Tag Archives: kho chiu

Sơ cứu ngộ độc nấm

Ngộ độc nấm độc chỉ xảy ra khi ăn các nấm mọc hoang dại, thường vào mùa xuân và hè và ở các vùng rừng núi. Loại nấm độc nhất là nấm lục (hay nấm độc xanh đen), có hình thức hấp dẫn nhất, ngộ độc nặng nề, diễn biến ngộ độc không thể lường trước được và là nguyên nhân tử vong của hầu hết các trường hợp ngộ độc nấm xảy ra hàng năm ở nước ta.

Biểu hiện ngộ độc chính:

Loại biểu hiện ngộ độc sớm:Thường biểu hiện sau ăn 30 phút đến 2 giờ, tối đa là 6 giờ. Biểu hiện tuỳ thuộc vào loại nấm:

– Nấm đỏ (nấm mặt trời, tên khoa học: Amanita muscaria), nấm mụn trắng (nấm tán da báo, tên khoa học: Amanita pantheria): buồn ngủ, chóng mặt, khó chịu, ảo giác, sảng, giật cơ, co giật.

– Nấm mực (tên khoa học: Coprinus atramentarius): do khi ăn bệnh nhân có uống rượu, bia, biểu hiện đỏ mặt, cổ, ngực, cảm giác bốc hoả, vã mồ hôi, trống ngực, nhịp tim nhanh, đau ngực, thở nhanh, khó thở, buồn nôn, nôn, đau đầu, hạ huyết áp.

– Nấm phiến đốm chuông (tên khoa học: Paneolus campanulatus): điều hoà các động tác vận động kém, tăng vận động, ảo giác, hoang tưởng. Có thể có đồng tử (con ngươi mắt) giãn, kích thích vật vã, co giật.

so-cuu-ngo-doc-nam

Loại biểu hiện ngộ độc muộn:

– Xuất hiện sau khi ăn 6 – 40 giờ (trung bình 12 giờ).

– Hầu hết các trường hợp do nấm lục (nấm độc xanh đen, tên khoa học: Amanita phalloides).

– 6 – 40 giờ sau ăn, bệnh nhân mới biểu hiện nôn, đau bụng, ỉa chảy dữ rội và nhiều. Vào thời điểm này hầu hết chất độc đã vào máu.

– Sau 1 – 2 ngày: Các biểu hiện tiêu hoá trên đỡ, người bệnh (thậm chí có thể cả cán bộ y tế) nghĩ là bệnh đã khỏi. Trên thực tế tình trạng ngộ độc vẫn tiếp diễn âm thầm ở các cơ quan khác.

– Sau 3 – 4 ngày: Vàng mắt, vàng da, mệt mỏi, ăn kém, đái ít dần, phù, chảy máu nhiều nơi, hôn mê và tử vong.

Sơ cứu:

– Gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều. Cho bệnh nhân uống nước và gây nôn.

– Uống than hoạt: liều 1gam/kg cân nặng người bệnh.

– Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol.

– Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

– Nếu người bệnh hôn mê, co giật: cho người bệnh nằm nghiêng.

– Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ.

– Không tự về nhà trong 1 – 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

– Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Nguồn giáo dục

Sốt phát ban ở trẻ

Phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Khoảng thời gian trước khi bị phát ban, em bé sẽ có những thay đổi về trạng thái tinh thần, rõ ràng nhất là biểu hiện quấy khóc. Sau đó bé sẽ bị sốt, sổ mũi, ho, nhiều bé còn bị thêm tiêu chảy, vài ngày sau cơ thể bé sẽ xuất hiện những chấm đỏ toàn thân.

Nguyên nhân gây bệnh?
Sốt phát ban do một số loại siêu vi gây ra, nhưng có 2 nguyên nhân chính là siêu vi sởi và siêu vi bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, còn bệnh rubella gọi là ban đào.

Sốt phát ban lây lan qua đường hô hấp. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi, thì những siêu vi trùng bị bắn ra ngoài khiến cho những người xung quanh có thể hít phải và nhiễm bệnh.

sot-phat-ban-o-tre

Biểu hiện phát bệnh?
Sốt phát ban do sởi thường có những biểu hiện như sau: trẻ bị sốt cao kèm theo ho và sổ mũi, mắt đỏ. Lúc này các bé cảm thấy rất bứt rứt, khó chịu trong người. Sau đó vài ngày, trẻ sẽ bị phát ban toàn thân, đồng thời cũng sẽ giảm sốt và bớt quấy hơn.

Phát ban do Rubella lại có biểu hiện sốt nhẹ hoặc không sốt. Các nốt ban xuất hiện khá nhanh, trong 1 ngày đã có thể nổi lên trên khắp thân của trẻ. Ở trường hợp này, phần lớn trẻ mắc bệnh sẽ có kèm tiêu chảy hoặc phân hơi lỏng.

Sốt phát ban có gây biến chứng không?
Khi trẻ bị bệnh, các bậc cha mẹ luôn lo lắng, không biết có gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của trẻ hay không?

Bệnh sởi sẽ trở nên nguy hiểm nếu có các biến chứng như : viêm phổi, viêm tai giữa, kiết lỵ, đặc biệt là viêm não.

Rubella là bệnh lành tính hơn, và rất hiếm khi xảy ra biến chứng nguy hiểm. Nếu phụ nữ đang mang thai bị mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kì, có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non, hoặc trẻ sinh ra sẽ mắc tật về mắt, tim, não.

Điều trị và phòng ngừa cho trẻ
Nếu trẻ sốt cao, cha mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt, giảm ho. Nhưng nếu thấy bé có những biểu hiện bệnh nặng như : sốt cao không hạ, khó thở, co giật, hôn mê, đi ngoài ra máu hay chảy mủ ở tai… thì cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu kịp thời.

Trong quá trình điều trị, cũng cần phải chú ý tới chế độ ăn uống của trẻ. Nên cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa, đặc biệt cho uống nhiều nước vì lúc này cơ thể trẻ có thể bị mất nước nhiều.

Khi trẻ phát ban, tuyệt đối không được ủ kín và kiêng vệ sinh thân thể, vì điều đó có thể khiến bệnh trở nặng thêm. Thói quen kiêng gió, kiêng nước, thậm chí kiêng trong cả ăn uống là hoàn toàn sai lầm và lạc hậu. Trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm trùng Da và biến chứng viêm phổi. Bạn có thể tắm cho con bằng nước ấm, phòng tắm kín gió, để tránh cho trẻ bị nhiễm lạnh.

Cần phải cách ly trẻ bị bệnh để tránh lây lan sang các bạn khác. Tuy nhiên, bệnh có thể lây ngay từ khi trẻ chưa có biểu hiện phát ban, nên việc phòng tránh trở nên khó khăn hơn.

Nguồn báo sức khỏe

Những thói quen ảnh hưởng tới sức khỏe dân công sở

Ngoáy tai: Không ít người nghiện ngoáy tay đến mức mang luôn bịch tăm bông bên mình. TS Trần Minh Trường, trưởng khoa tai mũi họng BV Chợ Rẫy cho biết điều này rất tai hại vì tăm bông không được vô trùng tốt, có thể gây nhiễm trùng ống tai, chưa kể khi ngoáy tai có người sơ ý đụng sẽ dẫn đến thủng màng nhĩ. Do đầu bông khá to, nên khi ngoáy sâu trong tai dễ làm đau, mặt khác do được tẩm một dung dịch đặc biệt, nên ngoáy lâu ngày dẫn đến ngứa.

