Tag Archives: kháng sinh

Bùng phát dịch dại vào mùa hè

Bộ Y tế khuyến cáo, tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do virút gây ra và có thể gây thành dịch lớn. 6 thông điệp dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về dịch bệnh này và các biện pháp phòng chống:

Theo báo cáo của Bộ Y tế trình Chính phủ, thống kê từ 10 tỉnh: Thanh Hóa, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Nam, trong 4 tháng đầu năm 2014, có 14 người mắc bệnh dại đã tử vong. Dại là bệnh truyền nhiễm từ chó, mèo lây sang người qua vết cắn, nếu đã phát bệnh thì tỷ lệ tử vong là 100%. Bệnh đã xuất hiện ở nhiều tỉnh, đang có xu hướng gia tăng. Làm thế nào để phòng chống và ngăn chặn bệnh dại?

Bệnh dại lây truyền từ chó mèo sang người qua vết cắn

bung-phat-dich-dai-vao-mua-he
Các loài động vật dễ bị bệnh dại là chó, mèo, lừa, ngựa, bò, cừu, lợn, chồn, cáo, dơi… Virut dại có trong nước bọt của động vật bị dại, lây bệnh cho người hay động vật khác qua vết cắn, vết cào, vết liếm (sau đây gọi chung là vết cắn) nhưng không bao giờ lây qua được da lành.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể người qua vết cắn, virut theo dây thần kinh lên não với vận tốc khoảng 3mm/giờ, gây tổn thương thần kinh trung ương. Virut nhân lên trong não, rồi di chuyển theo thần kinh đến các cơ quan như tuyến nước bọt, thận, phổi, tim, gan… Ở tuyến nước bọt, virut nhân lên số lượng lớn, tạo ra nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất. Kể từ ngày virut vào cơ thể người, thời gian ủ bệnh rất thay đổi từ 1 tuần đến trên 1 năm, trung bình 1 – 2 tháng, phụ thuộc vào số lượng virut, khoảng cách từ vết cắn đến thần kinh trung ương. Thực tế cho thấy: tỷ lệ phát bệnh dại và tử vong cao nhất từ vết cắn ở mặt, trung bình ở tay, thấp hơn là ở chân.

Phát hiện kịp thời bệnh dại
Thời kỳ ủ bệnh được tính từ khi bị chó cắn đến khi phát bệnh, đây là khoảng thời gian quý báu để cứu sống người bệnh. Dấu hiệu của thời kỳ này chỉ duy nhất là vết cắn. Vì vậy, người bị chó cắn phải đi khám để tiêm phòng bệnh dại là việc làm quan trọng nhất.

Thời kỳ tiền triệu là các dấu hiệu xuất hiện trước khi phát bệnh dại, bệnh nhân có biểu hiện lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn. Lưu ý rằng đến lúc này, bệnh nhân đã quên việc bị chó cắn.
Thời kỳ toàn phát: thường có 2 thể bệnh là thể hung dữ và thể liệt. Ở thể hung dữ hoặc co cứng, biểu hiện một tình trạng kích thích tâm thần vận động, bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong. Bệnh nhân bị co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước. Bệnh nhân khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau. Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ như: gió thổi, quạt điện, mùi vị thức ăn, ánh sáng…nên bệnh nhân có nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục, cương cứng dương vật ở đàn ông. Bệnh nhân sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, ảo giác. Các triệu chứng này tiến triển nặng dần và tử vong sau 3 – 5 ngày do ngừng tim, ngừng thở.

Thể liệt: hay gặp ở bệnh nhân bị chó dại cắn đã tiêm vaccin nhưng tiêm muộn, virut đã vào đến não gây bệnh. Bệnh nhân thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.

Ban đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt kiểu Landry: đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên. Khi tổn thương tới hành não, xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng thở và ngừng tim, tử vong.

Điều trị
Khi bị chó mèo cắn, có 2 việc cần làm là điều trị vết cắn và tiêm thuốc phòng bệnh dại. Điều trị vết cắn: ngay sau khi bị chó cắn, bạn phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng. Tiếp theo, rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát khuẩn vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn iod, nước oxy già, nước muối sinh lý. Nhưng không nên khâu vết thương sớm, trừ vết thương ở mặt. Cần tiêm phòng huyết thanh kháng uốn ván và dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn vết thương.

Dùng thuốc phòng bệnh dại gồm 2 loại là huyết thanh kháng dại và vaccin phòng bệnh dại.
Tiêm huyết thanh phòng bệnh dại trong các trường hợp: vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con chó có biểu hiện dại. Tiêm càng sớm sau khi bị cắn càng có hiệu quả cứu sống bệnh nhân.

Tiêm vaccin: nếu con vật cắn bạn đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để xác định nó bị dại hay không) hoặc đã mất tích. Trường hợp con vật cắn bạn vẫn sống khỏe mạnh, cần nhốt nó để theo dõi nó trong vòng 10 ngày. Trong thời gian theo dõi đó, nếu thấy nó bị ốm hoặc thay đổi tính tình thì bạn cần đi tiêm vaccin ngay. Trái lại, nếu con vật vẫn khỏe sau 10 ngày thì bạn không cần tiêm vaccin.

Việc điều trị khi đã lên cơn dại: đến nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại. Nên chỉ điều trị triệu chứng như: an thần, để bệnh nhân nằm ở nơi yên tĩnh, riêng biệt.

Phòng bệnh
Bệnh dại là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc bệnh nhân bạn phải mặc đầy đủ trang bị bảo hộ như: mũ, quần áo, găng tay, ủng, rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát khuẩn bằng cồn. Các đồ dùng của bệnh nhân cần đốt hủy. Các đồ sắt, giường, tủ, sàn nhà… cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử khuẩn.

Theo sức khỏe đời sống

Sẽ có thuốc kháng virus chặn đứng bệnh sởi?

Hiện nay chỉ có một cách hiệu quả chống lại phần lớn các virus: tiêm vắc xin trước khi bị nhiễm. Khi bị nhiễm virus thì có rất ít thuốc điều trị tương tự như thuốc kháng sinh điều trị vi khuẩn. Có một loại thuốc mới hứa hẹn điều trị được cả sởi.

Không phải là quá sớm. Các nhà dịch tễ học đã mơ đến chuyện thanh toán bệnh sởi. Nhưng ngay cả khi vắc xin có tác dụng tốt thì các trường hợp sởi vẫn ngày một tăng ở những nước giàu có bởi vì các bậc cha mẹ từ chối tiêm vắc xin cho con cái họ do những cáo buộc không đúng rằng vắc xin gây hại cho con họ.

Hơn nữa, trong tuần này, lần đầu tiên có báo cáo về một người đã được tiêm vắc xin vẫn có thể làm lan truyền virus sởi. Nhân viên Y tế Công cộng của thành phố New York đã phát hiện trường hợp này và suy luận rằng đó có thể là do cuộc chiến chống sởi đã quá hiệu quả. Những người có miễn dịch với sởi sau tiêm vắc xin chứ không bị bệnh có thể vẫn cần định kỳ tiêm nhắc lại để duy trì miễn dịch. Khi sởi phổ biến thì việc tiếp xúc với các trường hợp bệnh đóng vai trò như mũi tiêm nhắc lại – nhưng nay thì bệnh sởi khá hiếm.

se-co-thuoc-khang-virus-chan-dung-benh-soi

Thuốc kháng virus sởi có thể giúp đối phó với cả hai vấn đề khi ngăn chặn virus phát tán xa trong vụ dịch, cả trong những trường hợp chưa tiêm vắc xin cũng như khi vắc xin thất bại.

Không tiêu diệt

Giờ đây thuốc như vậy có thể trong tầm tay. Nó có tên khó nhớ là ERDRP-0519 và được khám phá vào năm 2007 nhờ Richard Plemper và đồng nghiệp tại Đại học Emory ở Atlanta, Georgia. Nhóm nghiên cứu đã sàng lọc 34.000 hợp chất để tìm hoạt tính kháng sởi thông qua sử dụng hệ thống tự động trong đó tế bào nuôi cấy có virus nhân lên sẽ phát sáng. Do virus không có hoạt động sống nên thuốc kháng virus không nhằm mục đích tiêu diệt mà chỉ ngăn chặn sự nhân lên.

ERDRP-0519 đã làm được điều đó bằng cách ngăn chặn ARN polymerase của sởi. Đây là một enzym quan trọng cho sự nhân lên. Bước tiếp theo là thử xem thuốc có tác dụng khi nhiễm thực sự không. Bởi vì chỉ có các loài động vật linh trưởng mới bị sởi nên các nhà nghiên cứu đã thử trước trên một loại virus tương tự gây bệnh Carré có thể khiến cho chồn sương chết.

Cho chồn sương uống trong 2 tuần kể từ 1 ngày trước, hoặc 3 ngày sau khi gây nhiễm bệnh Carré. Những con chồn không dùng thuốc thì chết. Những con chồn được dùng thuốc 3 ngày sau thì sống – và thậm chí sinh đủ miễn dịch chống lại virus khiến cho chúng hoàn toàn được bảo vệ khi gây nhiễm lần thứ hai.

Nhưng những con chồn được dùng thuốc ngay trước khi nhiễm virus thì chết vì bệnh Carré 2 tuần sau khi dừng thuốc, và không bao giờ có được miễn dịch. Kiểm tra các phản ứng miễn dịch của chúng cho thấy rằng thuốc đã ngăn chặn hoàn toàn sự nhân lên của virus đến mức chồn không thể sinh được miễn dịch với virus.
Hậu quả là chồn dễ bị tổn thương do virus còn lại tăng sinh trở lại ngay sau khi ngừng điều trị.

Điểm quan trọng

Vì vậy, để có tác dụng trên người, thuốc sẽ phải dùng cho ai đó đã phơi nhiễm, nhưng chưa khởi phát triệu chứng. Thời gian này có thể kéo dài đến 2 tuần, nên sẽ có thời gian để điều trị cho tất cả những ai đã tiếp xúc với người bệnh sởi. Theo Plemper, sau khi xuất hiện triệu chứng, dù sao thì virus sởi cũng đã ngừng nhân lên, nên việc tiếp tục ngăn chặn sự nhân lên sẽ ít có hiệu quả.

“Tiếp theo chúng tôi sẽ thử nghiệm xem có thể bắt đầu điều trị ở thời điểm muộn nhất sau nhiễm bao nhiêu lâu”, Plemper nói. Họ cũng sẽ thử nghiệm thuốc để điều trị sởi thực sự trên khỉ sóc. Plemper hy vọng việc sử dụng thuốc trước khi nhiễm trong bệnh sởi sẽ có ích hơn so với trong bệnh Carré, vì sởi là bệnh nhẹ hơn và có lẽ chỉ cần làm yếu virus một chút cũng đủ tốt rồi.

Một vấn đề khác có thể xảy ra với thuốc kháng virus sởi là nó có thể dẫn đến xuất hiện virus sởi đột biến đề kháng với thuốc này, giống như vi khuẩn có thể trở thành đề kháng với kháng sinh. Cơn ác mộng đó sẽ đến nếu những chủng đột biến này xảy ra và có độc lực hơn bệnh sởi, một căn bệnh rất dễ lây nhưng nó thường không gây tử vong. Việc cho ra đời một virus sởi ác tính hơn có thể còn tồi tệ hơn việc không bao giờ dùng đến thuốc này.

Vì vậy nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm thuốc chống lại virus sởi này trong môi trường nuôi cấy, và thấy thực ra nó đã tạo được những đột biến kháng thuốc – nhưng tất cả các virus đột biến lại ít có khả năng lây truyền hoặc ít độc lực hơn so với sởi tự nhiên. Điều này có lẽ chưa đủ để làm giảm bớt những lo ngại của nhân viên y tế. Các đột biến của virus cúm đề kháng với thuốc kháng virus Tamiflu dường như đều không đáng sợ qua các xét nghiệm tương tự – cho đến năm 2007, khi một đột biến kháng thuốc đã hoàn toàn chiếm ưu thế trong một chủng cúm.

Theo dõi kháng thuốc

Theo Plemper, bất cứ khi nào dùng thuốc cũng đều phải đi kèm với việc theo dõi nghiêm ngặt các chủng kháng thuốc. Điều đáng khích lệ là tất cả những điểm mà gen đột biến tạo ra sự kháng thuốc lại thường không đột biến ở virus sởi hoang dã, gợi ý rằng virus cần giữ những gen đó không đổi.

Một vấn đề khác có thể xảy ra là khả năng sẵn có một loại thuốc kháng virus có thể tiếp tục
khuyến khích người dân từ chối tiêm vắc xin khi thấy bệnh sởi dường như ít nguy hiểm. Điều này làm phá sản toàn bộ, Plemper nói. “Việc thanh toán sởi trong tương lai phải nhờ vắc xin”, ông nói. “Chúng tôi phát triển loại thuốc này để nhanh chóng dập tắt các vụ dịch cục bộ trong những quần thể có độ bao phủ tiêm chủng cao”.

Bằng cách đó, thuốc có thể tác dụng hợp lực với vắc xin, lấp những khoảng trống của độ bao phủ vắc xin và có thêm hy vọng một ngày nào đó thanh toán sởi. “Khi dùng kết hợp, một ngày nào đó các biện pháp này sẽ thành công trong việc thanh toán hoàn toàn bệnh sởi”, ông nói.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh uốn ván

Uốn ván là một bệnh không lây từ người này sang người khác, gây nên bởi một độc tố thần kinh mạnh, do VK Clostridium tetani tạo nên. Độc tố nầy (gọi là tetanospasmin) phong bế sự ức chế của các phản xạ tủy sống, làm các phản xạ nầy trở nên dễ bị kích thích, không thể kiểm sóat được.

Hậu quả đưa đến sự co giật các cơ trên nền một trương lực cơ căng cứng, đặc trưng lâm sàng cho bệnh uốn ván. Là một bệnh nặng, nhưng có thể phòng bệnh đưọc bằng chủng ngừa vắc xanh.

Nguyên nhân

Bệnh uốn ván gây ra do vi khuẩn uốn ván, có tên khoa học là Clostridium.tetani.

Là một vi khuẩn kỵ khí. Tạo bào tử khi gặp môi trường không thuận lợi. Bào tử có khả năng sống rất dai dẳng trong môi trường bất lợi, do đó rất khó tiêu diệt. Bào tử hiện diện khắp nơi trong môi trường.Hay gặp trong đất cát, và phân động vật.

Vi khuẩn tạo ngọai độc tố tetanospasmin, có khả năng gắn rất bền vào các thụ thể thần kinh do đó gây bệnh. Độc tố nầy rât độc, do đó, chỉ một lượng nhỏ cũng đủ gây bệnh trong khi chưa đủ để kích thích cơ thể tạo nên kháng thể. Do đó, sau khi mắc bệnh , nếu không chủng ngừa người ta có thể mắc lại dễ dàng.

dinh-gi

Nhận biết

Đa số các vết thương thường gặp đều có nhiễm bào tử uốn ván. Tuy nhiên, bào tử chỉ biến thành thể thực vật họat động và sản xuất độc tố khi chỉ số oxyd-khử tại vết thương giảm. Trường hợp nầy thường gặp khi có những mảnh họai tử, do bản thân vết thương hay do các vi khuẩn khác tạo nên. Tồn tại vật lạ và nhiễm trùng là những điều kiện thuận lợi cho VK uốn ván phát triển. Bản thân vk uốn ván không gây phản ứng viêm, cho nên vết thương vẫn lành tính khi nhiễm bào tử uốn ván cho đến khi có bội nhiễm.

