Tag Archives: khó thở

Ung thư thực quản ở nam giới

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy
UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

ung-thu-thuc-quan-o-nam-gioi

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.
Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?
Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị
Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nhận biết và đề phòng hen phế quản cho con

Theo số liệu thống kê, bệnh hen phế quản đã khiến 25% bệnh nhân phải nhập viện, 42% trẻ nghỉ học và 29% người lớn nghỉ làm. Mỗi năm có hàng nghìn người chết vì bệnh hen và các trường hợp tử vong là do bệnh nhân không thể qua khỏi cơn hen phế quản. Hen phế quản có thể gặp ở bất kỳ độ tuổi nào trong đó có cả trẻ em. Nhận biết sớm các dấu hiệu bênh hen phế quản ở trẻ em, các mẹ sẽ có hướng xử lý kịp thời, tránh tình trạng để ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của trẻ.

Các dấu hiệu nhận biết hen phế quản ở trẻ em

Các mẹ hãy lưu ý nếu thấy con em mình có những dấu hiệu lạ như sau:

Trẻ khi khóc, chạy nhảy quá mức đột nhiên xuất hiện triệu chứng như ho gà, khi nói các câu dài bị ngắt quãng. Nghe phổi thấy có tiếng ran rít vào cuối thì thở ra. Đây có thể là dấu hiệu cơn hen phế quản nhẹ.

nhan-biet-va-de-phong-hen-phe-quan-cho-con

Khi trẻ gắng sức, tiếng nói bị ngắt quãng, quan sát thấy dấu hiệu co kéo lồng ngực, hõm ức, hố thượng đòn, nghe thấy ran rít khi thở ra. Đây có thể là dấu hiệu cơn hen phế quản vừa.

Còn với trường hợp hen phế quản nặng trẻ thường bị khó thở, bị ho cả khi nghỉ ngơi, cánh mũi phập phồng, trẻ nhỏ không thể bú được, có thêm hiện tượng co kéo lồng ngực, mũi ức, hố thượng đòn rất rõ; nhìn môi của trẻ thấy tím tái. Nói hoặc khóc rất khó khăn, thấy trẻ chỉ có thể nói từng từ một. Nghe phổi có ran rít to cả khi trẻ thở ra và hít vào.

Đối với cơn hen phế quản rất nặng (trường hợp là ác tính) trẻn có biểu hiện như khó thở dữ dội, không thể khóc hoặc nói và lúc này nghe phổi không còn thấy ran. Cơn hen xảy ra liên tiếp trong nhiều ngày nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.
Với các trẻ bị hen phế quản có kèm theo sốt thì rất có khả năng trẻ bị viêm đường hô hấp do ảnh hưởng bởi một số vi khuẩn, vi nấm hoặc virus.

Một số nguyên nhân khiến trẻ bị hen phế quản

Có nhiều nguyên nhân khiến trẻ có nguy cơ bị hen phế quản, các chuyên gia cho rằng, một số yếu tố dưới đây có thể làm tăng nguy cơ trẻ bị hen phế quản:

Thời tiết chuyển đổi đột ngột từ nắng ấm sang lạnh, gió mùa đông bắc, áp thấp nhiệt đới, ẩm ướt. Khi đó trẻ rất dễ bị cảm lạnh do mặc không đủ ấm hoặc trẻ tắm trong khoảng không gian bị gió lùa. Đây là những điều kiện thuận lợi khiến hen phế quản phát sinh ở trẻ.

Những trẻ bị viêm đường hô hấp do vi sinh vật như viêm mũi họng, VA, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản hoặc trẻ ăn phải một số thức ăn như tôm,cua, ốc. Trẻ phải tiếp xúc với lông động vật hoặc côn trùng cũng làm tăng nguy cơ tái phát hen phế quản.

Môi trường khói, bụi bẩn, môi trường có khói thuốc lá, thuốc lào, khói bếp rơm rạ, củi, rác, nhất là khói và khí của bếp than đá (than tổ ong). Vùng đô thị vệ sinh kém. Nếu trẻ sống trong những môi trường này cũng có nguy cơ cao bị hen phế quản.

Những trẻ có bố hoặc mẹ bị bệnh hen phế quản thì con sinh ra cũng có nguy cơ mắc bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh rơi vào khoảng 30 – 50%. Nếu cả 2 bố mẹ có bệnh hen thì tỉ lệ này lên tới 50 – 70%, còn trường hợp ngược lại, bố mẹ không có ai bị hen thì tỷ lệ mắc bệnh giảm xuống còn 10 -15%.

Cách xử lý và phòng ngừa khi trẻ lên cơn hen

Khi trẻ lên cơn hen, các mẹ cần cho trẻ ra chỗ thoáng khí, nơi có không khí trong lành, cho trẻ uống nhiều hoặc hít hơi nước làm đờm loãng ra sẽ dễ thở hơn.

Trường hợp trẻ có kèm theo sốt cơn hen kéo dài trên 3 ngày, có thể trẻ bị viêm bội nhiễm do vi khuẩn. Trường hợp như vậy cần cho trẻ uống thuốc kháng sinh tuy nhiên nên theo chỉ định của bác sỹ. Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc.

Để phòng ngừa bệnh hen, các mẹ cần tránh cho trẻ tiếp xúc với các yếu tố làm khởi phát cơn hen. Có thể sử dụng các thuốc dự phòng để kiểm soát cơn hen.

Bệnh hen đã trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu, một vấn đề xã hội lớn, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, hen có thể kiểm soát triệt để nếu được điều trị đúng và người bệnh tuân thủ chỉ dẫn của thầy thuốc. Các bậc cha mẹ nên cho con em mình tới khám và tư vấn tại các phòng khám chuyên khoa để có được lời khuyên và phác đồ điều trị phù hợp với lứa tuổi và từng bậc hen cụ thể.

Nguồn báo sức khỏe

Xử lý nhanh khi bị dị ứng mỹ phẩm

Dị ứng mỹ phẩm có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng nhưng ở mức độ nào, người bệnh cũng cần biết cách xử lý kịp thời, tránh để tình trạng dị ứng nặng thêm.

Ngày nay, mỹ phẩm trang điểm, kem dưỡng da đã trở thành vật bất ly thân của nhiều chị em phụ nữ yêu thích làm đẹp. Tuy nhiên, chất lượng của các loại mỹ phẩm trên thị trường hiện nay vẫn chưa được kiểm soát hết. Sử dụng mỹ phẩm trôi nổi, mỹ phẩm giả, kém chất lượng sẽ tác hại trực tiếp lên làn da cũng như sức khỏe của chị em. Các loại mỹ phẩm thường gây dị ứng như: kem làm trắng da, kem chống nếp nhăn, kem lót trang điểm, son môi…

xu-ly-nhanh-khi-bi-di-ung-my-pham

Theo BS Nguyễn Thành, Bệnh viện Da liễu Trung ương, dị ứng mỹ phẩm có các mức độ sau:
– Mức độ 1: kích ứng tại chỗ với biểu hiện da đỏ, hơi rát, ngứa
– Mức độ 2: nổi mụn nước.
– Mức độ 3: gây nhiễm trùng, mụn mủ
– Mức độ 4: viêm tấy tại chỗ, sưng hết cả một vùng da, đôi khi lan ra toàn thân.
– Mức độ 5: nếu mỹ phẩm có nhiều chất độc hại, có thể gây loét da.

Nếu thấy một trong các biểu hiện sau sau khi dùng mỹ phẩm:
– Đau rát vùng da vừa dùng mỹ phẩm, ngứa theo từng đợt trong vòng 10 phút
– Mẩn ngứa thành nốt ban đỏ
– Da mặt sưng tấy, có khi thấy tức ngực, khó thở
– Nổi mề đay như vết muỗi cắn…
thì chị em cần ngừng ngay lập tức, dùng vòi nước rửa sạch phần mỹ phẩm vừa bôi.

BS Nguyễn Thành tư vấn thêm: Những người có cơ địa dị ứng thì dùng mỹ phẩm phải cẩn trọng. Mới dùng không nên dùng diện rộng, phải bôi thử lên mặt trong cánh tay. Sau mỗi lần dùng mỹ phẩm, dùng chất tẩy trang, nước rửa để tránh mỹ phẩm thấm sâu vào da. Nếu thấy có biểu hiện dị ứng mỹ phẩm trên thì cần đến cơ sở y tế chuyên da để khám.

Theo vtv

Điều trị Hen bằng thuốc dạng xịt hít

Đây là phương pháp thường dùng khi điều trị Hen. Để đạt được hiệu quả cho trẻ em, khi điều trị với thuốc ống xịt hít cần có sự phối hợp và hướng dẫn kỹ lượng của phụ huynh vì phương pháp này yêu cầu khi thực hiện hít và thở đúng trong thời gian chính xác và nhanh.

Đây cũng được xem là giải pháp cắt cơn hen tức thời hiệu quả, tuy nhiên, với thuốc ống xịt định liều thì lượng thuốc không được sử dụng tối đa. Thuốc đi rất nhanh và tập trung chủ yếu ở miệng và cổ họng, ít đi vào sâu trong phổi (là vị trí cần phát huy tác dụng), và gây các phản ứng phụ đến hệ tiêu hóa.
Sử dụng thuốc dạng ống xịt kết hợp Buồng đệm

1Diamond

Buồng đệm (còn gọi là Buồng hít) là dụng cụ hỗ trợ để sử dụng với ống thuốc dạng xịt hít. So với việc điều trị chỉ bằng thuốc dạng xịt, thì việc phương pháp kết hợp với dụng cụ Buồng đệm sẽ giúp thuốc đi vào trong phổi, đảm bảo liều lượng thuốc sử dụng, giảm thiếu thất thoát thuốc tối đa, hạn chế được tác dụng phụ.

Buồng đệm Optichamber Diamond sử dụng được với hầu hết các loại ống thuốc xịt. Nên tham khảo ý kiến và theo sự chỉ dẫn cách sử dụng của bác sĩ để có hiệu quả điều trị.

Sau đây là cách sử dụng Buồng đệm Diamond với ống thuốc

Bước 1: tháo nắp đầu ngậm miệng của ống thuốc xịt và Buồng đệm Diamond.

Bước 2: kiểm tra để chắc chắn rằng các thiết bị không bị hư hỏng và không có vật lạ bên trong.

Bước 3: gắn chặt đầu ngậm miệng của ống xịt vào đầu gắn ống thuốc của Buồng đệm Diamond.

Bước 4: Cầm Buồng đệm Diamond và ống thuốc xịt (bình xịt định liều) cùng nhau và lắc đều

Bước 5: Đưa đầu ngậm của Buồng đệm Diamond vào trong miệng và ngậm môi lại 1 cách chắc chắn để tạo nên sự khép kín

Bước 6: : Nhẹ nhàng thở ra, sau đó xịt 1 lượng thuốc vào Buồng đệm và hít vào 1 cách chậm rãi, hít 1 hơi thật sâu và đầy đủ.

Bước 7: giữ hơi thở cho đến khi cảm thấy thỏa mái, lên đến 8 giây, sau đó thở ra từ từ.

Bước 8: nếu dùng hơn 1 lần xịt thuốc, thực hiện lần xịt kế tiếp sau 1 phút.

Sau khi dùng 1 số loại thuốc, như corticosteroid dạng hít. Bạn cần phải súc miệng lại bằng nước. Không được nuốt nước.

Diamond

Optichamber Diamond được tích hợp còi lượng cao, việc hít thở đúng sẽ phát ra âm thanh giúp nhận biết và phối hợp hoạt động hít thở đúng dễ dàng hơn.

Phế dung kế Philips – Personal Best: Đo chức năng phổi, giúp dễ dàng theo dõi theo phác đồ điều trị bệnh. Với thiết kế khép kín, chân để đứng dễ dàng sử dụng. Trọng lượng nhẹ, thông số cho phép nằm dao động trong khoảng (60-810 l/min) và tầm thấp (50–390 l/min). Nắp đẩy an toàn, vệ sinh.

Máy xông mũi họng Sami là máy thiết kế đặc biệt dành riêng cho trẻ em với kiểu dáng thiết kế hình chú hải cẩu dễ thương mang đến cho con bạn sự thân thiện và an toàn khi điều trị. Nhờ hệ thống nén khí tiên tiến tạo thuốc dạng hơi sương kết hợp điều trị với mặt nạ hít hình chú rùa xinh xắn bằng chất liệu mềm mại, dễ chịu cho bé, hiệu quả điều trị nhanh chỉ trong vòng 6 phút.

Theo gia đình

Bệnh hen xuyễn ở phụ nữ

“Những nguy cơ do bệnh hen suyễn gây ra ở phụ nữ là có thật”, đó là điều 5 nữ bác sĩ khoa hô hấp khẳng định trong chiến dịch giúp mọi người hiểu hơn về những điều khác biệt của bệnh hen suyễn biểu hiện ở phụ nữ.

Người ta nghĩ rằng bệnh hen suyễn thường gặp ở trẻ trai, nhưng căn bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe của hơn 4 triệu người Pháp và cướp đi sinh mạng của 1.000 người một năm trên đất nước này, cũng “tấn công” đến phụ nữ. Sau 35 tuổi, tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh cao gấp đôi so với nam giới. Các đặc thù bệnh hen suyễn đối với phụ nữ phải được tìm hiểu kỹ hơn vì những thay đổi nội tiết tố là yếu tố quan trọng trong việc khởi phát bệnh mànhững người phụ nữ luôn luôn không hiểu nguyên nhân tại sao. Xin giới thiệu tổng hợp về bệnh hen suyễn đối với phái nữ theo độ tuổi …

benh-hen-xuyen-o-phu-nu

Chẩn đoán đúng hơn ở tuổi trưởng thành

Ở trẻ em, bệnh hen suyễn ảnh hưởng đến bé trai nhiều hơn bé gái (10% bé trai trong độ tuổi từ 5 đến 10 tuổi mắc bệnh so với 6% bé gái cùng độ tuổi). Nhưng khi có sự tác động của hóc môn tăng trưởng, phụ nữ sẽ là đối tượng thường xuyên hơn của căn bệnh này. “Trong giai đoạn dậy thì, khoảng 12 tuổi, estrogen và progesterone đều có ảnh hưởng đến phế quản”, tiến sĩ Anne Prudhomme, Bệnh viện Bigorre (Pháp) cho biết.

