Tag Archives: kinh nguyệt

Khác biệt của cơ thể ngày rụng trứng

Trong một kỳ kinh của phụ nữ sẽ có một nang trứng chín và rụng để sẵn sàng cho việc thụ tinh, làm tổ và sinh sản. Điều này thì hầu như ai cũng biết, tuy nhiên xung quanh ngày rụng trứng còn rất nhiều điều đặc biệt khác nữa.
Cận cảnh quá trình rụng trứng của phụ nữ
khac-biet-cua-co-the-ngay-rung-trung-1
Cận cảnh quá trình rụng trứng của người phụ nữ

Hormon là yếu tố quan trọng quyết định sự rụng trứng. Vào thời gian đầu của chu kỳ, cơ thể sản xuất ra một loại hormon sinh dục đặc biệt, giúp kích thích trứng chín và rụng trong thời điểm thích hợp. Chu kỳ kinh của phụ nữ (phổ biến là 28 ngày, có thể dài và ngắn hơn), ngày rụng trứng sẽ rơi vào ngày thứ 14 (đếm ngược) bắt đầu từ ngày đầu tiên của kỳ kinh tiếp theo. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất trong ngày rụng trứng là nhiệt độ cơ thể nữ giới cao hơn rõ rệt so với ngày thường. Sự tăng thân nhiệt trong giai đoạn này có nguyên nhân từ việc tăng nồng độ hormon progesterone được tiết ra trong thời kỳ rụng trứng. Bạn có thể phát hiện được thay đổi nhiệt độ cơ thể bằng cách đo nhiệt độ vào mỗi sáng. Thời điểm từ ngày 12 đến ngày 16 của chu kỳ, phụ nữ thường cảm thấy đau, căng và tức ngực. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự tăng lên đột ngột của nội tiết tố nữ. Không phải mọi phụ nữ đều có dấu hiệu rụng trứng này, có người cảm nhận rõ nhưng có người chỉ thấy hơi khó chịu. Trong thời điểm rụng trứng, một số bạn bị ra máu, vì mức estrogen trong cơ thể bị giảm ngắn hạn, khiến nội mạc tử cung mất đi sự hỗ trợ của hormon làm bong tróc một phần nội mạc tử cung, nên dịch nhầy có ra kèm chút máu và không có gì đáng lo ngại. Thời gian này, vùng kín thường tiết nhiều dịch trắng trong (giống lòng trắng trứng gà), ẩm ướt, chất nhầy âm đạo rất mỏng sẽ là cơ hội thuận lợi để tinh trùng bơi qua dễ dàng hơn, tăng khả năng thụ thai nhưng đồng thời cũng làm tăng khả năng xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể và gây bệnh. Trong kỳ trứng rụng, sự tăng cường hormon khiến cho người phụ nữ có ham muốn hơn trong “chuyện ấy”. Giai đoạn này, phụ nữ trở nên hấp dẫn hơn hẳn trong mắt người khác giới. Bởi trong những ngày này, sức sống, độ rực rỡ, bản năng thích chứng tỏ bản thân của phái đẹp cao hơn hẳn so với bình thường.

Mỗi phụ nữ sinh ra đã có hàng triệu quả trứng ở sẵn trong buồng trứng và chỉ chờ đợi đến ngày rụng trứng. Tuy nhiên, trong mỗi chu kỳ thường chỉ có một trứng được rụng và sống được từ 12 – 24 giờ sau khi rời khỏi buồng trứng. Khi trứng đã rụng, các noãn (trứng) đi vào ống dẫn trứng và chờ để được thụ tinh. Nếu không được thụ tinh nó sẽ tự hỏng. Khoảng 2 tuần sau đó, những lớp màng dày của tử cung bắt đầu rơi rụng xuống và xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt mới. 

Minh Thi

Theo SKDS

Trị chân đau nhức, tê mỏi với dâm bụt

Dâm bụt (miền Nam gọi là bông bụp), xuyên can bì, là loại cây nhỡ, cao từ 1 – 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to, màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, màu vàng, hoa thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây mọc hoang ở nhiều nơi và được trồng làm cây cảnh, hàng rào và làm thuốc.

Theo y học cổ truyền, dâm bụt có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, an thần,… Thường dùng chữa kiết lỵ, mụn nhọt, rong kinh, kinh nguyệt không đều, bạch đới, khó ngủ, hồi hộp…

Một số đơn thuốc thường dùng
Khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Hoa dâm bụt phơi khô, mỗi lần dùng một nhúm 15 – 20g, hãm uống thay trà hàng ngày. Hoặc lá dâm bụt 15g, hoa nhài 12g. Sắc uống vào buổi chiều, dùng trong 7 – 10 ngày.

tri-chan-dau-nhuc-te-moi-voi-dam-but

Chữa mụn nhọt đang mưng mủ: Hoa dâm bụt, lá trầu không, lá thồm lồm mỗi thứ 50g, giã nát, đắp lên chỗ mụn nhọt. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Hoặc dùng lá và hoa một nắm, rửa sạch, giã với một ít muối hạt, đắp lên chỗ nhọt đang sưng mưng mủ sẽ đỡ đau nhức, đỡ sưng nóng và chóng vỡ mủ.
Chân đau nhức, tê mỏi: Lá dâm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía, mỗi thứ 30g phơi khô, thái nhỏ, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hằng ngày.

Chữa rong kinh: Rễ dâm bụt 40g, lá huyết dụ 30g, sắc uống ngày 1 thang. 7 ngày là một liệu trình.
Hỗ trợ điều trị di tinh: Hoa dâm bụt 10g, hạt sen 30g. Sắc uống ngày 1 thang. 10 ngày là một liệu trình.

Chữa kiết lỵ (biểu hiện bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá): Hái 10 bông hoa dâm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa cà phê đường, đem hấp cơm. Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn.

Hoặc: Hoa dâm bụt 10g, lá mơ lông 8g, trứng gà một quả. Thái nhỏ hoa dâm bụt và lá mơ lông cho vào bát, đập trứng vào hấp cách thủy hoặc hấp cơm cũng được, ăn hết một lần, dùng 3 – 5 ngày có hiệu quả tốt.

Trị khí hư (bạch đới): Vỏ dâm bụt 40 – 50g thái nhỏ, sao vàng, sắc uống liên tục trong 1 tuần, nghỉ 10 ngày, nếu bệnh chưa hết thì lại uống tiếp.

Chữa kinh nguyệt không đều: Vỏ rễ dâm bụt 30g, lá huyết dụ 25g, ngải cứu 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần/ngày. Uống 3 – 5 ngày kỳ kinh 7 ngày.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thuốc Nam trị kinh nguyệt không đều ở phụ nữ

Kinh nguyệt không đều là một chứng bệnh xảy ra ở nữ giới khi đến tuổi dậy thì đã có hành kinh nay bị rối loạn không theo chu kỳ bình thường hoặc rối loạn về lượng và chất.

Rối loạn về chu kỳ: Ngắn quá hoặc dài quá theo chu kỳ chung (tháng/lần) hoặc theo chu kỳ đặc thù riêng của cá thể phụ nữ; hoặc thất thường khi có, khi mất. Kinh nguyệt đến trước kỳ (kinh sớm, kinh trồi) thường do thực, do nhiệt; kinh nguyệt đến sau kỳ (kinh muộn, kinh sụt) thường do hư, do hàn.

thuoc-nam-tri-kinh-nguyet-khong-deu-o-tre-nho-1

Rối loạn về lượng và chất:

lượng kinh khi nhiều, khi ít hoặc ngày hành kinh quá dài, quá ngắn… không theo hằng định của mỗi cơ thể. Nguyên nhân không ngoài nội thương thất tình, ngoại cảm lục dâm, ăn uống ẩm thực… Một số nguyên nhân khác như chế độ vệ sinh kinh nguyệt, tập tục sinh hoạt, phòng dục… cũng gây bệnh lý nghiêm trọng.

Có thể dùng các bài thuốc Nam đơn giản điều trị cũng cho kết quả tốt:

Dây dưa hấu 120g, đường đỏ 150g. Dây dưa hấu phơi hay sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với đường đỏ, chia làm 3 phần, mỗi ngày uống 1 phần, chia làm 2 lần với nước sôi để nguội, trước kỳ kinh 5 – 7 ngày.

Cỏ roi ngựa 30g, lá ngải cứu 20g, mía 30g. Cỏ roi ngựa, lá ngải cứu, rửa sạch, cắt nhỏ, mía rửa sạch, tiện thành khúc, chẻ làm 4, tất cả cho vào nồi thêm 300ml nước, đun nhỏ lửa cho sôi kỹ, khi còn 150ml chắt lấy nước bỏ bã, chia 2 lần uống trong ngày, cần uống 5 – 7 ngày, uống trước kỳ kinh 10 ngày.

Cây ích mẫu 100g, đậu đen 20g, đường đỏ 50g. Cây ích mẫu chọn phần non, rửa sạch, thái nhỏ, cùng đậu đen và 250ml nước ninh thật nhừ, trước khi ăn cho đường đỏ vào quấy cho tan đều, ngày ăn 1 lần cả nước lẫn cái, cần ăn liền 5 ngày. thuoc-nam-tri-kinh-nguyet-khong-deu-o-tre-nho-2

Hạt bông 250g, đường đỏ vừa đủ. Hạt bông rang vàng, tán thành bột mịn, chia uống trong 14 ngày, mỗi ngày 1 lần trước lúc đi ngủ, dùng 1 thìa cà phê đường đỏ pha với 100ml nước sôi để làm nước uống với bột hạt bông.

Hoa mào gà đỏ 10g, hoa mào gà trắng 10g, rượu trắng 2 thìa canh. Hoa mào gà rửa sạch, cắt nhỏ cho vào nồi, thêm 200ml nước, đun nhỏ lửa cho sôi kỹ, chắt lấy 100ml nước đặc, cho 2 thìa rượu trắng vào cốc, thêm 4 thìa nước sôi, cho vào thuốc, chia 2 lần uống trong ngày, uống trước kỳ kinh 2 ngày.

Củ ấu 120g, đậu đỏ nhỏ hạt 30g, lá sen 10g. Củ ấu lấy phần thịt củ sao nóng, cùng đậu đỏ, lá sen cho vào nồi, thêm 300ml nước, đun sôi kỹ, chắt lấy 150ml nước thuốc chia 2 lần uống trong ngày, cần uống liền 3 – 5 ngày, trước kỳ kinh 3 ngày.