Độc tố tetanospasmin, tạo ra từ vết thương sẽ theo đường bạch huyết và đường máu đến các bản vận đông, thoi cơ và các đầu mút các dây thần kinh vận động cũng như thục vật.. Từ đó, nó sẽ di chuyển ngược dòng xung động thần kinh để tiến về các neuron ở cuống não hay ở tủy sống. Độc tố không trực tiếp xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương được vì không qua được hàng rào mạch máu não. Khi xuyên qua synape, đến đầu mút tiền synape, độc tố sẽ ngăn cản giải phóng các chất trung gian thần kinh có nhiêm vụ ức chế cung phản xạ như các chất trung gian thần kinh glycine hay GABA (gamma -aminobutyric acide). Khi sự ức chế nầy giảm xuống, tỷ số kích họat thần kinh ở trạng thái nghỉ của các neuron vận động alpha tăng lên, tạo nên tình trạng cứng đơ của các nhóm cơ liên quan. Họat động của hệ glycinergic trong việc lan truyền xung động đa synape cũng bị han chế khi họat động cung phản xạ không tòan vẹn. Điều nầy khiến sự họat động đồng vận và đối vận giữa các nhóm cơ không đồng bộ, đưa đến sư co cứng cơ (spasm) . Các neuron giao cảm tiền hạch cũng thóat khỏi ức chế bình thường, dẫn đến các phản xạ giao cảm qúa mức với nồng độ catecholamin trong máu cao khi bị kích thích.

Tetanospasmin, gần giống như độc tố botulism, có thể ức chế các trung gian thần kinh ở các tấm vận động TK cơ, tạo nên yếu hay liệt. Sự hồi phục chỉ xẩy ra khi cơ thể tái tạo những đầu mút thần kinh mới.

Trong uốn ván cục bộ, chỉ những dây thần kinh phân bố cho những nhóm cơ có biểu hiện lâm sàng bị ảnh hưởng. Trong uốn ván tòan thể, độc tố theo đường máu và bạch huyết lan đến khắp các đầu mút cuối của các dây thần kinh vận động (chúng không lan trực tiếp từ đường máu vào hệ TKTƯ được vì không qua hàng rào mạch máu não). Nếu chúng ta công nhận rằng tốc độ di chuyển ngược dòng của độc tố là giống nhau trong tất cả các dây TK, chúng ta sẽ giải thích được tại sao các cơ có dây vận động ngắn hơn thường bị ảnh hưởng sớm hơn (cơ nhai, các cơ ở đầu, thân rồi mới đến tứ chi).

Nguồn sức khỏe cộng đồng

Sự nguy hiểm của viêm đường tiết niệu

Viêm bàng quang là hay gặp và thường không nghiêm trọng nếu được điều trị nhanh. Nhưng nếu nhiễm trùng lan lên thận, nó có thể gây bệnh nặng hơn.

1. Triệu chứng

Triệu chứng của viêm bàng quang

Phần lớn viêm đường tiết niệu là viêm bàng quang. Các triệu chứng của viêm bàng quang gồm:

– Đau và rát khi đi tiểu

– Tiểu gấp

– Đau bụng dưới

– Nước tiểu đục hoặc mùi hôi

– Một số người có thể không có triệu chứng

Triệu chứng của viêm thận

Viêm bàng quang không được điều trị có thể lan lên thận. Các dấu hiệu của viêm thận bao gồm:

– Đau một bên thắt lưng

– Sốt và rét run

– Buồn nôn và nôn

su-nguy-hiem-cua-viem-duong-tiet-nieu

2. Khi nào cần đi khám bệnh

Hãy đi khám bệnh nếu bạn có các dấu hiệu của viêm đường tiết niệu. Viêm bàng quang thường không phải là cấp cứu nội khoa, nhưng một số người có nguy cơ cao bị biến chứng. Những đối tượng này bao gồm phụ nữ có thai, người già, nam giới, người mắc bệnh tiểu đường, rối loạn thận, hoặc suy giảm hệ miễn dịch.

3. Chẩn đoán phân biệt

Mặc dù bỏng rát khi đi tiểu là một dấu hiệu cảnh báo của viêm đường tiết niệu, nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh lây truyền qua đường tình dục (như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, và nhiễm Trichomonas). Các xét nghiệm đơn giản có thể phân biệt được viêm đường tiết niệu và bệnh lây truyền qua đường tình dục.

4. Biến chứng

Mối nguy hiểm chính liên quan với viêm đường tiết niệu không được điều trị là nhiễm trùng có thể lan từ bàng quang lên một hoặc hai thận. Khi vi khuẩn tấn công thận, chúng có thể gây tổn thương thận và làm giảm vĩnh viễn chức năng thận. Ở những người bị bệnh thận, điều này có thể làm tăng nguy cơ suy thận. Tuy hiếm gặp nhưng nhiễm trùng cũng có thể đi vào dòng máu và lan tới các tạng khác.

5. Yếu tố nguy cơ

Viêm đường tiết niệu hay gặp nhất ở phụ nữ có quan hệ tình dục. Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ của bạn, bao gồm:

– Không uống đủ nước

– Tắm quá nhiều

– Nhịn tiểu

– Sỏi thận

6. Điều trị

Thường thì kháng sinh kê đơn sẽ chữa khỏi viêm đường tiết niệu. Các chuyên gia y tế có thể khuyên bạn uống nhiều nước và đi tiểu thường xuyên để tống khứ vi khuẩn. Viêm thận cũng có thể được điều trị bằng kháng sinh đường uống. Trường hợp viêm thận nặng có thể cần phải nằm viện để dùng một liệu trình kháng sinh đường tĩnh mạch.

Điều trị viêm đường tiết niệu tái phát

Một số phụ nữ bị viêm đường tiết niệu tái diễn nhiều lần. Nếu bạn bị từ 3 lần trở lên trong 1 năm, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về cách ngăn ngừa hoặc giảm thiểu nhiễm trùng này. Những lựa chọn của bạn có thể bao gồm:

– Dùng kháng sinh liều thấp trong thời gian dài

– Dùng một liều kháng sinh sau khi quan hệ tình dục

– Dùng kháng sinh tự điều trị ngay sau khi xuất hiện triệu chứng

7. Phòng ngừa

Một số cách dưới đây có thể làm giảm nguy cơ viêm đường tiết niệu:

– Uống nhiều nước

– Vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục

– Lau, rửa vùng sinh dục từ trước ra sau

– Tắm dưới vòi hoa sen thay cho bồn tắm

Nguồn giáo dục

Người bệnh nên chú ý đến rủi ro y tế

Thời gian gần đây, thông tin về những rủi ro y tế khiến nhiều bệnh nhân “thấp thỏm” không kém lo lắng về bệnh tình. Đáng nói là, bên cạnh nỗ lực “sửa mình” của ngành Y, chính những người trong cuộc cũng cần tìm hiểu kiến thức để trở thành “bệnh nhân thông minh”, nắm vững một số quy trình cần thiết trong khâu thăm khám và điều trị để tự phòng ngừa rủi ro cho mình.

Nhắc đến rủi ro y tế, có thể kể đến một số vụ việc khiến dư luận xôn xao thời gian gần đây như tử vong vì sốc phản vệ sau khi tiêm kháng sinh, các biến chứng y khoa không được tiên liệu hoặc đã tiên liệu nhưng y lệnh không được chấp hành, kết quả xét nghiệm không chính xác hay thực hiện nhầm thao tác chuyên môn… Điều này đã gây hoang mang cho không ít người mỗi khi phải tìm đến sự tư vấn của bác sỹ chứ chưa nói đến quá trình khám và điều trị…

Đáng nói là, bên cạnh nỗ lực “sửa mình” của ngành Y, chính những người trong cuộc cũng cần tìm hiểu kiến thức để trở thành “bệnh nhân thông minh”, nắm vững một số quy trình cần thiết trong khâu thăm khám và điều trị để tự phòng ngừa rủi ro cho mình.

nguoi-benh-nen-chu-y-den-rui-ro-y-te

Đơn giản nhất là ngay từ khâu đến bệnh viện để khám. Bệnh tật không chừa một ai, đặc biệt là trong thời của “cơn đại dịch các bệnh mãn tính không lây” như lời PGS. TS Trần Đáng –nguyên Cục trưởng cục Vệ sinh an toàn thực phẩm Bộ Y tế , chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam. Vì thế, con người cần quan tâm hơn đến việc chủ động phòng ngừa bệnh tật, phát hiện sớm mầm bệnh để điều trị hiệu quả, đi khám hoặc tìm đến tư vấn bác sĩ ngay khi có những dấu hiệu nghi ngờ về sức khỏe chứ không đợi thành bệnh rõ ràng.

Tiếp đến, cần biết rằng không nên tự điều trị, tự dùng thuốc tại nhà theo kinh nghiệm của bản thân cũng như của những người xung quanh. Vì nếu mua và dùng thuốc một cách “tự phát” như vậy, các nguy cơ y khoa có thể xảy ra bất cứ lúc nào, như dùng sai/ quá liều thuốc, phản ứng phụ, cơ thể “nhờn” kháng sinh, bệnh biến chứng…

Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên tìm hiểu những thông tin cơ bản mà bệnh nhân cần biết khi vào viện hoặc đến với các cơ sở y tế, từ việc xác định chuyên khoa cần khám (nếu có thể), chuẩn bị thông tin bệnh sử… đến mang theo các giấy tờ cần thiết để hoàn thành thủ tục Bảo hiểm y tế.

Những thao tác căn bản như vậy sẽ giúp khâu tìm hiểu ban đầu của bác sĩ và nhân viên y tế thuận lợi hơn, cũng như việc khám – điều trị có thể hiệu quả hơn. Đồng thời, tránh cho người bệnh việc thực hiện lại các thao tác xét nghiệm, chụp chiếu thừa, tránh lãng phí tiền bạc cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe.

Khi thực hiện điều trị, “người bệnh thông minh” cần phối sự hợp tốt với bác sĩ và nhân viên y tế. Cụ thể như: tuân thủ y lệnh, tự kiểm tra thông tin về bệnh và thuốc chỉ định (nếu có thể), phát hiện và báo lại ngay những điểm bất thường với nhân viên y tế và bác sĩ điều trị…

Đơn cử, với một thao tác khá phổ biến là tiêm, truyền, bệnh nhân và người nhà hoàn toàn có thể “kiểm soát rủi ro” bằng cách quan sát kỹ và đối chiếu thông tin (đã tìm hiểu trước đó). Ví dụ, nhắc lại với y bác sĩ về họ thuốc có tiền sử phản ứng với cơ địa mình nếu sổ y bạ không ghi hoặc họ sơ suất bỏ qua. Sau đó, cần quan tâm đến loại thuốc được chỉ định tiêm/ truyền, yêu cầu kiểm tra hạn dùng của thuốc, xuất xứ, liều lượng…

Nếu có thể, nên đề nghị pha thuốc bằng nước cất ống nhựa – một sản phẩm ứng dụng công nghệ BFS và đã được kiểm nghiệm đáp ứng tiêu chuẩn Mỹ và châu Âu – thay cho nước cất ống thủy tinh để hạn chế rủi ro từ việc cặn, bụi thủy tinh lọt vào tĩnh mạch.

Với việc truyền tiếp vitamin và thuốc dạng dung dịch vào cơ thể, bệnh nhân và người nhà cần theo dõi chặt chẽ tốc độ truyền (theo chỉ định), không tự ý điều chỉnh tốc độ, gọi nhân viên y tế khẩn cấp khi thấy dấu hiệu bất thường (người bệnh run, giật, tím tái…) và trước khi thời gian truyền kết thúc khoảng 5 – 10’…

Bên cạnh đó, còn có một “công cụ” khá hữu hiệu mà bất kỳ “bệnh nhân thông minh” nào cũng có thể sử dụng đến trong suốt quá trình khám và điều trị, đó là Đường dây nóng được thiết lập công khai tại các bệnh viện, thậm chí đặt tại từng khoa. Tuy nhiên, cần cân nhắc khi gọi điện thoại để phản hồi về chất lượng dịch vụ y tế để không lạm dụng ý nghĩa tích cực của đường dây này, cũng như chiếm dụng cơ hội được thông báo, phản hồi của người khác.

Theo vietnamnet

Bị suy thận nên thận trọng khi dùng thuốc

 Đa số các loại thuốc: uống, tiêm, dùng ngoài da (nhỏ mắt, mũi, tai; đặt hậu môn, âm đạo) xông hít… đều đào thải qua thận dưới dạng biến đổi hay không biến đổi nên đều có thể gây hại thận tùy theo mức độ độc hại của thuốc. Người suy giảm chức năng thận nhẹ có độ thanh thải creatinin huyết thanh trên 150micro.mol/L và người trên 60 tuổi có độ thanh thải creatinin huyết thanh trên 120 micro.mol/L đã có thể gặp những trường hợp như: không bài xuất hết được thuốc hoặc chất chuyển hóa của thuốc nên tích tụ lại gây nhiễm độc cho cơ thể. Một số thuốc không có hiệu quả hoặc giảm tác dụng khi chức năng thận bị suy giảm.

bi-suy-than-nen-than-trong-khi-dung-thuoc

Vì vậy, với những đối tượng này nên lưu ý tránh dùng các thuốc sau: thuốc điều trị bệnh glocom: acetazolamid, thuốc chống ung thư: cisplatin; ifosfamid; thuốc chống rối loạn lipid máu: clofibrat, kháng sinh chống nhiễm khuẩn nặng: colistin; thuốc chống viêm không steroid: indomethacin; ibuprofen; ketoprofen; meloxicam; piroxicam; naproxen; tenoxicam, thuốc điều trị bệnh đái tháo đường typ 2: metformin; thuốc kháng khuẩn tiết niệu: nitrofurantoin; thuốc giải độc kim loại: penicilamin; sulfonamid kháng khuẩn: sulfadiazin; các loại kháng sinh: neomycin; tetracylin và các thuốc cùng nhóm như: doxycylin, myocylin…

DS. Trần Xuân Thuyết

Những biến chứng có thể gặp do uống nhiều thuốc kháng sinh

Khi uống thuốc kháng sinh, bạn hy vọng, sẽ chữa khỏi bệnh hoặc ngăn ngừa nó, song sử dụng thuốc kháng sinh cũng gắn liền với nguy cơ nhất định.

Trong thực tế đièu trị bằng kháng sinh có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh, nhất là khi khuẩn Clostridium difficile (viết tắt: C.diff.) sắm vai thủ phạm. Mặc dù các bác sĩ tích cực tìm cách hạn chế các bệnh đường ruột gây ra bởi C. diff., song tình trạng nhiễm bệnh vẫn ngày càng nhiều, ngày càng nghiêm trọng và khó chữa trị.

Những cư dân của ruột

Cơ thể con người tràn ngập vi khuẩn. Thân thể mỗi người bao gồm khoảng 10 ngàn tỷ tế bào, trái lại số lượng vi khuẩn ký sinh trong cơ thể lên tới 100 ngàn tỷ. Đa số vô hại, thậm chí những đặc tính hắc ám cũng cư xử “có tình”, nhất là khi chúng cộng sinh với những mô đã “thích nghi” với chúng.

nhung-bien-chung-co-the-gap-do-uong-nhieu-thuoc-khang-sinh

Đường tiêu hóa là thí dụ mẫu mực của sự cộng sinh của con người với những vi sinh vật ký sinh. Trung bình ở đó định cư từ 500 đến 1.000 loài vi sinh vật khác nhau. Đa số tuyệt đối sống ở bộ phận thấp của đường tiêu hóa, trong ruột già. Thành phần chủ yếu của phân và vi sinh vật.

Cư dân đông đảo nhất của đường tiêu hóa là khuẩn E. coli, Proteus, Klebsiella, Enterococcus và Bacteroides. Tất cả đều có thể gây bệnh nguy hiểm, nếu thâm nhập vào máu hoặc tấn công mô. Tuy nhiên sống trong ruột già chúng vô hại, thậm chí còn hữu ích. Bình thường vi khuẩn ruột già tạo ra vitamin K, kích thích hệ đề kháng và giúp xác lập trạng thái cân bằng giữa các thành phần của nó và vô hiệu hóa những hợp chất hóa học độc hại. Vai trò quan trọng khác của các loài vi sinh vật thông thường là chống lại và loại bỏ những nhân tố gây bệnh tiềm tàng, trong đó có khuẩn C. diff.

Số liệu thống kế trong vai chính

C.diff là nguyên nhân chính nhiẽm bệnh tiêu chảy, song nó chỉ đóng vai phụ trong các vi khuẩn đường ruột. Chỉ có từ 1 đến 3% người trường thành khỏe mạnh có C. diff. trà trộn trong các vi khuẩn đường ruột thông thường. Thậm chí khi ấy C. diff. cũng hiện diện với số lượng không nhiều và thường vô hại.