Theo các chuyên gia sức khỏe, bình thường tai có thể tự làm sạch vì vùng da ở ống tai phát triển hướng ra ngoài, kéo theo ráy tai, do đó không cần phải dùng vật dụng nào để vệ sinh. Tắm xong, một thời gian sau tai sẽ tự khô.

nhung-thoi-quen-anh-huong-toi-suc-khoe-dan-cong-so

Bẻ cổ, bẻ người: Nhiều người thích làm giảm đau nhức, mỏi mệt bằng cách bẻ người, nhưng bác sĩ Thái Thị Hồng Ánh, trưởng khoa nội cơ – xương – khớp Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cho rằng điều này nguy hiểm vì khi bẻ người, ta sẽ tạo ra những cọ xát ở mặt khớp, nhẹ thì làm mòn mặt khớp, nặng hơn gây thoát vị, trật khớp, đôi khi phải cần đến phẫu thuật để giải quyết.

Mân mê da mặt, ngoáy mũi: Dù có rửa sạch tay đến mấy, bạn cũng không thể diệt 100% vi khuẩn có trên tay, huống hồ bạn phải dùng tay để gõ máy tính, cầm nắm vật dụng văn phòng, bắt tay người khác… Theo các chuyên gia sức khỏe, mân mê da mặt quá nhiều sẽ phá vỡ bề mặt bảo vệ trên da, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm. Trong khi đó, ngoáy mũi có thể làm huỷ hoại lông mũi, rách niêm mạc mũi, gây viêm nhiễm.

Làm việc với máy tính quá lâu: Làm việc với máy tính quá 2 giờ sẽ khiến mắt đau nhức, khô rát, nhìn đôi hoặc nhìn loá, khó tập trung vào công việc… Những triệu chứng này thường không để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài cho sức khoẻ, nhưng khiến bạn khó chịu, giảm năng suất làm việc.

Vì thế, sau 1 giờ làm việc với máy tính, bạn nên nghỉ ngơi 5 phút; sau 2 giờ nên đứng dậy đi dạo một vòng. Nếu không thích, bạn có thể ngồi trên ghế, ngửa người ra sau, nhắm mở mắt nhiều lần trong vài phút để mắt bớt khô.

Ngồi lâu, đứng dậy đột ngột: Ngồi lâu một chỗ, máu tụ xuống phần dưới cơ thể, vì thế nếu đứng dậy đột ngột, máu chưa vận chuyển lên đầu kịp thời, bạn sẽ thấy chóng mặt, xây xẩm, khó chịu.

Theo các chuyên gia tim mạch, đối với người có sẵn bệnh tim mạch trong người, việc đứng dậy đột ngột còn có thể gây ngất xỉu hoặc những tai biến đáng tiếc khác. Vì thế, tốt nhất khi ngồi lâu một chỗ, muốn đứng dậy cần phải thực hiện động tác từ từ.

Bác sĩ Ánh lưu ý vùng cột sống cổ rất nhạy cảm, vì nơi đây có nhiều trung khu thần kinh quan trọng (hô hấp, tim mạch…). Chấn thương vùng này có thể gây liệt người hoặc tử vong! Thay vì làm động tác bẻ người mạnh bạo và đột ngột, bác sĩ Ánh khuyên nên làm nhẹ nhàng hoặc tập những động tác kéo dãn cơ đơn giản.

Nguồn giáo dục

Giải quyết tình trạng đau vai gáy

Đây là một triệu chứng thường gặp, xảy ra mọi lứa tuổi, mọi giới… Bệnh tăng lên khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Hội chứng đau vai gáy thông thường không nguy hiểm, song có thể gây ra nhiều lo lắng, khó chịu, mệt mỏi cho người bệnh, làm giảm sút sức lao động và chất lượng cuộc sống.

Nguyên nhân gây đau vai gáy
Nguyên nhân của các bệnh đau cổ, đau vai gáy thường gặp nhất là gối đầu cao khi ngủ hoặc kê đầu trên vật cứng một thời gian dài vài tiếng như: khi đi xe đò ngủ đầu tựa trên ghế dựa, nằm xem tivi… bệnh rất dễ xảy ra đối với người bắt đầu đến tuổi trung niên, với hệ mạch máu đã giảm tính dẻo dai, đàn hồi.

Ngoài ra nguyên nhân dẫn đến hội chứng đau cổ vai còn do tổn thương các mặt khớp của cột sống cổ như: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ, ung thư, lao, u hố sau…, hoặc do công việc hàng ngày dẫn đến những chấn thương nhỏ nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần như lái xe, sơn trần, làm việc với máy vi tính.

Bệnh hay gặp ở những người hay nằm nghiêng, co quắp, ngồi làm việc, sinh hoạt sai tư thế; khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn giảm, việc lưu thông máu và trao đổi ôxy trong cơ thể giảm cũng sẽ dễ bị đau nhức khi ngủ dậy. Đôi khi có những trường hợp hội chứng đau vai gáy xuất hiện tự phát mà không có nguyên nhân rõ rệt.

giai-quyet-tinh-trang-dau-vai-gay

Biểu hiện của bệnh
Biểu hiện rõ nét nhất của hiện tượng tổn thương đốt sống cổ hoặc bị chèn ép dây thần kinh hoặc bị thiếu máu cục bộ đều có thể gây nên triệu chứng đau vai gáy. Đau vai gáy thường xuất hiện vào lúc sáng sớm vừa ngủ dậy hoặc ngồi làm việc ở bàn giấy nhiều thời gian như đánh máy, cúi xuống đọc văn bản hoặc sửa chữa văn bản, soạn giáo án (các thầy cô giáo) trong một thời gian dài trong một buổi hoặc trong một ngày và có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng… Nhiều trường hợp ngoài đau vai gáy còn gây mỏi ở tay, tê tay, nặng tay cho nên khi làm các động tác dùng một hoặc hai tay nâng đỡ hoặc khi lái xe (xe máy, xe ô tô) phải làm động tác đổi tay cầm lái vì tay kia bị mỏi, nặng rất khó chịu.

Tùy theo từng mức độ của bệnh mà người bệnh có những biểu hiện khác nhau trong chứng bệnh này. Cơn đau có thể từ vùng gáy lan ra tai, cổ ở một bên. Mức độ đau từ ít đến nhiều có ảnh hưởng tới tư thế đầu – cổ. Cũng có thể cơn đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay cả ở hai bên.

Có trường hợp cơn đau bả vai cánh tay ở một bên sau một thời gian người bệnh có cảm giác tê mỏi ở tay bên đau – đây có thể là biểu hiện của rối loạn phản xạ gân xương. Cũng có những người bị đau lan sang hai bên và kèm theo cảm giác chóng mặt, hoa mắt, ù tai, đi đứng loạng choạng, khó nuốt (uống nước sặc, nghẹn), đồng thời có thể xảy ra rối loạn chức năng, liệt các dây thần kinh VIII, X, XI…

Cơn đau nhức có thể xuất hiện tự phát hoặc sau khi lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, nhiễm lạnh. Đau có thể cấp tính (xuất hiện đột ngột) hoặc mạn tính (âm ỉ, kéo dài). Đau thường có tính chất cơ học: tăng khi đứng, đi, ngồi lâu, ho, hắt hơi, vận động cột sống cổ; giảm khi nghỉ ngơi. Đau cũng có thể tăng khi thời tiết thay đổi.