Thật không may, việc chẩn đoán bệnh cũng như theo dõi điều trị kém diễn ra phổ biến trong giới trẻ, bác sĩ khoa hô hấp lấy làm tiếc nói “điều này thể hiện rõ ở các em gái”. Và một khi phát hiện ra bệnh, cuộc sống của các cô gái sẽ bị xáo trộn hơn các chàng trai. Đầu tiên, họ bị cấm làm nhiều điều: trong thể thao (ngày nay được biết đến như là cách để bảo vệ bạn trước căn bệnh này), các em mắc bệnh bị hạn chế luyện tập. “Việc hạn chế này áp dụng nhiều hơn với các em gái”, Anne Prudhomme cho biết. Tinh thần của các em cũng tồi tệ hơn: triệu chứng trầm cảm diễn ra phổ biến ở trẻ em mắc hen (tỉ lệ là 14,2 % so với 9,2% ở những người không mắc), nhưng tỷ lệ này còn cao hơn ở những em gái .

Thuốc tránh thai làm bệnh nặng hơn: chưa kết luận

“Người ta tưởng rằng việc uống thuốc tránh thai có thể thúc đẩy bệnh hen tiến triển ở một số phụ nữ, đặc biệt là những người gầy”, tiến sĩ Camille Cut, Bệnh viện Bichat-Claude Bernard (Paris) nói. “Nhưng điều đó không có gì rõ ràng và người ta chưa thấy loại thuốc tránh thai (uống) nào có ảnh hưởng đến bệnh này”.

Bệnh hen nặng lên trong thời kỳ tiền kinh nguyệt

“Hen suyễn tiền kinh nguyệt là một dấu hiệu lâm sàng”, các bác sĩ khoa hô hấp giải thích. Theo nghiên cứu tiến hành năm 1980, 33% trong số 57 phụ nữ được hỏi cho thấy triệu chứng bệnh của họ nặng hơn trong khoảng giai đoạn tiền kinh nguyệt hoặc trong thời kỳ kinh nguyệt.

“Các vấn đề về hô hấp là một phần trong “sự khó ở” thời kỳ tiền kinh nguyệt”, tiến sĩ Prudhomme nói. Các phản ứng của phế quản (cơn co thắt diễn ra nhiều hơn, chất tiết nhiều hơn …) khiến biểu hiện triệu chứng tiền kinh nguyệt rõ rệt hơn, và “25% biểu hiện bệnh hen nặng xảy ra trong vài ngày đầu tiên trong chu kỳ kinh nguyệt”, Anne Prudhomme lưu ý. Những con số trên cho thấybệnh hen có một liên quan đặc biệt với hormone giới tính nữ.

Người mẹ mang thai cần đượcđiều trị tốt

Theo một nghiên cứu được công bố năm 2011, nguy cơ hen suyễn sẽ cao gấp hai đến ba lần đối với phụ nữ mang thai mắc bệnh này. “8% phụ nữ mang thai bị hen suyễn, đó là thách thức thường xuyên đối với bác sĩ khoa sản”, tiến sĩ Camille Tailléđến từ Bệnh viện Bichat-Claude Bernard (Paris) nói.

Tuy nhiên, theo nữ bác sĩ này, “các bác sĩ không nên do dự: điều trị bệnh hen suyễn ở phụ nữ mang thai cũng giống như cho tất cả mọi người”. Duy trì điều trị là rất quan trọng bởi vì các vấn đề hô hấp trong khi mang thai có ảnh hưởng đến trọng lượng của em bé khi sinh và các biến chứng sản khoa khác. “Một nghiên cứu của Úc cho thấy năm ngoái rằng những đứa trẻ (có mẹ bị hen và người mẹ đó được điều trị tốt trong lúc mang thai) nhiễm các bệnh đường hô hấp ít hơn đứa trẻ khác trong những nămđầu đời của chúng”.

Tuy vậy, hơn 40% phụ nữ cho rằng corticosteroid dạng hít (ống thuốc dùng để cắt cơn hen) có hại cho thai nhi, và 20% phụ nữ bị bệnh hen suyễn giảm lượng thuốc điều trị trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ. Kết quả không khả quan lắm, có tới 64% trong số phụ nữ mắc bệnh dùng corticosteroid dạng hít trong trường hợp khẩn cấp, họ chỉ nhận được không nhiều hơn 38% tác dụng điều trị nếu họ đang có bầu! “Điều đó hoàn toàn không hợp lý,” bác sĩ khoa hô hấp khẳng định.

Nguy cơ trong thời kỳ mãn kinh

Tuổi già đi kèm với chức năng phổi suy giảm. “Hiện tượng này biểu hiện rõ đối với phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh”, tiến sĩ Cecilia Nocent-Ejnaini (Bayonne) cho hay. “Trong thời kỳ mãn kinh bệnh hen có nguy cơ gia tăng đáng kể, đặc biệt là đối với phụ nữ đang theo liệu pháp thay thế hormone (cụ thể là estrogen), và đối với người hút thuốc hoặc phụ nữ gầy”, bác sĩ này nói. Bà này cũng cảnh báo: “Điều này không có nghĩa là chúng ta phải ngừng điều trị nội tiết tố. Nhưng bạn hãy nghĩ đến điều trị bệnh hen nếu bạn cảm thấy khó thở khi đang theo liệu pháp điều trịnội tiết tố”.

Nguồn vnmedia

Chứng bệnh hạ canxi máu ở trẻ em

Hiện tượng hạ can xi máu ở trẻ sơ sinh thường xảy ra trong hai tuần đầu sau sinh, do nhu cầu phát triển xương mạnh, đòi hỏi lượng can xi cung cấp rất lớn, nhưng sau khi cắt rốn, lượng can xi từ mẹ cung cấp cho con bị cắt đột ngột và nguồn can xi cung cấp từ bên ngoài qua sữa thường thiếu.
Một số nguyên nhân khác gây hạ can xi máu ở trẻ sơ sinh là do trong thời kỳ mang thai mẹ không được cung cấp đủ can xi, bị nhiễm độc thai nghén, nhau tiền đạo, đái tháo đường, đẻ khó; cường tuyến giáp, trẻ bị ngạt, sau đẻ trẻ bị thiếu ô xy máu,…

Biểu hiện khi trẻ sơ sinh bị hạ can xi máu

ha-canxi-mau


Biểu hiện của thiếu can xi máu tùy thuộc vào mức độ, có thể gặp các dấu hiệu như: Khi ngủ trẻ hay bị giật mình và mỗi lần như vậy có những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt, cơn khóc kéo dài có thể nhiều giờ hoặc suốt đêm. Càng dỗ, càng ru, càng cho bú càng khóc, có thể ngưng thở trong cơn khóc. Trẻ bị hạ can xi máu hay có những cơn co thắt thanh quản gây khó thở, nấc cụt, ọc sữa,… Nếu không được điều trị tốt thì lâu dài sẽ ảnh hưởng đến hệ xương và gây còi xương sớm, biến dạng xương, gù vẹo cột sống,… Ở những trường hợp thiếu can xi nặng có thể ngưng thở, có những cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim, thậm chí tử vong.

Do đó, nếu trẻ sơ sinh có biểu hiện của hạ can xi máu cần phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế chuyên khoa Nhi để khám và điều trị thích hợp để tránh nguy cơ tử vong và các biến chứng phát triển xương của trẻ sau này.

Phòng ngừa như thế nào?


Để phòng ngừa hạ can xi máu ở trẻ sơ sinh, trong thời gian mang thai người mẹ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn thực phẩm chứa can xi như sữa, tôm, cá, cua,…; Khám thai định kỳ; Sau khi sinh, mẹ vẫn phải ăn uống đầy đủ chất, không ăn kiêng nhất là cua, tôm, cá và các thực phẩm khác có nhiều can xi; Phải cho trẻ bú càng sớm càng tốt ngay sau sinh, nhưng nếu chỉ bú sẽ mẹ mà không ra ánh sáng thì sự hấp thụ can xi sẽ giảm vì không có vitamin D cho nên các bà mẹ cần chú ý cho trẻ bú sớm và bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu, bú kéo dài đến khi trẻ 2 tuổi và không nên kiêng cữ như nằm trong buồng tối, hạn chế trẻ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhiều tuần, nhiều tháng sau đẻ dẫn đến cả mẹ và con đều có nguy cơ thiếu vitamin D gây giảm hấp thu canxi và hạ can xi máu.

Theo sức khỏe đời sống

Nhận biết bệnh viêm xoang ở con trẻ

Viêm xoang ở trẻ em (VXTE) là một bệnh khá thường gặp. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh này ở trẻ em khác với viêm xoang ở người lớn. Trong thực tế, bệnh thường rất dễ nhầm lẫn với bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên.

Hệ thống các xoang ở trẻ phát triển đầy đủ cho đến khi trẻ tròn 10 tuổi. Mặc dù xoang hàm và xoang sàng là nhỏ nhưng đã có ngay sau sinh, do đó viêm hai xoang này thường gặp nhất.

viem-xoang

Phân biệt trẻ bị viêm xoang và nhiễm khuẩn hô hấp trên
Trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên thường có các triệu chứng: sốt, ho, sổ mũi, quấy khóc. Các triệu chứng này thường giảm và tự khỏi sau 5 – 7 ngày. Bệnh thường do virút nên không cần sử dụng kháng sinh.

Nghĩ đến VXTE khi trẻ có các triệu chứng sau:
– “Cảm cúm” kéo dài 10 – 14 ngày có thể kèm sốt hoặc không.
– Sổ mũi đục, xanh hoặc vàng.
– Chảy mũi sau đôi khi dẫn đến đau họng, ho, khạc đờm, khò khè, khó thở, nôn, buồn nôn.
– Quấy khóc, mệt mỏi.
– Sưng quanh mắt.

Các triệu chứng này thường kéo dài 10 – 14 ngày hoặc hơn. Tuy nhiên, với các triệu chứng trên kéo dài dưới 10 ngày vẫn có thể là viêm xoang nếu các triệu chứng này là trầm trọng và sốt cao trên 4 ngày. Một số trường hợp bệnh kéo dài 10 – 14 ngày nhưng bắt đầu giảm dần, tuy hơi chậm, cũng không hẳn là viêm xoang, đôi khi cũng chỉ là nhiễm khuẩn hô hấp trên do virút.
Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, chẩn đoán VXTE chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng nêu trên, không nhất thiết phải chụp X-quang, đặc biệt ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Điều trị như thế nào?
– Viêm xoang cấp tính: hầu hết VXTE đều đáp ứng tốt với kháng sinh, các kháng sinh thường được sử dụng an toàn và hiệu quả cho trẻ là nhóm betalactam. Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, việc sử dụng kháng sinh kéo dài ít nhất 7 ngày sau khi các triệu chứng khỏi hoàn toàn.
Các thuốc chống sung huyết mũi dạng phun sương hoặc nước muối sinh lý cũng được sử dụng.
– Viêm xoang mạn tính: khi các triệu chứng của viêm xoang kéo dài trên 12 tuần, hoặc viêm xoang cấp tái phát trên 4 – 6 lần/năm thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để có chỉ định điều trị nội khoa hay phẫu thuật.

Khi nào thì cần phẫu thuật?
Phẫu thuật xoang ở trẻ em chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chỉ định khi trẻ bị viêm xoang nặng, hoặc thường hay tái phát, viêm xoang mạn tính không đáp ứng điều trị nội khoa.

Viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Thời tiết chuyển lạnh là yếu tố thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virut phát triển và gây bệnh. Trẻ em luôn là đối tượng dễ bị các tác nhân này tấn công nhất, đặc biệt là các bệnh lý đường hô hấp. Trong đó viêm tiểu phế quản (VTPQ) là bệnh thường gặp, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Theo thống kê, tử vong nhiễm khuẩn hô hấp cấp đứng hàng thứ 5 trong các bệnh lý ở trẻ.

Virut – Thủ phạm chính
Tác nhân làm cho trẻ bị viêm tiểu phế quản thường là do các virut, đứng hàng đầu là virut hợp bào hô hấp (virus Respiratoire Syncytial viết tắt là VRS), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh. Virut này có 2 điểm đặc biệt: có khả năng lây lan rất mạnh nên bệnh có khả năng xảy ra thành dịch; người lớn, trẻ lớn cũng có thể bị nhiễm virut hợp bào nhưng biểu hiện thường nhẹ, chỉ như cảm ho thông thường. Nhưng nếu trẻ dưới 2 tuổi bị lây nhiễm có thể biểu hiện dưới dạng nặng là viêm tiểu phế quản. Virut cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra phải kể đến Adenovirus với 10% số mắc.

viem-tieu-phe-quan-o-tre

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virut hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virut trước đó như viêm mũi họng, viêm amidan, viêm VA… đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh nếu không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, bị bệnh phổi bẩm sinh hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm tiểu phế quản.

Biểu hiện khi trẻ bị viêm tiểu phế quản
Viêm tiểu phế quản là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ 3-6 tháng tuổi. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn. Các bậc cha mẹ không được chủ quan khi thấy trẻ có những dấu hiệu như ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc sốt cao. Sau từ 3 – 5 ngày, trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Những trẻ đến viện khi thăm khám thường thấy nhịp thở nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém. Sau đó, trẻ ho nhiều hơn kèm khò khè và có thể bị khó thở (thở nhanh hơn, thở co kéo lồng ngực). Nặng hơn nữa trẻ có thể bỏ bú, tím tái. Bệnh có triệu chứng tương tự hen suyễn. Thông thường trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Tuy nhiên, trong khoảng 1/5 trường hợp, bệnh có thể kéo dài nhiều tuần lễ.

Cách theo dõi và chăm sóc trẻ
Nếu bệnh nhẹ, không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà. Tiếp tục cho trẻ bú hay ăn uống đầy đủ. Cần cho trẻ uống nhiều nước để tránh thiếu nước. Cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để giúp trẻ dễ thở hơn và bú tốt hơn. Có thể nhỏ mũi với 2-3 giọt nước muối sinh lý sau đó làm sạch mũi cho trẻ. Cho trẻ dùng thuốc đúng như chỉ dẫn của thầy thuốc. Tránh khói thuốc lá vì có thể làm bệnh của trẻ nặng hơn và dễ bị hen sau này. Cần khám lại đúng hẹn của bác sĩ.

