Tag Archives: khớp gối

Nỗi ám ảnh cho xương khớp mỗi khi thay đổi thời tiết

Nguyên nhân

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, có đến 66% người từ 40 tuổi trở lên mắc nguy cơ thoái hóa khớp, những vị trí thường gặp nhất là cột sống thắt lưng (43%) và khớp gối (35%). Các bệnh về xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, và việc thời tiết thay đổi cũng có liên quan mật thiết đến diễn biến của các bệnh về khớp do sự thay đổi áp suất khí quyển, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Khi trời trở lạnh, áp suất khí quyển giảm xuống, các mô nở ra tạo áp lực cho khớp, độ ẩm tăng góp phần gây nên sưng mỏi khớp. Đồng thời mạch máu bị co lại khi nhiệt độ giảm xuống, khiến máu trong cơ thể lưu thông kém làm chân tay càng đau buốt, tê cứng hơn.

noi-am-anh-cho-xuong-khop-moi-khi-thay-doi-thoi-tiet

Với những người lớn tuổi, khi các tế bào xương dần dần bị lão hóa, các hóc-mon sinh dục giảm thấp, việc hấp thụ canxi và vitamin sút giảm dẫn đến bệnh loãng xương và các nguy cơ của thoái hóa khớp, thì thời tiết xấu lại là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về khớp hoành hành. Ngoài ra, những nguyên nhân dẫn đến chứng thoái hóa khớp ở người lớn tuổi như: tình trạng béo phì, yếu tố di truyền, các chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp… gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến biến dạng khớp, tràn dịch khớp và phế khớp.

Những khớp nào dễ bị thoái hóa?

Các khớp xương đều có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp háng, khớp gối. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, sau đó sẽ kéo dài cả ngày, tăng cao khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, gây ảnh hưởng đến thần kinh tọa, làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

Cột sống cổ: Biểu hiện chủ yếu bằng đau cổ, hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động, nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối.

Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn, đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi, cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi.

Chăm sóc sức khỏe các khớp thế nào?

Để hạn chế các nguy cơ về loãng xương và thoái hóa khớp nên có một chế độ sinh họat hợp lý. Thường xuyên tập luyện các khớp xương như: xoay, xoa bóp, đi lại và tập thể dục tùy theo điều kiện mỗi người.

Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng không kém trong việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là can-xi và vitamin D giúp xương chắc khỏe. Nhưng thực sự cơ thể chúng ta có được bổ sung đầy đủ chưa?

Theo nghiên cứu, glucosamine được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sụn, mô liên kết đệm khớp. Glucosamine tăng cường chất dịch không những làm giảm đau viêm khớp, mà còn ngăn ngừa biến chứng. Trong thức ăn hàng ngày không có nguồn cung cấp chính thành phần quan trọng này, chính vì thế sản phẩm duy trì xương khớp khỏe mạnh của Herbalife – Joint Support Advanced- với các thành phần Glucosamine chiết xuất từ rễ Scutellaria cùng với các khoáng chất như mangan, selen và đồng giúp tăng khả năng tổng hợp sụn khớp, giảm quá trình viêm khớp và hỗ trợ quá trình lão hóa lành mạnh.

Nguồn sức khỏe đời sống

Điều trị bệnh khớp gối bằng phẫu thuật nội soi

Khi bạn bị viêm khớp gối, bị dị vật vùng khớp gối, đau khớp do thoái hóa giai đoạn sớm… phẫu thuật nội soi là phương pháp có thể can thiệp những triệu chứng này.

Cấu tạo của khớp gối

Khớp gối bao gồm hai mặt khớp đó là mặt khớp lồi cầu đùi và mâm chày và mặt khớp giữa lồi cầu đùi và bánh chè. Giữa mặt khớp lồi cầu đùi và mâm chày có cấu trúc sụn gọi là sụn chêm. Sụn chêm nằm chêm giữa mặt sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày nhằm mục đích giảm sốc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc trong quá trình vận động.

Mặt khác sụn chêm còn có tác dụng giữ cho khớp gối được vững vàng khi vận động. Có hai sụn chêm gồm sụn chêm trong và ngoài nằm trong khoang khớp gối trong hay ngoài.

dieu-tri-benh-khop-goi-bang-phau-thuat-noi-soi

Khớp gối được giữ vững nhờ hệ thống dây chằng bên trong, bên ngoài và hai dây chằng chéo trước và chéo sau nằm bên trong khớp gối. Dây chằng chéo trước có tác dụng chính là giữ không cho mâm chày trượt ra trước và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau. Dây chằng bên ngoài giúp gối không bị vẹo trong, dây chằng bên trong giúp cho gối không bị vẹo ra ngoài.

Toàn bộ khớp gối được bao phủ bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp với lượng vừa đủ để bôi trơn quá trình vận động của khớp gối giống như nhớt xe vậy. Tuy nhiên, màng hoạt dịch còn có tác dụng chống viêm nhiễm. một khi bị chấn thương hay do viêm nhiễm, bao hoạt dịch có thể bị dày lên, tiết nhiều dịch khớp làm khớp gối sưng lên. Bao hoạt dịch dày lên cũng làm cản trở thuốc ngấm vào khớp, làm giảm tác dụng điều trị.

Vai trò của phẫu thuật nội soi

Trong những thập niên gần đây, với sự phát triển của các ngành kỹ thuật, các dụng cụ phẫu thuật nhỏ và chính xác ra đời, trong đó phải kể đến ngành nội soi. Nội soi khớp gối là dùng một nguồn sáng lạnh đưa vào trong gối, thông qua 1 máy quay nhỏ (camera) toàn bộ hình ảnh trong khớp gối sẽ được trình chiếu trên 1 màn hình ti vi với một độ phóng đại nào đó. Phẫu thuật viên nhờ đó sẽ nhìn thấy rõ mọi cấu trúc nằm trong khớp gối.

Hình mổ nội soi khớp gối, một lỗ dùng cho camera, một lỗ khác dùng để cho dụng cụ vào thực hiện các thao tác phẫu thuật. nước muối sinh lí được dùng để bơm phồng khớp gối.