Lương y Quốc Trung

Theo SKDS

Những căn bệnh gây nên vô sinh nam

Trước đây, có nhiều quan niệm cho rằng vô sinh, hiếm muộn chỉ gặp ở phụ nữ và nguyên nhân gây vô sinh chủ yếu là do ăn uống thực phẩm nhiều hóa chất hoặc sử dụng băng vệ sinh kém chất lượng…

Trước đây, có nhiều quan niệm cho rằng vô sinh, hiếm muộn chỉ gặp ở phụ nữ và nguyên nhân gây vô sinh chủ yếu là do ăn uống thực phẩm nhiều hóa chất hoặc sử dụng băng vệ sinh kém chất lượng… Nhưng thực tế, những nguyên nhân mang tính tác động từ bên ngoài đó là chưa đủ. Bởi có không ít trường hợp người phụ nữ vô sinh bắt nguồn từ chính cơ thể họ.

benh-vo-sinh-do-nhung-nguyen-nhan-nao

Tức là họ có thể mắc phải những bệnh dễ gây vô sinh mà không được chữa trị kịp thời, dứt bệnh. Các bệnh dễ gây vô sinh nhất bao gồm:

Vô kinh: Trường hợp người phụ nữ đến tuổi trưởng thành mà không có kinh nguyệt thì gọi là vô kinh. Vô kinh có thể là nguyên phát (từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ thấy kinh) hay thứ phát (đã từng có kinh nhưng sau đó không có kinh nữa hay là rất thưa trên 6 tháng mới có một lần).

Vô kinh có thể do rất nhiều lý do như: dị tật bẩm sinh đường sinh dục (không có tử cung, không có âm đạo), không rụng trứng, suy buồng trứng sớm ở phụ nữ còn trẻ nguyên phát hay sau điều trị có mổ cắt buồng trứng hay hóa trị xạ trị do ung thư.

Vô kinh thứ phát có thể là do buồng trứng không rụng trứng. Trường hợp này có thể kích thích trứng rụng để có con. Còn trong trường hợp buồng trứng bị suy thì người phụ nữ không thể có con.

Buồng trứng đa nang: Hội chứng buồng trứng đa nang xảy ra ở khoảng 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nhưng không phải ai bị buồng trứng đa nang cũng không thể sinh con.

Hội chứng buồng trứng đa nang được chẩn đoán khi bệnh nhân có 2 trong 3 nhóm triệu chứng sau đây:

– Triệu chứng lâm sàng: Rối loạn kinh nguyệt (kinh thưa, hay vô kinh), béo phì, rậm lông

– Triệu chứng nội tiết: tăng nội tiết tố nam testosterone

– Hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm.

Nếu bị hội chứng buồng trứng đa nang và lâu có con thì chị em nên đến cơ sở điều trị hiếm muộn để được điều trị bằng cách sử dụng các thuốc kích thích sự phát triển của nang noãn buồng trứng.

Tử cung nhi hóa: Kinh nguyệt không đều đặn và dần tắt hẳn có thể là dấu hiệu của bệnh tử cung nhi hóa. Trong trường hợp này, người phụ nữ có thể uống thuốc nội tiết tố để có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, giữ cho tử cung bình thường. Còn khi đã lập gia đình thì phải đến ngay cơ sở điều trị hiếm muộn để được khám, chẩn đoán và điều trị.

Rối loạn phóng noãn: Rối loạn phóng noãn thường gây khó có thai và việc điều trị phải sử dụng các loại thuốc kích thích sự phát triển của nang noãn buồng trứng.

Thông thường tỷ lệ có thai đạt được sau mỗi chu kỳ kích thích buồng trứng khoảng 30%. Kích thích buồng trứng thường không được làm quá nhiều lần trên một bệnh nhân nên không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe sinh sản của mẹ và thai nhi sau khi thụ thai.

Nguồn giáo dục

Có thể bị ung thư gan nếu dùng gừng không đúng cách

Gừng vừa là gia vị vừa là thuốc. Ngoài việc tạo thêm hương vị cho một số món ăn, gừng có thể giúp ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh.

Chống viêm: Gừng còn có tác dụng chống viêm. Thực tế, nhiều loại thuốc chống viêm thường gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Trong khi đó, ăn gừng lại có tác dụng chống viêm, ngăn ngừa loét hiệu quả.

Vì gừng chống viêm rất tốt, nên rất nhiều loại thuốc viêm khớp có chứa thân rễ gừng khô. Một nghiên cứu cho thấy phần lớn người tham gia dùng gừng để trị viêm khớp đã giảm đau và sưng rõ rệt.

Giảm đau đầu: Nhai một miếng gừng tươi khoảng 30 phút được cho giúp giảm chứng đau đầu và đau nửa đầu.

Giảm cholesterol: Gừng có tác dụng giảm lượng cholesterol. Một nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân sử dụng gừng thường xuyên trong một thời gian có thể giảm rõ rệt nồng độ cholesterol.

Kiểm soát tiểu đường: Các chuyên gia y tế yêu cầu bệnh nhân tiểu đường uống trà gừng vào buổi sáng sớm vì nó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

Chống stress: Tinh dầu gừng giúp giải tỏa tinh thần, loại bỏ các trạng thái căng thẳng… chóng mặt, bồn chồn và lo lắng.

Chống say xe, ốm nghén: Ăn gừng tươi trước khi đi xe, máy bay… có thể giúp ngăn ngừa các triệu chứng say tàu xe.

Nghiên cứu đã chứng minh rằng rễ gừng và tinh dầu cũng có hiệu quả chống buồn nôn, say tàu xe và nôn mửa. Trong một số trường hợp còn có thể sử dụng để giảm tình trạng nôn mửa ở phụ nữ mang thai.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Ngộ độc thực phẩm: Gừng có tính sát trùng nên có thể dùng trong điều trị ngộ độc thực phẩm. Ngoài ra còn có thể điều trị nhiễm trùng đường ruột và kiết lỵ do vi khuẩn.

Trị rối loạn dạ dày: Củ gừng và tinh dầu gừng thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn dạ dày. Đây là một trong các biện pháp khắc phục tốt nhất cho chứng khó tiêu, đau bụng, co giật, tiêu chảy, đầy hơi và các vấn đề khác liên quan đến đường ruột. Trà gừng cũng được sử dụng để giảm bớt một số triệu chứng dạ dày và tăng cảm giác thèm ăn.

Kiểm soát tim mạch: Nhiều bác sĩ đông y cho rằng gừng có thể giúp ngăn ngừa bệnh và giúp tim mạch khỏe hơn, giúp giảm nguy cơ tắc nghẽn mạch máu và giảm tỷ lệ đột quỵ do tim.

Rối loạn hô hấp: Do củ gừng và tinh dầu gừng tốt cho tiêu đờm, nó cũng có hiệu quả trong các vấn đề khác nhau về đường hô hấp như ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen suyễn và khó thở.

Kinh nguyệt: Gừng giúp hỗ trợ giảm đau, điều trị ra kinh nguyệt không đều.

Bệnh sốt rét: Củ gừng và tinh dầu gừng cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh sốt rét và sốt vàng da.

Ung thư: Gừng còn được biết đến với công dụng chống ung thư. Do vậy bạn nên bổ sung gừng vào chế độ ăn hàng ngày của mình dưới dạng viên nang hay trà gừng hoặc sử dụng như một loại gia vị trong nấu nướng.

Lưu ý khi dùng gừng:

– Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa 4 giờ).

– Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiêu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.

– Không dùng gừng cho người bị cảm nắng, vã mồ hôi, sốt cao không rét.

– Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

– Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

– Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

Gừng khó bảo quản, củ gừng làm thực phẩm thì thường thu hoạch non, nhưng nếu để làm thuốc thì phải thu hoạch củ gừng già (có xơ).
Theo VnMedia

Những căn bệnh âm thầm dễ bị bỏ qua

Với một số bệnh có triệu chứng không rõ ràng, bạn sẽ hiếm khi để tâm đến. Hãy cảnh giác, chúng có thể gây nguy hiểm như suy tuyến giáp, cao huyết áp hay hội chứng buồng trứng đa nang.

Đó là lý do tại sao bạn nên đi khám định kỳ và lắng nghe ý kiến của bác sĩ với những triệu chứng nhỏ nhất. Sau đây là những lời lý giải của bác sĩ về 10 căn bệnh có triệu chứng không rõ ràng.

Hàm lượng vitamin D thấp

Mặc dù bạn có thể vẫn cảm thấy rất ổn, nhưng hàm lượng vitamin D dưới 30 ng/ml có thể gây nên bệnh tim, bệnh tiểu đường, bệnh ung thư hay bệnh tự miễn như đa xơ cứng. Vitamin D giúp bạn hấp thụ canxi, vì vậy, thiếu vitamin D gây ảnh hưởng đến xương của bạn. Nếu lượng vitamin D thấp hơn 20 ng/ml, bác sĩ sẽ kết luận bạn bị thiếu vitamin D, tiềm ẩn những nguy cơ biến chứng cao. May mắn thay, khám và chữa bệnh rất đơn giản. “Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thử máu”, Melina Jampolis – bác sĩ nội khoa và chuyên gia dinh dưỡng, tác giả của cuốn “Calendar Diet nói. “Nếu bạn thiếu vitamin D, việc bổ sung loại này không hề tốn kém và hãy tái khám sau một vài tháng”.

Loãng xương
benh-it-biet
Loãng xương được gọi là căn bệnh thầm lặng vì không có triệu chứng rõ ràng, Dahlia Carr, bác sĩ chuyên trị bệnh xương – cơ – khớp cho biết. Điều gì khiến bạn mắc bệnh loãng xương? Một phụ nữ sẽ ngừng phát triển xương vào độ tuổi 30, và mật độ xương bắt đầu giảm ở thời kỳ tiền mãn kinh. Nếu không có đủ vitamin và chất dinh dưỡng như canxi, bệnh loãng xương sẽ xảy đến nhanh hơn. Bạn sẽ không cảm thấy đau và khó chịu cho đến khi bị gãy xương, mà nguyên nhân là nội tiết tố thay đổi làm xương mỏng và yếu đi. Xương hông và cột sống của bạn có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nhất.

Để làm giảm những nguy cơ này hãy tìm đến sản phẩm sữa và thực phẩm chứa nhiều canxi, đặc biệt nếu bạn chưa đến kỳ mãn kinh. Bạn cần 1.000 mg canxi nếu dưới 50 tuổi, và 1.200 nếu trên 50 tuổi. Tư vấn bác sĩ để có thể bổ sung canxi hợp lý. Ngoài ra, hãy tìm hiểu tiền sử gia đình, và kiểm tra mật độ xương khi bước vào tuổi 50.