Để chẩn đoán nguyên nhân, người bệnh cần được thăm khám lâm sàng. Các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán bao gồm chụp Xquang cột sống cổ, đo điện cơ và chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ.

Nhiều trường hợp tình trạng đau vai gáy kéo dài dẫn đến người bệnh luôn cảm thấy vô cùng mệt mỏi, khó chịu, không tập trung, tư duy kém… ảnh hưởng lớn tới chất lượng sống của người bệnh.

Điều trị và dự phòng như thế nào
Nếu bệnh nhẹ, cơn đau không kéo dài, bản thân người bệnh có thể tự điều trị bớt đau bằng cách dùng cao dán hoặc dùng hai bàn tay xoa bóp, gõ, vuốt cho vùng cổ, vai, gáy nhiều lần để giảm đau. Hoặc có thể đến các cơ sở vật lý trị liệu hoặc phòng khám Đông y để xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu.

Thuốc thường dùng trong điều trị hội chứng đau vai gáy bao gồm thuốc giảm đau chống viêm, phong bế thần kinh, giãn cơ và vitamin nhóm B. Tùy theo từng nguyên nhân, các bác sĩ sẽ có những phương pháp xử trí khác nhau. Nếu đã loại trừ được những nguyên nhân chèn ép, có tổn thương thì điều trị chủ yếu là dùng thuốc giảm đau thông thường, có thể bằng đường uống, bằng cao dán. Người bệnh cũng có thể dùng vitamin E 400mg, ngày uống 1 viên. Ngoài ra, có thể kết hợp biện pháp xoa, ấn, gõ nhẹ nhàng vùng gáy, bả vai, cánh tay. Tuy nhiên, người bệnh cũng cần phải nhớ rằng, không được xoa bóp bấm huyệt hoặc tập vận động trong giai đoạn cấp tính. Một số trường hợp người bệnh cần được điều trị bằng phẫu thuật: thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, vẹo cột sống…

Nên phòng đau cổ, vai, gáy từ khi chưa có biểu hiện thương tổn bằng cách khi ngồi hay đứng đều phải đúng tư thế. Khi ngủ chỉ gối đầu cao khoảng 10cm, vừa khít với độ cong sinh lý sau gáy, phần trên của vai phải đặt ở trên gối để tránh cột sống cổ và các cơ bắp bị kéo giãn. Khi xem tivi nên tựa lưng vào đệm, đầu hơi ngửa ra sau thành ghế, cổ tựa vào một điểm phù hợp với độ cong sinh lý của cổ. Nghe điện thoại nên cầm ở tay, không nên kẹp vào vai, nếu có chỗ gác tay sẽ giảm bớt độ căng các cơ ở cổ và bả vai… Những người lao động hay phải cúi (như diễn viên xiếc, đánh máy, phi công, tài xế…) nên có những bài tập riêng hàng ngày để khôi phục lại chức năng của các dây thần kinh vai, gáy.

Khi bị đau vai, gáy nên nghỉ ngơi, hạn chế vận động ít ngày, bổ sung một số khoáng chất cho cơ thể như calci, kali và các vitamin C, B, E; tắm nước ấm, xoa bóp giúp giãn cơ chỗ đau, tăng cường lưu thông trong cơ thể.

Ngoài ra, người bệnh nên thường xuyên luyện tập thể dục thể thao với các bài tập phù hợp; vận động, nghỉ ngơi, giải lao giữa giờ làm việc, nên giải lao khi phải ngồi kéo dài; tránh căng thẳng; luyện tập các động tác dưỡng sinh, kéo giãn cơ thể như ưỡn cổ, cúi đầu về phía trước, ngửa đầu ra phía sau, nghiêng đầu sang trái, sang phải, xoay tròn đầu và cổ, cử động cổ lên xuống… thường xuyên sẽ phòng và làm giảm các triệu chứng của bệnh.

Khi đau cổ, vai, gáy không xoay, vặn mạnh vì dễ gây tổn thương nặng các dây thần kinh. Không uống thuốc tùy tiện mà phải đi khám để được bác sĩ chuyên khoa điều trị đúng.
Khi triệu chứng thuyên giảm việc luyện tập dưỡng sinh sẽ giúp chúng ta vận động khớp cổ một cách nhẹ nhàng để giảm đau và nhanh chóng phục hồi. Nhằm phòng ngừa chứng đau cổ vai, chúng ta có thể tập hai động tác dưỡng sinh: ưỡn cổ, vặn cột sống cổ ngược chiều.

Điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu
Các phương pháp nhiệt có tác dụng giảm đau chống co cứng cơ giãn mạch tăng cường chuyển hóa dinh dưỡng như: hồng ngoại, chườm ngải cứu, đắp Paraphin, tắm ngâm suối bùn nóng.

Các phương pháp điện trị liệu như: Sóng ngắn có tác dụng tạo nhiệt nóng ở trong sâu, tăng cường chuyển hóa, chống phù nề, chống viêm giảm đau. Dòng xung điện có tác dụng kích thích thần kinh cơ, giảm đau, tăng cường chuyển hóa. Dòng Gavanic và Faradic làm tăng cường quá trình khử cực và dẫn truyền thần kinh đưa thuốc giảm đau vào vùng tổn thương.
Laser làm mềm, giảm đau, chống viêm, tái tạo tổ chức.

Siêu âm làm mềm tổ chức tổn thương xơ sẹo trong sâu, chống viêm, giảm đau, tăng cường chuyển hóa, tăng tải tạo tổ chức.

Kéo giãn cột sống bằng hệ thống kéo giãn kỹ thuật số: Đây là phương pháp điều trị bệnh sinh thoát vị đĩa đệm/thoái hóa đĩa đệm/thoái hóa cột sống căn bản nhất vì mục đích của phương pháp là tạo ra áp lực âm ngay trong lòng đĩa đệm nhằm giải nén, tạo điều kiện cho nhân nhầy đĩa đệm chuyển dịch hướng tâm trở về vị trí ban đầu, tăng cường các chất chuyển hóa và dinh dưỡng vào trong đĩa đệm để tái tạo tổ chức.

Đa số bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ điều trị bảo tồn bằng phương pháp vật lý trị liệu sẽ phục hồi từ 80- 90% sau 4 – 6 tuần trị liệu.

ThS. Nguyễn Vân Anh
Theo sức khỏe đời sống

Dấu hiệu trầm cảm ở nam giới

Theo TS Ian A. Cook, giáo sư tâm lý tại Đại học California (Hoa Kỳ), ở nam giới, có một số biểu hiện trầm cảm đặc trưng như mệt mỏi, dễ bị kích động, rối loạn tình dục…

1. Mệt mỏi

Theo một nghiên cứu của Mỹ trên 6.421 người, mệt mỏi là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của bệnh trầm cảm ở nam giới.