Chuyện gì xảy ra, khiến kẻ sắm vai phụ trở thành một trong những nhân tố gây bệnh chính? Thật phi lý, bởi tất cả vì lỗi của thuốc kháng sinh. Nhiệm vụ của thuốc kháng sinh là kìm hãm hoặc tiêu diệt vi trùng. Một khi sử dụng đúng, mục đích đánh phá của kháng sinh là những vi trùng hung hãn gây bệnh. Tuy nhiên thậm chí nếu như hoàn thành nhiệm vụ, cũng không tránh khỏi tình trạng thuốc kháng sinh gây tổn hại vi khuẩn vô tội sống trong cơ thể. Một khi thiếu hụt đội quân bình thường “vô tội”, khoảng trống này sẽ được C. diff. nhanh chóng tranh thủ thay thế. – Nhất là ở những bệnh nhân phải nằm viện, trong đó nhiều người đã suy nhược và khó sống với tình trạng tiêu chảy và sốt cao.

Nhận dạng C. diff.

Các nhà khoa học đã phát hiện chân tướng C.diff. từ năm 1935, song mãi đến năm 1978 người ta mới nhận ra nó là nguyên nhân chính dẫn đến tiêu chảy liên quan đến thuốc kháng sinh. Sự gia tăng các ca mắc bệnh trong những năm 70 thế kỷ XX liên quan với việc sử dụng phổ biến thuốc kháng sinh: clindamycyn. Suốt 20 năm tiếp theo sự bành trướng của C. diff. càng được kích động bởi việc sử dụng tràn lan các thuốc kháng sinh có phạm vi tác dụng rộng thuộc gia đình penicylin và cefalosporyn, còn đầu thế kỷ này fluorochinolon là tác nhân gây ra sự xuất hiện biến thể C.diff. nguy hiểm mới.

Clostrodium difficile được xếp loại vi khuẩn yếm khí, bởi nó phát triển trong điều kiện thiếu oxy. Các bào tử (mầm bệnh) C. diff. bất động và không tích cực về mặt trao đổi chất, vậy nên không gây bệnh. Nhưng đồng thời chúng có khả năng đề kháng cao, rất khó tiêu diệt bằng các biện pháp khử trùng và thậm chí cả thuốc kháng sinh mạnh nhất.

Nạn nhân C. diff. đào thải mầm bệnh trong phân ra khỏi cơ thể. Nếu không chú ý, mầm bệnh có thể dính vào tay, dụng cụ gia đình và thực phẩm, và tiếp theo có thể thâm nhập vào người khác. Mầm bệnh hồi sinh trong đường tiêu hóa người xa lạ, tuy nhiên trong những tình huống cơ thể khỏe mạnh những vi khuẩn thông thường khác kiểm soát sự bành trướng của chúng và bệnh không phát triển. Tuy nhiên C. diff sẽ giành ưu thế – nếu vi khuẩn hữu ích bị thuốc kháng sinh tiêu diệt. Chúng sinh sôi và phát triển, sản xuất độc tố gây tổn thương niêm mạc ruột già, dẫn đến tiêu chảy, viêm ruột và thậm chí tử vong. Các chủng C.diff. thông thường sản xuất hai độc tố gây tổn thương ruột có tên là độc tố A và B; những chủng C.diff. biến thể tạo ra tới 16 lần lớn hơn độc tố A và 23 lần lớn hơn độc tố B.

Ai mắc bệnh?

Đa số nạn nhân là bệnh nhân trong các bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão – chủ yếu điều trị bằng thuốc kháng sinh. Thực tế tất cả thuốc kháng sinh đều có thể mở đường cho C. diff. phát triển, song nhiều nhất là các kháng sinh mạnh sử dụng trong điều trị bệnh đường tiêu hóa. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm bệnh ngoài việc sử dụng clindamycyn, còn có penicylin phổ rộng, cefalosporyn và fluorochinolon. Đối tượng đặc biệt bị đe dọa là bệnh nhân những bệnh nghiêm trọng và nằm viện dài ngày, người cao tuổi (trên 65). Bởi lẽ axit dạ dày trợ giúp vi khuẩn hữu ích tiêu diệt C.diff., những thuốc đau dạ dày mạnh thuộc gia đình ức chế nhu động của cơ quan này cũng có thể làm gia tăng khả năng nhiễm bệnh.

Triệu chứng

Người khỏe mạnh có thể là vật mang C. diff. song không hề biết. Trong một số trường hợp vì lý do biến thể C. diff. không tạo ra độc tố, trong những trường hợp khác – số lượng cá thể C. diff. chưa đủ để gây bệnh và có thể vì trong máu vật chủ có sẵn kháng thể vô hiệu hóa độc tố A và B.

Một khi C. diff đã gây rắc rối, triệu chứng xuất hiện từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Người ta gọi tắt chứng bệnh nguy hiểm là CDAD (viêm màng nhầy ruột già).

Nhẹ nhất CDAD tiến triển dưới dạng tiểu chảy nước, tối thiểu ba lần/ngày kèm với tình trạng đau thắt bụng dưới. Không ra máu, không sốt, bệnh nhân có số lượng bạch cầu bình thường.

Nặng hơn, nạn nhân bị tiểu chảy nhiều hơn, đau bụng và sốt. Thường xuyên buồn nôn. Cho dù mắt thường không nhìn thấy máu trong phân, song qua xét nghiệm có thể phát hiện dấu tích ruột chảy máu. Xét nghiệm máu cho kết quả số lượng bạch cầu vượt chuẩn.

Trường hợp CDAD nghiêm trọng, thân nhiệt và số lượng bạch cầu của nạn nhân rất cao, áp huyết tụt (có thể nguy hiểm), bởi tiêu chảy cấp dẫn đến tình trạng cơ thể mất nước. Tình trạng ruột mất máu có thể nguy kịch. Ở dạng bi đát nhất, CDAD gây ra biến chứng có tên nhiễm độc ruột già mở rộng, hậu quả có thể dẫn đến ruột thủng nhiều chỗ.

Kìm hãm và kiểm soát

Có thể ngăn ngừa lây nhiễm C. diff., nếu chẩn đoán nhanh CDAD. Nếu có thể, nên lập tức chuyển bệnh nhân vào phòng cách ly có toa-lét. Các bác sĩ, hộ lý và nhân viên hỗ trợ cần rửa tay, đeo găng tay và sử dụng áo choàng trước khi tiếp xúc với người bệnh. Cần cởi găng tay, áo choàng và vứt bỏ trong thiết bị an toàn thích hợp – sau khi ra khỏi phòng bệnh.

Hầu hết các cơ sở y tế sử dụng cồn để rửa tay, tuy nhiên bào tử C.diff. đề kháng với cồn. Vì thế sau khi tiếp xúc với vi trùng này, sau khi rửa tay bằng cồn nên dùng thêm xà phòng. Cho dù không giết được bào tử C. diff., song xà phòng có thể làm sạch tay.

Bởi lẽ bào tử C. diff. có thể tồn tại trên bề mặt khô nhiều tháng, để khử trùng phòng ở bệnh nhân tốt nhất nên dùng podchloryn.

Một khi CDAD tấn công gia đình, việc thường xuyên rửa tay bằng xà phòng là việc làm cần thiết cả với người bệnh và những ai tiếp xúc với họ. Những bệnh nhân tiêu chảy không nên chuẩn bị món ăn cho người khác, nếu có điều kiện – nên sử dụng dụng cụ và toa-lét riêng.

Cẩn thận với thuốc kháng sinh

C.diff. là vi trùng cũ, song dịch bệnh CDAD vẫn còn mới mẻ. Chính thuốc kháng sinh đã biến chi tiết y học thú vị thành mối đe dọa nghiêm trọng.

Kháng sinh là tân duợc kỳ diệu, song các bác sĩ nên hướng dẫn người bệnh sử dụng hợp lý. Vấn đề là chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết, cần lựa chọn loại thuốc đơn giản nhất, phạm vi tác dụng hẹp và ngừng ngay – khi đã khỏi bệnh.

Khuê Minh
Tri Thức Trẻ

Không thể chủ quan với viêm loét dạ dày

iêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở nước ta. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, viêm dạ dày, nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân đa dạng

Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do  nhiễm vi khuẩn HP – đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thuỷ ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp. Những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do ure máu tăng cao.

Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường grain có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử exam ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Hẹp môn vị: Biểu hiện đau bụng và nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.

Thủng dạ dày: Bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Xuất huyết tiêu hóa: Là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện ói ra máu và đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị triệt để.

Điều trị bệnh có khó?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, highlight kéo dài.

Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.

BS.Nguyễn Thị Phương Anh – skđs

Một số kháng sinh tra, nhỏ mắt thường dùng

Kháng sinh là loại thuốc được dùng phổ biến để điều trị các bệnh viêm có kèm nhiễm trùng tại mắt. Kháng sinh có thể được sử dụng tại chỗ, dưới kết mạc, hay toàn thân để điều trị các tổn thương mắt. Một số kháng sinh sau chỉ dùng tại chỗ (nhỏ và tra mắt) là bacitracin, neomycin và polimycin B…

Neomycin

Là kháng sinh nhóm aminoglycosid, dùng dưới dạng thuốc mỡ, dung dịch hoặc hỗn dịch, dùng đơn độc hoặc phối hợp với một số kháng sinh khác như polymixin B, bacitracin… để tra, nhỏ mắt. Nhỏ 1 – 2 giọt vào mắt, 3 – 4 giờ một lần tùy thuộc vào mức độ nhiễm khuẩn và tình trạng bệnh. Không dùng thuốc cho trẻ em dưới 1 tuổi, mẫn cảm với thuốc. Ngoài ra thuốc còn được dùng để bôi ngoài da để điều trị một số nhiễm khuẩn ngoài da, dùng để nhỏ tai… Dùng neomycin nói riêng hay kháng sinh nhóm aminoglycosid cần thận trọng vì chúng gây độc cho thận và tai. Vì vậy, không dùng thuốc trong những bệnh của thị thần kinh vì nó có tác dụng xấu lên thị thần kinh.

nho-mat

Bacitracin

Là thuốc kháng sinh thường được dùng ngoài. Trong chuyên khoa mắt thuốc được dùng dưới dạng mỡ tra mắt, điều trị một số bệnh như chắp, viêm kết mạc cấp và mạn, loét giác mạc, viêm giác mạc và viêm túi lệ. Khi tra mắt, bôi 1 dải mỏng khoảng 1cm thuốc mỡ lên kết mạc, cứ 3 giờ hoặc ngắn hơn bôi 1 lần. Khi dùng chế phẩm này người bệnh có thể bị phát ban do tác dụng không mong muốn của thuốc. Ngừng thuốc khi có biểu hiện trên. Bacitracin thường dùng ở dạng phối hợp với các neomycin và polymyxin B sulfat. Không nên điều trị bằng chế phẩm này quá 7 ngày.

Polymyxin B

Thường dùng bột polymyxin B sulfat để pha dung dịch nhỏ mắt, nồng độ 0,1 – 0,25%, tùy theo lượng dịch pha loãng sử dụng. Polymyxin B được dùng tại chỗ, dùng đơn độc hoặc phối hợp với các hợp chất khác để điều trị viêm kết mạc, viêm mí mắt, viêm giác mạc và loét giác mạc… Cách dùng: Nhỏ vào kết mạc mỗi mắt 1 – 3 giọt, mỗi giờ một lần, sau đó tùy theo mức độ hiệu quả, giảm xuống 1 – 2 giọt, ngày 4 – 6 lần. Tuy nhiên khi dùng thuốc có thể gây kích ứng mắt. Không được dùng chế phẩm polymyxin B kết hợp với coticoid để điều trị nhiễm nấm, nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn có mủ ở mắt.
Cần lưu ý, giống như điều trị kháng sinh toàn thân, việc sử dụng kháng sinh tại mắt cũng có thể gặp nguy hiểm như mẫn cảm hoặc dị ứng với thuốc, tổn hại do độc tính của thuốc, kháng thuốc và thay đổi cân bằng vi sinh vật tại mắt. Sự thay đổi vi khuẩn ở kết mạc thường xảy ra sau khi sử dụng kháng sinh tra mắt kéo dài làm tăng nấm ở túi kết mạc.

Theo sức khỏe đời sống

Trẻ sơ sinh dùng kháng sinh có nguy cơ mắc bệnh chàm

Một nghiên cứu mới tại Anh phát hiện, trẻ dùng thuốc kháng sinh trong năm đầu đời thì nguy cơ mắc bệnh chàm tăng 40%, theo Daily Mail ngày 20.6.

Nhóm nghiên cứu tại Anh thuộc Trường cao đẳng King, Trường đại học Nottingham và Bệnh viện Aberdeen Royal đã xem xét lại 20 cuộc nghiên cứu với khoảng 293.000 trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Đây là cuộc xem xét đầu tiên có quy mô lớn và hệ thống về mối quan hệ giữa việc dùng kháng sinh trong năm đầu đời của trẻ và nguy cơ mắc bệnh chàm.

tre-so-sinh-dung-khang-sinh-co-nguy-co-mac-benh-cham

Họ nhận thấy những trẻ dùng thuốc kháng sinh trong năm đầu đời thì tăng 40% nguy cơ mắc bệnh chàm, đặc biệt kháng sinh phổ rộng càng có tác động rõ rệt.

Nên cân nhắc cho trẻ dưới 1 tuổi dùng thuốc kháng sinh, đặc biệt là những trẻ mà lịch sử gia đình mắc bệnh chàm hoặc các bệnh dị ứng, theo tiến sĩ Carsten Flohr, một thành viên của nhóm nghiên cứu.

Theo thanh niên

Kháng sinh ảnh hưởng đến đường ruột của trẻ

Các nhà nghiên cứu cho biết, những trẻ dùng thuốc kháng sinh càng sớm và liều lượng càng nhiều, nguy cơ phát triển các bệnh viêm đường ruột, được gọi là bệnh Crohn và viêm loét đại tràng sau này càng cao.

Tiến sĩ Matt Kronman, Phó giáo sư Khoa các bệnh truyền nhiễm trẻ em tại Trường ĐH Y Washington ở Seattle (Mỹ) cho biết: “Trẻ sử dụng các loại kháng sinh càng nhiều, càng tăng nguy cơ phát triển bệnh đường ruột”.
khang-sinh
Các nghiên cứu trước đó đã cho thấy mối liên quan giữa bệnh đường ruột với việc sử dụng thuốc kháng sinh, nhưng hầu hết chứng cứ đều chưa thuyết phục.

Nghiên cứu mới, vừa được công bố trên tạp chí Pediatrics (Mỹ) trực tuyến, ngày 24/9/2012, đã xem xét dữ liệu trên 1 triệu trẻ em, có độ tuổi từ 17 trở xuống, trong gần 500 cơ sở y tế thuộc mạng Y tế Quốc gia Anh. Những trẻ tham gia nghiên cứu được theo dõi trong khoảng thời gian từ 2 năm trở lên, từ giữa năm 1994 và 2009.

Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, có 64% trẻ em đã dùng một số loại thuốc kháng sinh ít nhất một lần, và khoảng 58% đã dùng thuốc kháng sinh chống khuẩn antianaerobic – loại vi khuẩn phát triển mà không cần oxy. Các loại kháng sinh chống khuẩn antianaerobic bao gồm penicillin, amoxicillin, tetracycline, metronidazole, cefoxitin và những loại khác.

Trong thời gian theo dõi, gần 750 trẻ em phát triển bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng. Các triệu chứng thường gặp của những chứng bệnh này (thường sẽ suốt đời) bao gồm đau bụng, tiêu chảy và giảm cân. Nguy cơ phát triển bệnh đường ruột cao hơn 5 lần đối với trẻ dùng các loại thuốc kháng sinh trước 1 tuổi so với những trẻ không sử dụng loại thuốc này, và nguy cơ này giảm đáng kể theo tuổi tác.

Theo giải thích của các nhà khoa học, các loại thuốc kháng sinh có thể làm thay đổi môi trường tự nhiên của vi khuẩn trong đường ruột, tình trạng này có thể gây ra viêm. Và các bệnh đường ruột thường khởi phát từ chứng viêm ruột mãn tính.

