Tag Archives: khoáng chất

Cách giữ sức khỏe trong những ngày nắng nóng

Mùa hè với những đợt nắng nóng đổ lửa khiến cơ thể bạn mệt mỏi và kéo theo nhiều bệnh tật. Vì vậy, những biện pháp để hạ hỏa cho cơ thể là rất cần thiết.

Chọn trang phục thoáng mát

Trang phục màu tối hoặc sậm màu hấp thu bức xạ nhiệt rất tốt, làm cơ thể nóng thêm. Vì thế hãy chọn các màu sắc tươi sáng để giảm nhiệt cơ thể như: trắng, vàng chanh, màu pastel… Chất liệu vải thoáng mát, thấm hút mồ hôi để cũng giúp bạn cảm thấy dễ chịu và thoải mái hơn. Với những ai thường xuyên ra ngoài, nên chọn những bộ quần áo che chắn kín cơ thể hoặc mặc thêm phụ kiện chống nắng để tránh gây ung thư da.

Uống từ 2,5 đến 3 lít nước mỗi ngày

cach-giu-suc-khoe-trong-nhung-ngay-nang-nong1

Nắng nóng làm cơ thể tiết nhiều mồ hôi và mất nước. Vì thế cơ thể cần uống nhiều nước hơn để bù đắp lượng nước thiếu hụt. Hãy uống ngay cả lúc không cảm thấy khát. Trong mùa nắng nóng, lượng nước cần nạp vào phải 2,5 – 3 lít.

Bên cạnh đó, bạn có thể uống thêm các loại nước mát có chức năng giải nhiệt như rau má, lá vối, sắn dây, nước mía, nước chanh… Lưu ý, nước đá mát lạnh cũng giúp cơ thể “đã khát” hơn nhưng không nên uống nhiều vì dễ gây viêm họng.

Cân bằng nhiệt độ cơ thể

Nhiệt độ môi trường xung quanh quá cao cũng tác động đến thân nhiệt cơ thể. Nếu sống trong môi trường thoáng mát, có nhiệt độ và độ ẩm ổn định, cơ thể con người cảm thấy dễ chịu và khoẻ khoắn hơn. Trạng thái lo âu, căng thẳng và mệt mỏi do thời tiết tác động cũng giảm hẳn. Sử dụng quạt phun sương là một trong những cách hiệu quả để có một môi trường thoáng mát mà không phải lo ngại vấn đề khô da hay gây ra các bệnh về hô hấp.

Bổ sung muối và khoáng chất cho cơ thể

cach-giu-suc-khoe-trong-nhung-ngay-nang-nong

Tiết mồ hôi nhiều cũng là nguyên nhân thiếu hụt lượng muối cho cơ thể. Nếu không kịp bổ sung muối khoáng cho cơ thể điện giải, thân nhiệt sẽ tăng cao rất dễ dẫn đến sốt và các bệnh khác. Các loại muối khoáng tự nhiên có trong rau xanh và trái cây.

Chế độ ăn mùa nóng nên có nhiều rau và hãy uống thêm mỗi ngày một ly nước ép trái cây có nhiều trong mùa này như: cam, chanh, ổi, dưa hấu… Thủ sẵn vài gói Oresol trong nhà và pha nước uống ngay nếu bạn cảm thấy trong người nóng bức. Nước biển khô sẽ giúp cơ thể điện giải, hạ thân nhiệt nhanh chóng.

Theo VnExpress

Vô sinh có thể do mất dinh dưỡng

Cơ thể thiếu vitamin và khoáng chất gây ra những tổn thương không nhỏ, nếu kéo dài có thể để lại hậu quả khó lường.

Thiếu vitamin trong cơ thể thường xảy ra do quá trình hấp thu và đồng hóa vitamin bị rối loạn. Đây có thể là do các bệnh mãn tính ở hệ tiêu hóa hoặc do ảnh hưởng của một số loại thuốc gây ra. Trong một vài trường hợp, nhu cầu vitamin tăng, cơ thể sẽ có nguy cơ bị thiếu nếu không được tăng thêm nguồn cung cấp. Những trường hợp đó là: phụ nữ có thai, cho con bú, những vận động viên thể thao, tình trạng stress, khí hậu khắc nghiệt, nghiện rượu, môi trường ô nhiễm…

vo-sinh-do-dinh-duong

Cơ quan sinh sản của phụ nữ có liên quan đến các vấn đề như: thai nghén, sinh nở. Chế độ dinh dưỡng của bạn không phù hợp có thể gây rắc rối trong việc thụ thai, chu kì kinh nguyệt hàng tháng… do đó, nó có thể cản trở khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Vô sinh là rắc rối thường gặp ở một số chị em, nguyên nhân chủ yếu là trứng không rụng. Điều này chịu ảnh hưởng của hormone. Vài trường hợp chung thường thấy như bất thường ở ống dẫn trứng, u xơ tử cung hoặc lạc nội mạc tử cung. Tăng cường dùng nhiều thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất sẽ giúp trứng khỏe, phôi phát triển tốt. Vitamin E giúp sản xuất ra chất nhầy tử cung, tránh hiên tượng khô âm đạo. Ngoài ra, dùng nhiều dầu cá, dầu gan cá, quả hạch có thể kích thích sự sản xuất hormone giới tính.

Rối loạn kinh nguyệt có thể do sụt cân, căng thẳng, thiếu dinh dưỡng hoặc hormone mất cân bằng. Để phòng ngừa tình trạng này, mỗi ngày 2 lần, bạn nên bổ sung vitamin B6. Bạn cũng nên bổ sung thêm 200mg magnesium/ ngày, dùng thêm sắt 5mg/ ngày và 15mg kẽm/ ngày trong những trường hợp lượng máu kinh mất quá nhiều. Nếu thiếu kẽm và vitamin B6, chu kỳ kinh nguyệt có thể mất hẳn.

