Tag Archives: khớp

Biến dạng khớp do viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) có thể ảnh hưởng tới hơn 20 khớp lớn nhỏ trong cơ thể và gây biến dạng khớp. Vì vậy, sau 10 năm khởi phát bệnh, có tới 10-15% bệnh nhân VKDT bị tàn phế, phải cần sự trợ giúp của người khác. Vậy những kiểu biến dạng khớp thường gặp do VKDT là gì?

Biểu hiện đầu tiên và rõ nhất của bệnh VKDT là tại các khớp. Người bệnh thường bị sưng, nóng, đỏ, đau đối xứng tại các khớp và bắt đầu từ khớp nhỏ ở ngoại biên như khớp ngón tay, khớp bàn tay, cổ tay, bàn – ngón tay, bàn – ngón chân,…

khop-bien-dang

Trong giai đoạn khởi phát, khi chưa có dấu hiệu tổn thương “bào mòn” sụn khớp và đầu xương, nếu VKDT được phát hiện sớm, điều trị đúng cách thì sẽ làm chậm được sự tiến triển của bệnh. Bước sang giai đoạn toàn phát, khớp bị tổn thương, biến dạng và khó phục hồi. Cụ thể, khớp cổ tay có thể bị sưng nề ở phía mu bàn tay, khó gấp hay duỗi bàn tay, biến dạng giống “thìa úp” hoặc như “lưng con lạc đà”. Khớp ngón tay có thể bị dính, biến dạng tạo thành ngón tay hình “cổ cò”, các ngón lệch trục về phía xương trụ tạo nên bàn tay gió thổi. Khớp gối sưng đau, hạn chế gấp duỗi, có thể có tràn dịch ổ khớp hoặc bị dính ở tư thế nửa co,… Hậu quả là người bệnh có thể mất khả năng vận động khớp, tàn phế suốt đời.

Hiện nay, bên cạnh các biện pháp điều trị thông thường, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn dùng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ. Tiêu biểu cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Hoàng Thấp Linh. Sản phẩm có thành phần chính là hy thiêm với tác dụng chống viêm, giảm đau khớp, kết hợp cùng nhiều dược liệu khác như: sói rừng, bạch thược,… giúp tăng cường hồi phục vận động khớp, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị VKDT, cải thiện triệu chứng và ngăn chặn nguy cơ biến dạng khớp, tàn phế do bệnh.
Để ngăn ngừa nguy cơ biến dạng khớp do VKDT, người bệnh cần phát hiện bệnh sớm, tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ kết hợp uống Hoàng Thấp Linh hàng ngày và thường xuyên xoa bóp khớp.

Theo gia đình

Những kỳ vọng vào kỹ thuật thay khớp

Thời gian và tuổi tác lấy dần đi tuổi trẻ và sức khỏe của con người, thoái hóa khớp cũng không nằm ngoài quy luật. Sự phát triển của nhiều lĩnh vực y học đang giúp cho con người trẻ lâu hơn, sống thọ hơn, trong đó những tiến bộ phẫu thuật thay khớp đang làm thay đổi rõ rệt chất lượng sống của người bệnh.

Vận động là nhu cầu không thể thiếu của con người

Đồng thời với sự tăng cao của tuổi thọ, sự gia tăng các bệnh lý liên quan đến yếu tố tuổi già ngày càng tăng như tim mạch, hô hấp, các bệnh lý thần kinh… và bệnh lý khớp. Sự lão hóa của khớp ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người: gây nên đau đớn, ảnh hưởng đến việc đi lại từ mức độ đi lại khó khăn cho đến không đi lại được, gây biến dạng chi ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Phục hồi lại khả năng vận động của khớp và cải thiện các triệu chứng là mong mỏi của không chỉ bệnh nhân mà của cả các bác sĩ. Việc phòng ngừa, phát hiện sớm nhằm kéo dài tuổi thọ của các khớp bằng các biện pháp nội khoa, vật lý trị liệu, thay đổi lối sống… là cần thiết nhưng khi tổn thương thoái hóa của khớp quá nặng gây biến dạng và ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt và làm việc của bệnh nhân thì phẫu thuật thay thế các khớp là giải pháp được cân nhắc lựa chọn. Kể từ khi những ca phẫu thuật thay khớp đầu tiên được thực hiện cho đến nay, phẫu thuật thay khớp không ngừng có những cải tiến, giúp cho người bệnh có cuộc sống khỏe mạnh và có chất lượng.

nhung_ky_vong_vao_ky_thuat_thay_khop

Khớp nhân tạo thế hệ mới

Những hy vọng đầu tiên về thế hệ khớp nhân tạo

Những thế hệ khớp nhân tạo đầu tiên có thể kể đến là chỏm Moore. Chỏm làm bằng kim loại đầu tiên do bác sĩ Austin Moore thực hiện năm 1940. Chỏm Moore có thể coi là thế hệ khớp đầu tiên, có cấu trúc đơn giản, tương tự như chỏm xương đùi, gọi là thế hệ chỏm đơn cực. Tuổi thọ của chỏm Moore rất ngắn, khoảng 3 – 5 năm, tuy nhiên, ở vào thời điểm đó, sự ra đời của chỏm Moore đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống một cách đáng kể cho các bệnh nhân. Về sau này, các khớp nhân tạo có cấu trúc đa cực, giúp cho việc cải thiện biên độ vận động của bệnh nhân tốt hơn. Những hiểu biết về động học, giải phẫu của khớp đã giúp tạo ra các thế hệ khớp tốt hơn, dễ thao tác phẫu thuật hơn, phù hợp hơn với cơ thể người bệnh và giúp cho khả năng vận động của bệnh nhân sau phẫu thuật tăng cao hơn.

nhung_ky_vong_vao_ky_thuat_thay_khop2

Khớp nhân tạo mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh

Làm thay đổi chất lượng sống của nhiều người bệnh

Để thực hiện phẫu thuật thay khớp, phải can thiệp vào phần mềm quanh khớp và đây chính là yếu tố làm kéo dài sự khó chịu sau phẫu thuật. Trong quá khứ, để thực hiện phẫu thuật thay khớp háng, phải sử dụng đường rạch có thể dài 12 cho đến 20cm nhưng xu thế hiện nay, với sự hỗ trợ của trang thiết bị kỹ thuật, việc phẫu thuật được thực hiện với các đường mổ tối thiểu < 6cm, đảm bảo can thiệp ít nhất có thể vào phần mềm xung quanh, giúp cho sự hồi phục sau phẫu thuật của bệnh nhân nhanh hơn. Bên cạnh đó, để đảm bảo độ chính xác của vị trí khớp nhân tạo so với khớp bình thường của bệnh nhân, các công cụ hỗ trợ khác ra đời như hệ thống định vị (navigation) giúp phẫu thuật có thể đạt đến độ chính xác gần như tuyệt đối.

Cùng với sự hỗ trợ của chuyên ngành gây mê hồi sức và chống đau, phẫu thuật thay khớp đã có những tiến bộ không ngừng nhằm đạt đến mong muốn của cả bệnh nhân và bác sĩ là có được khả năng vận động gần như khớp tự nhiên của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân cao tuổi vẫn có thể vượt qua cuộc phẫu thuật thay khớp háng, khớp gối một cách dễ dàng, sống thọ hơn và có ý nghĩa hơn.

Cuộc cách mạng về vật liệu khớp nhân tạo

Việc kết nối giữa khớp nhân tạo và xương bệnh nhân có thể bằng xi măng sinh học hoặc bằng công nghệ không xi măng. Công nghệ không xi măng đòi hỏi cấu trúc bề mặt của khớp nhân tạo phải được bao phủ bằng một chất liệu đặc biệt hoặc có cấu trúc đặc biệt giúp cho tổ chức xương có thể phát triển vào và do đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ và lâu bền giữa khớp nhân tạo và xương của bệnh nhân. Vật liệu khớp chuyển từ vật liệu thép ở giai đoạn đầu sang vật liệu titan, giúp cho khả năng tương thích cơ thể người bệnh tốt hơn đồng thời kéo dài tuổi thọ của khớp. Bề mặt tiếp xúc của khớp nhân tạo chuyển từ “nhựa với kim loại” sang “gốm với gốm” hoặc “kim loại với kim loại” để gia tăng khả năng chống mài mòn cho khớp. Với những cải tiến này, tuổi thọ của khớp có thể kéo dài đến 30 năm hoặc lâu hơn nữa.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Trật khớp khuỷu có thể gây tàn tật

Trật khớp khuỷu là một chấn thương hay gặp, là loại trật khớp nhiều nhất ở trẻ em trên 5 tuổi. Tổn thương trật khớp có khi còn kèm theo gãy xương phải phẫu thuật để điều trị. Có những trường hợp trật khớp nặng làm mất khả năng vận động của bệnh nhân.

trat_khop_khuyu_co_the_gay_tan_tat

Ngã chống tay hoặc do chấn thương gây ra trật khớp khuỷu

Khớp khuỷu được cấu tạo bởi đầu dưới xương cánh tay và đầu trên của xương trụ và xương quay: phần ngoài là lồi cầu tiếp nối với chỏm quay tạo thành khớp cánh tay – quay; phần trong là ròng rọc tiếp nối với hõm xích-ma lớn tạo thành khớp cánh tay – trụ. Xương quay và xương trụ tiếp với nhau tạo thành khớp quay- trụ trên. Gấp, duỗi là hai  động tác quan trọng và duy nhất của khớp khuỷu; còn sấp, ngửa là động tác của cẳng tay.

Trật khớp khuỷu là cả hai xương cẳng tay: hõm xích-ma lớn và chỏm quay, trật ra khỏi đầu dưới xương cánh tay chỗ ròng dọc và lồi cầu. Nguyên nhân gây trật khớp có thể do ngã chống tay, khuỷu duỗi tối đa, cẳng tay ngửa hoặc chấn thương gián tiếp.

 Làm sao biết bị trật khớp khuỷu?

Sau một chấn thương, bệnh nhân thấy đau vùng khuỷu, không gấp hay duỗi được cẳng tay. Thông thường khi trật khớp khuỷu chúng ta thấy cẳng tay bệnh nhân ở tư thế gấp chừng 45 độ, cẳng tay trông như ngắn lại, trái lại cánh tay trông như dài ra. Sờ nắn nhẹ nhàng trước nếp khuỷu thấy bờ xương tròn của đầu dưới xương cánh tay. Sờ phía sau thấy mỏm khuỷu nhô ra sau, gân cơ tam đầu cánh tay căng cứng, gấp khuỷu nhẹ, thả ra có dấu hiệu lò xo tức là cẳng tay tự động bật trở về vị trí ban đầu trước khi gấp khuỷu. Thầy thuốc nhìn thấy mỏm khuỷu và hai mỏm trên lồi cầu và trên ròng rọc không còn quan hệ tam giác mà ngang nhau. Sờ được chỏm xương quay phía sau ngoài khớp. Có thể các dây chằng ở trước trong bị đứt, nhưng rất hiếm khi gặp đứt dây chằng  vòng quanh chỏm quay, bao khớp bị rách. Có thể gặp gãy xương như vỡ một phần của đầu dưới xương cánh tay (vỡ lồi cầu ngoài hay lồi cầu trong), mỏm khuỷu. Nếu bệnh nhân đến khám sớm ngay sau chấn thương, chẩn đoán thường dễ, do sờ thấy các mốc xương. Trường hợp bệnh nhân đến muộn thì vùng khuỷu sưng nề. Trật khớp khuỷu ra sau là hay gặp nhất chiếm 90% các trường hợp trật khớp khuỷu ra trước do vỡ mỏm khuỷu; trật khớp khuỷu sang bên: do vỡ các lồi cầu.

Trật khớp có thể gây tổn thương mạch máu và thần kinh nên cần khám mạch máu và thần kinh: bắt mạch quay, mạch trụ ở cổ tay xem còn đập không, nếu không là bị rách ở vùng trật khớp, khám vận động và cảm giác ở đầu chi để đánh giá có hay không tổn thương các dây thần kinh. Nhiều trường hợp trật khớp động mạch cánh tay thường bị căng giãn, có khi bị chèn ép có thể bị tắc mạch muộn do bị giập nội mạc. Chụp Xquang khuỷu để xác định kiểu trật và xem có gãy xương kèm theo hay không.

Chữa trị trật khớp khuỷu thế nào?

Trường hợp trật khớp khuỷu mới (dưới 3 tuần): phải kéo nắn khớp và nẹp bột. Thường nẹp bột khoảng 10 ngày thì tập vận động. Các bệnh nhân mà nắn khớp được rồi nhưng kém vững do rách phần mềm nhiều phải cho bất động 3-4 tuần, sau đó mới tập vận động. Cần lưu ý cho bệnh nhân tập duỗi cho hết. Trường hợp không nắn vào được là do kẹt khớp, bị gãy xương nội khớp, chèn phần mềm, khi đó phải phẫu thuật đưa về vị trí giải phẫu.

Nếu sau nắn trật, kiểm tra mạch không bình thường cũng cần phẫu thuật để kiểm tra, cắt nối chỗ giập, ghép tĩnh mạch. Tổn thương thần kinh có thể bị một trong ba sợi là thần kinh giữa, thần kinh trụ và thần kinh liên cốt trước. Hầu hết các trường hợp thần kinh chỉ bị đụng giập nhẹ, hồi phục nhanh. Tuy nhiên khi gặp bệnh nhân bị liệt quá 3 tháng cần phẫu thuật thăm dò thần kinh, hoặc bị liệt sau nắn khớp cần mổ thăm dò ngay.

Trật khớp kèm gãy xương: gãy mỏm trên lồi cầu trong, mảnh gãy rất hay bị kẹt vào khớp. Phát hiện được nhờ vào dấu hiệu: sau khi nắn xong thì cử động khớp không mềm mại. Lúc này cần kiểm tra Xquang để phát hiện mảnh xương kẹt vào khớp, nếu thấy thì mổ lấy bỏ mảnh xương kẹt.

Trật khớp kèm gãy mỏm khuỷu: gãy không lệch, bó bột để khuỷu duỗi. Gãy có di lệch thì mổ kết hợp xương mỏm khuỷu.

Trật khuỷu kèm gãy mỏm vẹt: độ 1, bất động 3-4 tuần rồi tập phục hồi chức năng ; độ 2-3: phẫu thuật cố định mảnh gãy với lỗ khâu xuyên xương, vỡ mảnh to cố định với vít.

Trật khuỷ kèm gãy chỏm xương quay: nếu mảnh gãy di lệch dưới 2mm thì điều trị bảo tồn. Nếu gãy vụn chỏm thì cắt bỏ chỏm ở người lớn, hoặc thay bằng chỏm kim loại. Ở trẻ em cố gắng bảo tồn bằng kết hợp xương với vít cỡ bé.

Điều trị trật khớp khuỷu cũ (trật khớp trên 3 tuần).

Trật khớp khuỷu cũ thường ở tư thế xấu, khuỷu duỗi 0 độ, cẳng tay mất chức năng, do đó phải phẫu thuật để điều trị. Phẫu thuật đặt lại xương nếu thời gian dưới 3 tháng; hoặc làm cứng khớp ở tư thế cơ năng: để khuỷu gấp 90 độ, cẳng tay trung gian, vì trật khớp quá lâu nếu đặt lại khớp sẽ biến dạng ở tư thế xấu và giảm cơ năng vận động.

Một nghiên cứu cho thấy: trật khớp khuỷu gặp thứ 3 sau trật khớp vai và trật khớp ngón tay, chiếm 20-25% tổng số trật khớp. Bệnh gặp nhiều ở trẻ em trên 5 tuổi: 68%,  nữ nhiều hơn nam, tay trái nhiều hơn tay phải. Ở người dưới 20 tuổi, trật khớp khuỷu gặp nhiều hơn trật khớp vai 7 lần. Trật khớp kèm gãy xương chiếm khoảng 12% các trường hợp.

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Nên vận động hợp lý để bảo vệ khớp

Ở khớp khỏe mạnh, sụn hoạt động như một tấm đệm giảm xóc, cung cấp chất nhầy có độ trơn hơn 20 lần so với mặt băng trượt để các đầu xương không ma sát vào nhau. Tuy nhiên, trong sinh hoạt hàng ngày chúng ta có những thói quen như: bẻ các khớp tay, vặn đốt sống lưng, tư thế ngồi làm việc không đúng cách… gây tổn thương ở khớp.

Để tránh vi chấn thương dẫn đến phiền phức từ các gai xương gây ra, chúng ta cần có một chế độ vận động thích hợp và tránh những động tác sau đây:

nen_van_dong_hop_ly_de_bao_ve_khop

Không tạo thói quen bẻ khớp:

Nhiều người có thói quen bẻ khớp ngón tay chân, vặn cột sống cổ, lưng tạo ra những tiếng lốp rốp.Tiếng kêu khi vặn các khớp được sinh ra khi có sự va chạm mạnh của hai đầu sụn khớp tiếp giáp nhau, lúc đó sẽ xuất hiện một lực tác động lên bề mặt sụn hoặc đĩa đệm. Những va chạm này đang âm thầm gây ra các vi chấn thương lên tế bào sụn. Khi có sự tích lũy nhiều vi chấn thương trên cùng một ổ khớp thì sẽ làm mất dần chất sụn ở khớp. Mỗi lần vặn, bẻ như thế đem lại cho ta cảm giác dễ chịu hơn, nhưng ngược lại chính điều này cũng tạo ra những lực phá hủy  khớp.