Mặc dù nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa việc dùng thuốc kháng sinh với bệnh đường ruột ở trẻ, nhưng nó không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hai việc này, các chuyên gia cho biết.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thuốc nào trị – Viêm khớp thái dương hàm?

Viêm khớp thái dương hàm là một bệnh, đúng hơn là một hội chứng khá phổ biến. Có nhiều nguyên nhân gây viêm khớp thái dương hàm như viêm khớp sau nhiễm khuẩn, viêm khớp sau chấn thương cấp, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, hoặc viêm – thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm. Điều trị viêm khớp thái dương hàm phải tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.

Trường hợp viêm khớp thái dương hàm nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh thích hợp như penicillin G, oxacillin hoặc các cephalosporin thế hệ 1, 2, 3 khác. Tốt nhất là nuôi cấy bệnh phẩm tìm vi khuẩn, làm kháng sinh đồ và chọn thuốc theo kháng sinh đồ. Kết hợp thuốc chống viêm không steroid như aspirin, diclofenac, meloxicam… uống kèm thuốc giảm đau đơn thuần như  paracetamol hoặc paracetamol + codein khi đau nhiều; hút hoặc chích dẫn lưu rửa sạch mủ nếu có; hạn chế cử động khớp. Một khi kiểm soát được tình trạng nhiễm khuẩn thì cần có bài tập thích hợp để tránh hạn chế vận động khớp sau này.

thuoc_nao_tri_viem_khop_thai_duong_ham

Viêm khớp sau chấn thương cấp như sau nhổ răng khó, đặc biệt các răng hàm số 7, 8; sau đặt nội khí quản (hiếm gặp) cần điều trị bằng chống viêm không steroid như trên với đường toàn thân uống hay tiêm bắp hoặc chế phẩm dạng gel bôi tại chỗ. Có thể kết hợp giảm đau bằng chườm nóng hoặc chườm lạnh tại chỗ và uống thuốc giảm đau paracetamol hoặc paracetamol + codein. Ngoài ra lưu ý hạn chế vận động hàm trong thời gian đau.

Thoái hóa khớp thái dương hàm có thể nằm trong bệnh cảnh thoái hóa khớp nói chung và thường gặp ở những người trên 50 tuổi. Hay gặp thoái hóa cả hai bên. Điều trị triệu chứng như điều trị viêm khớp sau chấn thương cấp. Ngoài ra có thể kết hợp các thuốc điều trị thoái hóa khớp tác dụng chậm như glucosamin, chondroitin sulfat hoặc tiêm corticoid (hydrocortison acetat, methyl prednisolon acetat) tại chỗ. Lưu ý chỉ định tiêm rất thận trọng bởi bác sĩ chuyên khoa khớp, thực hiện trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn, tránh tiêm nhắc lại nhiều lần. Biến chứng có thể gặp khi tiêm khớp thái dương hàm là liệt mặt nếu tiêm vào dây thần kinh mặt (dây V).

Viêm khớp thái dương hàm do bệnh viêm khớp dạng thấp có thể gặp ở trên 50% bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Mức độ tổn thương có thể từ nhẹ, ít đau nên bệnh nhân thường bỏ qua đến đau nặng là triệu chứng làm bệnh nhân chú ý nhiều. Khớp thái dương hàm thường là khớp sau cùng bị tổn thương, sau các viêm ở khớp nhỏ – nhỡ bàn cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối… Điều trị bệnh nằm trong điều trị bệnh cảnh viêm khớp dạng thấp nói chung. Thuốc bao gồm thuốc điều trị triệu chứng như chống viêm không steroid (aspirin, diclofenac…) hoặc chống viêm corticoid (prednisolon, hydrocortison…) đường toàn thân; thuốc giảm đau paracetamol; thuốc điều trị cơ bản (nhóm thuốc chống thấp khớp có thể thay đổi cơ địa) như chloroquin, methotrexat, salazopirin, entanercept… thường dùng phối hợp hai, ba thuốc hoặc hơn. Có thể điều trị tại chỗ trong trường hợp viêm nặng bằng cách  tiêm corticoid vào khớp thái dương hàm. Lưu ý các bài tập chức năng vận động khớp thích hợp. Phẫu thuật chỉ định khi có viêm dính khớp làm bệnh nhân không há miệng được.

Viêm – thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm thường gặp sau chấn thương mạn tính hoặc sau hội chứng rối loạn chức năng khớp thái dương hàm. Hội chứng này thường gặp ở nữ giới từ 20 đến 40 tuổi. Nguyên nhân rất phức tạp, bao gồm các bệnh lý liên quan đến hệ thống nhai như hệ cơ, dây chằng, xương (xương hàm trên, dưới và xương thái dương), răng và khớp thái dương hàm. Trạng thái stress thường xuyên, tật nghiến răng cũng là những nguyên nhân phối hợp. Nếu hội chứng trên tồn tại dai dẳng thì hậu quả sẽ dẫn đến tình trạng viêm, thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm. Thường khớp thái dương hàm bị tổn thương một bên, đây là triệu chứng quan trọng để phân biệt với thoái hóa nguyên phát khớp thái dương hàm thường gặp ở cả hai bên. Điều trị tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có thể lựa chọn dùng liệu pháp tâm lý, phục hồi chức năng hỗ trợ (đeo máng cắn), dùng thuốc hay phẫu thuật; có khi cần phối hợp tất cả các biện pháp trên. Thuốc điều trị bao gồm thuốc an thần giải lo âu như diazepam, dogmatil; giãn cơ như mydocalm, myonal; thuốc chống viêm không corticoid như aspirin, diclofenac… đường toàn thân. Corticoid tiêm tại chỗ khớp thái dương hàm làm giảm đau khá tốt. Việc phối hợp điều trị với các chuyên khoa răng hàm mặt, tâm thần là cần thiết. Lưu ý là phòng và điều trị tích cực hội chứng rối loạn chức năng khớp thái dương hàm là biện pháp phòng hiệu quả bệnh viêm – thoái hóa thứ phát khớp thái dương hàm.

Theo SKĐS

Viêm họng cấp ở trẻ em: Thuốc điều trị

Viêm họng cấp là bệnh chiếm tỷ lệ rất cao ở trẻ em với các triệu chứng khởi phát đột ngột, sốt cao 39 – 40°C, kèm theo là nuốt đau, rát họng, có thể kèm theo chảy nước mũi nhầy, ho khan… hay gặp vào mùa lạnh. Nguyên nhân có thể do virut hoặc vi khuẩn. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây biến chứng như viêm đường hô hấp trên, và nguy hiểm hơn là gây bệnh thấp tim (do  liên cầu khuẩn, một thủ phạm gây viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp, thần kinh và gây nên bệnh thấp tim).

viem_hong_cap_o_tre_em_thuoc_dieu_tri

Viêm họng cấp nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng. Ảnh: H. Mai

Thuốc điều trị viêm họng cấp do vi khuẩn

Khi xác định viêm họng do vi khuẩn mới cần dùng đến kháng sinh. Một số loại kháng sinh thường dùng như rovamycin (spiramycin), nhóm kháng sinh bezylpenicillin (amoxycyllin, augmentin).

Khi dùng thuốc cần chú ý tới các tác dụng phụ của thuốc: spiramycin hiếm khi gây tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Thường gặp hiện tượng trên tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó tiêu (khi dùng đường uống) hoặc kích ứng tại chỗ tiêm (khi dùng đường tiêm). Amoxycylin, augmentin (amoxycylin + clavulanate) có thể gây ngoại ban da, buồn nôn, nôn, tiêu chảy. Khi xuất hiện mày đay, các dạng ban khác phải ngừng dùng thuốc và thông báo cho bác sĩ biết để có cách xử trí phù hợp.

Có thể dùng phương pháp xông họng, khí dung bằng các loại thuốc kháng sinh hoặc kháng viêm. Một số trường hợp viêm họng mạn tính có thể đốt họng bằng  laser CO2 hoặc nito bạc…

Thuốc điều trị viêm họng cấp do virut

Trường hợp viêm họng do virut không cần dùng thuốc kháng sinh. Một số nhóm thuốc có thể dùng trong trường hợp này:

– Thuốc hạ sốt: paracetamol, efferalgan, aspegic… chỉ dùng khi nhiệt độ trên 38°C và sau mỗi 4 – 6 giờ mới được dùng lại thuốc.

– Thuốc giảm ho: có thể dùng siro phenergan, ho bổ phế, atussin, theralen…

– Nhóm thuốc có tác dụng giảm ngứa, giảm rát họng như viên (hoặc siro) rhinathiol, các loại thuốc ngậm như lysopaiin, súc họng bằng nước muối sinh lý.

– Thuốc làm giảm phù nề chống viêm, tan đờm như alpha-chymotrypsin, mucomyst, mucosoval…

Ngoài ra, có thể nâng cao thể trạng bằng cách bổ sung vitamin như vitamin C…

Lưu ý: Với trẻ dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38oC cần cho trẻ  đi khám, vì trẻ sốt cao dễ dẫn tới co giật. Khi dùng thuốc cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian theo đúng chỉ định của bác sĩ. Không được tự ý mua kháng sinh điều trị. Vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh, làm cho các lần điều trị sau này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Dược sĩ Hoàng Thu Thủy
Theo SKĐS

Tư vấn: Phân biệt bệnh chắp, lẹo

Mắt phải của tôi thỉnh thoảng lại mọc mụn. Nghe nói là bị chắp hay lẹo mắt. Bác sĩ làm ơn cho biết thế nào là chắp, lẹo? Cách chữa trị?

Hà Minh Hùng (Phú Thọ)

tu_van_phan_biet_benh_chap_leo

Các bệnh gây sưng đau ở mi mắt thường gặp là chắp hoặc lẹo. Chắp là do sưng dạng u hạt mạn tính của một tuyến mebomius thường diễn ra sau khi tuyến này bị viêm. Biểu hiện gồm: sưng, đau, đỏ, khó chịu ở bề mặt kết mạc của mi mắt; sau vài ngày chắp xẹp xuống chỉ còn khối tròn không đau, lớn dần trên mi mắt thành một khối màu đỏ, xám dưới kết mạc. Diễn biến thường tự khỏi sau vài tháng. Điều trị chắp không phải dùng kháng sinh mà chỉ dùng thuốc kháng viêm như tiêm corticoid; chườm nóng 4 lần/ngày để mau tan; rạch mổ, nạo sạch.

Lẹo là bệnh nhiễm khuẩn cấp có mủ không lan rộng của một hay nhiều tuyến zeis hay moll (lẹo phía ngoài); hoặc của các tuyến meibomius (lẹo trong mi mắt) do tụ cầu khuẩn gây nên. Triệu chứng: đau đỏ, ấn đau bờ mi, sau hóa cứng; chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác như có dị vật ở mắt; mưng mủ ở trung tâm chỗ hóa cứng, ít lâu sau áp-xe vỡ ra, chảy mủ, hết đau. Lẹo trong diễn biến nặng hơn, áp-xe hiện ra ổ, thường tái phát. Điều trị phải dùng kháng sinh toàn thân tiêu mủ thời kỳ đầu, chườm nóng, rạch mủ và dùng thuốc nhỏ mắt. Bạn nên khám và điều trị ở một cơ sở chuyên khoa mắt.

Theo SKĐS

Điều trị lẹo mắt tại nhà: Những điều cần chú ý

Hẳn bạn sẽ vô cùng bối rối khi tự nhiên một sáng ngủ dậy, bờ mi sưng tấy và mọc lên một chiếc chắp (lẹo mắt)? Đã có cách để giảm bớt khó chịu và chữa lành rùi đây!

1. Không trang điểm mắt hoặc soi gương cho đến khi chiếc mụn lẹo ở mí mắt đã lành hẳn.

2. Áp dụng nén ấm cho mắt ngày 3-6 lần/ngày và để giúp chữa lành nhanh hơn những chiếc lẹo mắt. Sự nén ấm này cũng có thể giúp mở ra một lỗ bị chặn để có thể tiêu thoát và bắt đầu chữa bệnh.

Rửa tay sạch sẽ trước khi bạn áp dụng nén ấm cho mắt. Sử dụng một miếng vải sạch hoặc miếng gạc làm ẩm với nước rất ấm. Bạn không nén nhiệt trong lò vi sóng vì nó có thể trở nên quá nóng và có thể tổn thương mí mắt.

Đặt miếng nén trên mắt sau khi bạn đã nhắm mắt cho đến khi miếng nén bắt đầu mát (thường là 5-10 phút). Để tăng tốc độ quá trình chữa bệnh, bạn cũng có thể sử dụng dung dịch muối loãng thay vì nước ấm.

dieu_tri_leo_mat_tai_nha_nhung_dieu_can_chu_y_01

3. Hãy để cho những lẹo mắt/ cái chắp trên mí mắt của bạn tự vỡ. Tuyệt đối không được ép hoặc nặn chúng.

4. Sử dụng thuốc mỡ điều trị lẹo mí mắt. Hãy chắc chắn rằng bất cứ loại thuốc mỡ nào bạn mua mà không cần toa phải là để điều trị cho mắt chứ không phải cho tai để làm giảm sự khó chịu của lẹo mắt.

Nếu bạn muốn chữa trị một chiếc mụn lẹo ở mí mắt không phải tại nhà thì bạn có thể đến gặp bác sĩ. Khi ấy bác sĩ có thể kê một toa thuốc mỡ kháng sinh hoặc thuốc nhỏ mắt cho lẹo mắt của bạn.

Luôn rửa tay trước khi áp dụng thuốc mỡ tra mắt hay thuốc nhỏ mắt. Hãy chắc chắn các thuốc này sạch sẽ và cố gắng không để chạm vào mắt, mí mắt, hoặc bất kỳ bề mặt của lọ thuốc/ tuýp thuốc.

5. Nếu bạn bắt buộc phải tra thuốc mỡ kháng sinh cho mắt thì nên thoa một lớp mỏng trên mụn lẹo ở mí mắt trước khi đi ngủ.

dieu_tri_leo_mat_tai_nha_nhung_dieu_can_chu_y_02

6. Nếu thuốc nhỏ mắt kháng sinh được quy định, áp dụng chúng bằng cách kéo mí dưới của mắt xuống với hai ngón tay để tạo ra một cái túi nhỏ giữa nhãn cầu. Nhỏ thuốc nhỏ mắt và sau đó nhắm mắt hờ trong khoảng 30-60 giây sau khi bạn tra thuốc nhỏ mắt.

* Không chà mắt của bạn vì điều này có thể gây kích ứng mắt và nhiễm trùng lây lan.

* Bảo vệ mắt bạn khỏi khói bụi và ô nhiễm không khí bằng cách đeo kính an toàn mỗi khi bạn đang ở bên ngoài, đặc biệt khi bạn làm việc nhà như dọn dẹp nhà cửa hay cắt cỏ.

* Tránh đến những nơi bụi bẩn hoặc nơi bị ô nhiễm không khí nặng nề.

* Tẩy trang cho mắt sạch sẽ sau khi trang điểm mắt của bạn. Thay mascara ít  nhất mỗi 6 tháng/ lần bởi vì vi khuẩn có thể phát triển khi mắt được trang điểm.

* Hãy xử lý với bất kỳ tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng mí mắt kịp thời. Nếu bạn không xử lý kịp thời thì sự lây nhiễm có thể lây lan sang các tuyến dầu của mí mắt và gây ra một mụt lẹo ở mí mắt.

* Tránh dùng chung khăn tắm, khăn lau, hoặc trang điểm mắt.

* Rửa tay thường xuyên và luôn để tay rời xa khỏi tầm mắt của bạn, đặc biệt là khi chăm sóc cho một người khác với một mụt lẹo ở mí mắt hay bất kỳ loại nhiễm trùng nào khác.

Theo Kênh 14

Phương pháp ngăn bệnh đường hô hấp khi thời tiết giao mùa

Miền Bắc đang bước vào thời điểm giao mùa. Trong khi đó nhiệt độ chuyển lạnh đột ngột giữa ban đêm và ban ngày ở khu vực miền Nam đều dễ làm cho trẻ mắc các bệnh về đường hô hấp cao hơn thông thường.