Nguồn đọc báo

Lợi ích sức khỏe của hành lá và hành khô

Nghiên cứu cho thấy hành lá, hành khô giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ tim, tiểu đường.

Hành lá và hành khô là loại rau củ ngon từ các gia đình nhà tỏi tây (Allium), và có mặt tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cả hành lá và hành khô đều có những lợi ích sức khỏe đáng ngạc nhiên vì bản thân chúng chứa chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất và chất xơ. Nếu có một nhược điểm, hành lá có mùi tương tự như hành tây và hành khô và tỏi.

hanh-kho
Nghiên cứu cho thấy hành lá, hành khô giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng giảm nguy cơ đột quỵ tim, tiểu đường.

Chất chống oxy hóa

Hành lá và hẹ tây có chứa chất chống oxy hoá mạnh nhằm bảo vệ các tế bào trong cơ thể tránh các bệnh ung thư. Hành khô đặc biệt giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như quercetin và kaempferol. Hành lá và hẹ tây là những thứ gia vị được cho thêm vào các món ăn phổ biến như thịt chế biến các món, nước sốt, xà lách, trứng và súp… hoặc ăn sống.

Vitamin, khoáng chất

Hành lá và hành khô chứa rất nhiều các vitamin và khoáng chất. Hành lá có chứa vitamin A, B, và C. Chúng cũng cung cấp một lượng lớn vitamin K, giúp xương khỏe mạnh và chiến đấu chống lại bệnh loãng xương. Hành khô là một nguồn tuyệt vời của vitamin A và C. Sắt, canxi, và kali… là những khoáng chất được tìm thấy trong hành lá và hẹ tây.

Chất xơ

Hành lá cũng là cây có lá màu xanh lá cây, và chúng chứa một lượng chất xơ lành mạnh, hỗ trợ tốt cho hệ thống tiêu hóa. Hành khô cũng có tác dụng tốt cho hệ thống tiêu hóa tương tự như hành lá. Nếu bạn thường xuyên tăng cường các loại rau này kết hợp với các thực phẩm lành mạnh ít chất béo khác thì nguy cơ bị ung thư ruột kết cũng giảm. Các chất xơ trong hành lá và hẹ tây cũng làm giảm nguy cơ táo bón, trĩ, viêm ruột thừa.

Các lợi ích khác

Ngoài nhiều chất xơ, hành lá còn chứa rất ít calo. Nghiên cứu cho thấy hành lá giúp giảm cholesterol, chống vi khuẩn, virus và nấm trong cơ thể. Tương tự như vậy, hành khô cũng có ít cholesterol. Tiêu thụ hai loại thực phẩm này còn làm giảm nguy cơ đột quỵ tim, nguy cơ bị bệnh tiểu đường. Hành khô cũng rất giàu phenoplasts giữ cho gan khỏe mạnh.

(theo TTonline)

Bệnh loãng xương: con số đáng báo động

Theo tổ chức y tế thế giới, loãng xương (LX) là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây nên bệnh tật, chỉ sau bệnh tim mạch. Tại Việt Nam, ước tính có 2,5 triệu người bị LX và có trên 150.000 trường hợp bị gãy xương do LX. Đến năm 2050, ước tính toàn thế giới sẽ có tới 6,3 triệu trường hợp gãy cổ xương đùi do LX và châu Á chiếm 51%.

Những con số giật mình

LX là tình trạng mật độ canxi và khoáng chất trong xương suy giảm, làm cho xương trở nên giòn, xốp, dẫn đến nguy cơ gãy xương tăng cao. Hay LX có nghĩa “xương xốp” xuất hiện, khi lớp vỏ ngoài xương bị mỏng đi và giòn, lớp bè xương bị thương tổn. PGS.TS.BS. Lê Anh Thư – Trưởng khoa Nội Cơ Xương Khớp, BV. Chợ Rẫy, Chủ tịch Hội LX TP. HCM nói về bệnh này với cách nói hình ảnh: “LX diễn biến từ từ và thầm lặng. Người bị LX thường không biết mình bị bệnh. Người ta mệnh danh LX là kẻ cắp thầm lặng, từng chút một, đánh cắp đi các khoáng chất trong ngân hàng xương của cơ thể. Thông thường, manh mối đầu tiên dẫn tới LX là khi xuất hiện gãy xương. Gãy xương chính là “đột quỵ” của LX…”. Những người bị LX có nguy cơ gãy xương tăng gấp 3 – 5 lần so với người không bị LX. Một yếu tố nguy cơ quan trọng khác là tiền sử gãy xương. Một khi bệnh nhân đã bị gãy xương, nguy cơ gãy xương lần thứ hai gia tăng 2,5 lần so với nguy cơ trung bình trong dân số.

benh_loang_xuong_con_so_dang_bao_dong

Đo mật độ xương bằng máy DXA Hologic tại BV 115. Ảnh T.N

PGS.TS.BS. Nguyễn Thy Khuê – Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam – cho biết, hậu quả của LX thường rất nặng nề. Thông thường, bệnh chỉ được phát hiện từ một ca chấn thương nhiều khi rất nhẹ ở hệ xương: một cú ngã từ tư thế đứng, trượt chân trong phòng tắm, bước hụt cầu thang… làm gãy xương cổ tay, gãy xương cẳng chân dồn cột sống… Gãy xương khi bị những chấn thương nhẹ này là hậu quả cuối cùng của bệnh LX, thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống thắt lưng và cổ xương đùi. Với người cao tuổi, thường có nhiều bệnh lý đi kèm như: tim mạch, huyết áp, đái tháo đường… Đặc biệt, với tình trạng LX nặng sẵn có (thiếu khoáng chất và protein của xương) thì việc liền xương thường rất khó và lâu. Đa số người bệnh phải nằm tại chỗ, thậm chí phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện. Điều này không những làm tình trạng LX càng nặng lên mà còn kéo theo nhiều nguy cơ rất bất lợi cho sức khỏe như: bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các nơi tì, đè… Đây cũng là một nguyên nhân chính gây tàn phế và giảm tuổi thọ cho người mắc bệnh.