Muốn tạo cho khớp cảm giác thoải mái mà vẫn tránh được vi chấn thương thì chỉ cần cử động khớp qua lại nhẹ nhàng đến góc độ tối đa mà không gây đau, không tạo ra tiếng lạo xạo là được, vì động tác đơn giản này đã góp phần tăng lưu lượng máu đến mô, tạo ra sự dễ chịu mà vẫn tránh được hiện tượng dính khớp và vi chấn thương.

Đi, đứng phải đúng cách:

Với những người có tiền sử và mắc bệnh khớp không nên đứng quá lâu hay đi giày cao gót thường xuyên; không lên cầu thang bộ nhiều lần hoặc đi bộ liên tục hơn 45 phút. Với những người luyện tập cũng không nên luyện tập quá sức sẽ làm khớp tổn thương. Nếu hàng ngày trong cách đi đứng, luyện tập luôn tạo một áp lực mạnh tác động lên khớp gối và gót chân, lâu ngày sẽ gây thoái hóa  khớp gối và gai gót dẫn đến đau và làm viêm cân gan bàn chân.

Không nên tắm quá lâu, nằm ngủ trực tiếp trên nền gạch vì nền gạch lạnh, môi trường có độ ẩm cao, nhiệt độ thấp sẽ gây co cơ, hẹp khe khớp tăng nguy cơ tạo vi chấn thương.

Chọn tư thế ngồi hợp lý:

Ngồi xổm được gọi là tư thế xấu vì khớp gối sẽ bị tăng lực nén. Bởi vậy phải hạn chế hoạt động ở tư thế này. Khi ngồi làm việc trên ghế văn phòng phải giữ lưng cho thẳng và nên chọn ghế có phần tựa cho cột sống thắt lưng để giảm tối đa lực ép lên đĩa đệm.

Khi lái ô tô, xe máy đường dài thường xuất hiện cảm giác mỏi lưng, đau lưng là do lực chấn động tác dụng liên tục và nhiều nhất lên cột sống. Để giảm lực chấn động này, cần mang đai thắt lưng và ngồi thẳng trục lưng cổ và đầu.

Chọn tư thế lao động:

Khi vắt quần áo cần làm với lực vừa phải, không cố hết sức vì khi đó khớp cổ tay hai bên chịu lực lớn  gây căng cơ dễ gây đau, gây thoái hóa khớp và hội chứng ống cổ tay.

Khi cần lấy đồ vật ở xa không nên với vì gây ra căng cơ, dễ trật khớp và cũng dễ tạo ra vi chấn thương lên ổ khớp. Trong lúc khiêng vác vật nặng cần chú ý ôm sát vật vào người và toàn bộ trọng tâm của cơ  thể phải ở chính giữa hai lòng bàn chân, để lực tác dụng được chia đều trên các đĩa đệm đốt sống, có như vậy mới tránh được những tổn thương khớp.

Lưu ý: Cần tập thể dục điều độ, hạn chế ăn nhiều chất béo, ngọt, giàu năng lượng nhằm tránh béo phì vì đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây tăng lực nén lên tổ chức khớp. Ngoài ra, cần khám sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm các bệnh như đái tháo đường, loãng xương, bệnh gout (thống phong),…để điều trị kịp thời, tránh các biến chứng về khớp.

Bác sĩ  Tấn Hưng
Theo SKĐS

Loạn dưỡng xương do suy thận

Loạn dưỡng xương do suy thận là các bệnh về xương xuất hiện khi bị suy thận. Thận suy không đảm bảo giữ đủ canxi và phốt pho trong máu dẫn tới loạn dưỡng xương. Trên 90% bệnh nhân suy thận phải lọc máu bị mắc bệnh.

“Kẻ phá hoại thầm lặng”

loan_duong_xuong_do_suy_than

Chân vòng kiềng – biến dạng điển hình trong bệnh còi xương do suy thận

Đối với trẻ em, loạn dưỡng xương do suy thận đặc biệt nguy hiểm do xương của trẻ vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Bệnh làm xương phát triển chậm đi và gây biến dạng xương, trong đó biến dạng dễ nhận thấy nhất là chân vòng kiềng hoặc chéo chữ x, biến dạng này thường được gọi là chứng còi xương do suy thận. Một hậu quả nặng nề  nữa của bệnh này là trẻ bị kém phát triển chiều cao, đây là biểu hiện thường thấy ở trẻ đang lớn bị bệnh thận.

Ở người lớn bị suy thận, những biến đổi do chứng loạn dưỡng xương có thể bắt đầu từ rất nhiều năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Do đó, loạn dưỡng xương do suy thận được gọi là “kẻ phá hoại thầm lặng”. Những triệu chứng loạn dưỡng xương do suy thận thường không xuất hiện ngay mà chỉ thấy sau nhiều năm bệnh nhân phải lọc máu. Đối với bệnh nhân lớn tuổi hoặc phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh có nguy cơ cao bị mắc bệnh này, do họ có thể bị loãng xương ngay cả khi không bị suy thận. Nếu không phát hiện ra bệnh và không chữa trị, xương sẽ dần trở nên mảnh và yếu, bệnh nhân bị chứng loạn dưỡng xương có thể bắt đầu thấy đau xương hoặc khớp có khi bị gãy xương chỉ sau một chấn thương nhẹ.

Xương bị loạn dưỡng như thế nào?

Dấu hiệu bị loạn dưỡng xương

Một người bị loạn dưỡng xương sẽ có các dấu hiệu như: đau cột sống (vì loãng xương ở chi thường không đau), biến dạng cột sống, gãy xương. Đau cột sống cấp tính thường xảy ra sau khi gắng sức nhẹ, ngã hay một động tác sai. Biến dạng cột sống thường thấy lưng còng, vẹo cột sống. Ở người cao tuổi chỉ do ngã nhẹ cũng dễ bị gãy xương tay, chân do loãng xương. Chụp Xquang thấy hình ảnh loãng xương. Đối với người không bị gãy xương mà nghi là bị loãng xương thì xác định bằng phương pháp đo tỉ trọng của xương (bone density). Để xác định bệnh loạn dưỡng xương do suy thận, có thể để đo nồng độ canxi, phốt pho, PTH và calcitriol trong máu.

Đối với mọi người khoẻ mạnh bình thường, các mô xương luôn luôn được bổ sung các chất canxi và phốt pho, giữ cho xương chắc khỏe. Một trong các chức năng của thận là cân bằng lượng canxi và phốt pho trong máu, vì vậy thận đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ xương chắc khoẻ cũng như cấu trúc xương bình thường. Canxi có trong nhiều loại thực phẩm, nhất là trong sữa và các chế phẩm từ sữa. Trường hợp nồng độ canxi trong máu quá thấp, khi đó các tuyến cận giáp sẽ tiết ra  một chất nội tiết là PTH. Chất nội tiết này có tác dụng rút canxi từ trong xương để nâng nồng độ canxi trong máu lên. Càng nhiều PTH được tiết ra trong máu thì canxi từ trong xương sẽ bị lấy đi càng nhiều. Nếu quá trình này diễn ra trong thời gian dài thì lượng canxi bị lấy đi từ xương càng nhiều, hậu quả là xương sẽ bị thưa, loãng, rất yếu và dễ bị gãy. Phốt pho cũng là một khoáng chất có trong nhiều loại thực phẩm, phốt pho có vai trò giúp điều hoà đậm độ canxi trong xương. Khi thận khoẻ mạnh, hoạt động bình thường sẽ có chức năng loại bỏ số phốt pho dư thừa trong máu. Trái lại, khi thận đã bị suy, nồng độ phốt pho trong máu sẽ tăng cao, làm cho nồng độ canxi trong máu bị giảm đi, dẫn đến quá trình canxi trong xương bị lấy bớt đi để đưa vào máu.

Khi thận khoẻ mạnh sẽ sản xuất ra calcitriol, một dạng của vitamin D, giúp cơ thể hấp thu được canxi từ thức ăn vào máu và xương. Lúc thận bị suy, không còn sản xuất đủ lượng calcitriol và vì thế cơ thể cũng hấp thu kém lượng canxi từ thức ăn vào máu.  Nếu mức calcitriol giảm thấp, PTH sẽ tăng cao và canxi lại bị rút bớt từ xương ra. Như vậy, calcitriol và PTH có vai trò phối hợp giữ nồng độ canxi cân bằng và giúp cho xương chắc khoẻ. Ở bệnh nhân suy thận, do thận không tạo ra calcitriol đầy đủ, cơ thể không hấp thu được canxi từ thức ăn nên canxi bị lấy ra từ trong xương làm cho xương ngày càng thưa, loãng.

Chữa trị và phòng bệnh

Biện pháp quan trọng là kiểm soát nồng độ PTH để ngăn chặn việc rút canxi từ xương. Việc kiểm soát hoạt động của tuyến giáp thường bằng cách thay đổi thực đơn ăn kiêng, các chỉ số lọc máu hoặc dùng thuốc. Trường hợp không kiểm soát được nồng độ PTH thì phải phẫu thuật để loại bỏ tuyến cận giáp. Nếu thận không tạo đủ nồng độ calcitriol, có thể cho bệnh nhân dùng thuốc calcitriol tổng hợp dạng uống hoặc tiêm. Cùng với việc dùng calcitriol, bệnh nhân có thể dùng bổ sung thêm canxi… Một phác đồ điều trị tốt bao gồm chế độ lọc máu đầy đủ, ăn kiêng và dùng thuốc, như vậy có thể giúp cơ thể phục hồi được những chỗ xương bị tổn thương do chứng loạn dưỡng xương vì suy thận.

Để phòng bệnh và hạn chế bệnh tiến triển nặng, bệnh nhân cần áp dụng các biện pháp sau: cải thiện bệnh loạn dưỡng xương do suy thận bằng chế độ ăn kiêng, bệnh nhân nên tránh các loại thực phẩm chứa nhiều phốt pho như: sữa, pho mát, đậu, lạc và hạn chế dùng coca, rượu, bia. Luyện tập thể dục thường xuyên, vừa sức cũng giúp xương chắc khoẻ hơn vì các xương chịu tác dụng của lực khi vận động thường phản ứng lại bằng cách tăng cường phát triển xương.

BS . Trần Tất Thắng
Theo SKĐS

Tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn

Có nhiều nguyên nhân gây ra gãy xương như: bom đạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…, có thể là gãy xương hở hoặc gãy xương kín. Xương thường bị gãy vỡ thành nhiều mảnh, có khi bị mất từng đoạn xương hay các đoạn xương bị di lệch. Chúng ta cần biết cố định xương gãy là để tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn.

Vì sao cần cố định xương gãy?

Khi gãy xương, đầu xương gãy sắc nhọn dễ làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến những tai biến nặng như: sốc do mất máu và đau đớn, nhất là khi gãy các xương lớn; làm tổn thương phần mềm do các đầu xương gãy đâm rách; nhiễm khuẩn vết thương. Cố định tạm thời gãy xương là một kỹ thuật quan trọng để hạn chế những tai biến đó và giữ cho ổ gãy xương được ổn định để vận chuyển an toàn bệnh nhân đến bệnh viện.

tu_cuu_minh_va_cuu_nguoi_khi_gap_tai_nan

Yêu cầu cố định xương gãy như thế nào?

Khi cố định tạm thời xương gãy phải đảm bảo không làm cho bệnh nhân bị đau thêm. Muốn thế phải giảm đau tốt cho bệnh nhân trước khi tiến hành băng bó cố định chi gãy, không được nâng nhấc, băng bó, cố định chi gãy nếu chưa dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Nẹp phải đủ dài để cố định được cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy, buộc chắc chắn vào chi. Nếu chi gãy bị di lệch, biến dạng nhiều thì sau khi đã giảm đau thật tốt, có thể nhẹ nhàng kéo chỉnh lại trục chi để giảm bớt biến dạng, giảm bớt nguy cơ thương tổn phần mềm do các đầu xương gãy gây ra. Không đặt nẹp cứng sát vào chi mà phải lót bằng bông, gạc… Khi cố định xương gãy, không cần cởi quần áo người bị thương vì quần áo có tác dụng tăng cường đệm lót cho nẹp.

Các loại nẹp dùng để cố định xương gãy

Nẹp tre (hoặc gỗ), kích thước dài ngắn tùy chi thể của người bị thương. Các nẹp được bọc trước bằng bông hoặc giấy xốp cuốn băng xô, trên toàn bộ chiều dài, bịt kín 2 đầu nẹp. Ngoài ra còn loại nẹp Crame là loại nẹp làm bằng sợi kẽm, bẻ uốn được, hình bậc thang, có nhiều kích thước thích hợp cho từng đoạn chi. Dùng nẹp Crame cũng cần có đủ các kích thước phù hợp với từng đoạn chi và cũng cần bọc lót bông gạc như với nẹp tre. Tuy nhiên khi gặp tình huống khẩn cấp mà không có nẹp đã chuẩn bị sẵn, có thể sử dụng các phương tiện sẵn có như đòn gánh, cành cây, gậy gỗ, dát giường… để cố định xương gãy.

Phương pháp cố định tạm thời ở một số gãy xương lớn

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng tay: Đặt nẹp ngắn ở mặt trước cẳng tay đi từ nếp khuỷu đến khớp ngón – bàn. Đặt nẹp dài ở mặt sau cẳng tay, từ quá mỏm khuỷu, đối xứng với nẹp ở mặt trước. Buộc 2 đoạn cố định 2 nẹp vào bàn tay và cẳng tay. Đoạn thứ nhất ở bàn tay và cổ tay, đoạn thứ 2 ở dưới và trên khớp khuỷu. Dùng băng cuộn để treo cẳng tay ở tư thế gấp 900.

– Cố định tạm thời gãy xương cánh tay: Ở mặt trong cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên lên tới hố nách, đầu dưới sát nếp khuỷu. Mặt ngoài cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên quá khớp vai nách, đầu dưới quá khớp khuỷu. Cố định nẹp ở 2 đoạn: đoạn một ở 1/3 trên cánh tay và khớp vai, đoạn hai ở trên và ở dưới khớp khuỷu. Dùng băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay vuông góc 900 với cánh tay và cuốn 1 vài vòng băng buộc cánh tay vào thân.

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng chân: Đặt 2 nẹp ở mặt trong và mặt ngoài chi gãy đi từ giữa đùi tới quá cổ chân. Nếu có nẹp thứ 3 thì đặt ở mặt sau cẳng chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi.

– Cố định tạm thời gãy xương đùi: Dùng 3 nẹp để cố định, nẹp ở mặt ngoài đi từ hố nách đến quá gót chân. Nẹp ở mặt trong đi từ bẹn đến quá gót chân. Nẹp ở mặt sau đi từ trên mào chậu đến quá gót chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn chân, cổ chân, 1/3 trên cẳng chân, trên gối, bẹn, bụng và dưới nách. Trước khi vận chuyển: buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở ba vị trí cổ chân, đầu gối và đùi.

BS. Trần Văn Phong
Theo SKĐS

Thực đơn trong phòng chống viêm khớp

Viêm khớp là bệnh có biểu hiện các khớp bị sưng, đau và hạn chế hoạt động. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân từ thức ăn: có những loại thức ăn làm cho bệnh tăng nặng và ngược lại cũng có nhiều loại thực phẩm giúp cho bệnh giảm nhẹ. Vì vậy khi biết dùng những thực phẩm hợp lý sẽ giúp bạn phòng và chữa bệnh viêm khớp hiệu quả.

Những dạng viêm khớp thường gặp

– Bệnh gút hay còn gọi là thống phong, do ăn uống các loại thức ăn có nhiều chất đạm như tim, gan, bầu dục…, uống rượu mạnh, cà phê đặc, trà đậm làm hàm lượng acid uric tăng trong máu. Tổn thương hay gặp ở các khớp ngón chân cái, bàn chân, đầu gối… và thường ở người béo.

– Viêm khớp dạng thấp: là một bệnh tự miễn dịch, hay gặp ở người trẻ nhất là phụ nữ, do phản ứng dị ứng trong cơ thể, chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp ở bàn tay, bàn chân, cổ tay và mắt cá chân.

– Viêm xương khớp: bệnh xuất hiện vào cuối tuổi trung niên, do tiến trình lão hóa của các khớp. Đối với người già trước tuổi thì quá trình viêm xương khớp cũng xảy ra sớm hơn.

– Viêm khớp nhiễm khuẩn: thường xuất hiện sau khi mắc phải một bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh cúm, viêm họng do tụ cầu, liên cầu, nhiễm lậu cầu…

– Viêm đốt sống: bệnh gây viêm các khớp cột sống, gây chèn ép lên các dây thần kinh và phát sinh ra chứng đau ở vùng do dây thần kinh chi phối như:  đau dọc theo cánh tay, đau thần kinh liên sườn, đau ở vùng thắt lưng; đau dây thần kinh hông to (thần kinh toạ) lan xuống mông và phía sau cẳng chân…

– Thoái hóa cột sống, các đốt xương sống bị hư tổn, chèn ép các dây thần kinh nằm giữa các đốt sống và gây đau lưng. Nguyên nhân gây thoái hóa cột sống có thể là do viêm nhiễm, do tư thế lao động, thường xuyên mang vác các vật nặng. Thoái hóa bản thân xương cột sống do chứng loãng xương gây ra, gặp ở người cao tuổi.