Người mắc bệnh trầm cảm thường phải trải qua một loạt những biến đổi về cả thể chất và tinh thần. Bởi vậy, họ dễ cảm thấy mệt mỏi và xuất hiện triệu chứng suy giảm tâm thần – vận động (rối loạn tâm lý dẫn tới suy giảm trong tốc độ suy nghĩ, chậm chạp trong cử động và lời nói).

dau-hieu-tram-cam-o-nam-gioi

2. Đau bụng hoặc đau lưng

Theo khảo sát của Viện Sức khoẻ tâm thần Mỹ, nam giới hiếm khi nhận ra mối liên hệ giữa trầm cảm với các triệu chứng rối loạn tiêu hóa (táo bón, tiêu chảy) và đau mãn tính (đau đầu, đau lưng).

Trong nghiên cứu của Đại học Oxford (Anh), các nhà khoa học sử dụng phương pháp chụp ảnh não bộ để kiểm tra phản ứng của các đối tượng tham gia với sự đau đớn khi trong trạng thái tinh thần thấp. Kết quả cho thấy, khi con người cảm thấy chán nản, hoạt động của vùng tiết chế cảm xúc trong mạch thần kinh bị cản trở, từ đó làm tăng cảm giác đau đớn hơn so với mức bình thường.

3. Rối loạn lo âu

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa chứng trầm cảm và rối loạn lo âu.

Theo TS Ian A. Cook, trong trường hợp này, có vẻ như nam giới là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều hơn dù theo ước tính, nguy cơ mắc chứng rối loạn lo âu do trầm cảm ở nam giới và nữ giới là như nhau. Khác với thói quen che giấu nỗi buồn, nam giới lại có xu hướng bộc bạch những lo lắng của bản thân. Trầm cảm dễ khiến họ lo lắng hơn về công việc, sợ rằng một khi bị mất việc, họ sẽ không còn đủ khả năng lo cho bản thân và gia đình.

4. Dễ bị kích động

Nam giới mắc bệnh trầm cảm rất dễ nổi cáu và dễ bị kích động vì những chuyện nhỏ nhặt.

Theo Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ Mayo Clinic (Mỹ), nam giới thường không chấp nhận rằng mình bị trầm cảm và tìm cách né tránh các biện pháp điều trị. Chính vì vậy, họ đổ dồn sự tức giận vào người thân, bạn bè và thậm chí cả người lạ. Đàn ông trầm cảm hay có những lời nói thô tục xúc phạm vợ mình, cãi tay đôi với bạn thân hoặc đánh nhau trong quán bar. Một số người còn uống rượu khi lái xe, quan hệ tình dục không an toàn với phụ nữ không quen biết hoặc thậm chí tự tử.

5. Nghiện rượu

Khảo sát của Viện Nghiên cứu về tình trạng nghiện rượu và lạm dụng rượu Hoa Kỳ (NIAAA) cho thấy, 1/3 số người bị trầm cảm gặp các vấn đề liên quan tới rượu.

Theo TS Ian A. Cook, tình trạng này có thể diễn ra ở cả nam và nữ giới, tuy nhiên, đối tượng bị ảnh hưởng nhiều hơn là nam giới bởi họ thường tìm đến rượu hoặc ma túy như một thứ mặt nạ che chắn cảm xúc bản thân đang muốn giấu kín, thay vì tìm tới các trung tâm y tế.

6. Rối loạn tình dục

Trầm cảm là một trong những tác nhân chủ chốt làm giảm ham muốn tình dục và rối loạn cương dương ở nam giới.

Theo các nhà khoa học, ham muốn tình dục xuất phát từ não bộ và được kích hoạt bởi các chất chuyển hóa thần kinh giữ vai trò truyền tín hiệu giữa các tế bào trong não bộ và kích thích máu lưu thông tới bộ phận sinh dục. Tuy nhiên, khi chủ thể bị trầm cảm, chất này rơi vào tình trạng mất cân bằng.

Theo afamily

Ảnh hưởng của việc mất ngủ đến sức khỏe

Nhịp sống căng thẳng, công việc áp lực, bận rộn khiến thời gian nghỉ ngơi của con người ngày càng rút ngắn. Thời gian hoạt động, làm việc tăng dần, khiến nhiều người hình thành thói quen ngủ ít và lâu dần là mất ngủ.

Thực tế cho thấy, giấc ngủ là nhu cầu không thể thiếu với mỗi người, nó tạo diều kiện cho sự nghỉ ngơi tạm thời của não bộ và tất cả các cơ quan trong cơ thể. Bất kể vì nguyên nhân gì, nếu ngủ quá ít sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, cuộc sống và công việc của chúng ta.

Những phiền phức đầu tiên của chứng mất ngủ, là sự căng thẳng thần kinh, cảm giác ức chế, khó chịu, hay cáu gắt, giảm tập trung trong công việc… Ban đầu, những triệu chứng này sẽ ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống hàng ngày, nếu không được chữa trị và khắc phục kịp thời, sẽ gây ra những tổn thương về hệ thần kinh như trầm cảm, tâm thần, gây một số bệnh nguy hiểm như tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch, béo phì…

mat-ngu

Những nguyên nhân gây mất ngủ

Mất ngủ do sinh hoạt:

– Những lo âu, căng thẳng trong cuộc sống, công việc hàng ngày không được giải tỏa kịp thời sẽ gây cảm giác khó chịu, ức chế cho não bộ, lâu dần dẫn đến khó ngủ và mất ngủ.

– Thói quen hút thuốc lá, uống nhiều cà phê, ăn quá no vào ban đêm gây cảm giác đầy bụng, khó chịu khi ngủ.

– Công việc ca kíp, thường xuyên thức đêm cũng là thói quen không tốt cho một giấc ngủ ổn định và sâu giấc.

– Do phân bổ giờ giấc ngủ không hợp lý, ngủ quá nhiều vào ban ngày, ngủ ít vào đêm.

Mất ngủ do bệnh lý:

– Một số bệnh như viêm xoang, viêm loét dạ dày, đại tràng, zona thần kinh, xương khớp… gây cảm giác đau đớn, ngứa ngáy, khó chịu, làm người bệnh không ngủ được.

– Tác dụng phụ của một số loại thuốc trị bệnh cũng gây ra chứng mất ngủ.

– Ảnh hưởng của các bệnh về hệ thần kinh như trầm cảm, đau đầu kinh niên…

Các cách cải thiện giấc ngủ, hỗ trợ cho chứng bệnh mất ngủ

Đa số người bệnh khi gặp phải triệu chứng mất ngủ đều tìm đến các loại thuốc ngủ. Phương pháp này có thể cải thiện ngay lập tức giấc ngủ nhưng về lâu dài sẽ gây hiện tượng nhờn thuốc, phụ thuộc vào thuốc và những tổn thương cho hệ thần kinh, có thể gây trầm cảm. Để cải thiện tốt nhất căn bệnh mất ngủ, người bệnh nên thực hiện các phương pháp tự nhiên, giúp cải thiện và nâng cao dần dần chất lượng cũng như thời gian ngủ như:

– Thường xuyên vệ sinh nơi ngủ sạch sẽ.

– Tập thể dục nhẹ nhàng vào buổi tối trước khi đi ngủ.

