Tag Archives: Khớp háng

Nỗi ám ảnh cho xương khớp mỗi khi thay đổi thời tiết

Nguyên nhân

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, có đến 66% người từ 40 tuổi trở lên mắc nguy cơ thoái hóa khớp, những vị trí thường gặp nhất là cột sống thắt lưng (43%) và khớp gối (35%). Các bệnh về xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, và việc thời tiết thay đổi cũng có liên quan mật thiết đến diễn biến của các bệnh về khớp do sự thay đổi áp suất khí quyển, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Khi trời trở lạnh, áp suất khí quyển giảm xuống, các mô nở ra tạo áp lực cho khớp, độ ẩm tăng góp phần gây nên sưng mỏi khớp. Đồng thời mạch máu bị co lại khi nhiệt độ giảm xuống, khiến máu trong cơ thể lưu thông kém làm chân tay càng đau buốt, tê cứng hơn.

noi-am-anh-cho-xuong-khop-moi-khi-thay-doi-thoi-tiet

Với những người lớn tuổi, khi các tế bào xương dần dần bị lão hóa, các hóc-mon sinh dục giảm thấp, việc hấp thụ canxi và vitamin sút giảm dẫn đến bệnh loãng xương và các nguy cơ của thoái hóa khớp, thì thời tiết xấu lại là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về khớp hoành hành. Ngoài ra, những nguyên nhân dẫn đến chứng thoái hóa khớp ở người lớn tuổi như: tình trạng béo phì, yếu tố di truyền, các chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp… gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến biến dạng khớp, tràn dịch khớp và phế khớp.

Những khớp nào dễ bị thoái hóa?

Các khớp xương đều có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp háng, khớp gối. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, sau đó sẽ kéo dài cả ngày, tăng cao khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, gây ảnh hưởng đến thần kinh tọa, làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

Cột sống cổ: Biểu hiện chủ yếu bằng đau cổ, hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động, nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối.

Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn, đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi, cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi.

Chăm sóc sức khỏe các khớp thế nào?

Để hạn chế các nguy cơ về loãng xương và thoái hóa khớp nên có một chế độ sinh họat hợp lý. Thường xuyên tập luyện các khớp xương như: xoay, xoa bóp, đi lại và tập thể dục tùy theo điều kiện mỗi người.

Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng không kém trong việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là can-xi và vitamin D giúp xương chắc khỏe. Nhưng thực sự cơ thể chúng ta có được bổ sung đầy đủ chưa?

Theo nghiên cứu, glucosamine được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sụn, mô liên kết đệm khớp. Glucosamine tăng cường chất dịch không những làm giảm đau viêm khớp, mà còn ngăn ngừa biến chứng. Trong thức ăn hàng ngày không có nguồn cung cấp chính thành phần quan trọng này, chính vì thế sản phẩm duy trì xương khớp khỏe mạnh của Herbalife – Joint Support Advanced- với các thành phần Glucosamine chiết xuất từ rễ Scutellaria cùng với các khoáng chất như mangan, selen và đồng giúp tăng khả năng tổng hợp sụn khớp, giảm quá trình viêm khớp và hỗ trợ quá trình lão hóa lành mạnh.

Nguồn sức khỏe đời sống

Biện pháp phòng ngừa bệnh xương khớp ở mọi lứa tuổi

Hiện nay, bệnh viêm khớp dạng thấp, loãng xương, thoái hóa cột sống, khớp háng, khớp gối… xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Dưới đây là bài viết của Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Phú, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115, cảnh báo về một số vấn đề liên quan đến bệnh xương khớp ở trẻ em và người lớn.

Ở trẻ em, bệnh xương khớp rất đa dạng và có những đặc điểm riêng, có thể kể ra như: thấp khớp cấp, viêm khớp thiếu niên, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp mủ do vi khuẩn lao, dị dạng cột sống, còi xương…
xuong
Một số bệnh xương khớp có tính chất gia đình. Lối sống của cha/mẹ đóng vai trò quyết định sức khỏe của con cái. Nếu cha/mẹ hút thuốc lá uống rượu nhiều, mắc các bệnh cảm cúm do virus, hay dùng thuốc không hợp lý trong thời ký mang thai có thể dẫn tới sự xuất hiện những dị tật cơ xương khớp ở con cái của họ.

Trẻ em có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện thường mắc các bệnh tai mũi họng như viêm họng hạt, viêm amidan, viêm xoang, viêm mủ ngoài da. Đó chính là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều bệnh ở khớp: thấp tim, viêm khớp nhiễm khuẩn… Phòng ngừa cho trẻ là nên điều trị kịp thời và dứt điểm các nguyên nhân nhiễm khuẩn trên.

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong xuất hiện bệnh lý cơ xương khớp. Với trẻ em, cơ thể cần rất nhiều canxi, Vitamin D, protein và các chất khác để xây dựng khung xương. Do vậy, nếu chế độ ăn uống không đủ chất và số lượng thì trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, dẫn đến bệnh còi xương.