Suy tuyến giáp

Cùng với nhiều hệ tuyến khác trong cơ thể, tuyến giáp giúp điều chỉnh sự trao đổi chất của bạn. Khi tuyến giáp bị suy, cơ thể không sản xuất đủ hoóc môn kích thích tuyến giáp để nó hoạt động hợp lý, và là tình trạng đáng báo động. Nhưng các triệu chứng suy giảm tuyến giáp như mệt mỏi hoặc không chịu được lạnh, đều rất dễ bị bỏ qua.

Suy giảm tuyến giáp có thể dẫn đến tăng cân, bệnh tim, hàm lượng cholesterol cao, vô sinh, trầm cảm, tổn thương thần kinh cao và di tật bẩm sinh, tiến sĩ Jampolis nói. Nếu gia đình bạn có người mắc phải bất kỳ vấn đề gì liên quan đến tuyến giáp, hãy đi khám để kiểm tra lượng hoóc môn kích thích tuyến giáp bằng xét nghiệm máu. Sau tuổi 35, bạn nên kiểm tra lượng hoóc môn này 5 năm một lần.

Tiểu đường tuýp 2

Nếu cơ thể bạn không sản xuất đủ insulin để phân giải glucose, một loại đường kích thích trao đổi chất, cơ thể bạn sẽ phát triển những rối loạn. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn biến, tuyến tụy sẽ sản xuất insulin chậm lại. Bạn có thể bị tiểu đường trong nhiều năm mà không hề hay biết. Căn bệnh này có thể gây hại cho mắt, tim, thận, và dây thần kinh, tiến sĩ Jampolis cho biết thêm. Hãy kiểm tra lượng đường trong cơ thể từ lúc bạn bước sang tuổi 45, nên chú ý hơn nếu bạn đang thừa cân hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường.

Cao huyết áp

Theo thời gian và cùng các yếu tố như tiền sử gia đình, thừa cân, áp lực máu đẩy vào thành động mạch của bạn có thể tăng lên nhiều, dẫn đến cao huyết áp. Bạn không thể cảm nhận được những triệu chứng của bệnh cho đến khi bị các biến chứng bao gồm đau tim, đột quỵ và bệnh thận hành hạ, bác sĩ tim mạch Melissa Kong nói. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của những buổi kiểm tra sức khỏe định kỳ, ngay cả khi bạn vẫn cảm thấy bản thân rất khỏe mạnh. Hãy tự đo huyết áp tại nhà, viết số đo huyết áp của bạn ra để nắm được huyết áp trung bình của mình. Huyết áp ở mức độ bình thường vào khoảng 120/80 mmHg.

Cholesterol cao

Cho dù đó là chế độ ăn uống hay do di truyền, việc tăng nồng độ cholesterol trong máu có thể làm tắc nghẽn động mạch, dẫn đến lưu lượng máu thấp trong các cơ quan quan trọng như tim và não, có thể gây ra cơn đau tim hay đột quỵ. Thêm vào đó, cholesterol cao và cao huyết áp là yếu tố dẫn đến bệnh tim. Vì vậy, hãy xét nghiệm máu 5 năm một lần để kiểm tra nồng độ cholesterol trong máu của bạn. Nếu phát hiện ra nồng độ cholesterol cao, bác sĩ khuyên bạn nên tập thể dục, và thay đổi chế độ ăn uống như thế nào và sau đó sẽ xét nghiệm máu lại một lần nữa. Bác sĩ cũng sẽ gợi ý một số loại thuộc như Lipitor, giúp ngăn chặn các enzyme hình thành nên cholesterol nếu thay đổi lối sống không mang lại hiệu quả.

Bệnh đau nhức toàn thân

Bệnh đau nhức toàn thân là tất cả triệu chứng đau mãn tính từ đầu đến chân. Não bộ khuếch đại cảm giác của cơ thể và tạo ra cảm giác đau. Nhưng bệnh đau nhức toàn thân rất khó chẩn đoán. Bác sĩ chỉ có thể chẩn đoán bằng cách loại trừ từ các loại bệnh khác, vì vậy có thể mất nhiều năm để chỉ ra chính xác xem bệnh trong cơ thể bạn là gì. May mắn thay, bệnh đau nhức toàn thân không đe dọa đến tính mạng, nhưng cũng gây khá nhiều ảnh hưởng đến công việc và tinh thần của người phụ nữ và người thân của họ nữa. Các yếu tố gây nên bệnh này bao gồm, tiền sử gia đình bị bệnh đau nhức toàn thân, chứng rối loạn thấp khớp, hoặc các bệnh truyền nhiễm, hay một sự kiện đau buồn trong quá khứ như tai nạn xe hơi. Nếu những cơn đau của bạn tiếp tục lan rộng, và đã xem xét lại các yếu tố mà không thấy vấn đề gì, thì hãy đến gặp bác sĩ ngay nếu có thể.

Bệnh thiếu máu

Sự cạn kiệt dần dần lượng máu dồi dào oxy này thường diễn ra ở phụ nữ có kinh nguyệt nhiều hoặc quá thường xuyên. Khi số lượng tế bào máu đỏ từ từ giảm, các triệu chứng phức tạp như mệt mỏi có thể xuất hiện, những triệu chứng này rất mơ hồ và dễ dàng biến mất. Thiếu oxy có thể gây hại đến các cơ quan trong cơ thể, tăng cao nguy cơ bị đau tim. Hãy nói với bác sĩ nếu bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, bạn có nhiều kinh nguyệt hơn bình thường, hoặc rối loạn đường ruột như bệnh Crohn (một bệnh bị viêm tại đường ruột) hoặc bệnh loét bao tử, thường liên quan đến thiếu máu. Nếu bạn cảm thấy sức khỏe yếu đi, mệt mỏi mà không rõ nguyên nhân là gì, hãy đến gặp bác sĩ và làm xét nghiệm máu kịp thời.

Hội chứng buồng trứng đa nang

Mất cân bằng nội tiết tố khiến ngăn cản sự rụng trứng và kéo dài khoảng thời gian giữa các chu kỳ kinh nguyệt là thủ phạm gây hội chứng buồng trứng đa nang. Những phụ nữ trẻ thường không để ý đến các triệu chứng này, vì kinh nguyệt của họ không đều. Trong thực tế, nhiều phụ nữ không nhận ra vấn đề gì cho đến khi họ đã cố gắng nhưng không thể mang thai, tiến sĩ Gilberg nói. Bên cạnh vấn đề về khả năng sinh sản, hội chứng buồng trứng đa nang còn có thể dẫn đến lượng cholesterol cao, tiểu đường, bệnh tim và ung thư nội mạc tử cung.

Nếu chu kỳ kinh nguyệt của bạn ngắn hơn hoặc dài hơn 28 ngày một cách đáng kể, thì hãy đến gặp bác sĩ. Các triệu chứng như mụn trứng cá và lông mọc bất thường trên ngực cũng như trên mặt của bạn, đó cũng là dấu hiệu biến động nội tiết tố.

Chứng ngưng thở khi ngủ

Nguyên nhân của chứng ngưng thở khi ngủ là do các cơ trong cổ họng co lại dẫn đến nghẹt thở. Thật khó khăn để có thể nắm bắt được bản chất của chứng ngưng thở, nhiều người tin rằng bạn bị thừa cân, hoặc bị mất ngủ vào ban ngày. Điều đó cũng có thể đúng, bởi mệt mỏi vào ban ngày cũng là một triệu chứng, đặc biệt là ở phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh. Một nghiên cứu gần đây cho thấy 83% phụ nữ sau mãn kinh gặp phải chứng ngưng thở trong khi ngủ. Những tình trạng này có thể dẫn đến tổn thương tim mạch, tăng huyết áp và bệnh tiểu đường. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ để có một giấc ngủ ngon hơn khi bạn cảm thấy chán nản, tỉnh giấc vào ban đêm, gặp khó khăn khi đi vào giấc ngủ hay không hiểu sao lại thấy mệt mỏi trong ngày.

Theo VnExpress

Cần tránh bệnh phụ khoa ở chị em

Có một sự thật hiển nhiên là nếu không chú ý giữ gìn sức khỏe phụ khoa thì chị em có thể gặp phải rất nhiều vấn đề sức khỏe nói chung, bao gồm cả nguy cơ ung thư phụ khoa và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Thế nhưng, không phải chị em nào cũng “cởi mở” trao đổi về vấn đề này, chính vì vậy mà nhiều chị em đã mắc bệnh phụ khoa mà không biết, để bệnh phát nặng và cuối cùng dẫn đến hậu quả nặng nề, ví dụ như hiếm muộn, vô sinh.

Đối với phụ nữ, các bệnh ung thư phụ khoa phổ biến nhất bao gồm: Ung thư buồng trứng, ung thư cổ tử cung và ung thư tử cung. Những bệnh ung thư phụ khoa hoàn toàn có thể phát hiện sớm, điều trị kịp thời và phòng bệnh hiệu quả nếu chị em chú ý chăm sóc cơ thể mình cẩn thận hơn.
can-tranh-benh-phu-khoa-o-chi-em
Bạn đã may mắn chữa khỏi bệnh nấm âm đạo thì nên rút kinh nghiệm để phòng bệnh thật tốt, không chỉ phòng bệnh nấm mà còn cả những bệnh viêm nhiễm phụ khoa khác. Để giữ gìn sức khỏe phụ khoa tốt, bạn cần thường xuyên chú ý đến cơ quan sinh sản, tiến hành các khám xét cần thiết và có lối sống lành mạnh…

Dưới đây là những việc mà bạn cần thực hiện để “đánh bay” các rắc rối về phụ khoa.

– Ăn uống lành mạnh: Chế độ ăn uống lành mạnh nhằm duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh. Trọng lượng khỏe mạnh thì mới không ảnh hưởng đến chu kì kinh nguyệt của bạn, từ đó, bạn cũng giảm được nguy cơ rối loạn nội tiết, mất cân bằng môi trường bên trong âm đạo – một điều kiện gây ra bệnh phụ khoa.

– Khám phụ khoa đều đặn: Ngay từ khi có kinh nguyệt, bạn nên bắt đầu tiến hành khám phụ khoa theo định kì. Từ khi có quan hệ tình dục, bạn cần làm thêm xét nghiệm Pap (xét nghiệm tế bào cổ tử cung) – biện pháp giúp phát hiện sớm nguy cơ ung thư cổ tử cung hiệu quả nhất, từ đó làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung.