Khi trẻ có dấu hiệu nặng như khó thở, bú kém, tím tái, có biến chứng cần cho trẻ nhập viện để điều trị. Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay khi vào viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh như ventolin, bricanyl, salbutamol. Kết hợp với lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh phải bù đủ dịch và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ. Cần cho trẻ dinh dưỡng đủ chất và cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng kháng sinh. Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì phải cho thở ôxy, hút thông đường hô hấp trên, dùng thuốc giãn phế quản đường khí dung ẩm, truyền nước, điện giải theo nhu cầu cơ thể bù lượng thiếu hụt. Nếu những biện pháp trên không cải thiện tình trạng suy hô hấp thì phải tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát, không nên dùng steriod cho trẻ.

Phòng ngừa hiệu quả bằng cách nào?
Để phòng bệnh cho trẻ, các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành. Những trẻ bị các bệnh tim, phổi bẩm sinh càng đặc biệt lưu ý vì trẻ dễ mắc bệnh và tiến triển xấu.

Cảnh giác với biến chứng do viêm tiểu phế quản
Biến chứng thường gặp của bệnh là suy hô hấp, viêm phổi (do dễ bị bội nhiễm), xẹp phổi, viêm tai giữa. Cần lưu ý là bệnh có thể sẽ nặng hơn, kéo dài hơn, nhiều biến chứng hơn và tử vong cũng cao hơn trong các trường hợp sau: trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non – nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ có sẵn bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch. Ðây là những trẻ có yếu tố nguy cơ cần được cho nhập viện sớm khi bị viêm tiểu phế quản

Nguồn báo sức khỏe

Viêm phổi ở trẻ em

Cha mẹ có thể dễ dàng quan sát nhịp thở của trẻ bằng cách vén áo để quan sát sự di động của lồng ngực hoặc bụng. Phải quan sát lúc trẻ nằm yên hoặc ngủ, không được quan sát lúc trẻ đang quấy khóc. Nếu trẻ có thở nhanh thì thấy sự di động đó nhanh hơn những ngày trẻ bình thường.

Dấu hiệu thứ nhất: Nhịp thở nhanh . Tại nhà, không có dụng cụ y tế, có thể lấy đồng hồ với kim giây, ta có thể để đồng hồ gần bụng hoặc ngực của trẻ và đếm nhịp thở trong vòng 1 phút. Một trẻ có tình trạng thở nhanh là dấu hiệu sớm của trẻ bị viêm phổi cụ thể như sau: Đối với trẻ từ 1-5 tuổi, nếu thở từ 40 lần trong 1 phút trở lên; Đối với trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi, nếu thở từ 50 lần trong 1 phút trở lên; Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, nếu thở từ 60 lần trong 1 phút trở lên.

viem-phoi-o-tre-em

Nếu không thể đếm được nhịp thở của trẻ hoặc không thể phân biệt được trẻ có thở nhanh hơn ngày thường hay không, bà mẹ có thể vén áo trẻ lên và quan sát lồng ngực. Nếu thấy trẻ thở khác thường hoặc khi thở phát ra một tiếng bất thường nào đó, cũng có thể trẻ đã bị viêm phổi.

Dấu hiệu thứ 2 là co rút lồng ngực : Vén áo trẻ lên và nhìn vào phần ranh giới giữa ngực và bụng xem có dấu hiệu lõm vào khi trẻ hít vào hay không? Ðể quan sát dấu hiệu này dễ dàng và chính xác, hãy bế trẻ nằm ngang trên lòng mẹ hoặc đặt trẻ nằm ngang trên giường. Hiện tượng này phải thấy thường xuyên ở bất kỳ nhịp thở nào của trẻ khi trẻ nằm yên hoặc ngủ mới có giá trị, còn nếu chỉ thấy lúc trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng hít sâu thì không được coi là co rút lồng ngực. Một trẻ có co rút lồng ngực chứng tỏ đã bị viêm phổi nặng, cần được đưa đến bệnh viện điều trị ngay.

Viêm phổi là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, bệnh diễn biến nặng rất nhanh và dễ gây tử vong, nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Vì vậy, khi nghi ngờ một trẻ bị viêm phổi, cần đưa trẻ đến khám tại các trạm y tế hoặc cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn điều trị cụ thể. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ uống kháng sinh khi chưa có hướng dẫn của thầy thuốc.

Nguồn sức khỏe

Nguy hiểm khi trùm chăn trong lúc ngủ

Thói quen trùm chăn kín đầu gây tổn thương não. Nhiều người có thói quen ngủ trời rét thường lấy chăn trùm kín đầu hay lấy gối che đầu vì muốn giảm tiếng ồn và che bớt độ sáng cho dễ ngủ mà không biết hậu quả của tình trạng não thiếu oxy do thói quen này.

Gây khó thở

Hoạt động hô hấp của con người diễn ra liên tục không ngừng nghỉ. Nếu lượng oxy trong không khí giảm khi bạn ngủ trùm chăn kín đầu, khí cacbonic tăng, sẽ gây khó thở.

Thói quen trùm chăn khi ngủ gây nguy hiểm đến sức khỏe bạn.

Thói quen trùm chăn khi ngủ gây nguy hiểm đến sức khỏe bạn.

Giảm trí nhớ

Với người bình thường, nếu không sửa thói quen này thì trí nhớ và khả năng lao động trí óc sẽ giảm.Vì vậy, tuyệt đối không nên trùm kín đầu khi ngủ.

Gây đau đầu, mệt mỏi khi tỉnh dậy

Nếu khi ngủ, chúng ta dùng trăn trùm kín đầu, nguồn khí oxy trong chăn bị tiêu hao nhưng không được bổ sung liên tục, khí cacbonic tăng dần, thêm vào đó trong chăn còn có các loại khí không trong sạch khác. Các yếu tố này tác động đến chất lượng giấc ngủ, khiến khi tỉnh dậy bạn sẽ cảm thấy đau đầu, mệt mỏi.

Người hay trùm chăn khi ngủ dễ thấy tức ngực, khó thở hoặc thở gấp, hay gặp ác mộng, sáng ngủ dậy toàn thân mệt mỏi như vừa trải qua hoạt động nặng. Với những người có tiền sử động kinh hoặc các vấn đề về não, thói quen trùm chăn khi ngủ làm tăng nguy cơ gặp các tai biến.

Tổn thương não

Khi ngủ trùm chăm kín đầu, bạn bị cách ly với không khí bên ngoài qua lớp chăn dày. Trong chăn, khí ôxy ngày càng ít đi, còn lượng CO2 ngày một nhiều. Các cơ quan do không được cung cấp đủ dưỡng khi nên hoạt động kém đi. Cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất là não. Tình trạng thiếu ôxy kéo dài sẽ khiến các tế bào não bị tổn thương.

Nguồn giáo dục

Bệnh thấp tim và các triệu chứng dễ nhận biết

Theo thống kê của Viện tim mạch quốc gia, có đến 50% bệnh nhân mắc bệnh thấp tim trong tổng số bệnh nhân tim mạch. Bệnh thấp tim gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đến não, thận…, thậm chí gây tử vong.

1. Bệnh thấp tim và các triệu chứng dễ nhận biết.

Bệnh thấp tim còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp, là bệnh lý viêm tự miễn và là biến chứng nguy hiểm của viêm họng do liên cầu nhóm A không được điều trị dứt điểm. Bệnh thường gặp ở trẻ em với độ tuổi từ 5 -15 tuổi, song cũng có thể gặp ở người lớn và gây ra những tổn thương cho não, tim, khớp…

Viêm khớp là triệu chứng đầu tiên của bệnh thấp tim

Viêm khớp là triệu chứng đầu tiên của bệnh thấp tim

Việc phát hiện các triệu chứng sớm, dễ nhận biết của bệnh thấp tim có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều trị bệnh. Một số triệu chứng của bệnh thấp tim như sau:

–         Viêm khớp: Với bệnh nhân thấp tim, viêm khớp là triệu chứng thường gặp nhất. Bệnh nhân bị viêm khớp với các biểu hiện: sưng, nóng đỏ, đau khớp…Viêm khớp thường xuất hiện ở khớp gối, cổ chân, cổ tay…

–         Nốt dưới da: Trên cơ thể bệnh nhân thấp tim thường xuất hiện các nốt cứng, không đau, di động xung quanh các khớp xương hoặc ngay trên khớp xương.

–         Các dấu hiệu viêm tim: Đây là triệu chứng phổ biến của bệnh nhân mắc bệnh thấp tim với khoảng 41 -83% bệnh nhân. Dấu hiệu viêm tim có các dạng: viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim, viêm cơ tim…Các triệu chứng lâm sàng như: tăng nhịp tim, rối loạn nhịp tim…

2. Điều trị và cách phòng tránh bệnh thấp tim

Bệnh thấp tim có dấu hiệu đau ngực, khó thở

Bệnh thấp tim có dấu hiệu đau ngực, khó thở

Bệnh thấp tim sẽ trở nên nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời. Khi đó, bệnh sẽ gây ra những tổn thương van động mạch chủ và dẫn đến suy tim sau thời gian dài, gây tổn thương đến não, thận…

Khi bị bệnh thấp tim cần sử dụng kháng sinh trị viêm liên cầu, tránh tái phát. Bên cạnh đó là sử dụng thuốc chống viêm như: steroid hoặc một corticoid như prednisone để làm giảm đau và viêm ở khớp và ở tim.

Cách tốt nhất để đối phóvới bệnh suy tim là ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh. Xuất phát từ nguyên nhân gây bệnh chính do viêm họng lâu ngày, không chữa trị dứt điểm, bạn cần giữ gìn vệ sinh vòm họng, tránh để tình trạng viêm họng kéo dài.

Ngoài ra, những người mắc bệnh thấp khớp, sốt thấp khớp có khả năng mắc bệnh thấp tim cao, cần phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên để phát hiện bệnh, kịp thời điều trị.

Cùng với đó, bạn có thể chủ động ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh bằng cách khi xác định mắc bệnh thấp tim cần tuân thủ chế độ điều trị dự phòng của bác sĩ: Tiêm kháng sinh dự phòng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ trong vòng một tháng,…

Nguồn báo sức khỏe

Những lưu ý khi chăm sóc trẻ bị hen suyễn

Đối với những trẻ em bị hen suyễn, khi tới trường hay ở bất cứ nơi đâu, bố mẹ các em cần phải lưu ý hết sức với tình trạng sức khoẻ cũng như việc dùng thuốc của con mình. Dưới đây là một vài lưu ý cần thiết.

Vấn đề vệ sinh

Với những người bị hen suyễn thì việc bị cảm lạnh và cảm cúm… là vô cùng nguy hiểm, điều này sẽ rất bất lợi cho việc điều trị bệnh hen. Vì vậy, nếu con bạn bị hen, bạn cần giúp chúng tránh những căn bệnh này. Bạn có thể giúp cháu làm giảm nguy cơ bị nhiễm cúm và ngăn ngừa những tác nhân gây bệnh bằng việc giữ vệ sinh thân thể thật tốt, tránh đối diện với những người đang bị cảm cúm…

nhung-luu-y-khi-cham-soc-tre-bi-hen-suyen

Đừng để bệnh thêm nặng

Giảm đến mức tối thiểu nguy bệnh hen nặng hơn do bị một số bệnh khác đi kèm như cúm, cảm, các bệnh về đường hô hấp. Bác sĩ khuyên trẻ bị hen suyễn nên ở nhà nếu chúng bị sốt, bị cảm hoặc có nguy cơ ốm, và tốt nhất không nên đến trường ít nhất là 24h sau khi phát hiện bệnh.

Kiểm tra thường xuyên

Theo như các chuyên gia về bệnh hen suyễn cho biết, những người bị hen thường rất dễ mắc các bệnh khác về đường hô hấp, vì vậy bạn cần cho con đến các cơ sở y tế để kiểm tra sức khoẻ định kỳ. Nếu cần tiêm phòng các bệnh về đường hô hấp thì nên cho trẻ tiêm định kỳ theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Khám sức khoẻ toàn bộ

Có thể con của bạn không bị hen suyễn quá nặng, nhưng tốt nhất bạn nên cho trẻ đi khám sức khoẻ toàn bộ cơ thể tại một phòng khám nhi. Điều này giúp các bác sĩ có thể điều chỉnh cách chữa trị, cân nhắc chế độ dùng thuốc của con bạn một cách hiệu quả nhất. Đây chính là cách để phát hiện sớm những căn bệnh tiềm ẩn mà chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ cũng như tính mạng của cháu.

Cân nhắc việc dùng thuốc

Những trẻ bị hen suyễn thường được kê một toa thuốc và chúng luôn phải mang theo bên người bất kể lúc nào. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý với việc dùng thuốc của trẻ, vì có thể trẻ sẽ dùng quá liều, hoặc không đủ liều, hoặc quên mang thuốc bên mình. Điều này sẽ rất nguy hiểm khi trẻ lên cơn hen.

Kế hoạch hoạt động cho bệnh nhân hen suyễn

Tất cả những học sinh bị hen suyễn đều phải thông báo về tiền sử bệnh cũng như hiện trạng bệnh của mình và những phương thuốc đã dùng, đang dùng một cách rành mạch, rõ ràng cho nhà trường. Điều này giúp giáo viên sẽ điều tiết sự hoạt động, luyện tập của trẻ cho phù hợp với tình trạng sức khoẻ, tránh hoạt động quá mạnh gây nguy hiểm.

Thường xuyên liên lạc với y tá và giáo viên ở trường

Bạn nên gửi cho giáo viên, y tá, huấn luyện viên… tại trường con bạn học một bản kế hoạch hoạt động của con mình để họ nắm rõ và theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khoẻ con bạn. Và bạn nên thường xuyên liên lạc, trao đổi với giáo viên phụ trách con mình và y tá của trường để họ có những biện pháp nhanh chóng và trợ giúp tích cực khi con bạn lên cơn hen suyễn tại trường học.

Động viên trẻ

Động viên là một điều rất quan trọng đối với việc học tập và đến trường của trẻ. Nếu con bạn luôn có những bạn cùng lớp ủng hộ và lo lắng, quan tâm, giúp đỡ thì bạn sẽ bớt được phần nào lo lắng về bệnh tình của con mình.

