Tag Archives: hội chứng

Các thuốc trị rối loạn lo âu

Rối loạn lo âu (RLLA) là một trong những rối loạn tâm thần, vì nguyên nhân chưa được biết rõ nên việc điều trị bệnh còn gặp nhiều khó khăn. Các biện pháp điều trị hiện nay bao gồm kết hợp tâm lý liệu pháp và dùng thuốc.

Rối loạn lo âu gây những hậu quả nặng nề hơn, nó có thể làm người bệnh bị trầm cảm; lạm dụng chất gây nghiện; mất ngủ; những vấn đề về dạ dày ruột; nhức đầu; nghiến răng. Do đó cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Điều trị RLLA bao gồm dùng thuốc đơn độc hoặc kết hợp với tâm lý liệu pháp. Cần phải điều trị thử bằng nhiều loại thuốc trước khi tìm được loại phù hợp nhất cho bệnh nhân.

cac-thuoc-tri-roi-loan-lo-au

Có nhiều loại thuốc để giảm bớt triệu chứng của RLLA

Các thuốc chống lo âu: Benzodiazepines là những thuốc an thần có ưu điểm làm giảm bớt lo âu trong vòng 30 – 90 phút. Nhược điểm của chúng là gây lệ thuộc thuốc nếu dùng quá vài tuần. Do đó, bác sĩ chỉ dùng thuốc này trong thời gian ngắn để giúp bạn vượt qua giai đoạn đặc biệt căng thẳng. Các thuốc thường dùng nhất gồm: alprazolam (xanax), chlordiazepoxide (librium), clonazepam (klonopin), diazepam (valium) và lorazepam (ativan). Những thuốc này có thể gây lảo đảo, choáng váng và mất phối hợp vận động. Dùng liều cao và trong thời gian dài có thể gây rối loạn trí nhớ. Không được lái xe và vận hành máy móc khi đang uống thuốc.
Buspirone (BuSpar) là một loại thuốc khác thường dùng để điều trị RLLA. Thuốc này phải mất vài tuần mới cải thiện được các triệu chứng, tuy nhiên ưu điểm của nó là không gây lệ thuộc thuốc. Tác dụng phụ thường gặp của buspirone là cảm giác lâng lâng trong một thời gian ngắn xảy ra sau khi dùng thuốc. Những tác dụng phụ ít gặp hơn là nhức đầu, buồn nôn, cảm giác bồn chồn và mất ngủ.

Thuốc chống trầm cảm: Các thuốc này ảnh hưởng đến hoạt động của một số chất dẫn truyền thần kinh được xem là có vai trò trong hình thành RLLA. Các thuốc chống trầm cảm thường dùng điều trị RLLA gồm: fluoxetine (prozac), paroxetine (paxil), imipramine (tofranil), venlafaxine (effexor), escitalopram (lexapro) và duloxetine (cymbalta).

Dù dùng thuốc chống lo âu, thuốc chống trầm cảm hoặc cả hai, bác sĩ cần điều trị thử vài thứ thuốc trước khi chọn được một loại thích hợp và ít tác dụng phụ nhất cho bạn. Bạn không được tự ý mua và sử dụng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ.

Cũng cần lưu ý rằng một số thuốc không tác dụng ngay, đặc biệt các thuốc chống trầm cảm. Cần phải mất vài tuần để cải thiện hoàn toàn các triệu chứng lo âu. Tâm lý liệu pháp hoặc các kỹ năng đối phó lành mạnh (healthy coping skills) sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn chuyển tiếp này.

Tâm lý liệu pháp

cac-thuoc-tri-roi-loan-lo-au1
Còn gọi là điều trị qua đối thoại và tư vấn. Tâm lý liệu pháp cần được sự giúp đỡ của bác sĩ chuyên khoa tâm thần qua sự lắng nghe và trao đổi.