Nhiều trẻ nhập viện vì những biến chứng của bệnh viêm đường hô hấp trên gây ra như: viêm tai giữa,viêm phế quản, viêm phổi,…

Dấu hiệu nhận biết bệnh viêm đường hô hấp ở trẻ

Đặc điểm lâm sàng của nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ rất phong phú và đa dạng với các dấu hiệu thường sắp xếp như sau: ho là dấu hiệu thường gặp nhất ( 83,7%), sau đó là các dấu hiệu sốt (78%), chảy nước mũi (60,8%), viêm họng (65,3%), thở khò khè ( 43,9%), nhịp thở nhanh (38,5%), rối loạn tiêu hóa (36,4%), thở rít ( 15,5%), co rút lồng ngực (12,4%), cánh mũi phập phùng (12,1%), và tái tím (3,2%).

Nguyên nhân trẻ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp

Theo các chuyên gia, nguyên nhân nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ phần lớn là do vi rút chiếm 70 – 80%. Vi rút gây bệnh bằng cách cư trú ở chất nhầy niêm mạc mũi họng. Chúng xâm nhập vào tế bào niêm mạc nhân bản để phá hủy tế bào và lây sang tế bào bên cạnh.

Cơ thể sẽ kháng cự với các tế bào IgA sẵn có và đội quân bạch cầu bảo vệ. Nhưng trong một số trường hợp, cơ thể tiêu diệt không hiệu quả virut từ đường hô hấp trên sẽ nhân bản và xâm nhập xuống tận đường hô hấp dưới và vào máu gây nhiều biến chứng khác.

Đặc biệt trẻ dưới 5 tuổi thường bị tái phát viêm đường hô hấp do hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh, sức đề kháng nội sinh kém, không đủ sức chống đỡ với các mầm bệnh bên ngoài. Tăng cường sức đề kháng nội sinh chính là chìa khóa để giúp trẻ chống lại bệnh tật trong những năm đầu đời bằng chính sức đề kháng nội sinh từ bên trong cơ thể trẻ.

Phương pháp điều trị bệnh phổ biến hiện nay

Theo sơ đồ dưới đây ta thấy việc nhiễm khuẩn hô hấp của trẻ có thể từ vi khuẩn, virus gây bệnh trong không khí hoặc môi trường xung quanh, hoặc lây từ người bệnh. Và theo một thói quen hiện nay chúng ta thường cho trẻ sử dụng kháng sinh hoặc các chế phẩm dạng khác của kháng sinh.

Không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của kháng sinh trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nhưng việc lạm dụng kháng sinh ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Nhưng bên cạnh mặt tích cực thì thuốc kháng sinh lại tiêu diệt hệ vi khuẩn có ích trong hệ đường ruột, làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể.

chan_viem_duong_ho_hap_khi_thoi_tiet_giao_mua

Trẻ dùng kháng sinh thường xuyên sẽ gây nhờn thuốc, kháng thuốc, từ đó việc chữa trị bệnh ngày càng khó khăn.

Do sức đề kháng nội sinh yếu, khi tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh, trẻ bị tái ốm rất nhanh và lại phải dùng kháng sinh. Khi liên tục phải dùng nhiều đợt kháng sinh, cơ thể non nớt của trẻ sẽ phải đối diện với 2 vấn đề:

Một, dùng kháng sinh thường xuyên sẽ gây nhờn thuốc, kháng thuốc, từ đó việc chữa trị bệnh ngày càng khó khăn.

Hai, dùng quá nhiều kháng sinh sẽ gây tác dụng phụ. Dễ gặp nhất là rối loạn tiêu hóa với các triệu chứng: nôn, trớ, đau bụng, đi ngoài sống phân hoặc tiêu chảy, táo bón. Rối loạn tiêu hóa kéo dài sẽ dẫn đến tổn thương và thiếu khả năng sản sinh niêm mạc ruột, không hấp thu được dưỡng chất, mất cảm giác thèm ăn dẫn đến biếng ăn.

Do mỗi lần ốm lại phải dùng kháng sinh nên trẻ bị bội nhiễm, bệnh đường hô hấp trở thành mãn tính khiến sức khỏe của trẻ ngày càng giảm sút và vòng tròn bệnh lý: ốm – biếng ăn – chậm lớn – suy dinh dưỡng – ốm… liên tục tái diễn khiến các bậc phụ huynh rơi vào bế tắc.

Theo 24h

Cách xử lý khi bị đau mắt đỏ

Hiện nay, các tỉnh ở vùng phía Bắc đang chịu cảnh lụt lội do chịu ảnh hưởng từ bão Kai-tak. Từ đó mọi người có thể phải tiếp xúc với nguồn nước bị nhiễm bẩn. Điều này vô tình đã trở thành mầm mống lý tưởng cho căn bệnh đau mắt đỏ bùng phát đấy các ấy ạ! Để chặn đứng điều này các ấy cần phải ghi nhớ những điều cực kỳ quan trọng sau nhá!

cach_xu_ly_khi_bi_dau_mat_do

Nhận biết chính xác dấu hiệu bệnh

Khi bị đau mắt đỏ, các ấy thường có triệu chứng:

– Đỏ một hoặc cả hai mắt.

– Ngứa một hoặc cả hai mắt.

– Cảm giác có sạn ở trong mắt.

– Rỉ dịch ở một hoặc hai mắt, chảy nước mắt.

Bệnh sẽ làm cho bạn có cảm giác như có một vật gì ở trong mắt mà không thể lấy ra được. Khi thức dậy mắt bị dính chặt lại do màng gỉ mắt. Đau mắt đỏ thường bị cả hai mắt mặc dù bệnh có thể xảy ra ở một mắt sau đó lây sang mắt kia sau một hoặc hai ngày. Bệnh có thể không cân xứng, một mắt nặng hơn mắt kia.

Xử lý thật chuẩn khi mắc bệnh

Dùng nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo

Nước muối sinh lý 0,9% hay cao cấp hơn là nước mắt nhân tạo (tear natural) sẽ rửa trôi mầm bệnh, rửa trôi chất tiết và gỉ mắt, làm dịu đôi mắt đang cộm rát khó chịu.

Các sản phẩm trên không có chất kháng sinh, cũng không có chất diệt virus nhưng vẫn được kê đơn rộng rãi là nhờ những tính năng trên. Ngược lại, các loại thuốc có tính năng bôi trơn mắt có độ nhớt quá cao như celluvisc, liposic thì chúng mình không nên dùng trong giai đoạn đầu của bệnh.

Không xông, đắp lá

Các phương pháp như xông lá trầu không, lá dâu, lá tre… tuy có làm người bệnh dễ chịu đôi chút nhưng không hề làm bệnh mau khỏi, chưa kể một số bệnh nhân xông lá có thể gây bỏng mắt, trợt giác mạc, xuất huyết dưới kết mạc và sưng nề hơn sau khi xông lá.

Ngoài ra, bạn cũng không nên uống kháng sinh, uống thuốc chống sưng nề hay chống viêm vì sẽ làm bệnh nặng hơn.

Tuy một vài bệnh nhân có sốt nhẹ, đau họng, sưng hạch, ho… nhưng đó là triệu chứng xâm nhập của virus vào cơ thể và phản ứng của hệ bạch huyết. Do vậy không cần phải dùng kháng sinh.

Dùng các thuốc nhỏ mắt có cortizol

Các loại thuốc này có công dụng giảm viêm, dùng sau ngày thứ 5 kể từ lúc khởi phát sẽ giúp bạn dần khỏi bệnh. Một vài trường hợp cá biệt, bệnh sẽ nặng lên do chẩn đoán nhầm hay kháng sinh không đủ hiệu lực che chở nhiễm khuẩn.

Tuy nhiên, tuyệt đối không được sử dụng các sản phẩm có cortizol nếu không có đơn của thầy thuốc chuyên khoa mắt bạn nhé!

Ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh

Vệ sinh sạch sẽ là cách tốt nhất để kiểm soát lây lan bệnh. Một khi đã được chẩn đoán là đau mắt đỏ bạn cần thực hiện các bước sau:

– Không dụi mắt bằng tay.

– Rửa tay kỹ và thường xuyên với nước ấm, điều này rất quan trọng.

– Lau rửa dịch dử mắt 2 lần một ngày bằng khăn giấy hoặc cotton ẩm, sau đó vứt ngay.

– Giặt ga giường, vỏ gối, khăn tắm trong nước tẩy và ấm.

– Tránh dùng chung các vật dụng như khăn mặt, chậu rửa.

– Rửa tay sau khi tra thuốc mắt.

– Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

Theo Kênh 14/ Theo TTVN

Tiêu chảy hay viêm ruột do kháng sinh

Một số thân nhân thường hay than phiền sau khi hoặc đang điều trị ho thì bé bị tiêu chảy,    “ chưa hết bệnh này đã nhiễm bệnh khác ”.

Tiêu chảy có thể do nhiều nguyên nhân như: do vi trùng hoặc ký sinh trùng đường ruột, do chế độ ăn uống, hoặc có thể là loạn khuẩn đường ruột do lạm dụng kháng sinh…

Nếu bé bị tiêu chảy khi đang điều trị một bệnh nào đó như viêm phổi chẳng hạn, mà đã loại trừ hết các nguyên nhân khác thì có thể là loạn khuẩn đường ruột do kháng sinh.

tieu_chay_hay_viem_ruot_do_khang_sinh

Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn lành tính với nhiều loài khác nhau. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng, nhằm tăng cường quá trình tiêu hoá, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột . Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên  nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài, thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.

Khi bị loạn khuẩn đường ruột, bé có triệu chứng phân lỏng, phân sống, đôi khi có lẫn chất nhày hoặc ít máu, đôi khi có cảm giác chướng bụng, sốt nhẹ. Nếu dùng thuốc chống tiêu chảy, thì các triệu chứng trên thuyên giảm, nhưng nếu ngừng thuốc thì lại tái phát trở lại. Với các trường hợp nhẹ, khi ngừng kháng sinh đang sử dụng thì triệu chứng thuyên giảm rõ rệt hoặc có thể khỏi hẳn. Trong trường hợp vẫn cần thiết phải sử dụng kháng sinh hoặc loạn khẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các thuốc “men tiêu hoá”chứa các loại vi khuẩn lành tính như: Antibio, Biosubtyl, Probio, Lacteol fort,…(có tác dụng cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột)

Nếu chứng loạn khuẩn không được điều trị sớm, có thể dẫn đến hiện tượng mất nước, rối loạn điện giải, duy dinh dưỡng, suy kiệt…

Nên cho bé đi khám lại nếu có dấu hiệu loạn khuẩn để được BS điều chỉnh lại kháng sinh, đồng thời thêm các loại thuốc hỗ trợ tiêu hoá khác.

Đăng bởi: BS.CK1.Nguyễn phương Hòa Bình – TK.Khám Bệnh
Theo benhviennhi.org.vn

Cải thiện hiệu quả bệnh rối loạn tiêu hóa ở trẻ nhỏ

Một trong những vấn đề sức khỏe thường gặp ở trẻ đó là tình trạng rối loạn tiêu hóa (RLTH) khiến phụ huynh lo lắng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, 30% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là do RLTH. Cải thiện hiệu quả RLTH góp phần cải thiện sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ.

Nguyên nhân chính của tình trạng rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Thông thường, hệ tiêu hóa của người có khoảng hàng tỉ vi khuẩn khác nhau tạo nên hệ vi khuẩn hết sức phong phú. Hệ vi khuẩn này có sự hoạt động cân bằng, hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa giúp cơ thể hấp thụ tốt thức ăn. Những tác động bất lợi cho việc tiêu hóa như cấu trúc hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nhất là trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, việc sử dụng kháng sinh kéo dài, thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh vì bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc, thành phần thức ăn không phù hợp với lứa tuổi của trẻ, đặc biệt trẻ đang bị căng thẳng tâm lý, bồn chồn lo lắng, học tập căng thẳng…dễ dẫn tới sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa.

cai_thien_hieu_qua_benh_roi_loan_tieu_hoa_o_tre_nho

Nuôi con bằng sữa mẹ để giúp trẻ giảm thiểu nguy cơ rối loạn tiêu hóa

Cấu trúc hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện: ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, do hệ tiêu hóa chưa phát triển hoàn thiện nên các cơ và dây thần kinh của hệ dạ dày – ruột ở trẻ hoạt động không ăn ý, trẻ dễ bị chứng trào ngược thực quản và khó tiêu.

Sử dụng kháng sinh liên tục và kéo dài: trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, cần phải sử dụng kháng sinh điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Kháng sinh không chỉ tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn diệt luôn cả vi khuẩn có lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho các vi khuẩn có hại xâm nhập và phát triển mạnh hơn, gây mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, còn gọi là “ loạn khuẩn ruột”, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, thường gặp nhất là tình trạng đầy bụng, trướng hơi, tiêu phân sống, tiêu phân lầy nhầy, làm giảm khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Thức ăn bị ô nhiễm do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc: nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy(tiêu phân lỏng, tiêu phân có máu, tiêu đàm nhớt) thường là do vệ sinh kém trong quá trình chế biến thức ăn cũng như trongsinh hoạt, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa để gây bệnh. Mặt khác, khi bị vi khuẩn tấn công, nếu cơ địa trẻ hay thành ruột quá yếu thì bệnh càng trở nên trầm trọng hơn, nhất là những trường hợp ngộ độc thức ăn nghiêm trọng làm cho trẻ tiêu chảy ồ ạt, nôn – ói nhiều, đau quặn bụng… không chữa trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Thức ăn không phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ: thường gặp nhất là tình trạng không dung nạp đường lactose và khó tiêu hóa đạm trong sữa công thức, vì cơ thể trẻ không có khả năng sản sinh đủ lượng lactose enzyme để tiêu hóa đường lactose. Khi đó lượng đường lactose không được tiêu hóa vẫn nằm trong ruột của trẻ gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa. Ngoài ra, lượng đạm nhiều quá mức trong một số loại sữa công thức, vượt quá ngưỡng hấp thu của ruột cũng góp phần làm trẻ dễ bị táo bón do ruột phải tăng hấp thu nước để hòa tan lượng đạm thừa này trong nước tiểu.

Trẻ đang bị căng thẳng về tâm lý cũng dễ bị rối loạn tiêu hóa: việc tiêu hóa của trẻ không được thuận lợi vì khi trẻ lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, quấy khóc… làm cho việc bài tiết men tiêu hóa và các enzyme cần thiết để phân hủy và hấp thụ thức ăn bị giảm sút một cách đáng kể cũng làm cho tình trạng rối loạn tiêu hóa dễ xảy ra hơn.

Hậu quả của tình trạng rối loạn tiêu hóa

WHO nhận định, có khoảng 500 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới bị suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa được xem là nguyên nhân trực tiếp, hoặc gián tiếp chiếm đến 30%.

Khi tình trạng RLTH tiếp diễn kéo dài, chẳng bao lâu sức khỏe của trẻ sẽ bị suy sụp, rất khó trở lại trạng thái mạnh khỏe lúc ban đầu. Ngoài ra, khi trẻ đã bị suy dinh dưỡng sẽ lại càng dễ bị rối loạn tiêu hóa hơn, trẻ càng biếng ăn hơn, từ đó tình trạng suy dinh dưỡng sẽ trầm trọng, cứ thế gây nên một vòng luẩn quẩn khó có thể giải quyết tận gốc.

Theo kết quả khảo sát về tình hình dinh dưỡng ở trẻ em gần đây cho thấy, có tới 80% trẻ em Việt Nam có biểu hiện biếng ăn, còi cọc, suy dinh dưỡng là do chứng rối loạn tiêu hóa gây ra.

Giải pháp cải thiện tình trạng

Tăng cường việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhất là khuyến khích người mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời vì sữa mẹ chính là nguồn dinh dưỡng quý giá đối với trẻ nhỏ, trẻ bú mẹ thường rất ít bị rối loạn tiêu hóa vì sữa mẹ rất an toàn, nhiều kháng thể và rất phù hợp với sự tiêu hóa của trẻ.