– Uống 1 ly sữa nóng trước khi đi ngủ: giúp cung cấp axit amin phenylalanine, tryptophan giúp ngủ tốt.

– Không ngủ trưa nhiều, tránh tối khó ngủ.

Theo afamily

Căng thẳng kéo dài có ảnh hưởng như thế nào

Căng thẳng kéo dài thực sự không tốt cho sức khỏe. Nó có thể là nguyên nhân gây ra một loạt bệnh như: huyết áp cao, bệnh tim, bệnh nhiễm trùng, nhức đầu, trầm cảm…

Dưới đây là một vài ảnh hưởng xấu mà bạn phải đối phó khi liên tục rơi vào trạng thái căng thẳng.

1. Tăng cân

Một trong những mối nguy hiểm dễ thấy nhất của căng thẳng là tăng cân. Nhiều phụ nữ có xu hướng đối phó với stress bằng cách ăn liên tục mà không hề chú ý đến những gì mình ăn. Từ đó tăng cân xảy ra và phần lớn là chủ yếu là tích tụ mỡ ở phần bụng. Vì vậy, một mẹo hữu ích để bạn tránh tăng cân là hãy cố gắng giải tỏa căng thẳng.

cang-thang-keo-dai-co-anh-huong-nhu-the-nao

2. Cao huyết áp

Rõ ràng là tình trạng căng thẳng dẫn đến cao huyết áp. Khi bạn căng thẳng, tim bạn phải làm việc với một cường độ cao hơn để đảm bảo cho hoạt động cơ thể diễn ra đúng cách. Nếu tình trạng căng thẳng liên tục kéo dài sẽ làm tăng áp lực trong máu và ngược lại, làm tăng nguy cơ huyết áp cao. Vì vậy, bất cứ khi nào bạn thấy có dấu hiệu căng thẳng, hãy dành vài phút để nghỉ ngơi để huyết áp giảm xuống.

3. Tăng nguy cơ bị bệnh tim

Cùng với huyết áp cao, sự căng thẳng theo thời gian có thể làm cho chúng ta dễ bị bệnh tim mạch và suy giảm sức k hỏe tổng thể nói chung. Hãy chọn những biện pháp đơn giản để đối phó với căng thẳng như: chạy bộ hoặc tập yoga. Các biện pháp này không những rất hữu ích trong việc giảm căng thẳng mà còn làm cho tim bạn khỏe mạnh hơn để ngăn ngừa các bệnh về tim trong tương lai.

4. Nhức đầu

Đau nhức đầu là một trong những nguy cơ tồi tệ nhất của sự căng thẳng. Khi bạn trở nên căng thẳng, cơ thể của bạn gây trở ngại cho não trong việc kiểm soát các suy nghĩ và hành động, khiến bạn đau nhức đầu. Thuốc giảm đau có thể giúp bạn giảm đau tạm thời nhưng cách tốt nhất để ngăn chặn đau đầu sẽ được để có được loại bỏ căng thẳng trong cuộc sống của bạn.

5. Trầm cảm

Một sự nguy hiểm rất phổ biến của căng thẳng là nó có thể khiến bạn buồn bã vô độ và cuối cùng dẫn đến trầm cảm. Sau một thời gian, cơ thể của bạn bị kiệt sức. Vào thời điểm đó bạn không tìm thấy hạnh phúc và không có động lực cho bất kì việc gì. Điều này đặc biệt nguy hiểm bởi vì nếu lý do bạn bị căng thẳng là vì công việc hay chăm sóc trẻ em thì bạn sẽ không có động lực để tiếp tục làm việc, trở nên căng thẳng và nhập vào một vòng luẩn quẩn đó là rất khó thay đổi. Hãy loại bỏ căng thẳng để ngăn chặn tình trạng bệnh tâm thần này rất nghiêm trọng này xảy ra.

6. Nhiều khả năng bị bệnh

Khi cơ thể bạn đang phải chịu nhiều áp lực nó sẽ phải đối mặt với khả năng bị nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do hệ miễn dịch và đề kháng bị suy giảm. Những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất mà bạn có thể mắc phải là từ cảm lạnh thông thường đến viêm phổi. Làm thế nào để cơ thể bạn chống lại được các bệnh nhiễm trùng? Cách tốt nhất là hãy nghỉ ngơi và giải tỏa tâm trạng căng thẳng.

7. Ảnh hưởng đến em bé trong bụng mẹ

Phụ nữ mang thai nếu bị căng thẳng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé. Những đứa trẻ của những người phụ nữ đã trải qua mức độ cực kỳ căng thẳng khi mang thai sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn so với những đứa trẻ khác. Đồng thời, chúng cũng có khả năng đối phó với căng thẳng trong cuộc sống kém hơn, sức khỏe cũng yếu hơn so với những đứa trẻ khác. Vì vậy, khi mang thai, hãy tạo cho mình môi trường sống thanh thản, tránh căng thẳng để giảm ảnh hưởng xấu đến em bé trong bụng.

Theo afamily

Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS)

 Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) có rất nhiều loại triệu chứng, bao gồm cả thay đổi tâm trạng, ngực mềm, thèm ăn, mệt mỏi, khó chịu và trầm cảm.

Định nghĩa
Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) có rất nhiều loại triệu chứng, bao gồm cả thay đổi tâm trạng, ngực mềm, thèm ăn, mệt mỏi, khó chịu và trầm cảm. Ước tính 3 của mỗi 4 phụ nữ có trải nghiệm một số hình thức của hội chứng tiền kinh nguyệt. Những vấn đề này có xu hướng cao điểm ở độ tuổi cuối 20 và đầu 30.

Triệu chứng có xu hướng tái diễn trong một mô hình dự đoán được. Tuy nhiên, những thay đổi về thể chất và tình cảm trải nghiệm với hội chứng tiền kinh nguyệt có thể đặc biệt mạnh trong một vài tháng và chỉ hơi đáng chú ý trong những người khác.

Tuy nhiên, không phải để cho những vấn đề này kiểm soát cuộc sống. Điều chỉnh phương pháp điều trị và lối sống có thể giúp giảm bớt hoặc quản lý các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt.

tien-kinh0nguyet

Các triệu chứng

Các dấu hiệu thường gặp nhất và triệu chứng liên quan với hội chứng tiền kinh nguyệt bao gồm:

Tình cảm và các triệu chứng về hành vi.

Căng thẳng hay lo âu.

Tâm trạng chán nản.

Tính khí thất thường và khó chịu hoặc tức giận.

Thay đổi cảm giác ngon miệng và thèm ăn.

Vấn đề đi vào giấc ngủ (mất ngủ).

Xa lánh xã hội.

Nghèo nàn tập trung.

Đau cơ hoặc khớp.

Nhức đầu.

Mệt mỏi.

Trọng lượng đạt được từ giữ nước.

Bụng đầy hơi.

Đau vú.

Mụn trứng cá bùng phát.

Táo bón hoặc tiêu chảy.

Mặc dù danh sách các dấu hiệu và triệu chứng có tiềm năng lâu dài, hầu hết phụ nữ có trải nghiệm hội chứng tiền kinh nguyệt chỉ là một vài trong số những vấn đề này.