Một hoặc nhiều đường mổ nhỏ khác sẽ được tạo ra nhằm đưa các dụng cụ vào trong khớp gối để thực hiện các thủ thuật. Thuận lợi của loại phẫu thuật này là gây ra ít đau hơn do đường mổ nhỏ, thời gian hồi phục sớm hơn, và trong một số trường hợp chính xác hơn so với mổ hở. Càng ngày phẫu thuật nội soi khớp nói chung và khớp gối nói riêng càng có nhiều chỉ định. Đối với khớp gối, nội soi có thể dùng để hỗ trợ trong các trường hợp sau :

1. Dùng để chẩn đoán khi mà với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học không cho ra quyết định chính xác. Nội soi cho phép phẫu thuật viên nhìn thấy và “sờ” được các cấu trúc bên trong khớp gối do đó cho chẩn đoán chính xác. Nội soi dùng để kiểm chứng mức độ tin cậy của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học khác.

dieu-tri-benh-khop-goi-bang-phau-thuat-noi-soi1

2. Phẫu thuật cắt sụn chêm hoặc khâu sụn chêm bị rách khi có chỉ định phẫu thuật. Cho đến nay người ta đã chứng minh rằng phẫu thuật cắt sụn chêm bằng nội soi có kết quả tốt hơn mổ hở.

Triệu chứng điển hình của rách sụn chêm trong khớp gối là đau khi đi đứng hoặc bị “kẹt” khớp gối nghĩa là bệnh nhân có thể gập gối nhưng không thể duỗi gối ra được và phải lựa thế để duỗi gối ra, đôi khi không thể duỗi gối ra và phải nội soi cấp cứu để cắt sụn chêm.

3. Phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước trong tổn thương đứt dây chằng chéo trước của gối. Đây là kỹ thuật dùng sợi gân bánh chè hoặc gân chân ngỗng để thay thế dây chằng chéo trước bị đứt (dây chằng chéo trước không có khả năng lành khi được khâu lại).

Triệu chứng của đứt dây chằng chéo trước trong khớp gối là đau hoặc mất vững khi đi. Khởi đầu là một chấn thương vùng gối đôi khi không nặng nhưng ở tư thế xoay, gối sưng lên, không thể gập gối hoặc rất đau khi gập gối. phim X- quang thường không phát hiện được gì và hay được chẩn đoán bong gân gối. thời gian sau, gối có thể được gập duỗi tốt nhưng bắt đầu xuất hiện triệu chứng đau hoặc mất vững, bệnh nhân hay bị “sụm” gối khi đi, lên xuống bậc thang khó khăn.

Khám lâm sàng thường phát hiện được với test Lachman hoặc jerk test. Chụp MRI thường cho phép khẳng định chẩn đoán nhưng không bắt buộc khi thăm khám đã thấy rõ triệu chứng. Đứt dây chằng chéo trước nếu không điều trị sẽ làm khớp gối mau bị hư và gây đau.

4. Nội soi hỗ trợ việc lấy các dị vật trong khớp gối như các mảnh sụn trong bệnh lí viêm sụn tách rời.

5. Trong các bệnh lí viêm khớp gối như viêm khớp dạng thấp làm cho các bao hoạt mạc dầy lên, khớp gối sưng to do tràn dịch, làm giảm tác dụng của thuốc kháng viêm, người ta dùng dụng cụ và với sự hỗ trợ của nội soi cắt bao hoạt mạc, cải thiện việc điều trị bằng thuốc kháng viêm.

6. Trong các gãy xương đơn giản vùng mâm chày hay bánh chè, với sự trợ giúp của nội soi, phẫu thuật viên có thể mổ nắn và kết hợp xương với độ chính xác cao do nhìn thấy trực tiếp mặt khớp.

7. Các trường hợp đau khớp gối do thoái hóa ở giai đoạn sớm, việc cắt các mảnh sụn, bao khớp bị rách do thoái hóa, bơm rửa khớp gối làm kéo dài thời gian không đau của khớp gối. có thể cấy ghép các tế bào sụn nuôi để phục hồi mặt khớp. Đây là phẫu thuật hứa hẹn mang nhiều cải thiện trong cuộc chiến chống lại sự thoái hóa mặt sụn khớp do tuổi già hoặc vì lí do nào đó như chấn thương… trước khi đi đến chỉ định thay khớp gối nhân tạo.

Nguồn khoa học

Biểu hiện bệnh gút – khớp ngón chân sưng đỏ

Trong cơn gút cấp tính, người bệnh thấy khớp ngón chân cái bị sưng tấy, đau dữ dội, nhất là về đêm, có thể kèm theo sốt nhẹ và mệt mỏi. Đây là vị trí thường gặp nhất trong cơn gút cấp với tỷ lệ khoảng 70%. Theo các chuyên gia, vào 2 đến 3 giờ sáng, ngón chân cái là nơi có nhiệt độ xuống thấp nhất cơ thể – khi đó, độ nhớt của dịch khớp và máu tăng lên, từ đó dẫn tới muối urat dễ kết tủa ở ngón chân cái nên cơn gút cấp thường nặng ở vị trí này hơn vào ban đêm. Nếu không được điều trị dứt điểm, các cơn gút cấp sẽ tái phát nhiều lần và trở thành mạn tính, người bệnh bị sưng đau nhiều khớp khác như: mắt cá chân, khớp gối và khớp đốt ngón tay… và có thể xuất hiện các hạt tôphi dưới da.

bieu-hien-benh-gut-khop-ngon-chan-sung-do

Để phòng ngừa bệnh gút , nam giới trên 30 tuổi nên thường xuyên kiểm tra nồng độ axit uric trong máu. Nếu lượng axit uric cao hơn mức bình thường (nam là 140- 420 micromol/lít) thì cần thực hiện chế độ ăn uống thích hợp (hạn chế thực phẩm có chứa nhiều đạm, ăn nhiều rau xanh, uống đủ nước,…). Trong điều trị gút, người bệnh có thể được chỉ định dùng thuốc giảm axit uric trong máu, thuốc chống viêm, giảm đau,… nhưng các thuốc này có thể gây một số tác dụng phụ như: ảnh hưởng đến chức năng gan, thận, dạ dày,…

Hiện nay, nhiều bệnh nhân đang có xu hướng sử dụng bổ sung lâu dài các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ để hỗ trợ điều trị, giảm đau và phòng ngừa tái phát cơn gút cấp. Điển hình cho dòng sản phẩm này và được khẳng định qua nhiều nghiên cứu là thực phẩm chức năng Hoàng Thống Phong. Sản phẩm có thành phần chính là trạch tả giúp tăng cường đào thải axit uric, kết hợp cùng nhiều dược liệu khác như: ba kích, thổ phục linh, hoàng bá,… nên Hoàng Thống Phong có tác dụng giảm sưng đau, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị gút, ngăn chặn tái phát cơn đau mà không gây tác dụng phụ.