Cho trẻ ăm dặm đúng cách, đúng thời điểm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (khi trẻ tròn 6 tháng tuổi) bằng các loại thức ăn phù hợp theo từng lứa tuổi của trẻ sẽ giúp hệ tiêu hóa của trẻ luôn khỏe mạnh.

Nếu trẻ được nuôi bằng sữa công thức, phụ huynh nên tuân thủ việc pha sữa đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải luôn đảm bảo việc vệ sinh bình sữa để ngăn ngừa hiệu quả các bệnh lý lây nhiễm qua đường tiêu hóa.

Thực hiện việc chế biến thức ăn cho trẻ phải tuân thủ tuyệt đối quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm do Bộ Y tế ban hành, để hạn chế tối đa những trường hợp ngộ độc thực phẩm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Tạo cho trẻ thói quen giữ vệ sinh cá nhân tốt, nhất là thói quen rửa tay sạch sẽ đúng cách trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi chơi đùa.

Thực hiện việc tẩy giun định kỳ cho trẻ từ 2 tuổi mỗi 6 tháng 1 lần, nhằm giảm những tác hại do nhiễm giun gây ra trong đó có tình trạng rối loạn tiêu hóa.

Bổ sung men tiêu hóa và các vitamin cần thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ được tốt hơn, nhất là đối với những trẻ đang điều trị kháng sinh sẽ làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ.

Ths.Bs Đinh Thạc
Theo SKDS

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần cuối

Chấn thương do tai nạn giao thông: trong những ngày Tết trẻ thường được bố mẹ chở đi chúc Tết hoặc đi chơi, do mật độ giao thông dày đặc là một trong những nguyên nhân gây tai nạn. Nhiều bố mẹ chở con không chú ý để trẻ ngủ gật hay gặp phương tiện lưu thông ẩu va chạm sẽ làm các bé ngã và bị chấn thương.

Khi đó cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay khi xảy ra sự cố để trẻ được chăm sóc tốt nhất. Phòng ngừa: khi chở con đi du xuân, bố mẹ cần tuân thủ tốt luật giao thông, cho trẻ ngồi trên ghế riêng, có dây an toàn buộc ngang người đề phòng bé ngủ gật.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_cuoi

Bị bỏng do điện, nước sôi: những ánh đèn nhấp nháy để trang trí trên các cây mai, đào rất dễ lôi kéo trẻ khám phá; nếu những dây điện này bị hở thì đó là một nguy cơ cao cho sự an toàn của trẻ. Bình thủy đựng nước sôi, ấm trà nóng pha sẵn đặt trên bàn chờ đón khách cũng là những nguyên nhân gây bỏng cho nhiều trẻ trong mùa Tết. Triệu chứng và hướng xử trí: nếu trẻ bị bỏng điện thì ngắt ngay nguồn điện, sau đó đưa trẻ đến bệnh viện. Nếu bị bỏng nước sôi thì cần sơ cứu ngay tại chỗ bằng cách làm giảm nhiệt độ chỗ bé bị bỏng (rửa vùng bị bỏng dưới vòi nước) rồi dùng khăn hay vải sạch để băng vùng da này lại, sau đó đưa bé đến bậnh viện để được điều trị. Phòng ngừa: luôn để mắt đến trẻ, không cho trẻ chạm vào dây điện, không để bình trà, bình thủy ở tầm mắt, tầm với của trẻ mà nên để ở nơi an toàn.

Hạ đường huyết: ngày Tết là những ngày mà các bậc phụ huynh thường cho trẻ vui chơi thoải mái với suy nghĩ “học cả năm chơi có mấy ngày không sao”. Vì vậy, có không ít trẻ mê chơi điện tử quên cả ngủ và bỏ cả bữa ăn. Một số trẻ đã ngồi chơi nhiều giờ liền mà không ăn uống gì nên dễ bị hạ đường huyết. Ngoài ra, có một số trẻ bị “bỏ đói” do bố thì nghĩ mẹ đã cho ăn còn mẹ lại nghĩ bố đã cho ăn. Việc bị “bỏ đói” cũng có thể khiến bé bị hạ đường huyết. Triệu chứng và hướng xử trí: trẻ bị hạ đường huyết thường có biểu hiện chóng mặt, vã mồ hồi, tay chây lạnh ngắt, hoặc thậm chí ngất xỉu. Cần nới lỏng quần áo, cho trẻ nằm đầu bằng (không gối), uống ngay một ly nước ấm pha đường, khi trẻ đã tỉnh thì cho trẻ ăn một chén cháo hay súp nóng. Phòng ngừa: nên duy trì lịch ăn uống hàng ngày cho trẻ một cách nghiêm túc. Có thể cho trẻ vui chơi nhiều hơn thường ngày một chút nhưng phải đảm bảo trẻ ngủ đủ giấc, nhất là giấc ngủ đêm.

Ngoài những bệnh và tai nạn nêu trên, ở trẻ em còn có thể gặp một số bệnh trong những ngày lạnh cuối năm như quai bị, thủy đậu, viêm màng não. Bệnh quai bị, thủy đậu ít khi gây ra các biến chứng nguy hiểm nhưng rất dễ lây lan cho những người trong gia đình và ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe và học hành của các cháu. Hiện tại đã có vắc xin phòng ngừa hai bệnh này.

Trẻ trẻ bị viêm màng não thường có các triệu chứng sốt, ói, bỏ bú, kích thích, quấy khóc, bức rức, hay nhức đầu (nếu trẻ lớn có thể nói được). Các phụ huynh cần nghi ngờ trẻ có thể bị viêm màng não khi thấy trẻ có sốt kèm bỏ bú, nôn ói liên tục, co giật, li bì, cổ cứng hoặc thóp phồng. Khi nghi ngờ cần cho trẻ đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

Cách xử trí và phòng ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ em mùa tết – Phần 2

Do tiết trời ẩm và không khí lạnh, trẻ em dễ bị cảm lạnh hoặc cúm, hoặc nặng sẽ dẫn đến viêm phổi, viêm phế quản, lên cơn hen suyễn… Ngày Tết, thời tiết ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta thường lạnh, thậm chí có nơi còn có mưa phùn. Các hoạt động du xuân và chúc Tết họ hàng sẽ khiến các bé phải đi lại và di chuyển thường xuyên ngoài đường do đó cơ thể sẽ rất dễ bị nhiễm sương, không tốt cho sức khỏe của trẻ em. Bên cạnh đó, mọi ăn uống sinh hoạt của trẻ còn bị thay đổi cho phù hợp với các hoạt động của gia đình. Do đó, có không ít trẻ nhập viện vì nhiễm lạnh dẫn đến viêm đường hô hấp cấp. Triệu chứng hay gặp nhất là bé hắt hơi, sổ mũi, họng bị viêm tấy đỏ… Thông thường, bệnh sẽ tự khỏi sau vài ngày ngày nếu bớt tiếp xúc với không khí lạnh. Tuy nhiên, nếu bệnh kéo dài thì cũng có nguy cơ bị bội nhiễm với vi trùng dẫn đến viêm họng, viêm phổi, viêm phế quản hay viêm xoang cần phải được các Bác sĩ điều trị bằng kháng sinh. Khi bị cảm lạnh nên giữ ấm cho trẻ, bổ sung thêm vitamin C, hạn chế đưa trẻ đến nơi đông người hoặc khu vực ô nhiễm, khói bụi, và cho trẻ đi khám ngay nếu có dấu hiệu sốt cao, khó thở, ho nhiều, khò khè. Phòng ngừa: cần chú ý giữ ấm cho trẻ khi có việc phải đi ra ngoài. Không cho trẻ ra khỏi nhà khi nhiệt độ dưới 10 độ C. Cần giữ ấm thân thể cho trẻ, nên che khẩu trang và choàng khăn cho trẻ khi đi ra ngoài, nhất là phần cổ, ngực, chân tay, không dùng chung khăn mặt với người khác, che miệng khi ho và hắt hơi.. Không cho trẻ ra đường khi quá sớm và về nhà quá trễ vì dễ bị nhiễm lạnh do sương.

cach_xu_tri_va_phong_ngua_nhung_benh_thuong_gap_o_tre_em_mua_tet_phan_2

Với những trẻ có cơ địa hen suyễn, thời tiết lạnh giá mùa Tết là điều kiện thuận lợi cho bệnh hen suyễn “hoành hành”. Để phòng ngừa căn bệnh này cho trẻ, hãy tuân thủ theo các nguyên tắc dưới đây: tránh xa khói thuốc lá, hạn chế cho trẻ đi ra ngoài khi thời tiết trở lạnh, sương, gió hay mưa, không nên ngủ chung với chó hoặc mèo, tránh cho trẻ ăn những loại thực phẩm dễ gây dị ứng như đậu phộng, hải sản, dâu tây, trứng, dùng kháng sinh không đúng cách và không phù hợp sẽ khiến cho tình trạng của bệnh sẽ ngày càng trở nên xấu hơn, tránh xa những loại thức ăn có chứa phẩm màu.

Dị vật đường hô hấp: các loại thức ăn bày biện nhiều màu sắc như mức tết, hạt dưa hấu, hạt bí, hạt đậu phộng…rất hấp dẫn trẻ, có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng tắt nghẽn đường hô hấp khi vô tình rơi vào đường hô hấp của trẻ. Dị vật đường hô hấp thường gặp ở trẻ lứa tuổi ăn dặm đến khoảng 3 tuổi, ở lứa tuổi này trẻ thường hay tò mò. Thấy người lớn cắn hạt dưa, hạt bí, hạt dẻ, hướng dương, đậu phộng… trẻ cũng tò mò bắt chước theo, thích nhét các loại đồ vật lạ vào miệng hoặc mũi. Ngoài ra, đồng tiền xu, đồ chơi có kích thước nhỏ cũng là một trong những thứ có thể khiến bé bị hóc dị vật. Do phản xạ đóng, mở thanh quản để bảo vệ đường thở chưa hoàn thiện nên trẻ rất dễ bị dị vật xâm nhập vào đường thở, gây khó thở đôi khi dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng là tử vong. Triệu chứng và hướng xử trí: dị vật đường thở cần được cấp cứu ngay vì có thể dẫn đến tử vong do ngạt hoặc viêm phổi kéo dài nếu dị vật bị bỏ sót. Thông thường, trẻ sẽ bị ho sặc sụa một cách đột ngột, khó thở, mặt tím tái, trợn mắt sau đó ngưng thở do tắc nghẽn đường thở cấp. Nếu dị vật gây tắc nghẽn đường thở hoàn toàn, tiếng thở của trẻ thường hay rít có kèm những cơn ho rũ rượi, mặt đỏ bừng. Vì vậy, cần đưa trẻ đến ngay bệnh viện để khám và gắp dị vật ra. Nếu thấy trẻ khó thở nặng, tím tái, hãy áp dụng phương pháp vỗ lưng ấn ngực để giúp trẻ không bị ngạt thở, sau đó  cho trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời. Phụ huynh nên chú ý hơn đến sinh hoạt, vui chơi của trẻ trong những ngày Tết là cách phòng ngừa dị vật đường hô hấp cho trẻ thiết thực nhất. Phòng ngừa: không cho trẻ ăn các loại hạt trên và trái cây khi chưa lấy hạt. Để những hạt này cách xa tầm nhìn, tầm với của trẻ. Nên có một dụng cụ đựng vỏ các loại hạt, tránh vứt lung tung trên sàn nhà vì trẻ cũng có thể nhặt lên bỏ vào miệng. Nếu thấy trẻ cho những thứ trên vào miệng thì nên nhẹ nhàng lấy lại, không la hét khiến trẻ hoảng sợ có thể nuốt vào gây tắc đường thở (Còn tiếp).

Đăng bởi: BS CKII. TRỊNH HỮU TÙNG – PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KHTH
Theo benhviennhi.org.vn

Viêm kết mạc do khô mắt?

Tôi năm nay 73 tuổi, gần đây cảm giác lúc nào cũng như có bụi trong mắt, sợ ánh sáng có người bảo bị khô mắt. Tôi đi khám được bác sĩ chẩn đoán viêm kết mạc, dùng nhiều loại thuốc nhỏ mắt nhưng không khỏi. Xin hỏi tôi bị bệnh gì và cách chữa ra sao?

Lê Thị Hòa(Quảng Ngãi)

Viêm kết mạc là bệnh hay gặp có thể do nhiều nguyên nhân gây nên như nhiễm virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, kích thích, dị ứng… Ngoài ra, ở người cao tuổi còn gặp viêm kết mạc do khô mắt. Tùy nguyên nhân, nếu viêm kết mạc do vi khuẩn thì sử dụng kháng sinh (dùng thuốc nhỏ mắt cloroxit hoặc gentamicin, SMP…; trẻ sơ sinh dùng argyrol). Nếu viêm kết mạc dị ứng thì phải dùng dexamethason hoặc hydrocortison… Nếu do khô mắt phải dùng nước mắt nhân tạo. Muốn biết chắc có phải do khô mắt hay không thì cần đi khám để bác sĩ chuyên khoa mắt thử test sehimer – là dùng một giấy thử (giấy dùng trong phòng thí nghiệm) đặt vào mắt sau 10 phút, nếu nước mắt ngấm ướt giấy có đường kính dưới 10cm thì được coi là khô mắt. Trường hợp của bác có thể bị viêm kết mạc do khô mắt.

viem_ket_mac_do_kho_mat

Nguyên nhân khô mắt ở người cao tuổi là do tuyến nước mắt ở tuổi này hoạt động chậm lại, không cung cấp đủ nước mắt để bôi trơn khi nháy mắt. Ngoài ra, một số thuốc như thuốc điều trị tăng huyết áp cũng làm giảm nước mắt.

Để chữa khô mắt, trong trường hợp này có thể dùng nước mắt nhân tạo có bán ở các hiệu thuốc. Tuy nhiên cần đến khám tại chuyên khoa mắt để được chẩn đoán chắc chắn và được hướng dẫn chữa trị cụ thể.

BS. Ngô Thị Hường
Theo SKDS

Bệnh viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh

Viêm kết mạc là bệnh thường gặp khi trẻ mới sinh được vài ngày, với các triệu chứng hai mi sưng nề, đỏ, chảy nước mắt kèm dử mắt, trẻ khó mở mắt thậm chí không mở được mắt,… Nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, nặng hơn có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân chủ yếu gây viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh là do trẻ bị nhiễm khuẩn từ đường sinh dục của người mẹ khi sinh (hay gặp nhất là do lậu, chlamydia,…), do nhiễm khuẩn từ trong bụng mẹ (thường gặp trong những trường hợp vỡ ối sớm) hoặc do trẻ không được chăm sóc, vệ sinh tốt trong những ngày đầu sau sinh…

Triệu chứng

Ngay trong 1-2 ngày đầu sau sinh, trẻ có biểu hiện: hai mi mắt sưng nề, đỏ, trường hợp nặng mi sưng nhiều làm trẻ khó mở mắt hoặc không mở được mắt; mắt đỏ rực; chảy nhiều nước mắt, kèm theo ghèn (dử mắt), nặng hơn mủ nhiều,… Thường bị cả hai mắt, ít khi một mắt trước sau đó lan sang mắt kia. Đối với viêm kết mạc do lậu rất nguy hiểm với các triệu chứng là sưng mi mắt, đỏ mắt, chảy mủ mắt lượng nhiều,… nếu không điều trị ngay có thể gây loét giác mạc, để lại sẹo, dẫn đến mù lòa.

benh_viem_ket_mac_o_tre_so_sinh

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Từ Dũ 9TP.HCM). Ảnh: H.Cát

Ðiều trị ngay khi trẻ có triệu chứng

Do tính chất cấp tính của bệnh cho nên ngay sau khi sinh trẻ cần được theo dõi, chăm sóc mắt và vệ sinh thân thể tốt. Nếu thấy có biểu hiện viêm kết mạc trẻ cần được điều trị ngay tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh cần phải điều trị dứt điểm ngay bằng thuốc kháng sinh dạng tiêm, dung dịch, mỡ; rửa mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Người chăm sóc trẻ cần chú ý khi vệ sinh, tra thuốc, nhỏ thuốc mắt cho trẻ sơ sinh phải hết sức cẩn thận, nhẹ nhàng, tránh gây xước da, niêm mạc mắt trẻ. Trước khi vệ sinh, tra thuốc mắt cho trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng diệt khuẩn.