Theo thống kê ở các nước phát triển, gần 21% người có tuổi bị gãy cổ xương đùi sẽ tử vong trong vòng 6 tháng đầu vì các biến chứng do nằm lâu nêu trên. 20% người bệnh phải có người trợ giúp trong suốt cuộc đời còn lại. 30% người bị tàn phế, phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Chỉ có khoảng 30% có thể trở lại với cuộc sống bình thường nhưng lúc nào cũng bị nguy cơ tái gãy xương “rình rập”.

Theo số liệu của Tổ chức Chống loãng xương quốc tế (IOF), trên thế giới, cứ 3 phụ nữ thì có 1 người bị LX. Ở nam giới, tỉ lệ này là 1/5. Riêng tại Việt Nam, theo số liệu khảo sát bước đầu của Viện Dinh dưỡng, bệnh LX ảnh hưởng tới 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 tuổi. Trong khi đó, khẩu phần ăn của người Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu hạn chế LX. Lượng canxi đưa vào cơ thể trung bình là 524mg/người/ ngày, thấp hơn nhiều so với nhu cầu trung bình 800 – 1.000mg/người/ngày đối với người lớn.

Phòng ngừa LX là thuốc chữa tốt nhất

LX là một trong những bệnh mãn tính tiêu tốn nhiều tiền nhất. Chi phí điều trị LX tương đương với điều trị bệnh đái tháo đường, và cao hơn nhiều so với 2 căn bệnh ung thư ở phụ nữ là: ung thư vú và ung thư cổ tử cung. Đặc biệt, điều trị LX không biến chứng chiếm hơn 50% thu nhập bình thường của người Việt Nam, nên hầu như người Việt Nam không có khả năng theo đuổi quá trình điều trị lâu dài, hết năm này qua tháng nọ.

Các chuyên gia cho rằng: phòng chống LX là thuốc chữa tốt nhất. Duy trì hệ xương chắc khỏe chỉ cần 4 bước đơn giản: cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết cho xương hàng ngày, nhất là canxi; thường xuyên vận động, tập thể dục; không hút thuốc, tránh sử dụng quá nhiều chất có cồn và caffein; đo mật độ xương định kỳ để kiểm tra sức khỏe của xương. Đồng thời, người bệnh cần phải đi kiểm tra xương ngay khi có các triệu chứng như: đau mỏi mơ hồ ở cột cống, đau dọc xương dài, đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, vọp bẻ các cơ, đau khi ngồi lâu hay thay đổi tư thế, đầy bụng chậm tiêu hay nặng ngực khó thở..

Nguyễn Na
Theo SKĐS

Những thất bại trong việc điều trị loãng xương

Các phương pháp điều trị loãng xương (LX) hiện nay đang gây cho bệnh nhân (BN) không ít khó khăn và thậm chí còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong việc điều trị.

Theo PGS.TS.BS. Lê Anh Thư, Chủ tịch Hội LX TP.HCM cấu tạo xương được điều hòa chủ yếu nhờ hai loại tế bào chính: các tế bào sinh xương và các tế bào hủy xương. Ở tuổi trẻ (dưới 25 tuổi), hoạt động của các tế bào sinh xương sẽ trội hơn các tế bào hủy xương. Từ tuổi 40 trở đi, hoạt động của các tế bào hủy xương sẽ trội hơn các tế bào sinh xương, khối lượng khoáng chất của bộ xương sẽ giảm dần theo tuổi với tốc độ mất xương từ 0,5 – 1% mỗi năm. Riêng ở phụ nữ, sau khi mãn kinh, tốc độ mất xương sẽ nhanh hơn hẳn nam giới cùng tuổi (2 – 4% khối lượng xương trong 5 – 10 năm đầu của thời kỳ mãn kinh).

nhung_that_bai_trong_viec_dieu_tri_loang_xuong

Xẹp đốt sống lưng do loãng xương. Ảnh T.N

Tất cả chúng ta, đến lúc có tuổi (trên 65 tuổi) ai cũng bị LX. Đây là hiện tượng LX tiên phát, một tất yếu của quá trình phát triển. LX tiên phát thường xuất hiện trễ, diễn biến chậm, tiến triển từ từ và ít có những biến chứng nặng nề. Trong khi đó, nếu quá trình LX xảy ra sớm hơn, tiến triển nhanh hơn, gây nhiều hậu quả nặng nề như: gãy, xẹp đốt sống, gãy cổ xương đùi, gãy đầu dưới xương quay (xương cổ tay)… thì được gọi là LX thứ phát, nhất là khi có thêm các nguyên nhân: phụ nữ sau khi mãn kinh; bất động quá lâu ngày do bệnh tật; bị các bệnh nội tiết; suy thận mãn hoặc phải chạy thận nhân tạo; mắc các bệnh xương khớp mãn tính khác đặc biệt là viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp; do sử dụng một số thuốc: chống động kinh, đái tháo đường và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm corticosteroid … Chính sự diễn biến thầm lặng mà người bệnh LX thường không được phát hiện sớm cho đến khi có biến chứng gãy xương.

BS. Nguyễn Quốc Trị – Trưởng khoa chi dưới, Bệnh viện (BV) Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM cho biết, BN gãy cổ xương đùi đến điều trị tại BV này trong 5 năm (2005 – 2009) có 4.181 BN, trong đó có 85% BN xuất phát từ nguyên nhân là LX hoặc thiếu xương. Các phương pháp được áp dụng để điều trị hiện nay như: nắn, cố định bằng vít nẹn ép dưới màn tăng sáng (đối với điều trị gãy xương, gãy cổ xương đùi không di lệch, hoặc di lệch ít). Riêng BN lớn tuổi (> 65 tuổi) gãy di lệch nhiều, kèm LX, không có khả năng liền thì thay khớp nhân tạo và điều trị bằng thuốc chống LX.

Gãy cổ xương đùi thường rất khó lành xương, nhiều trường hợp lành xương nhưng sau đó vẫn bị hoại tử chỏm xương đùi phải thay khớp nhân tạo. Theo tư liệu nước ngoài, gãy tái phát do LX chiếm khoảng 25%. Các khó khăn khác gồm, BN gãy cổ xương đùi thường lớn tuổi khi gãy xương làm tăng nặng các bệnh nội khoa khác, chi phí điều trị cao trong khi đó điều kiện kinh tế của BN khó khăn nên không có khả năng tài chính để thay khớp nhân tạo và điều trị thuốc chống LX thường xuyên. Riêng với phương pháp điều trị thuốc uống dạng viên thường có thời gian kéo dài, lập lại hàng ngày hoặc hàng tuần tùy loại và tuyệt đối là không được quên uống thuốc dù chỉ 1 liều. Tuy nhiên, trên thực tế, người bệnh thường quên uống thuốc dẫn đến phải bỏ dở phác đồ điều trị. Thêm nữa, theo PGS. Lê Anh Thư, trên thị trường có nhiều loại thuốc điều trị LX dạng uống thuộc nhóm Bisphosphonate (BP – ức chế hủy xương) như: Fosamax, Actonel, Alentadronate, Risedronate,… Tuy nhiên, các loại này có nhược điểm trong việc buộc BN phải tuân thủ đúng tư thế hay phải ghi nhớ uống trước bữa ăn (bữa uống) đầu tiên trong ngày. Do đó, BN có thể quên và nhất là đối với BN bị gãy xương, đau lưng do xẹp lún đốt sống, bất động, lại càng bất lợi. Mặt khác, BP dạng uống gây kích ứng thực quản, viêm dạ dày. Điều này ảnh hưởng đến tính tuân thủ điều trị của BN, yếu tố quan trọng trong điều trị.

Từ những thất bại này mở ra một yêu cầu về phương pháp điều trị loãng xương và phòng ngừa gãy xương một cách hiệu quả. Và tin vui cho những BN LX, hiện đã có một loại thuốc ức chế hủy xương mới qua đường dùng là tiêm truyền tĩnh mạch zoledronic acid 5mg. Với liều dùng mỗi năm một lần trong ít nhất 15 phút, zoledronic acid 5mg có ưu điểm là sự thuận tiện cho bệnh nhân, tránh những tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (đây là nhược điểm rất lớn của BP dạng uống) nên chắc chắn sẽ giúp BN tuân thủ việc điều trị tốt hơn.

NGUYỄN HUYỀN – MINH ANH
Theo SKĐS

Phụ nữ thành thị loãng xương nhiều hơn phụ nữ nông thôn

Loãng xương (LX) là một bệnh lão hóa của hệ thống xương của cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Do vậy bất kỳ phụ nữ nào khi bước vào tuổi 55-60 cũng có thể bị LX. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, quá trình lão hóa xương xuất hiện sớm hơn, thậm chí cả ở những người phụ nữ trẻ tuổi. LX có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì gãy xương do LX để lại những hậu quả nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

phu_nu_thanh_thi_loang_xuong_nhieu_hon_phu_nu_nong_thon

Loãng xương ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.

Các nguyên nhân gây LX ở phụ nữ thành thị

Chính sự thay đổi môi trường sống là một yếu tố nguy cơ gây LX. Hiện nay cùng với việc gia tăng tốc độ đô thị hóa đến chóng mặt, thì tỷ lệ LX ngày càng cao ở các đô thị. Phụ nữ ở thành thị có nguy cơ LX cao hơn ở nông thôn. Tuổi thọ đang cao lên cũng làm tăng gãy xương do LX ở châu Á. Các yếu tố sinh hoạt, ăn uống, vận động của từng cá nhân cũng làm gia tăng nguy cơ LX cho phụ nữ sống ở các đô thị. Phụ nữ bận rộn thường có chế độ ăn uống thất thường, do vậy lượng canxi đưa vào thấp mới chỉ 400mg trong khi đó cơ thể cần 800-1.000mg canxi hằng ngày. Cần chú ý rằng một số phụ nữ trẻ có chứng chán ăn do thần kinh, do áp dụng một số biện pháp nhịn ăn để giữ eo. Do vậy thường xảy ra sự thiếu hụt canxi cũng như cả các chất đạm cần thiết cho xây dựng khung xương của cơ thể. Phơi nắng là một yếu tố vô cùng quan trọng để cơ thể có thể tự sản xuất ra vitanin D, cần thiết cho hấp thu canxi vào xương. Cần chú ý rằng lạm dụng việc sử dụng kem chống nắng cũng làm giảm hấp thu vitamin D từ đó lượng vitamin D cần thiết là 400-1.000UI. Ở miền Bắc Ấn Độ có tới hơn 40% dân chúng bị thiếu hụt vitamin D. Lối sống tĩnh tại như ngồi lâu trong văn phòng, ít đi lại cũng gây LX. Cần chú ý rằng tập thể lực quá mức dẫn đến vô kinh. Tình trạng mất kinh xảy ra cả ở các nữ vận động viên điền kinh. Chế độ làm việc căng thẳng bận rộn, nhiều stress gây đau dạ dày, khiến cơ thể kém hấp thu các chất, kể cả canxi và vitamin D rất cần cho khung xương của cơ thể. Stress cũng gây rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh sớm, là yếu tố nguy cơ cao gây LX. Hiện nay phụ nữ có xu hướng gia tăng hút thuốc lá và uống rượu, đặc biệt ở các vùng núi và uống cà phê ở thành phố. Chính các thói quen xấu này cũng làm gia tăng nguy cơ LX. Hút thuốc lá một bao mỗi ngày trong suốt giai đoạn trưởng thành có thể làm mất từ 5-10% khối lượng xương của cơ thể.

