm và vi khuẩn có điều kiện phát triển và gây bệnh. Thuốc đặc hiệu điều trị trùng roi âm đạo thường dùng là tinidazol, nimorazol, ornidazol (uống) và metronidazol (đặt vào âm đạo).

Các thuốc phối hợp để ngăn ngừa, chống nấm thường sử dụng fluconazol, nystatin, amphotericin B.

Để phòng tránh bị mắc bệnh trùng roi âm đạo, cần có biện pháp kiểm soát và thanh toán tệ nạn mại dâm, có quan hệ tình dục an toàn, lành mạnh và chung thủy; tăng cường các điều kiện, tiện nghi vệ sinh cho phụ nữ ở gia đình, nơi học tập, lao động và công tác. Đồng thời cũng cần tích cực phát hiện, điều trị những người mắc bệnh để chủ động khống chế sự lây truyền bệnh.

Bác sĩ Nguyễn Hưng
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Cần hiểu rõ bệnh lây lan qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQÐTD) là một bệnh rất phổ biến trên thế giới. Ðặc biệt với những trẻ lứa tuổi vị thành niên (VTN). Do điều kiện giáo dục giới tính của nước ta chưa thực sự phát triển, hầu hết trẻ em và ngay cả người lớn khi nói đến vấn đề tình dục và giáo dục giới tính vẫn còn rất e ngại. Vì vậy, việc hiểu biết về bệnh LTQÐTD để phòng tránh là cần thiết.

Ở lứa tuổi VTN, các em đã phát triển đầy đủ về mặt sinh lý, đã có đòi hỏi về mặt tình dục, muốn tò mò, khám phá “mê cung” – nơi mà chúng chưa hề biết, nhưng lại không được giáo dục đầy đủ, thiếu hiểu biết. Do vậy, thực trạng đáng báo động là tỷ lệ nạo phá thai, tỷ lệ trẻ VTN mắc các bệnh LTQĐTD vẫn là một vấn đề đáng lo ngại.

Cho đến nay, người ta đã tìm thấy hơn 20 bệnh LTQĐTD.

cac-loai-benh-lay-truyen-qua-duong-tinh-duc-1

Các tác nhân gây bệnh rất đa dạng và dễ lây bao gồm: Vi khuẩn: lậu, giang mai, hạ cam… Virut: HIV, viêm gan B, viêm gan C, herpes, papilloma… Liên thể vi khuẩn và virut: Chlamydia, Ureaplasma, Mycoplasma… Ký sinh trùng: trùng roi, nấm men… Nguồn gây nên các bệnh LTQĐTD là tinh dịch hoặc dịch do âm đạo tiết ra có chứa mầm bệnh hoặc máu của người bệnh.

Một người lành sẽ bị lây bệnh nếu dịch sinh dục hoặc máu của người bệnh xâm nhập được vào trong cơ thể của người lành qua các con đường sau đây: quan hệ tình dục; do truyền máu bị nhiễm bệnh; lây từ mẹ sang con. Những hoạt động thông thường hằng ngày như: bắt tay, ôm, sử dụng chung bể bơi, qua mồ hôi, qua hắt xì hơi… không làm lây lan căn bệnh này.

Rất nhiều bệnh LTQĐTD không thể hiện dấu hiệu rõ ràng cho dù là nam hay nữ, vì thế người mắc có thể không biết rằng mình đã bị mắc bệnh, nhưng họ vẫn có thể làm lây bệnh cho người khác. Đây chính là đặc điểm rất nguy hiểm và cũng là nguyên nhân làm cho bệnh LTQĐTD rất dễ lây lan, khó phòng tránh nếu không có đầy đủ hiểu biết và đề phòng.

cac-loai-benh-lay-truyen-qua-duong-tinh-duc-2

Mỗi một bệnh LTQĐTD có những biểu hiện lâm sàng khác nhau nên khi có các biểu hiện dưới đây thì cần phải đi khám để kịp thời phát hiện và điều trị đúng bệnh: có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật; hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường, các tổn thương này có thể đau hoặc không đau; tiểu đau, buốt hoặc rát, tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới việc hành kinh; trên da có nhiều mụn cóc hoặc các mụn phỏng rộp đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục, nổi hạch ở vùng bẹn… Đau nhiều khi giao hợp hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục.

Cách phòng bệnh LTQĐTD như thế nào?
Mặc dù bệnh LTQĐTD rất dễ lây nhưng không phải là không có cách phòng tránh. Để tránh lây nhiễm LTQĐTD, cần tránh để dịch hay máu của người khác vào cơ thể mình bằng cách: Không quan hệ tình dục trước hôn nhân; Sống chung thủy, thực hiện một vợ một chồng, một bạn tình duy nhất; Không quan hệ tình dục với đối tượng làm nghề mại dâm, với nhiều bạn tình hoặc với bạn tình đang mắc LTQĐTD; Luôn sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục; Không truyền máu nếu như máu đó chưa được xét nghiệm sàng lọc virut viêm gan B, HIV…; Cẩn thận khi phải tiếp xúc với những vật có dính máu tươi hay dịch tiết sinh dục.

cac-loai-benh-lay-truyen-qua-duong-tinh-duc-3

Không sờ trực tiếp vào máu, tinh dịch hay dịch tiết âm đạo, đặc biệt trong trường hợp tay bị trầy xước, không để máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo tiếp xúc trực tiếp với bất kỳ vùng da nào của mình có vết trầy xước hay vết loét; Không dùng bất cứ dụng cụ nào để tiêm, chích qua da nếu dụng cụ đó chưa khử khuẩn hoặc nghi ngờ chưa được khử khuẩn.

Trong trường hợp phải dùng bơm, kim tiêm, cần phải sử dụng bơm kim tiêm sạch (bơm kim tiêm dùng 1 lần); Khi thấy bất cứ một dấu hiệu nghi ngờ bị bệnh LTQĐTD, cần phải đi khám và điều trị càng sớm càng tốt. Luôn luôn nhớ là phải điều trị cho cả hai người cùng một lúc. Trong thời gian điều trị, tốt nhất không nên quan hệ tình dục, nếu có phải sử dụng bao cao su an toàn.

BS. Hải Hà

Theo SK&DS