Đối với một số phụ nữ, nỗi đau thể chất và cảm xúc căng thẳng nghiêm trọng đủ để ảnh hưởng đến thói quen hàng ngày và hoạt động của mình. Đối với hầu hết các phụ nữ, dấu hiệu và triệu chứng biến mất là thời kỳ kinh nguyệt bắt đầu.

Nhưng một phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt ít có triệu chứng mỗi tháng. Mẫu này của PMS có chỉ định của tâm thần của nó – tiền kinh nguyệt rối loạn hoảng loạn (PMDD). PMDD là một dạng nặng của hội chứng tiền kinh nguyệt có dấu hiệu và triệu chứng bao gồm trầm cảm nặng, cảm giác tuyệt vọng, giận dữ, lo lắng, lòng tự trọng thấp, khó tập trung, khó chịu và căng thẳng. Một số phụ nữ bị PMS nghiêm trọng có thể có một chứng rối loạn tâm thần tiềm ẩn.

Đến gặp bác sĩ khi

Nếu không có may mắn quản lý hội chứng tiền kinh nguyệt với những thay đổi lối sống, và các dấu hiệu và triệu chứng của PMS là nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và các hoạt động hàng ngày, gặp bác sĩ.

Nguyên nhân

Chính xác những gì gây ra hội chứng tiền kinh nguyệt là không rõ, nhưng một số yếu tố có thể góp phần vào tình trạng này:

Chu kỳ thay đổi về kích thích tố. Dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt thay đổi với những biến động nội tiết và biến mất với thời kỳ mang thai và thời kỳ mãn kinh.

Thay đổi hóa học trong não. Biến động của serotonin, một hóa chất não (dẫn truyền thần kinh) được cho là đóng một vai trò quan trọng ở các bang tâm trạng, có thể gây ra các triệu chứng PMS. Không đủ lượng serotonin có thể góp phần làm trầm cảm tiền kinh nguyệt, cũng như mệt mỏi, thèm ăn và vấn đề ngủ.

Trầm cảm. Một số phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt nặng đã không được chẩn đoán trầm cảm, mặc dù một mình trầm cảm không gây ra các triệu chứng.

Căng thẳng. Stress có thể làm nặng thêm một số triệu chứng của PMS.

Thói quen ăn uống nghèo. Một số triệu chứng PMS có liên quan đến các mức thấp của sinh tố và khoáng chất. Có thể đóng góp khác PMS bao gồm ăn nhiều thức ăn mặn có thể gây giữ nước, và uống rượu và đồ uống có chứa cafêin có thể gây rối loạn mức độ năng lượng và tâm trạng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Không phát hiện chất độc hoặc các xét nghiệm để chẩn đoán tích cực hội chứng tiền kinh nguyệt. Bác sĩ có thể thuộc triệu chứng cụ thể để PMS nếu nó là một phần của mẫu tiền kinh nguyệt dự đoán được. Để giúp thiết lập một mẫu tiền kinh nguyệt, bác sĩ có thể có:

Giữ một cuốn nhật ký. Ghi lại các triệu chứng và dấu hiệu trên lịch hoặc trong một cuốn nhật ký trong ít nhất hai chu kỳ kinh nguyệt. Lưu ý là ngày mà lần đầu tiên thông báo các triệu chứng PMS, cũng như ngày biến mất. Cũng chắc chắn để đánh dấu thời gian trong ngày bắt đầu và kết thúc.

Điền vào một bảng câu hỏi. Vào ngày đầu tiên của thời kỳ của mình, hãy điền vào một bảng câu hỏi. Các câu hỏi liên quan đến bất kỳ triệu chứng PMS trải nghiệm trong hai tuần trước. Công cụ này giúp bác sĩ biết liệu có thể có lợi từ việc đánh giá thêm.

Phương pháp điều trị và thuốc

Bác sĩ có thể quy định một hoặc nhiều thuốc trong hội chứng tiền kinh nguyệt. Sự thành công của thuốc trong việc làm giảm các triệu chứng thay đổi từ người phụ nữ này đến phụ nữ khác. Thông thường thuốc theo quy định hội chứng tiền kinh nguyệt bao gồm:

Thuốc chống trầm cảm. Chọn lọc các chất ức chế tái hấp thu serotonin (SSRI), trong đó bao gồm fluoxetine (Prozac, Sarafem), paroxetin (Paxil), sertraline (Zoloft) và những loại khác, đã thành công trong việc giảm các triệu chứng như mệt mỏi, thèm ăn, khó ngủ và là dòng đầu tiên cho điều trị PMS hoặc PMDD trầm trọng. Các thuốc này thường được thực hiện hàng ngày. Nhưng đối với một số phụ nữ với PMS, sử dụng các thuốc chống trầm cảm có thể được giới hạn trong hai tuần trước khi hành kinh bắt đầu.

Chống viêm không steroid (NSAIDs). Dùng trước hoặc lúc bắt đầu thời kỳ kinh, NSAID như ibuprofen (Advil, Motrin, những loại khác) hay naproxen sodium (Aleve) có thể dễ dàng giúp ích đau bụng và đau vú.

Thuốc lợi tiểu. Khi tập thể dục và hạn chế lượng muối ăn không đủ để làm giảm sự tăng cân, sưng tấy và đầy hơi của PMS, dùng thuốc lợi tiểu, có thể giúp cơ thể đổ nước thừa thông qua thận. Spironolactone (Aldactone) là một thuốc lợi tiểu có thể giúp giảm một số triệu chứng của PMS.

Uống tránh thai. Những thuốc theo toa thuốc ngăn chặn sự rụng trứng và ổn định nội tiết thất thường, qua đó cung cấp cứu trợ từ các triệu chứng PMS. Yaz, một loại thuốc ngừa thai chứa progestin drospirenone, có hành vi tương tự như các spironolactone lợi tiểu, đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với thuốc kiểm soát sinh thường xuyên trong việc làm giảm các triệu chứng thể chất và tình cảm của PMS và PMDD.

Medroxyprogesterone acetate (Depo-Provera). Đối với PMS nặng hoặc PMDD, tiêm có thể được sử dụng để tạm thời ngừng sự rụng trứng. Tuy nhiên, Depo-Provera có thể gây ra sự gia tăng trong một số các dấu hiệu và triệu chứng trải nghiệm cùng với PMS, chẳng hạn như tăng sự thèm ăn, tăng cân, nhức đầu và tâm trạng chán nản.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Đôi khi có thể quản lý hoặc làm giảm các triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt bằng cách làm thay đổi cách ăn uống, tập thể dục và phương pháp tiếp cận cuộc sống hàng ngày. Hãy thử những cách tiếp cận:

Sửa đổi chế độ ăn uống.

Ăn nhỏ hơn, bữa ăn thường xuyên hơn để giảm đầy hơi và cảm giác no.

Hạn chế muối và thức ăn mặn để giảm đầy hơi và giữ nước.

Chọn thực phẩm giàu carbohydrate, chẳng hạn như trái cây, rau và ngũ cốc.

Chọn thực phẩm giàu canxi. Nếu không thể chịu đựng được các sản phẩm sữa hoặc không nhận được đầy đủ canxi trong chế độ ăn uống, có thể cần bổ sung canxi mỗi ngày.

Hãy bổ sung vitamin hàng ngày.

Tránh chất caffeine và rượu.

Kết hợp tập thể dục thành thói quen thường xuyên.

Tham gia ít nhất 30 phút đi bộ nhanh, đạp xe, bơi lội hoặc hoạt động aerobic khác hầu hết các ngày trong tuần. Thường xuyên tập thể dục hàng ngày có thể giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và làm giảm các triệu chứng như mệt mỏi và tâm trạng của trầm cảm.

Giảm căng thẳng.

Nhận được rất nhiều giấc ngủ.

Thực hành tiến bộ, cơ bắp thư giãn hoặc tập hít thở sâu để giúp giảm đau đầu, lo lắng hoặc khó ngủ (mất ngủ).

Hãy thử yoga hoặc massage để thư giãn và giảm stress.

Ghi lại các triệu chứng cho một vài tháng.

Lưu giữ hồ sơ để xác định kích hoạt và thời gian của các triệu chứng. Điều này sẽ cho phép can thiệp với các chiến lược có thể giúp để giảm bớt chúng.

Thay thế thuốc

Dưới đây là những gì được biết về hiệu quả của một số trong những phổ biến hơn các sản phẩm bổ sung và biện pháp sử dụng để làm dịu các triệu chứng của hội chứng tiền kinh nguyệt:

Canxi. Tiêu thụ 1.200 milligrams (mg) và chế độ ăn uống bổ sung canxi hàng ngày, chẳng hạn như cacbonat canxi nhai (Tums, Rolaids, những loại khác), có thể làm giảm triệu chứng thể chất và tâm lý của PMS. Thường xuyên, lâu dài sử dụng cacbonat canxi cũng làm giảm nguy cơ loãng xương.

Magnesium. 400 mg magiê bổ sung hàng ngày có thể giúp giảm giữ nước, đau và sưng vú ở phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt.

Vitamin B-6. Một liều hàng ngày từ 50 đến 100 mg vitamin B-6 có thể giúp một số phụ nữ có triệu chứng khó PMS.

Vitamin E. Vitamin này, được chụp trong 400 đơn vị quốc tế hàng ngày, có thể dễ dàng triệu chứng PMS bằng cách giảm việc sản xuất prostaglandins, hormone giống như chất gây ra đau bụng và đau vú.

Thảo dược. Một số báo cáo phụ nữ giảm các triệu chứng PMS với việc sử dụng các loại thảo mộc như cohosh đen, gừng, lá mâm xôi, bồ công anh, chasteberry và dầu anh thảo vào buổi tối. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả của các loại thảo mộc cho là giúp giảm bớt những ảnh hưởng của PMS. Cục Quản lý dược và thực phẩm không quy định các loại thảo mộc. Điều đó có nghĩa là an toàn và hiệu quả không phải là minh chứng. không có đảm bảo rằng sản phẩm mua có chứa các thành phần hoạt động trên nhãn hoặc là nó không bị ô nhiễm với các chất khác có thể gây hại.

Kem progesterone tự nhiên. Đây là những nguồn gốc từ khoai mỡ tự nhiên và đậu nành. Một số phụ nữ báo cáo rằng những loại kem làm giảm triệu chứng. Không có nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả của nó.

Nguồn sức khoẻ đời sống

Bệnh ruột kích thích

Hội chứng ruột kích thích là bệnh do rối loạn chức năng của ruột dẫn đến đau thắt ruột, đầy hơi, sình hơi…

Hội chứng này còn có nhiều tên gọi khác như bệnh đại tràng chức năng; viêm đại tràng co thắt; do bệnh biểu hiện các triệu chứng từng đợt lúc nặng lúc nhẹ nên trước kia còn gọi là viêm đại tràng mạn tính. Nhưng hầu hết những tên gọi này đều không đúng, vì nó không dẫn đến viêm và không nên lẫn lộn với những rối loạn khác, như viêm loét đại tràng. Mặc dù bệnh lành tính, không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

ruot-kich-thich
Trong một số trường hợp mắc hội chứng ruột kích thích có táo bón, số khác có kèm tiêu chảy và một số thì có cả hai dấu hiệu trên. Thỉnh thoảng những người bị hội chứng ruột kích thích có những cơn đau thắt ruột gây cảm giác phải đi tiêu nhưng không thể thực hiện được. Bệnh thường có triệu chứng nổi bật tại hệ tiêu hóa. Đau bụng là triệu chứng thường gặp, người bệnh thường có cảm giác đau ở vùng hạ vị hoặc hố chậu trái, cũng có thể đau ở bên phải hoặc thượng vị, đau chạy dọc theo khung đại tràng tức dọc theo khung của vùng bụng. Đau có thể có hoặc không có vị trí rõ ràng, đôi khi người bệnh chỉ cảm giác tức nặng, ấm ách khó chịu và đau bụng thường giảm đi sau khi đại tiện.

Trướng bụng cũng là triệu chứng thường gặp, sau ngủ dậy có thể bị nhẹ, sau đó tăng dần. Người bệnh có thể biểu hiện bằng tiêu chảy hoặc táo bón, đôi khi bị tiêu chảy xen lẫn từng đợt với táo bón. Trong cơn đau, người bệnh đau quặn bụng bắt buộc phải đi tiêu ngay không kiềm chế được và luôn có cảm giác chưa đi hết phân sau khi đại tiện. Ngoài ra, có các biểu hiện nóng ở vùng thượng vị, ăn nhanh no, buồn nôn, cảm giác có vướng ở vùng họng.

Người bệnh không sụt cân, siêu âm bụng và xét nghiệm đều bình thường, chụp X-quang đại tràng có thể có hình ảnh tăng hoặc giảm co bóp hay rối loạn co bóp, nhưng khi soi toàn bộ đại tràng thì niêm mạc hoàn toàn bình thường. Xét nghiệm phân cũng không có gì thay đổi rõ rệt.

Cần ăn uống, vận động hợp lý
Nguyên nhân của hội chứng ruột kích thích đến nay vẫn chưa được biết đến và chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Theo một số nghiên cứu thì hội chứng này là rối loạn chức năng bởi vì không có một dấu hiệu bệnh nào được tìm thấy khi khám đại tràng. Nó làm cho người bệnh khó chịu, mất tự tin; nhưng bệnh này hoàn toàn không gây hại đến đường ruột, không gây chảy máu hay một bệnh trầm trọng nào ở ruột.

Mặc dù là bệnh lành tính, không gây tử vong nhưng để điều trị dứt không phải dễ. Việc điều trị chủ yếu làm giảm triệu chứng giúp cho người bệnh đỡ khó chịu. Chế độ ăn rất quan trọng, nên có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý, hạn chế sử dụng những thức ăn dễ kích thích như bia rượu, cà phê, thức ăn cay chua, chất béo, thức ăn dễ tạo men. Chế độ làm việc điều độ, tăng hoạt động thể lực, cố gắng tạo được giấc ngủ sâu, ngủ đủ, tránh tình trạng căng thẳng… sẽ góp phần làm cho hội chứng ruột kích thích luôn được ổn định và cũng là cách đề phòng hữu hiệu nhất.
BS Hồ Văn Cưng
Theo TNO

Trị triệt để chứng mồ hôi trộm

Nhiều trẻ sơ sinh thường hay mắc chứng ra mồ hôi nhiều, nhất là ban đêm (còn gọi là ra mồ hôi trộm) khiến các bà mẹ lo lắng, nếu trẻ vẫn ăn ngủ và sinh hoạt bình thường, ra mồ hôi ở trẻ được cho là vấn đề không đáng lo ngại, nhưng nếu việc ra mồ hôi làm trẻ bứt rứt, ăn ngủ không yên, các bà mẹ hãy cẩn thận tìm hiểu nguyên nhân để nhanh chóng khắc phục tình hình.