Việc điều trị các bệnh viêm khớp phải phối hợp cả dùng thuốc và chế độ luyện tập, dinh dưỡng. Trong đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với công tác phòng và chữa bệnh.

Dùng thực phẩm có tác dụng phòng tránh loãng xương 

Canxi là một nguyên tố chính yếu cấu thành xương, mỗi ngày cơ thể cần khoảng 1.200mg canxi. Khi xương chắc khoẻ sẽ chống đỡ tốt với quá trình viêm mà giảm bệnh. Thức ăn chứa nhiều canxi bao gồm: sữa, các sản phẩm từ sữa, các loại rau xanh, các loại thủy hải sản như tôm, cua, các loại cá nhỏ để ăn nguyên xương cũng cung cấp một lượng canxi đáng kể. Đậu nành có hoạt chất genistein được xem như là hormon estrogen thực vật, góp phần quan trọng giúp cho xương chắc khỏe. Vận động và tắm nắng thường xuyên cũng giúp tăng tạo vitamin D giúp hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể.

thuc_don_trong_phong_chong_viem_khop

Các loại thực phẩm chứa nhiều omega-3

Thức ăn nào giúp phòng chữa bệnh viêm khớp?

Dùng các thực phẩm giàu acid béo có ích:

– Thứ nhất là acid béo omega-3: chất này có tác dụng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm giảm hẳn các triệu chứng viêm đau khớp. Một vài nghiên cứu cho thấy: nếu bệnh nhân bị viêm khớp được sử dụng dầu cá với liều  từ 2-5g/ngày, kết quả là các khớp tổn thương bớt cứng và giảm đau rõ rệt. Thực phẩm chứa nhiều acid béo omega-3 là cá, đặc biệt là mỡ cá, các loại cá thu, cá ngừ, các trích, cá mòi, cá trống, cá hồi, tôm, cua, tảo, sinh vật phù du…

Nguồn cung cấp chất béo quý này là khá phong phú, nhưng trước khi muốn dùng bạn nên tuân theo lời khuyên của bác sĩ. Bởi bên cạnh những cái lợi do chất omega -3 mang lại, bạn cũng cần biết rằng khi dùng dầu cá liều cao sẽ bị ảnh hưởng đến quá trình đông máu của cơ thể và tương tác có hại với một số loại thuốc chữa bệnh khác.

Ngoài ra omega-3 còn rất hữu ích cho thai phụ, các bà mẹ đang cho con bú, bệnh nhân tim mạch, viêm gan mạn tính, hen phế quản, bệnh thận IgA, bệnh Crohn, người cao tuổi…

– Thứ hai là acid béo omega-6 GLA (acid gamma-linolenic): có tác dụng ức chế sự sản sinh ra chất gây viêm prostaglandin. Nghiên cứu cho thấy khi dùng với liều 1-3g/ngày cho kết quả khả quan đối với bệnh viêm khớp. Omega – 6 có nhiều trong thịt động vật và hầu hết các loại dầu thực vật.

Người ta còn thấy rằng khi ăn nhiều omega-3 (thủy hải sản) thì omega-3 thay thế omega-6 trong cấu trúc màng của tất cả các tế bào (tế bào thần kinh, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, tế bào nội mạc mạch máu, tế bào gan…). Sự cạnh tranh giữa omega-3 và omega-6 đã làm giảm hẳn các chất trung gian gây viêm, các yếu tố làm khởi phát và gây rối loạn miễn dịch. Một chế độ ăn lý tưởng nhất cho sự phát triển và hoạt động của não, cho tế bào, chức năng miễn dịch và bảo vệ của cơ thể là tỷ lệ acid béo không no omega-3/omega-6 là từ 1-3/1.

Cung cấp đầy đủ các vitamin:

Nhờ tác dụng chống ôxy hóa của các vitamin C, D, E và beta-caroten (tiền vitamin A) có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy: vitamin C và D có khả năng làm giảm bệnh viêm xương khớp, chỉ với liều nhỏ dưới 150mg vitamin C (tương đương lượng sinh tố của 2 ly cam vắt) và 400 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D/ngày có khả năng làm chậm hẳn sự tiến triển của bệnh viêm khớp gối. Người ta cũng đã chứng minh các thức ăn chứa nhiều vitamin E có tác dụng giảm đau chống viêm. Chất beta-caroten có nhiều trong cà rốt, cà chua, bí đỏ, rau xanh, các loại trái cây, rau củ có màu đỏ cũng có tác dụng giảm viêm khớp. Do đó bệnh nhân viêm khớp các dạng cần bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ các vitamin nói trên, ăn nhiều rau tươi và trái cây chín sẽ có tác dụng phòng và chữa bệnh hiêu quả mà không độc hại.

BS. Ninh Thanh Tùng
Theo SKĐS

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh (neuropathic arthropathy) là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Điển hình trên phim chụp Xquang là tổn thương hủy hoại bề mặt sụn khớp, đặc xương dưới sụn, hẹp khe khớp, biến dạng khớp, trật khớp.

Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường, giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% bệnh  nhân đái tháo đường, 10 – 20% bệnh nhân giang mai và 20 – 25% bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh. Ngoài ra triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh

Bệnh khớp do thần kinh ở giai đoạn muộn

Dấu hiệu bệnh rất đa dạng

Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh.  Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh đái tháo đường các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.

Cách phân biệt với các bệnh khớp khác

Chụp Xquang khớp bị tổn thương: Có thể phát hiện giai đoạn sớm hay muộn của bệnh. Trên Xquang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tinh thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…

Siêu âm khớp: Có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như đái tháo đường, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp Xquang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm. Ví dụ trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên Xquang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp. Tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên Xquang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên Xquang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có hướng điều trị thích hợp.

benh_khop_do_nguyen_nhan_than_kinh2

Tổn thương bàn chân ở người bệnh khớp do thần kinh trước và sau phẫu thuật

Bệnh khớp do thần kinh được điều trị như thế nào?

Điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Dùng các thuốc giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật – các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.

Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.

ThS. Bùi Hải Bình (Khoa cơ xương khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Cách tự giúp mình giảm nguy cơ thoái hóa khớp

Nhiều người lầm tưởng rằng những bước chân nặng nề khó nhọc, sự mỏi nhức của các khớp chỉ diễn ra ở tuổi già nhưng thực tế quá trình thoái hóa khớp diễn ra ngay cả khi chúng ta đang còn trẻ. Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hoá không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống…

Chất lượng cuộc sống bị giảm sút khi khớp bị đau

Thoái hoá khớp là hậu quả của mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp và thoái giáng tổ chức sụn khớp: quá trình thoái giáng sụn tăng lên trong khi quá trình tổng hợp sụn giảm sút; làm thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến hiện tượng sụn khớp bị nhuyễn hoá, nứt, loét và mỏng dần, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn. Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, tràn dịch ổ khớp, biến dạng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp, gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. Các khớp hay bị thoái hoá là những khớp phải chịu sức nặng của cơ thể (các khớp tải trọng) như khớp gối, khớp háng, khớp cột sống…

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_01

Diễn viên múa balê dễ bị chấn thương khớp

Truy tìm nguyên nhân

Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ cơ bản gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:

– Yếu tố di truyền: thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.

– Lão hoá: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.

– Yếu tố cơ học: các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp vai của các võ sĩ quyền anh; khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông;  khớp gối của vận động viên bóng rổ hoặc cử tạ, khớp cổ chân của diễn viên balê, vận động viên bóng đá; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ; thợ mỏ than, người đội đá, cát, đất…

– Yếu tố dinh dưỡng: thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.

– Các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_02

Thoái hóa khớp

Có thể trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?

Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ đã phân tích ở trên càng sớm càng tốt. Mục đích là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. Ngược lại các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:

Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc, giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì. Tập thể dục thường xuyên và vừa sức, như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30- 60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.

Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để đưa khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm những nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.

Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.

Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.

Dự phòng bằng sử dụng thuốc có tác dụng trên cấu trúc sụn khớp. Hiện các thuốc này mới được khuyến cáo dùng để điều trị bệnh thoái hoá khớp, chưa có các nguyên cứu về chỉ định dự phòng thoái hoá khớp (ở giai đoạn tiền lâm sàng: khi mà các triệu chứng thoái hoá khớp chưa biểu hiện trên lâm sàng).

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Hàng trăm viên sỏi trong khớp vai người bệnh được phát hiện

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vừa phát hiện và xử trí thành công ca bệnh hiếm gặp. Đó là một trường hợp có hàng trăm viên sỏi trong khớp vai. Điều đáng nói là quan điểm điều trị mới đã mang lại kết quả khả quan cho người bệnh.

Người bệnh bất ngờ

Đang ở tuổi thanh niên nhưng đã 5 năm nay bệnh nhân Nguyễn Văn Cường, 24 tuổi (Hà Tĩnh) luôn phải rón rén trong mọi sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là khi cần phải sử dụng đến vận động của cánh tay trái, khiến cuộc sống của anh gặp nhiều trở ngại. Ban đầu chỉ là mỏi, nhức, sau đó các cơn đau tăng dần và người bệnh cảm giác như khớp vai bị cứng lại. Khi mới có những dấu hiệu bệnh, anh Cường cho rằng có lẽ do mình vận động quá sức. Sau một thời gian, những cơn đau đến nhiều hơn và khó cử động hơn thì anh tìm đến những biện pháp điều trị dân gian và đông y như xoa bóp, bấm huyệt, chườm nóng… nhưng vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Anh Cường đi khám bệnh nhưng được chẩn đoán là đau khớp và dùng thuốc nhưng cũng không có kết quả tốt. Thời gian gần đây, các biểu hiện bệnh càng nặng nề, thậm chí anh còn cảm thấy khớp vai lạo xạo như xương bị vỡ ra.

hang_tram_vien_soi_trong_khop_vai_nguoi_benh_duoc_phat_hien

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ca bệnh sỏi trong khớp vai

Kết quả chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội khiến người bệnh rất bất ngờ, trong khớp vai của bệnh nhân có rất nhiều sỏi, ước tính đến hàng trăm viên. Bệnh nhân Cường cho hay, trước đây anh chỉ nghe nói đến sỏi trong gan, mật, thận, bàng quang… chứ chưa từng biết có sỏi trong vai bao giờ. Theo các bác sĩ, trong trường hợp này, dùng thuốc hầu như không có tác dụng, mà cần phải được xử trí bằng phẫu thuật để lấy hết hết sỏi ra mới trả lại sự vận động bình thường cho khớp vai.

Truy tìm nguồn gốc của các viên sỏi trong vai

ThS. Trần Trung Dũng, người phẫu thuật cho bệnh nhân Cường cho biết, những viên sỏi trong khớp vai người bệnh có đường kính từ 0,5 – 1,5cm, các bác sĩ cũng khá bất ngờ vì số sỏi nhiều quá, phải mất 1 giờ 30 phút mới lấy hết số sỏi ra, ước tính đến gần 200 viên. Những viên sỏi này là do u xương sụn màng hoạt dịch sinh ra. Màng hoạt dịch là màng trong cùng của bao khớp, có vai trò tiết dịch làm trơn bề mặt hoạt động của khớp. U xương sụn màng hoạt dịch xuất hiện là do sự phát triển bất thường của cấu trúc sụn trong màng hoạt dịch và lắng đọng canxi. Một số cấu trúc này phát triển lên chỉ dính vào màng hoạt dịch bằng một cái cuống giống như chùm nho, các quả nho là những hạt canxi lắng đọng. Trong quá trình phát triển, các hạt canxi này một phần vẫn nằm trong bao hoạt dịch, một phần khác rơi vào trong khớp. Bệnh lý này chỉ biểu hiện ở một khớp, như khớp háng, gối, vai. Khi các hạt canxi lắng đọng này rơi vào khớp sẽ cọ sát, chèn ép vào sụn, gây tổn thương bề mặt sụn khớp, thoái hóa khớp làm người bệnh đau, hạn chế vận động.

Phương pháp xử trí mới làm thay đổi chất lượng điều trị

Các bác sĩ cho biết, khi các hạt canxi trông như những viên sỏi từ màng hoạt dịch rơi vào trong khớp thì biện pháp điều trị tốt nhất là phẫu thuật lấy chúng ra. Trước đây, để xử trí cho những trường hợp bệnh này phải phẫu thuật mở để gắp hết sỏi trong khớp ra và cắt toàn bộ màng hoạt dịch để tránh u xương sụn tái phát. Tuy nhiên kết quả không được như mong đợi. Bởi khi cắt toàn bộ màng hoạt dịch sẽ làm cho vận động càng khó hơn do khớp không còn bộ phận làm trơn láng bề mặt, hơn nữa khi phẫu thuật mở phải mở đường rạch lớn ở quanh khớp gây đau nhiều cho người bệnh. Chính vì hạn chế của phẫu thuật mở mà trước đây nếu có gặp những ca bệnh như vậy thì các bác sĩ rất cân nhắc khi quyết định mổ.

Giờ đây, quan điểm điều trị cho bệnh lý này đã thay đổi. Các bác sĩ thực hiện phẫu thuật nội soi để lấy hết sỏi trong khớp ra nhưng vẫn giữ nguyên màng hoạt dịch để đảm bảo sự vận hành dễ dàng của sụn khớp. Phẫu thuật nội soi sẽ không phải mở đường mổ lớn, người bệnh sẽ nhanh chóng xuất viện. Người ta cũng tính đến khả năng tái phát của bệnh nhưng sự lắng đọng các hạt canxi sẽ phải trải qua thời gian dài, nếu đến một lúc nào đó các hạt sỏi rơi vào khớp thì quá trình tái thực hiện lấy sỏi ra cũng dễ dàng vì chỉ cần nội soi, tránh được nguy cơ dính như thực hiện phẫu thuật mở trước đây.

Theo ThS. Dũng, đây là bệnh hiếm gặp, người bệnh đi khám thường đã có dấu hiệu khá điển hình. Các dấu hiệu đau, vận động khó dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác của khớp, nếu để quá lâu có thể làm tổn thương khớp nặng nề. Trên phim Xquang thấy được các viên sỏi nhưng không định lượng được mức độ các viên sỏi này trong khớp nhiều hay ít. Nhưng hình ảnh trên cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ thì đánh giá được cả mức độ u xương sụn trong màng hoạt dịch và những hạt đã rơi vào khớp.

Lê Hảo
Theo SKĐS

Những sai lầm mắc phải trong điều trị bong gân

Bong gân là một trong những tổn thương rất hay gặp và sẽ để lại nhiều hậu quả nếu không điều trị đúng cách.Tuy nhiên trên thực tế thì hầu hết bệnh nhân thường chủ quan với chấn thương này và không tuân thủ đúng điều trị. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều cần thiết nhất khi mắc phải chấn thương này.

nhung_sai_lam_mac_phai_trong_dieu_tri_bong_gan

Bong gân xảy ra khi nào?

Bong gân chính là tổn thương dây chằng ở các khớp, đây là phần liên kết 2 xương lại với nhau, bong gân là một cách gọi dân gian với dạng chấn thương này. Các trường hợp dẫn đến chấn thương dây chằng thường là chơi thể thao, tai nạn giao thông, tai nạn trong sinh hoạt hằng ngày… Các vị trí dây chằng bị tổn thương thường gặp là khớp cổ tay, cổ chân, vai, khuỷu tay… gồm các mức độ khác nhau:

Týp 1: dây chằng bị giãn.

Týp 2: dây chằng bị đứt một phần.

Týp 3: dây chằng bị đứt hoàn toàn.

Xác định mức độ chấn thương đúng để điều trị đúng

Cần dựa vào các biểu hiện qua thăm khám tại chỗ, nếu người bệnh chỉ thấy sưng đau, cảm giác mất vững khi vận động thì dây chằng bị giãn hoặc có đứt một phần nhưng nếu vừa sưng đau, mất vững và vừa bầm tím thì rất có thể dây chằng đã bị đứt một phần hoặc hoàn toàn.

Để khẳng định chắc chắn hơn bệnh nhân cần được chụp Xquang, ngoài ra có thể phải làm siêu âm và chụp cộng hưởng từ.

Phải làm gì khi bị bong gân?

Đối với tổn thương dây chằng thì biện pháp điều trị bảo tồn là chủ yếu. Quan trọng nhất là cần thực hiện bất động khớp bị tổn thương đủ thời gian để dây chằng phục hồi trở lại. Có thể bất động bằng dùng nẹp y tế, dùng băng chun ép nhưng tốt nhất là bất động bằng đắp bột  mới đảm bảo được bất động tuyệt đối. Thời gian cần bất động thường là 4 tuần, với  người cao tuổi thì thời gian có thể lâu hơn một chút. Sau đó người bệnh có thể vận động nhẹ nhàng và sau 8 tuần có thể chơi thể thao bình thường.

Những trường hợp tổn thương dây chằng nhưng do không tuân thủ đúng chỉ định điều trị sẽ dẫn đến xơ hoá dây chằng gây đau mạn tính và khó vận động sẽ phải phẫu thuật để tạo hình lại dây chằng.

Đa số người bệnh sai lầm khi bị bong gân

Quan niệm của người bệnh thường rất chủ quan khi bị bong gân, họ cho rằng tai nạn bong gân không quan trọng, họ chỉ đến bệnh viện khi có kết hợp với gãy xương vì thế dẫn đến hàng loạt sai lầm do tự điều trị. Người dân thường dùng mật gấu, rượu, xoa cao vào nơi bị tổn thương, đây là sai lầm nghiêm trọng vì tổn thương dây chằng nghiêm cấm dùng các chất nóng tác động tại chỗ do những chất này gây chảy máu mạnh hơn. Trong khi tổn thương này cần dùng các thuốc gây lạnh và làm giảm đau tại chỗ như các loại thuốc dạng gel lạnh hay salonpas lạnh.

Các chất có tính nóng chỉ nên dùng trong trường hợp gãy xương vì tác dụng của sức nóng sẽ làm tăng tiết dịch, máu làm nhanh liền xương hơn. Nhưng tuyệt đối không nên xoa vào nơi dây chằng tổn thương vì  có thể dẫn đến teo cơ, cứng khớp sau này.

Do chủ quan với bệnh nên hầu hết người bệnh đều cố gắng vận động mà không tuân thủ yêu cầu phải cố định, điều này có thể dẫn đến đau dây chằng mạn tính, có dùng thuốc cũng không điều trị dứt điểm được.

Sử dụng các thuốc điều trị như thế nào?

Ngoài việc dùng băng chun ép, đắp bột để bất động người bệnh cần dùng các thuốc sau:

Thuốc giảm đau, dòng NSAIDs;  thuốc giảm phù nề, viêm như alphachoay; trong một số trường hợp tổn thương dây chằng lớn có thâm tím do đứt nhiều thì phải dùng kết hợp thuốc kháng sinh để phòng nhiễm khuẩn.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Đề phòng những tổn thương khớp gối

Đầu gối rất dễ bị chấn thương vì phải chịu sức nặng cơ thể trong khi lao động, chạy nhảy, đi lại. Động tác chủ yếu của khớp gối là gập và duỗi, còn cử động sang bên hoặc quay thì rất hạn chế. Vì vậy khớp gối dễ bị tổn thương bởi những chấn thương từ hai bên hay từ phía trước hoặc do vặn xoay. Tuy nhiên nếu biết bảo vệ, bạn sẽ có khớp gối chắc khỏe và giữ được vẻ đẹp của hai đầu gối.

de_phong_nhung_ton_thuong_khop_goi_01

Bảo vệ khớp gối

Tổn thương hay gặp ở khớp gối

Đau đầu gối: sau một chấn thương đầu gối bạn bị đau. Có khi người bệnh mô tả là đau buốt “đến tận tim”, hay đau “điếng người”. Dĩ nhiên là bạn phải xoa dầu và uống thuốc mới mong khỏi được sớm.

Lỏng khớp gối: là một chấn thương hay gặp trong thể thao, khi dây chằng chéo trước bị tổn thương, khớp gối sẽ lỏng. Nhưng lúc mới chấn thương, do cơ đùi hỗ trợ nên bạn chưa cảm nhận được bị lỏng gối. Thời gian sau cơ đùi bị teo không còn đủ sức gồng gánh cho dây chằng chéo trước, các dấu hiệu của lỏng gối mới xuất hiện. Bạn sẽ cảm thấy chân bị yếu khi đi lại, khó khăn khi phải đứng trụ bằng chân bị bệnh, đi nhanh trên đường không bằng phẳng dễ bị trẹo gối, cảm giác bất thường khi lên xuống cầu thang, khó điều khiển chân mình như ý muốn.

Trật khớp gối: nếu chấn thương mạnh bạn có thể bị trật khớp gối với các biểu hiện đau, không cử động được khớp gối, biến dạng khớp gối. Tổn thương có thể làm gãy xương, vỡ sụn, rách bao hoạt dịch, đứt rách dây chằng… Khi đó bạn phải điều trị tại bệnh viện bằng cách nắn chỉnh, phẫu thuật phục hồi khớp và dùng thuốc giảm đau, chống viêm.

Viêm khớp: có thể do các nguyên nhân chấn thương, nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn, bệnh tự miễn gây ra. Khớp gối bị sưng, nóng, đỏ đau, hạn chế vận động. Tùy nguyên nhân mà bạn phải điều trị bằng thuốc chống viêm, kháng sinh…

Thoái hóa khớp gối: là tình trạng lão hóa của khớp. Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… Mức độ lão hóa từng người có khác nhau, tùy thuộc điều kiện sống của mỗi người. Ba triệu chứng thường gặp ở bệnh thoái hóa khớp gối là đau khớp, sưng khớp và hạn chế cử động. Điều trị cần dùng các loại thuốc: giảm đau, chống viêm; bổ sung chất nhày cho khớp; thuốc tăng dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin; các thuốc bôi, xoa ngoài; các thuốc bổ gân, xương.

de_phong_nhung_ton_thuong_khop_goi_02

Tổn thương khớp gối trên phim Xquang

Chăm sóc đầu gối

Đầu gối quan trọng đối với sức khỏe và cả thẩm mĩ nên chúng ta cần phải biết cách chăm sóc để bảo vệ “sức khỏe” và vẻ đẹp cho đầu gối. Chúng tôi xin chia sẻ với các bạn những “bí quyết” sau đây:

Do đầu gối chỉ được che phủ bằng một lớp da, thiếu sự bảo vệ của bắp cơ và mỡ, nên không được cung cấp đầy đủ nhiệt trong điều kiện thời tiết lạnh giá của mùa đông. Vì vậy chúng ta cần giữ ấm cho đầu gối bằng cách mặc quần dài với chất liệu vải thun hay cotton dày, đi giầy tất để thường xuyên giữ ấm chân và đầu gối.

Để phòng tránh khớp gối bị xơ cứng, bạn cần thường xuyên tập cử động bằng các động tác như đứng lên, ngồi xuống, xoay tròn khớp gối theo chiều kim đồng hồ và ngược lại để đầu gối được tưới máu nuôi dưỡng đầy đủ, dịch khớp tiết đều đặn, giúp mọi hoạt động được nhịp nhàng. Buổi tối trước khi ngủ bạn có thể tập động tác duỗi gấp gối bằng cách ngồi tựa lưng ghế, kê một cái gối mềm cao chừng 10 – 15cm dưới khoeo chân, tập duỗi thẳng chân rồi lại hạ cẳng chân xuống ở tư thế vuông góc với đùi từ 15 – 20 lần.

Trước khi luyện tập thể dục thể thao hay tập quân sự, bạn nhất thiết phải tập khởi động toàn thân và khớp gối để khi vận động cơ thể nói chung và khớp gối nói riêng được trơn tru, thuận lợi. Bạn không nên đá chân cao một cách đột ngột để tránh tổn thương khớp gối. Trong tập luyện một số môn thể thao dễ gây chấn thương, bạn nên bó khớp gối bằng băng thun để bảo vệ.

Bạn cũng nên tránh các tư thế gây hại cho khớp gối như: tránh ngồi gác chéo chân; bỏ thói quen ngồi xổm vì gập gối quá mức tạo lực ép rất lớn lên mặt sụn khớp và sụn bánh chè, mặt sụn dễ mòn, dập, sẽ thoái hóa sớm. Động tác quỳ gối hay tập cử tạ mà gánh tạ quá thấp cũng gây hại khớp gối nặng hơn ngồi xổm. Khuân vật nặng hay đứng lâu, khớp gối chịu lực không thẳng trục gây đau vùng trước gối và làm cho khớp gối nhanh bị thoái hóa.

Bạn chỉ nên đi giầy dép có đế rộng, độ cao vừa phải, khoảng 3cm. Nếu đi giầy dép cao gót sẽ tăng áp lực lên khớp gối. Tránh thừa cân, vì thừa 1kg thì khớp gối phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần. Nếu bạn bị dị dạng chi dưới như chân chữ O, chữ X cũng cần phẫu thuật chỉnh hình cho trục đầu gối được thẳng.

Khớp gối được tạo thành bởi 3 xương: xương đùi, xương chày và xương bánh chè. Giữa mặt khớp lồi cầu đùi – mâm chày có cấu trúc sụn gọi là sụn chêm. Sụn chêm nằm chêm giữa mặt sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày có tác dụng giảm sóc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc khi vận động và giữ cho khớp gối được vững vàng. Hệ thống dây chằng bên trong, bên ngoài và hai dây chằng chéo trước và chéo sau nhằm giữ cho khớp gối vững chắc. Dây chằng chéo trước có tác dụng chính là giữ không cho mâm chày trượt ra trước và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau. Dây chằng bên ngoài giúp gối không bị vẹo trong, dây chằng bên trong giúp cho gối không bị vẹo ra ngoài. Toàn bộ khớp gối được bao bọc bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp để bôi trơn trong quá trình vận động.

ThS. Nguyễn Hoàng Lan
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Biểu hiện khớp trong các bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn dịch là những bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien01

Viêm khớp đối xứng bàn tay trên phim Xquang

Nguyên nhân của bệnh

Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau thuộc các chuyên khoa khác nhau.

Những biểu hiện lâm sàng

Rất phong phú từ đau mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương… Viêm khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp như viêm các khớp nhỏ và nhỡ ở bàn tay,bàn chân,viêm khớp mang tính chất đối xứng hai bên… Nhưng bệnh có đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng của các cơ quan bộ phận khác như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo máu (giảm một hay 3 dòng tế bào máu)… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi… Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ và da và cơ, viêm nút quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các kháng thể kháng nhân, kháng histon…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien02

Tràn dịch khớp gối

Tiến triển của bệnh

Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh…

Điều trị như thế nào?

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.  Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai do đó khi có thai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: xử lý gãy xương chậu

Gãy xương chậu chiếm tỷ lệ 1-2% trong tổng số gãy xương, là xương xốp nên khi gãy gây chảy máu nhiều. Gãy xương chậu chia ra 3 loại: gãy thành xương cánh chậu: di lệch ít, điều trị dễ; gãy ổ cối: điều trị khó, dễ biến chứng, ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của khớp hông sau này; gãy khung chậu: chảy nhiều máu, dễ sốc, hay kèm tổn thương cơ quan nội tạng trong khung chậu gây nguy hiểm đến tính mạng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_xu_ly_gay_xuong_chau01

Kết hợp xương bằng nẹp và vít điều trị gãy xương chậu

Đặc điểm giải phẫu khung chậu

Khung chậu có hình như một cái chậu thắt ở giữa, được cấu tạo bởi 2 xương chậu, xương cùng và xương cụt. Xương chậu gồm 3 xương hợp lại là xương chậu, xương ngồi, xương mu, tiếp giáp 3 xương là ổ cối, phía trước là khớp mu, phía sau khớp với xương cùng của cột sống gọi là khớp cùng chậu.

Nguyên nhân gãy xương chậu là gì?

Thường gặp gãy xương chậu do ngã: ngã ngồi gây gãy ụ ngồi, gãy ngành cánh chậu (gãy kiểu Duverney); do chấn thương: xương chậu bị ép lại trong trường hợp xe đè qua hay bị vật nặng đè ép, rơi từ độ cao lớn, do sập hầm, vùi lấp, tai nạn giao thông; vận cơ quá mức thường gặp ở người chơi thể thao, luyện tập võ thuật, động tác đột ngột trong lao động: gãy gai chậu trước trên do cơ căng cân đùi và cơ may kéo mạnh, gãy gai chậu trước dưới do cơ thẳng trước kéo, gãy cánh chậu do cơ mông nhỡ kéo.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_xu_ly_gay_xuong_chau02

Những tổn thương gãy thường gặp

Gãy khung chậu: sau chấn thương bệnh nhân thấy sưng nề, tụ máu vùng gãy xương;  không nâng được chân lên khỏi mặt giường; ép giữa khung chậu thấy đau chói. Triệu chứng tổn thương các cơ quan trong khung chậu và trong ổ bụng: rách, đứt niệu quản, vỡ bàng quang, đứt niệu đạo, tổn thương âm đạo, tử cung, vòi buồng trứng, mạch máu, thần kinh, vỡ thận, gan, lách, thủng ruột non, ruột già. Chụp Xquang thẳng nghiêng thấy hình ảnh gãy xương: gãy cung trước, cung sau, trật khớp mu, trật khớp cùng – chậu.

Gãy thành chậu, rìa chậu: Bệnh nhân không co gấp đùi vào bụng được, bất lực vận động, đau nhiều ở vùng gãy nếu sưng nề lớn; ấn đau tại chỗ: ụ ngồi, gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, xương cùng, xương cụt; ép khung chậu đau; nếu  gãy xương cùng, ngành mu chậu thì thăm âm đạo, trực tràng đau. Chụp Xquang xác định thể gãy thành chậu: gãy gai chậu trước trên và trước dưới; gãy dọc cánh chậu; gãy ngang cánh chậu kiểu Duverney; gãy ngang xương cùng; gãy ngành mu – chậu; gãy ụ ngồi; gãy ngành ngồi – chậu; gãy ngang xương cụt.

Gãy ổ cối: Bệnh nhân đau nhiều trong khớp háng; không đứng, không cử động được khớp háng; nếu làm cử động khớp háng bệnh nhân sẽ rất đau; vị trí mấu chuyển lớn có thể bị di lệch khi trật khớp háng trung tâm. Chụp Xquang phát hiện gãy rìa trên, rìa dưới ổ cối; gãy rìa ổ cối mảnh lớn gây bán trật khớp háng nhẹ; gãy đáy ổ cối có chỏm xương đùi lọt qua gây trật khớp háng trung tâm.

Chẩn đoán phân biệt: Gãy xương chậu cần phân biệt với các trường hợp: đụng giập phần mềm khung chậu; trật khớp háng; gãy cổ xương đùi.

Biến chứng: Gãy xương chậu có thể có các biến chứng như sốc do bệnh nhân bị mất máu nhiều; viêm phổi do bệnh nhân phải nằm lâu ngày, viêm đường tiết niệu; bán trật khớp háng; trật khớp háng trung tâm; tổn thương các cơ quan trong khung chậu; viêm phúc mạc giả do máu tụ sau phúc mạc; can lệch trong các trường hợp gãy ổ cối, gãy khung chậu di lệch lớn; thoái hoá khớp háng; hoại tử chỏm xương đùi.

Cách xử lý

Sơ cứu: Nếu gãy thành chậu có thể dùng thuốc giảm đau tại chỗ và toàn thân; vận chuyển nhẹ nhàng trên võng đến bệnh viện. Trường hợp gãy khung chậu chỉ dùng thuốc giảm đau tại chỗ, không dùng thuốc giảm đau toàn thân khi chưa rõ tổn thương kết hợp; vận chuyển bệnh nhân nhẹ  nhàng trên ván cứng về cơ sở điều trị.

Điều trị: Nếu bệnh nhân bị sốc phải chống sốc tích cực. Đồng thời  phải điều trị các tổn thương kết hợp.

+ Gãy thành chậu: thường điều trị bảo tồn, bệnh nhân phải nằm bất động trên giường từ 2-4 tuần. Đối với gãy Duverney, do di lệch lớn nên phải nắn chỉnh, băng dính tại chỗ và bất động trên giường 4-6 tuần. Nếu gãy xương cụt: nắn chỉnh qua trực tràng hoặc phẫu thuật. Gãy gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới cần phẫu thuật khâu dính lại, kết hợp xương bằng vít. Gãy ổ cối kết hợp xương bằng đinh Kirschner qua lồi cầu xương đùi kéo liên tục với trọng lượng 8 – 10kg trong 10 – 14 tuần.

+ Gãy khung chậu: điều trị bảo tồn nếu gãy một cung trước hoặc sau ít di lệch, cho bệnh nhân nằm bất động 5-6 tuần. Gãy hai cung, gãy kiểu Malgaigne ít di lệch, cho bệnh nhân nằm bất động trên giường, gác chân trên giá Braun 4-8 tuần. Gãy khung chậu di lệch: nắn chỉnh bằng xuyên đinh Kirschner qua lồi cầu xương đùi kéo liên tục, chân đặt trên giá Braun kéo trọng lượng bằng 1/7 trọng lượng cơ thể liên tục trong 10 -14 tuần. Có thể để người bệnh để mông trên võng vải bắt chéo giúp cho diện  gãy ép vào nhau. Bệnh nhân cần tập vận động khi liền xương. Dùng phương pháp phẫu thuật đối với các trường hợp: gãy cung trước di lệch nhiều như ngành mu – chậu, kết hợp xương bằng nẹp vít, đinh chữ U; gãy toác khớp mu: kết hợp xương bằng buộc vòng dây thép, nẹp vít cố định khung chậu bằng khung cố định ngoài; gãy  thành sau hoặc gãy toác dọc cánh chậu: kết hợp xương bằng nẹp vít.

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Bệnh khớp trong mùa rét

Thời tiết lạnh là lý do khiến nhiều bệnh lý cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hoá khớp tiến triển. Trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn, gây co các mạch máu ngoại vi làm giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp gây các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng. Xin giới thiệu một số bệnh khớp thường gặp và chịu ảnh hưởng nhiều khi thời tiết giá lạnh.

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim, hay gặp ở lứa tuổi học đường, xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn bêta nhóm A. Trẻ có biểu hiện ban đầu như viêm họng, sốt cao. Sau vài tuần kể từ khi bị viêm họng, trẻ có thể xuất hiện các viêm khớp cấp do thấp. Viêm khớp có tính chất xảy ra đột ngột, hay gặp ở các khớp to vừa như khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng thường khỏi nhanh hơn khi dùng thuốc chống viêm. Trong khi biểu hiện ở khớp thường khỏi nhanh, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng thì biểu hiện ở tim thường nặng nề và là biểu hiện nguy hiểm nhất của bệnh. Ngoài các triệu chứng ở khớp, ở tim… trẻ còn có thể có các triệu chứng thần kinh như múa giật, liệt, hôn mê; đau bụng, tiểu ra máu…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_benh_khop_trong_mua_ret

Tắc mạch đầu chi hay gặp trong mùa lạnh

Viêm khớp dạng thấp là bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả hai bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay… một hoặc vài tiếng, mới giảm bớt cảm giác cứng khớp. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Đau vai gáy, đau thắt lưng, viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương trong chứng bệnh đau cân cơ (fibromyalgia). Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính… Do trời lạnh, các cơ thưòng co lại để sinh nhiệt (rét run), tư thế “so vai, rụt cổ” do các cơ vùng gáy co lại để hạn chế tối đa trao đổi nhiệt với môi trường lạnh xung quanh. Các tư thế này phải duy trì trong thời gian dài làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây mệt và mỏi cơ. Có thể đau một hay hai bên bả vai, hạn chế các động tác của cột sống như cúi, ưỡn, nghiêng… Các triệu chứng hay đi kèm là trạng thái mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ…

Co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể. Khi tiếp xúc với lạnh, đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức.  Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hoá, xơ hoá phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Thoái hoá khớp là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hoá của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hoá, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động.  Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Phòng bệnh: Ngoài các biện pháp bảo vệ sức khoẻ chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình, các bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần lưu ý là khi trời lạnh, nhất là kèm theo mưa phùn thì phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hoà nhiệt độ (nếu có điều kiện). Một đặc điểm quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp, duy trì lâu dài, hàng năm, có khi suốt đời.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Nổi lo biến chứng của bệnh gút

Khi mắc bệnh gút acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch khớp gây tổn thương khớp. Ngoài ra acid uric còn có thể lắng đọng ở các cơ quan khác như thận, tổ chức dưới da gây nên sỏi thận và hình thành các hạt tophi. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, bệnh gút đã trở nên rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ tư  trong 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất.

Các biến chứng và hậu quả của bệnh gút

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử  vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp, là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tophi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận: sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, có nguy cơ dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp, từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng  thì việc điều trị gút cũng có thể gây nên  tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.

noi_lo_bien_chung_cua_benh_gut

Tinh thể acid uric lắng đọng trong khớp ngón chân cái

Khó khăn khi điều trị bệnh gút

Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol có thể gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với  nhiều thuốc chữa gút như colchicin và  allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hoá, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc Đông y và Tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.

Nguyên tắc điều trị bệnh gút

Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó thì mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và dùng thuốc. Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hoá lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp…

Cách phòng tránh bệnh gút

Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Bệnh nhân cần nhận thức rằng ăn uống  không khoa học là một yếu tố thức đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát, vì vậy cần phải hạn chế ăn nhậu quá mức. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân nếu béo phì và uống nhiều nước, đặc biệt là nước khoáng kiềm. Do vậy bệnh nhân gút cần tuân thủ chế độ ăn kiêng. Thứ nhất, lượng thịt ăn hàng ngày không nên quá 150g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc. Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng. Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả. Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh… vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn. Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thậm chí cả rượu vang, rượu thuốc.  Bệnh nhân cần tích cực uống nhiều nước, 1,5-2 lít nước mỗi ngày. Đặc biệt là nên uống nước khoáng kiềm để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu. Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như: lạnh, lao động quá sức, chấn thương, stress… Ngoài ra bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu,  corticoid, aspirin.

TS.BS.Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Cách xử trí khi bị gãy xương

Trong khi sinh hoạt, lao động, tập thể thao… nếu sơ ý, tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong số các tai nạn, thì gãy xương khá phổ biến. Vậy nếu không may bị gãy xương thì phải xử trí thế nào trước khi đưa nạn nhân đến bệnh viện? Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số loại gãy xương hay gặp và cách xử trí.

Gãy xương đòn: Trong giải phẫu cơ thể người, xương đòn còn được gọi là xương quai xanh là một trong những xương của thành ngực trước. Nó là một xương dẹt cong hình chữ S, một đầu xương tiếp khớp với xương ức, đầu còn lại tiếp khớp với xương bả vai. Đây là một xương nhỏ nhưng có vai trò quan trọng trong việc vận động của cánh tay, đặc biệt là hoạt động mang vác… Dấu hiệu gãy xương đòn rất dễ nhận ra bởi sự biến dạng xương và mất vận động nâng, co vai. Trong trường hợp này cần cho nạn nhân ưỡn ngực, hai vai kéo về phía sau rồi chèn bông hoặc băng dưới hai hố nách và hai bả vai. Tiếp đó đặt nẹp hình chữ T sau vai (nhánh dài dọc theo cột sống và phải dài qua thắt lưng; nhánh ngang to bản hơn và dài qua vai, bảo đảm áp vào vai) và quấn băng vòng tròn từ nách qua vai, buộc nút ở bả vai và quấn băng vòng quanh thắt lưng. Trường hợp không có nẹp thì dùng băng số 8. Việc này cần hai người thực hiện. Người thứ nhất nắm 2 cánh tay nạn nhân nhẹ nhàng kéo ra phía sau bằng một lực vừa phải, không đổi trong suốt thời gian người thứ hai thực hiện việc băng kiểu số 8 để cố định xương đòn. Trong cách làm trên cần lưu ý đệm lót bông hoặc vải mềm ở hai hố nách cho nạn nhân để tránh gây cọ sát làm nạn nhân đau khi băng.

cach_xu_tri_khi_bi_gay_xuong

Gãy xương tay: Tay có 3 xương dài: một xương ở phần trên cánh tay và hai xương ở cẳng tay. Đây là các xương thường dễ bị gãy. Gãy xương cánh tay rất đau vì ở đó có nhiều dây thần kinh.

Cách xử trí khi bị gãy:

– Nếu gãy xương cánh tay, để cánh tay sát thân mình, cẳng tay vuông góc với cánh tay (tư thế co). Đặt 2 nẹp, nẹp trong từ hố nách tới quá khuỷu tay, nẹp ngoài từ quá bả vai đến quá khớp khuỷu. Có thể dùng nẹp Cramer làm thành góc 90 độ đỡ cả cánh tay và cẳng tay băng lại. Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp, một ở trên và một ở dưới ổ gãy. Có thể dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực, cẳng tay vuông góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay, bàn tay để ngửa. Sau đó dùng băng rộng bản băng ép cánh tay vào thân mình. Thắt nút phía trước nách bên lành.

– Nếu gãy xương cẳng tay: Để cẳng tay sát thân mình, cẳng tay vuông góc cánh tay. Lòng bàn tay ngửa. Người cứu dùng hai nẹp, nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu tay, nẹp ngoài từ đầu các ngón tay đến quá khuỷu tay. Tiếp đó dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp bàn tay và thân cẳng tay (một ở trên và một ở dưới ổ gãy) rồi dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực. Nếu không thể gấp khuỷu tay được thì không nên cố gắng dùng sức để gấp khuỷu tay mà yêu cầu nạn nhân dùng tay lành đỡ tay bị gãy ở vị trí đó, rồi người cứu đặt một miếng đệm dài vào giữa tay bị thương và thân người bị nạn và buộc tay bị thương vào cơ thể bằng 3 dải băng rộng bản ở quanh cổ tay và đùi, quanh cánh tay và ngực, quanh cẳng tay và bụng. Tiếp đó cho nạn nhân nằm xuống và đặt tay bị thương dọc theo thân.

Gãy xương chân: (xương đùi và xương cẳng chân)

– Gãy cổ xương đùi: là một trong những loại gãy xương hay gặp, nhất là những người cao tuổi và dễ bị bỏ qua. Nếu gãy cổ xương đùi không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới tử vong do bệnh nhân bị sốc do đau, ngoài ra gãy cổ xương đùi làm chân không cử động được phải nằm liệt một chỗ gây nên những biến chứng như loét da vùng lưng, viêm phổi, nhiễm trùng tiểu…

Cách xử trí nạn nhân bị gãy xương đùi: Cho nạn nhân nằm bất động, giữ nguyên chân gãy theo tư thế bàn chân vuông góc với cẳng chân. Sau đó cố định bằng 3 nẹp gỗ, một từ hố nách đến gót chân, hai từ vai đến quá gót chân, ba là từ bẹn đến quá gót chân. Sau đó buộc cố định nẹp ở các vị trí trên, dưới ổ gãy, cổ chân, ngang ngực, ngang hông, dưới gối. Lưu ý phải nệm lót tốt ở phần giữa 2 đầu gối và  cổ chân, cố định chân xong nên nâng chân cao lên một chút để giảm sự sưng nề và khó chịu cho người bệnh rồi chuyển đến khoa chấn thương.

– Gãy xương cẳng chân: Chân có 2 xương dài là xương chày (xương  ống chân) nằm sát bề mặt và nếu bị gãy có thể làm rách da tạo nên gãy xương hở. Xương mác thì nhỏ hơn và khó gãy hơn nên khi gãy cũng ít ảnh hưởng tới khả năng đi lại của người bệnh. Hầu hết khi bị tai nạn, các xương dài ở vùng chân dễ bị gãy hơn.

Cách xử trí khi bị gãy xương dài: Đặt bệnh nhân ở tư thế thoải mái nhất và bất động. Kiểm tra xem vết gãy đó có bị hở hay không, nếu hở phải làm sạch vết thương. Sau đó nẹp cố định bằng 2 nẹp trong và ngoài từ giữa đùi đến quá gót chân rồi chuyển người bệnh đến khoa chấn thương để được xử trí tiếp.

BS. Nguyễn Thanh Xuân
Theo SKĐS

Bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn

Viêm khớp nhiễm khuẩn hay viêm khớp sinh mủ là viêm khớp do vi khuẩn sinh mủ không đặc hiệu, không phải do lao, phong, nấm, ký sinh trùng hay virut gây nên mà nguyên nhân chính là do tụ cầu vàng (50-70% trường hợp), liên cầu, phế cầu, lậu cầu, não mô cầu… Có khoảng 10% trường hợp nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn, thường gặp sau chấn thương.

Đường lây nhiễm bệnh

benh_viem_khop_nhiem_khuan

Tụ cầu vàng gây bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn đến 70% trường hợp.

Phần lớn các trường hợp mắc bệnh do vi khuẩn lan truyền theo đường máu xâm nhập vào khớp. Có thể theo đường kế cận từ nhiễm khuẩn xương hoặc phần mềm cạnh khớp. Hoặc nhiễm khuẩn trực tiếp sau chấn thương, sau tiêm khớp hoặc sau phẫu thuật. Trong trường hợp nhiễm khuẩn theo đường máu, vi khuẩn từ các mao mạch màng hoạt dịch khớp xâm nhập vào màng hoạt dịch, bám dính tại chỗ gây phản ứng tập trung bạch cầu trung tính sau ít giờ. Trong vòng 48 giờ sụn khớp bị tổn thương do vi khuẩn kích thích các tế bào sụn giải phóng các protease, các cytokin, do sự xâm nhập trực tiếp của vi khuẩn và các tế bào viêm vào sụn. Trên mô bệnh học có thể tìm thấy vi khuẩn ở lớp bề mặt màng hoạt dịch và sụn khớp cũng như các ổ áp-xe nhỏ trên bề mặt màng hoạt dịch khớp, sụn khớp, thậm chí cả ở lớp xương dưới sụn trong các trường hợp nặng. Màng hoạt dịch tăng sinh tạo thành hình ảnh màng máu (pannus) phủ trên bề mặt sụn khớp. Vi khuẩn cũng gây viêm tắc các mạch máu màng hoạt dịch.

Chẩn đoán bệnh dựa vào những biểu hiện nào?

Bệnh nhân có thể có tiền sử khỏe mạnh, tuy nhiên có tỷ lệ cao các trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn xảy ra trên nền bệnh nhân mắc các bệnh như viêm khớp dạng thấp, bệnh lý mạch máu, suy giảm miễn dịch, đái tháo đường, dùng corticoid kéo dài, loét da do viêm mạch, do tì đè…

Vị trí tổn thương: 90% bệnh nhân có tổn thương một khớp, trong đó khớp gối hay gặp nhất, ít gặp hơn là các khớp háng, vai, cổ tay, cổ chân, khuỷu tay… Các khớp nhỏ của bàn tay hay bàn chân thường gặp trong những trường hợp tiêm tại chỗ trực tiếp hoặc do bị động vật cắn. Trong trường hợp bệnh nhân có tiền sử dùng thuốc truyền đường tĩnh mạch, tỷ lệ viêm khớp tại cột sống, khớp cùng chậu, khớp ức đòn cao hơn viêm các khớp ngoại biên. Viêm nhiễm khuẩn nhiều khớp hay gặp nhất ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Triệu chứng tại khớp: Viêm khớp biểu hiện bởi các triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau. Có thể tràn dịch khớp, co cơ, hạn chế vận động. Tuy nhiên trong trường hợp khớp nằm ở vị trí sâu như khớp háng hoặc khớp cùng chậu thì khó phát hiện sưng khớp. Có thể gặp viêm mô tế bào, viêm bao thanh dịch, cốt tủy  viêm cấp với các triệu chứng lâm sàng tương tự. Tuy nhiên các bệnh cảnh trên có thể phân biệt với viêm khớp nhiễm khuẩn ở đặc điểm thường bệnh nhân không hoặc hạn chế vận động khớp.

Triệu chứng ngoài khớp: Hội chứng nhiễm khuẩn với sốt cao thường trên 38oC, có khi đến 40oC hoặc hơn, có khi rét run. Tuy nhiên sốt cao không thường gặp ở những bệnh nhân già yếu, suy giảm miễn dịch hoặc đang mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.

Ngoài ra, có thể chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng cận lâm sàng như tế bào máu ngoại biên, chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, soi tươi, xét nghiệm dịch khớp…

Các bệnh dễ nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn

Viêm khớp do gút cấp: Viêm khớp do gút cấp triệu chứng viêm rầm rộ, sưng nóng đỏ đau đột ngột, thường vị trí ở các khớp chi dưới, đặc biệt bàn ngón chân. Tuy nhiên khi hỏi tiền sử thường có những đợt viêm tương tự, thời gian kéo dài không quá 2 tuần, thường khởi phát sau bữa ăn thịnh soạn. Điều trị bằng colchicin hoặc chống viêm giảm đau không steroid đáp ứng nhanh.

Trường hợp viêm khớp do lao: Triệu chứng viêm kém rầm rộ, sưng nóng đỏ đau ít. Triệu chứng toàn thân kín đáo (sốt nhẹ về chiều, gầy sút, nổi hạch ngoại biên…), có thể gặp các tổn thương lao ở vị trí khác (phổi). Các xét nghiệm về lao dương tính.

Với trường hợp viêm khớp do virut, nấm, kí sinh trùng: dựa vào các triệu chứng lâm sàng, đặc biệt nuôi cấy phân lập nguyên nhân gây bệnh. Ngoài ra cần phân biệt với một số bệnh khác như viêm khớp phản ứng (soi, cấy dịch khớp luôn âm tính), cốt tủy viêm (có hình ảnh tổn thương xương trên Xquang, chụp cắt lớp vi tính…).

Điều trị bệnh

Người bệnh cần được chẩn đoán bệnh sớm, dùng ngay kháng sinh đường tĩnh mạch, dẫn lưu mủ khớp khi cần thiết, bất động khớp tương đối có thể ngăn chặn được tình trạng hủy hoại khớp. Thực hiện ngay việc cấy máu, lấy dịch khớp, làm xét nghiệm dịch khớp nhanh bằng phương pháp soi tươi nhuộm gram tìm vi khuẩn. Căn cứ kết quả soi tươi nhuộm gram kết hợp với các yếu tố nguy cơ dự đoán chủng vi khuẩn từ đó lựa chọn ngay kháng sinh thích hợp – trước khi có kết quả cấy máu hoặc dịch khớp (thường có sau 3-5 ngày hoặc lâu hơn tùy loại vi khuẩn). Lưu ý việc sử dụng kháng sinh tiêm trực tiếp vào khớp cần tránh vì tác dụng không tốt hơn, thậm chí có thể gây nên tình trạng viêm khớp do tinh thể thuốc.

Dự phòng: Thực hiện vô khuẩn tuyệt đối khi làm các thủ thuật, phẫu thuật tiến hành tại khớp. Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại các cơ quan khác, đặc biệt tại da, phần mềm và xương.

ThS.BS. Bùi Hải Bình
Theo SKĐS

Luyện tập đề phòng đau vai gáy

Ngồi làm việc trước màn hình vi tính của các công chức, ngồi học kéo dài nhiều giờ của học sinh sinh viên, làm việc ở tư thế ngồi theo dây chuyền công nghiệp của công nhân… dễ dẫn tới cảm giác căng thẳng, đau vai gáy, đau lưng mỏi mắt. Để giúp phòng tránh và cải thiện những rắc rối trên, người lao động cần phải bảo đảm tư thế làm việc và luyện tập đúng để nâng cao hiệu quả lao động, học tập và sức khỏe.

Tại sao cần phải bảo đảm tư thế đúng khi làm việc?

Để tiết kiệm năng lượng cho cơ.