– Không thức khuya: Thức khuya không những khiến bạn cảm thấy mệt mỏi mà còn có thể gây rối loạn nội tiết tố, khiến bạn có nguy cơ mắc các bệnh phụ khoa. Một số bệnh phụ khoa mà phái yếu dễ gặp do thức khuya bao gồm: viêm nhiễm “vùng kín”, u xơ tử cung, kinh nguyệt không đều, u xơ tuyến vú…

– Vệ sinh “vùng kín” sạch sẽ: Cách tốt nhất để chăm sóc âm đạo và âm hộ hàng ngày là vệ sinh với nước sạch, đặc biệt là trong những ngày có kinh nguyệt, trước và sau khi có quan hệ tình dục. Chị em không nên lạm dụng các dung dịch vệ sinh để vệ sinh “vùng kín”.

– Chăm chỉ thể dục, rèn luyện sức khỏe: Thể dục tác động đến hệ thần kinh trung ương, các động tác thể dục tác động lên cơ thể, tạo ra những phản xạ có điều kiện, làm thay đổi những hiện tượng sinh lý bất thường và bệnh lý trong sản phụ khoa.

Nguồn tri thức trẻ

Những căn bệnh đe dọa khả năng làm mẹ của người phụ nữ

Đúng là theo các chuyên gia sức khỏe, các cặp vợ chồng có quan hệ tình dục không sử dụng bất kì biện pháp tránh thai nào liên tục trong 1 năm mà không đậu thai thì có thể được xếp vào diện hiếm muộn, vô sinh. Thông thường, sau khoảng thời gian này, các cặp vợ chồng nên đi khám để biết nguyên nhân từ ai và nguyên nhân đó là gì.

– Tắc vòi trứng: Tắc vòi trứng, có thể do nhiễm khuẩn hoặc do lạc nội mạc tử cung và chiếm tỷ lệ khoảng 40-50% trường hợp hiếm muộn, vô sinh. Bệnh thường được phát hiện chính xác nhất nhờ chụp tử cung – vòi trứng. Tắc vòi trứng khiến cho nhiều khi trứng đã gặp tinh trùng ở vòi trứng nhưng không thể di chuyển về tử cung để làm tổ mà phát triển ngay tại vòi trứng, gây ra chửa ngoài tử cung.

Một số triệu chứng có thể gặp khi bị tắc vòi trứng bao gồm: Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí hư nhiều hơn bình thường, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, lao động làm việc không tập trung, những triệu chứng tâm lý hay ức chế tâm lý…

nhung-can-benh-de-doa-kha-nang-lam-me-cua-nguoi-phu-nu

– Bệnh viêm vùng chậu: Bệnh viêm vùng chậu (PID) là một bệnh nhiễm trùng cơ quan sinh sản nữ. Nó thường xảy ra khi vi khuẩn lây lan qua đường tình dục từ âm đạo vào tử cung và đường sinh dục trên.

Nhiều phụ nữ phát triển bệnh viêm vùng chậu có thể không gặp triệu chứng nào đặc biệt hoặc là có các dấu hiệu sau: Đau vùng bụng dưới, sốt, tiết dịch âm đạo bất thường kèm có mùi, đau khi giao hợp, ra huyết âm đạo giữa chu kỳ…

Bệnh viêm vùng chậu có thể dẫn đến vô sinh hoặc thai ngoài tử cung. Bệnh chỉ được phát hiện sau khi gặp vấn đề mang thai hoặc nếu phát triển đau vùng chậu kinh niên.

– U xơ tử cung: U xơ tử cung là bệnh khá phổ biến ở chị em. Đây là loại u lành tính thường thấy nhất trong tử cung, nó có thể nằm ở thành hoặc trong lòng dạ con.

Mặc dù là bệnh phổ biến và không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung nhưng u xơ tử cung lại có thể làm cho chị em rất khó chịu và gây khó khăn cho việc trứng gặp tinh trùng. Đặc biệt, bệnh không có biểu hiện rõ ràng nên trong nhiều trường hợp, người bệnh có những triệu chứng có thể nhầm với mang thai.

Nếu u ở vị trí gần niêm mạc thì có thể gây chảy máu, băng huyết… Trong trường hợp này cần được can thiệp để xử lý kịp thời, tránh ảnh hưởng đến các khu vực lân cận, cản trở việc thụ thai.

– Bệnh viêm răng lợi: Các bệnh liên quan đến răng miệng xảy ra khi vi khuẩn trong miệng tạo thành một ổ viêm nhiễm quanh một chiếc răng và có thể lây lan vào hệ tuần hoàn. Bệnh này cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ. Theo nhiều nghiên cứu thì phụ nữ bị bệnh răng lợi phải mất trung bình 7 tháng mới có thai, dài hơn 2 tháng so với những phụ nữ không mắc bệnh này.

– U nang buồng trứng: Buồng trứng có chức năng sản xuất trứng. U nang buồng trứng hình thành bên trong buồng trứng và là bao nang chứa đầy dịch. Cũng giống như nhiều bệnh phụ khoa khác, u nang buồng trứng có các triệu chứng rất mơ hồ, khó phán đoán từ sớm. Đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Khi bị u nang buồng trứng, chị em có thể gặp các triệu chứng như: Đau vùng bụng, kinh nguyệt thất thường, cảm giác đầy bụng, khó chịu ở âm đạo…

90% u nang buồng trứng là u lành nhưng cũng có tới 10% là ác tính. Nếu không kịp thời chữa trị có thể chuyển sang ung thư buồng trứng, đe dọa rất lớn đến khả năng phát triển và rụng trứng, từ đó gây khó khăn trong quá trình thụ thai và có con của chị em.

Mặc dù với mỗi bệnh lại có phương pháp điều trị khác nhau nhưng các bệnh lại có triệu chứng tương tự nhau nên các bác sĩ cũng có thể chẩn đoán nhầm nếu chỉ được nghe qua mô tả chứ không khám xụ thể. Vậy nên, để biết nguyên nhân chính xác thì bạn nên đi khám.

Theo afamily

Vô sinh chỉ vì những lý do rất tự nhiên

Chị em có thể vô tình khiến mình trở thành vô sinh chỉ vì những lý do rất… tự nhiên như: tự nhiên tắt kinh, kinh nguyệt thất thường hoặc viêm nhiễm kéo dài.

“Không lên” thì thôi

Có kinh từ năm 15 tuổi nhưng đến năm 20 tuổi, chị L.T.T (Nam Định) bỗng nhiên thấy kinh nguyệt có dấu hiệu ít dần và sau đó ngưng hẳn. Cứ nghĩ kinh nguyệt thất thường, chưa ổn định mà thôi nên chị L.T.T. không mấy bận tâm.

Hơn nữa, chị T. còn thản nhiên nghĩ rằng “không có càng đỡ bận tâm, khi nào cần thì uống thuốc cho nó xuất hiện trở lại là được”. Bẵng đi mấy năm sau, đến khi lập gia đình và gặp khó khăn trong chuyện quan hệ vợ chồng chị T. mới bắt đầu lo lắng.

Đến khám ở bệnh viện Phụ sản, chị T. mới giật mình khi biết buồng trứng của chị bị teo do bị tắc kinh quá lâu, không được chữa trị kịp thời, khả năng có con của chị là rất thấp.

“Đều đặn” là được

Chị Hoàng T. X. (28 tuổi, Đà Nẵng) lập gia đình được 2 năm. Với tư tưởng “vợ chồng son một con thành bốn” nên vợ chồng chị X. quyết định “ăn chơi” vài năm đã rồi mới tính đến chuyện con cái.

Vậy là, cho dù chu kì kinh nguyệt khá thất thường, có tháng kéo dài 10 ngày mới hết, có tháng chỉ có 1-2 ngày, thậm chí 3-4 tháng mới thấy kinh một lần nhưng chị X. không hề bận tâm. Chị nghĩ, do ăn uống, chế độ sinh hoạt của vợ chồng thì chuyện “đèn đỏ” trồi, sụt là bình thường.

Có ai khuyên nên đi khám và chữa trị thì chị X. đều tỏ ra rất tự tin: “Khi nào cần sinh em bé thì uống thuốc cho kinh nguyệt đều đặn là được”.

Thế nhưng, dù đã uống nhiều thuốc, kinh nguyệt đã đều trở lại hơn 1 năm nay nhưng tin vui thì vẫn… bặt vô âm tín. Chỉ đến khi đi khám ở một phòng khám sản khoa ở Đà Nẵng, chị X. mới biết mình đã bị dính buồng trứng, chứ́c năng của buồng trứng bị suy giảm nghiêm trọng, khả năng thụ thai là rất thấp.

Viêm nhiễm là chuyện… đương nhiên

Ai cũng biết huyết trắng (khí hư) thường tiết ra quanh ngày rụng trứng, có thể kéo dài 3-5 ngày và nó là hiện tượng bình thường. Nhưng trường hợp huyết trắng kéo dài cả tháng như chị Thanh Thúy (27 tuổi, Hà Nội) là điều hết sức không bình thường.

Vì không thấy có mùi hôi nên chị Thanh Thúy chủ quan cho rằng do chị thường xuyên thức khuya nên mới bị vậy. Hàng ngày, chị tích cực dùng các loại thuốc, nước rửa vệ sinh phụ nữ mà chị tự mua ở hiệu thuốc.

Đến khi thường xuyên bị đau bụng dữ dội, chị Thúy mới quyết định đi khám. Trong lúc ngồi chờ những xét nghiệm cuối cùng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, chị Thúy nước mắt ngắn dài khi những kết luận trước đó của bác sĩ đã khẳng định chị bị viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung lên đến vòi trứng làm tắc hai vòi trứng và đe dọa khả năng làm mẹ của chị.

Theo các chuyên gia tư vấn sức khỏe sinh sản của Tổng đài tư vấn Ánh Dương thì yếu tố kinh nguyệt bất thường và viêm nhiễm âm đạo đều có thể dẫn đến hậu quả là vô sinh ở nữ giới.

Về trường hợp của chị L.T.T, sự tắc kinh bất thường có thể liên quan đến nhiều biến cố hoặc do suy buồng trứng và các mạch máu nuôi buồng trứng bị ảnh hưởng. Hiện tượng này diễn ra từ từ như một người mãn kinh cho dù người phụ nữ vẫn còn rất trẻ.

Tuy nhiên, hầu hết các nguyên nhân bất thường ở cơ quan sinh dục đều có thể phát hiện được nhờ siêu âm, xét nghiệm máu để đo nồng độ nội tiết và có những giải pháp điều trị khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Còn trường hợp của chị T.X., có thể nguyên nhân lại chính là do thuốc uống nội tiết. Chị X. cho rằng chỉ cần uống thuốc cho kinh nguyệt đều đặn là có thể mang thai nhưng quan niệm này hoàn toàn sai lầm.