Phòng ngừa loãng xương như thế nào?

Chế độ ăn cần đa dạng, bảo đảm đầy đủ đạm và khoáng chất đặc biệt là canxi. Sữa và các sản phẩm chế tiến từ sữa (bơ, phomat, yaourt…), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Các thực phẩm như tôm, tép, cua, cá, vừng, rau ngót, rau thơm, rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, tào phớ, xúp lơ… đều giàu canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Ngoài ra cần bổ sung vitamin D, có trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, trai, sò… để cơ thể hấp thu được canxi. Nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, bắp cải, tỏi, yến mạch, lạc… vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương. Uống trà thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ LX do trong trà có nhiều hợp chất tạo xương. Cần có chế độ tập luyện thường xuyên  phù hợp với sức khỏe và từng lứa tuổi. Cần tập thể dục đều đặn 30 phút mỗi ngày, đi bộ nhanh, chạy chậm, tập thể dục thẩm mỹ. Ngoài ra cần tăng thời gian hoạt động ngoài trời hoặc tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Để duy trì mật độ xương hợp lý cần tránh các thói quen xấu như uống rượu, cà phê, hút thuốc lá.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Khoa khớp – BV Bạch Mai
Theo SKĐS

Cần bổ sung canxi cho trẻ khi nào

Canxi có vai trò quan trọng trong sự phát triển và là khoáng chất nhiều nhất của cơ thể. Với 99% tập trung ở xương và răng, 1% còn lại nằm trong máu, mô tế bào nhưng có vai trò rất quan trọng. Khi thiếu canxi kéo dài sẽ dẫn đến tyer bị còi xương, chậm lớn. Nếu hấp thu đủ canxi, bé sẽ có khung xương chắc khỏe khi trưởng thành.

can_bo_sung_canxi_cho_tre_khi_nao

Dấu hiệu thiếu canxi ở trẻ

Trẻ quấy khóc, ngủ không ngon giấc, ra nhiều mồ hôi, tóc rụng thành đường hình vành khăn sau gáy, ra nhiều mồ hôi khi ngủ (mồ hôi trộm), thóp chậm liền, đầu bẹt, lồng ngực dô, chân vòng kiềng hoặc chữ bát là những di chứng của còi xương nặng. Ở trẻ lớn hơn thường có những biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, gầy yếu, chóng mặt, đổ nhiều mồ hôi, ngủ không ngon giấc…

Tác hại của trẻ thiếu canxi

Tùy thuộc vào mức độ thiếu canxi ở trẻ nặng hay nhẹ mà dẫn đến những biểu hiện bệnh lý khác nhau. Nhẹ thì khi ngủ hay bị giật mình và mỗi lần như vậy có những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt, cơn khóc kéo dài và có thể nhiều giờ hoặc suốt đêm. Càng dỗ, càng ru, càng cho bú càng khóc nhiều, có thể ngưng thở trong cơn khóc. Trẻ bị thiếu canxi hay có những cơn co thắt thanh quản gây khó thở, nấc cụt, ọc sữa… Ở những trường hợp thiếu canxi nặng có thể ngưng thở và thở nhanh, những cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim. Nếu không giải quyết tốt nguyên nhân gây hạ canxi máu thì ngoài những biến chứng như trên thì lâu dài sẽ ảnh hưởng đến xương và gây còi xương sớm, biến dạng xương, gù vẹo cột sống. Các biến dạng về xương có thể trở thành vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời, khi trẻ lớn lên đầu có dạng hình cá trê hoặc méo một bên, ngực lép kiểu ức gà, lưng gù, chân cong, răng hô, tướng đi chữ bát…

Bổ sung canxi thế nào cho đúng

Hàm lượng cần thiết đối với trẻ trong độ tuổi 1 – 2 là 500mg/ngày. Bé khoảng 4 – 8 tuổi cần 800mg/ngày và từ 9 tuổi trở lên cần 1.300mg/ngày. Các thực phẩm như sữa và những chế phẩm từ sữa (phô mai, sữa chua) chứa chất này dồi dào nhất. Sữa nguyên kem và sữa tươi có hàm lượng canxi như nhau. Ngoài ra, rau lá có màu xanh sậm, hải sản (tôm, cua, nghêu…), cá, đậu là những nguồn cung cấp canxi tự nhiên cho cơ thể.

Trẻ dưới 5 tuổi uống ít nhất 500ml sữa/ngày, 5 tuổi trở lên khoảng 750ml/ngày là có thể cung cấp đủ lượng canxi cần thiết. Canxi từ sữa và các sản phẩm của sữa như: pho-mát, kem, sữa chua… được hấp thụ vào cơ thể khoảng 32%. Sự hấp thụ canxi từ rau thay đổi tùy loại. Tuy nhiên, vì canxi trong rau dễ bị biến hóa khi nấu nên số canxi còn lại rất ít. Vì thế, phải tiêu thụ 3 ly rau mới có cùng số lượng canxi trong một ly sữa. Khoáng canxi phổ biến nhất là loại canxi carbonate và canxi citrate.

Thông thường thì vẫn có thể uống chung canxi với thuốc khác được, khi dùng canxi vẫn có thể tiếp tục uống các loại thuốc trị bệnh. Tuy nhiên, nên lưu ý, canxi có thể tương tác với vài loại thuốc, như kháng sinh tetracyclin, thuốc trị bệnh tuyến giáp… Vì vậy, khi bổ sung canxi cần được sự tham vấn của bác sĩ. Bạn nên cho trẻ dùng viên bổ sung canxi carbonate sau khi ăn. Trẻ có thể uống trước khi dùng bữa. Ngoài ra, vitamin D giúp cơ thể tăng cường hấp thụ canxi. Bạn nên cho trẻ tắm nắng, tham gia các hoạt động ngoài trời. Đây là nguồn cung cấp vitamin D tự nhiên cho cơ thể dồi dào nhất.