Chuyên gia Nguyễn Văn Quýnh cho biết: Qua theo dõi điều trị cho 27 bệnh nhân sử dụng colchicin phối hợp với Hoàng Thống Phong trong 7 ngày, sau đó chỉ sử dụng duy nhất Hoàng Thống Phong điều trị liên tục trong 6 tháng, kết quả cho thấy: Nồng độ axit uric máu giảm dần trong quá trình điều trị, sau một thời gian, nồng độ axit uric đã giảm được 59,53 µmol/lít, phần lớn bệnh nhân có axit uric máu trở về giới hạn bình thường; Hơn một nửa số bệnh nhân hết viêm khớp trong 2 ngày đầu; không có trường hợp nào bị cơn gút tái phát trong 6 tháng và không phát hiện tác dụng phụ do Hoàng Thống Phong gây ra.
Ngoài việc duy trì sử dụng Hoàng Thống Phong, bệnh nhân gút nên có chế độ ăn uống hợp lý, tập luyện thích hợp để ngăn ngừa các cơn gút cấp tái phát.

Quốc Anh
Nguồn sức khỏe đời sống

Biện pháp phòng ngừa bệnh xương khớp ở mọi lứa tuổi

Hiện nay, bệnh viêm khớp dạng thấp, loãng xương, thoái hóa cột sống, khớp háng, khớp gối… xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Dưới đây là bài viết của Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Phú, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115, cảnh báo về một số vấn đề liên quan đến bệnh xương khớp ở trẻ em và người lớn.

Ở trẻ em, bệnh xương khớp rất đa dạng và có những đặc điểm riêng, có thể kể ra như: thấp khớp cấp, viêm khớp thiếu niên, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp mủ do vi khuẩn lao, dị dạng cột sống, còi xương…
xuong
Một số bệnh xương khớp có tính chất gia đình. Lối sống của cha/mẹ đóng vai trò quyết định sức khỏe của con cái. Nếu cha/mẹ hút thuốc lá uống rượu nhiều, mắc các bệnh cảm cúm do virus, hay dùng thuốc không hợp lý trong thời ký mang thai có thể dẫn tới sự xuất hiện những dị tật cơ xương khớp ở con cái của họ.

Trẻ em có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện thường mắc các bệnh tai mũi họng như viêm họng hạt, viêm amidan, viêm xoang, viêm mủ ngoài da. Đó chính là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều bệnh ở khớp: thấp tim, viêm khớp nhiễm khuẩn… Phòng ngừa cho trẻ là nên điều trị kịp thời và dứt điểm các nguyên nhân nhiễm khuẩn trên.

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong xuất hiện bệnh lý cơ xương khớp. Với trẻ em, cơ thể cần rất nhiều canxi, Vitamin D, protein và các chất khác để xây dựng khung xương. Do vậy, nếu chế độ ăn uống không đủ chất và số lượng thì trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, dẫn đến bệnh còi xương.

Ngoài ra việc mang vác nặng, ngồi sai tư thế ngồi lâu ngày… cũng là một nguyên nhân phổ biến, gây lệch vai, tổn thương xương sống hoặc gù, cong, vẹo cột sống…

Đối với độ tuổi trung niên, nguyên nhân chủ yếu gây ra gãy xương là do chấn thương, thoái hóa khớp, bệnh gout, loãng xương giai đoạn sớm. Ngoài nguyên nhân do sinh lý cơ thể theo lứa tuổi thì chế độ ăn uống không khoa học cũng là tác nhân gây hại về xương khớp. Một số người đau nhức do xương khớp cơ năng thường hay tự ý uống thuốc để giảm đau cũng là nguyên nhân gây hư xương và thoái hóa khớp. Để phòng ngừa bệnh, cần kiêng cữ, tiết chế, điều độ trong ăn uống.

Đối với người trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh xương khớp lên tới 60%. Đó là thoái hóa khớp, loãng xương, gãy cổ xương đùi, đau cột sống thắt lưng, gút, ung thư xương… Càng về già chất lượng xương càng yếu dần, vỏ xương không chắc chắn như lúc tuổi trẻ, nên rất dễ gãy cổ xương đùi khi có một sang chấn nhẹ. Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa tạo hình ảnh gai xương hoặc một biến dạng bất thường có thể gây ung thư xương với sự đau nhức dài ngày…

Để phòng ngừa, nên có sự tầm soát định kỳ mỗi 6 tháng với kiểm tra tổng quát có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra cần có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với chế độ thuốc men phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi.

Theo sức khỏe đời sống

Không thể xem thường: lụt khớp gối

Những bước đi của bạn đột nhiên trở nên đau đớn, khó khăn khiến bạn phải nghĩ tới “có vấn đề gì ở chân mình thế này?” Hình ảnh đầu gối sưng phồng lên sẽ làm cho bạn cảm thấy hoảng hốt và lo lắng. Rất có thể khớp gối của bạn đang bị ngập lụt trong dịch, điều quan trọng nhất lúc này là bạn cần đi khám ngay tại các chuyên khoa xương khớp để được điều trị kịp thời.

khong_the_xem_thuong_lut_khop_goi01

Pseudogout gây tràn dịch khớp gối

Nhận dạng tràn dịch khớp gối

Tràn dịch khớp gối (lụt khớp gối) là tình trạng lượng dịch trong khớp gối nhiều lên, có thể phát hiện dễ dàng trên lâm sàng. Các dấu hiệu của tràn dịch khớp gối điển hình bao gồm:

Sưng nề: Một bên gối có thể sẽ to hơn bên kia.

Hạn chế vận động khớp: Khớp gối của bạn sẽ bị hạn chế vận động do lượng dịch trong khớp cản trở vận động khớp.

Đau: Tuỳ theo nguyên nhân gây tràn dịch khớp mà có thể sẽ có triệu chứng đau khớp, đôi khi do đau mà bệnh nhân không thể đi lại được.

Nếu không được điều trị, dịch trong khớp gối sẽ làm hạn chế vận động khớp, việc chọc hút dịch khớp nhiều lần làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và nếu có nhiễm khuẩn thì sẽ phá huỷ khớp và có thể ảnh hưởng đến toàn thân bệnh nhân.

Thủ phạm gây tràn dịch khớp gối hay gặp

Chấn thương: Chấn thương các cấu trúc giải phẫu có thể gây đau và gây tràn dịch khớp gối. Một số nguyên nhân chấn thương thường gặp là: gãy xương, rách sụn chêm khớp gối, đứt các dây chằng khớp gối (dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau), tình trạng chấn thương do quá tải khớp gối, thường do tổn thương sụn khớp.

Một số bệnh lý và nguyên nhân gây tràn dịch khớp gối có thể gặp là: Thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp, nhiễm khuẩn khớp, gout, pseudogout, viêm bao hoạt dịch khớp do nhiều nguyên nhân như: viêm màng hoạt dịch khớp gối mạn tính hay sau chấn thương… Các dạng nang bao hoạt dịch khớp, bệnh lý rối loạn về tình trạng đông máu, u khớp…

Béo phì là yếu tố thuận lợi gây bệnh: Bệnh thường gặp nhiều hơn ở lứa tuổi trên 55, rất có thể sự thoái hóa theo quá trình tự nhiên của khớp là yếu tố tác động đến bệnh lý này. Bên cạnh đó, người ta cũng nhận thấy những người tham gia nhiều vào các hoạt động thể thao có nguy cơ chấn thương nhiều hơn, đặc biệt là những môn thể thao liên quan đến các chuyển động đột ngột của khớp như bóng đá, bóng rổ… Đặc biệt, thừa cân – béo phì làm trọng lượng cơ thể quá lớn sẽ làm quá tải khớp gối, đặc biệt làm tăng nguy cơ vi chấn thương cho các thành phần của khớp, trong đó có sụn khớp, vì vậy làm tăng nguy cơ thoái hoá khớp, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tràn dịch khớp gối.

Chữa trị tràn dịch khớp gối có gì đặc biệt?

Tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gốiNghỉ ngơi.Tránh việc đi lại tỳ chân vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau.

Chườm đá và kê cao chân: đặc biệt có tác dụng tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương. Kê chân cao giúp cho việc tuần hoàn chân được tốt, tránh được tình trạng sưng nề.

Điều trị giảm đau. Sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.

Trong trường hợp bệnh đang ở giai đoạn đầu tiên, biện pháp nội khoa được ưu tiên hàng đầu, đó là sử dụng các thuốc giảm đau, trong một số trường hợp, triệu chứng đau hơn mức chịu đựng của bệnh nhân. Bác sĩ có chỉ định dùng kháng sinh khi có nguy cơ hoặc đang bị nhiễm khuẩn. Các thuốc kháng viêm corticosteroids có thể sử dụng đường miệng hoặc tiêm trực tiếp vào khớp gối. Tuy nhiên, corticoids có một số tác dụng phụ, vì vậy phải được kê đơn và theo dõi điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa.

Nếu tình trạng bệnh nặng nề, cần phải điều trị phẫu thuật và các can thiệp xâm lấn như:

Chọc hút dịch khớp: Chọc hút dịch khớp nhằm giảm áp lực, đồng thời có thể kết hợp điều trị tiêm corticoid.

Nội soi khớp: Nội soi khớp có giá trị chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch khớp và có thể kết hợp điều trị như sửa chữa các thương tổn sụn, dây chằng hay tổn thương thoái hóa khớp.

Thay khớp: Trong trường hợp tổn thương thoái hóa khớp gối.

Bí quyết phòng bệnh

Dịch trong khớp gối thường gặp do tình trạng bệnh lý mạn tính hoặc chấn thương. Để phòng ngừa và phát hiện sớm tình trạng tràn dịch khớp gối, bạn cần thực hiện một số công việc sau:

Kiểm soát tốt các bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp hay gout.

Dùng thuốc theo đơn để điều trị các bệnh lý nguyên nhân, đeo nẹp gối khi cần thiết theo yêu cầu điều trị.

Tập khỏe khối cơ đùi. Cơ đùi khỏe là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho vận động khớp gối. Nếu cơ đùi yếu thì gối nhanh bị mỏi, dễ chấn thương. Cơ đùi khỏe giúp cho hoạt động gối được tốt hơn.

Tập các bài tập mềm dẻo cho gối. Nếu bạn hơi quá cân nặng, cần tập luyện để giảm cân, bạn cần lựa chọn một bài tập mà khớp gối của bạn không phải chịu quá nhiều tải trọng khi bạn tập, ví dụ như tập thể dục nhịp điệu dưới nước hay bơi…

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gối

– Nghỉ ngơi. Tránh việc đi lại tỳ chân vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau.

– Chườm đá và kê cao chân: đặc biệt có tác dụng tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương. Kê chân cao giúp cho việc tuần hoàn chân được tốt, tránh được tình trạng sưng nề.

– Điều trị giảm đau. Sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Phòng ngừa đau thắt lưng cấp do tư thế

Đau thắt lưng là một trong những hội chứng rất thường gặp trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày. Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng đau thắt lưng là nguyên nhân hay gặp nhất gây ốm đau và mất sức lao động ở những người dưới 45 tuổi; tỷ lệ đau thắt lưng hằng năm ước tính khoảng 5% dân số; 50% người đau thắt lưng ở trong độ tuổi lao động. Có nghiên cứu cho rằng 60 – 90% người trưởng thành bị đau vùng thắt lưng ít nhất 1 lần trong đời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the

Ai có thể mắc bệnh?

Thắt lưng là vùng được giới hạn từ bờ trên hai xương cánh chậu đến bờ dưới xương sườn 12, hai bên là hai cơ thẳng lưng. Đoạn cột sống thắt lưng có 5 đốt sống từ thắt lưng 1 đến thắt lưng 5 với 6 đĩa đệm (có 2 đĩa đệm chuyển đoạn ngực – thắt lưng và thắt lưng – cùng). Đoạn thắt lưng là đoạn chịu sức nặng của nửa trên cơ thể kháng lại trọng lực nên cấu tạo khỏe, chắc. Vùng thắt lưng có tầm vận động rộng gồm các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Biên độ vận động lớn nhất của vùng thắt lưng là ở thắt lưng 5 (L5)  và cùng 1 (S1); đây là vùng bản lề, đảm nhiệm khoảng 75% vận động cúi, ngửa vùng thắt lưng; còn lại 20% ở thắt lưng 4 (L4) và thắt lưng 5 (L5); và 5% ở các mức khác. Lực đè nén cuối cùng của cột sống cũng dồn cả vào vùng L5 và S1.

Đau thắt lưng có thể xảy ra từ từ hoặc đột ngột sau một vận động mạnh hoặc vận động không đúng tư thế; trong trường hợp này chỉ cần nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau thông thường, điều trị vật lý sau một thời gian đau vùng thắt lưng cũng sẽ thuyên giảm, nhưng vấn đề quan trọng là phục hồi lại chức năng vận động của vùng thắt lưng và đề phòng đau thắt lưng cấp và đau tái phát.

Phòng ngừa đau thắt lưng

Ở Việt Nam, ước tính đau thắt lưng chiếm tỷ lệ 2% trong cộng đồng; 6% trong tổng số các bệnh xương khớp. Đau thắt lưng là một vấn đề phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau và cũng có nhiều cách xử trí khác nhau, việc điều trị cơ bản của đau thắt lưng là tìm được nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân.

Đau thắt lưng là một trong những chứng bệnh hay tái phát nhất. Có thể những lần đau sau là do tổn thương thực thể của cột sống hoặc do một tình trạng bệnh lý mới xuất hiện, nhưng rất nhiều trường hợp đau thắt lưng cấp và đau tái phát là do người bệnh vận động ở tư thế không đúng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the02

Một trong những cách phòng ngừa đau lưng cấp và đau lưng tái phát hiệu quả nhất là giữ cho cơ thể ở tư thế đúng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày. Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

Đứng: Khi đứng cần đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Không ưỡn bụng và thắt lưng, cần giữ độ cong bình thường của cột sống đặc biệt là đoạn thắt lưng. Không nên đứng ở những tư thế cố làm cho thân mình cao lên đặc biệt là thói quen thường xuyên dùng giày hoặc guốc cao gót. Đối với những người bị thoát vị đĩa đệm cần hạn chế các động tác cúi làm gấp cột sống.

Ngồi: Khi ngồi nên ngồi trên ghế có chiều cao phù hợp với cơ thể mình để hai bàn chân đặt sát trên sàn nhà, khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng hai bên vuông góc, lưng thẳng, tựa đều vào thành ghế phía sau, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai bên mông và hai chân. Nếu cần có thể dùng một gối mỏng kê đỡ vùng thắt lưng để duy trì đường cong bình thường của đoạn cột sống này. Những người đã bị đau lưng đặc biệt là thoát vị đĩa đệm không được ngồi xổm, hạn chế các tư thế làm gấp cột sống.

Khi bê hoặc nâng đồ vật lên: Khi muốn bê hoặc nâng một vật từ dưới đất lên cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình, khoảng cách giữa đồ vật đó với cơ thể và sự phối hợp nhịp nhàng của động tác, cụ thể như sau:

– Hai bàn chân đứng cách nhau một khoảng rộng phù hợp để tạo chân đế vững chắc.

– Ngồi xổm xuống (bằng cách gấp khớp gối và khớp háng) không cúi gấp cột sống.

– Đưa đồ vật cần bê vào sát bụng, căng cơ bụng ra.

– Nâng đồ vật đó lên bằng cách đứng dậy. Không dùng cơ thắt lưng để nâng vật đó lên.

– Giữ cho cột sống thẳng, không xoắn vặn trong khi thực hiện động tác.

– Giữ cho độ ưỡn của đoạn thắt lưng vẫn được duy trì ở mức bình thường.

Khi bê và mang đồ vật đi: Khi muốn bê và mang một vật nào đó đi chỗ khác, chúng ta cũng cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình cũng như vị trí và khoảng cách của vật đó đối với cơ thể. Một số vấn đề cần chú ý như sau:

– Bê đồ vật cần mang đi như đã hướng dẫn ở trên.

– Ôm chắc đồ vật đó bằng hai tay.

– Giữ đồ vật đó sát vào bụng, ở mức ngang ngực – thắt lưng.

– Giữ cột sống thẳng, giữ đoạn thắt lưng ở độ ưỡn bình thường.

– Bước đi bình thường, thoải mái, không bước xiêu vẹo, xoắn vặn.

PGS.TS. Trần Văn Chương
(Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Tạo hình dây chằng chéo trước khớp gối

Tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối là một chấn thương thường gặp trong sinh hoạt, lao động. Khó khăn nhất cho người tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối là vận động bị hạn chế, sưng nề, đau đớn, nếu không điều trị kịp thời sẽ có nhiều biến chứng phức tạp. Vì vậy phẫu thuật tạo hình lại là biện pháp điều trị cần thiết.

Hậu quả của tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối

Sự vững chắc của khớp gối là sự vững chắc của mối quan hệ giữa xương đùi và xương chày, theo chiều trước sau rất quan trọng và được bảo đảm bởi hai dây chằng trong của khớp gối, đó là dây chằng chéo trước (DCCT) khớp gối và dây chằng chéo sau khớp gối. Nhờ có sự vững chắc này mà chúng ta có thể thực hiện được các động tác vận động nhanh, mạnh và dứt khoát. Trong hai dây chằng này thì DCCT khớp gối dễ bị tổn thương nhất và phẫu thuật phục hồi dây chằng này cũng là phẫu thuật phổ biến nhất trong các phẫu thuật vùng khớp gối.

tao_hinh_day_chang_cheo_truoc_khop_goi

Khi DCCT bị tổn thương, khớp gối của bệnh nhân sẽ mất đi sự vững chắc theo chiều trước sau, quan hệ giữa xương đùi và xương chày bị lỏng lẻo, do đó vận động của bệnh nhân sẽ gặp khó khăn, nhất là các động tác nhanh và liên tục. Ở một số bệnh nhân mà nhu cầu vận động không cao (phụ nữ, người ít chơi thể thao…) khả năng đi lại của bệnh nhân gần như bình thường do đó một số bệnh nhân chỉ cảm thấy là khớp gối của mình có vấn đề gì đó “không bình thường” nhưng chưa thật sự cảm thấy phiền toái. Tuy nhiên, những hậu quả lâu dài do đứt DCCT gây nên thì thật sự cần được quan tâm một cách thích đáng. Đó là những hậu quả gì?

Khi DCCT bị đứt, quan hệ động học giữa xương đùi và xương chày thay đổi, sự phân phối và truyền lực từ đùi xuống cẳng chân không bình thường, từ đó dẫn đến hai tổn thương thứ phát là rách sụn chêm và thoái hóa khớp.

Tổn thương sụn chêm thứ phát: Sụn chêm trong lúc đầu có thể còn nguyên vẹn và gắn chặt vào mâm chày. Do tổn thương DCCT, mâm chày bị di động ra trước và sụn chêm bị kẹt dưới lồi cầu trong xương đùi và khi gối gấp, nó bị nghiền và do đó sẽ bị rách ở sừng sau. Sự lặp đi lặp lại của hiện tượng này có thể làm cho đường rách lan rộng thêm ra sừng trước và sừng giữa. Hiện tượng này cũng có thể gặp ở sụn chêm ngoài nhưng ít hơn vì sụn chêm ngoài di động hơn so với sụn chêm trong.

Tổn thương thoái hóa khớp: Do sự thay đổi về động học của khớp gối nên dẫn đến những tổn thương thoái hóa do tổn thương xương sụn ở khoang trong, khoang ngoài hoặc khớp bánh chè lồi cầu đùi.

Xử trí đối với chấn thương gối và tổn thương đứt DCCT

Chấn thương gối rất thường gặp, đặc biệt là trong hoạt động thể thao thường ngày. Khi chấn thương gối mà không bị gãy xương, người bệnh và các bác sĩ thăm khám ban đầu rất dễ bỏ qua và để sót các tổn thương dây chằng của khớp gối. Việc thăm khám để phát hiện các triệu chứng của đứt DCCT khớp gối ở giai đoạn này tương đối khó khăn vì phần mềm xung quanh bị chấn thương. Ở giai đoạn này, sau khi đã loại trừ các tổn thương xương khác, có thể bất động cho bệnh nhân bằng nẹp đồng thời sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng như giảm đau, chống viêm, giảm phù nề. Việc thăm khám lại sau 2 tuần là cần thiết để có thể phát hiện các triệu chứng lâm sàng và chỉ định chụp cộng hưởng từ khớp gối để đánh giá các tổn thương dây chằng trong khớp.

Khi đã có chẩn đoán xác định đứt DCCT khớp gối, chỉ định phẫu thuật là cần thiết để phục hồi lại cơ năng khớp gối cho bệnh nhân và ngăn ngừa các tổn thương thứ phát như rách sụn chêm, thoái hóa khớp. Với sự phát triển của phẫu thuật nội soi, điều trị đứt DCCT đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, trả lại chức năng khớp gối của bệnh nhân gần như bình thường.

Hiện nay, tạo hình DCCT khớp gối được thực hiện hoàn toàn qua nội soi và thu được những kết quả tốt đẹp. Đối với tạo hình DCCT khớp gối, vật liệu để tạo hình có 2 nguồn chính: Vật liệu tự thân: gân bánh chè, gân bán gân và gân cơ thon; Vật liệu đồng loại: gân Achille, gân bánh chè…

Khi DCCT trước đứt, không có khả năng khâu nối lại vì hai đầu đứt rời xa nhau, các bác sĩ sẽ sử dụng một đoạn gân khác để thay thế cho dây chằng đã bị đứt. Đoạn gân dùng để thay thế sẽ được cố định hai đầu vào xương đùi và xương chày tương ứng ở vị trí bám của dây chằng trước đây và sẽ đóng vai trò của dây chằng chéo trước khớp gối.

Để bảo đảm quá trình hồi phục sau phẫu thuật tốt, bệnh nhân nên tuân thủ đầy đủ các bài tập phục hồi chức năng mà bác sĩ phẫu thuật hướng dẫn, vì dây chằng sẽ bị lỏng nếu quá trình tập phục hồi chức năng không bảo đảm đúng như chương trình. Bệnh nhân cũng đặc biệt chú ý không nên vận động nhanh, mạnh quá sớm (trong 2 tháng đầu) vì có thể bị đứt lại dây chằng. Nên sử dụng một băng gối chức năng để bảo vệ trong thời gian 1-2 năm sau phẫu thuật.

ThS. Trần Trung Dũng (Bệnh viện đại học Y Hà Nội)
Theo SKĐS

Thoái hóa khớp: Có thuốc chữa khỏi không?

Thoái hóa khớp (hư khớp) không phải là một bệnh mà là tình trạng lão hóa (già) của khớp. Ở đầu xương bao giờ cũng có một lớp sụn, lớp sụn này giúp cho khớp trơn tru, dễ dàng trong vận động, chịu được sức nén, hoạt động. Lớp sụn này luôn luôn được đổi mới, mòn đến đâu đắp lên đến đấy, hỏng đến đâu phục hồi đến đấy. Quá trình cứ xây xây, phá phá như thế kéo dài cho đến tuổi già và từ 50 tuổi trở đi thì quá trình phá nhiều hơn xây, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi, ngày càng nứt nẻ ra… để trơ lại lớp xương ở bên dưới.

Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… đây chính là tình trạng mà ta gọi là thoái hóa.

thoai_hoa_khop_co_thuoc_chua_khoi_khong

Có nhiều nguyên nhân gây thoái hóa nhưng chủ yếu là sự lão hóa của cơ thể (sau tuổi 50 con người đã có những biểu hiện của sự lão hóa). Mức độ lão hóa khác nhau tùy thuộc vào từng cá thể và điều kiện sống của cá thể đó. Thực tế thoái hóa khớp thường biểu hiện ở 3 vị trí: cột sống, khớp gối và khớp háng.

Để điều trị thoái hóa khớp người ta sử dụng phối hợp phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chườm ngải cứu, đắp bùn nóng…

Các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp:

– Thuốc giảm đau, chống viêm (paracetamol, aspirin, meloxicam, diclofenac): Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm từ nhẹ đến nặng (các thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời).  Nói chung nên hạn chế dùng kéo dài vì những tác dụng không mong muốn của thuốc như loét dạ dày – tá tràng…

– Thuốc bổ sung chất nhày cho khớp: sử dụng những chế phẩm có cấu trúc phân tử gần giống như dịch khớp tiêm vào ổ khớp. Chỉ tiêm khi có hiện tượng  đau, khô khớp, khó vận động và thường tiêm vào khớp gối.

– Thuốc dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin sulfat. Gần đây chất này được nhiều tác giả nghiên cứu để điều trị thoái hóa khớp do có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

– Các thuốc bôi, xoa ngoài: tùy theo thành phần hoạt chất trong đó có tác dụng giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, giãn cơ.

– Các thuốc bổ: các thuốc bổ gân, bổ xương… (có giá trị về mặt tâm lý hơn là giá trị thực tế).

Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với vật lý trị liệu và các liệu pháp vận động khác. Khi khớp bị tổn thương quá nặng, mất khả năng vận động phải thay khớp.

Thoái hóa khớp là một tất yếu của tuổi già vì thế không có thuốc chữa khỏi hẳn. Chỉ có thể làm chậm lại quá trình này bằng tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe. Tuyệt đối không cho tăng cân (vì nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần), tránh các động tác có hại cho khớp và chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (người có bàn chân vẹo, chân chữ O, X )…

Theo SKĐS

Bệnh ở bao hoạt dịch khớp gối

Bao hoạt dịch khớp gối là một tổ chức, trải mặt trong của bao khớp, bao gồm các sợi xơ mềm mại và mỡ, có chức năng tiết ra hoạt dịch làm trơn và nuôi dưỡng sụn khớp. Cùng với chức năng cơ học, nó còn có vai trò chống nhiễm khuẩn. Do đó, khi khớp gối bị sang chấn hoặc nhiễm khuẩn thì bao hoạt dịch sẽ dày lên, tăng tiết nhiều dịch, gây ra tình trạng tràn dịch khớp gối và các bệnh bao hoạt dịch khác.
Về cấu tạo, bao hoạt dịch ở đầu gối có màng bao hoạt dịch lên tận dưới cơ tứ đầu tạo thành túi cùng hoạt dịch dưới cơ tứ đầu. Bao này nằm giữa hai lồi cầu, nó che các dây chằng chéo ở phía trước, tạo ra một bức màn che cho dây chằng chéo trước. Ở phía sau của gân bánh chè, nó tiếp xúc với phần mỡ dày lên, gọi là túi mỡ Hoffa.

Tùy theo tổn thương bao hoạt dịch khớp gối có các bệnh lý như sau: u nang bao hoạt dịch, bệnh Hoffa, nếp gấp bao hoạt dịch (plica), tràn dịch khớp gối.

Bệnh u nang bao hoạt dịch
Khớp gối được bao bọc bởi bao khớp như một túi khép kín. Túi này được che phủ bên trong nhờ màng hoạt dịch. Tổ chức hoạt dịch tiết ra dịch gọi là hoạt dịch có tác dụng nuôi dưỡng và bôi trơn khớp gối. Khi bị chấn thương, bao hoạt dịch có thể phản ứng bằng cách tăng tiết dịch một cách quá mức gây ra tràn dịch khớp gối.

Nếu áp lực bên trong của khớp gối tăng lên, nó có thể thoát vị ra phía sau của gối, đó là u nang bao hoạt dịch, thường nằm ở chính giữa khoeo và to ra sau gối. U nang bao hoạt dịch còn gọi là “baker’s cyst”. Nang này thường không nguy hiểm, đặc biệt là không bao giờ ung thư hoá. Bên trong nang chỉ có chất hoạt dịch, vì vậy, thể tích của nó có thể thay đổi được to hay nhỏ tùy thuộc hoạt dịch có nhiều hay ít. Thường gặp thể tích của nó nhỏ và không gây trở ngại cho chức năng của đầu gối.

benh-tai-bao-hoat-dich-khop-goi

Chỉ khi nang to, căng, gây đau do tăng áp lực mới ảnh hưởng đến cử động của khớp gối. U nang này rất hiếm khi chèn ép vào tổ chức xung quanh như mạch máu, thần kinh gây nên triệu chứng kiến bò, rát bỏng ở cẳng chân… do thể tích của u nang quá to. Trường hợp u nang bị vỡ sẽ gây ra các triệu chứng: đau tăng lên đột ngột, bắp chân mau chóng sưng to tràn hoạt dịch ra ngoài, nguy cơ làm tắc các tĩnh mạch, gây tổn thương về cơ.

Điều trị: u nang bao hoạt dịch tiến triển tự nhiên, thường không cần điều trị do dịch tự thấm trở lại trong khớp. Chỉ khi u nang không khỏi mà lại gây nên khó chịu cho bệnh nhân, khi đó, cần điều trị bằng cách chọc hút và bơm thuốc cortisone vào trong. Để tránh tái phát, cần tìm và điều trị nguyên nhân ở trong gối. Trường hợp u nang gây đau nhiều thì dùng phương pháp nội soi tìm lỗ liên hệ giữa nang và khớp và làm nhỏ lại bằng cách dùng một nắp đậy chắn lỗ thông thương, không còn tăng áp lực gây đau trong nang nữa. Phẫu thuật loại bỏ u nang nếu u nang hay gây tái phát.

Bệnh  Hoffa

Bệnh Hoffa là tình trạng viêm khối mỡ Hoffa nằm ở sau gân bánh chè. Dây chằng đỉnh giới hạn trên khối mỡ, nó chuyển tiếp với nếp hoạt dịch phía dưới của khớp. Biểu hiện bệnh: bệnh nhân bị đau mặt trước gối, vị trí gân bánh chè và bánh chè. Có thể  có cảm giác khớp gối không vững hoặc kẹt khớp, tràn dịch khớp. Bệnh này chẩn đoán khó vì không có dấu hiệu điển hình trên lâm sàng. Nội soi có thể phát hiện các nguyên nhân bên trong khớp gây đau giúp ích cho chẩn đoán. Điều trị dùng phương pháp nội khoa: giảm đau, chống viêm. Nếu điều trị nội khoa không khỏi, bệnh nhân đau nhiều, có thể dùng nội soi loại bỏ khối mỡ phì đại.

Bệnh nếp gấp bao hoạt dịch
Bao hoạt dịch như một cái túi vòng quanh khớp gối, tự nó có các nếp gấp tự nhiên. Chỉ khi các nếp gấp này trở nên dày hơn đến mức bệnh lý, khi đó gọi là bệnh nếp gấp bao hoạt dịch. Tùy vào vị trí của nếp gấp, người ta chia làm 3 loại: nếp gấp hoạt dịch trên, đây là trụ cột nằm ở ngay sát phía trên của bánh chè, nó có thể làm hẹp túi cùng cơ tứ đầu. Cột trụ này thường tạo thành một lỗ to hay nhỏ, nhưng không bao giờ gây nên rối loạn chức năng gối. Nếu gấp  hoàn toàn làm cho túi cùng hoạt dịch cơ tứ đầu trở thành một túi kín, khi đó nó sẽ phồng lên.

Nếp gấp hoạt dịch dưới: có thể nằm ngay trước của dây chằng chéo trước, là một phần của khối mỡ Hoffa. Nếp gấp hoạt dịch trong: là nếp gấp dễ nhìn thấy nhất, thường gây ra khó chịu ở gối. Nếp gấp hoạt dịch bên trong: nằm ở phía trong của gối, giống  như bậc thang chen vào giữa bánh chè và xương đùi chỗ rãnh  liên lồi cầu trước. Điều trị: nếp gấp bao hoạt dịch không cần điều trị gì, chỉ khi nếp gấp bao hoạt dịch dày lên gây hạn chế vận động duỗi gối và gây đau, bệnh nhân có cảm giác móc giữ xương bánh chè lại hoặc có dấu hiệu lò xo. Khi đó, cần điều trị bằng nội soi khớp gối: cắt loại bỏ nếp gấp này.

BS. Trần Văn Phong

Theo SKDS

Tương lai của người bị tổn thương khớp gối

Niềm vui cho bệnh nhân tổn thương khớp gối

Đứt dây chằng chéo trước là thương tổn thường gặp ở tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt, nhất là ở các vận động viên khi tập luyện thi đấu thể thao. Tình trạng này nếu không được điều trị kịp thời, đúng cách có thể phải đánh đổ cả tương lai, sự nghiệp…Thời gian qua, các bác sĩ Khoa Chấn thương chỉnh hình 2, Viện Chấn thương chỉnh hình (CTCH) Bệnh viện Việt Đức đã ứng dụng thành công kỹ thuật ghép gân đồng loại nối dây chằng chéo trước (DCCT) điều trị khớp gối cho những bệnh nhân không may bị tổn thương này.

Tương lai không khép lại

Gặp N.Đ.M tại phòng khám của Khoa CTCH 2, Viện CTCH Bệnh viện Việt Đức sau lần tái khám đã thấy em nhanh nhẹn và tự tin hơn rất nhiều. Là một cậu bé có năng khiếu được Sở VH-TT&DL Hà Nội về tận quê tuyển chọn từ khi 14 tuổi, qua 2 năm rèn luyện và gắn bó với môn võ Vovinam, M. đã ẵm một giải vàng Hội khỏe Phù Đổng toàn thành phố và 1 giải bạc vô địch toàn quốc môn võ Vovinam… M. là “hy vọng vàng” cho những đợt tranh giải… Nhưng một lần đi đường không may bị va quệt xe máy, đầu gối đập xuống đường… Tuy nhiên, M. đã chủ quan không đi khám vì thấy mình vẫn đi lại bình thường và em vẫn tiếp tục rèn luyện thể thao… Chỉ đến khi thấy chân không thật, đầu gối lủng lẳng thì em mới đến BV Việt Đức khám. Các BS cho biết M. đã bị đứt dây chằng chéo trước. Đối với một vận động viên thể thao, vận động là yêu cầu đầu tiên phải có, em bị đứt dây chằng chéo có nghĩa là khả năng vận động sẽ giảm sút, thậm chí không thể theo đuổi nghiệp…Bố của M. chia sẻ, lúc biết cháu bị chấn thương, gia đình đã rất buồn vì tương lai, tiền đồ của cháu chắc sẽ đổ vỡ… Sau khi các bác sĩ động viên, được thực hiện kỹ thuật ghép gân đồng loại và với tình trạng của cháu hiện nay, gia đình thấy lạc quan và tin vào tương lai của cháu. Mặc dù các bác sĩ cho biết, để cháu trở lại tập như trước phải mất quãng thời gian từ 9 tháng đến 1 năm, nhưng có thể hồi phục và theo đuổi nghiệp võ cũng có nghĩa là tương lai không khép lại với cháu, như vậy đã là một may mắn lớn!

chua-tri-niem-vui-cho-benh-nhan-ton-thuong

Theo ThS. Trần Hoàng Tùng – Khoa CTCH 2, Viện CTCH, Bệnh viện Việt Đức, khớp gối là một trong những khớp đóng vai trò chịu lực chính của cơ thể. Trong các thành phần đảm bảo sự vững chắc của khớp gối, DCCT đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Vì thế, dứt đây chằng chéo nếu không được điều trị sớm sẽ để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến vận động sau này.

Chi phí thấp, hiệu quả cao

ThS. Trần Hoàng Tùng cũng cho biết thêm, để tái tạo lại DCCT thường sử dụng hai vật liệu thông dụng nhất hiện nay là vật liệu tự thân và vật liệu đồng loại. Vật liệu tự thân (được lấy ra từ chính cơ thể người bệnh thường là mảnh ghép lấy từ 1/3 giữa gân bánh chè hoặc mảnh ghép lấy từ gân cơ thon và gân cơ bán gân). Những loại vật liệu này thường chỉ đủ tái tạo lại 1 bó DCCT do kích cỡ chúng thường nhỏ, trong khi đó, bản thân DCCT có cấu tạo hai bó với hai tính năng khác nhau, do vậy, khả năng chống xoay của khớp gối sau mổ thường kém, khớp gối nhanh chóng bị thoái hóa. Bên cạnh đó, cơ thể là một khối thống nhất, việc lấy gân ở vùng này đem ghép cho vùng kia thực chất là việc chấp nhận hy sinh chức năng ít quan trọng ở vùng này để lập lại chức năng quan trọng hơn ở vùng khác. Nếu lấy một phần gân bánh chè tự thân làm mảnh ghép sẽ dễ gây vỡ xương bánh chè, phần gân bánh chè còn lại dễ bị đứt…; còn nếu lấy gân cơ thon và gân cơ bán gân thì chân sẽ bị yếu động tác khép đùi, giảm sự vững chắc mặt trong gối…

Vì thế, sử dụng ghép gân đồng loại trong phẫu thuật tái tạo DCCT sẽ khắc phục được những nhược điểm của ghép gân tự thân. Vật liệu này có sẵn trước mổ, với số lượng đủ để làm lại cả hai bó DCCT với kích cỡ phù hợp với từng bệnh nhân, rút ngắn thời gian cuộc mổ. Vết mổ nhỏ do không phải lấy gân của bệnh nhân làm vật liệu nên bệnh nhân ít đau sau mổ, giảm nguy cơ cứng khớp và teo cơ tứ đầu đùi. Độ vững của các vật liệu này giống như các vật liệu tự thân tương ứng, mảnh ghép có khả năng tái tạo lại hệ thống mạch máu và mạng mao mạch che phủ quanh dây chằng trong quá trình thích nghi và phát triển như vật liệu tự thân. Hơn nữa, vì phần gân đồng loại không có tế bào nên không cần thuốc chống thải ghép… Chi phí cho một ca ghép gân đồng loại tại BV Việt Đức vào khoảng 30 – 50 triệu đồng. Nếu sang Singapore hoặc các nước trong khu vực thì chi phí này cao gấp nhiều lần, chưa kể chi phí đi lại, ăn ở…

Tuy nhiên, khó khăn hiện nay với ghép gân đồng loại cũng giống như ghép tạng là nguồn cho. Nguồn gân thường được lấy từ những bệnh nhân bị tai nạn khỏe mạnh, chân giập nát hoặc những người chết não… Nhưng tâm lý của người sau khi bị tai nạn phải cắt cụt chân cũng không muốn hiến tặng… Bên cạnh đó, quá trình bảo quản nuôi cấy rất khắt khe, đảm bảo đúng quy trình, tiêu chuẩn quốc tế… Thông thường, lấy được 10 mảnh ghép để bảo quản, nuôi cấy nhưng cũng chỉ sử dụng được 6 – 7 mảnh ghép…

Bài, ảnh: Nguyễn Tuệ

Theo Thuocbietduoc