– Đối với lao động cơ bắp: Lượng cấp máu cho cơ đáp ứng đủ theo nhu cầu do cơ co và được thư giãn sau mỗi cử động, trong khi đó lao động tĩnh, cơ phải co liên tục để duy trì tư thế, các sợi cơ khi co sẽ ép vào thành mạch – hiệu ứng bơm cơ sẽ ngăn cản máu đến cơ nên máu đến cơ ít hơn, cơ buộc phải lấy thêm năng lượng để hoạt động từ chuyển hóa yếm khí, acid lactic sẽ ứ đọng trong cơ dẫn tới đau cơ.

luyen_tap_de_phong_dau_vai_gay

 Tư thế ngồi đúng (trên) và sai (dưới) khi ngồi trước máy tính.

– Giảm lực ép, tỳ đè lên cột sống: Cột sống của bạn giống như cột trụ chống đỡ cho cơ thể, bao gồm từ 32-33 đốt sống. Các đốt sống trên và dưới khớp với nhau tạo nên ống sống để bảo vệ tủy sống, ở giữa 2 đốt sống là đĩa đệm có tác dụng như bộ phận giảm xóc cho cơ thể (giảm sức ép lên cột sống trong khi lao động và trong sinh hoạt hằng ngày). Đĩa đệm được cấu tạo bằng một nhân nhày ở giữa, bao bọc xung quanh là vòng xơ.

Đĩa đệm được dinh dưỡng theo kiểu thẩm thấu. ban ngày đĩa đệm phải làm việc, bị mất nước, ban đêm được nghỉ ngơi (ở tư thế nằm lực ép giảm tạo thuận lợi cho việc tái hấp thu nước). Nếu chúng ta không biết bảo vệ cho đĩa đệm (chọn tư thế đúng, tránh tư thế có hại cho đĩa đệm, nghỉ ngơi hợp lý) thì đĩa đệm chóng bị thoái hóa, khi đó chức năng giảm xóc giảm sẽ kéo theo hàng loạt các rắc rối như thoát vị đĩa đệm, thoái hóa khớp sau… gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Lực ép lên cột sống thay đổi theo tư thế của bạn, lực ép ở tư thế ngồi cao hơn rất nhiều so với tư thế nằm và đứng. Trong các kiểu ngồi làm việc, tư thế ngồi mà phải duy trì giữ hai tay không có điểm tựa thì lực ép lên đĩa đệm là cao nhất. Tư thế ngồi tay có điểm tựa là tư thế được chấp nhận, vì bảo đảm cân bằng để làm việc và lực ép lên cột sống thấp, ở tư thế này, lưng được tựa, cẳng tay có điểm tựa.

Một số tư thế đúng để phòng tránh đau vai gáy

– Tư thế làm việc đúng trước máy vi tính:

Vai: Được thả lỏng, cẳng tay luôn ở trên mặt phẳng ngang, vuông góc với khuỷu, cổ tay thẳng trục với cẳng tay.

Cổ: Giữ ở vị trí trung tính, thẳng trục với cột sống.

Lưng: Giữ thẳng, ghế phải có tựa cho vùng thắt lưng.

Khi ngồi, tránh tư thế cong lưng, cần giữ lưng thẳng, cổ thẳng trục với chân, nên kê một gối mỏng ở đoạn thắt lưng. Nên giải lao khi phải ngồi kéo dài, cứ 45-60 phút giải lao một lần.

– Tư thế đúng khi lái xe: Khi lái xe, giữ thẳng lưng, kê gối ở đoạn thắt lưng, đầu và cổ giữ thẳng trục với thân, di chuyển ghế ngồi gần volant sao cho vai cánh tay không bị căng. Khi lái xe khoảng 150-200km nên nghỉ 1 lần.

– Tư thế nằm: Khi nằm không được gối quá cao, làm cột sống cổ không thẳng trục với thân. Nên gối phần đầu và cổ, không được kê gối xuống dưới vai.

– Khi làm việc nhà: Tránh các động tác ngửa cổ trong sinh hoạt hằng ngày như lau cửa, mắc quạt trần, lau đèn, lấy đồ trên cao, để giảm căng thẳng cho cổ vai hãy sử dụng ghế, thang khi làm những công việc này.

Một số động tác luyện tập khi bị đau vai gáy

– Ngồi thư giãn trên ghế, thẳng lưng, đầu, cổ. Xoay đầu từ từ sang 2 bên. Nghiêng đầu sang phải và trái. Thực hiện từ 3-5 lần.

– Ngồi thư giãn trên ghế, nhún 2 vai lên cao, hạ thấp vai và thư giãn, nhắc lại 3-5 lần.

– Ngồi thư giãn trên ghế, xoay vai từ từ ra trước, ra sau rồi xoay tròn.

– Đứng dựa lưng vào tường, chân rộng bằng hông, gót chân cách tường 2-5cm. Hai bàn tay đặt sau gáy, khuỷu hướng ra trước, sau đó dang 2 cánh tay.

– Đứng sát tường, đặt quả bóng cao su lên vùng cơ cổ và vai (không đặt lên cột sống và xương bả vai), từ từ lăn bóng từng bên (trái, phải) 2-3 lần.

Khi phải ngồi làm việc kéo dài bạn nên tập thêm các động tác co chân và bàn chân để cải thiện tình trạng căng cơ và “xuống máu chân” (tăng cường lưu thông máu). Để tập chân và bàn chân bạn có thể ngồi duỗi thẳng đầu gối; ngồi nâng bàn chân khỏi nền nhà; đứng thẳng, tỳ sát lưng vào tường, duỗi thẳng gối, đưa chân ra phía trước; đứng, tay vịn ghế, đá chân ra phía ngoài, đưa chân ra phía sau.

ThS. Ngân Thị Hồng Anh
Theo SKĐS

Làm gì khi cơn gút tái phát

Gút là một bệnh do rối loạn chuyển hoá các nhân purin, với đặc trưng là tăng acid uric trong máu và lắng đọng các tinh thể monosodium urat ở các tổ chức, các mô biểu hiện bằng viêm khớp; tích lũy vi tinh thể ở khớp, xương, mô phần mềm, sụn khớp, được gọi là tophi; lắng đọng vi tinh thể ở thận, gây bệnh thận do gút; sỏi tiết niệu. Gút là một bệnh liên quan rất nhiều đến chế độ ăn uống, sinh hoạt, thường gặp ở nam giới và tuổi trung niên. Tuy bệnh được biết đến từ rất lâu nhưng thực tế việc điều trị bệnh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là khi gút tái phát.

lam_gi_khi_con_gut_tai_phat

Vì sao phải dự phòng bệnh gút tái phát?

4 nguyên nhân chính gây tăng acid uric máu là: Do tăng tổng hợp purin và tăng cung cấp qua đường ăn uống; tăng dị hoá các acid nhân nội sinh (tiêu tế bào, dùng thuốc điều trị ung thư); giảm thải trừ acid uric qua thận (suy thận); dùng thuốc: lợi tiểu, pyrazynamid, corticoid, aspirin liều thấp.

Điều trị cơn gút cấp thường không khó nhưng dự phòng tái phát bệnh, tránh những đợt viêm khớp tái phát và ngăn chặn bệnh chuyển sang mạn tính thường không dễ. Rất nhiều bệnh nhân và ngay cả nhiều thầy thuốc chỉ điều trị viêm khớp cấp tính, sau vài ngày hết viêm khớp tưởng đã khỏi nên không điều trị duy trì tiếp theo. Hậu quả là sau một thời gian ngắn, một đợt viêm khớp cấp tính mới lại xuất hiện và bệnh diễn biến nhanh chóng đến gút mạn tính với nhiều biến chứng nặng nề như phá hủy khớp, nổi u cục dưới da (cục tophi), sỏi thận, suy thận… Do đó việc điều trị tốt dự phòng cơn gút tái phát đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm hạn chế tối đa tác hại của bệnh đối với hệ xương khớp và hệ tiết niệu.

Biện pháp điều trị cần thiết

Mục đích của điều trị dự phòng cơn gút tái phát là hạ thấp acid uric xuống dưới mức bình thường, bằng cách tác động trên các nguyên nhân gây bệnh kể trên thông qua các biện pháp sau:

– Chế độ ăn cho bệnh nhân gút là ăn giảm đạm (100-150g thịt/ngày), ăn giảm calo, giữ trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý. Đảm bảo uống đủ nước để thận có thể lọc tốt (2-2,5l/ngày). Kiềm hoá nước tiểu để tăng đào thải acid uric qua thận bằng các loại nước khoáng có kiềm cao hoặc nước kiềm 14%.

– Những thực phẩm không nên ăn là thức ăn giàu purin (phủ tạng động vật như gan, óc, tim, lòng, bầu dục; một số loại nấm, măng tây, tôm, cua, cá béo, cá hộp, thịt bê, đậu hạt các loại…). Có thể ăn trứng, sữa, hoa quả. Bỏ thức uống có cồn như rượu, bia…

– Tránh lao động quá mức, tránh các yếu tố có thể khởi phát cơn gút như chấn thương…

– Khi cần phải phẫu thuật hoặc mắc một bệnh toàn thân nào đó, phải chú ý theo dõi sát lượng acid uric máu để điều chỉnh kịp thời.

– Cố gắng loại bỏ mọi thuốc có thể làm tăng acid uric máu nếu có thể (corticosteroid, lợi tiểu…) hoặc thay bằng các thuốc khác.

– Nếu chế độ ăn đạt hiệu quả, tức là không có các cơn gút thường xuyên, acid uric máu dưới 60 mg/l (360 mmol/l), không có hạt tô phi và tổn thương thận thì chỉ cần duy trì chế độ sinh hoạt và ăn uống như trên là đủ. Nếu không, phải dùng thêm các thuốc làm giảm acid uric máu.

Biện pháp dùng thuốc

– Colchicin: Ngoài chỉ định trong điều trị cơn gút cấp, colchicin còn được sử dụng với mục đích dự phòng các cơn gút tái phát. Thuốc không làm thay đổi nồng độ acid uric máu và sử dụng liều thấp (0,5-1 mg/ngày). Cần theo dõi tác dụng phụ của thuốc (đại tiện lỏng…) để điều chỉnh hay kết hợp thuốc kịp thời.

– Thuốc hạ nồng độ acid uric máu: Các thuốc ức chế tổng hợp acid uric do ức chế men xanthin- oxydase, gây hạ acid uric máu và niệu. Thuốc hay được sử dụng nhất là allopurinol (zyloric) được chỉ định trong mọi trường hợp gút, nhất là trường hợp có tăng acid uric niệu, sỏi thận, suy thận. Song không nên dùng allopurinol ngay trong khi đang có cơn cấp, mà nên đợi khoảng một tháng sau mới bắt đầu. Nếu đang dùng allopurinol mà có đợt cấp thì vẫn tiếp tục dùng thuốc bình thường. Liều thường dùng từ 100-300mg/ngày và tuỳ theo lượng acid uric máu mà chỉnh liều. Trị liệu này có tác dụng ngăn các cơn gút cấp, làm các hạt tô phi, sỏi tiết niệu nhỏ dần và có thể biến mất. Chú ý thuốc hay gây dị ứng và nếu xảy ra thì các tổn thương thường nặng.

– Một số thuốc khác như các thuốc tăng thải acid uric qua thận và ức chế hấp thụ acid uric ở ống thận (benémid, anturan, amplivix…) làm giảm acid uric máu, song làm tăng acid uric niệu, nên có thể gây sỏi thận. Thuốc tiêu acid uric (uricozym): là enzym uricas có tác dụng chuyển acid uric thành allantoine dễ hoà tan. Các thuốc này ít được sử dụng hơn.

Mặc dù là một bệnh rối loạn chuyển hóa đòi hỏi phải điều trị và theo dõi lâu dài nhưng cho kết quả tốt nếu bệnh nhân tuân thủ đúng chế độ sinh hoạt ăn uống và thầy thuốc sử dụng phối hợp các thuốc một cách hợp lý. Chúng ta có thể hoàn toàn phòng tránh được các biến chứng nặng nề của bệnh.

BS. Trần Quốc Minh
Theo SKĐS

Bệnh của nam giới trẻ tuổi – Viêm cột sống dính khớp (Kỳ I)

Kỳ 1: Các biểu hiện lâm sàng

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Chỉ riêng ở Trung Quốc, đã có ít nhất 2,3 triệu người mắc bệnh này. Nam giới trẻ tuổi thường hay mắc bệnh VCSDK nhất, chiếm tới 95% tổng số người mắc bệnh. 80% người mắc bệnh có độ tuổi dưới 30. Bệnh có tính gia đình, liên quan chặt chẽ với yếu tố kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA B 27. Những yếu tố môi trường như nhiễm khuẩn, chấn thương có thể kích thích khởi phát bệnh.

benh_cua_nam_gioi_tre_tuoi_viem_cot_song_dinh_khop_ky_1

Cột sống bình thường và viêm cột sống dính khớp.

Các biểu hiện lâm sàng của bệnh VCSDK

Trong thời kỳ đầu phát bệnh, các triệu chứng thường nhẹ nên không được bệnh nhân chú ý. Khi triệu chứng đã rõ thì bệnh đã tiến triển được nhiều tháng, cho đến vài năm. Dấu hiệu sớm thường gặp là đau cột sống thắt lưng và viêm các khớp chi dưới. Biểu hiện ở cột sống thường bắt đầu từ khớp cùng chậu nằm phía sau khung chậu, sau đó tổn thương tiếp tục lan theo chiều từ dưới lên trên cho đến tận cột sống cổ. Những triệu chứng cột sống đầu tiên là đau vùng mông, thắt lưng hay đau thần kinh tọa. Đau tăng lên về đêm và cứng cột sống thấy rõ nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy. Ở giai đoạn muộn, người bệnh VCSDK có các biến dạng cột sống rõ rệt như eo lưng dẹt do teo cơ cạnh cột sống, lưng gù, cổ vươn về phía trước. Khớp háng bị viêm trong khoảng 70% trường hợp, thường xuất hiện trong 5 năm đầu bị bệnh. Viêm khớp háng có biểu hiện đau vùng bẹn, sau mông, hạn chế vận động phần hông thường ở trạng thái co gấp. Các cơ mông và đùi teo nhanh chóng. Viêm khớp gối, chủ yếu sưng đau, ít nóng đỏ, có thể kèm theo tràn dịch khớp, làm hạn chế các động tác gấp duỗi chân, đi lại khó khăn. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai. Đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận. Ngoài ra bệnh còn có một số biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như sốt, gầy sút, viêm mống mắt, hở van tim. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai, đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận. Viêm mống mắt thể mi của màng bồ đào mắt xảy ra trong 25% trường hợp VCSDK, có biểu hiện đau mắt, sung huyết kết mạc, sợ ánh sáng. Người bị VCSDK có thể bị hoại tử tầng giữa vùng gốc động mạch chủ, làm cho vòng động mạch chủ bị giãn rộng ra, làm cho van động mạch chủ không đóng kín được hoàn toàn, dẫn đến hở van động mạch chủ. Các tổn thương viêm có thể làm tổn thương đường dẫn truyền của tim, gây nên loạn nhịp tim. Những bất thường đó có thể chẩn đoán khi chụp Xquang tim phổi, làm siêu âm tim. Tóm lại, nếu bệnh nhân nam giới trẻ tuổi (tuổi từ 15-30) đau cột sống thắt lưng, có đau khớp háng hay sưng đau khớp gối, khớp cổ chân cần phải nghĩ đến bệnh VCSDK và cần đến khám ngay ở chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời.

Chẩn đoán VCSDK bằng cách nào?

Bệnh nhân có các biểu hiện nói trên sẽ được làm các xét nghiệm máu, dịch khớp, chụp Xquang cột sống, đặc biệt là khớp cùng chậu. Trên phim Xquang có thể phát hiện thấy các triệu chứng điển hình của bệnh như viêm khớp cùng chậu hai bên, hình ảnh cầu xương nối liền hai thân đốt sống do xơ hóa bao khớp, cột sống có hình ảnh thân cây tre do cầu xương nối liền nhiều thân đốt sống, dải xơ dây chằng cạnh cột sống trông như những đường ray tàu hỏa, đốt sống biến dạng thành hình vuông. Ngày nay để chẩn đoán sớm bệnh người ta có thể áp dụng phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân hay tìm yếu tố HLA B27, dương tính trong 90% bệnh nhân VCSDK trong khi đó chỉ có 4% dân số mang yếu tố này. Xét nghiệm tìm yếu tố dạng thấp trong VCSDK thường âm tính, do vậy bệnh còn được xếp vào nhóm bệnh lý cột sống có huyết thanh âm tính. Yếu tố dạng thấp do vậy thường chỉ dùng để chẩn đoán phân biệt với bệnh viêm khớp dạng thấp. Người ta còn làm xác định tốc độ máu lắng và protein C phản ứng để xác định xem bệnh có đang hoạt động hay không. 80% người bệnh VCSDK có tốc độ máu lắng cao và protein C phản ứng cao. Thông thường sau khi khống chế được bệnh thì tốc độ máu lắng và protein C phản ứng có thể trở lại bình thường.

TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh của nam giới trẻ tuổi – Viêm cột sống dính khớp (Kỳ II)

Kỳ II: Biến chứng của bệnh viêm cột sống dính khớp

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến ở nước ta. Bệnh xuất hiện trên trái đất từ rất lâu. Người ta phát hiện được các dấu hiệu của bệnh trên các xác ướp Ai Cập tồn tại từ 3.000 năm trước Công nguyên. VCSDK như tên gọi của nó là viêm cột sống và khớp cùng chậu mạn tính gây cứng và dính cột sống. Tuy nhiên các khớp lớn ở chi dưới như khớp háng và khớp gối cũng vị viêm, do vậy bệnh còn có tên là viêm đốt sống gốc chi. Bệnh có tính gia đình (con hay cháu của bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh gấp tới 40 lần so với các gia đình khỏe mạnh). Hai nguyên nhân chính gây bệnh là yếu tố di truyền và yếu tố môi trường, tương tác với nhau một cách chặt chẽ để gây nên bệnh.

Các biến chứng của bệnh VCSDK

benh_cua_nam_gioi_tre_tuoi_viem_cot_song_dinh_khop_ky_2

Các giai đoạn viêm cột sống dính khớp.

Do các biểu hiện bệnh VCSDK rất đa dạng nên có thể chẩn đoán nhầm với khoảng 20 bệnh khác cũng có triệu chứng tương tự như lao khớp, bệnh ưa chảy máu, viêm khớp dạng thấp, gút, viêm đốt sống đĩa đệm do vi khuẩn. Do vậy bệnh nhân nhất thiết phải đến khám các bác sĩ chuyên khoa xương khớp ngay từ khi mới có các triệu chứng đầu tiên. Hiện nay bệnh nhân thường có tâm lý lo ngại mất thời gian đi khám do bận việc làm ăn, chủ quan tự điều trị hay để đến khi bệnh tiến triển nặng rồi mới vội vàng đi khám. Hậu quả là bệnh nhân bị các biến chứng nặng nề của bệnh, mất nhiều tiền của mà cũng không có kết quả vì bệnh đã tiến triển quá dài và quá nặng. Bệnh nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến dính và biến dạng toàn bộ cột sống và hai khớp háng, khiến người bệnh bị tàn phế, không đi lại được, phải bò hoặc lết, cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình và xã hội. Bệnh nhân thường có tư thế giảm đau xấu là nằm nghiêng co lưng tôm, hay nằm ngửa kê gối cao đầu. Hậu quả là bị gù lưng, khiến đi đứng lom khom, đầu cúi về phía trước. Gù lưng nhiều có thể khiến các xương sườn chạm vào xương cánh chậu, hạn chế giãn nở lồng ngực, gây suy hô hấp, suy tim. Các biến chứng nặng nề khác của bệnh là lao phổi, liệt hai chân do chèn ép tủy và rễ thần kinh.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị VCSDK?

Bản thân bệnh nhân VCSDK muốn giảm nhẹ đau đớn nên thường để các khớp ở trạng thái hoàn toàn không hoạt động trong một thời gian dài, hậu quả là bị teo cơ bắp và co rút khớp xương, gây tàn phế. Do vậy phương pháp tốt nhất là tích cực điều trị bằng các thuốc chống viêm để kiểm soát đau khớp, rồi từ từ hoạt động các khớp xương. Trong giai đoạn tiến triển của bệnh, bệnh nhân phải nghỉ ngơi. Khi không vận động phải đặt khớp xương viêm cấp tính ở vị trí thích hợp hoặc dùng nẹp để hạn chế cử động, tránh phát sinh co rút khớp. Trong thời kỳ cấp tính phải kiên trì vận động duỗi thẳng chi và cột sống để giảm nhẹ các cơn đau do co rút cơ gây ra. Khi nằm nghỉ, bệnh nhân phải nằm ngửa trên nền cứng, đầu gối thấp, chân duỗi thẳng hơi dạng để tránh các khớp bị co rút nặng thêm. Với tư thế này nếu có dính khớp thì bệnh nhân vẫn có thể đi lại được. Tuy nhiên khi bệnh đã đỡ thì cần phải tích cực vận động càng sớm càng tốt để chống dính khớp. Bệnh nhân cần phải hiểu rằng tập vận động khớp và điều trị bằng thuốc đều có tầm quan trọng như nhau. Bệnh nhân phải học cách tự chăm sóc bản thân và thường xuyên tập thể dục, với sự hướng dẫn của bác sĩ để duy trì được tư thế tốt nhất của cột sống, tăng cường cơ lực của các cơ cạnh cột sống và tăng hoạt động của các cơ hô hấp. Trong thời gian bị bệnh, mỗi ngày cần hoạt động xương khớp nhẹ nhàng 1-2 lần để giúp giảm bớt co cứng khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp cho phục hồi nhanh hơn. Bệnh nhân có thể áp dụng các bài tập thể dục trị liệu hay tập bơi, chơi cầu lông, bóng bàn. Thậm chí sau khi các triệu chứng bệnh đã khỏi thì vẫn phải kiên trì vận động trong thời gian dài để duy trì các khớp xương ở trạng thái chức năng bình thường. Người bệnh nghiện thuốc lá phải dừng ngay hút thuốc lá để phòng tránh suy hô hấp. Bệnh VCSDK cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh dục của người bệnh. Ở giai đoạn muộn khi cột sống và các khớp đã biến dạng nhiều, khiến cho bệnh nhân thậm chí không thể tự mình sinh hoạt bình thường được. Một số thuốc điều trị cũng ảnh hưởng đến chức năng sinh dục. Bệnh cũng ảnh hưởng cả đến thế hệ con cái của bệnh nhân. Nguy cơ những đứa trẻ của những bệnh nhân có HLA B 27 dương tính bị mắc bệnh VCSDK lên tới 50%. Do vậy bệnh nhân VCSDK nên cân nhắc kỹ khi lập gia đình và có con. Nên lập gia đình và có con sớm, ở giai đoạn đầu của bệnh khi chưa có biến dạng cột sống và các khớp. Những người VCSDK nếu thấy khớp háng không thoải mái thì nên đi kiểm tra sớm và khám định kỳ. Đối với người khớp háng đã bị cứng đờ, không thể sinh hoạt và làm việc bình thường thì phải phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo.

Tuân thủ điều trị lâu dài nâng cao chất lượng điều trị

Cần phát hiện và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm thì kết quả mới khả quan. Mục đích của điều trị là giảm đau, chống viêm, duy trì chức năng vận động của các khớp cột sống và ngoại vi. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì điều trị lâu dài, tuân thủ đúng chế độ thuốc men do thầy thuốc chỉ định.

TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Thoái hóa khớp: Có thuốc chữa khỏi không?

Thoái hóa khớp (hư khớp) không phải là một bệnh mà là tình trạng lão hóa (già) của khớp. Ở đầu xương bao giờ cũng có một lớp sụn, lớp sụn này giúp cho khớp trơn tru, dễ dàng trong vận động, chịu được sức nén, hoạt động. Lớp sụn này luôn luôn được đổi mới, mòn đến đâu đắp lên đến đấy, hỏng đến đâu phục hồi đến đấy. Quá trình cứ xây xây, phá phá như thế kéo dài cho đến tuổi già và từ 50 tuổi trở đi thì quá trình phá nhiều hơn xây, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi, ngày càng nứt nẻ ra… để trơ lại lớp xương ở bên dưới.

Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… đây chính là tình trạng mà ta gọi là thoái hóa.

thoai_hoa_khop_co_thuoc_chua_khoi_khong

Có nhiều nguyên nhân gây thoái hóa nhưng chủ yếu là sự lão hóa của cơ thể (sau tuổi 50 con người đã có những biểu hiện của sự lão hóa). Mức độ lão hóa khác nhau tùy thuộc vào từng cá thể và điều kiện sống của cá thể đó. Thực tế thoái hóa khớp thường biểu hiện ở 3 vị trí: cột sống, khớp gối và khớp háng.

Để điều trị thoái hóa khớp người ta sử dụng phối hợp phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chườm ngải cứu, đắp bùn nóng…

Các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp:

– Thuốc giảm đau, chống viêm (paracetamol, aspirin, meloxicam, diclofenac): Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm từ nhẹ đến nặng (các thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời).  Nói chung nên hạn chế dùng kéo dài vì những tác dụng không mong muốn của thuốc như loét dạ dày – tá tràng…

– Thuốc bổ sung chất nhày cho khớp: sử dụng những chế phẩm có cấu trúc phân tử gần giống như dịch khớp tiêm vào ổ khớp. Chỉ tiêm khi có hiện tượng  đau, khô khớp, khó vận động và thường tiêm vào khớp gối.

– Thuốc dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin sulfat. Gần đây chất này được nhiều tác giả nghiên cứu để điều trị thoái hóa khớp do có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

– Các thuốc bôi, xoa ngoài: tùy theo thành phần hoạt chất trong đó có tác dụng giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, giãn cơ.

– Các thuốc bổ: các thuốc bổ gân, bổ xương… (có giá trị về mặt tâm lý hơn là giá trị thực tế).

Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với vật lý trị liệu và các liệu pháp vận động khác. Khi khớp bị tổn thương quá nặng, mất khả năng vận động phải thay khớp.

Thoái hóa khớp là một tất yếu của tuổi già vì thế không có thuốc chữa khỏi hẳn. Chỉ có thể làm chậm lại quá trình này bằng tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe. Tuyệt đối không cho tăng cân (vì nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần), tránh các động tác có hại cho khớp và chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (người có bàn chân vẹo, chân chữ O, X )…

Theo SKĐS

Bệnh gút: Cần được chẩn đoán sớm

Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa nhân purin của tế bào, có thể nói nôm na là rối loạn chuyển hóa đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.

benh_gut_can_duoc_chan_doan_som

Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút

Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên ngay cả cán bộ y tế vẫn còn lúng túng khi chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu… nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dụng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.

Các hiểu biết giúp cho chẩn đoán bệnh chính xác

Chú ý đến đối tượng và lứa tuổi hay mắc bệnh: Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Tuyệt đại đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn uống (rượu, bia) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.

Các biểu hiện chính của bệnh gút giúp ích cho việc chẩn đoán: Để phát hiện sớm được bệnh gút, cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh gồm các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận. Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái… Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicin thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như khớp cổ chân, bàn ngón chân… Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn thấy chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận. Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.

Chẩn đoán nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh: Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hóa khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.

Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.

Theo SKĐS

Bệnh viêm quanh khớp vai: Chớ nên coi thường (kỳ II)

Kỳ 2: Điều trị và dự phòng viêm quanh khớp vai

Viêm quanh khớp vai bao gồm các trường hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai do tổn thương phần mềm quanh khớp vai như gân cơ, dây chằng, bao khớp. Trong 10 trường hợp đau vùng khớp vai thì có tới 9 trường hợp do viêm quanh khớp vai, tức là không phải đau ở khớp vai mà là đau xung quanh khớp vai. Nguyên nhân của bệnh rất phong phú, chủ yếu là do chấn thương, do thời tiết lạnh và ẩm, các bệnh vùng cổ, ngực, bệnh lý thần kinh.

benh_viem_quanh_khop_vai_cho_nen_coi_thuong_ky2

Hậu quả của điều trị không đúng hoặc không được điều trị

Bệnh viêm quanh khớp vai nếu điều trị không đúng thì sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến các biến chứng đứt gân, khiến khả năng phục hồi rất khó khăn. Bệnh nhân bị đau đớn, hạn chế vận động kéo dài sẽ bị trầm cảm, lo lắng, ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc, sinh hoạt và giấc ngủ. Khớp vai có thể bị đông cứng, giả liệt, gây tàn phế cho bệnh nhân. Ngoài ra bệnh nhân có thể phải gánh chịu các tai biến do dùng thuốc hay thủ thuật như bị nhiễm khuẩn khớp vai hay áp-xe cơ vùng vai, dị ứng thuốc, có thể dẫn đến tử vong. Để tránh các hậu quả của viêm quanh khớp vai khi bị đau vai, bệnh nhân cần đến bệnh viện  khám ngay để được chẩn đoán đúng và điều trị bệnh kịp thời.

Các phương pháp điều trị bệnh viêm quanh khớp vai

Điều trị viêm quanh khớp vai bao gồm điều trị đợt cấp và điều trị duy trì. Điều trị đợt đau cấp làm giảm nhanh chóng các triệu chứng đau vai, góp phần sớm phục hồi được chức năng vận động của khớp. Điều trị duy trì có mục tiêu phục hồi các mô bị tổn thương, tăng cường sức mạnh của khớp vai và tránh tái phát bệnh. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì và hợp tác với bác sĩ, tránh nôn nóng, chạy chữa hết nơi này đến nơi khác… Điều trị viêm quanh khớp vai phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như nội khoa, ngoại khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả Đông y. Ở bệnh viện bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau, chống viêm (celebrex, mobic), giãn cơ (myonal), an thần hay tiêm thuốc chống viêm corticoid tại chỗ vào vùng bao gân cơ bị tổn thương. Có thể áp dụng các biện pháp vật lý trị liệu như chườm lạnh, hay dùng đèn hồng ngoại, laser, sóng ngắn, vi sóng, điện từ trường. Có thể chườm lạnh bằng cách lấy nước đá viên cho vào túi ni lông rồi chườm lạnh vùng vai đau trong 5-10 phút. Khi vai đỡ đau thì mới được vận động nhẹ nhàng. Cũng có thể xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu. Khi cần cũng có thể dùng cồn thuốc đắp trên vùng khớp vai bị đau. Cánh tay được nghỉ ngơi sẽ hồi phục dần dần mà không cần phải phẫu thuật. Đa số bệnh nhân viêm quanh khớp vai có thể khỏi bệnh sau 6 tháng đến 3 năm. Chỉ có các vận động viên thể thao trẻ, sau khi được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau mà không khỏi mới có thể tính đến phẫu thuật. Ngoài ra trong trường hợp bị đứt gân cơ quanh vai có thể chỉ định phẫu thuật nối gân.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị viêm quanh khớp vai?

Trong giai đoạn đau vai cấp tính cần phải để cho vai được nghỉ ngơi. Khi bị đau vai  ít thì chỉ cần tránh không cử động tay bên vai bị đau. Khi đau vai nhiều thì cần cố định cánh tay bên vai đau bằng một cái khăn đeo vào cổ để cho cơ vai được nghỉ ngơi dưỡng thương. Sau khi điều trị có hiệu quả thì bắt đầu tập luyện để phục hồi chức năng khớp vai. Tuy nhiên các bài tập luyện bao giờ cũng phải dần dần, từ nhẹ đến nặng, từ dễ đến khó, không được quá sức. Cần phải luyện tập thường xuyên vùng khớp vai trong 1-2 năm. Có thể tập thái cực quyền. Để phòng tránh bệnh nên kiên trì tập luyện sức khỏe ngay từ khi còn trẻ để phòng tránh quá trình thoái hóa vai khi đến tuổi trung niên. Mùa hè tránh để gió thổi vào người quá lâu. Khi bị mưa ướt cần phải tắm bằng nước nóng ngay. Tăng cường giữ ấm vào mùa đông, ban đêm ngủ nên tránh để lộ vai ra ngoài. Tránh lao động quá mức trong thời gian dài. Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Bệnh nhân cũng cần được an ủi về mặt tâm lý, tránh những biểu hiện lo âu, căng thẳng, lo lắng vì bệnh tật. Cũng cần chăm sóc bệnh nhân trong sinh hoạt hằng ngày.

Theo SKĐS

Bệnh đái tháo đường gây biến chứng cơ xương khớp

Đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng hằng năm trên thế giới kể cả ở nước phát triển và nước đang phát triển. Kéo theo hậu quả của nó là hàng loạt các biến chứng nguy hiểm, trong đó biến chứng cơ, xương, khớp là những biến chứng điển hình. Không chỉ kiểm soát đường huyết tốt mà người bệnh cần biết đến các biến chứng này để phòng ngừa.

Bệnh lý khớp ở người ĐTĐ

Còn gọi là bệnh lý khớp do nguyên nhân thần kinh, hay bệnh Charcot, đây là thể nặng của thoái hóa khớp, phá hủy khớp nhanh và nhiều, hậu quả của giảm và mất cảm giác tại khớp, gây ra các chấn thương liên tiếp, lặp đi lặp lại nhiều lần. Biểu hiện này hiếm gặp, thường ở bệnh nhân bị bệnh đã lâu. Khám lâm sàng phát hiện các dấu hiệu của bệnh lý thần kinh ngoại biên, da có thể thay đổi như đỏ tím, phù nề, tăng sắc tố, tổ chức phần mềm bao phủ khớp có thể bị viêm, loét, khớp bị lỏng lẻo và biến dạng. Các dấu hiệu Xquang thường nhẹ hơn so với các dấu hiệu lâm sàng. Tùy vào mức độ bệnh mà có thể thấy các tổn thương như bán trật khớp, các mảnh xương, tiêu xương, phản ứng màng xương, biến dạng, dính khớp… Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác như nhiễm khuẩn, viêm tắc tĩnh mạch sâu… Điều trị biến chứng này khá phức tạp, chủ yếu là đi giày dép chỉnh hình, chăm sóc, vệ sinh thật tốt kết hợp với kiểm soát tốt đường máu.

benh_dai_thao_duong_gay_bien_chung_co_xuong_khop

Thoái hóa khớp: Người ta chưa chứng minh rõ ràng rằng ĐTĐ là yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp. Tuy nhiên, khoa học đã xác nhận rằng béo phì là yếu tố nguy cơ quan trọng của cả ĐTĐ và thoái hóa khớp. Thoái hóa khớp có thể gặp ở cả khớp lớn và khớp nhỏ.