Thuốc có thể làm cho người phụ nữ có kinh trở lại, nhưng không có nghĩa là trị được nguyên nhân chính liên quan đến chức năng của buồng trứng. Thậm chí, đa số những thuốc làm cho ra kinh còn ức chế hoạt động của buồng trứng.

Theo một khảo sát tại BV Đa khoa trung ương Cần Thơ trên 408 phụ nữ, công bố vào năm 2010 thì tỷ lệ viêm âm đạo do nhiễm khuẩn là 25,7%, viêm âm đạo do nấm Candida là 10% và viêm âm đạo do trùng roi Trichomonas vaginalis là 2,7%.

vo_sinh_vi_lu_do_troi_oi

Để tránh hậu quả đáng tiếc, chị em nên vệ sinh hàng ngày bằng nước sạch.

Một trong những yếu tố chính liên quan đến viêm âm đạo chính là thói quen thụt rửa âm đạo, âm hộ bằng dung dịch sát khuẩn không theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Ngày nay, có rất nhiều loại thuốc diệt khuẩn, chống viêm âm đạo được bày bán ở các hiệu thuốc mà không rõ chất lượng và độ an toàn khi sử dụng ra sao.

Vì vậy, để tránh hậu quả đáng tiếc, chị em nên vệ sinh hàng ngày bằng nước sạch. Dung dịch rửa chỉ nên dùng vào những ngày có nguy cơ nhiễm trùng, như trong kỳ kinh nguyệt và theo chỉ định của bác sĩ. Việc sử dụng dung dịch thường xuyên sẽ làm khô âm hộ – âm đạo, đồng thời việc thay đổi môi trường âm hộ sẽ tạo điều kiện cho viêm nhiễm.

Theo afamily/24h

Nhiễm khuẩn sinh dục dẫn đến tắc vòi trứng

Phụ nữ quan hệ với nhiều bạn tình hay với bạn tình đã từng nhiễm lậu có thể là nguyên nhân của ít nhất 50% trường hợp viêm tiểu khung.

Vòi trứng vốn rất nhỏ nhưng khi bị chít hẹp thì sẽ nhỏ hơn nữa do dính với các cơ quan lân cận hay do hậu quả viêm vòi trứng.

Lây truyền chính qua đường tình dục

Chít hẹp vòi trứng có thể do dị tật bẩm sinh (mặc dù rất hiếm gặp), gây thiếu hụt một phần hay cả vòi trứng. Tuy nhiên, nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là do nhiễm khuẩn, phổ biến nhất là vi khuẩn lậu – ngòi nổ đầu tiên bắt nguồn từ nhiễm khuẩn ở âm đạo, cổ tử cung.

Tử cung, buồng trứng và cả vùng tiểu khung đều có thể bị nhiễm khuẩn ở những mức độ khác nhau. Theo thống kê, phụ nữ quan hệ với nhiều bạn tình hay với bạn tình đã từng nhiễm lậu… đều có thể là nguyên nhân của ít nhất 50% trường hợp viêm tiểu khung. 15% phụ nữ bị nhiễm khuẩn lậu ở cổ tử cung tuy không thể hiện triệu chứng nhưng đã phát triển thành viêm vòi trứng cấp. Ngoài ra, những phụ nữ không quan tâm đúng mức đến vệ sinh hằng ngày, bị nhiễm khuẩn ở đường tiết niệu… cũng dễ gặp tình trạng chít hẹp vòi trứng.

tac_voi_trung_do_nhiem_khuan_sd

Tư vấn cho thai phụ tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TPHCM (ảnh chỉ có tính minh họa). Ảnh: Anh Thư

Vòi trứng bình thường chỉ gần bằng đầu nhỏ của chiếc đũa ăn cơm nhưng khi nhiễm khuẩn thì to hơn ngón chân cái và chứa mủ. Viêm vòi trứng cấp có thể xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu như sốt, đau hay cảm giác căng đầy vùng bụng dưới; đau lan xuống hai chi dưới, dịch âm đạo có mủ, nhức đầu, buồn nôn hay nôn. Hậu quả của viêm vòi trứng cấp là chít hẹp hay tắc vòi trứng.

Dễ nhiễm khuẩn khi hành kinh

Cổ tử cung đóng vai trò như bộ phận ngăn cản nhiễm khuẩn do bài tiết chất niêm dịch chảy vào âm đạo. Chất niêm dịch này chứa các enzyme có khả năng phân hủy vi khuẩn nhưng khi sẩy thai, nạo thai, sinh đẻ, đặt dụng cụ tử cung hay làm phẫu thuật ở cổ tử cung… thì sự nhiễm khuẩn có điều kiện thuận lợi để vượt qua hàng rào ngăn cản này.

Sau khi sinh con, nguy cơ phụ nữ bị viêm tiểu khung là 2% nhưng có thể tăng lên đến 10% ở những phụ nữ có bệnh lây truyền qua đường tình dục nhưng không được phát hiện.

Ngay cả khi sự nhiễm khuẩn lan tràn cả tử cung, hai vòi trứng và hai buồng trứng gây ra viêm tiểu khung cũng do sự nhiễm khuẩn ngược dòng đi lên, bắt đầu từ viêm âm đạo và lan qua ống cổ tử cung. Trong một số ít trường hợp, nhiễm khuẩn hai vòi trứng có thể xảy ra do viêm ruột thừa hoặc do nhiễm khuẩn huyết nặng chứ không phải do lây truyền qua đường tình dục.

Sự nhiễm khuẩn tiểu khung chủ yếu diễn ra theo đường đi lên, vi khuẩn đi theo tinh trùng khi quan hệ tình dục, đi vào tử cung và lan lên hai vòi trứng. Những co bóp khi khoái cực cũng có thể tạo thuận lợi cho sự nhiễm khuẩn đi vào tử cung. Khi hành kinh, sự nhiễm khuẩn ở cổ tử cung dễ lan tràn vì lúc này lỗ trong của ống cổ tử cung mở. Tử cung, buồng trứng và cả vùng tiểu khung đều có thể nhiễm khuẩn ở những mức độ khác nhau. Vì thế, phát hiện và điều trị sớm các nhiễm khuẩn ở đường sinh dục như viêm âm đạo – cổ tử cung, viêm niệu đạo là có thể phòng ngừa được sự phát triển thành viêm vòi trứng, viêm tiểu khung.

Theo 24h

Tìm hiểu kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt

Rối loạn kinh nguyệt (RLKN) hay kinh nguyệt (KN) không đều là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bệnh ảnh hưởng không nhỏ tới sinh hoạt cũng như sức khỏe, nặng hơn có thể gây vô sinh.

tim_hieu_kinh_nguyet_va_roi_loan_kinh_nguyet

Thế nào là RLKN

Chu kỳ KN thường kéo dài từ 21 – 35 ngày, trong đó 3 – 5 ngày có kinh. Lượng máu trung bình mất đi sau mỗi lần hành kinh là từ 50 – 150ml. Chu kỳ KN không đều và không ổn định, lượng máu mất đi sau những ngày hành kinh quá ít hoặc quá nhiều, mức độ huyết sắc tố sau chu kỳ kinh thấp hơn mức kinh thường (120g/l) là những biểu hiện thường thấy ở những phụ nữ bị RLKN.

Những nguyên nhân của RLKN là gì?

Có thể do nhiều nguyên nhân, thường gặp nhất là: stress (nghĩa là trong cuộc sống có nhiều yếu tố gây căng thẳng, lo phiền, đau khổ…), rối loạn tiêu hóa (ăn quá nhiều), nhiễm khuẩn (ví dụ bị viêm cổ tử cung), lao động hoặc luyện tập thể thao quá nhiều, tụt cân (có thể mất nhiều mỡ), thai ngoài tử cung. Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn cần được thầy thuốc xem xét như: bệnh lý ở tuyến nội tiết, bệnh về máu, bệnh giảm tiểu cầu.

Những RLKN thường gặp

Chu kỳ kinh ngắn, nhiều, kéo dài: chu kỳ KN ít hơn 21 ngày gọi là “chu kỳ kinh ngắn”, ngày hành kinh kéo dài 7 ngày gọi là “kỳ kinh kéo dài”. Còn về lượng kinh thì thông thường chỉ có thể dựa vào số băng vệ sinh dùng để phán đoán. Nếu máu hành kinh chảy ra quá nhiều, có những cục máu lớn; sau chu kỳ kinh, mức độ huyết sắc tố thấp hơn mức bình thường (120g/l) thì được coi là lượng KN nhiều.

Xuất huyết không theo quy luật: KN hoàn toàn không có tính quy luật, thời gian giữa 2 kỳ kinh có thể kéo dài vài tháng mà cũng có thể là dăm ngày. Lượng KN có lúc nhiều nhưng cũng có lúc ít.

Xuất huyết giữa kỳ kinh: thường bị xuất huyết vài ngày trong thời gian giãn cách giữa hai chu kỳ (lượng máu thường là tương đối ít).

KN thưa, ít: chu kỳ KN ở trong khoảng từ 36 ngày đến 6 tháng thì gọi là KN thưa. Thời gian hành kinh ít hơn 3 ngày, lượng băng vệ sinh dùng rất ít hoặc thậm chí không cần dùng thì gọi là KN ít (dân gian còn gọi máu bồ câu).

Vô kinh: chỉ KN ngừng từ 6 tháng trở lên.

Thống kinh: trong thời kỳ KN, bụng dưới đau dữ dội, ảnh hưởng đến công tác và sinh hoạt. Trước khi vào viện, nếu người bệnh đã uống một loại thuốc gì và liều lượng ra sao thì cần phải nói rõ với bác sĩ, bởi vì có một số loại thuốc hormone nếu dùng không đúng sẽ dẫn đến RLKN.

RLKN ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe?

Cơ thể phát triển bình thường, vòng kinh đều đặn và ổn định là yếu tố vô cùng quan trọng đối với khả năng sinh sản của phụ nữ. Chu kỳ kinh quá dài hay quá ngắn cũng gây khó khăn cho việc thụ thai.

Chu kỳ kinh kéo dài gây bất tiện cho sinh hoạt hàng ngày. Đó cũng là giai đoạn nhạy cảm của cơ thể. Vi khuẩn dễ dàng tấn công gây nên những bệnh viêm nhiễm “vùng kín” như: viêm âm đạo, u màng trong tử cung, viêm buồng trứng… Nếu lượng máu trong những ngày có kinh mất đi quá nhiều sẽ gây nên bệnh thiếu máu, cơ thể sẽ dễ mệt mỏi, cáu gắt, khó chịu.

Khi nào thì cần đi khám bác sĩ?