Sự ủng hộ của nhà trường

Để đảm bảo rằng nhà trường biết con bạn bị bệnh và sẽ luôn ứng phó kịp thời, bạn cần trao đổi trước khi cho con vào học. Việc thông báo tiền sử bệnh của trẻ tới nhà trường là một việc rất quan trọng. Các bậc phụ huynh nên thông báo, xác nhận rõ ràng về tính trạng bệnh của con mình với nhà trường, với các giáo viên thể dục, các huấn luyện viên, lái xe buýt… để được hỗ trợ những lúc cần thiết.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nguyên tắc khi chữa bệnh viêm xoang

Viêm xoang là tình trạng niêm mạc xoang bị viêm, tổn thương (do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra) vì vậy niêm mạc xoang không thực hiện được các chức năng của mình, lâu ngày gây ứ đọng các dịnh nhầy bẩn. Các dịch nhầy này bám vào thành hốc xoang, dần lấp đầy hốc xoang, làm hẹp, tắc lỗ thông xoang dẫn đến viêm nhiễm tạo mủ.

Bất cứ một phương pháp điều trị viêm xoang nào muốn đạt được hiệu quả trước hết phải đảm bảo làm sạch các hốc xoang, dẫn lưu triệt để các dịch nhầy, dịch mủ ra ngoài. Sau đó, phương pháp này phải giúp khôi phục hoạt động của niêm mạc xoang. Đây là một yêu cầu rất quan trọng. Nguyên nhân gây ra bệnh xuất phát từ vấn đề niêm mạc, muốn khỏi được bệnh phải giải quyết vấn đề này. Dù có lấy sạch dịch mủ, nhầy bẩn trong các hốc xoang, nhưng nếu không khôi phục hoạt động của niêm mạc xoang thì quá trình tích tụ các dịch nhầy bẩn mới lại diễn ra, bệnh sẽ tái phát.

nguyen-tac-khi-chua-benh-viem-xoang

Để bệnh viêm xoang không bị tái phát sau điều trị thì mũi xoang bắt buộc phải thông thoáng. Người bệnh thường bị tắc nghẹt mũi, khó thở. Nguyên nhân gây tắc nghẹt có nhiều (nghẹt mũi do niêm mạc bị viêm, phù nề xung huyết, do vẹo lệch vách ngăn, do phì đại cuốn mũi, do pôlip mũi…). Tắc nghẹt mũi do niêm mạc phù nề, xung huyết, do dịch nhầy chảy xuống ứ lại có thể điều trị khỏi bằng thuốc. Tuy nhiên nếu do các nguyên nhân cứng (vẹo lệch vách ngăn quá mức, pôlip mũi quá to, cuốn mũi quá phát…) phải kết hợp với các biện pháp ngoại khoa. Nếu người bệnh bị dị ứng mũi xoang cần phải phòng ngừa tốt bằng cách kiểm soát các nguyên nhân, yếu tố gây dị ứng.

Theo Phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dinh – Nguyên Giám đốc bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương, khi điều trị bệnh cần cố gắng bảo tồn tối đa cấu trúc giải phẫu và duy trì chức năng sinh lý bình thường của mũi – xoang. Nếu niêm mạc mũi xoang chưa thoái hóa nhiều, lỗ thông chưa bít tắc thì điều trị nội khoa bằng kháng sinh, kháng viêm co mạch tại chỗ mang lại kết quả tốt. Viêm xoang hàm trên tích mủ nhiều, có thể chọc rửa xoang hàm trên, sau đó bơm kháng sinh vào. Khi điều trị bằng thuốc cần lưu ý lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo về chất lượng, tốt nhất nên có sự tư vấn của chuyên gia.

Theo VnExpress

Tiêu thụ caffein giúp làm giảm nguy cơ xơ hóa tâm thất tim

 Caffein có tác dụng tốt từ ngăn ngừa bệnh Alzheimer cho đến duy trì sức khỏe cho gan, và làm chậm lại quá trình trưởng thành của thanh niên cho đến nguy cơ các bệnh lý nhịp tim. Ngoài các lợi ích trên, Một nghiên cứu mới còn cho thấy rằng uống các đồ uống có chứa caffein, chẳng hạn như cà phê, còn làm giảm nguy cơ xơ hóa tâm thất (tim).

Nghiên cứu trên do một nhóm các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Fu Wai tại Bắc Kinh tiến hành, cho thấy rằng những người uống đồ uống chứa caffein nhằm nguy cơ xơ hóa tâm nhĩ (tim). Cứ mỗi lượng 300 miligram caffein họ uống mỗi ngày, nguy cơ xơ hóa tâm nhĩ giảm đi 6%. Kết quả trên đã được xuất bản trên Tập san Tim mạch Canada . “Thói quen tiêu thị caffein có thể giảm nguy cơ xơ hóa tâm nhĩ”, họ kết luận.

coffee

Tính đến 90% số người trên thế giới tiêu thụ caffein theo cách này hay cách khác, kết quả sẽ trái chiều so với những gì mà một số người thường băn khoăn rằng uống quá nhiều caffein có thể khiến tim bị kích hoạt quá mức hay không. Xơ hóa tâm thất thường đặc trưng bởi nhịp tim đập nhanh và bất thường, khiến máu tuần hoàn kém trong cơ thể, theo phòng khám Mayo cho biết. Điều này thường xảy ra khi hai khoang trên của tim đập cùng một nhịp mà không phối hợp với hai khoang dưới. Các triệu chứng của bệnh lý trên bao gồm tim đập nhanh, khó thở và người yếu.

Theo trang MedPage Today, Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận này sau khi có 6 nghiên cứu đồng thời trên 220.000 người tham gia tại Mỹ, Thụy Điển, và Đan Mạch. 3 nghiên cứu tập trung vào tác dụng của caffein đối với xơ hóa tâm thất, trong khi 3 nghiên cứu còn lại xem xét tác dụng của cà phê cũng như trà, coca cola, ca cao, và sô cô la.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận ra rằng tiêu thụ caffein gắn với giảm nguy cơ xơ gan, một khuyết tật ống mật và các mạch máu trong hệ thống cổng giữa gan và đường ruột-dạ dày. Kết quả này cũng rất phù hợp với các kết quả trước đó cho thấy tiêu thụ caffein tăng cường sức khỏe gan, một nghiên cứu cho thấy 3 tách cà phê 1 ngày có thể giảm nguy cơ ung thư gan tới 50%. Chính từ những kết quả đó, các nhà nghiên cứu cũng nghĩ rằng caffeine có thể có tác dụng tương tự đối với tim. “Mặc dầu có ít nghiên cứu đánh giá tác dụng chống xơ vữa của caffein đối với tim”, theo trang MedPage Today (Trang Y khoa Ngày nay), “rất có thể caffein cũng ngăn ngừa xơ hóa tim”.

LiLy (theo Medical Daily)

Các biểu hiện nhận biết lao phổi dễ dàng

Người lao phổi có các triệu chứng như sau:

Các triệu chứng quan trọng nhất là: ho, khạc đờm, ho máu. Các triệu chứng khác là: đau ngực, khó thở, có tiếng rên khu trú ở một vùng của phổi…

Ho là triệu chứng của mọi bệnh phổi cấp và mãn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân: viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi … Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần ko phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi dung thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.

cac-bieu-hien-nhan-biet-lao-phoi-de-dang

Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho cũng có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy nếu sau khi dung thuốc kháng sinh triệu chứng khạc đờm không giảm thì mọi bệnh nhân có triệu chứng ho khạc trên ba tuần phải nghĩ đến do lao phổi.

Ho khạc đờm là những dấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi tới chuẩn đoán lao phổi.

Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% nững người lao phổi thể  hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp. Nguyên nhân gây ra ho máu rất nhiều từ các bệnh phổi – phế quản (viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi, ung thư  phổi, phế quản…) đến các bệnh ngoài đường hô hấp như bệnh tim mạch (suy tim, tăng huyết áp…), bệnh toàn than (rối loạn đông máu, chảy máu, thiếu hụt vitamin C…) Tuy nhiên do có thể gặp với tỷ lệ cao trong lao phổi nên những người ho ra máu phải kiểm tra có lao phổi không.

    Triệu chứng toàn thân

Các triệu chứng toàn thân quan trọng nhất là: gầy, sút cân, sốt, ra mồ hôi. Các triệu chứng toàn than quan trọng khác là chán ăn, mệt mỏi…

Gầy, sút cân là triệu chứng gặp ở số đồng người lao phổi. Những bênh nhân gầy, sút cân không có nguyên nhân rõ rang không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS… có các triệu chứng hô hấp như trên đã nêu phải nghĩ tới do lao phổi.

Sốt là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất tường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều.

Những người có triệu chứng sốt như trên, có các triệu chứng về hô hấp: ho, khạc đờm, ho ra máu… phải nghĩ tới do lao phổi.

Ra mồ hôi là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường hay gọi lầ ra mồ hôi trộm ở trẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.

Nếu bệnh nhân gầy sút cân, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm kèm theo có các dấu hiệu chán ăn, mệt mỏi… phải chú ý có thể đó là do lao phổi.

Sức khỏe đời sống

Tìm hiểu dấu hiệu và nguyên nhân ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

tim-hieu-dau-hieu-va-nguyen-nhan-ung-thu-thuc-quan

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.

Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

Lưu ý: Ðể dự phòng ung thư thực quản cần tránh các yếu tố nguy cơ như không hút thuốc lá, giảm uống rượu, tránh các thực phẩm có hại, kiểm soát và phòng ngừa các bệnh lý thực quản. Tăng cường các yếu tố bảo vệ bằng cách ăn nhiều rau quả và chất xơ, bổ sung vitamin và yếu tố vi lượng cần thiết đặc biệt là vitamin A, B2, C, E, selen. Với bệnh nhân có bệnh lý khác ở thực quản cần định kỳ 6 tháng – 1 năm nội soi dạ dày thực quản một lần để kiểm soát, phát hiện sớm các biểu hiện của UTTQ, từ đó có phương pháp điều trị sớm đem lại tiên lượng tốt cho bệnh nhân.

Nguồn báo sức khỏe

Dấu hiệu cho thấy bạn đang thiếu sắt

Thiếu sắt là tình trạng rất phổ biến, đặt biệt ở trẻ em và phụ nữ. Nó thường gặp ở những người suy dinh dưỡng và có thể làm cạn kiệt các tế bào hồng cầu.

Các triệu chứng của tình trạng này từ nhẹ đến nặng, bao gồm chóng mặt, mệt mỏi liên tục và nhức đầu, sốt, đau ngực, làn da nhợt nhạt, và một số biểu hiện liên quan khác. Đây là một số dấu hiệu thường gặp mà bạn cần lưu ý khi nghĩ đến thiếu sắt, theo Mag For Women:

1. Cơ thể mệt mỏi, yếu kém

Thiếu sắt làm cho cơ thể cảm thấy yếu đuối, mệt mỏi. Một lý do hợp lý để giải thích điều này là tất cả các tế bào trong cơ thể con người đều chứa sắt và nó có nhiều chức năng quan trọng. Một trong những chức năng quan trọng nhất là cung cấp oxy cho các tế bào. Khi có sự thiếu hụt sắt, oxy này không đến được các tế bào, vì vậy làm chậm quá trình cung cấp oxy cho cơ thể.

dau-hieu-cho-thay-ban-dang-thieu-sat

2. Thay đổi tâm trạng

Hầu hết triệu chứng của thiếu sắt là rất nhẹ, và cũng chính vì vậy mà bạn thường không để ý đến sự khác biệt của cơ thể. Tuy nhiên, khi đột nhiên bắt đầu cảm thấy gắt gỏng, thường xuyên nhức đầu hoặc cảm thấy mệt mỏi hơn bình thường, bạn nên đi kiểm tra. Khi tình trạng thiếu sắt trở nên nặng hơn, bạn thậm chí sẽ rất nóng tính, hay bước vào giai đoạn đầu của bệnh trầm cảm.

3. Khó thở

Nếu ngay cả việc leo lên cầu thang cũng làm bạn gặp chút vấn đề, hoặc là cảm thấy khó thở khi làm công việc hàng ngày, thì nên đi kiểm tra sức khỏe. Khó thở có thể sẽ ảnh hưởng đến trái tim, vì vậy tốt nhất không nên bỏ qua nó.

4. Móng tay giòn

Móng tay cần được cung cấp máu và các chất dinh dưỡng để duy trì sức khỏe. Khi nhận thấy rằng móng tay trở nên giòn, điều đó cho thấy bạn đang bị thiếu sắt. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, điều này chỉ xảy ra trong giai đoạn rất nặng.

5. Màu sắc da nhợt nhạt

Khi không có nguồn cung cấp oxy thích hợp cho các tế bào máu, và hemoglobin thấp, màu sắc da sẽ bắt đầu chuyển sang tái nhợt, làm cho bạn trông yếu đi. Điều này thường xảy ra từ từ và khi nó đến bất ngờ tức là đã trở nên nghiêm trọng.

6. Rụng tóc

Tóc, giống như tất cả cơ quan và phần khác của cơ thể, cần đến các chất dinh dưỡng và khoáng chất quan trọng để khỏe mạnh. Thiếu sắt trong cơ thể có nghĩa là bạn sẽ phải đối mặt với việc gãy và rụng tóc.

7. Mãn kinh sớm

Phụ nữ đang trải qua giai đoạn tiền mãn kinh dễ bị thiếu sắt. Điều này chủ yếu là do sự thiếu hụt nội tiết tố. Các bác sĩ nói rằng nguyên nhân chính của thiếu sắt là do lượng sắt trung bình được cung cấp từ nguồn thực phẩm hàng ngày bị thiếu hụt, nhất là trong thời kỳ mãn kinh. Vì vậy phụ nữ cần chú ý hơn đến chế độ ăn uống, thực phẩm hàng ngày để cung cấp sắt cần thiết cho cơ thể.

8. Mất máu nhiều

Một nguyên nhân rất nổi bật của thiếu sắt là mất máu mãn tính. Ví dụ, bạn đang trải qua chu kỳ kinh nguyệt nặng, hoặc hiến máu một cách thường xuyên hay bị chảy máu nghiêm trọng…, nếu cảm thấy chóng mặt hay cơ thể thường xuyên yếu thì tốt nhất bạn nên đi kiểm tra để tránh trường hợp xấu nhất.