Ngoài ra, nếu cần bổ sung canxi dưới dạng thuốc thì khi mua, cần phải chọn các sản phẩm canxi dễ hấp thu, không gây kích ứng dạ dày ruột, ít gây tác dụng phụ, tiện lợi sử dụng. Trên thị trường có nhiều loại sản phẩm canxi khác nhau, với nhiều hàm lượng khác nhau, cho nên các bậc phụ huynh phải cho các cháu uống theo chỉ dẫn của bác sĩ, vì khi uống quá nhiều dẫn đến thừa canxi cũng không tốt có thể gây sỏi thận, tiết niệu, xương cốt hóa sớm làm trẻ bị lùn.

Điều trị và phòng tránh

Nhiều trường hợp thiếu canxi nhẹ, bác sĩ có thể cho bé uống canxi, kết hợp với vitamin D hàng ngày cho đến khi nào lượng canxi trong cơ thể bé ở mức cân bằng. Nên cho trẻ tắm nắng hàng ngày (trước 9h sáng) để bé tăng cường hấp thụ canxi thông qua quá trình tổng hợp vitamin D.

Nếu trẻ đang bú mẹ, chế độ ăn của người mẹ cần tăng cường các chất giàu canxi như: cá, tôm, cua, thịt, trứng, sữa (chú ý nếu bé bị dị ứng)…

BS. PHẠM THÙY DƯƠNG
Theo SKĐS

Những vi chất giúp trẻ phát triển hệ khung xương

Cùng với nhiều vi chất dinh dưỡng khác, khoáng chất canxi và vitamin D được coi là hai nguyên tố vi lượng thiết yếu đối với cơ thể. Sự thiếu hụt hai nguyên tố này sẽ làm cơ thể trẻ bị còi xương, chậm phát triển chiều cao và nhiều hệ lụy về sức khỏe khác sau này.

nhung_vi_chat_giup_tre_phat_trien_he_khung_xuong

Canxi phòng tránh còi xương cho trẻ

Canxi là một trong số những khoáng chất đóng vai trò quan trọng nhất đối với cơ thể. Đây là thành phần chính cấu thành nên xương và hàm răng của con người. Chỉ một phần rất nhỏ canxi hiện hữu trong máu và các mô mềm. Trong giai đoạn đầu đời nếu hấp thu đủ lượng canxi, sẽ tạo một tiềm năng phát triển tốt để bé có khung xương chắc khỏe khi trưởng thành. Ngược lại, thiếu canxi sẽ khó hình thành, phát triển và duy trì hoạt động của xương, răng, nhất là chiều dài xương, dẫn đến trẻ sẽ có chiều cao khiêm tốn (so với trẻ cùng trang lứa trong cùng dân tộc, hệ di truyền) sau này. Thiếu canxi còn làm giảm sự lắng đọng cục bộ, khô chất gian bào ở đầu xương, gây ra cơn đau tăng trưởng ở cơ bắp hai bên khớp nhưng không phải là viêm khớp. Tùy thuộc vào mức độ thiếu canxi ở trẻ nặng hay nhẹ mà dẫn đến những biểu hiện bệnh lý khác nhau. Nhẹ thì khi ngủ trẻ hay bị giật mình kèm theo những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt. Cơn khóc kéo dài nhiều giờ thậm chí suốt đêm. Ở những trường hợp thiếu canxi nặng có thể ngưng thở và thở nhanh, tăng nhịp tim và có thể gây suy tim. Thiếu canxi kéo dài sẽ ảnh hưởng đến xương và gây còi xương sớm, biến dạng xương, gù vẹo cột sống. Các biến dạng về xương như khi trẻ lớn lên đầu có dạng hình cá trê hoặc méo một bên, ngực lép kiểu ức gà, lưng gù, chân cong, răng hô, tướng đi chữ bát… có thể trở thành vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời.

Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu khác chỉ ra, không hẳn khẩu phần canxi thấp có thể hạn chế đến sự phát triển về chiều dài và bề rộng của xương. Nhưng nếu quá trình này tích tụ lâu dài sẽ dẫn đến kết quả vỏ xương mỏng và ít hơn, độ đậm chất khoáng trong xương giảm đi, khiến xương giòn và dễ gãy. Do vậy, các bậc cha mẹ cần chú ý không phải cứ thấy bé cao lớn bình thường có nghĩa là bé không thiếu canxi. Một số bệnh khi thiếu canxi tuổi trưởng thành sẽ không bộc lộ, nhưng tạo tiền đề cho sự bộc lộ ấy vào tuổi trung niên, tuổi già: như bệnh loãng xương, chứng lẩn thẩn tuổi già, bệnh tăng huyết áp…

Không như protein, lượng canxi trong cơ thể con người được giữ lại luôn thấp hơn so với lượng tiêu hóa. Canxi bị tiêu hao hàng ngày qua da, mồ hôi, cũng như qua đường tiêu hóa, qua nước tiểu và các hệ bài tiết. Mặt khác canxi không có quá trình tái hấp thụ trở lại. Sự hấp thụ canxi tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể, loại thực phẩm và số lượng canxi được cung cấp cho cơ thể.

Giá trị canxi được cung cấp từ thực phẩm không chỉ ở hàm lượng mà còn ở các yếu tố hấp thụ. Canxi ở thực vật không tốt bằng ở động vật vì có một số ở dạng không hòa tan như oxalat. Các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật trên cạn thường có hàm lượng canxi thấp hơn động vật ở dưới nước (cá tôm, cua, ếch), nhất là khi so với các loại hải sản biển. Cần ăn cân đối giữa thức ăn thực vật – động vật trên cạn, dưới nước. Nếu chỉ ăn thực vật, có khi canxi tính lượng thô vẫn đủ, nhưng lượng canxi được hấp thụ vào cơ thể vẫn có thể thiếu.

Lượng canxi từ sữa và các chế phẩm từ sữa được hấp thụ vào cơ thể  tương đối cao, khoảng 32%. Sự hấp thụ canxi từ rau có thể thay đổi tùy loại nhưng canxi trong rau dễ bị biến hóa khi nấu nên lượng canxi còn lại rất ít. Vì thế, phải tiêu thụ khoảng 300g rau mới có cùng số lượng canxi trong một cốc sữa.

Canxi rất cần thiết cho cơ thể nhưng thiếu hoặc thừa canxi cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bé. Có nhiều bà mẹ vì muốn con mình cao lớn hơn, đã lạm dụng nhiều thuốc cốm bổ canxi mà không biết rằng có nguy hại cho con. Nếu quá thừa, lượng canxi không hấp thụ hết có thể tích tụ gây vôi hóa thận, sỏi mật, giảm chức năng thận, giảm hấp thu các chất khoáng khác như sắt, kẽm, magiê, photpho… tăng canxi trong máu.

Bởi vậy cách tốt nhất để cung cấp đầy đủ, không thiếu và cũng không thừa canxi cho bé, các bà mẹ nên cho bé ăn uống đủ dinh dưỡng đa dạng các thực phẩm, chú ý dùng nhiều thực phẩm giàu canxi như tôm, tép, ốc, cua, trứng, sữa… các loại rau, đậu để cơ thể hấp thụ canxi một cách tự nhiên. Không nên quá lạm dụng thuốc bổ canxi với mục đích giúp cho bé phát triển chiều cao ngoài chỉ định của bác sĩ. Và để giúp cho quá trình chuyển hóa, hấp thụ canxi trong cơ thể bé được tốt hơn các bà mẹ cũng cần chú ý, tăng cường thêm cho trẻ bổ sung vitamin D.

Và vai trò thiết yếu của vitamin D

Vitamin D trong cơ thể (ergocanxiferon D2 và cholecanxiferon D3) là loại vitamin tan trong dầu mỡ có vai trò điều hòa chuyển hóa canxi và phospho giúp tăng hấp thu và sử dụng canxi của thức ăn nhờ tạo thành các liên kiết canxi – phospho cần thiết. Khi thiếu vitamin D chỉ có khoảng 20% canxi ăn vào được hấp thu qua ống tiêu hóa, còn khi có đủ vitamin D khả năng hấp thụ canxi lên tới 50-80%. Vitamin D rất cần thiết cho quá trình cốt hóa (tạo xương) do vậy khi thiếu vitamin D ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa canxi phospho trong cơ thể làm cho hệ xương và cơ thể trẻ chậm phát triển.

Các biểu hiện của thiếu vitamin D: ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi trộm, rụng tóc phía sau đầu, thóp rộng, bờ thóp mềm, đầu to, trán dô, chậm mọc răng, chậm biết lẫy, bò, đứng, đi, các bắp thịt nhẽo. Nếu thiếu vitamin D, trẻ em sẽ bị còi xương; trẻ bị còi xương sẽ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao và tầm vóc của trẻ sau này.

Vitamin D chỉ có ở thức ăn động vật như trứng, sữa, gan bò, gan lợn, cá, đặc biệt là gan cá thu. Vitamin D cũng là loại vitamin tan trong dầu, do vậy để giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt vitamin này cần có đủ dầu, mỡ trong bữa ăn của trẻ. Vitamin D2 được tích lũy dưới da (đó là dạng chưa hoạt động), sau khi được ánh nắng chiếu vào sẽ chuyển thành D3 là dạng hoạt động. Do vậy, để phòng chống còi xương cho trẻ ngoài chế độ ăn uống đủ các thành phần dinh dưỡng và vitamin D thì cho trẻ tắm nắng là rất quan trọng.

Phạm Tiến
Theo SKĐS

Cách điều trị về bệnh loãng xương

Các thuốc như canxi, biphosphonat, vitamin D hay calcitonin được sử dụng trong điều trị loãng xương, nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, các nhà khoa học đã có những cách nhìn mới trong việc sử dụng các thuốc này. Dưới đây là những thông tin được chính thức đề cập tại hội nghị thường niên của Hội Nghiên cứu về xương và khoáng chất (Mỹ) tại San Diego, California vừa diễn ra.

Vấn đề dùng canxi
Quan niệm trước đây cho rằng, người già do khả năng hấp thu giảm, lại ít ra nắng nên thiếu vitamin D và dẫn đến thiếu canxi. Việc bổ sung canxi là cần thiết để tạo nguồn nguyên liệu cho quá trình tạo xương nhằm tăng mật độ chất khoáng cho xương (BMD), chống gãy xương. Thế nhưng, nghiên cứu mới đây đã làm thay đổi quan niệm này.

Nghiên cứu WHI ( Women Health Intitative ) tại Mỹ trên 36.000 người mãn kinh (50 – 70 tuổi) cho thấy, dùng 1.000mg canxi và 400IU vitamin D/ngày có làm tăng BMD chút ít so với nhóm chứng, nhưng không giảm được nguy cơ gãy xương. Các nhà nghiên cứu Australia phân tích lại các nghiên cứu WHI cũng thống nhất với kết luận này, đồng thời cho biết thêm, việc dùng canxi làm tăng 31% nguy cơ nhồi máu cơ tim (số liệu từ 5 nghiên cứu trên 8.000 người), tăng 27% nhồi máu cơ tim (số liệu từ 11 nghiên cứu trên 12.000 người).