Nên thường xuyên theo dõi chu kỳ KN của mình. Khi vòng kinh của bạn dài, ngắn bất thường hay lượng máu mất đi trong những ngày có kinh quá nhiều, hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu để quá lâu sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như khả năng sinh sản.

Ăn uống và sinh hoạt thế nào khi RLKN?

Khi bị RLKN, cơ thể bạn thường mệt mỏi, khó chịu. Hãy bổ sung vào thành phần bữa ăn hàng ngày các nhóm thực phẩm giàu vitamin nhóm B như: cá, thịt, bò, trứng, sữa, pho mát… Nên ăn nhiều các loại rau và hoa quả, đặc biệt là những loại rau quả có màu đỏ đậm như: cà chua, cà rốt… Hạn chế dùng các loại đồ ăn nhiều chất béo và các loại nước uống có chất kích thích như: rượu, bia, cà phê, thuốc lá…

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. TRẦN DUY THỰC

Kiến thức cho tuổi tiền mãn kinh

Trong đời sống sinh lý người phụ nữ, từ lúc sinh ra đến khi xế chiều, thì sự thay đổi của hệ thống cơ thể đều diễn ra nhiều giai đoạn, từ tuổi ấu thơ, tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành, tuổi mãn kinh và tuổi già. Tuổi mãn kinh là thời kỳ chuyển đổi chức năng của người phụ nữ, từ chỗ hoạt động mạnh mẽ sang trạng thái thoái dần rồi kết thúc.

kien_thuc_cho_tuoi_tien_man_kinh

1. Thời kỳ mãn kinh được diễn biến qua ba giai đoạn, thời kỳ tiền mãn kinh, thời kỳ tắt kinh và thời kỳ hậu mãn kinh.

Trong thời kỳ tiền mãn kinh do nang noãn trong buồng trứng không còn nhạy cảm với nội tiết tố, cho nên nang noãn bị giảm hẳn ít đi và phát dục không đầy đủ, thậm chí không chín được để rụng thành trứng, vì thế chu kỳ kinh nguyệt bị rối loạn, kỳ kinh và lượng kinh cũng biến đổi khác nhau, sau đó chức năng của buồng trứng ngày càng yếu đi, lượng estrogene tiết ra giảm đi đến mức không đủ để làm cho nội mạc tử cung bong ra và dẫn đến tình trạng tắt kinh.

Tuổi mãn kinh thường ở tuổi khoảng 45 đến 50, trung bình là 47, tuy nhiên có người tắt kinh sớm ở độ tuổi 40, cá biệt sớm nhất là 35, cũng có người kéo dài đến tận 55-56, vào cuối thời kỳ tắt kinh, buồng trứng người phụ nữ bị xơ hóa, teo nhỏ và mất hẳn chức năng nội tiết.

Thời kỳ mãn kinh chỉ ghi nhận qua hồi cứu sau 12 tháng liên tục không hành kinh, chịu những xáo trộn của thời kỳ này như mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ, hay quên, tê các đầu chi, nôn mửa, giảm thị lực, ù tai hoa mắt, chóng mặt, chán ăn, bốc hỏa, có khi trầm uất diễn đạt tư duy trầm lặng, cảm thấy mình bị suy sụp, bị oan, thất vọng, chán nản, đa nghi phiền muộn, lo lắng…

Niêm mạc sinh dục teo mỏng dần, khô âm hộ – âm đạo, ngứa, rát, giao hợp đau, dễ bị xây xước và nhiễm trùng, dễ sa sinh dục do cơ, dây chằng vùng chậu bị nhão hơn, tiết niệu có thể đi tiểu nhiều lần, đôi khi không đi tự chủ, da, tóc thì kém mềm mại, khô và nhăn, trổ đồi mồi, tóc khô, rụng, dễ gãy, tăng trọng lượng dễ dẫn đến thừa cân hay béo phì, mỡ tích tụ nhiều ở vùng bụng và đùi, dễ bị loãng xương do thiếu nội tiết, mất dần canxi và chất khoáng.

2. Để khắc phục tình trạng trên, với những biểu hiện của một số triệu chứng bất lợi cho cơ thể, trước hết người phụ nữ cần trang bị cho mình kiến thức khoa học nhất định và xem đây là tiến trình diễn tiến bình thường.

Về tâm sinh lý, cần tạo cho mình có một cuộc sống với môi trường vui tươi – thoải mái, tránh những lo âu phiền muộn, xây dựng một kế hoạch làm việc thật khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi để không ngoài mục đích bảo vệ sức khỏe. Để tránh những cơn bốc hỏa là triệu chứng thường gặp ở tuổi mãn kinh, ta cần uống nhiều nước, đủ lượng nước trong ngày từ 1 đến 2 lít, tránh ăn nhiều chất béo như sôcôla, phô mai, đồ uống có cồn hay cà phê vì chúng làm tăng mức độ khó chịu của cơn bốc hỏa, mặc quần áo thoáng mát.

Về rối loạn kinh nguyệt, có những biểu hiện như vòng kinh ngắn hay dài, đôi khi xuất huyết một cách bất thường, chỉ xử trí khi nào ra huyết nhiều gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Cần cân bằng chế độ dinh dưỡng, ăn uống đầy đủ các chất, nên ăn cơm gạo trắng thường ngày có xen lẫn gạo lức để bổ sung nhiều vitamin nhóm B, bổ sung lượng calcium có trong bơ sữa, yaourt giúp làm giảm thay đổi tính khí, đau đầu, tăng lượng magnesium có trong trái cây, rau quả, đồng thời qua đó tăng lượng serotonin giúp giảm stress. Nên ăn dưa hấu để cung cấp một phần chất xơ và nước sẽ giúp cơ thể chống được táo bón và đặc biệt cơ thể cần một lượng nước cho cơ thể.

Tránh các thức ăn có nhiều muối, dùng nhiều thức ăn giàu kali như cam, quýt, chuối, tránh các chất kích thích như rượu, bia, cà phê, thuốc lá. Cần tập thể dục thể thao thường xuyên để duy trì sự dẻo dai của hệ xương cơ và giúp máu tuần hoàn đều khắp cơ thể. Thể dục với các bài tập phù hợp sẽ giúp duy trì vóc dáng gọn gàng, giúp tinh thần minh mẫn, lạc quan…

3. Trong đời sống vợ chồng, có thể dùng các chất bôi trơn như KY để tăng độ cảm giác, tránh được tổn thương niêm mạc gây đau do khô teo ở âm hộ – âm đạo. Hai vợ chồng nên trao đổi thẳng thắn và chân tình về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này, trên cơ sở đó chồng sẽ có trách nhiệm, cảm thông để cùng chia sẻ về những trạng thái sinh lý nói trên.

Chị em cần khám phụ khoa định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện và xử trí kịp thời khi có các bệnh phụ khoa. Việc dùng nội tiết thay thế phải hết sức thận trọng. Với liệu pháp này, có thể làm giảm những triệu chứng tiền mãn kinh, nhưng bên cạnh đó cũng có những ảnh hưởng không nhỏ như nguy cơ ung thư vú và buồng trứng sẽ gia tăng. Vì vậy, tuyệt đối không được tự ý sử dụng mà khi cần thiết phải được tư vấn bởi thầy thuốc chuyên khoa.

Tóm lại, hội chứng tiền mãn kinh là một phần trong đời sống sinh lý bình thường của người phụ nữ, vì vậy mỗi chúng ta cần trang bị những kiến thức cơ bản này để tự chăm sóc mình, và những biểu hiện của hội chứng tiền mãn kinh là bình thường, mà sống vui, sống khỏe, cuộc sống đầy ý nghĩa.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo BS.CKI. Trần Quốc Long

Nội mạc tử cung lạc chỗ

Lạc nội mạc tử cung là do các tế bào của niêm mạc tử cung đã không chỉ nằm trong lòng tử cung mà còn phát triển ở những nơi khác thuộc hệ thống sinh dục và cả những bộ phận khác trong cơ thể người phụ nữ. Bệnh có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

Lạc nội mạc tử cung

Kinh nguyệt ở phụ nữ là kết quả của sự thay đổi có chu kỳ của niêm mạc tử cung dưới tác động của các chất nội tiết buồng trứng. Lạc nội mạc tử cung là tình trạng các tế bào của lớp niêm mạc này, ngoài vị trí trong buồng tử cung còn nằm rải rác ở các vị trí khác trong cơ thể người phụ nữ.

Thường gặp nhất là các tế bào niêm mạc tử cung nằm lẫn trong lớp cơ của tử cung. Có trường hợp các tế bào nội mạc tử cung lại có mặt trong ổ bụng, thường ở vùng tiểu khung (bụng dưới), bám vào màng bụng, các tạng trong ổ bụng như ruột, bàng quang, vòi trứng, buồng trứng.

Lại có trường hợp các tế bào lạc chỗ nằm trong âm đạo hoặc ở vùng tầng sinh môn (phía sau âm hộ và trước hậu môn) thường được giải thích là do bị rách khi sang chấn hoặc khi đẻ, những tế bào niêm mạc tử cung đã “rơi” vào các vết rách đó, tồn tại và phát triển gây nên.

noi_mac_tu_cung_lac_cho

Phẫu thuật nội soi điều trị lạc nội mạc tử cung.

Và những biến chứng

Những đám tế bào niêm mạc tử cung này tuy “lạc chỗ” nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của các nội tiết sinh dục do buồng trứng tiết ra giống như các tế bào niêm mạc nằm trong lòng tử cung nghĩa là cũng phát triển dưới tác động của nội tiết buồng trứng theo chu kỳ và khi các nội tiết này giảm sút thì đám tế bào đó ngừng phát triển và gây chảy máu tại chỗ.

Khác với các niêm mạc trong buồng tử cung khi bong sẽ được tử cung đẩy ra ngoài cùng với máu kinh, các đám “lạc nội mạc” này vẫn nằm nguyên tại chỗ, máu kinh cũng không thoát được ra ngoài vì thế gây nên đau đớn. Lạc nội mạc tử cung là nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh (đau bụng kinh).

Triệu chứng thống kinh của lạc nội mạc tử cung là đau bụng kéo dài, có thể xuất hiện sớm trước khi hành kinh (do các tế bào niêm mạc lạc chỗ phát triển) hoặc khi bắt đầu ra máu kinh (do niêm mạc lạc chỗ bong ra, chảy máu) và có thể kéo dài đến cả sau hành kinh (do máu ứ đọng tại chỗ chưa “tiêu” đi được). Thường ở người bị thống kinh do lạc nội mạc tử cung thì những kỳ kinh sau nhiều khả năng mức độ đau bụng kinh tăng hơn trước.