9. Hội chứng tê chân

Hội chứng này thường khiến người ta phải di chuyển hoặc rung chân liên tục. Nó cũng có nghĩa là có cảm giác khó chịu ở chân, đặc biệt là bạn ở một vị trí trong thời gian dài. Đôi khi, chân cũng biến lạnh và cứng trong khi ngủ.

10. Thèm ăn những thứ lạ

Mặc dù điều này xảy ra chủ yếu ở trẻ em, một số phụ nữ mang thai cũng phải đối mặt với tình trạng này. Theo đó, người ta có cảm giác thèm ăn những thứ kỳ lạ bất thường như bụi bẩn, nước đá hoặc sơn. Cảm giác thèm này cũng có thể xảy ra với những thực phẩm khác, và có thể tệ hơn theo thời gian. Ở trẻ em, đây là một trong những cách dễ nhất để xác định thiếu sắt.

Tất cả triệu chứng này có thể xảy ra cùng lúc hoặc ngẫu nhiên, cho thấy nguy cơ cao là bạn đang bị thiếu hụt sắt. Từ thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu và không thể duy trì mức độ hemoglobin trong máu. Vì vậy, cần kiểm tra các dấu hiệu xảy ra của cơ thể và chăm sóc bản thân thật tốt.

Theo VnExpres

Nguyên nhâ sốt phát ban dạng sởi lây lan nhanh

Sốt phát ban thường gây ra bởi virut sởi hoặc virut Rubella. Bệnh lây theo đường hô hấp, khi hít thở chung nguồn khí với người bệnh. Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt, viêm long đường hô hấp, đường tiêu hóa, viêm kết mạc mắt, phát ban có thứ tự. Bệnh thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 – 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể gặp ở người lớn do chưa được tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa được tiêm nhắc lại.

Virut sởi gây bệnh thế nào?

Virut sởi phát tán qua không khí xâm nhập niêm mạc đường hô hấp (như hắt hơi), do vậy, bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng, nếu kiểm soát không tốt có thể gây thành dịch. Sau đó, vào máu (nhiễm virut máu lần thứ nhất). Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ ủ bệnh. Từ máu, theo các bạch cầu, virut đến các cơ quan đích (phổi, lách, hạch, da, kết mạc mắt…) gây tổn thương các cơ quan này và gây ra các triệu chứng lâm sàng trong thời kỳ toàn phát. Ban ở da và niêm mạc chính là hiện tượng đào thải virut và phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể. Ngày thứ 2 – 3 từ khi mọc ban, cơ thể sinh kháng thể. Kháng thể trung hòa virut. Bệnh chuyển sang thời kỳ lui bệnh.

nguyen-nha-sot-phat-ban-dang-soi-lay-lan-nhanh

Giai đoạn ủ bệnh khoảng 8 – 11 ngày, bệnh nhân không có biểu hiện rõ ràng. Nếu là trẻ sơ sinh có thể kéo dài 14 – 15 ngày.

Giai đoạn khởi phát (viêm xuất tiết): Thông thường khoảng 3 – 4 ngày.Người bệnh đột ngột sốt nhẹ hoặc vừa, sau sốt cao. Kèm theo các biểu hiện viêm xuất tiết mũi, họng, mắt (chảy nước mắt nước mũi, ho, viêm màng tiếp hợp, mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mi mắt). Ho, hắt hơi, chảy nước mũi, sau có thể có viêm thanh quản.

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn mọc ban): Ban mọc vào ngày thứ 4 – 6 của bệnh. Dạng ban là ban dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, xen kẽ là các ban dát màu hồng. Ban mọc rải rác hay lan rộng dính liền với nhau thành từng đám tròn 3 – 6mm, giữa các ban là khoảng da lành. Ban mọc theo thứ tự: Ngày thứ 1 mọc ở sau tai, lan ra mặt. Ngày thứ 2 lan xuống đến ngực, tay. Ngày thứ 3 lan đến lưng, chân. Ban kéo dài 6 ngày rồi bay theo thứ tự như nó đã mọc.

Cần phân biệt với các loại sốt phát ban khác

Do là sốt phát ban nên bệnh có thể nhầm với các loại sốt phát ban khác cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi như:

Rubella: phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long đường hô hấp; nhiễm enterovirus: phát ban không có trình tự, hay kèm rối loạn tiêu hóa. Phát ban do Mycoplasma pneumoniae: Sốt nhẹ, đau đầu và viêm phổi không điển hình. Sốt mò: Có vết loét hoại tử do côn trùng đốt; Phát ban mùa xuân trẻ em: Trẻ 6 tháng đến 2 tuổi, khởi đầu là tình trạng nhiễm khuẩn rồi có biểu hiện thần kinh, sau khi hết sốt thì ban mới mọc; Ban dị ứng: Kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan; Nhiễm virut Epstein-Barr: Hay kèm theo tăng bạch cầu đơn nhân.

Biến chứng của bệnh

Khi mắc bệnh nếu không được điều trị hoặc do bệnh nhân tự ý điều trị dẫn đến bội nhiễm và có những biến chứng như:

Biến chứng đường hô hấp: Viêm thanh quản: Ở giai đoạn sớm xuất hiện ở giai đoạn khởi phát hay có Croup giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản. Ở giai đoạn muộn do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: sốt cao, ho, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

Viêm phế quản: Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kỳ mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều.

Viêm phế quản – phổi: Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Bệnh nặng có sốt cao, khó thở, khám phổi có ran phế quản và ran nổ. Đây là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh: Viêm não – màng não – tủy cấp do virut sởi.

Viêm não: Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao. Gặp ở 0,1 – 0,6% bệnh nhân sởi. Thường gặp ở trẻ lớn (tuổi đi học), vào tuần đầu của ban (ngày 3 – 6 của ban). Khởi phát đột ngột, sốt cao vọt, co giật, rối loạn ý thức: hôn mê, liệt 1/2 người hoặc 1 chi, liệt dây III, VII, hay gặp hội chứng tháp – ngoại tháp, tiểu não, tiền đình…

Viêm màng não kiểu thanh dịch (do virut sởi).

Viêm tủy: Liệt 2 chi dưới, rối loạn cơ vòng.

Viêm màng não mủ do bội nhiễm: Viêm màng não mủ sau viêm tai, viêm xoang, viêm họng… do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van Bogaert): Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn có khi sau vài năm, điều này nói lên virut sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân, ở những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc miệng, cam tẩu mã (xuất hiện muộn, do bội nhiễm xoắn khuẩn Vincent (Leptospira vincenti) là một loại xoắn khuẩn hoại thư, gây loét niêm mạc miệng, lan sâu rộng vào xương hàm gây hoại tử niêm mạc, viêm xương, rụng răng, hơi thở hôi).

Viêm ruột: Do bội nhiễm các loại vi khuẩn như Shigella, E.coli…

Lời khuyên của thầy thuốc

Tiêm phòng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh. Cần tiêm phòng vaccin sởi và tuân thủ đúng lịch cho trẻ 6 – 9 tháng tuổi trở lên, có tác dụng bảo vệ cao. Bệnh sởi do virut lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân người bệnh cần được cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng.

Khi mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm khuẩn. Khi chăm sóc trẻ bệnh, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn và tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng bệnh phổi tắc mãn tính

 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh có ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe người bệnh, là một trong những bệnh gây tàn phế (suy hô hấp) và có tỉ lệ tử vong cao. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng mùa lạnh, bệnh rất dễ xuất hiện, tuy vậy, có thể phòng ngừa để hạn chế  sự có mặt của nó.

Đâu là nguyên  nhân?

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tình trạng bệnh lý xảy ra ở phổi, làm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường xuyên, ngày một nặng thêm và khó hồi phục. Nguyên nhân gây bệnh COPD chủ yếu là do hút thuốc lá (có khoảng 5 người nghiện thuốc lá thì sẽ có 1 người mắc COPD) và có khoảng 80 – 90% bệnh nhân COPD đang hút hoặc có tiền sử hút thuốc lá. Bên cạnh đó, các chất kích thích khác có thể gây COPD bao gồm cả khói xì gà, khói thuốc lào, khói của nhà máy, ô nhiễm không khí và khói hóa chất. Một số bệnh về phổi mạn tính kéo dài như viêm phế quản mạn tính (làm tăng sản xuất chất nhờn và có thể thu hẹp các ống phế quản), giãn phế quản, giãn phế nang, hen suyễn (gây co thắt của sợi cơ trong lớp màng của đường hô hấp: co thắt phế quản) cũng gây nên COPD. Một số trường hợp trào ngược dạ dày thực quản làm gia tăng thêm bệnh COPD hoặc tạo điều kiện cho COPD xuất hiện. Một số trường hợp hít phải khói thuốc một cách thường xuyên do người khác trong gia đình hút thuốc, một số trường hợp do nghề nghiệp tiếp xúc với bụi hoặc hóa chất thường xuyên gây kích ứng, viêm phổi, gây ứ đọng dẫn đến COPD.

phong-benh-phoi-tac-man-tinh

Không nên chủ quan với biểu hiện của bệnh

Triệu chứng của COPD phát triển chậm. Những triệu chứng đầu tiên có vẻ nhẹ, vì vậy, bệnh nhân thường cho rằng đây là chuyện không đáng quan tâm cho nên càng ngày bệnh càng nặng dần. Triệu chứng thường gặp nhất là khó thở, ho, khò khè và có hiện tượng tăng tiết chất nhày và đờm. Khó thở lúc đầu chỉ thỉnh thoảng. Khi bệnh nặng, người bệnh luôn luôn thấy khó thở và đôi khi phải dùng mặt nạ để thở ôxy. Thở khò khè giống như hen suyễn vì phế nang bị sưng nề và xuất tiết nhiều (đờm) làm nghẽn đường dẫn khí. Ho lúc đầu vào buổi sáng, sau đó dần dần ho nhiều suốt ngày đêm. Ho ra đờm, lúc đầu ít, lỏng, càng về sau càng đặc quánh. Đờm trong hoặc hơi đục, đôi khi đờm có màu hơi vàng. Người bệnh luôn luôn cảm thấy mệt mỏi, lười vận động, chán ăn do thiếu dưỡng khí. Một người bệnh được chẩn đoán là COPD khi có biểu hiện ho, khạc đờm trên 3 tháng trong 1 năm và biểu hiện liên tiếp như vậy trong vòng 2 năm trở lên; đồng thời khó thở càng ngày càng tăng. Bệnh nhân thường phải gắng sức để thở hoặc thở hổn hển. COPD dễ nhầm với hen suyễn. Phân biệt bằng cách: Bệnh hen suyễn sẽ lên cơn hen cấp tính mỗi khi gặp phải chất gây dị ứng (dị ứng nguyên) hoặc chất kích thích, trong khi đó, COPD không nhất thiết như vậy. Tuy vậy, bệnh hen suyễn dẫn đến suy hô hấp chậm hơn COPD. Với bệnh COPD mà khi đã có ho nhiều, khó thở nặng và tăng tiết chất nhày nhiều thì bệnh đã ở giai đoạn nặng.

Điều trị và phòng bệnh thế nào?

COPD là một bệnh trường diễn, vì vậy, việc điều trị gặp không ít khó khăn. Các thuốc corticosteroid có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh hen suyễn cấp tính rất hiệu nghiệm nhưng lại tác dụng hạn chế trong COPD giai đoạn ổn định. Trong khi đó, thuốc anticholinnergic dạng bơm đem lại hiệu quả khá cao trong COPD. Nhiều tác giả khuyến nghị nên dùng các thuốc anticholinergic là thuốc điều trị duy trì đối với COPD và khi bệnh tiến triển xấu, cần kết hợp với các thuốc chủ vận bêta hoặc một số thuốc khác. Khi bệnh tái phát nặng thì nên dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn (nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn) từ 10 – 14 ngày, đồng thời dùng thuốc giãn phế quản (atrovent, diaphylin) khí dung hoặc uống hay tiêm theo chỉ định của bác sĩ điều trị và thuốc long đờm. Trong trường hợp cần thiết và có điều kiện, nên cho thở ôxy.

BS. Việt Bắc

Nguồn sức khỏe đời sống

Nguyên tắc cơ bản trong việc chăm sóc bệnh nhân thay van tim

 Hiện nay, số người bệnh phải thay van tim cơ học ngày càng tăng, đa số do tổn thương sau thấp tim. Đây vẫn là bệnh phổ biến của các nước đang phát triển, vì vậy việc chăm sóc người bệnh sau khi thay van tim là vô cùng quan trọng, cần phải nắm rõ những nguyên tắc cơ bản để đạt kết quả điều trị tốt nhất.

Cần tuân thủ chặt chẽ mọi chỉ định của bác sĩ

Tất cả bệnh nhân thay van tim cơ học đều cần dùng thuốc chống đông suốt đời. Ở Việt Nam, loại thuốc kháng đông được sử dụng là sintrom, thuộc nhóm thuốc kháng vitamin K. Nếu không uống thuốc kháng đông có thể gây ra biến chứng nguy hiểm đến tính mạng. Nếu bệnh nhân không uống thuốc hoặc uống chưa đủ liều sẽ dễ hình thành cục máu đông tại van cơ học. Cục máu đông có thể vào hệ tuần hoàn có thể gây tắc mạch nhiều nơi trong cơ thể như tắc ở mạch máu não sẽ gây nhồi máu não. Nếu cục máu đông tắc ngay tại van cơ học khiến van không hoạt động, bệnh nhân có thể đột tử. Ngược lại, nếu uống thuốc quá liều sẽ gây xuất huyết trong cơ thể như xuất huyết não, dạ dày, cơ, thận, da…

Bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông cần được xét nghiệm máu định kỳ để thử giá trị INR (International Normalized Ratio). Với bệnh nhân có van động mạch chủ cơ học, INR cần giữ ở mức 2 – 3, với van hai lá cơ học là 2,5 – 3,5.