Ngoài ra việc mang vác nặng, ngồi sai tư thế ngồi lâu ngày… cũng là một nguyên nhân phổ biến, gây lệch vai, tổn thương xương sống hoặc gù, cong, vẹo cột sống…

Đối với độ tuổi trung niên, nguyên nhân chủ yếu gây ra gãy xương là do chấn thương, thoái hóa khớp, bệnh gout, loãng xương giai đoạn sớm. Ngoài nguyên nhân do sinh lý cơ thể theo lứa tuổi thì chế độ ăn uống không khoa học cũng là tác nhân gây hại về xương khớp. Một số người đau nhức do xương khớp cơ năng thường hay tự ý uống thuốc để giảm đau cũng là nguyên nhân gây hư xương và thoái hóa khớp. Để phòng ngừa bệnh, cần kiêng cữ, tiết chế, điều độ trong ăn uống.

Đối với người trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh xương khớp lên tới 60%. Đó là thoái hóa khớp, loãng xương, gãy cổ xương đùi, đau cột sống thắt lưng, gút, ung thư xương… Càng về già chất lượng xương càng yếu dần, vỏ xương không chắc chắn như lúc tuổi trẻ, nên rất dễ gãy cổ xương đùi khi có một sang chấn nhẹ. Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa tạo hình ảnh gai xương hoặc một biến dạng bất thường có thể gây ung thư xương với sự đau nhức dài ngày…

Để phòng ngừa, nên có sự tầm soát định kỳ mỗi 6 tháng với kiểm tra tổng quát có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra cần có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với chế độ thuốc men phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi.

Theo sức khỏe đời sống

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Phòng ngừa đau thắt lưng cấp do tư thế

Đau thắt lưng là một trong những hội chứng rất thường gặp trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày. Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng đau thắt lưng là nguyên nhân hay gặp nhất gây ốm đau và mất sức lao động ở những người dưới 45 tuổi; tỷ lệ đau thắt lưng hằng năm ước tính khoảng 5% dân số; 50% người đau thắt lưng ở trong độ tuổi lao động. Có nghiên cứu cho rằng 60 – 90% người trưởng thành bị đau vùng thắt lưng ít nhất 1 lần trong đời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the

Ai có thể mắc bệnh?

Thắt lưng là vùng được giới hạn từ bờ trên hai xương cánh chậu đến bờ dưới xương sườn 12, hai bên là hai cơ thẳng lưng. Đoạn cột sống thắt lưng có 5 đốt sống từ thắt lưng 1 đến thắt lưng 5 với 6 đĩa đệm (có 2 đĩa đệm chuyển đoạn ngực – thắt lưng và thắt lưng – cùng). Đoạn thắt lưng là đoạn chịu sức nặng của nửa trên cơ thể kháng lại trọng lực nên cấu tạo khỏe, chắc. Vùng thắt lưng có tầm vận động rộng gồm các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Biên độ vận động lớn nhất của vùng thắt lưng là ở thắt lưng 5 (L5)  và cùng 1 (S1); đây là vùng bản lề, đảm nhiệm khoảng 75% vận động cúi, ngửa vùng thắt lưng; còn lại 20% ở thắt lưng 4 (L4) và thắt lưng 5 (L5); và 5% ở các mức khác. Lực đè nén cuối cùng của cột sống cũng dồn cả vào vùng L5 và S1.

Đau thắt lưng có thể xảy ra từ từ hoặc đột ngột sau một vận động mạnh hoặc vận động không đúng tư thế; trong trường hợp này chỉ cần nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau thông thường, điều trị vật lý sau một thời gian đau vùng thắt lưng cũng sẽ thuyên giảm, nhưng vấn đề quan trọng là phục hồi lại chức năng vận động của vùng thắt lưng và đề phòng đau thắt lưng cấp và đau tái phát.

Phòng ngừa đau thắt lưng

Ở Việt Nam, ước tính đau thắt lưng chiếm tỷ lệ 2% trong cộng đồng; 6% trong tổng số các bệnh xương khớp. Đau thắt lưng là một vấn đề phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau và cũng có nhiều cách xử trí khác nhau, việc điều trị cơ bản của đau thắt lưng là tìm được nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân.

Đau thắt lưng là một trong những chứng bệnh hay tái phát nhất. Có thể những lần đau sau là do tổn thương thực thể của cột sống hoặc do một tình trạng bệnh lý mới xuất hiện, nhưng rất nhiều trường hợp đau thắt lưng cấp và đau tái phát là do người bệnh vận động ở tư thế không đúng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the02

Một trong những cách phòng ngừa đau lưng cấp và đau lưng tái phát hiệu quả nhất là giữ cho cơ thể ở tư thế đúng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày. Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

Đứng: Khi đứng cần đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Không ưỡn bụng và thắt lưng, cần giữ độ cong bình thường của cột sống đặc biệt là đoạn thắt lưng. Không nên đứng ở những tư thế cố làm cho thân mình cao lên đặc biệt là thói quen thường xuyên dùng giày hoặc guốc cao gót. Đối với những người bị thoát vị đĩa đệm cần hạn chế các động tác cúi làm gấp cột sống.