Theo đó, Hội Nghiên cứu về xương và khoáng chất (Mỹ) kết luận: Dùng canxi trong điều trị loãng xương không có lợi mà còn nguy hại. Vì thế theo WHO, muốn phòng loãng xương cần cung cấp đủ nhu cầu canxi ngay từ khi còn trẻ mà không đợi đến lúc già. Không nên dùng canxi trong điều trị loãng xương, đặc biệt là loãng xương do tuổi già.

cach-tri-thuoc-tri-loang-xuong

Về biphosphonat

Các nghiên cứu trước đây cho biết, dùng biphosphonat làm tăng BMD so với nhóm chứng (dù không phải tất cả các kết quả nghiên cứu đều thống nhất). Mặt khác, lúc đó chưa ghi nhận được tác dụng phụ của biphosphonat với xương nên trong điều trị loãng xương đã cho dùng phổ biến thuốc này kéo dài 5-7 năm.

Các nghiên cứu mới đây lại cho rằng, biphosphonat ức chế không cho tế bào hủy xương hoạt động, ngăn sự hủy xương và có lợi cho người loãng xương. Tuy nhiên, chu kỳ hủy – tạo xương là chu kỳ sinh lý tự nhiên, nếu giữ lại quá lâu không cho tế bào hủy xương hoạt động thì xương sẽ già đi, ảnh hưởng không lợi đến chu kỳ sinh lý tự nhiên, làm trở ngại quá trình tạo xương dẫn đến tăng sự gãy xương. Có nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ điều này.

Ví dụ như, nghiên cứu ở Thụy Điển (2011) cho thấy, dùng biphosphonat làm tăng nguy cơ gãy xương đùi không điển hình khá cao (59 trường hợp trong số 1.271 trường hợp gãy xương ở vùng dưới mấu chuyển hoặc thân xương). Nguy cơ này tăng theo thời gian dùng (gấp 10 lần trong 2 năm đầu, gấp 50 lần khi dùng lâu hơn).

Trước đó, các nhà khoa học Ontarion (Canada) cũng theo dõi 716 nữ trên 68 tuổi bị gãy xương thấy đa phần là có dùng biphosphonat trên 5 năm. Một nghiên cứu có đối chứng khác thấy nhóm dùng biphosphonat trên 5 năm có nguy cơ gãy xương đùi cao gấp 2,74 lần so với nhóm chứng chỉ dùng trong 3 tháng. Một số bệnh án cũng ghi nhận, dùng zoledronat tiêm 1 năm một lần trong 3 năm làm tăng nguy cơ gãy xương.

Từ tháng 10/2010, FDA đã cảnh báo về nguy cơ dùng biphosphonat dài hạn gây gãy xương. Theo đó, Hội Nghiên cứu về xương và khoáng chất (Mỹ) khuyên, phải đo BMD chỉ  khi thấy có rối loạn tế bào hủy xương mới dùng biphosphonat và không dùng kéo dài.

Hiện Mỹ và các nước châu Âu cũng đã thay đổi cách dùng thuốc này, tuy vẫn dùng biphosphonat trong điều trị loãng xương nhưng chỉ khi chắc chắn có sự tăng quá trình hủy xương, chỉ dùng trong từng đợt ngắn khoảng 6 tháng, xen kẽ giữa các đợt nghỉ biphosphonat có thể dùng các thuốc thay thế khác.

Vitamin D

Trước đây cho dùng vitamin D nhằm hỗ trợ việc hấp thu canxi nên vitamin D chỉ dùng khi kết hợp với canxi (dùng vitamin D dạng hoạt tính có 3 nhóm chức OH tốt hơn vitamin D3 chỉ một nhóm OH).
Kết quả của những nghiên cứu mới đây cũng đã làm thay đổi cách dùng này. Nghiên cứu 210 người bị loãng xương sau mãn kinh, trong 18 tháng (đủ thời gian do BMD theo phương pháp DEXA) dùng vitamin D và biphosphonat với 3 nhóm dùng các dạng khác nhau (uống alandronat, residronsat; tiêm tĩnh mạch zoledronat). Kết quả cho thấy, chỉ có 47% đáp ứng tốt với việc dùng biphosphonat dài ngày.

Người có mức vitamin D cao đáp ứng với biphosphonat cao gấp 4,5 lần so với người có mức vitamin D  thấp. Các nghiên cứu dược động học cũng thấy: quá trình chuyển vitamin D3 thành vitamin D dạng hoạt tính trên người khỏe mạnh diễn ra  suôn sẻ; chỉ trên người suy thận mới có trở ngại.

Theo đó, Hội Nghiên cứu về xương và khoáng chất (Mỹ) kết luận: Trong loãng xương khi có dùng biphosphonat, thì việc dùng vitamin D là cần thiết nhưng nên giữ vitamin D ở mức thích hợp. Người bình thường chỉ cần dùng vitamin D3, chỉ người suy thận mới phải dùng vitamin D hoạt tính (calcitriol). Hiểu rõ vai trò của vitaminD trong điều trị loãng xương sẽ giúp thay đổi một số cách dùng thuốc thuận tiện và rẻ tiền hơn cho người bệnh.

Calcitonin
Quan niệm cũ cho dùng calcitonin tái tổ hợp có nguồn gốc từ người (hợp với sinh lý) sẽ tốt hơn loại chiết xuất từ cá hồi, dùng đường bơm mũi (hấp thu nhanh) tốt hơn đường uống. Thế nhưng các nghiên cứu gần đây lại cho biết, trong việc loại bỏ hấp thụ tế bào tạo xương, calcitonin có nguồn gốc từ cá hồi có độ mạnh gấp 30-50 lần loại có nguồn gốc từ người.

Dùng calcitonin cá hồi dạng uống trong 48 tuần có kết quả làm tăng BMD và khoáng chất ở vùng cột sống vùng thắt lưng tốt hơn dùng dạng bơm mũi và giả dược. Theo đó, Hội Nghiên cứu về xương và khoáng chất (Mỹ) kết luận, trong điều trị loãng xương nên dùng loại cacitonin tái tổ hợp có nguồn gốc từ cá hồi và dùng dạng uống.

DSCKII.Bùi Văn Uy

Theo SKDS