Khi nào cần tái khám?

van-tim

Trước tiên, bệnh nhân cần ý thức được việc sử dụng thuốc chống đông sau phẫu thuật thay van cơ học là vấn đề rất quan trọng. Ngay sau mổ, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc chống đông và theo dõi INR hàng ngày trong thời gian nằm viện để điều chỉnh liều phù hợp với từng bệnh nhân. Khi bệnh nhân đạt chỉ số INR ổn định sẽ được ra viện và có lịch hẹn tái khám. Bệnh nhân phải tái khám đúng theo lịch và uống thuốc chống đông đúng theo đơn của bác sĩ, uống đúng liều lượng, uống đều đặn, không được ngưng thuốc đột ngột vì bất cứ lý do gì nếu không có ý kiến của bác sĩ.

Nếu bệnh nhân thấy có những dấu hiệu như: chảy máu chân răng (tự nhiên hay sau khi đánh răng), chảy máu mũi, nổi vết bầm dưới da, đi ngoài phân đen sệt, nôn ra máu, tiểu đỏ, lượng máu hành kinh ra nhiều…(có thể do dùng thuốc quá liều) hoặc thấy tức ngực, khó thở… (có thể bị kẹt van) thì cần đến bệnh viện ngay để bác sĩ tim mạch kiểm tra và điều trị.

Bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông không nên tự uống thuốc khác (kể cả các loại thuốc bổ, vitamin), khi cần dùng thuốc phải hỏi ý kiến của bác sĩ và xem kỹ hướng dẫn sử dụng.

Khi bệnh nhân phải vào bệnh viện (vì tai nạn, bệnh tật…), phải báo cho bác sĩ biết là đang dùng thuốc chống đông máu và đang mang van tim nhân tạo.

Nếu phụ nữ muốn có con phải báo ngay cho bác sĩ để có chỉ dẫn cụ thể, nhất là đến ngày sinh đẻ.

Chế độ ăn ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Ngoài tuân thủ việc uống thuốc thường xuyên và đều đặn, chế độ ăn cũng rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả dùng thuốc chống đông.

Các thực phẩm có thể ảnh hưởng đến thuốc chống đông

Nhiều loại thực phẩm chứa vitamin K gây cản trở tác dụng của thuốc này. Bệnh nhân nên hạn chế ăn các loại rau quả có lá màu xanh sẫm có nhiều vitamin K. Các loại thực phẩm có chứa vitamin K bao gồm: cải xoăn, trà xanh, măng tây, bơ, bông cải xanh, cải bắp, súp lơ, mù tạc, gan, dầu đậu tương, đậu nành, đậu (đậu Hà Lan, đậu xanh), củ cải, mùi tây, hành xanh, và rau diếp. Quan trọng hơn cả, bệnh nhân cần ăn lượng rau trong khẩu phần hàng ngày tương đối đều nhau, tránh thay đổi nhiều trong các bữa ăn.

BS. Ngô Tuấn Anh (Bệnh viện 108)

Nguồn sức khỏe đời sống

Tìm hiểu và điều trị Huyết áp kẹt

Lâu nay, người ta vẫn thường nhắc đến bệnh huyết áp cao hoặc huyết thấp chứ ít khi nói đến huyết áp kẹt. Các triệu chứng khi bị kẹt huyết áp gần giống như huyết áp thấp nhưng hậu quả của nó lại rất nguy hiểm.

Vậy, huyết áp kẹt nguy hiểm như thế nào? Nguyên nhân và cách điều chỉnh để tránh hiện tượng huyết áp kẹt ra sao? Chúng ta sẽ cùng xem xét vấn đề này.

Huyết áp là gì:

Huyết áp là áp suất của mạch máu biểu hiện bằng hai số: số tối đa phản ánh sức bóp của tim và số tối thiểu ghi nhận sức cản của thành động mạch.

Huyết áp bình thường:

Khi số đo huyết áp tâm thu dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80mmHg thì được gọi là huyết áp bình thường.

tim-hieu-va-dieu-tri-huyet-ap-ket

Thế nào là huyết áp kẹt:

Khi huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương <=25mmHg (hoặc <=20 mmHg) thì được cho là huyết áp kẹp. Ví dụ: huyết áp tâm thu bằng 110 thì huyết áp tâm trương vào khoảng 65 – 75. Nếu huyết áp tâm trương là 85 – 90 thì có thể coi là huyết áp kẹt.

Triệu chứng:

+ Đau đầu, ngủ kém.

+ Mệt mỏi, khó thở.

+ Thỉnh thoảng thấy hoa mắt, chóng mặt.

+ Hơi thở ngắn, nói hụt hơi.

+ Cảm giác người lạnh hơn bình thường…

Nguyên nhân gây kẹt huyết áp:

+ Giảm huyết áp tâm thu.

+ Tăng huyết áp tâm trương.

Trong các trường hợp

1. Do mất máu nội mạch:

Có thể do chấn thương hoặc dịch thoát khỏi nội mạch trong bệnh cảnh sốt xuất huyết Dengue hoặc suy tim.

2. Bệnh van tim

+ Hẹp van động mạch chủ: khi van động mạch chủ hẹp, lượng máu được tống ra khỏi thất trái trong thì tâm thu giảm gây giảm huyết áp tâm thu dẫn đễn huyết áp kẹt.

+ Hẹp van 2 lá: khi van 2 lá hẹp máu sẽ bị ứ lại tâm nhĩ trái trong thì tâm trương chính điều đó làm tăng huyết áp tâm trương.

3. Một số nguyên nhân khác:

+ Chèn ép tim (tràn máu tràn dịch màng ngoài tim).

+ Cổ trướng cũng gây huyết áp kẹt…

Huyết áp kẹt nguy hiểm như thế nào:

+ Huyết áp kẹt khiến tim còn rất ít hiệu lực bơm máu làm cho tuần hoàn bị giảm hoặc ứ trệ.

+ Huyết áp kẹt gây lực cản ngoại vi lớn, dễ gây phì đại thất trái dẫn đến suy tim…

Biện pháp đề phòng:

1.Chế độ dinh dưỡng – sinh hoạt hàng ngày.

+ Bổ sung chế độ ăn đầy đủ dưỡng chất và rau xanh.

+ Sắp xếp công việc hơp lý, tránh làm việc quá khuya, stress.

+ Tập luyện thể thao hàng ngày tăng cường lưu thông máu trong cơ thể

2. Điều trị thuốc:

+ Sử dụng một số loại thuốc có tác dụng điều hòa huyết áp.

+ Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sỹ.

Lời kết:

Các bệnh về huyết áp đều gây nguy hiểm cho sức khỏe. Tuy nhiên,  huyết áp kẹt khiến cơ thể mệt mỏi, hoạt động của tim gặp nhiều trở ngại…dễ dẫn đến suy tim. Mặt khác, huyết áp kẹt gây ảnh hưởng đến chất lượng công việc, đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Vì vậy, để đảm bảo sức khỏe, chúng ta cần điều hòa công việc, sắp xếp thời gian nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể thao đều đặn.

Theo sức khỏe đời sống

Các bệnh về van tim thường gặp và cách nhận biết

Bệnh van tim là bệnh hay gặp nhất trong các bệnh lý tim mạch (chiếm 50% bệnh nhân nằm điều trị tại các khoa, bệnh viện chuyên về Tim mạch), nếu bệnh không được quản lý và điều trị tốt sẽ gây nhiều biến chứng làm bệnh nhân bị tàn phế và có thể tử vong.

Quả tim có bốn van tim. Ngăn giữa buồng thất phải và buồng nhĩ phải là van ba lá. Ngăn giữa buồng thất trái và buồng nhĩ trái là van hai lá. Ngăn giữa buồng thất phải với động mạch phổi là van động mạch phổi và ngăn giữa buồng thất trái với động mạch chủ là van động mạch chủ. Khi các van tim bị tổn thương gây hẹp hoặc hở hoặc cả hẹp và hở van sẽ ảnh hưởng đến dòng máu chảy trong tim cũng như dòng máu chảy ra động mạch. Từ đó sẽ dẫn đến rối loạn huyết động và tùy mức độ rối loạn này mà có các biểu hiện bệnh lý trên lâm sàng.

Nhận biết dấu hiệu bệnh.

Triệu chứng lâm sàng

Gia đoạn đầu khi bệnh van tim còn ở mức độ nhẹ thì người bệnh không cảm thấy có triệu chứng gì đặc biệt. Rất nhiều trường hợp là do tình cờ bệnh nhân đi khám sức khỏe được phát hiện là có bệnh van tim. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh có cảm giác mệt mỏi, tim đập nhanh, có thể đau ngực và đặc biệt là có dấu hiệu khó thở. Khó thở lúc đầu thường xuất hiện khi bệnh nhân gắng sức làm một việc gì đó. Về sau mật độ khó thở sẽ tăng dần và có thể khó thở cả về đêm..

cac-benh-ve-van-tim-thuong-gap-va-cach-nhan-biet

Phần lớn các trường hợp bệnh van tim có thể phát hiện bằng ống nghe tim vì dòng chảy bất thương của máu thường tạo ra âm thanh đó là tiếng thổi.

Biến chứng bệnh: Bệnh nhân bị bệnh van tim nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị tốt sẽ có một số biến chứng hay gặp trên lâm sàng như: Rối loạn nhịp gây nhịp nhanh hoặc nhịp chậm hoặc bỏ nhịp; tắc mạch gây tai biến mạch não (liệt nửa người, thấp ngôn, hôn mê…), nhồi máu phổi (khó thở nhiều, đau ngực, ho ra máu….), suy tim (khó thở, phù, gan to…), suy thận (phù, tiểu ít, da – niêm mạc nhợt…)….

Xét nghiệm cận lâm sàng

Điện tim đồ: có giá trị chẩn đoán các rối loạn nhịp tim và các biểu hiện tăng gánh cơ tim ở giai đoạn bệnh với mức độ vừa trở lên. Ví dụ như: dày nhĩ, dày thất, ngoại tâm thu, rung nhĩ….

X Quang: cho biết các tổn thương như giãn các buồng tim, vôi hóa van tim, ứ huyết ở phổi và các tổn thương phối hợp khác…..

Siêu âm tim: cho biết các tổn thương van tim như hẹp – hở van, mức độ hẹp – hở van tim, tình trạng dày hoặc vôi hóa van và tổ chức dưới van… Ngoài ra, siêu âm tim còn cho biết một số thông quan trọng như: chức năng tim, áp lực động mạch phổi, các tổn thương tim khác phối hợp. Đây là phương pháp thăm dò không chảy máu rất có giá trị để chẩn đoán xác định bệnh cũng như mức độ tổn thương và tiên lượng được diễn biến của bệnh.

Thông tim: được chỉ định trong một số trường hợp để đánh giá chính xác tổn thương van tim, cơ tim, các mạch máu…

Một số xét nghiệm cận lâm sàng khác: xét nghiệm huyết học và sinh hóa máu, chụp CT scanner ngực, chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp đa dãy… các xét nghiệm này giúp bổ sung cho việc chẩn đoán mức độ bệnh và nguyên nhân gây bệnh.

Nguyên nhân của bệnh

Bệnh thấp tim

Thấp tim là nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh van tim. Nguyên nhân gây bệnh thấp tim là vi khuẩn liên cầu beta tan huyết nhóm A “Streptococus”.

Suy tim

Khi cơ tim bị suy do bất kỳ nguyên nhân gì đều có xu hướng giãn ra. Khi buồng tim gây giãn vòng van, giãn dây chằng và cột cơ dẫn đến hở van tim.

Bệnh tim bẩm sinh

Là những bất thường của van tim xuất hiện ngay khi sinh ra. Ví dụ như bệnh: hẹp van động mạch chủ thường gặp là bệnh van động mạch chủ có hai lá van (bình thường có ba lá van); hở van động mạch chủ trong hội chứng Marfan; hẹp van động mạch phổi; hẹp van hai lá (van hai lá hình dù, vòng thắt trên van hai lá); hở van hai lá do: xẻ lá van, van hai lá có hai lỗ van; hở van ba lá trong bệnh Ebstein…

Biến chứng của nhồi máu cơ tim như đứt cơ nhú, đứt dây chằng van tim gây hở van tim.

Sự suy yếu của các tổ chức dưới van

Đứt dây chằng của tim có thể gây hở van tim

Tổn thương thành động mạch chủ lên làm cho động mạch chủ bị yếu dẫn tới giãn động mạch chủ và hậu quả là hở van động mạch chủ.

Bệnh hệ thống gây xơ hóa van: bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp… gây hở van tim.

Nhiễm trùng: nhiễm trùng van tim được gọi là “Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn”, tổn thương van thường gặp là thủng van, đứt dây chằng, cột cơ… gây hở van tim.

Những nguyên nhân khác: thoái hóa van ở người cao tuổi, chấn thương, u carcinoid, lắng đọng mucopolysaccharid, hội chứng Takayashu, phình giãn xoang valsalva…

Chẩn đoán bệnh

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng: mệt, ho, tức ngực, khó thở… Nghe tim có tiếng thổi ở tim, nhịp nhanh. Gan to, phù, phổi có ran ứ đọng…

Các xét nghiệm: điện tim đồ, siêu âm tim, chụp tim phổi, thông tim… trong các xét nghiệm này thì siêu âm tim đóng vai trò quan trọng nhất vì giúp chẩn đoán xác định bệnh giúp cho hướng phương pháp điều trị phù hợp, giúp tiên lượng bệnh…

Điều trị

Chế độ không dùng thuốc: Ăn uống, sinh hoạt, làm việc phù hợp với tình trạng bệnh. Nếu có biểu hiện suy tim cần ăn giảm muối (< 6g muối/24 giờ), ăn giảm mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế chất kích thích (như rượu, bia, cà phê), không hút thuốc lá – thuốc lào, không lao động gắng sức…

Chế độ điều trị

* Điều trị nội khoa

– Lợi tiểu; được dùng nếu có hiện tượng giữ muối và nước hoặc suy tim xung huyết để giảm gánh nặng cho tim. Ví dụ: furosemide, hydroclorothiazide, spironolactone…

– Digitalis: làm tăng sức co bóp cơ tim, làm giảm nhịp tim đặc biệt khi bệnh nhân bị rung nhĩ. Ví dụ: digoxin, digitoxin…

– Thuốc làm giảm hậu gánh; thuốc ức chế men chuyển làm giảm thể tích dòng hở và tăng thể tích tống máu, giảm suy tim. Ví dụ: Enalapril, captopril, perindopril, lisinopril…

– Thuốc giãn mạch nhóm nitrate làm giảm tiền gánh, giảm gánh nặng cho tim như: nitroglycerine, mononitrat, isosorbide…

– Thuốc chẹn β giao cảm: có thể sử dụng trong trường hợp nhịp nhanh do hẹp – hở van tim, suy tim nhưng chức năng tim còn bù. Ví dụ: carvedilol, metoprolol, lidocaine…

– Thuốc chống đông máu: cần dùng cho bệnh nhân có biến chứng rung nhĩ, buồng tim giãn, bệnh nhân mang van nhân tạo cơ học… vì nguy cơ cao hình thành cục máu đông trong tim. Thuốc thường được sử dụng: cumarin, aspirin, ticlodipin, clopidogil, dipyridamole…

* Điều trị can thiệp (theo chỉ định)

– Phương pháp nong van tim qua đường ống thông (qua da) để điều trị bệnh hẹp van tim như: hẹp van hai lá, hẹp van động mạch phổi, hẹp van động mạch chủ…

– Thay van qua da như: thay van động mạch chủ, thay van hai lá

* Phẫu thuật (theo chỉ định)

– Tách mép van: phẫu thuật viên sẽ dùng tay hoặc dụng cụ để tách mép van bị dính trong trường hợp hẹp van tim. Ngày nay phương pháp này được thay thế bởi phương pháp nong van bằng bóng qua da.