Để phòng bệnh viêm kết mạc, ngay sau khi sinh trẻ cần được tra thuốc mỡ tetracyclin 1% hoặc nhỏ mắt bằng dung dịch cloramphenicol 0,4%, argyrol 1% theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Trẻ mắc bệnh này chủ yếu do bị nhiễm khuẩn qua đường âm đạo của mẹ khi sinh (do bệnh nhiễm khuẩn sinh dục của người mẹ) nên trước khi mang thai người mẹ cần khám phụ khoa và điều trị dứt điểm các bệnh viêm nhiễm sinh dục để phòng bệnh cho trẻ khi sinh.

Bác sĩ Thu Lan
Theo SKDS

Chữa đau mắt đỏ – Thuốc nên dùng?

Các tỉnh miền Trung vừa trải qua một đợt mưa bão lớn nhất trong vòng gần 100 năm qua. Người dân vùng lũ đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các dịch bệnh có nguy cơ phát sinh sau lũ như tiêu chảy, đau mắt đỏ… Vậy, khi sử dụng thuốc chữa đau mắt đỏ, cần lưu ý những gì?

chua_dau_mat_do_thuoc_nen_dung

Nên dùng thuốc gì?

Đau mắt đỏ là một bệnh do viut gây ra và hiện trên thị trường chưa có thuốc diệt vi-rút gây đau mắt đỏ. Các thuốc đang có hiện nay như acyclovir, zovirax… chỉ có tác dụng hạn chế sự sinh sôi của vi-rút. Đối với kháng sinh chỉ nên dùng kháng sinh tra, nhỏ tại chỗ, kháng sinh phổ rộng để phòng ngừa nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân đau mắt đỏ. Nên dùng một trong các loại kháng sinh sau đây: tobramycine 0.3% (tobrex, toeycine), quinolone (oflovid, okacin, vigamox), neomycine và polymycine B (cebemycine).

Sử dụng nước muối sinh lý 0,9% cũng có tác dụng rửa trôi mầm bệnh, rửa trôi chất tiết và gỉ mắt, làm dịu mắt đang bị cộm rát khó chịu. Các chế phẩm bôi trơn mắt có độ nhớt quá cao như celluvisc, liposic không nên dùng trong giai đoạn đầu của bệnh.

Không nên xông, đắp lá

Các phương pháp dân gian như xông lá trầu không, lá dâu, lá tre… tuy có làm người bệnh dễ chịu đôi chút nhưng không hề làm bệnh mau khỏi, chưa kể một số bệnh nhân xông lá có thể gây bỏng mắt, trợt giác mạc, xuất huyết dưới kết mạc và sưng nề hơn sau khi xông lá. Vì vậy, không nên áp dụng các phương pháp trên để điều trị bệnh mà cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn và điều trị kịp thời.

Tuy một vài bệnh nhân có sốt nhẹ, đau họng, sưng hạch, ho húng hắng… nhưng đó là triệu chứng xâm nhập của virut vào cơ thể và phản ứng của hệ bạch huyết. Do vậy không cần phải dùng kháng sinh.
Cần nhỏ mắt theo đúng chỉ định của thầy thuốc.

Có nên dùng các thuốc nhỏ mắt có cortizol?

Các thuốc nhỏ mắt có cortizol như polydexa hay clodexa đã từng gây rất nhiều tai biến. Tuy nhiên trong điều trị viêm kết mạc dịch, các thuốc giảm viêm dùng sau ngày thứ 5 kể từ lúc phát bệnh sẽ làm bệnh diễn tiến nhanh theo chiều hướng tốt. Một vài trường hợp cá biệt bệnh sẽ nặng lên do những nguyên nhân sau đây: chẩn đoán nhầm, kháng sinh không đủ hiệu lực che chở nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, không được sử dụng các sản phẩm có cortizol nếu không có đơn của thầy thuốc chuyên khoa mắt.
Cách ly người bệnh và điều trị tốt cho họ, không đến những nơi tập trung đông người như bệnh viện, trường học… Rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng nhiều lần trong ngày, nhỏ nước muối vệ sinh mắt… để phòng tránh bệnh đau mắt đỏ trong mùa dịch.

Bác sĩ  Thanh Kim
Theo SKDS

Chữa đau mắt đỏ có nên dùng kháng sinh?

Hiện nay, đang vào mùa đau mắt dịch (còn gọi là đau mắt đỏ, viêm kết mạc dịch hay viêm kết mạc do virut). Vậy khi bị đau mắt đỏ thì việc dùng thuốc như thế nào?

chua_dau_mat_do_co_nen_dung_khang_sinh

Hình ảnh viêm kết mạc do virut.

Kháng sinh không phải là vũ khí chính

Hiện chưa có thuốc diệt virut gây đau mắt đỏ. Các thuốc đang có hiện nay như acyclovir, zovirax… chỉ có tác dụng hạn chế sự sinh sôi của virut. Nếu dùng thì cũng không làm bệnh nhanh khỏi hơn mà chỉ hỗ trợ quá trình diễn biến của bệnh diễn ra thuận lợi. Đối với kháng sinh chỉ nên dùng kháng sinh tra, nhỏ tại chỗ, kháng sinh phổ rộng để phòng ngừa nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân đau mắt đỏ. Cũng chỉ nên dùng một trong các loại kháng sinh sau đây: tobramycine 0.3% (tobrex, toeycine), quinolone (oflovid, okacin, vigamox), neomycine và polymycine B (cebemycine).

Tại sao lại phải dùng nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo?

Nước muối sinh lý 0,9% hay cao cấp hơn là nước mắt nhân tạo (Tear natural) sẽ rửa trôi mầm bệnh, rửa trôi chất tiết và gỉ mắt, làm êm dịu đôi mắt đang cộm rát khó chịu. Các chế phẩm trên không có chất kháng sinh cũng không có chất diệt virut nhưng vẫn được kê đơn rộng rãi là nhờ những tính năng trên. Các chế phẩm bôi trơn mắt có độ nhớt quá cao như celluvisc, liposic không nên dùng trong giai đoạn đầu của bệnh.

Có nên dùng các phương thức điều trị dân gian?

Rất nhiều người nghiện xông lá trầu không, lá dâu, lá tre… Kinh nghiệm cho thấy, các phương pháp này tuy có làm người bệnh dễ chịu đôi chút nhưng không hề làm bệnh mau khỏi, chưa kể một số bệnh nhân xông lá có thể gây bỏng mắt, trợt giác mạc, xuất huyết dưới kết mạc và sưng nề hơn sau khi xông lá. Uống lá dấp cá, uống chè hoa cúc có vẻ khả dĩ hơn phương pháp xông lá.

Có nên uống kháng sinh, uống thuốc chống sưng nề hay chống viêm?

Hoàn toàn không cần thiết. Như đã nói kháng sinh không phải là vũ khí để chống chọi với mầm bệnh virut. Tuy một vài bệnh nhân có sốt nhẹ, đau họng, sưng hạch, ho húng hắng… nhưng đó là triệu chứng xâm nhập của virut vào cơ thể và phản ứng của hệ bạch huyết. Do vậy không cần phải dùng kháng sinh. Thuốc chống sưng nề, chống viêm có lẽ chỉ làm bác sĩ và bệnh nhân yên tâm hơn chứ không có tác dụng thực tế.

Việc dùng các thuốc nhỏ mắt có cortizol

Polydexa hay clodexa đã từng gây kinh hoàng cho rất nhiều bệnh nhân bởi rất nhiều tai biến của chúng. Ai cũng biết đây là con dao hai lưỡi trong điều trị học nhãn khoa. Tuy nhiên trong viêm kết mạc dịch, quan điểm có vẻ cởi mở hơn. Các thuốc giảm viêm  dùng  sau ngày thứ 5 kể từ lúc phát bệnh có vẻ làm bệnh diễn tiến nhanh theo chiều hướng tốt.  Một vài trường hợp cá biệt bệnh sẽ nặng lên do những nguyên nhân sau đây: chẩn đoán nhầm, kháng sinh không đủ hiệu lực che chở nhiễm khuẩn. Sau cùng thì chúng ta vẫn nên nhớ một nguyên tắc là: không được sử dụng các sản phẩm có cortizol nếu không có đơn của thầy thuốc chuyên khoa mắt.

Phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh

Cách ly người bệnh và điều trị tốt cho họ. Tránh không đến nơi có nhiều bệnh nhân mắt trong mùa dịch như bệnh viện, siêu thị, các trung tâm vui chơi giải trí… Rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng nhiều lần trong ngày, rỏ nước muối vệ sinh mắt… là cách bảo vệ chúng ta khỏi những phiền toái do viêm kết mạc dịch.

BS. Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt Trung ương)
Theo SKDS

Cách lựa chọn và sử dụng kháng sinh trong viêm phổi cộng đồng

“Sử dụng kháng sinh sớm, đúng và chọn kháng sinh phù hợp là yếu tố quyết định thành công cả về mặt lâm sàng và vi khuẩn học trong điều trị viêm phổi cộng đồng”. Đó là thông tin mà các chuyên gia đưa ra trong hội thảo “Fluoroquinolon – Chọn lựa và sử dụng trong viêm phổi cộng đồng ngày nay” do Hội hô hấp Hà Nội và Công ty Bayer Schering Pharma vừa tổ chức tại Hà Nội.

cach_lua_chon_va_su_dung_khang_sinh_trong_viem_phoi_cong_dong

Cho đến nay viêm phổi cộng đồng vẫn là một bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng. Tại Mỹ viêm phổi cộng đồng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 6 sau các bệnh lý khác. Ở nước ta bệnh này chiếm tới 12% các bệnh về phổi. Nguyên nhân chủ yếu là do các vi khuẩn tồn tại trong cộng đồng gây nên như Streptococcus pneumoniae (chiếm tới 2/3), tiếp đến là Haemophilus influenzae…

Theo các chuyên gia, việc thất bại trong điều trị viêm phổi cộng đồng thường do kháng thuốc, chọn lựa sai phác đồ và không tuân thủ điều trị… Các fluoroquinolon (moxifloxacin, ciprofloxacin, levofloxacin) là thế hệ kháng sinh quinolon mới có phổ kháng khuẩn rộng, nhạy cảm với hầu hết các vi khuẩn gây viêm xoang cấp, đợt cấp của viêm phế quản mãn và viêm phổi mắc phải trong cộng đồng. Moxifloxacin, ciprofloxacin còn tác dụng cả với các vi khuẩn đã kháng macrolid, aminozid, các cephalosporin thế hệ mới… Tuy nhiên cần coi các kháng sinh này như một “vũ khí chiến lược” chỉ dùng khi mà các kháng sinh khác không đáp ứng.

H Dương
Theo SKDS

Khi bé bị sốt – Những điều cần lưu ý

Sốt  là một  triệu chứng thường hay gặp nhất ở trẻ em và là một  trong những nguyên nhân hàng đầu làm phụ huynh lo lắng và  đưa con đến khám bệnh. Bình thường thân nhiệt ở trẻ dao động từ 36,8 độ C đến 37,3 độ C. Nhiệt độ buổi chiều thường tăng hơn buổi sáng khoảng nửa độ. Gọi là sốt khi trẻ có nhiệt độ trên 38 độ C (đo nhiệt độ hậu môn hoặc ở tai là chính xác , ở nách thì cộng thêm 0,5 độ nữa) .

Sốt cao có thể từ 39 đến 40 độ C. Trên 40,5 độ thì xem như một cấp cứu đối với trẻ vì dễ đưa đến co giật. Tuy nhiên ở nhiều trẻ có tiền căn co giật thì ngưỡng sốt gây co giật có thể thấp hơn , có thể chỉ cần sốt dưới 38 độ C là có nguy cơ gây co giật.

khi_be_bi_sot_nhung_dieu_can_luu_y

 Nguyên nhân gây sốt:

Sốt  là phản ứng tự vệ của cơ thể, chống lại các tác nhân gây nhiễm, sốt là một dấu hiệu tốt chứng tỏ cơ thể có khả năng tự vệ, đối với trẻ sơ sinh đôi khi có tình trạng nhiễm trùng nhưng không sốt, hoặc trẻ suy giảm miễn dịch,trẻ bị lao nặng cũng không sốt.

Có nhiều nguyên nhân gây sốt, đa số là do nhiễm siêu vi. Sốt có thể do bị trúng nắng, trúng nóng. Sốt có thể do cơ thể bị nhiễm trùng như viêm đường hô hấp, viêm ruột, bị nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng da, sốt do nhiễm lao,..hoặc chỉ  đơn thuần là bé sốt sau khi chích ngừa hoặc mọc răng, đó là phản ứng tốt của cơ thể,  tuy nhiên trong những  trường hợp này thì sốt không kéo dài quá 2 ngày. Và có những trường hợp sốt do sử dụng kháng sinh kéo dài và liên tục.

Tuổi nào thì thường bị sốt?

– Tuổi nào cũng có thể sốt, càng nhỏ càng dễ sốt. Sốt ở trẻ nhỏ thường dễ hạ nếu tìm ra nguyên nhân và xử lý nguyên nhân.

– Khi nào thì sốt đáng lo? Đó là những trường hợp sau:

· Sốt cao khó hạ , cho dù đã lau mát , uống thuốc hạ nhiệt.

· Có những trường hợp sốt kèm theo các triệu chứng nguy hiểm khác như nôn ói , thở khò khè, thở mệt, giựt mình hoảng hốt , lạnh tay lạnh chân v.v…

· Sốt cao liên tục 2, 3 ngày hoặc sốt tái đi tái lại kéo dài hơn 1 tuần.

· Riêng trẻ  nhỏ dưới 3 tháng tuổi  khi bị sốt, nhất thiết phải đi khám và cần nhập viện để tìm nguyên nhân nhất là trẻ còn trong tháng mà sốt.

Làm gì khi thấy  bé  sốt:

– Khi trẻ sốt phải cởi quần áo bé ra, lau bằng nước ấm, nhất là vị trí ở nách, bẹn, đầu. Lau nước khoảng 5- 15 phút và mặc quần áo thoáng nhẹ bằng cotton cho bé. Sau nửa giờ  cặp nhiệt  lại, nếu nhiệt độ chưa xuống thì nên cho bé uống hạ sốt hoặc nhét thuốc ở hậu môn cho bé.

– Không nên ủ ấm bé và cũng  không nên chườm lạnh khi bé đang sốt. Khi gặp lạnh mạch sẽ bị co lại, khó thoát nhiệt hơn.

– Không dùng rượu hay chanh để chà sát , lau cho bé, dễ gây  ngộ độc và dễ tổn thương da .

– Không tự ý dùng thuốc kháng sinh.

– Khi sốt cao , tạm ngưng ăn, đề phòng bé sốt cao có thể gây co giật.

– Cho bé uống nước nhiều vì sốt thường mất nhiều nước qua mồ hôi và hô hấp, nêu uống nước ít sốt sẽ khó hạ.

– Khi đã qua cơn sốt cho bé ăn nhẹ , thức ăn dễ tiêu, và tăng lên từ từ.

– Trẻ còn bú mẹ thì vẫn cho bú theo nhu cầu.

– Theo dõi các dấu hiệu đi kèm sốt là việc quan trọng, vì sẽ tìm ra nguyên nhân gây sốt và lưu ý những dâu hiệu nặng của trẻ .

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thanh
Theo benhviennhi.org.vn

Hướng dẫn cách dùng kháng sinh đúng cách khi trẻ bị bệnh hô hấp

Sợ biến chứng viêm phổi khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp nên nhiều người vội cho bé uống kháng sinh. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nó không có tác dụng phòng biến chứng mà còn gây tác dụng không mong muốn như: dị ứng, tiêu chảy…

Phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội)cho biết, việc sử dụng kháng sinh khi không cần thiết còn làm gia tăng các vi khuẩn kháng thuốc, khi trẻ bị bệnh cần dùng kháng sinh thì sẽ rất khó chữa trị. Khi đó phải dùng các loại kháng sinh đắt tiền hơn, nhưng vẫn có trường hợp thất bại.