Có trường hợp đau kéo dài tới mức khi giảm được đau hoặc hết đau thì đã lại đến một kỳ kinh mới. Trường hợp người phụ nữ đã mãn kinh nghĩa là không còn kinh nguyệt nữa thì chứng đau bụng do lạc nội mạc tử cung cũng kết thúc.

Trong số phụ nữ bị vô sinh, có tới 30 -50% có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Cơ chế gây vô sinh của lạc nội mạc tử cung là do: biến dạng các tổ chức vùng chậu gây dính, co kéo, ảnh hưởng đến chức năng vòi trứng, buồng trứng, tử cung.

Ðiều trị

Điều trị chứng đau bụng kinh do lạc nội mạc tử cung có thể dùng biện pháp nội khoa bằng cách dùng các loại thuốc progestagen tổng hợp để làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Có thể dùng thuốc tránh thai chứa nhiều progestagen và ít estrogen uống liên tục từ 6 tháng đến một năm. Có khi phải dùng biện pháp phẫu thuật để nạo vét những ổ lạc nội mạc tử cung trong cơ thể.

Với sự ra đời của phẫu thuật nội soi, điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung đã có những bước tiến mới. Phẫu thuật nội soi cho phép gỡ dính, phá hủy các tổn thương, tạo hình vòi trứng, đốt điện lưỡng cực hay đốt laser để phá hủy các tổn thương. Trong các trường hợp lạc nội mạc tử cung nặng, có thể phải cắt buồng trứng, cắt dây chằng tử cung – cùng, thậm chí cắt tử cung. Chỉ định điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung thường là khối lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng; dính nặng; lạc nội mạc tử cung sâu; lạc nội mạc tử cung độ III, IV.

Tóm lại, lạc nội mạc tử cung là một bệnh phổ biến thường gặp ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, nguyên nhân còn chưa rõ ràng, liên quan mật thiết đến vô sinh. Vì vậy, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, triệt để sẽ giúp cải thiện đáng kể khả năng sinh sản của người bệnh, tiết kiệm một phần không nhỏ chi phí chăm sóc y tế, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.  Phó Ðức Nhuận

Lạc nội mạc tử cung có gây vô sinh?

Em năm nay 19 tuổi, kinh nguyệt của em không đều và rất hay bị đau bụng, đi khám có kết luận là lạc nội mạc tử cung và đang dùng thuốc. Nhưng em rất lo lắng và nghe nói bệnh này có thể gây vô sinh. Xin bác sĩ cho lời khuyên.

Bùi Thị Bình(Bắc Kan)

Nội mạc tử cung là lớp màng (niêm mạc) phủ mặt trong tử cung (dạ con). Lớp niêm mạc này biến đổi hằng ngày theo các chất nội tiết của buồng trứng tiết ra trong chu kỳ kinh nguyệt. Khi đang có kinh cũng là lúc niêm mạc này bắt đầu tái tạo phát triển dần lên. Đến cuối chu kỳ, lớp niêm mạc này rất dày, lúc này chất nội tiết buồng trứng giảm sút làm cho nó bong ra, gây chảy máu từ tử cung gọi là kinh nguyệt. Lạc nội mạc tử cung là trường hợp các tế bào niêm mạc tử cung đi lạc chỗ, vào sâu trong lớp cơ của thành tử cung (lạc nội mạc trong cơ) hoặc “lạc” cả ra ngoài tử cung như ở buồng trứng, màng bụng (phúc mạc), thành ruột; thậm chí có khi còn ở trong thận hay phổi… Các tế bào này có nguồn gốc là niêm mạc tử cung nên nó cũng biến đổi theo chu kỳ dưới ảnh hưởng của nội tiết buồng trứng và cũng gây chảy máu giống như kinh nguyệt, từ đó gây đau.

lac_noi_mac_tu_cung_co_gay_vo_sinh

Đây là bệnh lý tuy không gây tử vong nhưng có thể dẫn đến tình trạng vô sinh cho người bệnh vì nó có thể gây tổn thương vòi trứng, phá huỷ nhu mô buồng trứng, viêm dính vùng chậu, nếu không điều trị sớm.

Trường hợp của bạn đã đi khám được xác định là lạc nội mạc tử cung và đang dùng thuốc điều trị. Việc dùng thuốc được áp dụng trong các trường hợp bệnh nhẹ, chủ yếu là các thuốc nội tiết có tác dụng làm thoái triển và làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Do đó bạn không nên lo lắng, chỉ cần dùng thuốc và tái khám theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để có kết quả tốt nhất.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Bác sĩ  Trọng Nghĩa

Dấu hiệu nhận biết u nang buồng trứng

Theo các chuyên gia, u nang buồng trứng là bao nang chứa đầy dịch hình thành trong buồng trứng của người phụ nữ.

06

Hình ảnh u nang buồng trứng.

Cơ quan Quản lý sức khỏe và con người (Mỹ) cho biết ở một số trường hợp, u nang buồng trứng rất khó phát hiện và không biểu hiện dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Tuy nhiên, có một số triệu chứng đáng chú ý khi bị u nang buồng trứng, bao gồm: đau hoặc tức vùng bụng, hoặc cảm giác đầy bụng; đau mơ hồ ở vùng thắt lưng và đùi; đi tiểu khó; đau khi giao hợp; tăng cân không rõ nguyên nhân; đau nhức vú, buồn nôn hoặc nôn; đau hoặc ra huyết bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt.

Khi có một số triệu chứng trên, bệnh nhân nên khẩn trương tới cơ sở y tế để khám kiểm tra. Đặc biệt cần khám cấp cứu trong trường hợp có một trong những triệu chứng sau: đau kèm sốt và nôn; đột ngột đau bụng dữ dội; hoa mắt, chóng mặt hoặc suy kiệt; thở nhanh nông không rõ nguyên nhân.

Anh Tú (Theo HealthDay News, 4/6/2008)
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Đông y chữa bệnh đa nang buồng trứng

Triệu chứng cơ bản của đa nang buồng trứng là không rụng trứng kéo dài, không đậu thai, bế kinh hoặc kinh loãng và ít hoặc loại hình không rụng trứng do trở ngại về chức năng do gây xuất huyết cổ tử cung. Một số ít người bị bệnh có triệu chứng nam hóa, hai bên buồng trứng có biến đổi thành đa nang hoặc tăng to lên đều được xem là có triệu chứng tổng hợp đa nang buồng trứng. Y học hiện đại gọi là triệu chứng tổng hợp Stein – Leventhal để tỏ sự tôn trọng người đầu tiên chỉ ra triệu chứng của bệnh này (năm 1935).

04

Ba kích.

Hiện nay chưa có một nhận thức thống nhất về nguyên nhân gây bệnh, đa số cho rằng có thể liên quan tới các yếu tố sau:

– Chức năng của tuyến dưới đồi thị (hypothalamus) và tuyến não thùy (hypothysis) bị mất thăng bằng.

– Chức năng của hệ thống enzym cần thiết cho việc sinh tổng hợp kích thích tố steroid buồng trứng bị trở ngại.

– Chức năng vỏ tuyến thượng thận bị rối loạn.

– Nhân tố di truyền.

Biểu hiện lâm sàng của triệu chứng bệnh đa nang buồng trứng có thể nặng hoặc nhẹ, đa số phát sinh ở các phụ nữ đang độ tuổi sinh đẻ, lứa tuổi 20 – 40. Người bệnh thường có kinh nguyệt không đều, không có thai, đa mao, béo phệ, phì đại buồng trứng.

Kinh nguyệt không đều: Là dấu hiệu thường gặp nhất của người mắc chứng tổng hợp đa nang buồng trứng, đa số ở dạng bế kinh liên tục, trước khi bế kinh biểu hiện kinh nguyệt loãng hoặc quá ít, cũng có thể ở dạng tử cung xuất hiện do trở ngại chức năng những kiểu không rụng trứng.

Không có thai: Có thể chẩn đoán được các nguyên nhân không có thai, trong đó không đậu thai do bẩm sinh là thường thấy nhất.

Đa mao: Ước tính có một nửa có hiện tượng đa mao (cơ thể có nhiều lông), phân bố lông trên cơ thể theo khuynh hướng giống nam giới, mọc nhiều vào sau thời kỳ dậy thì, ví dụ như ở vùng trên miệng, xung quanh núm vú, đường dọc bụng, xung quanh hậu môn và tứ chi lông mọc tương đối nhiều, thô và đen.

Béo phì: Có 20 – 40% bệnh nhân mắc đa nang buồng trứng béo phì trung bình.

Phì đại buồng trứng: Người mắc bệnh đa nang buồng trứng có buồng trứng cả hai bên to lên, hoặc tăng to không rõ rệt nhưng cảm giác mềm.

Để điều trị chứng đa nang buồng trứng, y học hiện đại dùng nội khoa (dùng thuốc) hoặc ngoại khoa (phẫu thuật).

Nội khoa: Dùng thuốc gây rụng trứng (Comiphene hoặc phối hợp với HCG, diamixung, idiphone, điều trị bằng kích thích tố HMG progesterol…) theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa sau khi được thăm khám cắt bỏ một phần buồng trứng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Đối với y học cổ truyền, theo các tài liệu và thư tịch không có bệnh danh nào là đa nang buồng trứng. Căn cứ vào triệu chứng và nguyên nhân bệnh lý của đa nang buồng trứng cho thấy bệnh này có liên quan đến thận hư, đàm uất và can uất.

05

Hương phụ.

Thận hư: Trong lâm sàng, triệu chứng tổng hợp của bệnh này thường phát hiện ở thời kỳ dậy thì, không ít bệnh nhân tuổi xuất hiện kinh nguyệt bị chậm lại, thậm chí tắt kinh, cho nên phổ biến cho rằng bệnh này có quan hệ với thận hư. Thận gắn với sinh dục, đó là bản chất thiên bẩm. Thận khí hư suy không thể sinh tinh huyết, gây thành bệnh (thiên sái), nhâm bất thông có nhiều kinh nguyệt không thể hội tụ.

Với trường hợp thận hư dùng bài Ôn thận hoàn để điều trị, gồm các vị thuốc: thục địa 16g, thù du nhục 16g, ba kích 12g, đương quy 12g, thỏ ty tử 10g, lộc nhung 8g, ích trí nhân 8g, sinh địa 8g, phục thần 8g, sơn dược 8g, viễn trí 8g, tục đoạn 8g, xà sàng tử 8g.

Đàm thấp: Người mắc bệnh đa nang buồng trứng thường béo, đôi lúc bị chứng béo phì.

Đàm thấp quan hệ đến hai tạng tỳ, thận: Tỳ thận bị âm hư, vận chuyển mất điều hòa, nước tinh không thể phân phát tứ phương, ngược lại sinh đờm loãng, dần tụ lại thành đờm, nước đờm dính kết làm đình đốn thuộc âm tà rất dễ làm trở ngại cơ chế vận hành khí, làm tổn thương dương khí, đờm thấp trì trệ, vận khí không suôn sẻ, cơ năng sinh hóa không đủ, kinh nguyệt không đều nên không thể có thai. Bệnh này do quan hệ với tỳ hư thấp thịnh, tích tụ thành đàm, đờm đọng không thông, có thể thành cục, tỳ hư huyết thiếu, nước bọt khô, dạ dày nóng, nhiệt không luân chuyển, cũng có thể thành khối cục.

Trường hợp đàm thấp dùng bài Thương truật đạo đàm thang để điều trị với các vị thuốc: thương truật 8g, hương phụ 8g, nam tinh 8g, bán hạ 8g, xuyên khung 12g, thần khúc 8g, hoạt thạch 12g, trần bì 10g, phục linh 12g.

Can uất: Chứng bệnh đa nang buồng trứng có quan hệ với thất tình. Phụ nữ không con đều là do kinh thủy không điều hòa, người bị kinh thủy không điều hòa là do bên trong có thương tổn thất tình, bên ngoài có lục dâm chi cảm, hoặc khí huyết hưng thịnh, âm dương tướng thừa gây ra. Nếu vì thất tình lục dục phân ưu, khiến cho gan khí đông kết lại, sự điều tiết thất thường, khí trì huyết đọng, xung nhâm, không thể tương tu, tử cung ra máu thường xuyên, hành kinh không điều hòa nên sẽ khó thụ thai. Trường hợp can uất dùng bài Điều kinh chủng ngọc thang để điều trị với các vị thuốc: thục địa 16g, phụ tử 8g, quy thân 12g, ngô thù du 8g, xuyên khung 12g, bạch thược 12g, phục linh 12g, trần bì 8g, diên hồ sách 8g, mẫu đơn bì 10g, can khương 6g, quế chi 4g, ngải diệp 12g. Các bài thuốc trên sắc uống ngày một thang, cho 750ml nước sắc còn 2 lần, mỗi lần chắt lấy 250ml, trộn hai lần sắc chia uống 3 lần khi thuốc còn nong, uống liền 2 tuần lễ.

Lương y Vũ Quốc Trung
Theo Sức khỏe & đời sống

5 bệnh chị em văn phòng thường gặp

Những phụ nữ công sở quá bận rộn, tham công tiếc việc hay quá say mê công việc, thường xuyên làm thêm giờ rất dễ mắc năm loại bệnh dưới đây.

1. Rối loạn kinh nguyệt

Làm việc thêm giờ, thời gian ngủ quá ít và không có lúc để nghỉ ngơi dễ dẫn đến rối loạn nội tiết, làm choc ho chu kỳ của bạn kéo dài hơn. Ban đầu chỉ vài ngày, sau tăng dần lên, kèm theo đó là chứng đau bụng kinh.

03

2. Các bệnh về tuyến vú

Nội tiết, khí huyết trong cơ thể đảo lộn làm cho quá trình lưu thông ở các tuyến vú bị chặn, dần dần xuất hiện chứng đau nhức ngực rồi kéo theo các bệnh khác.

3. Trí nhớ kém

Ăn uống thất thường, rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng kém, bộ nhớ sẽ giảm đi nhiều.

4. Các bệnh về mắt

Nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, vừa giảm thị lực vừa luôn cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, dễ làm mắt xuất hiện quầng thâm, mụn thịt, đỏ mắt… Tốt nhất, sau một giờ làm việc, hãy nhắm mắt thư giãn năm phút.

5. Chán ăn

Ăn uống không đúng bữa, dinh dưỡng mất cân bằng và sự thèm ăn cũng bị ảnh hưởng, thậm chí là chứng chán ăn.

Theo afamily

5 nguyên nhân phổ biến gây bệnh u nang buồng trứng

Nhận được kết luận của bác sĩ nói bạn bị u nang buồng trứng, hầu hết chị em đều đặt câu hỏi: U nang buồng trứng là thế nào? Và tại sao mình lại bị u nang buồng trứng?

U nang buồng trứng là thế nào?

Nói một cách đơn giản thì u nang buồng trứng tức là trong buồng trứng có một khối phát triển bất thường. Khối này có thể là tổ chức mô mới khác với tổ chức buồng trứng bình thường hoặc là sự tích tụ dịch tạo thành một nang trên buồng trứng.

U nang buồng trứng có thể phát triển từ các mô của buồng trứng hoặc từ mô của các cơ quan khác trong cơ thể.

u-nang-buong-trung

Một số đặc điểm của u nang buồng trứng:

– Không vượt quá kích thước 7cm.
– Tự tiêu đi trong khoảng vài tuần
– Chỉ có một buồng
– Có dịch màu trong (trừ khi bị chảy máu).

Tại sao chị em dễ bị u nang buồng trứng?

Dưới đây là 5 lý do thường gặp nhất khiến bệnh u nang buồng trứng phát triển ở chị em:

Lý do 1: Nang trứng phát triển không đầy đủ, không hấp thụ được các chất lỏng trong buồng trứng.

Điều này dẫn đến u nang – hình thức phổ biến nhất của u nang buồng trứng. Thông thường thì các u nang không có triệu chứng và chúng biến mất một cách tự nhiên trong vòng một vài tuần. Hiếm khi xuất huyết vỡ, hoặc xoắn có thể gây ra cơn đau cấp tính.

Lý do 2: Mạch máu của nang trứng bị vỡ dẫn đến u nang xuất huyết.

Xuất huyết u nang không phải là không phổ biến, nhưng chúng thường không có triệu chứng. Khi vỡ sẽ gây đau cấp tính trong bụng.

02

Lý do 3: Thể vàng phát triển dẫn đến kinh nguyệt kéo dài

Thể vàng (đơn vị chức năng của buồng trứng) trong u nang hoạt động vượt tuyến làm cho chu kì kinh nguyệt kéo dài, kèm theo chảy máu nặng (giống các dấu hiệu đe dọa xảy thai). Trong những trường hợp hiếm khi xảy ra, các nang trứng bị vỡ, gây đau cấp tính ở bụng khiến cho các hình ảnh lâm sàng của thai ngoài tử cung bị xáo trộn.

Lý do 4: Dư thừa chorionic gonadotropin (HCG) dẫn đến u nang lutein.

Dư thừa chorionic gonadotropin là do:

– Các khối u xuất hiện trong thời kì thai nghén.
– Rối loạn HCG để kích thích rụng trứng.

Những khối u nang một sẽ tự biến mất một cách tự nhiên sau khi các khối u trong kì mang thai bị loại bỏ hoặc ngưng điều trị HCG.

Lý do 5: Sự kích thích buồng trứng của các hormone luteinizing (LH).

Sự rối loạn nội tiết ở buồng trứng dẫn tới kết quả là buồng trứng đa nang. Biểu hiện lâm sàng của buồng trứng đa nang là:

– Gia tăng bệnh béo phì.
– Chu kỳ kinh nguyệt không đều.
– Vô sinh (do không có sự rụng trứng).
– Nam tính như: quá nhiều lông trên mặt (do dư thừa của androgen).

Kết luận:

U nang buồng trứng là những thương tổn không ác tính, thường không có triệu chứng và thường tự “giải quyết” sau một thời gian. Sự rối loạn nội tiết hay các đơn vị chức năng của buồng trứng – thể vàng – hoạt động quá mức… là những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh u nang buồng trứng.

Theo afamily

Giảm nguy cơ lạc nội mạc tử cung nhờ ăn uống

Phụ nữ có chế độ ăn uống giàu chất a-xít béo omega-3 sẽ giảm được đáng kể nguy cơ mắc bệnh này. Đó là kết luận của các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Brigham & Women’s (Mỹ).

Để có kết luận trên, nhóm nghiên cứu đã khảo sát khoảng 71.000 phụ nữ. Sau hơn 12 năm theo dõi, 1.199 tình nguyện viên bị chẩn đoán mắc bệnh lạc nội mạc tử cung. Theo các chuyên gia, nghiên cứu này cho thấy ăn uống không hợp lý có thể dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Bệnh lạc nội mạc tử cung là một tình trạng mà các mô lót nội mạc của tử cung nằm sai chỗ ở các nơi khác ngoài tử cung như ống dẫn  trứng, buồng trứng… Lạc nội mạc cũng có thể tạo ra những vết sẹo, dính gây khó khăn cho sự thụ thai.

lac-noi-mac-tu-cung2

Nội mạc tử cung là lớp lót bên trong tử cung, lớp này thường bong ra khi hành kinh và được tái tạo lại sau khi sạch kinh. Nội mạc tử cung đóng vai trò như một tấm nệm giúp thai nhi nằm ở đó. Lạc nội mạc tử cung là sự di chuyển của nội mạc tử dung đến một nơi khác ngoài buồng tử cung. Hiện tượng này xảy ra là do máu kinh có lẫn những mảng nội mạc tử cung bong ra khi hành kinh chảy ngược trở lại, chúng có thể đi vào khoang bụng, bàng quang, trực tràng và có thể di chuyển đến buồng trứng. Tại những nơi này, nội mạc tử cung vẫn chịu ảnh hưởng của nội tiết tố sinh dục và tiếp tục phát triển.

Khi nội mạc tử cung phát triển trở lại sau khi hành kinh thì những mảnh nội mạc tử cung đi lạc cũng to ra, trương lên và chứa đầy máu, đây là nguyên nhân gây đau trước ngày hành kinh. Khi nội mạc tử cung chảy máu, các mảnh lạc này cũng chảy máu mà không có đường thoát ra, việc này khiến bạn cảm thấy đau dữ dội trong những ngày hành kinh. Máu ứ sẽ tạo thành một môi trường lí tưởng cho các vi khuẩn gây viêm nhiễm phát triển và gây dính các cơ quan này. Khi hết kinh, các mảnh lạc này tạo thành những mô sẹo, và đến chu kì kinh tiếp theo thì tình trạng cũ lại tái phát. Số lượng các mô lạc không có đường ra nên chỉ tăng lên chứ không giảm đi.

Căn bệnh này thường hay gặp ở người trẻ, bệnh thường gây đau vùng bụng dưới, đau khi giao hợp, đau trước và sau khi hành kinh. Ngoài ra nhhững người bị lạc nội mạc tử cung còn có thể gặp phải các vấn đề về tiêu hóa.

Theo H.Y