– Sửa van: khâu hẹp vòng van, khâu lại các vết rách ở lá van, sửa dây chằng, cột cơ của van tim…

– Thay van: được chỉ định trong trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật sửa van hoặc tách mép van. Van mới này có thể là van sinh học hoặc van cơ học.

* Điều trị khác: bệnh nhân bị hẹp – hở van tim dẫn đến suy tim nặng mà không còn chỉ định điều trị can thiệp hay phẫu thuật mổ sửa hoặc thay van thì có thể điều trị suy tim bằng các biện pháp đặc biệt như: cấy máy tái đồng bộ tim, ghép tim…

* Điều trị nguyên nhân: Điều trị bệnh thấp tim thật tốt (tiêm phòng thấp cấp I hoặc cấp II); Điều trị tốt các nguyên nhân có thể dẫn đến suy tim, làm giãn buồng tim gây hở van tim….

Cách phòng chống.

– Để đề phòng bệnh thấp tim tốt nhất là giáo dục chế độ vệ sinh phòng bệnh tốt. Khi phát hiện nhiễm trùng vùng họng (thường do liên cầu) cần được điều trị triệt để. Khi phát hiện bị thấp tim cần được quản lý theo dõi chặtt chẽ ở các cơ sở y tế và tiêm phòng thấp tim đầy đủ theo chỉ định của bác sỹ.

– Để phòng bệnh mạch vành (nguyên nhân gây suy tim, hở van tim) cần loại bỏ các yếu tố nguy cơ như: điều trị tốt bệnh tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, rối loạn lipide máu; hạn chế ăn mặn, hạn chế ăn mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế uống rượu bia; không hút thuốc lá; tăng cường vận động thể lực theo khả năng (ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/ tuần), tránh stress, không để thừa cân – béo phì…

– Giữ gìn vệ sinh thân thể và môi trường để không bị bệnh nhiễm trùng…

– Nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng: ăn, uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi khoa học và hợp lý.

Benh.vn

Điều trị khan tiếng như thế nào

Khàn giọng (khan tiếng) có thể là một tình huống cấp tính của tắc nghẽn thanh quản, gây nguy hiểm tức thời đòi hỏi phải giải quyết cấp cứu như sốc phản vệ, bỏng đường hô hấp, dị vật, bệnh bạch hầu thanh quản… nhưng phần lớn đa số lành tính có thể can thiệp sớm mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng là dấu hiệu đe dọa tiềm ẩn của chứng bệnh ung thư. Vậy bạn sẽ làm gì khi mình khàn giọng?

Nguyên nhân gây khàn giọng

Nguyên nhân tiên phát:

– Viêm thanh quản cấp tính: viêm thanh quản do virút, viêm thanh quản do vi khuẩn, viêm nắp thanh quản cấp tính, viêm phế quản do vi khuẩn.

– Viêm thanh quản mãn tính: khói thuốc lá tiếp xúc: kích thích và gây viêm thanh quản phù nề dây thanh âm.

Hét to, nói to… nhiều (nguyên nhân phổ biến nhất); trào ngược dạ dày (trào ngược viêm thanh quản); polyp thanh quản, Khối u thanh quản; dị vật; nang dây thanh.

– U hạt chấn thương (Traumatic Granuloma) do từ đặt nội khí quản.
khan-tieng1
Nguyên nhân thứ phát: do suy giáp, nhược cơ, liệt hành tủy, các bệnh hệ thống khác: viêm khớp dạng thấp, gout, lupus đỏ hệ thống, chấn thương (ví dụ như đặt nội khí quản).
Nguyên nhân gây tổn thương thần kinh thanh quản: phẫu thuật (tuyến giáp, cổ, ngực); các bệnh ác tính: ung thư tuyến giáp, ung thư thực quản, ung thư phổi; bệnh lý thần kinh: bệnh thần kinh đái tháo đường, bệnh lý thần kinh do virút.

Nguyên nhân gây khàn giọng chức năng (không có nguyên nhân gây tổn thương thực thể): chứng khó phát âm do co thắt, chứng tắt tiếng (hoàn toàn không có tiếng nói)…

Những yếu tố thuận lợi:

Khô niêm mạc thanh quản, ví dụ: độ ẩm thấp, tắc nghẽn mũi, hút thuốc lá, ô nhiễm không khí hoặc phản ứng phụ của thuốc(như thuốc kháng histamine, hít steroids, và những chất chống tiết cholin (anticholinergics); nhiễm trùng đường hô hấp trên; mất tính đàn hồi của dây thanh âm do tuổi tác (lão hóa của giọng nói).

Điều trị khàn giọng như thế nào?

Việc điều trị sẽ dựa vào những nguyên nhân gây bệnh. Điều trị thường bao gồm nghỉ ngơi(hạn chế nói), luyện âm, dùng thuốc men và/ hoặc phẫu thuật. Các biện pháp không cần phẫu thuật là chữa trị chọn lựa đầu tiên đối với hầu hết các tổn thương lành tính của thanh quản. Bạn nên lưu ý: bất kỳ bệnh nhân bị khàn giọng kéo dài trên 3 tuần không rõ nguyên nhân cần khám và xét nghiệm để loại trừ bệnh ác tính.
khan-tieng
Chữa trị không phẫu thuật

Giữ gìn giọng nói: hạn chế nói được sử dụng cho viêm thanh quản cấp tính, nói chung là các trình trạng khác gây sưng, phù nề cấp tính thanh quản. Trong giai đoạn nghỉ ngơi, bạn nên hạn chế các hành vi lạm dụng giọng nói, hát để ngăn chặn thiệt hại thêm dây thanh âm, thời gian khoảng từ một tuần đến vài tuần tùy thuộc vào từng bệnh lý và cân bằng vấn đề khác, như bạn cần phải sử dụng tiếng nói tại nơi làm việc.

Điều trị bằng thuốc men: gồm thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm corticoid, thuốc tiêu nhầy, thuốc chống trào ngược, và các thuốc chống viêm non- steroid. Cụ thể:

Điều trị trào ngược dạ dày – thực quản (nếu nghi ngờ): lưu ý về chế độ ăn uống. Các thuốc điều trị bệnh dạ dày như thuốc  ức chế bơm proton, thuốc kháng tiết acid, thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày…

Điều trị các bệnh như trên đã đề cập như: nghiện rượu, dị ứng viêm phế quản, viêm thanh quản…

Luyện âm: bác sĩ sẽ hướng dẫn các kỹ thuật để giảm thiểu các hành vi có hại và những cách thức để đạt được hiệu quả phát âm tốt. Bao gồm: kỹ thuật vệ sinh thanh âm, thư giãn và hít thở, các bài tập luyện âm (gồm các bài tập để tăng cường các dây thanh âm, giúp thư giãn và tập thở và các bài tập nhằm cải thiện). Luyện âm có thể hỗ trợ  điều trị có hiệu quả cho cả hai tình huống do tổn thương thực thể (như nốt sần và polyp) và do nguyên nhân không có tổn thương thực thể (như khàn tiếng do căng cơ).

Nên khám bác sĩ nếu:

– Khó thở hoặc khó nuốt.

– Khàn giọng kèm theo chảy nước dãi, nước mũi, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

Trẻ em dưới 3 tháng tuổi bị khan giọng.

– Khàn giọng kéo dài hơn 1 tuần đối với trẻ em, hoặc 3 tuần đối với người lớn.

Chuyển đến  bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng: nếu như việc điều trị xem ra không thay đổi và không có cải thiện, để kiểm tra tỉ mỉ giọng nói và làm các đánh giá sâu hơn nhờ những phương tiện chẩn đoán như nội soi…

Chữa trị bằng phẫu thuật việc điều trị bằng phương pháp này: tùy thuộc vào nguyên nhân và mức độ mà hướng xử lý khác nhau, như: từ tiêm chích thuốc, điều trị bằng laser, mổ nội soi hoặc mổ hở với phạm vi khác nhau.

Với chứng khó phát âm do co thắt (spasmodic dysphonia): điều trị bằng chích botulinum toxin hoặc vào các cơ nhẫn – phễu sau, hoặc vào các cơ nhẫn – giáp

Thường hay gặp là phẫu thuật những tổn thương như nang dây thanh (thường được chỉ định cắt càng sớm càng tốt), các nốt sần và các polyp nếu có, hiệu quả nhất hiện nay là qua ống  nội soi mềm. Ngoài ra, với trường hợp ung thư thanh quản thì tùy thuộc mức độ mà bác sĩ có thể áp dụng phẫu thuật bảo tồn hay cắt một phần thanh quản, hay cắt bỏ thanh quản toàn phần, sau phẫu thuật này người bệnh phải thở qua lỗ mở của khí quản trực tiếp khâu nối ra vùng da ở cổ, đi kèm tia xạ và vô hóa chất.

– Bác sĩ có thể áp dụng phương pháp phẫu thuật  khác nhau để điều trị liệt dây thanh âm (vocal cord paralysis.)…

Tự chăm sóc tại nhà

Khàn giọng có thể diễn ra trong khoảng thời gian  ngắn (cấp tính) hoặc lâu dài (mãn tính).
Nghỉ ngơi và theo thời gian có thể cải thiện khàn giọng. Khóc, la hét, và nói quá nhiều hoặc hát to quá có thể làm cho khàn tiếng nhiều hơn. Bạn nên kiên nhẫn, bởi vì quá trình chữa bệnh có thể mất vài ngày đến vài tuần.

Không nói chuyện, trừ khi bạn cần thiết phải nói và tránh thì thầm. Thì thầm có thể làm căng các dây thanh âm nhiều hơn là nói.

Tránh dùng thuốc chống sung huyết như để thông mũi, vì thuốc  thông mũi làm khô dây thanh âm và kéo dài tình trạng khan tiếng.

Nếu bạn hút thuốc, nên giảm bớt hoặc ngừng hút thuốc (thuốc và rượu đều là chất kích thích, rượu còn làm mất nước). Giảm dùng caffeine.

Làm ẩm không khí với bình phun hơi nước hoặc uống nước đầy đủ và có thể dùng tắc chưng đường phèn… giảm phần nào khan tiếng.

Bs Nguyễn Hữu Lộc
Theo Sức khỏe đời sống

Hội trứng khi điều trị viêm khớp

Thuốc dùng trong các bệnh viêm khớp, chủ yếu là viêm khớp dạng thấp và viêm khớp thoái hóa đều có tác dụng điều trị, nhưng bên cạnh đó cũng có thể gây những tác dụng không mong muốn hoặc một số hội chứng ảnh hưởng xấu cho sức khỏe…

Tác dụng không mong muốn (còn gọi là tác dụng phụ) của thuốc là các phản ứng có hại cho người bệnh khi dùng thuốc đúng liều lượng. Một số phản ứng có hại của thuốc rất dễ được phát hiện như: Dị ứng thuốc (tăng nhiệt độ, mẩn ngứa, nổi mề đay, nhức đầu, nôn mửa) hoặc sốc phản vệ (ngứa toàn bộ cơ thể: nhất là ở bàn tay và bàn chân, phù ở mắt như bị bỏng nặng, phù cuống họng, khó thở, chóng mặt, tụt huyết áp và có thể ngất xỉu…).
viem-khop
Ngộ độc thuốc khi điều trị các bệnh khớp có thể từ nhẹ đến nặng, phục hồi hoặc không phục hồi được. Thường những xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện nhiễm độc như: Tăng huyết áp, loét và chảy máu đường tiêu hóa, hạ đường huyết, tổn thương hoàng điểm, tổn thương gan, thận… Bệnh nhân phải dừng thuốc ngay lập tức khi có các biểu hiện ngộ độc trên.

Ngoài các tác dụng phụ vừa kể, một số hội chứng không điển hình dưới đây người bệnh cần chú ý khi điều trị viêm khớp:

Các biểu hiện viêm khớp gia tăng: Khi uống thuốc, người bệnh cảm thấy đau hơn, sưng hơn cùng với cứng khớp. Cần biết rằng ban đầu có thể xuất hiện các phản ứng theo xu hướng xấu do thuốc bắt đầu tác dụng. Nếu sau một ngày, các biểu hiện này không được cải thiện và tiếp tục phát triển thì rất có thể thuốc đã không có tác dụng, cần phải thay thế thuốc hoặc điều chỉnh lại liều dùng.

Tăng nhiệt độ: Nếu nhiệt độ tăng không đáng kể (dưới 38 độ C), đó có thể là biểu hiện bình thường của phản ứng viêm khớp, nhưng nếu nhiệt độ tăng hơn nhiều (trên 38 độ C), phải nghĩ đến khả năng về một bệnh nhiễm khuẩn. Nhiều thuốc trị viêm khớp đã làm suy giảm hệ miễn dịch cũng như giảm thiểu tuần hoàn và làm tăng một cách đáng kể nguy cơ bị các bệnh do vi khuẩn và siêu vi khuẩn. Các thuốc chính gây suy giảm hệ miễn dịch là: methotrexate, immuran, remicade, cyclosporine, cytoxan… Phát hiện và điều trị kịp thời các biểu hiện nhiễm khuẩn sẽ giúp giảm bớt những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.