Có bằng chứng cho thấy việc điều trị bằng phương pháp nhận thức ứng xử (cognitive behavior therapy) có thể cải thiện các triệu chứng của RLLA. Điều trị bằng nhận thức ứng xử giúp bạn phân biệt giữa những niềm tin và cung cách ứng xử không lành mạnh, tiêu cực với những niềm tin đúng đắn và cung cách ứng xử tích cực. Nó dựa trên cơ sở là những ý nghĩ của bạn chứ không phải là người khác và những tình huống sẽ xác định cách bạn sẽ ứng xử ra sao. Ngay cả khi một tình huống bạn không mong muốn vẫn cứ tồn tại, bạn vẫn có thể thay đổi suy nghĩ của mình và ứng xử sao cho tích cực. Phương pháp điều trị nhận thức ứng xử thường được dùng trong một đợt ngắn hạn, nó nhấn mạnh đến việc học hỏi để hình thành và phát triển khả năng làm chủ tư duy và cảm xúc của bạn.

Việc điều trị RLLA hoặc bất kỳ bệnh lý tâm thần nào khác cần phải thích ứng với từng trường hợp. Không có một chế độ điều trị kiểu mẫu nào có thể áp dụng cho toàn bộ bệnh nhân. Chủ yếu là điều trị ngoại trú, nhưng có một số trường hợp nặng cần phải nhập viện.

Nguồn sức khỏe đời sống

Hội chứng buồng trứng đa nang

Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) là một trong những triệu chứng rối loạn nội tiết phổ biến nhất ở phụ nữ. Dưới đây là 8 điều bạn có thể bạn chưa biết về PCOS.

1. Kiểm tra 1 lần có thể chưa kết luận được

Nhiều phụ nữ biết rằng PCOS có thể khó chẩn đoán, chính vì vậy, để có kết luận chính xác về bệnh, bạn cần đi kiểm tra liên tục nhiều lần. Nếu bạn đã nghi ngờ mình bị PCOS và chưa được chẩn đoán chính thức, hãy đi khám thêm những lần sau đó để được kiểm tra chính xác nhất.

hoi-chung-buong-trung-da-nang

2. PCOS gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe

Ngoài những ảnh hưởng rõ rệt như kinh nguyệt không đều, mụn trứng cá xuất hiện, rậm lông… PCOS còn có thể thúc đẩy tăng cân, hoặc khiến bạn khó giảm cân (những phụ nữ dáng mảnh mai cũng có thể bị PCOS). Bệnh nhân bị PCOS cũng có thể gặp vấn đề về kháng insulin, từ đó dẫn đến bệnh tiểu đường. Và như nhiều chị em đã biết, những triệu chứng này có thể dẫn đến khả năng khó thụ thai thành công.

3. Có thể phòng ngừa PCOS nhờ thuốc

Liệu pháp hormone ở dạng uống thuốc tránh thai thường được sử dụng với thành công lớn trong việc quản lý các triệu chứng của PCOS .

“Thuốc ngừa thai thực sự có thể làm trầm trọng thêm tình trạng kháng insulin và tăng triglycerides” theo ý kiến của Angela Grassi tại Trung tâm Dinh dưỡng PCOS ở Pennsylvania (Mỹ).

hoi-chung-buong-trung-da-nang1

4. PCOS có thể được gây ra bởi các tuyến thượng thận

Một nghiên cứu mới của Viện Y tế Quốc gia Mỹ đang điều tra về ảnh hưởng của tuyến thượng thận trong rối loạn hormone. Ở một số phụ nữ bị PCOS, mức độ androgen cao có liên quan đến rối loạn tuyến thượng thận.

5. Mắc PCOS vẫn có thể có thai

Nhiều phụ nữ bị PCOS nghĩ rằng họ không thể thụ thai nhưng điều này không đúng sự thật. Trong thực tế, nhiều nghiên cứu về vấn đề vô sinh và PCOS cho thấy bệnh nhân PCOS vẫn có thể có thai được (theo cách tự nhiên hoặc thụ tinh). Vì vậy, bạn cần nhớ rằng, kết luận u nang buồng trứng không có nghĩa là bạn không thể thụ thai.

6. Giảm cân có thể giúp tăng hiệu quả thụ thai ở bệnh nhân PCOS

Nếu không thể phẫu thuật giảm béo, bạn có thể áp dụng các biện pháp giảm cân để tăng khả năng sinh sản cho mình. Cho dù không bị PCOS, việc giảm cân đã quan trọng, với những bệnh nhân PCOS, giảm cân càng quan trọng hơn vì nó sẽ giảm triệu chứng rối loạn nội tiết, tăng kết quả điều trị PCOS và khả năng thụ thai.

Tiến sĩ Serena H. Chen, Giám đốc nội tiết sinh sản và vô sinh tại Trung tâm y tế St Barnabas cho biết “Giảm cân hoặc duy trì một trọng lượng bình thường khỏe mạnh sẽ làm giảm nguy cơ ung thư và làm cho bệnh nhân PCOS phản ứng nhanh hơn đtrongđiều trị. Đối với những người đang cố gắng thụ thai, nó sẽ cải thiện phản ứng với thuốc khả năng sinh sản và không chỉ cải thiện tỉ lệ mang thai mà còn giảm tỉ lệ sẩy thai”.

7. Bệnh nhân PCOS có thể bị ngưng thở khi ngủ

“Phần lớn các người bị PCOS có chẩn đoán tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ. Ngay cả khi không bị ngưng thở khi ngủ, nhiều người vẫn có vấn đề về hơi thở vào ban đêm”, Tiến sĩ Steven Y. Park cho biết.

Để giảm nguy cơ ngưng thở khi ngủ, bệnh nhân PCOS càng nên giảm cân để đạt trọng lượng khỏe mạnh.

8. Một chế độ ăn uống khỏe mạnh là bắt buộc với bệnh nhân PCOS

Một chế độ ăn uống lành mạnh không chỉ hữu ích để giúp bạn duy trì một trọng lượng khỏe mạnh mà nó đặc biệt quan trọng với bệnh nhân PCOS vì nó giúp điều chỉnh nồng độ insulin của bạn.

Thậm chí tệ hơn , các mô mỡ cũng làm trung gian gây viêm (trong đó tăng nguy cơ bệnh tim và các vấn đề huyết áp) và các chất chuyển hóa estrogen, từ đó làm cho bệnh trầm trọng hơn.

Theo sức khỏe

Hội chứng tiền đình gây nguy hiểm cho người cao tuổi

Tiền đình là một bộ phận quan trọng của tai (ốc tiền đình), có vai trò giữ thăng bằng tư thế và các phối hợp khác của cơ thể như cử động mắt, đầu và thân mình. Hội chứng tiền đình (HCTĐ) gặp chủ yếu ở người trưởng thành, nhưng người cao tuổi (NCT) chiếm tỷ lệ cao hơn cả. Rối loạn tiền đình ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và có thể gây nguy hiểm cho người bệnh.

Làm thế nào để nhận biết HCTĐ?

Bệnh thường xảy ra vào lúc nửa đêm gần sáng, khi tỉnh dậy không ngồi được hoặc lúc thay đổi tư thế thì hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, có thể nôn nhiều lần và kéo dài. HCTĐ có thể xảy ra một cách thoáng qua nhưng có khi lặp đi, lặp lại nhiều lần. Người bệnh lao đao, choáng váng, mất thăng bằng, ù tai, giảm thính lực ở một hoặc hai bên tai (nếu tái đi tái lại nhiều lần). Nếu cố dậy để đi có thể bị ngã hoặc dúi dụi xuống đất, cũng có trường hợp bị sang chấn. Cũng có khi người bệnh bị ngất (syncope) mất ý thức tạm thời, vã mồ hôi, choáng váng.

moi-nguy-hiem-voi-nguoi-cao-tuoi

Vì sao NCT hay bị HCTĐ?

HCTĐ gây nên bởi sự tác động vào một số cơ quan như hệ tinh thần kinh, tai, tim mạch, mắt hoặc thoái hóa cột sống cổ hoặc do tác dụng phụ của một số thuốc, trong đó sự ảnh hưởng đến ốc tai tiền đình đóng vai trò chủ yếu. Có rất nhiều nguyên nhân gây HCTĐ như tuần hoàn não kém, thời tiết thay đổi hoặc do ngộ độc độc tố hay ngộ độc hóa chất (ngộ độc thực phẩm); do viêm tai xương chũm mạn tính hoặc do dây thần kinh tiền đình bị tổn thương; do NCT dùng một số thuốc (kháng sinh nhóm aminoglycosis, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau) hoặc do uống nhiều rượu cũng có khả năng gây nên HCTĐ. Ngoài ra, HCTĐ rất hay gặp ở NCT bị thoái hóa cột sống cổ hoặc làm việc nhiều áp lực, môi trường ít vận động, ngồi lâu trước máy vi tính, phòng lạnh kín làm cho vùng cột sống cổ bị nhiễm lạnh, lâu ngày sẽ làm co thắt dần dần động mạch cột sống thân nền dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng não bộ gây HCTĐ và đây cũng là một lý do làm bệnh dễ tái phát.

Không tự ý điều trị khi bị HCTĐ

Khi bị rối loạn tiền đình, người bệnh nên chọn tư thế nằm cho thích hợp (nghiêng trái hay nghiêng bên phải hoặc nằm ngửa), tránh thay đổi tư thế và nên tránh ánh sáng chói chang như ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn công suất lớn hoặc tránh tiếng động mạnh (tiếng ồn ào, trống, nhạc…). HCTĐ nếu không điều trị tích cực sẽ kéo dài, tái diễn liên tục, để lại những di chứng mất thăng bằng, lao đao, mắt mờ nhòe, chân tay tê bì, run rẩy, ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe. Muốn biết có bị HCTĐ hay không thì cần đi khám bệnh để xác định chắc chắn, tốt nhất là khám chuyên khoa tai, mũi, họng. Điều trị HCTĐ quan trọng nhất là giải quyết triệu chứng chóng mặt và buồn nôn, nôn, đặc biệt là chóng mặt. Khi lên cơn rối loạn tiền đình cần cho người bệnh nằm ở nơi yên tĩnh, ít tiếng ồn và kết hợp thuốc (vừa thuốc uống vừa thuốc tiêm). Tuy vậy, người bệnh không được tự ý mua thuốc tự điều trị mà phải được bác sĩ chuyên khoa trực tiếp khám bệnh, chỉ định và phải tuân thủ nghiêm ngặt.

moi-nguy-hiem-voi-nguoi-cao-tuoi-1

HCTĐ có dự phòng được không?

Để không mắc HCTĐ hoặc đã mắc HCTĐ rồi thì bệnh ổn định và không tái phát, cần tìm nguyên nhân để điều trị (ví dụ bệnh tăng huyết áp, bệnh huyết áp thấp, chứng tăng mỡ máu, bệnh thoái hóa cột sống cổ, viêm tai xương chũm…). Khi đã bị viêm tai, mũi, họng, xoang cần vệ sinh răng miệng, họng hàng ngày và tích cực điều trị. Tránh ngồi nhiều trong phòng lạnh, ngồi lâu trước máy vi tính, ngồi lâu một chỗ trong phòng. Thường xuyên tập thể dục nhất là vùng đầu, cổ gáy theo hướng dẫn của bác sĩ. Tập đẩy hơi vào 2 tai bằng cách dùng 2 bàn tay áp vào hai bên tai mỗi ngày 50-100 lần. Người bệnh cũng không nên quay cổ hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh. Bệnh nhân cũng cần giảm căng thẳng, lo âu, tránh đọc sách báo khi ngồi ôtô, nên ngồi hoặc nằm ngay xuống nếu cảm thấy chóng mặt… Những người đã từng mắc HCTĐ thì không nên đi xe đạp, xe máy ngay cả việc lên, xuống cầu thang đề phòng ngã gây tai nạn (gãy xương, xuất huyết não,…). Nếu thấy xuất hiện một trong các triệu chứng như nhức đầu đột ngột, sốt từ 38oC trở lên, mờ mắt, không nhìn rõ sự vật, nhìn đôi, mất thị lực, giảm thính giác… thì nên đi khám ngay. Vì ngoài HCTĐ, nó có thể báo hiệu những bệnh lý nặng như tai biến mạch não, u não, bệnh Parkinson, bệnh tim mạch, bệnh đa xơ cứng.