Ngồi: Khi ngồi nên ngồi trên ghế có chiều cao phù hợp với cơ thể mình để hai bàn chân đặt sát trên sàn nhà, khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng hai bên vuông góc, lưng thẳng, tựa đều vào thành ghế phía sau, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai bên mông và hai chân. Nếu cần có thể dùng một gối mỏng kê đỡ vùng thắt lưng để duy trì đường cong bình thường của đoạn cột sống này. Những người đã bị đau lưng đặc biệt là thoát vị đĩa đệm không được ngồi xổm, hạn chế các tư thế làm gấp cột sống.

Khi bê hoặc nâng đồ vật lên: Khi muốn bê hoặc nâng một vật từ dưới đất lên cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình, khoảng cách giữa đồ vật đó với cơ thể và sự phối hợp nhịp nhàng của động tác, cụ thể như sau:

– Hai bàn chân đứng cách nhau một khoảng rộng phù hợp để tạo chân đế vững chắc.

– Ngồi xổm xuống (bằng cách gấp khớp gối và khớp háng) không cúi gấp cột sống.

– Đưa đồ vật cần bê vào sát bụng, căng cơ bụng ra.

– Nâng đồ vật đó lên bằng cách đứng dậy. Không dùng cơ thắt lưng để nâng vật đó lên.

– Giữ cho cột sống thẳng, không xoắn vặn trong khi thực hiện động tác.

– Giữ cho độ ưỡn của đoạn thắt lưng vẫn được duy trì ở mức bình thường.

Khi bê và mang đồ vật đi: Khi muốn bê và mang một vật nào đó đi chỗ khác, chúng ta cũng cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình cũng như vị trí và khoảng cách của vật đó đối với cơ thể. Một số vấn đề cần chú ý như sau:

– Bê đồ vật cần mang đi như đã hướng dẫn ở trên.

– Ôm chắc đồ vật đó bằng hai tay.

– Giữ đồ vật đó sát vào bụng, ở mức ngang ngực – thắt lưng.

– Giữ cột sống thẳng, giữ đoạn thắt lưng ở độ ưỡn bình thường.

– Bước đi bình thường, thoải mái, không bước xiêu vẹo, xoắn vặn.

PGS.TS. Trần Văn Chương
(Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: xử lý gãy xương chậu

Gãy xương chậu chiếm tỷ lệ 1-2% trong tổng số gãy xương, là xương xốp nên khi gãy gây chảy máu nhiều. Gãy xương chậu chia ra 3 loại: gãy thành xương cánh chậu: di lệch ít, điều trị dễ; gãy ổ cối: điều trị khó, dễ biến chứng, ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của khớp hông sau này; gãy khung chậu: chảy nhiều máu, dễ sốc, hay kèm tổn thương cơ quan nội tạng trong khung chậu gây nguy hiểm đến tính mạng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_xu_ly_gay_xuong_chau01

Kết hợp xương bằng nẹp và vít điều trị gãy xương chậu

Đặc điểm giải phẫu khung chậu

Khung chậu có hình như một cái chậu thắt ở giữa, được cấu tạo bởi 2 xương chậu, xương cùng và xương cụt. Xương chậu gồm 3 xương hợp lại là xương chậu, xương ngồi, xương mu, tiếp giáp 3 xương là ổ cối, phía trước là khớp mu, phía sau khớp với xương cùng của cột sống gọi là khớp cùng chậu.

Nguyên nhân gãy xương chậu là gì?

Thường gặp gãy xương chậu do ngã: ngã ngồi gây gãy ụ ngồi, gãy ngành cánh chậu (gãy kiểu Duverney); do chấn thương: xương chậu bị ép lại trong trường hợp xe đè qua hay bị vật nặng đè ép, rơi từ độ cao lớn, do sập hầm, vùi lấp, tai nạn giao thông; vận cơ quá mức thường gặp ở người chơi thể thao, luyện tập võ thuật, động tác đột ngột trong lao động: gãy gai chậu trước trên do cơ căng cân đùi và cơ may kéo mạnh, gãy gai chậu trước dưới do cơ thẳng trước kéo, gãy cánh chậu do cơ mông nhỡ kéo.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_xu_ly_gay_xuong_chau02

Những tổn thương gãy thường gặp

Gãy khung chậu: sau chấn thương bệnh nhân thấy sưng nề, tụ máu vùng gãy xương;  không nâng được chân lên khỏi mặt giường; ép giữa khung chậu thấy đau chói. Triệu chứng tổn thương các cơ quan trong khung chậu và trong ổ bụng: rách, đứt niệu quản, vỡ bàng quang, đứt niệu đạo, tổn thương âm đạo, tử cung, vòi buồng trứng, mạch máu, thần kinh, vỡ thận, gan, lách, thủng ruột non, ruột già. Chụp Xquang thẳng nghiêng thấy hình ảnh gãy xương: gãy cung trước, cung sau, trật khớp mu, trật khớp cùng – chậu.