Tê hoặc cảm giác kiến bò: Các phản ứng này có thể xảy ra vì sự đè nén do phù và viêm vào các dây thần kinh. Một nguyên nhân khác là do thoái hóa dây thần kinh, do hiện tượng viêm và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, độc tính của một số thuốc kháng viêm cũng như thuốc làm suy giảm miễn dịch có thể làm tổn hại hệ thần kinh ngoại vi và gây ra cảm giác tê hoặc kiến bò. Bệnh nhân cần phải thông báo ngay với bác sĩ những biểu hiện này để tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời.

Mẩn đỏ: Rất hiếm khi do các bệnh khớp gây ra, nguyên nhân của triệu chứng này thường là do các thuốc như solganal, myochrysine methoratrexate, hydroxychloro-quine.

Ðỏ mắt: Có thể do nhiễm trùng mắt. Nếu kèm theo đau nhức nặng cần phải nghĩ đến bệnh viêm các mạch máu.

Không phân biệt được màu đỏ và xanh lá cây: Thường do thuốc plaquenil làm tổn hại võng mạc gây ra. Bệnh nhân phải báo với bác sĩ và dùng thuốc ngay.

Buồn nôn: Hầu hết các thuốc trị viêm khớp đều có thể gây nên cảm giác rất khó chịu này, đặc biệt là: ibuprofen, naproxen và một số thuốc kháng viêm giảm đau khác như: azathiprine (immuran), prednisolone, methotrexate.

Ho và đau ngực: Viêm các khớp liên sườn có thể gây đau ngực. Tuy nhiên cũng cần được khám để loại trừ khả năng có bệnh về tim và phổi. Khả năng bị nhiễm khuẩn đường hô hấp do tác dụng giảm miễn dịch của thuốc điều trị viêm khớp có thể xảy ra và phải được điều trị bằng kháng sinh kịp thời.
Trên đây là một số dấu hiệu chính nhưng không phải hoàn toàn đầy đủ của các phản ứng do thuốc điều trị các bệnh viêm khớp có thể dẫn đến. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc cần luôn cảnh giác để phát hiện và xử lý kịp thời những biến chứng để ngăn chặn các hậu quả nặng nề cũng như phải dùng thêm thuốc không cần thiết. Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, các bệnh nhân viêm khớp cần có sự hiểu biết nhất định về một số loại thuốc mà mình thường dùng, đồng thời hợp tác chặt chẽ với bác sĩ để kịp thời tư vấn khi cần thiết.

BS.TS. Hoàng Xuân Ba

Nguồn sức khỏe đời sống

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ung-thu-thuc-quan

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.

Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Nguồn sức khỏe đời sống

Dị ứng thuốc biểu hiện như thế nào?

Các phản ứng dị ứng có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhẹ nhất là sự kích ứng, các tác dụng phụ ở mức độ nhẹ như: buồn nôn, ói mửa cho đến các trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng, chẳng hạn shock phản vệ… Sau đây là các biểu hiện thường gặp nhất.

Mày đay: Là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5 – 10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

di-ung

Phù Quincke: Là tình trạng phù cục bộ, phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

Viêm da dị ứng: Thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo ban đỏ, ngứa, phù da và tiến triển theo nhiều giai đoạn. Viêm da dị ứng có thể xuất hiện nhanh sau một vài giờ, trung bình sau vài ba ngày, có khi hàng tuần sau khi dùng hoặc tiếp xúc với thuốc.

Đỏ da toàn thân: Bệnh xuất hiện từ 2 – 3 ngày, trung bình 6 – 7 ngày, đôi khi 2 – 3 tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh thấy bừng nóng, ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hóa, nổi ban đỏ toàn thân, trên da có vảy trắng, các kẽ chân tay có thể nứt và chảy nước vàng, đôi khi bị bội nhiễm có mủ.

Bệnh huyết thanh: Thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38 – 390C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

Cảnh báo sớm với dấu hiệu suy tim sớm

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp bạn chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời.

1.  Đau thắt ngực

canh-bao-som-dau-hieu-bi-suy-tim

Đau ngực thường xảy ra sau một hoạt động gắng sức (chạy bộ, leo cầu thang, làm việc nặng). Vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim, có thể là cảm giác khó chịu, hoặc cảm giác bị đè ép sau xương ức lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái. Đau ngực thường bắt đầu từ từ, kéo dài vài giây đến vài phút. Tần suất cơn đau cũng không ổn định, có thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn là vài lần trong một ngày.

Nguyên nhân là do khi động mạch vành (ĐMV) bị co thắt có thể gây tổn thương lớp tế bào nội mạc, dẫn đến lắng đọng cholesterol và tạo thành các mảng xơ vữa hoặc một cục huyết khối nhỏ có thể hình thành và cư trú bên trong ĐMV làm tắc nghẽn dòng máu chảy tới nuôi cơ tim.

2.   Khó thở

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp. Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.

Khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về, phổi bị ứ huyết, mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

3.   Mệt mỏi

Nếu đột nhiên bạn cảm thấy kiệt sức sau một hoạt động nào đấy, mà hoạt động đó trước đây bạn thực hiện rất dễ dàng, hoặc cảm giác mệt mỏi gây khó khăn cho bạn ngay cả khi thực hiện những việc đơn giản như: leo cầu thang, xách giỏ đi chợ hay thậm chí khi đi bộ. Đó là những dấu hiệu cảnh báo trái tim của bạn đang bị suy yếu.

Do tim bị suy yếu, hoạt động bơm hút máu bị hạn chế dẫn đến tim không bơm đủ máu đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Thiếu máu, người bệnh luôn có cảm giác mệt mỏi và khó khăn trong mọi hoạt động.

4.   Ho

Tình trạng ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu. Tim suy yếu không hút được máu từ phổi, gây nên ứ máu tại phổi và dẫn đến tình trạng ho. Nhiều bệnh nhân dễ nhầm với các bệnh về phổi như viêm phổi, viêm phế quản.

5.   Phù

Khi mới bắt đầu, người bệnh chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều thấy phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, buổi chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, khi nhấc ngón tay thấy da vẫn lõm. Ở mức nặng hơn, phù làm bụng trướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra như béo lên, tuy nhiên, phù do suy tim không giữ nước nhiều như người bệnh thận.

Khi lưu lượng máu qua tim bị chậm lại, máu trở về tim qua các tĩnh mạch bị ứ đọng lại làm các mao mạch căng lên và gây thoát dịch qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Mặt khác, do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người cũng gây phù.
Như vậy, không nên chủ quan khi gặp các dấu hiệu: khó thở, mệt mỏi, ho, phù, đau thắt ngực,…nhất là khi bạn đang mắc một trong số các bệnh về tim mạch. Ngay khi phát hiện có một trong các dấu hiệu trên, hãy đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời trước khi trái tim bị suy yếu.

Vân Nga

Theo SKDS

Những vấn đề cần quan tâm về dị ứng sữa ở trẻ em

Sữa là thức ăn rất cần thiết cho trẻ em, đặt biệt ở trẻ < 6 tháng tuổi sữa là thức ăn duy nhất. Do đó đối với các bà mẹ không thể cho trẻ bú mẹ, thì ngoài việc lo lắng sữa có melamine hay thiếu độ đạm như hiện nay, các bậc phụ huynh cần phải chú ý thêm một vấn đề không kém là dị ứng sữa (thường là sữa bò, ít gặp hơn là sữa đậu nành).

nhung_van_de_can_quan_tam_ve_di_ung_sua_o_tre_em

Nguyên nhân :

– Thường ở trẻ<1 tuổi, đặt biệt <6 tuổi.

– 1%-7,5% trẻ em có dị ứng sữa bò.

– Nguyên nhân thường do di truyền và trẻ phải bú sữa bò sớm. Do đó cần cho trẻ bú sữa mẹ càng lâu càng tốt.

Biểu hiện:

Phản ứng nhanh: Xảy ra sớm, có thể nặng cần điều trị.

Nổi đỏ da, viêm loét miệng, nổi mề đay, khò khè, khó thở hoặc nặng hơn là truy mạch, ngưng thở cần phải đưa đến bệnh viện ngay.

Phản ứng chậm: Triệu chứng thường không rõ ràng, kéo dài, dễ lầm lẫn với các bệnh lý khác, khó chẩn đoán.

Trẻ thường khó chịu, quấy khóc, đau bụng, hay nôn ói, hoặc tiêu chảy kéo dài… thậm chí tiêu máu, hoặc ói máu tái lại nhiều lần, chậm lên cân… làm các bậc cha mẹ rất lo lắng và cho trẻ đi khám bệnh ở nhiều nơi.

Trẻ thường được các Bác sĩ chẩn đoán là: rối loạn tiêu hóa kéo dài, kém hấp thu, tiêu chảy kéo dài, hoặc viêm ruột…

Chẩn đoán:

Thường khó chẩn đoán trong các trường hợp phản ứng chậm.

Giai đoạn đầu, cha mẹ và thậm chí các Bác sĩ thường bỏ qua ít chú ý cho đến khi các biểu hiện kéo dài dai dẳng, ngày càng nhiều, hoặc ói máu, tiêu máu tái đi tái lại, thì phải nghĩ đến dị ứng sữa ở trẻ bú sữa bò.

Chú ý:Trẻ bú sữa mẹ vẫn có thể bị dị ứng sữa bò khi mẹ có uống sữa hoặc ăn các chế phẩm có sữa bò như: yaourt, bơ, bột, bánh …vì các protein lạ trong sữa bò có thể qua sữa mẹ gây dị ứng cho bé.

Điều trị và phòng ngừa:

a) Ngưng sữa bò và các sản phẩm có sữa

– Dùng sữa đậu nành: Tuy nhiên trẻ dị ứng sữa bò cũng dị ứng với sữa đậu nành.

– Sữa đặc biêt được xử lý thủy phân: không gây dị ứng.

– Thời gian sử dụng ít nhất là 2 tháng, có thể kéo dài 12 tháng.

– Cho trẻ uống lại sữa bò thử mỗi 3-6 tháng, nếu còn dị ứng tiếp tục ngưng sữa bò.

– Đa số trẻ sẽ hết dị ứng sữa sau 2 tuổi.

Chế độ ăn của mẹ: Ngưng sữa bò và các sản phẩm có sữa khi trẻ bú mẹ mà bị dị ứng sữa.

b) Thuốc chống dị ứng: thường dùng trong các trường hợp dị ứng nặng, và cần điều trị tại bệnh viện.

c) Phòng ngừa: Cần cho trẻ bú sữa mẹ càng lâu càng tốt, đây cũng là một lý do nữa để khuyến khích các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ, cho thấy tầm quan trọng của sữa mẹ. Nếu cần bú sữa bình nên dùng sữa công thức.

– Ghi rõ tiền căn dị ứng vào hồ sơ, bệnh án của trẻ.

– Kiểm tra các thức ăn của con bạn bảo đảm không có sữa.

– Báo với gia đình, nhà trường hoặc người nuôi trẻ không dùng các sản phẩm có sữa.

– Nếu có triệu chứng dị ứng nhanh, nặng cần dự phòng thuốc tại nhà theo y lệnh của Bác sĩ.

Đăng bởi: BS Nguyễn Thúc Bội Ngọc – Khoa Dịch Vụ 2
Theo benhviennhi.org.vn

Những dấu hiệu cảnh báo suy tim sớm

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp bạn chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời.

nhung_dau_hieu_canh_bao_suy_tim_som

1.  Đau thắt ngực

Đau ngực thường xảy ra sau một hoạt động gắng sức (chạy bộ, leo cầu thang, làm việc nặng). Vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim, có thể là cảm giác khó chịu, hoặc cảm giác bị đè ép sau xương ức lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái. Đau ngực thường bắt đầu từ từ, kéo dài vài giây đến vài phút. Tần suất cơn đau cũng không ổn định, có thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn là vài lần trong một ngày.

Nguyên nhân là do khi động mạch vành (ĐMV) bị co thắt có thể gây tổn thương lớp tế bào nội mạc, dẫn đến lắng đọng cholesterol và tạo thành các mảng xơ vữa hoặc một cục huyết khối nhỏ có thể hình thành và cư trú bên trong ĐMV làm tắc nghẽn dòng máu chảy tới nuôi cơ tim.

2.   Khó thở

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp. Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.

Khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về, phổi bị ứ huyết, mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

3.   Mệt mỏi

Nếu đột nhiên bạn cảm thấy kiệt sức sau một hoạt động nào đấy, mà hoạt động đó trước đây bạn thực hiện rất dễ dàng, hoặc cảm giác mệt mỏi gây khó khăn cho bạn ngay cả khi thực hiện những việc đơn giản như: leo cầu thang, xách giỏ đi chợ hay thậm chí khi đi bộ. Đó là những dấu hiệu cảnh báo trái tim của bạn đang bị suy yếu.

Do tim bị suy yếu, hoạt động bơm hút máu bị hạn chế dẫn đến tim không bơm đủ máu đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Thiếu máu, người bệnh luôn có cảm giác mệt mỏi và khó khăn trong mọi hoạt động.

4.   Ho

Tình trạng ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu. Tim suy yếu không hút được máu từ phổi, gây nên ứ máu tại phổi và dẫn đến tình trạng ho. Nhiều bệnh nhân dễ nhầm với các bệnh về phổi như viêm phổi, viêm phế quản.

5.   Phù

Khi mới bắt đầu, người bệnh chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều thấy phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, buổi chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, khi nhấc ngón tay thấy da vẫn lõm. Ở mức nặng hơn, phù làm bụng trướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra như béo lên, tuy nhiên, phù do suy tim không giữ nước nhiều như người bệnh thận.

Khi lưu lượng máu qua tim bị chậm lại, máu trở về tim qua các tĩnh mạch bị ứ đọng lại làm các mao mạch căng lên và gây thoát dịch qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Mặt khác, do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người cũng gây phù.
Như vậy, không nên chủ quan khi gặp các dấu hiệu: khó thở, mệt mỏi, ho, phù, đau thắt ngực,…nhất là khi bạn đang mắc một trong số các bệnh về tim mạch. Ngay khi phát hiện có một trong các dấu hiệu trên, hãy đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời trước khi trái tim bị suy yếu.

Theo SKĐS