Biểu hiện ở cơ

Biến chứng bàn chân

Tổn thương viêm loét hoại tử đầu chi do tổn thương vi mạch gây loét, hoại tử, viêm xương, nhiễm khuẩn huyết là một biến chứng rất nặng của bệnh ĐTĐ. Cần  phải kiểm soát tốt đường  huyết và chăm sóc vệ sinh bàn chân thật tốt, theo dõi màu sắc da cẩn thận, đi giày dép chỉnh hình thích hợp. Bệnh nhân phải đi dép, giày mềm thường xuyên, tránh va đập. Nhồi máu trong cơ là một biến chứng hiếm gặp. Biến chứng này thường tự phát, không có tiền sử chấn thương, hay gặp ở bệnh nhân không được điều trị tốt với nhiều biến chứng mạch máu, thần kinh. Biểu hiện lâm sàng là đau đột ngột, dữ dội và sưng nề vùng cơ bị nhồi máu (thường ở đùi hoặc cẳng chân). Men cơ (CPK) có thể bình thường hoặc tăng nhẹ. Cần chẩn đoán phân biệt với khối u, viêm cơ, áp – xe cơ, cốt tủy viêm, viêm tắc tĩnh mạch sâu. Chụp cộng hưởng từ thấy tăng tín hiệu trên tần số T2. Sinh thiết cơ thấy cơ bị phù nề và hoại tử. Điều trị bằng thuốc giảm đau và nghỉ ngơi, các triệu chứng sẽ hết sau vài tuần.

Teo cơ ĐTĐ do thiếu máu nuôi dưỡng cơ gây nên tình trạng mỏi cơ và đau. Thường gặp ở bệnh nhân trên 50 tuổi, biểu hiện bằng đau, yếu cơ và teo cơ gốc chi như cơ thắt lưng chậu, cơ tứ đầu đùi, cơ khép đùi gây khó khăn khi thực hiện một số động tác như đứng lâu, chuyển từ tư thế ngồi sang đứng hay lên thang gác.

Biểu hiện ở xương

Hội chứng tăng tạo xương lan tỏa nguyên phát (DISH) hay bệnh Forestier, đặc trưng bởi tình trạng loạn sản, canxi hóa dây chằng cột sống kết hợp với hình thành các gai xương. Tuy nhiên khe đĩa đệm, khớp mỏm sau và khớp cùng-chậu đều bình thường. Đoạn cột sống ngực là vùng hay bị tổn thương nhất, và ở bệnh nhân týp 2, béo phì, ngoài ra có thể gặp vôi hóa ở các vị trí khác. Triệu chứng thường gặp là đau, hạn chế vận động, cứng vùng gáy và lưng. Điều trị bằng các thuốc NSAID, giãn cơ, giảm đau và vật lý trị liệu.

Tình trạng loãng xương: thường gặp ở bệnh nhân týp 1, người gầy. Những bệnh nhân týp 2 thường béo nên khối xương ít thay đổi.

Tóm lại: ĐTĐ gây ra rất nhiều biến chứng đối với bộ máy vận động, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống. Hầu hết các biến chứng này có thể điều trị được, nhưng chúng thường bị bỏ qua hoặc đánh giá, điều trị không đúng trong thực hành hằng ngày. Nâng cao ý thức và hiểu biết về bệnh, điều trị đúng sẽ giúp cho người bệnh hoàn toàn có thể tự lập được trong công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Theo SKĐS

Điều trị gãy xương và tái gãy xương do loãng xương

Không tuân thủ phác đồ điều trị là một trong những lý do thường thấy dẫn đến thất bại trong điều trị bệnh loãng xương. Tại sao bệnh nhân thường không tuân thủ phác đồ điều trị và làm thế nào và tái gãy xương do loãng xương có hiệu quả hơn?

Những biến cố không kiểm soát!

Vài tháng trước, cứ thay đổi thời tiết là bác Trần Thị Minh, 63 tuổi ở số 2 ngõ 40 Phan Đình Giót Hà Nội lại thấy nóng âm ỉ trong xương, đau mỏi trong các khớp, cột sống, đau cơ, co cứng cơ… Đi đo mật độ xương tại khoa Cơ Xương khớp BV. Bạch Mai, bác được chẩn đoán là LX và được chỉ định dùng thuốc ức chế hủy xương dạng viên uống tuần/lần cùng với một số thuốc khác. Bác Minh cho biết: “Từ khi phải điều trị LX, tôi thấy rất phiền phức. Về quê giỗ, tết đều phải mang thuốc. Mặc dù đã phải ghi chép, đánh dấu cẩn thận vậy mà vẫn có lúc quên. Chưa kể, mỗi lần uống thuốc phải đứng thẳng hơn nửa tiếng… Thế mà đợt kiểm tra này bác sĩ cho biết, mật độ xương của tôi vẫn ở tình trạng báo động”.

dieu_tri_gay_xuong_va_tai_gay_xuong_do_loang_xuong

Biến chứng gãy cổ xương đùi do loãng xương.

PGS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan (Trưởng khoa Cơ Xương Khớp BV. Bạch Mai, Hà Nội cho biết, các loại thuốc ức chế hủy xương như Alendronat, Risedronate, Zoledronate là những thuốc điều trị LX khá hiệu quả, được sử dụng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Song thuốc cần phải dùng kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt đời nên việc tuân thủ điều trị khá khó khăn. Nhiều BN tưởng là đã khỏi bệnh nên ngưng thuốc (do LX thường không có triệu chứng). Những BN có tuổi thường quên uống thuốc, đến khi biến chứng gãy xương thì đã muộn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sau điều trị, người bệnh LX chỉ có thể giảm được 50% nguy cơ bị gãy xương và tỷ lệ tái gãy xương là rất cao, gấp 2,5 lần so với người không mắc bệnh.

Phòng ngừa và điều trị bằng dịch truyền

PGS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan cho biết, hiện khoa Xương Khớp BV. Bạch Mai đang triển khai phương pháp điều trị mới cho BN LX và gãy xương bằng thuốc ức chế hủy xương zoledronic acid 5mg dạng tiêm truyền tĩnh mạch. Thuốc được truyền trực tiếp vào tĩnh mạch bệnh nhân trong vòng ít nhất 15 phút. Bước đầu sử dụng tại khoa Cơ Xương Khớp BV. Bạch Mai cho thấy hiệu quả tốt. Dưới 10% BN gặp tác dụng phụ như: sốt, đau mình mẩy, đau xương khớp… (xuất hiện trong vòng 1-3 ngày đầu). Tuy nhiên, những BN đau cột sống do lún xẹp đốt sống (biến chứng của LX) được truyền zoledronic acid 5mg đạt hiệu quả giảm đau nhanh chóng (trong vòng 24 giờ sau truyền, BN đã thấy giảm đau rõ rệt). Điều này giúp BN phục hồi chức năng vận động, tránh các biến chứng có thể gây tử vong cho người cao tuổi như: viêm phổi chẳng hạn… Cần lưu ý các chống chỉ định của thuốc là các BN suy thận nặng (có hệ số thanh thải creatinine < 35 ml/phút). Tuy nhiên, thuốc không cần chỉnh liều ở BN suy gan hoặc người cao tuổi (trên 65 tuổi).

Khác với các thuốc ức chế hủy xương dạng uống khác, zoledronic acid 5mg đảm bảo tốt hơn sự tuân thủ điều trị của BN vì chỉ cần truyền 1 liều duy nhất mỗi năm. Bác Nguyễn Văn Khải, 54 tuổi (Bắc Giang) đã điều trị LX bằng Aclasta cho biết: “Tôi có tiền sử bệnh dạ dày. Trước đây, tôi dùng thuốc LX dạng viên nên hay bị đau bụng và cơ thể bứt rứt, khó chịu. Sau khi được bác sĩ thay đổi phác đồ điều trị, chỉ cần truyền thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch một lần mỗi năm để bảo vệ xương, tôi thấy nhẹ cả người”.

Theo GS.TS Trần Ngọc Ân, Chủ tịch Hội Khớp học Việt Nam, zoledronic acid 5mg đã được y học thế giới chứng minh về hiệu quả: giảm tỷ lệ gãy xương như: gãy xương hông, gãy xương đốt sống (lún xẹp đốt sống) và gãy các xương khác; tăng mật độ chất khoáng của xương; phòng ngừa gãy xương lâm sàng mới sau gãy xương hông cả ở nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên, phương pháp này cần có sự chỉ định và theo dõi sát sao của bác sĩ, BN tuyệt đối không được tự ý sử dụng. Ngoài ra, để phòng ngừa tình trạng LX và điều trị LX, tránh biến chứng gãy xương, BN cần duy trì các bài tập thể dục thông thường có chịu đựng sức nặng của cơ thể (đi bộ, chạy bộ, khiêu vũ, tennis), các bài tập tăng sức mạnh của cơ (bài tập kháng lực, nhấc vật nặng, cử tạ…) nếu không có chống chỉ định (lưu ý là bơi không có tác dụng phòng chống LX). Ngoài ra, cần đảm bảo chế độ ăn giàu canxi trong suốt cuộc đời. Các BN đã LX cần phải tránh ngã. Nếu cần thiết có thể mặc “quần đùi” bảo vệ khớp háng để tránh gãy cổ xương đùi. Khi đã có biến dạng cột sống (gù, vẹo), cần đeo thắt lưng cố định cột sống để trợ giúp cột sống. cột sống để trợ giúp cột sống.

TUYẾT VÂN
Theo SKĐS

Bệnh loãng xương và người cao tuổi

Người cao tuổi phải đối đầu với vấn đề giảm sút sức khỏe và có nguy cơ mắc khá nhiều bệnh lý, đặc biệt là bệnh loãng xương (LX). LX hiện là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Số người bị bệnh LX ngày càng tăng trên khắp thế giới, đặc biệt người Việt Nam với chế độ ăn nghèo canxi nên nguy cơ bị LX tăng cao. Ước tính trung bình có 1/3 phụ nữ và 1/5 nam giới trên thế giới bị LX.

Nguyên nhân gây LX

Bệnh LX thông thường do một số nguyên nhân gây nên như: suy giảm hormone sinh dục gặp ở phụ nữ tuổi mãn kinh; do chế độ ăn không cung cấp đủ canxi hoặc cơ thể không hấp thu được canxi như: ăn uống kiêng cử kéo dài, chế độ ăn nghèo nàn, kém chất lượng; do mắc một trong các bệnh hoặc yếu tố nguy cơ: bệnh tuyến thượng thận, cường giáp trạng, suy thận mãn tính, bệnh yếu liệt chi hoặc do chấn thương phải nằm bất động lâu dài; do lạm dụng thuốc có corticoid trong thời gian dài…

benh_loang_xuong_va_nguoi_cao_tuoi

Triệu chứng

Quá trình bệnh LX diễn ra âm thầm và có thể trong suốt một giai đoạn dài, người bệnh không có triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi có triệu chứng thì thường là bệnh đã nặng. Đau cột sống lưng hoặc cột sống thắt lưng cấp tính xảy ra, do nén cột sống đột ngột sau một gắng sức nhẹ. Lún đốt sống, gù còng, nứt hoặc gãy cổ xương đùi, xương cẳng tay, cổ tay xảy ra sau một va chạm mạnh hay chấn động nhẹ…

LX làm giảm chất lượng cuộc sống

Giảm mật độ xương và LX có thể gây đau lưng, đau chân tay, các khớp và mỏi bại hông và dễ dàng bị gãy xương do té ngã. Mỗi 30 giây, trên thế giới có 1 người bị gãy xương do LX. Người ta dự đoán đến năm 2050, các nước châu Á trong đó có Việt Nam sẽ chiếm 50% trường hợp tàn phế hoặc đe dọa tính mạng do gãy khớp háng vì LX.

Người cao tuổi bị gãy xương dễ tử vong và mắc nhiều bệnh sau gãy xương như: viêm đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa… và bị di chứng phải có người trợ giúp suốt đời.

Biện pháp hạn chế LX

Tăng thêm thức ăn giàu canxi: việc bổ sung canxi vào thức ăn hoặc sử dụng nguồn thức ăn giàu canxi (như: sữa và các chế phẩm từ sữa…) là rất cần thiết. Người cao tuổi cần nhiều lượng canxi hơn người trẻ, vì độ hấp thu của họ kém hơn.

Lượng protein trong khẩu phần ăn hàng ngày nên vừa phải, vì ăn nhiều protein sẽ làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Ăn thêm nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen thực vật (như giá đỗ…), vì chúng có tác dụng làm thay đổi sự chuyển hóa của xương: chúng làm giảm tốc độ mất xương và làm tăng khoáng chất trong xương.

Phải tăng cường thời gian hoạt động (hoặc tắm nắng…) để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể.

Hoạt động thể lực vừa phải, không nghiện rượu và duy trì cân nặng hợp lý, vì gầy cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh LX.

Đặc biệt ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh, có thể dùng liều estrogen (theo chỉ dẫn của bác sĩ) để phòng LX hoặc dùng canxitone thay thế, vì nó ức chế hoạt động của tế bào tiêu xương và ngăn cản chất xương bị hấp thụ.

Nhu cầu canxi hàng ngày của người cao tuổi là 1.200mg canxi. Các thực phẩm như: rau, cá, thịt, đậu hũ, tôm, cua… mà bạn ăn hàng ngày cung cấp cho bạn khoảng 300mg canxi. Như vậy, bạn cần phải bổ sung thêm khoảng 900mg canxi từ sữa và các sản phẩm sữa.

Biện pháp phát hiện LX

Để phát hiện sớm bệnh LX nếu có điều kiện các bạn cần khám sức khỏe định kỳ. Bác sĩ sẽ cho bạn làm một số xét nghiệm để phát hiện sớm bệnh LX và theo dõi tiến triển của bệnh, trong điều kiện hiện nay có thể làm 2 xét nghiệm là:

1. Chụp X-quang xương sống và xương tay chân, đây là xét nghiệm rẻ tiền và dễ thực hiện ở cơ sở y tế nào cũng có. Nhưng có hạn chế là khi thấy được LX trên phim X-quang thì bệnh đã trong giai đoạn muộn, xương đã bị mất khá nhiều.

2. Xét nghiệm đo mật độ xương, giúp đánh giá được khối lượng xương có thể phát hiện LX sớm hơn.

Ngoài ra, để khảo sát bệnh hoặc tìm nguyên nhân, bác sĩ có thể cho làm thêm nhiều xét nghiệm khác.

BS. Quốc Bảo
Theo SKĐS

Tình trạng loãng xương ở sản phụ sau sinh

Tình trạng giảm mật độ khoáng xương (có thể hiểu là loãng xương) lúc mang thai và sau khi sinh cho em bé bú là tình trạng thiếu canxi sinh lý.

Dấu hiệu cơ bản của chứng loãng xương là sau khi sinh con từ 1-2 tháng, sản phụ bắt đầu xuất hiện tình trạng đau nhức khắp người, nhất là khu vực vai, lưng, bàn chân. Một số người không thấy có triệu chứng gì khi bị loãng xương hoặc bỏ qua những triệu chứng nhẹ như đau lưng âm ỉ.

tinh_trang_loang_xuong_o_san_phu_sau_sinh

Nguyên nhân

– Do tình trạng mật độ xương trong khoảng thời gian mang thai và cho con bú.

– Do một lượng lớn vitamin D từ cơ thể mẹ đã bị tiêu hao vì phải nuôi dưỡng thai nhi.

– Khi mang thai, nồng độ estrogen trong cơ thể bạn tăng lên. Điều này có tác động đến sự hoạt động của các cơ, gân, dây chằng, đặc biệt là vùng khớp cùng của xương chậu (biểu hiện là tình trạng đau lưng, mỏi khớp khi mang thai và kéo dài đến khoảng thời gian sau sinh).

– Căng thẳng, bận rộn chăm con khiến cơ thể mệt mỏi và hay xuất hiện những cơn đau mỏi xương khớp.

Điều trị

Phần lớn các trường hợp loãng xương ở phụ nữ sau sinh là hội chứng loãng xương sinh lý. Tình trạng này sẽ được cải thiện đáng kể sau 6-12 tháng cho con bú và có thể khỏi sau 6-12 tháng ngừng cho con bú.

Với những trường hợp loãng xương nghiêm trọng, khi ấy bạn có thể phải sử dụng thuốc giảm đau hoặc dùng các loại thuốc uống, thuốc bổ sung vitamin D, theo điều trị và chỉ định của bác sĩ…

Phòng chứng loãng xương sau sinh

– Canxi là thành phần cấu trúc quan trọng của xương. Vì vậy, bạn nên cung cấp đầy đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua ăn uống và vận động hợp lý mỗi ngày. Hàm lượng canxi trong thời gian cho con bú luôn cao hơn bình thường, khoảng 1.500mg/ngày. Các thực phẩm giàu canxi là sữa, đậu tương, lòng đỏ trứng, rau cải, cá tôm…

– Nên bổ sung thêm các nguồn thực phẩm giàu vitamin D như trứng, nấm tươi, lươn, trai, sò…

Sinh khi sinh con khoảng một tháng, sức khỏe của sản phụ đã phục hồi, có thể tham gia các hoạt động thể dục thể thao vừa sức, nhẹ nhàng. Không chỉ phòng được chứng loãng xương, vận động còn giúp bạn tăng cường sức khỏe và sớm lấy lại vóc dáng sau sinh.

BS. Huy An
Theo SKĐS