BS. Đặng Phương Linh

Theo SKDS

 

 

Những căn bệnh gây nên vô sinh nam

Trước đây, có nhiều quan niệm cho rằng vô sinh, hiếm muộn chỉ gặp ở phụ nữ và nguyên nhân gây vô sinh chủ yếu là do ăn uống thực phẩm nhiều hóa chất hoặc sử dụng băng vệ sinh kém chất lượng…

Trước đây, có nhiều quan niệm cho rằng vô sinh, hiếm muộn chỉ gặp ở phụ nữ và nguyên nhân gây vô sinh chủ yếu là do ăn uống thực phẩm nhiều hóa chất hoặc sử dụng băng vệ sinh kém chất lượng… Nhưng thực tế, những nguyên nhân mang tính tác động từ bên ngoài đó là chưa đủ. Bởi có không ít trường hợp người phụ nữ vô sinh bắt nguồn từ chính cơ thể họ.

benh-vo-sinh-do-nhung-nguyen-nhan-nao

Tức là họ có thể mắc phải những bệnh dễ gây vô sinh mà không được chữa trị kịp thời, dứt bệnh. Các bệnh dễ gây vô sinh nhất bao gồm:

Vô kinh: Trường hợp người phụ nữ đến tuổi trưởng thành mà không có kinh nguyệt thì gọi là vô kinh. Vô kinh có thể là nguyên phát (từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ thấy kinh) hay thứ phát (đã từng có kinh nhưng sau đó không có kinh nữa hay là rất thưa trên 6 tháng mới có một lần).

Vô kinh có thể do rất nhiều lý do như: dị tật bẩm sinh đường sinh dục (không có tử cung, không có âm đạo), không rụng trứng, suy buồng trứng sớm ở phụ nữ còn trẻ nguyên phát hay sau điều trị có mổ cắt buồng trứng hay hóa trị xạ trị do ung thư.

Vô kinh thứ phát có thể là do buồng trứng không rụng trứng. Trường hợp này có thể kích thích trứng rụng để có con. Còn trong trường hợp buồng trứng bị suy thì người phụ nữ không thể có con.

Buồng trứng đa nang: Hội chứng buồng trứng đa nang xảy ra ở khoảng 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nhưng không phải ai bị buồng trứng đa nang cũng không thể sinh con.

Hội chứng buồng trứng đa nang được chẩn đoán khi bệnh nhân có 2 trong 3 nhóm triệu chứng sau đây:

– Triệu chứng lâm sàng: Rối loạn kinh nguyệt (kinh thưa, hay vô kinh), béo phì, rậm lông

– Triệu chứng nội tiết: tăng nội tiết tố nam testosterone

– Hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm.

Nếu bị hội chứng buồng trứng đa nang và lâu có con thì chị em nên đến cơ sở điều trị hiếm muộn để được điều trị bằng cách sử dụng các thuốc kích thích sự phát triển của nang noãn buồng trứng.

Tử cung nhi hóa: Kinh nguyệt không đều đặn và dần tắt hẳn có thể là dấu hiệu của bệnh tử cung nhi hóa. Trong trường hợp này, người phụ nữ có thể uống thuốc nội tiết tố để có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, giữ cho tử cung bình thường. Còn khi đã lập gia đình thì phải đến ngay cơ sở điều trị hiếm muộn để được khám, chẩn đoán và điều trị.

Rối loạn phóng noãn: Rối loạn phóng noãn thường gây khó có thai và việc điều trị phải sử dụng các loại thuốc kích thích sự phát triển của nang noãn buồng trứng.

Thông thường tỷ lệ có thai đạt được sau mỗi chu kỳ kích thích buồng trứng khoảng 30%. Kích thích buồng trứng thường không được làm quá nhiều lần trên một bệnh nhân nên không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe sinh sản của mẹ và thai nhi sau khi thụ thai.

Nguồn giáo dục

Hội chứng mệt mỏi mãn tính

Nguyên nhân của hội chứng mệt mỏi mãn tính là không rõ, mặc dù có nhiều giả thuyết – từ nhiễm virus đến tâm lý căng thẳng. Một số chuyên gia tin rằng hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể được kích hoạt bởi một sự kết hợp của các yếu tố.

Triệu chứng

Hội chứng mệt mỏi mãn tính thường được biểu hiện các triệu chứng như: Mất trí nhớ hoặc mất tập trung; Đau họng không rõ căn nguyên; Hạch to ở cổ hoặc nách; Đau cơ không rõ nguyên nhân; Đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ; Đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng; Rối loạn giấc ngủ; Cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần.

Mệt mỏi có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc rối loạn tâm lý. Nói chung nên đến gặp bác sĩ nếu bạn có mệt mỏi dai dẳng hoặc quá mức.

hoi-chung-met-moi-man-tinh

Nguyên nhân

Các nhà khoa học không biết chính xác những gì gây ra hội chứng mệt mỏi mãn tính. Một số trong những yếu tố đã được nghiên cứu bao gồm:

Nhiễm virus: Hội chứng mệt mỏi mãn tính sau khi bị nhiễm virus. Virus nghi ngờ đã bao gồm Epstein-Barr, herpesvirus…

Rối loạn hệ thống miễn dịch: Các hệ thống miễn dịch của người có hội chứng mệt mỏi mãn tính bị suy giảm sau khi bị nhiễm trùng, sau khi rối loạn về tâm lý, rối loạn dinh dưỡng,…

Sự mất cân bằng nội tiết tố: Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể có bất thường hormon được tiết ra từ vùng dưới đồi, tuyến yên hoặc tuyến thượng thận.

Rối loạn giấc ngủ: Mệt mỏi mãn tính có thể được gây ra bởi rối loạn giấc ngủ. Rối loạn giấc ngủ kéo dài lại gây ra mệt mỏi mạn tính.

Vấn đề y tế: Mệt mỏi là một triệu chứng phổ biến trong một số bệnh lý như chẳng hạn như thiếu máu, tiểu đường và tuyến giáp (hypothyroidism).

Các vấn đề sức khỏe tâm thần: Mệt mỏi cũng là một triệu chứng của một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm:

Tuổi: Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường ảnh hưởng đến những người ở độ tuổi 40 và 50.

Quan hệ tình dục không thỏa mãn: Phái nữ được chẩn đoán mắc hội chứng mệt mỏi mãn tính nhiều hơn là nam giới,

Lối sống: Những người thừa cân và không hoạt động có nhiều khả năng phát triển hội chứng mệt mỏi mãn tính. Căng thẳng cũng dường như là một yếu tố.

Biến chứng

Biến chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm: trầm cảm; sống cô lập; hạn chế lối sống; giảm năng suất làm việc

Khám và chẩn đoán

Không có cách khám duy nhất nào để xác định chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính. Cần phải khám sức khỏe tổng quát, khám lâm sàng và sẽ hướng đến chẩn đoán mệt mõi mãn tính sau khi đã loại hết các bệnh lý khác.

Nhưng chú ý, hội chứng này có nhiều triệu chứng sẽ đan chéo tạo vòng luẩn quẩn trong chẩn đoán, có thể là triệu chứng chính hoặc có thể là hậu quả của triệu chứng khác, do đó bác sĩ có nhiều kinh nghiệm sẽ chẩn đoán chính xác hơn.

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Để đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính và mệt mỏi phải kéo dài trong sáu tháng hoặc hơn, cùng với ít nhất bốn trong những dấu hiệu và triệu chứng sau đây: mất trí nhớ hoặc mất tập trung; đau họng không rõ căn nguyên; hạch to ở cổ hoặc nách của bạn; đau cơ không rõ nguyên nhân; đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ; đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng; rối loạn giấc ngủ; cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị hội chứng mệt mỏi mãn tính tập trung vào giảm triệu chứng. Có thể tập trung cắt đứt một triệu chứng nào nặng nhất trước.

Thuốc chống trầm cảm: Nhiều người có hội chứng mệt mỏi mãn tính cũng bị trầm cảm. Điều trị trầm cảm của bạn có thể làm cho nó dễ dàng hơn để bạn có thể đối phó với những vấn đề liên quan với hội chứng mệt mỏi mãn tính. Và liều thấp của một số thuốc chống trầm cảm cũng có thể giúp cải thiện giấc ngủ và giảm đau.

Thuốc ngủ: Nếu các biện pháp nhẹ như tránh caffeine, rượu không giúp cải thiện giấc ngủ tốt hơn thì cần uống thuốc ngủ theo toa.

Tập thể dục: Tập thể dục đều đặc và vừa sức là liều thuốc không thể thiếu. Cường độ tăng dần theo thể trạng của mỗi người.

Tư vấn tâm lý: Nói chuyện với một bác sĩ tâm lý để giải tóa về mặt tâm lý để lấy lại thăng bằng trong cuộc sống.

Giảm bớt căng thẳng: Thư giãn, nghỉ ngơi.

Cải thiện thói quen ngủ: Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Hạn chế  cà phê, rượu và thuốc lá.

Làm việc khoa học.

Thuốc thay thế

Bổ sung các loại vitamin và vi lượng cần thiết cho cơ thể.

Bổ sung các thiếu sót về nội tiết tố cần thiết.

Nguồn báo đất việt

Rối loạn cương dương vì hội chứng chuyển hóa

Các kết quả nghiên cứu từ Trung Quốc cho thấy hội chứng chuyển hóa là một yếu tố nguy cơ độc lập làm phát triển tình trạng rối loạn cương dương, đặc biệt là ở những người độ tuổi trung niên.

Zengnan Mo (Đại học Y Quảng Tây, Nam Ninh, Trung Quốc) và các đồng nghiệp cho biết, các bác sĩ và bệnh nhân nên nhận biết hội chứng này như một dấu hiệu cảnh báo rối loạn cương dương.

roiloancuongduong
Đây là nghiên cứu cắt ngang lớn, đầu tiên nhấn mạnh mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và rối loạn cương dương ở nam giới Trung Quốc.

Nhóm đã phân tích số liệu từ 3.197 người tham gia và thấy rằng nam giới bị hội chứng chuyển hóa tăng rõ nguy cơ bị rối loạn cương dương

Khi phân loại các đối tượng tham gia theo tuổi, các nhà nghiên cứu thấy rằng mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và rối loạn cương dương chỉ có ý nghĩa thống kê ở những người tuổi từ 40-59 (nhóm tuổi trung niên) và không có ý nghĩa ở những người tuổi từ 20-39 và những người tuổi từ 60 đến 79.

Nhóm kết luận: “Xác định sớm và điều trị cho những người có nguy cơ có thể giúp cải thiện tình trạng rối loạn cương dương… bao gồm quản lý cân nặng, các can thiệp lối sống và hoạt động thể chất”.

Nguồn sức khỏe đời sống