Đây là một thực trạng đáng báo động. Lấy ví dụ với phế cầu khuẩn S.pneumoniae có thể gây viêm mũi-họng, viêm tai giữa, viêm xoang ở trẻ. Một nghiên cứu gần đây tại huyện Ba Vì, Hà Nội cho thấy, có đến 95% chủng trong số hơn 400 chủng của khuẩn này đã đề kháng với ít nhất 1 loại kháng sinh và chỉ có duy nhất 1 chủng nhạy cảm với tất cả các loại kháng sinh. Trong số này có nhiều loại kháng sinh thông dụng như: tetracycline, ampicillin, cefotaxime, ciprofloxacin…

khang_sinh_dung_cach_khi_tre_bi_benh_ho_hap

Trẻ nhỏ rất hay bị ho, sốt, chảy nước mũi, đau họng…, tuy nhiên không phải lúc nào thuốc kháng sinh cũng có tác dụng. Ảnh: N.P.

Vì thế, điều quan trọng là phải dùng kháng sinh đúng nhóm bệnh. Dưới đây là một số lời khuyên của phó giáo sư Dũng về việc dùng kháng sinh cho trẻ:

1. Viêm mũi họng cấp hoặc nhiễm khuẩn đường hô hấp trên vị trí không xác định

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do virus, thuốc kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng. Vì vậy, cha mẹ không nên cho trẻ dùng kháng sinh trong trường hợp này.

Việc điều trị chủ yếu là điều trị các triệu chứng như: hạ sốt, thuốc ho, thuốc sổ mũi… Bệnh thường tự khỏi sau 3-7 ngày.

2. Viêm họng, viêm amidan cấp do liên cầu

Để chẩn đoán chính xác viêm họng do liên cầu phải làm xét nghiệm cấy nhớt họng hoặc các test chẩn đoán nhanh. Tuy nhiên, thực tế không phải trẻ nào bị viêm họng cũng có thể lấy dịch họng để xét nghiệm tìm liên cầu được. Theo Tổ chức Y tế Thế giới cần nghĩ đến viêm họng do liên cầu ở trẻ khi có ít nhất các dấu hiệu sau: họng đỏ, amidan sưng, có chất xuất tiết trắng và sưng đau hạch cổ.

Ngoài ra còn có thể có thêm một số triệu chứng khác như: đau họng, sốt, đau đầu, chấm xuất huyết nhỏ ở vòm. Nếu chỉ có họng đỏ không thôi thì thường là viêm họng do virus.

Trẻ bị viêm họng do liên cầu cần được điều trị đúng và đủ liều kháng sinh để phòng biến chứng thấp khớp cấp có thể ảnh hưởng đến tim, sau này rất khó chữa.

3. Viêm tai giữa cấp

Nguyên nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn và cả virus- chiếm 40-75%. Đây là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ.

Kháng sinh được chỉ định dùng trong một số trường hợp sau:

Trẻ dưới 6 tháng tuổi

Trẻ 6 tháng đến 2 tuổi: Dùng kháng sinh nếu chẩn đoán chắc chắn và nếu chẩn đoán không chắc chắn nhưng bệnh nặng.

Trẻ trên 2 tuổi: Dùng kháng sinh nếu chẩn đoán chắc chắn và bệnh nặng.

Các trường hợp khác: Điều trị triệu chứng và theo dõi sau 2 ngày nếu bệnh không đỡ mới dùng kháng sinh.

4. Viêm mũi xoang cấp do vi khuẩn

Biểu hiện thường gặp của bệnh là: chảy mũi, tắc mũi, ho về ban ngày, thường không đỡ sau 10 ngày hoặc bệnh nặng hơn với các biểu hiện như: sốt, chảy mũi mủ, đau ở vùng xoang trên mặt sau 5-7 ngày.

Trừ azithromycyn có thể dùng 3-5 ngày, còn những loại kháng sinh khác dùng ít nhất 10 ngày, dài nhất có thể tới 4 tuần. Thời gian dùng kháng sinh phụ thuộc vào thời gian hết các triệu chứng và cộng thêm 1 tuần sau khi hết triệu chứng.

Theo vnexpress

Viêm cơ xương do tụ cầu gây ra

Mùa nắng nóng, mồ hôi, bụi bẩn bám trên da nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập vào da gây bệnh, thường gặp nhiều là nhiễm khuẩn do tụ cầu. Ở số báo 71 chúng tôi đã giới thiệu bài viêm da mủ do tụ cầu. Trong bài viết dưới đây chúng tôi tiếp tục đề cập đến các bệnh nhiễm khuẩn cơ và xương cũng do tụ cầu gây ra.

Tụ cầu là tác nhân gây bệnh ở nhiều cơ quan trong cơ thể như nhiễm khuẩn da và mô mềm, đường hô hấp, hệ thần kinh, đường tiết niệu, nhiễm khuẩn nội mạch, viêm màng tim, vãng khuẩn huyết, chúng cũng là thủ phạm gây ra các bệnh ở cơ và xương như viêm xương tủy cấp và mạn tính, viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm cơ mủ, làm tổn thương nặng nề cơ xương của bệnh nhân, bao gồm cả người lớn và trẻ em. Sau đây là những thể bệnh thường gặp do tụ cầu gây ra trong mùa hè.

viem_co_xuong_do_tu_cau_gay_ra_01

Tụ cầu gây viêm cơ xương.

Viêm cơ mủ  

Bệnh viêm cơ mủ gặp nhiều ở vùng nhiệt đới trong đó có Việt Nam. Những người có nguy cơ cao mắc bệnh là: bệnh nhân đái tháo đường, nghiện rượu, điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch hoặc bệnh máu ác tính. Có thể viêm ở bất cứ cơ nào, nhưng hay gặp viêm cơ ở mặt trước cơ đùi, mông và cơ thắt lưng chậu. Triệu chứng toàn thân là hội chứng nhiễm khuẩn: bệnh nhân bị sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn, mắt trũng, hơi thở hôi. Biểu hiện tại chỗ là viêm cơ, có thể một cơ bị viêm hay nhiều cơ cùng bị viêm.

Cơ viêm thường có triệu chứng: cơ to ra, sưng nóng đỏ đau; ấn vào thấy dấu hiệu bùng nhùng, phù nề ấn lõm, chọc hút cơ thấy mủ. Thể bệnh hay gặp nhất là áp-xe cơ thắt lưng chậu,  với triệu chứng: cơ bị xuất huyết tại chỗ; đau kéo dài ở vùng hông kèm sốt; bệnh nhân có đau ở vùng mạng sườn, hạ sườn; có khi bệnh nhân không duỗi được chân ở bên có cơ bị tổn thương. Chụp CT bụng hoặc MRI có thể thấy ổ viêm mủ ở khối cơ thắt lưng chậu.

Viêm xương tủy cấp tính

Tụ cầu cũng là mầm bệnh chủ yếu gây viêm xương tủy cấp tính ở người lớn và trẻ em. Vi khuẩn lây lan qua đường máu, hoặc lây trực tiếp từ mô nhiễm khuẩn lân cận đến phá hủy xương. Chẳng hạn viêm da mủ hoặc viêm cơ mủ do tụ cầu. Nếu bệnh nhân có sức đề kháng kém hoặc do phát hiện và điều trị các bệnh nói trên muộn thì vi khuẩn sẽ vào máu hoặc lây lan trực tiếp đến gây viêm tủy xương.

Hay gặp nhất là thể cột sống của bệnh viêm xương tủy xuất huyết do tụ cầu ở người trưởng thành. Bệnh xuất hiện với những triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi, suy nhược. Đau lan từ vị trí xương bị viêm qua vùng phần mềm bị ảnh hưởng. Đặc biệt trên phim Xquang thấy hình ảnh của xương bị phá hủy. Xét nghiệm thấy tăng bạch cầu và tăng tốc độ lắng hồng cầu, protein… Một số bệnh nhân thấy biểu hiện vãng khuẩn huyết.

Viêm xương tủy mạn tính

Bệnh thường gặp sau khi phẫu thuật, sau chấn thương đụng giập da và cơ. Có thể sau nhiều năm không có triệu chứng, bệnh đột ngột xảy ra với triệu chứng đau, xuất hiện những đường dẫn lưu hốc xương và dẫn lưu mủ từ xương viêm ra ngoài da. Trên phim chụp Xquang có thể thấy những vùng xương bị phá hủy do tụ cầu. Sinh thiết xương hoặc nuôi cấy bệnh phẩm từ vùng tổn thương tìm thấy tụ cầu gây bệnh.

Thể đặc biệt của viêm xương tủy là kết hợp với khớp giả hoặc liên quan đến những dụng cụ đóng ở trong hay bên ngoài xương. Biểu hiện chính của thể bệnh này là đau ở xương viêm, sốt, sưng và giảm cử động vùng tổn thương. Chụp Xquang có thể thấy sự lỏng lẻo của bộ phận giả nhất là ở bề mặt tiếp xúc giữa xương và vật kết hợp xương.

Viêm khớp nhiễm khuẩn

Bệnh thường gặp ở người lớn và trẻ lớn. Những đối tượng có nguy cơ cao viêm khớp nhiễm khuẩn là những người tiêm chích ma túy, bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp dạng thấp, người dùng thuốc steriod trong khớp hay toàn thân, bệnh nhân bị vết thương xuyên thấu, bệnh nhân bị phá hủy khớp do chấn thương hay bệnh tật. Các khớp thường gặp bị tổn thương là: khớp gối, khớp hông, khớp cùng chậu… Chọc dịch khớp nuôi cấy thấy tụ cầu gây bệnh.

viem_co_xuong_do_tu_cau_gay_ra_02Hình ảnh xương đùi trái bị phá hủy do tụ cầu trên phim Xquang.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh

Điều trị viêm cơ và xương do tụ cầu tốt nhất là sử dụng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Do đặc điểm của tụ cầu là khả năng kháng thuốc rất cao. Vì vậy bệnh nhân cần tuân thủ chỉ định điều trị bằng kháng sinh của thầy thuốc. Tuyệt đối không tự ý mua thuốc uống, vì làm như thế dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn kháng thuốc do dùng thuốc không đúng liều, dùng thuốc không có tác dụng với vi khuẩn.

Khi  bệnh nhân điều trị ở bệnh viện, thầy thuốc thường phải kết hợp với các liệu pháp điều trị như: dẫn lưu mủ tất cả ổ áp-xe do tụ cầu để điều trị; cắt bỏ mô hoại tử; tháo bỏ vật liệu kết hợp xương đã dùng trước đây, ống thông tĩnh mạch, hoặc máy tạo nhịp tim. Vì vậy bệnh nhân cần hợp tác tốt với thầy thuốc.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân không lấy ống thông đi thì tỉ lệ tái phát gấp 6 lần, thậm chí tử vong do chính bệnh nhiễm khuẩn so với những bệnh nhân được lấy đi ống thông. Tùy thể bệnh mà thời gian dùng kháng sinh có khác nhau: viêm xương tủy cấp thường điều trị kháng sinh uống trong vòng 4 tuần.  Viêm xương tủy mạn tính điều trị bằng phẫu thuật mở ổ xương bị hoại tử để nạo vét dẫn lưu kết hợp điều trị kháng sinh toàn thân kéo dài vài tháng.

Việc phòng bệnh hiệu quả bằng các biện pháp: tắm rửa hằng ngày bằng nước sạch; điều trị tích cực các bệnh viêm da mủ do tụ cầu hoặc vi khuẩn khác; không nên uống nhiều rượu, bia; chăm sóc tốt bệnh nhân sau khi phẫu thuật, sau chấn thương đụng dập da và cơ để tránh bị nhiễm khuẩn cơ và xương do tụ cầu.

ThS. Nguyễn Thị Đào
Theo SKDS

Viêm âm đạo do nấm Candida: Vì sao hay tái phát?

Nấm âm đạo thường gặp ở phụ nữ là do một loại nấm có tên Candida Albicans gây ra. Ở điều kiện bình thường, nấm thường trực trong môi trường ở dạng bào tử nhưng không gây bệnh. Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi như thời tiết nóng, ẩm hoặc có nguyên nhân nào đó gây mất cân bằng môi trường sinh lý âm đạo, nấm mới phát triển và gây bệnh.

viem_am_dao_do_nam_candida_vi_sao_hay_tai_phat

Điều kiện để nấm Candida phát triển và gây bệnh

Candida là một loại nấm men có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước nhỏ khoảng 2-5 µm, thường sống hoại sinh trong đường tiêu hóa của người, động vật và trong âm đạo… Ở người khoẻ mạnh bình thường, nấm candida tìm thấy được 30% ở miệng, 38% ở ruột, 39% ở âm đạo, 17% ở phế quản…

Nấm Candida có thể phát triển và gây bệnh ở bất cứ đâu trên cơ thể con người nhưng chủ yếu ở da, niêm mạc. Niêm mạc ở âm hộ, âm đạo của phụ nữ là nơi có thể dễ dàng bị nấm Candida ký sinh tại chỗ phát triển và gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi.

Bệnh viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh thường gặp trong các bệnh phụ khoa. Bệnh có liên quan đến việc sử dụng kháng sinh có phổ diệt khuẩn rộng và kéo dài, ở phụ nữ có thai vào 3 tháng cuối của thai kỳ, có độ pH ở âm đạo thấp và người bị bệnh tiểu đường… làm cho nấm ký sinh có cơ hội phát triển gây bệnh. Ở những đối tượng nữ có hoạt động tình dục mạnh hoặc dùng thuốc phòng tránh thai cũng là người có thể có yếu tố nguy cơ bị mắc bệnh viêm âm hộ, âm đạo do nấm Candida. Bệnh nhân thường có biểu hiện triệu chứng ngứa ngáy âm hộ, có cảm giác nóng bỏng, giao hợp bị đau đớn và khó khăn… Khám phụ khoa thấy niêm mạc âm hộ, âm đạo bị viêm đỏ, có mảng màu trắng, dịch tiết ra như sữa đông. Tổn thương có thể lan ra  quanh âm hộ và háng bẹn của bệnh nhân.

Bệnh hay tái phát

Bệnh do nấm Candida ở âm đạo phụ nữ nhưng khi điều trị muốn khỏi bệnh phải điều trị cả cho vợ và chồng. Ở nhiều phụ nữ sau điều trị nấm âm đạo rất hay tái phát, ngoài nguyên nhân do chồng không cùng điều trị thì còn do người phụ nữ chủ quan, không làm đúng theo lời dặn của bác sĩ trong vệ sinh cá nhân như giặt riêng đồ lót bằng xà phòng, phơi khô ngoài nắng to trước khi mặc để tránh nhiễm nấm từ những đồ lót mặc lần trước. Không tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ là khi dùng hết thuốc phải khám và xét nghiệm lại theo đúng lịch hẹn, dẫn đến tình trạng thuốc uống thuốc chưa đủ liều, đặt chưa trị dứt điểm sạch nấm. Đặc biệt, một số trường hợp còn tự ý mua thuốc đặt khi thấy có biểu hiện ngứa, ra khí hư, do đó làm tăng nguy cơ kháng thuốc, tái phát rất cao.

Cách phòng như thế nào?

Viêm âm đạo do nấm candida gây ngứa rát, khó chịu khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt hằng ngày và rất dễ tái phát môi trường pH dễ thay đổi. Vì vậy, để tránh nhiễm nấm, chị em nên thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục, giữ quần áo khô ráo, sạch sẽ, phơi ở nơi có ánh sáng mặt trời. Khi vệ sinh chỉ nên rửa ở bên ngoài, không nên thụt rửa sâu để tránh làm mất cân bằng môi trường pH. Khi nhiễm nấm, cần đi khám, xét nghiệm và tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Nếu phụ nữ có gia đình bị nhiễm nấm thì nên điều trị cả hai vợ  chồng. Vì khi giao hợp, các vi khuẩn nấm sẽ đọng lại ở bao quy đầu của người chồng và đây là nguyên do khiến người vợ rất dễ nhiễm nấm trở lại.

Bác sĩ  Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống