Tag Archives: khớp xương

Đối phó bệnh xương khớp của người già

Người cao tuổi (NCT) do quá trình lão hóa nên vào mùa đông sẽ rất khó tránh khỏi việc nhức mỏi tay chân, đau xương khớp. Nguyên nhân là do sự thay đổi của thời tiết như nóng lạnh thất thường, lúc khô hanh, lúc lại ẩm ướt… kéo theo hàng loạt sự thay đổi của các yếu tố bên trong cơ thể như độ nhớt của máu, độ nhớt dịch khớp, sự kết tủa của các muối, thay đổi nồng độ các hóa chất trung gian thay đổi vận mạch…

Những sự thay đổi này góp phần làm xuất hiện các đợt đau xương khớp. Ngoài ra, trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn làm cho các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn khiến cho các khớp trở nên khô cứng, đau mỏi, khó cử động. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm…

Để đối phó với căn bệnh này khi mùa đông đến, NCT nên thực hiện 3 phương pháp sau:

1. Chế độ ăn phù hợp

doi-pho-benh-xuong-khop-cua-nguoi-gia

Để hạn chế tình trạng viêm, giảm đau khớp người già nên ăn các loại thực phẩm giàu axit béo omega-3 (thường có trong các loại hạt). Các rau lá xanh, như rau bina, cải xoăn, cũng có thể giúp hạn chế tình trạng viêm và đau đớn. Các loại quả như cam, ớt đỏ, cà chua… chứa nhiều vitamin C cũng có thể giúp làm giảm, ngăn chặn sự mất sụn và giảm đau ở người già.

Bên cạnh đó, người già nên tránh dùng các thực phẩm giàu axit béo omega-6 (chẳng hạn như dầu bắp), vì loại axit này có thể gây ra viêm đau đớn. Hãy thay thế các loại ngũ cốc tinh chế cho ngũ cốc nguyên hạt. Các nghiên cứu trước đây cho thấy ngũ cốc tinh chế có thể làm tăng viêm khớp, trong khi chất xơ ngũ cốc nguyên hạt có thể giúp giảm viêm.

2. Các chất bổ sung

Để giúp đỡ nuôi dưỡng sụn và bôi trơn nhiều hơn ở các khớp xương của người già có thể bổ sung các chất như: Glucosamine sulfate và chondroitin. Một nghiên cứu quy mô lớn của Viện Y tế Quốc gia Mỹ tìm thấy một sự kết hợp hàng ngày nếu bổ sung 1.500mg glucosamine và 1.200mg chondroitin có thể giúp dễ dàng hạn chế các triệu chứng phát tác ở những người bị đau khớp từ trung bình đến nặng.

Ngoài ra, phải bổ sung nhiều vitamin D (từ ánh sáng mặt trời) để giúp giữ cho xương mạnh mẽ, ngăn ngừa đau khớp. Trường hợp nếu thấy bị đau khớp bởi vì một số chất bổ sung có thể tương tác một số thuốc khiến tình trạng đau khớp tăng thêm thì đến bác sĩ để kiểm tra.

3. Vận động đúng cách, vừa sức

Thời tiết lạnh liên quan đến đau khớp là do ít làm việc, ít vận động dưới trời lạnh. Tập thể dục giúp bôi trơn các khớp xương để ngăn chặn cơn đau. Các chuyên gia về xương khớp đều thống nhất, hoạt động cơ bắp là phương pháp then chốt để phòng ngừa các bệnh ở cơ quan vận động của cơ thể. Đi bộ hằng ngày, đó là sự sống còn. Nhưng để giúp ích được cho sức khỏe, cần tiến hành đi bộ đúng cách: Mỗi tuần 3 lần, mỗi lần 1h là mức thấp nhất.

Trong quá trình đi bộ, do bàn chân tiếp xúc với mặt đất tạo ra những kích thích có tác dụng tăng cường sức sống ở các tế bào xương, khả năng vận động ở các khớp, làm cho cơ bắp mạnh lên, giúp cho cơ thể duy trì thế cân bằng ở mức hoàn hảo.

Ngoài cách đi bộ hằng ngày, bơi lội, đi xe đạp cũng như các môn luyện tập đòi hỏi sự bền bỉ, giúp cho sự duy trì chức năng ở các xương – khớp được tốt.

Ngay cả với những người mắc chứng hư khớp, các bác sĩ cũng khuyến cáo không để những bệnh nhân đó hoàn toàn nghỉ ngơi mà nên khuyến khích họ thực hiện những động tác do các chuyên viên chỉnh hình hướng dẫn, nhằm duy trì các gân, cơ bắp ở trạng thái tốt.
Vận động là cách chữa bệnh tuyệt vời nhất đối với bệnh xương khớp ở người già. Tuy nhiên, do sức khỏe yếu, mùa đông lạnh lại nhiều tà khí nên việc vận động cần được thực hiện tùy theo khả năng sức khỏe của người già.

Mạc Vi

Theo gia đình

Phòng tránh đau lưng

Tôi năm nay hơn 60 tuổi rất hay bị đau mỏi lưng. Mong chuyên mục tư vấn cách phòng tránh ở độ tuổi của tôi. Vi Thị Lan (Lạng Sơn)

Có nhiều nguyên nhân gây đau lưng. Ngoài bệnh lý như: Thoái hoá đĩa đệm, viêm mặt khớp xương thì còn bị đau do căng cơ bắp, dây chằng (ở một số người béo phì, người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng) hoặc do nằm ngủ trong tư thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng.
Phòng tránh đau lưng
Trong trường hợp đau lưng do bệnh lý thì bác cần được điều trị theo y lệnh của bác sỹ. Ngoài ra, bác có thể phòng tránh đau lưng từ những nguyên nhân khác như sau:

– Tránh các động tác làm căng giãn cho cơ bắp.

– Khi ngồi hay ngủ (đặc biệt là ngủ) nên sử dụng nệm cứng, nằm nghiêng, đầu gối co hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng.

– Khi mang vật nặng không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối. Như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng. Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.

– Khi tập thể dục nên tập các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng. Trước khi bước ra khỏi giường vào buổi sáng, bác nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng sau một đêm nằm ngủ.

Chuyên gia tư vấn Kim Mai

Thực phẩm dành cho người bệnh gout

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi một người đã mắc bệnh gút thì rất khó chữa trị khỏi hẳn mà nên xác định là “sống chung với bệnh gút”. Ngoài việc điều trị giảm sưng, đau khớp khi lên cơn cấp tính thì những thuốc và thực phẩm giúp cơ thể đào thải acid uric cũng có tác dụng tốt với người bệnh.

Bệnh gút thường gây đau và viêm tấy ở khớp xương, đặc biệt là khớp ngón cái, khớp gối và đau nhiều nhất về ban đêm. Đau kèm theo rát bỏng rất khó chịu. Lý do đau khớp là vì khi acid uric vượt quá 8 mg/dl trong máu mà khả năng bài xuất theo nước tiểu lại giảm đi thì tinh thể urát lắng đọng lại trong khớp xương. Nguyên nhân của bệnh gút là do rối loạn chuyển hóa chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Người bình thường thì lượng acid uric sản xuất ra và lượng thải trừ chúng luôn luôn cân bằng. Khi các loại thực phẩm có chứa nhân purin đưa vào cơ thể được phân hủy thành acid uric thì lượng acid uric trong máu sẽ tăng cao. Acid uric là loại trung tính mà cơ thể con người không cần thiết loại này cho nên sẽ bị thận lọc ra khỏi dòng máu, bài tiết ra ngoài cơ thể theo đường niệu. Khi lượng purin quá nhiều thì lượng acid uric được tạo ra cũng tăng theo nên cơ thể không thể đào thải ra hết được. Thực phẩm có nhiều chất purin (trừ các loại rau xanh nhiều prurin lại không làm gia tăng bệnh gút) là phủ tạng động vật như óc, thận, gan, tim; thịt đỏ như các loại thịt: chó, bò, trâu, cừu, ngan, vịt, ngỗng và hải sản như tôm, mực. Người ta cũng cho biết, ăn thịt chứa nhiều mỡ, sữa có nhiều chất béo, bia, thực phẩm sấy khô (cá khô, mực khô, thịt hun khói) và các chất ngọt nhân tạo có nguy cơ cao gây mắc bệnh gút.

thuc_pham_danh_cho_nguoi_benh_gout

Ngô và rau mùng tơi tốt cho người bệnh gút

Nên ăn thực phẩm gì và nên kiêng thực phẩm gì đối với người bị bệnh gút?

Nói chung, người bị gút nên sử dụng thức ăn ít chứa nhân purin như ngũ cốc (gạo, ngô, bánh mì), các loại hạt, bơ, dầu, mỡ,  đường, trứng, sữa, phomat tươi, rau, quả. Hạn chế sử dụng thịt, cá, hải sản, gia cầm, đậu đỗ. Nên kiêng ăn óc, gan, tim, thận, nấm. Tuyệt đối không uống rượu, bia, cà phê, chè nhưng cần uống nước lọc đủ lượng hằng ngày. Khi đang lên cơn đau gút cấp thì tạm thời chỉ ăn thức ăn: cơm, bánh mì, bột ngũ cốc, trái cây, rau các loại và không nên sử dụng chất đạm (nước mắm). Khi hết cơn đau, có thể ăn một số thức ăn có hàm lượng purin vừa như các loại họ đậu, rau dền, thịt gà, cá nhưng lượng ít. Đối với người béo, thừa cân mà bị bệnh gút thì nên có kế hoạch giảm cân từ từ, nếu giảm nhanh quá hoặc nhịn ăn thì nồng độ acid uric có thể tăng lên do sự phân hóa chính các tế bào của cơ thể dẫn đến cơn đau do gút.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Thấp khớp: bệnh nặng nhất trong 100 loại bệnh cơ xương khớp

Hiện nay người ta đã biết tới hơn 100 loại bệnh cơ khớp xương gây đau nhức và tàn tật cho hàng chục triệu người, trong đó bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis là bệnh nặng nhất, gây ra đau nhức khớp xương nặng và dần dần làm biến dạng các khớp xương. Bệnh nhân bị hạn chế vận động, cử động, đi lại khó khăn do tổn thương và biến dạng các khớp. Bệnh gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 20 – 50 tuổi.

Thấp khớp do di truyền?

Bệnh thấp khớp xảy ra do màng lót các khớp xương bị viêm sưng lên và tiết ra một chất đạm (protein) làm màng này ngày càng dày lên. Chất đạm này còn hủy hoại lớp sụn, xương, gân và dây chằng của khớp. Sau một thời gian bị bệnh, dần dần các khớp xương của bệnh nhân bị biến dạng, méo mó và có thể bị phá hủy. Câu hỏi đặt ra là tại sao các màng lót trong khớp xương lại bị sưng lên? Nhiều nghiên cứu cho rằng nhiễm khuẩn là nguyên nhân gây sưng các màng lót trong khớp. Bên cạnh đó, một số người có gen di truyền khiến họ dễ bị nhiễm khuẩn là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Một số nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra bệnh thấp khớp. Những yếu tố nguy cơ có thể làm một người dễ mắc bệnh thấp khớp là: tuổi già, phái nữ, người hút thuốc lá, thuốc lào.

thap_khop_benh_nang_nhat_trong_100_loai_benh_co_xuong_khop

Tổn thương khớp bàn tay trong bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis

Dấu hiệu của bệnh thấp khớp

Thông thường, một bệnh nhân bị bệnh thấp khớp có biểu hiện các triệu chứng sau đây trong một thời gian rồi tự khỏi, sau đó lại tái phát:  đau nhức và sưng các khớp, nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân. Đau nhức hoặc cứng toàn thể các khớp xương và bắp thịt, nhất là sau khi ngủ dậy vào mỗi buổi sáng hay sau một thời gian nghỉ ngơi. Các khớp khó hoặc không cử động được. Bắp thịt nơi chỗ khớp đau bị yếu đi. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, nhất là khi bệnh trở nặng. Sau một thời gian bị bệnh, các khớp xương bị biến dạng. Bệnh thấp khớp thường xảy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Đầu tiên là các khớp xương ở cổ tay, bàn tay, bàn chân và đầu gối bị viêm sưng. Tiếp theo là các khớp vai, khuỷu tay, háng, cằm và cổ cũng bị tổn thương. Ở những điểm dễ va chạm nhất của khớp xương như khuỷu tay, bàn tay và bàn chân, dây gân gót chân có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục thấp khớp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác hay ở trong phổi. Kích thước các cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu, nhưng cũng có thể to bằng quả táo nhỏ, với đặc điểm là  không gây đau đớn gì cả. Bệnh thấp khớp đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt, tuyến nước bọt, màng tim và màng phổi, phổi và các mạch máu. Đây là một bệnh mạn tính, có thời gian thuyên giảm, có lúc lại nặng lên. Hiện nay chưa có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương pháp bảo vệ các khớp, bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.

Biến chứng của bệnh

Bệnh thấp khớp gây ra cứng, đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần, bệnh nhân khó cử động, khó làm những việc đơn giản như cầm đũa ăn cơm, cầm bút viết, vặn nắm cửa…Bệnh nhân thấp khớp cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương, bệnh tim…tàn tật do khớp bị biến dạng.

 

Các phương pháp chữa trị

Điều trị nội khoa để giảm đau và ngăn sự tiến triển của bệnh có thể dùng một trong các thuốc sau: thuốc chống viêm không stenoid, COX 2 inhibitors, steroids, thuốc chống miễn nhiễm, thuốc chống trầm cảm… Lọc máu: loại bỏ bớt những kháng thể gây viêm và đau khớp. Phương pháp phẫu thuật để thay khớp đối với các khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều, giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau. Những phương cách chữa trị như châm cứu, thuốc đông y, thuốc dùng thêm như glucosamine, chondroitin sulfate… cũng có tác dụng nhất định.

Cách tự săn sóc: bệnh nhân cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình để giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần nhờ bác sĩ hay nhân viên vật lý trị liệu tư vấn về những môn hay động tác thể dục thích hợp và cần thiết để luyện tập. Hạn chế tăng cân vì khi thừa cân sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và bị phá hoại nhanh hơn. Ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc. Nên tắm nước nóng hay chườm nước nóng lên các khớp để giảm đau, thư giãn các bắp thịt và tăng cường tưới máu đến khớp. Tập thư giãn như thở sâu, thư giãn bắp thịt, thiền. Uống thuốc đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ.

Xác định tinh thần lạc quan, phối hợp với bác sĩ trong phòng và chữa bệnh. Sử dụng các dụng cụ bảo vệ khớp và hỗ trợ vận động như: băng đầu gối, gậy chống… Tránh làm việc hay cử động quá sức, nghỉ ngơi hợp lý.

BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh
Theo SKĐS