Gãy thành chậu, rìa chậu: Bệnh nhân không co gấp đùi vào bụng được, bất lực vận động, đau nhiều ở vùng gãy nếu sưng nề lớn; ấn đau tại chỗ: ụ ngồi, gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, xương cùng, xương cụt; ép khung chậu đau; nếu  gãy xương cùng, ngành mu chậu thì thăm âm đạo, trực tràng đau. Chụp Xquang xác định thể gãy thành chậu: gãy gai chậu trước trên và trước dưới; gãy dọc cánh chậu; gãy ngang cánh chậu kiểu Duverney; gãy ngang xương cùng; gãy ngành mu – chậu; gãy ụ ngồi; gãy ngành ngồi – chậu; gãy ngang xương cụt.

Gãy ổ cối: Bệnh nhân đau nhiều trong khớp háng; không đứng, không cử động được khớp háng; nếu làm cử động khớp háng bệnh nhân sẽ rất đau; vị trí mấu chuyển lớn có thể bị di lệch khi trật khớp háng trung tâm. Chụp Xquang phát hiện gãy rìa trên, rìa dưới ổ cối; gãy rìa ổ cối mảnh lớn gây bán trật khớp háng nhẹ; gãy đáy ổ cối có chỏm xương đùi lọt qua gây trật khớp háng trung tâm.

Chẩn đoán phân biệt: Gãy xương chậu cần phân biệt với các trường hợp: đụng giập phần mềm khung chậu; trật khớp háng; gãy cổ xương đùi.

Biến chứng: Gãy xương chậu có thể có các biến chứng như sốc do bệnh nhân bị mất máu nhiều; viêm phổi do bệnh nhân phải nằm lâu ngày, viêm đường tiết niệu; bán trật khớp háng; trật khớp háng trung tâm; tổn thương các cơ quan trong khung chậu; viêm phúc mạc giả do máu tụ sau phúc mạc; can lệch trong các trường hợp gãy ổ cối, gãy khung chậu di lệch lớn; thoái hoá khớp háng; hoại tử chỏm xương đùi.

Cách xử lý

Sơ cứu: Nếu gãy thành chậu có thể dùng thuốc giảm đau tại chỗ và toàn thân; vận chuyển nhẹ nhàng trên võng đến bệnh viện. Trường hợp gãy khung chậu chỉ dùng thuốc giảm đau tại chỗ, không dùng thuốc giảm đau toàn thân khi chưa rõ tổn thương kết hợp; vận chuyển bệnh nhân nhẹ  nhàng trên ván cứng về cơ sở điều trị.

Điều trị: Nếu bệnh nhân bị sốc phải chống sốc tích cực. Đồng thời  phải điều trị các tổn thương kết hợp.

+ Gãy thành chậu: thường điều trị bảo tồn, bệnh nhân phải nằm bất động trên giường từ 2-4 tuần. Đối với gãy Duverney, do di lệch lớn nên phải nắn chỉnh, băng dính tại chỗ và bất động trên giường 4-6 tuần. Nếu gãy xương cụt: nắn chỉnh qua trực tràng hoặc phẫu thuật. Gãy gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới cần phẫu thuật khâu dính lại, kết hợp xương bằng vít. Gãy ổ cối kết hợp xương bằng đinh Kirschner qua lồi cầu xương đùi kéo liên tục với trọng lượng 8 – 10kg trong 10 – 14 tuần.

+ Gãy khung chậu: điều trị bảo tồn nếu gãy một cung trước hoặc sau ít di lệch, cho bệnh nhân nằm bất động 5-6 tuần. Gãy hai cung, gãy kiểu Malgaigne ít di lệch, cho bệnh nhân nằm bất động trên giường, gác chân trên giá Braun 4-8 tuần. Gãy khung chậu di lệch: nắn chỉnh bằng xuyên đinh Kirschner qua lồi cầu xương đùi kéo liên tục, chân đặt trên giá Braun kéo trọng lượng bằng 1/7 trọng lượng cơ thể liên tục trong 10 -14 tuần. Có thể để người bệnh để mông trên võng vải bắt chéo giúp cho diện  gãy ép vào nhau. Bệnh nhân cần tập vận động khi liền xương. Dùng phương pháp phẫu thuật đối với các trường hợp: gãy cung trước di lệch nhiều như ngành mu – chậu, kết hợp xương bằng nẹp vít, đinh chữ U; gãy toác khớp mu: kết hợp xương bằng buộc vòng dây thép, nẹp vít cố định khung chậu bằng khung cố định ngoài; gãy  thành sau hoặc gãy toác dọc cánh chậu: kết hợp xương bằng nẹp vít.

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Tàn phế không chỉ đợi đến tuổi già

Nếu như sự thoái hóa xương khớp ở người cao tuổi diễn ra là một quá trình tự nhiên và thường được quan tâm điều trị thì ở người trẻ tuổi là sự bất thường nhưng lại dễ bị bỏ qua vì họ tự tin vào sức lực còn trẻ của mình. Ngày càng nhiều các trường hợp trong độ tuổi lao động bị thoái hóa chỏm xương đùi nhưng hoàn toàn không phải do nhiễm khuẩn mà là do những thói quen có hại và bệnh lý mạn tính khác.

Bất ngờ khi bệnh của tuổi già đến sớm

Chưa đến 50 tuổi, khỏe mạnh và là lao động chính của gia đình, ông Nguyễn Văn Ng. (Hà Đông – Hà Nội) không tin mình bị thoái hóa khớp sớm đến thế. Cách đây hơn 1 năm, ông bắt đầu có những dấu hiệu đau mỏi một bên khớp háng, cứ nghĩ do mình lao động ban ngày nhiều quá. Nhưng càng ngày bệnh càng nặng hơn, ông chỉ nghĩ mình bị chứng bệnh thần kinh gì đó nên dùng rất nhiều cách chữa theo Đông y như dùng cao xoa bóp, bấm huyệt, uống thuốc Nam. Những cơn đau không chỉ làm ông hạn chế đi lại, giảm khả năng lao động mà còn làm cho bên chân trái ngắn hơn chân phải gần 2cm. Kết quả khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, ông Ng. bị chứng thoái hóa chỏm xương đùi vô khuẩn ở giai đoạn rất nặng, cần phải phẫu thuật thay khớp háng.

tan_phe_khong_doi_den_tuoi_gia_01

Bệnh nhân sau khi thay khớp háng

ThS. Trần Trung Dũng – Khoa ngoại xương khớp – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, thoái hóa chỏm xương đùi vô khuẩn là một dạng bệnh không gặp ở người cao tuổi mà chỉ gặp ở người còn trẻ, đang còn khả năng lao động, khoảng từ 40 – 50 tuổi. Nếu như sự thoái hóa xương khớp ở người cao tuổi diễn ra là một quá trình tự nhiên và thường được quan tâm điều trị thì ở người trẻ tuổi là sự bất thường nhưng lại dễ bị bỏ qua vì họ tự tin vào sức lực còn trẻ của mình. Ngày càng nhiều các trường hợp trong độ tuổi lao động bị thoái hóa chỏm xương đùi nhưng hoàn toàn không phải do nhiễm khuẩn mà là do những thói quen có hại, đặc biệt là những người có thời gian dài hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia. Trường hợp ông Ng. là một hậu quả cụ thể của 20 năm hút thuốc lá.

Nguy cơ lớn ở người đái tháo đường, rối loạn mỡ máu

Các bác sĩ cho biết, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thoái hóa chỏm xương đùi là do không cung cấp đủ máu nuôi vùng xương này. Sự tắc nghẽn dần dần hay đột ngột của các mạch máu lại liên quan chặt chẽ đến bệnh vữa xơ động mạch, gút, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, béo phì- thừa cân. Các bệnh lý này đang ngày một tăng lên và ngày càng có nhiều người trẻ mắc bệnh, do đó nguy cơ thoái hóa chỏm xương đùi ở những đối tượng này là rất lớn. Ở những người hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia sẽ làm quá trình vữa xơ động mạch diễn ra nhanh hơn, trầm trọng hơn ngay ở tuổi còn rất trẻ cho nên hậu quả bệnh cũng nặng hơn. Bên cạnh đó, một phần nhỏ là yếu tố nghề nghiệp như thợ lặn hay tai nạn cũng có thể dẫn đến thoái hóa chỏm xương đùi vô khuẩn.

tan_phe_khong_doi_den_tuoi_gia_02

Khớp háng thoái hóa và khớp háng nhân tạo

Hầu hết bệnh nhân đến bệnh viện đã ở  giai đoạn muộn nên việc điều trị nội khoa nhằm tăng cường lưu lượng máu nuôi chỏm xương không còn mấy tác dụng. Một số trường hợp khi thiếu máu gây phù  nề, chết tế bào xương có thể được tiến hành khoan giảm áp tạo đường hầm để thoát dịch ra ngoài và tăng tưới máu từ cổ xương đùi lên mặt chỏm. Cùng với khoan giảm áp, các trường hợp này có thể được tiêm tế bào gốc tủy xương qua đường hầm để tái tạo lại tế bào bị hoại tử hoặc sử dụng các biện pháp ghép xương có cuống mạch để tăng lượng máu nuôi chỏm. Trước đây chỉ định phẫu thuật thay khớp háng hầu hết chỉ dành cho người cao tuổi bị gãy cổ xương đùi do loãng xương nhưng hiện nay chỉ định này còn dành nhiều cho người còn trẻ bị hoại tử chỏm xương đùi vô khuẩn giai đoạn muộn. Đối với những trường hợp phải thay khớp háng nhân tạo, ThS. Dũng cho biết, do tuổi thọ của khớp háng nhân tạo thường dùng chỉ khoảng 15 năm, nếu một người 40 tuổi có chỉ định thay thì rất có thể họ phải thay từ 2- 3 lần trong suốt quãng đời còn lại, do đó đa số các phẫu thuật viên lựa chọn khớp háng nhân tạo không xi măng như khớp kim loại hoặc khớp gốm. Đây là những khớp có tuổi thọ cao đồng thời có thể giúp việc thay lại các lần sau được dễ dàng hơn.

Các bác sĩ cảnh báo, sự tàn phế khớp không đợi đến tuổi già, do vậy tất cả những người có yếu tố nguy cơ cao như đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, xơ vữa động mạch, hút thuốc lá… cần được đi khám và điều trị sớm khi có dấu hiệu bệnh.

Lê Hảo
Theo SKĐS

Đề phòng trật khớp háng sau mổ thay khớp háng

Ngày nay, thay khớp háng là một phẫu thuật chỉnh hình rất phổ biến, nhờ có can thiệp này mà bệnh nhân được cải thiện rõ rệt chức năng đi lại, trở về với cuộc sống gia đình và xã hội. Phục hồi chức năng (PHCN) sau mổ thay khớp háng đóng vai trò quan trọng để giúp bệnh nhân biết cách tự bảo vệ khớp háng mới thay và sớm độc lập trong sinh hoạt hằng ngày.

Thay khớp háng là phương pháp phẫu thuật hiện đại cho những bệnh nhân mất chức năng khớp háng do tổn thương khớp háng vì những nguyên nhân như: Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi, thoái hóa khớp háng, viêm khớp háng, loạn sản khớp háng và đặc biệt là gãy cổ xương đùi do loãng xương ở người cao tuổi.

de_phong_trat_khop_hang_sau_mo_thay_khop_hang

Khớp háng nhân tạo.

Thay khớp háng là gì?

Phẫu thuật viên sẽ cắt bỏ khớp háng đã bị hỏng, sau đó thay vào một khớp háng nhân tạo. Khớp háng này được gắn bằng xi măng hoặc không có xi măng (nếu không có xi măng thì sau 12 tuần, xương của bạn sẽ được gắn liền với khớp mới). Có 2 loại thay khớp háng, nếu thay cả chỏm và ổ cối thì gọi là thay khớp háng toàn bộ, nếu chỉ thay chỏm xương đùi thì gọi là thay khớp háng một phần. Tuổi thọ của khớp háng nhân tạo tùy thuộc vào chất liệu khớp, trung bình là 15 năm.

Phục hồi chức năng (PHCN) sau mổ thay khớp háng

PHCN sau mổ thay khớp háng không phức tạp, PHCN là một quá trình từ chuẩn bị trước mổ, sau mổ và sau khi ra viện. Điều quan trọng nhất của PHCN là hướng dẫn cho bệnh nhân biết phòng tránh trật khớp háng nhân tạo sau mổ.

Nguy cơ trật khớp háng sau mổ từ 0,5-4%, tùy thuộc vào kỹ thuật mổ, tình trạng bệnh kèm theo, sự hiểu biết, sự phối hợp của gia đình và bệnh nhân. Để khớp háng nhân tạo được liền tốt thì cần có thời gian trung bình là 3 tháng, lúc này xương đùi đã gắn liền với thân khớp, bao khớp giả đã được hình thành do đó khớp háng được vững chắc hơn, nguy cơ trật khớp sẽ giảm dần. Chính vì vậy, bệnh nhân cần được giáo dục phòng tránh trật khớp háng sau mổ, đặc biệt trong vòng 3 tháng đầu sau mổ. Tư thế dễ gây trật khớp háng là: gập-khép và xoay trong phối hợp.

Chuẩn bị phòng cho bệnh nhân sau mổ

Giường cần được kê cao sao cho khi bệnh nhân ngồi khớp háng không bị gập quá 90o. Đầu giường có thể nâng cao, có trợ giúp để bệnh nhân có thể ngồi dậy.

Chuẩn bị các loại gối để kê chân khi nằm.

Ghế ngồi không lún, đảm bảo khi ngồi khớp háng không gập quá 90o.

Buồng vệ sinh:

– Có vòi tắm hoa sen, có tay vịn, có ghế tựa cao, xí bệt cần được nâng cao để khi ngồi, khớp háng không gập quá 90o. Không được ngồi xổm tắm, không sử dụng bồn tắm, không được cúi múc nước.

– Các dụng cụ trợ giúp trong sinh hoạt: Ghế cao, đót giày có cán dài, dụng cụ lấy đồ có cán dài để tránh cúi gập thân khi sử dụng.

Một số tư thế người bệnh thay khớp háng cần chú ý

Tư thế nằm: Không được nằm nghiêng sang bên lành với tư thế khớp háng mổ khép và xoay trong vì dễ gây trật khớp mà nên nằm nghiêng sang bên lành với gối chèn giữa 2 chân để tránh khép và xoay trong. Nếu nằm ngửa cần kê gối chèn giữa để đảm bảo khớp háng ở vị trí trung tính: không quá dạng, không bị khép, không xoay ngoài quá mức. Luôn ngồi dậy từ bên khớp háng mổ, nhích dần chân mổ ra mép giường, sau đó từ từ đặt bàn chân xuống nền nhà rồi di chuyển nốt chân lành. Khung tập đi đặt ngay sát giường để bạn có thể di chuyển khi cần.

Đứng dậy và đi: Để khung tâp đi đối diện với bạn, đưa chân mổ choãi ra phía trước, dùng sức mạnh 2 tay để nâng thân trong tư thế không gập khớp háng quá mức.

Khi đi, không để mũi chân bên mổ xoay ra phía ngoài, không xoay quá mức vào trong hay quá đung đưa ra sau, không bắt chéo chân.

ThS. Ngân Thị Hồng Anh
Theo SKĐS

Thoái hóa khớp: Có thuốc chữa khỏi không?

Thoái hóa khớp (hư khớp) không phải là một bệnh mà là tình trạng lão hóa (già) của khớp. Ở đầu xương bao giờ cũng có một lớp sụn, lớp sụn này giúp cho khớp trơn tru, dễ dàng trong vận động, chịu được sức nén, hoạt động. Lớp sụn này luôn luôn được đổi mới, mòn đến đâu đắp lên đến đấy, hỏng đến đâu phục hồi đến đấy. Quá trình cứ xây xây, phá phá như thế kéo dài cho đến tuổi già và từ 50 tuổi trở đi thì quá trình phá nhiều hơn xây, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi, ngày càng nứt nẻ ra… để trơ lại lớp xương ở bên dưới.

Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… đây chính là tình trạng mà ta gọi là thoái hóa.

thoai_hoa_khop_co_thuoc_chua_khoi_khong

Có nhiều nguyên nhân gây thoái hóa nhưng chủ yếu là sự lão hóa của cơ thể (sau tuổi 50 con người đã có những biểu hiện của sự lão hóa). Mức độ lão hóa khác nhau tùy thuộc vào từng cá thể và điều kiện sống của cá thể đó. Thực tế thoái hóa khớp thường biểu hiện ở 3 vị trí: cột sống, khớp gối và khớp háng.

Để điều trị thoái hóa khớp người ta sử dụng phối hợp phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chườm ngải cứu, đắp bùn nóng…

Các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp:

– Thuốc giảm đau, chống viêm (paracetamol, aspirin, meloxicam, diclofenac): Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm từ nhẹ đến nặng (các thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời).  Nói chung nên hạn chế dùng kéo dài vì những tác dụng không mong muốn của thuốc như loét dạ dày – tá tràng…

– Thuốc bổ sung chất nhày cho khớp: sử dụng những chế phẩm có cấu trúc phân tử gần giống như dịch khớp tiêm vào ổ khớp. Chỉ tiêm khi có hiện tượng  đau, khô khớp, khó vận động và thường tiêm vào khớp gối.

– Thuốc dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin sulfat. Gần đây chất này được nhiều tác giả nghiên cứu để điều trị thoái hóa khớp do có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

– Các thuốc bôi, xoa ngoài: tùy theo thành phần hoạt chất trong đó có tác dụng giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, giãn cơ.

– Các thuốc bổ: các thuốc bổ gân, bổ xương… (có giá trị về mặt tâm lý hơn là giá trị thực tế).

Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với vật lý trị liệu và các liệu pháp vận động khác. Khi khớp bị tổn thương quá nặng, mất khả năng vận động phải thay khớp.

Thoái hóa khớp là một tất yếu của tuổi già vì thế không có thuốc chữa khỏi hẳn. Chỉ có thể làm chậm lại quá trình này bằng tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe. Tuyệt đối không cho tăng cân (vì nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần), tránh các động tác có hại cho khớp và chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (người có bàn chân vẹo, chân chữ O, X )…

Theo SKĐS

Thay khớp háng ở người lớn tuổi

Người lớn tuổi thường bị loãng xương nên xương giòn và dễ gãy, dù chỉ bị chấn thương nhẹ. Một trong những loại gãy xương thường gặp nhất là gãy cổ xương đùi. Theo thống kê, những người từ 50 tuổi trở lên đều có thể bị chấn thương này. Riêng ở Việt Nam, cứ 10 người bị gãy cổ xương đùi thì có 9 người trên 50 tuổi.

Gãy cổ xương đùi xảy ra khi nào?