Nỗi lo từ các bà mẹ

Chị T. Ngân, ngụ Q. Bình Thạnh (TP. HCM) có bé gần tròn 6 tháng tuổi bày tỏ băn khoăn: “Không hiểu sao ban đêm bé nhà mình ngủ rất hay ra mồ hôi. Khi mới sinh, bà ngoại đã mua gối vỏ đậu để bé nằm đỡ ra mồ hôi nhưng đêm con nằm, gối vẫn ướt đẫm. Ban ngày mở quạt nhưng cứ bú một lúc, mồ hôi lại lấm tấm trên trán. Không biết có phải do thân nhiệt con bé nóng quá hay không nữa!”.

Đem băn khoăn hỏi những người xung quanh, chị nhận được nhiều ý kiến chia sẻ khác nhau, người nói bé bị thiếu canxi, người kêu chị ủ con kín quá… Mỗi người một ý kiến bà mẹ trẻ càng băn khoăn.

Chị Phương Anh (Q.2, TP. HCM) có cậu con trai khá bụ bẫm được 3 tháng cũng gặp tình trạng tương tự. Chị cho biết dù đã phơi nắng bé từ lúc được 2 tuần, sáng nào cũng cho phơi nắng đều đặn nhưng đêm ngủ là mồ hôi bé ra ướt đẫm. “Bế con bú mà mồ hôi sau gáy con ra ướt hết tay, không biết làm thế nào cho hết tình trạng này?”, chị lo lắng. Đây cũng là mối quan tâm của không ít bà mẹ khác.
1365543786-mohoitrom_lamme_eva1.jpg3

Vì sao trẻ hay ra mồ hôi trộm?

Không khó gặp tại các phòng khám trẻ em, câu hỏi các bác sĩ thường gặp bên cạnh những vấn đề như: “cháu hay bị khò khè”, “cháu cao và cân nặng như thế này có nhỏ?”… luôn là: “sao đêm cháu ngủ ra mồ hôi nhiều quá”.

Theo các bác sĩ Nhi, việc trẻ sơ sinh hay ra mồ hôi khá phổ biến và điều này được giải thích là do hệ thần kinh thực vật của trẻ lúc này chưa ổn định, đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện.

Chính vì vậy, trẻ ra mồ hôi nhiều. Mặt khác, việc ra mồ hôi cũng phụ thuộc vào sự điều hòa của hệ thần kinh. Rối loạn hệ thần kinh thực vật, hệ giao cảm cũng sẽ khiến trẻ ra mồ hôi nhiều hơn.

Thêm một nguyên nhân khiến trẻ ra mồ hôi nhiều được các bác sĩ cho biết đó là thiếu vitamin D. Các bé sinh sớm, thiếu cân, bị rối loạn tiêu hóa kéo dài cũng thường thiếu vitamin D. Thiếu vitamin D, trẻ hay ra mồ hôi trộm, bứt rứt, ngủ không yên, hay giật mình. Giai đoạn này, hệ xương của trẻ phát triển mạnh, chính vì vậy cần bổ sung canxi cho trẻ.

Các bác sĩ thường cho trẻ uống thêm vitamin D và khuyên các bà mẹ nên thường xuyên phơi nắng con để bổ sung vitamin D cho bé.

Mặt khác, nguyên nhân khách quan khiến trẻ ra mồ hôi nhiều còn do cha mẹ, những người chăm bé gây ra. Việc ủ ấm bé quá cũng khiến bé nóng nực mà ra mồ hôi nhiều. Nhiều bà mẹ hay quấn con quá kỹ trong khăn, trẻ ngủ lại chặn nhiều chăn gối xung quanh khiến bé ngột ngạt, nóng bức. Phòng ngủ đóng bít cửa trong thời tiết nắng nóng như hiện nay cũng có thể khiến bé khó chịu.

Khắc phục chứng ra mồ hôi ở trẻ

Nếu trẻ ra mồ hôi nhưng vẫn ăn ngủ, sinh hoạt bình thường, cha mẹ có thể không cần quá lo lắng, chỉ cần lau khô cho bé, để ngủ thoáng mát là được. Mẹ nên lấy khăn khô lau lưng và đầu bé. Nếu không lau khô, mồ hôi ra nhiều có thể sẽ thấm ngược trở lại vào cơ thể khiến bé dễ bị nhiễm lạnh.

Với trẻ ra mồ hôi, đêm ngủ bứt rứt khó chịu, quấy khóc do thiếu vitamin D, cha mẹ cần bổ sung ngay cho trẻ bằng cách tắm nắng hoặc uống thêm vitamin D theo chỉ định của bác sĩ.

Cha mẹ cũng cần chú ý luôn giữ cho trẻ được thoáng mát. Phòng ngủ của bé nên thông thoáng, quần áo chất liệu nhẹ nhàng. Chỗ chơi của bé cũng cần mát mẻ, nên hạn chế đưa bé ra ngoài trời nắng nếu không cần thiết.

Ngoài ra, nếu trẻ ra nhiều mồ hôi, cha mẹ cũng cần chú ý tắm rửa, lau mát người cho bé để tránh rôm sảy, trẻ bứt rứt khó chịu trong người.

Phơi nắng cho trẻ đúng cách

Phơi nắng giúp bé bổ sung thêm canxi, vitamin D nhưng phơi nắng thế nào để cơ thể bé hấp thu được tốt nhất? Nhiều người vẫn cho con đi phơi nắng đều đặn nhưng hiệu quả lại không cao, đó hoàn toàn do cha mẹ chưa biết cách phơi nắng cho con sao cho khoa học. Khi phơi nắng, cha mẹ cần chú ý những điều như sau:

– Mẹ nên tắm nắng cho bé đều đặn. Ánh nắng tốt nhất là lúc trước 8 giờ sáng (thường từ 6g30 – 7h30). Vào mùa đông, việc tắm nắng cho bé có thể diễn ra chậm hơn, vào khoảng 9 – 10 giờ. Thời lượng tắm nắng khoảng 15 – 30 phút.

– Nên chọn nơi tắm nắng ít gió lùa để tránh bé bị nhiễm lạnh – như bạn biết đấy, hệ hô hấp của trẻ lúc này còn khá yếu.

– Hãy để da bé tiếp xúc với ánh nắng càng nhiều càng tốt. Cha mẹ nên kéo áo lên phơi để da bé hấp thu được ánh nắng tốt nhất.

– Khi phơi nắng, chú ý cần tránh không để ánh nắng chiếu trực tiếp vào mắt, đầu bé vì tia cực tím khá mạnh có thể khiến não, mắt bé bị tổn thương.

– Hãy để các bộ phận cơ thể trẻ lần lượt tiếp xúc với ánh nắng. Ba mẹ có thể phơi lần lượt từ lưng, bụng, chân…

Nguồn eva