Gãy cổ xương đùi là một loại gãy xương nặng, khó liền xương và thường có nhiều biến chứng. Đây là loại gãy xương thường gặp ở người lớn tuổi, liên quan đến tình trạng loãng xương và nuôi dưỡng kém của cổ và chỏm xương đùi.

thay_khop_hang_o_nguoi_lon_tuoi_01

Khớp háng nhân tạo.

Những trường hợp đi trên nền láng, trơn và bị trượt té, ngồi bệt xuống đất; sau đó thấy đau vùng háng và không thể đứng dậy đi có thể là dấu hiệu của gãy cổ xương đùi. Khi đó, bệnh nhân cần được chụp Xquang khớp háng bên bị đau để xác định chính xác chấn thương. Nếu kết quả Xquang cho thấy bị gãy cổ xương đùi, bệnh nhân phải được điều trị ngay tại chuyên khoa chấn thương chỉnh hình. Gãy cổ xương đùi nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong do gãy xương gây đau đớn, bệnh nhân không thể cử động chân bị gãy, phải nằm yên một chỗ; từ đó sinh ra những biến chứng như loét da vùng lưng, viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, tắc mạch ở các cơ quan bộ phận do ứ trệ tuần hoàn.

Gãy cổ xương đùi rất dễ xảy ra với người lớn tuổi vì thường liên quan đến tình trạng loãng xương. Ở người già, nuôi dưỡng chỏm xương đùi rất kém do các mạch máu thường bị thoái hóa, việc nuôi dưỡng chỏm xương đùi chủ yếu dựa vào các mạch máu từ thân xương đi lên, khi gãy cổ xương đùi, các mạch máu này thường bị tổn thương do đó gần như chỏm xương đùi không được nuôi dưỡng.

Làm sao để điều trị hiệu quả gãy cổ xương đùi?

Đối với gãy cổ xương đùi, một số trường hợp may mắn, không di lệch hoặc di lệch rất ít thì mới có khả năng điều trị bảo tồn, không phẫu thuật, còn các trường hợp khác thường phải điều trị phẫu thuật. Một số trường hợp, có thể đặt lại ổ gãy và cố định bằng dụng cụ, tuy nhiên khả năng liền xương rất kém, nguy cơ tiêu chỏm cao. Chính vì vậy, đối với những trường hợp gãy cổ xương đùi ở người lớn tuổi, thường được chỉ định thay khớp háng nhân tạo. Mục đích của phương pháp này là lấy bỏ phần cổ xương đùi bị gãy và thay vào đó bằng một khớp háng nhân tạo.

Nhờ phương pháp thay khớp háng nhân tạo, bệnh nhân có thể cử động khớp háng mà không bị đau đớn, có thể đứng lên và đi sớm, tránh được các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng. Cần lưu ý là sau khi mổ thay khớp háng nhân tạo, bệnh nhân cần tránh ngồi bắt chéo chân, ngồi xổm, chơi thể thao hoặc lao động nặng. Ngoài ra, tuổi thọ trung bình của một khớp háng nhân tạo kéo dài từ 10-15 năm. Vì thế, sau thời gian này, bệnh nhân cần phải thay một khớp háng nhân tạo khác.

thay_khop_hang_o_nguoi_lon_tuoi_02

Loãng xương là một nguyên nhân dẫn đến gãy cổ xương đùi.

Thay khớp háng nhân tạo có an toàn không?

Hầu hết bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi đều có thể mổ thay khớp háng nhân tạo, ngay cả đối với những trường hợp 70-80 tuổi; có những bệnh nhân trên 90 tuổi mà kết quả phẫu thuật vẫn tốt. Khi khớp háng được thay sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, làm cho bệnh nhân không đau và đi lại được, tránh tình trạng tàn phế và các tai biến do nằm lâu. Tuy nhiên điều lo lắng nhất khi tiến hành phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo cho bệnh nhân cao tuổi là vấn đề gây mê hồi sức. Do đặc điểm sức khỏe của người cao tuổi nên có rất nhiều nguy cơ xảy ra trên bàn mổ, sau mổ, do vậy nhiều người bệnh từ chối điều trị bằng phẫu thuật và đành chấp nhận tàn phế, làm gánh nặng cho gia đình. Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, với việc ứng dụng kỹ thuật vô cảm tiên tiến, có khả năng đáp ứng yêu cầu an toàn trong phẫu thuật cho người cao tuổi, đồng thời làm giảm đau sau phẫu thuật cho những bệnh nhân này, giảm thiểu những ảnh hưởng của thuốc tê lên bệnh nhân đã giúp cho khả năng thực hiện được các phẫu thuật cho những bệnh nhân cao tuổi, trong đó có phẫu thuật thay khớp háng.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân vận động bình thường, tuy nhiên người bệnh cần đặc biệt chú ý cẩn thận khi vận động, tránh những tai nạn làm ảnh hưởng đến khớp háng nhân tạo. Nếu thấy có những bất thường cần đến nơi đã phẫu thuật điều trị để được khám và điều trị kịp thời.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS