Tag Archives: ho

Ho về đêm ở trẻ em

Thời tiết những ngày đầu đông đang có những dấu hiệu thay đổi nhiệt độ thất thường, ngày ấm đêm lạnh, là điều kiện cho các chứng bệnh về hô hấp phát triển, trong đó có chứng ho về đêm khiến người bệnh mất ngủ, mệt mỏi, ảnh hưởng đến việc học tập và làm việc…

Ho là một triệu chứng hay gặp, nhất là khi thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh, hít phải nhiều bụi, khói, khói bếp, khói lò… Ho là một phản xạ sinh lý có tính bảo vệ cơ thể nhằm tống ra khỏi đường hô hấp các chất dịch, đàm do phế quản hay phổi tiết ra hoặc các dị vật từ ngoài lọt vào như: thức ăn, bụi… Do đó, ho được coi là một cơ chế bảo vệ bộ máy hô hấp. Ho không phải là bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh.

Ho về đêm chỉ tình trạng không ho vào ban ngày, nhưng cứ đến đêm lại bị ho, có thể ho từng cơn và ho dai dẳng, liên tục. Nguyên nhân và triệu chứng của chứng ho về đêm ở trẻ em và người lớn thể hiện như:

Ho về đêm ở trẻ em

ho-ve-dem-o-tre-em
Nhiều bé không ho vào ban ngày vì thời điểm này bé đang ở tư thế vận động, các chất nhầy tiết thoát ra ngoài một cách dễ dàng. Nhưng ban đêm, khi ngủ, các chất nhày ứ đọng trong cổ gây kích thích ho. Chính đờm nhớt sẽ làm bé nghẹt thở, khó chịu không ngủ được và quấy khóc suốt đêm. Bé có thể đau bụng, ho đỏ mặt và cong người vì khi ho, các cơ ở bụng co lại, đẩy cơ hoành lên, tống đờm ra khỏi cổ. Nếu đột ngột thấy trẻ ho sặc sụa, không bị sốt nhưng khó thở, mặt tái đi thì có thể do trẻ đã bị một dị vật vào đường hô hấp.

Trẻ ho về đêm cũng có thể do bị cảm lạnh, bị viêm mũi xoang nên đờm nhầy từ mũi xoang chảy xuống họng kích thích gây ho khi ngủ. Trẻ bị hen cũng hay ho về đêm do đường thở có khuynh hướng tăng nhạy cảm, dễ kích ứng về đêm. Ở những trẻ hen, cơn ho dài và dày khiến trẻ mệt mỏi. Khi trẻ ho nhiều sẽ kích thích phản xạ hầu họng gây nôn trớ.

Với các bé bị ho về đêm hoặc ho lúc ngủ trưa, sặc từng cơn dẫn đến nôn trớ, đây là triệu chứng của ho do trào ngược dạ dày – thực quản. Trẻ bị chứng trào ngược, van dạ dày không tốt, vì vậy, thức ăn và dịch tiết trào ngược lên đường hô hấp dễ gây viêm đường hô hấp. Ho thường xảy ra với các bé hay ăn uống sát giờ đi ngủ, thức ăn không kịp tiêu hóa cùng lượng dịch vị tiết ra nhiều hơn trong giấc ngủ, gây ứ, trướng dạ dày. Sau một thời gian dài ăn uống đêm liên tục, các cơ của bé suy yếu, không khép kín được miệng trên của dạ dày, tạo đều kiện cho các chất dịch ứ trong dạ dày trào ngược lên thực quản, rỉ ra họng, tràn vào thanh quản gây ho sặc từng cơn.

Chăm sóc bé bị ho đêm
Đa số khi thấy con bị ho đêm, các bố mẹ thường áp dụng một số bài thuốc dân gian để giúp con bớt ho. Có thể hấp mật ong với quất, mật ong với lá húng chanh, lá hẹ… chắt lấy nước cho con uống ngày 3 – 4 lần. Những cách này giúp cho bé giảm ho hiệu quả và lành tính. Cần thường xuyên vệ sinh mũi họng cho bé.

Bố mẹ cũng cần hạn chế cho con ăn uống sát giờ đi ngủ. Tốt nhất, bé nên ăn uống trước khi ngủ 1 giờ. Hạn chế cho bé ăn các loại thức ăn kích thích ho nhiều hơn như tôm, cua, ghẹ… Trước khi ngủ, hãy cho con uống 1 thìa mật ong ấm giúp con hạn chế cơn ho, làm cơn ho dịu đi và giúp con ngủ ngon hơn. Lưu ý không dùng mật ong cho bé dưới 1 tuổi.

Hãy kê cao gối cho con ngủ, đầu và vai cao hơn thân, ngăn đờm nhớt hay nước mũi ứ lại ở họng. Hãy giữ ấm cho con khi ngủ, không hở bụng, hở tay dễ khiến con bị nhiễm lạnh và ho nhiều hơn. Tránh để trẻ tiếp xúc với khói xe cộ, khói thuốc lá và bụi, giữ vệ sinh mũi họng cho bé và môi trường sống.

Ho đêm ở người lớn
Ban ngày có khi chỉ ho húng hắng chốc nhát, không có dấu hiệu của cúm hay viêm họng, nhưng khi ngủ trưa hoặc ban đêm, bạn lại bị ho, thậm chí ngứa họng phải khậm khoạc và ho dai dẳng, liên tục. Tình trạng này diễn ra thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ, khiến bạn khó chịu, mệt mỏi và dễ cáu kỉnh, hiệu suất làm việc sẽ bị ảnh hưởng. Ho về đêm ở người lớn có thể do các yếu tố sau:

Do hen suyễn: Hầu hết những người bị bệnh hen suyễn đều có thể gặp phải các vấn đề hô hấp như ho khan. Vì vậy, dấu hiệu ho về đêm cũng có thể là triệu chứng ban đầu của bệnh hen suyễn. Những triệu chứng của hen suyễn xuất hiện và biến mất phụ thuộc vào hoạt động và yếu tố tác động. Những triệu chứng đầu tiên thường là ho và thở rít, các triệu chứng tái đi, tái lại và thường nặng về đêm, khi gắng sức hoặc gặp lạnh. Nhiễm lạnh, cảm cúm hoặc nhiễm trùng đường hô hấp có thể gây bùng phát bệnh hen suyễn, khi đó, người bệnh cảm thấy khó thở, thở rít, ho tăng, khạc đờm tăng, nặng ngực…

Viêm xoang: Khi bị viêm xoang, các xoang bị viêm sẽ bị tắc, bị ngạt mũi, các chất nhày chảy xuống mặt sau của cổ họng. Vào ban ngày, các dịch nhày này được người bệnh xì ra hoặc tự trôi xuống đường tiêu hóa. Nhưng về ban đêm, dịch nhày dễ ứ lại nơi cổ họng và gây ho. Chứng nghẹt mũi do viêm xoang khiến người bệnh khi ngủ dễ phải thở bằng miệng, do vậy, họng rất dễ khô, rát và bị ho về đêm.

Trào ngược axit: Bệnh trào ngược axit (hay còn gọi là GERD) cũng gây ho. Khi nằm xuống, các axit gây khó tiêu và ợ nóng trong dạ dày có thể trôi ngược lên phổi dẫn đến ho. Nếu nguyên nhân gây ho và khó chịu về ban đêm đã được xác định thì hãy cố gắng ăn ít hơn vào bữa tối, khi ngủ nên gối cao đầu, việc trào ngược sẽ giảm đi và sẽ bớt ho.

Với tình trạng bị ho đêm kéo dài hơn 5 ngày (kể cả trẻ con và người lớn), kèm theo các triệu chứng như sổ mũi, ho sâu, khó thở, đau bụng…, người bệnh cần đi khám chuyên khoa để được dùng thuốc và tư vấn cách trị bệnh hiệu quả, không được tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của thầy thuốc.

Theo sức khỏe đời sống

Phòng bệnh khi giao mùa

Miền Bắc đang chuyển sang thu, lạnh về sáng và đêm, kết hợp với độ ẩm giảm dần, khô hanh nên rất dễ sinh bệnh. Một số lời khuyên dưới đây sẽ giúp bạn miễn dịch với một số nhóm bệnh dễ mắc khi giao mùa.

1. Nhóm bệnh hô hấp

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai, Hà Nội), có 4 nhóm bệnh lý dễ mắc khi chuyển mùa. Trong đó, nhóm bệnh lý về hô hấp là hay gặp nhất.

– Viêm đường hô hấp trên (có cấp tính và mạn tính), bệnh nhẹ nhưng hay gặp và khó chịu vì ảnh hưởng tới sinh hoạt. Bệnh cấp tính gây sốt cao hoặc vừa ho, hắt hơi, chảy nước mũi, nghẹt mũi, thay đổi giọng, mất giọng, niêm mạc họng đỏ (trẻ em nôn nhiều, quấy khóc). Nếu không kịp thời chữa trị dứt điểm sẽ diễn tiến thành viêm phế quản, viêm phổi và rất dễ chuyển thành mạn tính.

– Viêm đường hô hấp dưới ít gặp, gồm viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi và hay bị nặng. Mùa này 3 loại virus cúm A, B, C gây bệnh viêm đường hô hấp cấp bùng phát mạnh, trong đó cúm A dễ tạo thành dịch, biến chứng có thể gây viêm xoang cấp, viêm tai giữa.

-Viêm phế quản là bệnh rất nhạy cảm, khó thích ứng với biến đổi thất thường của khí hậu (trẻ em càng dễ mắc). Bệnh gây khó thở, khò khè, ho nhiều, có đờm. Nên sớm tới bác sĩ để được dùng thuốc thích hợp vì bệnh khó khỏi hẳn, hạn chế tái phát. Trẻ em sáng sớm và ban đêm cần giữ ấm, mặc đồ không quá dày kẻo mồ hôi ra nhiều cũng dẫn đến nhiễm lạnh.

– Bên cạnh đó là các chứng bệnh viêm phổi, viêm tắc thanh quản và khí quản (gây ho nhiều và dữ dội về ban đêm, thờ khò khè), đau họng (gây sưng họng, ớn lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn và thậm chí bị nôn), viêm tai (gây sốt cao, đau tai, đau đầu, sưng cổ)… Các triệu chứng này biểu hiện bệnh đã nặng, cần đi khám chữa ngay, không nên tự chữa ở nhà, nhất là đối với trẻ nhỏ.viem-ho-hap

2. Nhóm bệnh lý dị ứng

Giao mùa xuất hiện nhiều nguyên nhân dị ứng trong môi trường như phấn hoa (đặc biệt là hoa sữa, bụi bông…), rất dễ bị dị ứng như viêm da dị ứng, mề đay, viêm kết mạc mắt… Những chất gây dị ứng trong không khí tương đối nhiều, do đó cần tránh tiếp xúc với những chất gây dị ứng.

Riêng các trường hợp mề đay do lạnh mắc phải đều chưa rõ nguyên nhân. Tốt nhất là tránh tiếp xúc với lạnh và những chất gây dị ứng. Giữ vệ sinh sạch sẽ, tinh thần thoải mái để hạn chế tác nhân gây bệnh.

3. Cảm cúm

Cảm cúm do virus gây ra và lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, gây nghẹt mũi, chảy nước mũi, sốt, đau đầu, chóng mặt, ho, đau họng, chán ăn… Không nên coi thường cảm cúm vì bệnh có thể kéo dài hoặc nghiêm trọng, thậm chí một số bệnh cúm còn gây tử vong. Khi có các dấu hiệu trên hãy đi khám sớm (đặc biệt là khi kèm theo sốt cao), kẻo dễ bị biến chứng.

Virus cảm lạnh và cảm cúm dễ lây lan khi tiếp xúc với những vật trong nhà như: Điện thoại, điều khiển tivi (điều hòa), ho, hắt hơi… Do đó nên rửa tay đúng cách trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh… để loại bớt tác nhân gây bệnh. Nên ăn các loại thực phẩm có nhiều vitamin C để ngăn ngừa cảm cúm, hỗ trợ tăng cường sức đề kháng toàn diện cho cơ thể.

4. Sốt

Hay gặp là bệnh sốt do virus, gây sốt từ 38,5oC trở lên. Cần phải hạ sốt kịp thời (lau người nước ấm, quần áo đảm bảo khô thoáng, uống thuốc…) hoặc đưa tới cơ sở y tế, tránh bị co giật.
Lưu ý là lúc cúm sốt thường lạnh từ bên trong cơ thể ra, do đó không nên mặc quần áo quá dày, không đắp nhiều chăn. Cho người bệnh uống nhiều nước, ăn nhiều hoa quả (với trẻ đang bú thì mẹ ăn cho con bú, trẻ ăn dặm thì cho ăn rau quả mềm, chín).

Thời tiết giao mùa virus rota được coi là căn nguyên hàng đầu gây tiêu chảy cấp ở trẻ em, đặc biệt “hoành hành” vào những ngày đầu thu. Bên cạnh đó, tiết trời nóng lạnh thất thường sẽ dễ bị đau xương khớp. Do đó nên giữ ấm, nhất là buổi sáng sớm. Đi tập thể dục về đang ra mồ hôi thì không nên tắm rửa bằng nước lạnh.

“Bí kíp” bảo vệ gia đình khi giao mùa:
– Giữ trong, ngoài nhà sạch sẽ, thoáng mát, thông khí tốt.
– Với trẻ em, người già, gần sáng và đêm lạnh nên cho trẻ mặc quần áo ấm, trưa nóng có thể cởi bớt ra. Không mặc nhiều, dày vì mồ hôi toát ra thấm ngược, gây ốm sốt. Tránh loại áo liền quần thít vào ngực khiến khó thở. Ốm sốt vẫn cần lau rửa, tắm giặt, vệ sinh mũi họng, cơ thể hàng ngày sạch sẽ.

Theo Gia đình

Không nên chủ quan với bệnh viêm VA

VA là một tổ chức lympho ở vòm mũi họng, dày khoảng 2cm, phát triển khi trẻ được 1 tuổi, hoạt động mạnh từ 3-6 tuổi và thoái hóa khi đến tuổi dậy thì.

Triệu chứng viêm VA

Theo các bác sĩ chuyên khoa, Bệnh viện Nhi đồng 2 cho biết, viêm VA nhẹ, không có triệu chứng gì đáng kể. Trường hợp viêm VA cấp và nặng, hoặc mãn tính bé có các biểu hiện sau:
– Sốt cao và ho.
– Nghẹt mũi, lúc đầu nghẹt ít về sau nghẹt nhiều. Bé phải há miệng để thở, hay ngủ ngáy.
– Mũi thường hay bị viêm: tiết dịch nhầy, lúc đầu dịch đục, sau đó ngả màu xanh hoặc vàng.
– Thường hay bị viêm tai, than đau tai, chảy mủ tai, nghe kém.
– Cơ thể bé phát triển chậm so với lứa tuổi, người có thể gầy.

khong-nen-chu-quan-voi-benh-viem-va

Biến chứng

– Viêm thanh quản, viêm cấp tính đường hô hấp trên.
– Viêm tai giữa kèm theo chảy mủ tai
– Viêm đường tiêu hóa: đau bụng, đi ngoài ra nhầy, ra nước.
– Viêm hạch: thường là viêm hạch vùng cổ.
– Viêm thận.
– Viêm mi mắt.

Các mức độ viêm VA

– VA quá phát: biểu hiện chủ yếu bằng dấu hiệu nghẹt mũi, ngủ ngáy.
– VA cấp: bé sốt + chảy mũi thường kết hợp với họng cấp.
– VA mãn tính: VA cấp tái phát nhiều lần do điều trị không triệt để.

Cách điều trị

– Trường hợp VA bị viêm nhẹ, không cần phải điều trị bằng thuốc, chỉ cần dinh dưỡng tối đa, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng là bé hết. Thường xuyên rửa mũi bằng nước muối sinh lý 0,9% rồi xì mũi sạch ( nếu trẻ nhỏ thì hút mũi ), giữ vệ sinh và ủ ấm cho bé.
– Trường hợp bé bị Viêm VA cấp hoặc nặng, cần đưa bé đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng ngay để được điều trị kịp thời và đúng như: dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng dị ứng, hạ sốt, giảm đau.
– Trường hợp bé bị VA nặng, nghẹt mũi hoàn toàn, có thể bị biến chứng thì Bác sĩ Tai Mũi Họng sẽ can thiệp bằng phẫu thuật nạo VA
– Sau khi bé nạo VA xong có thể được về trong ngày. Khi về nhà, phụ huynh phải theo dõi và chăm sóc bé cẩn thận như: bé phải được nghỉ ngơi hoàn toàn trong 24 giờ sau nạo VA, những ngày sau đó ăn cháo loãng và uống sữa, uống thuốc theo toa của Bác sĩ.

Cách phòng bệnh

– Giữ vệ sinh mũi họng cho trẻ, nên thường xuyên nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch nước muối sinh lý có tác dụng vệ sinh mũi họng tốt.
– Mùa đông cần cho trẻ mặc đủ ấm, đặc biệt cần giữ ấm cổ, giữ ấm bàn chân, không để trẻ đi chân trần.
– Cải thiện môi trường sống của trẻ, nhà ở thoáng đãng khô ráo về mùa hè, kín gió về mùa đông.
– Điều trị sớm và đúng cách mỗi khi trẻ bị viêm mũi họng cấp hay viêm V.A cấp.

Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng với cây đại ngải

Theo y học cổ truyền, cây đại ngải có vị cay và đắng, mùi thơm nóng, tính ấm; có tác dụng khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ.

Cây đại ngải còn có tên khác là đại bi, từ bi xanh, bơ nạt, người Tày gọi là phặc phả, người Thái gọi là co nát. Là loại cây nhỏ, cao khoảng 1 – 3m, thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lông. Lá mọc so le, phiến lá có lông, mép có răng cưa hay nguyên. Cụm hoa hình ngù ở nách lá hay ở ngọn, gồm nhiều đầu, trong mỗi đầu có nhiều hoa màu vàng. Quả bế có lông.

Cây ra hoa tháng 3 – 5, có quả tháng 7 – 8. Toàn cây có lông mềm và tinh dầu thơm. Cây mọc hoang khắp nơi, nhiều nhất ở trung du và miền núi. Thu hái toàn cây vào mùa hạ và mùa thu, dùng tươi, hoặc phơi hay sấy khô.

Theo y học cổ truyền, cây đại ngải có vị cay và đắng, mùi thơm nóng, tính ấm; có tác dụng khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ. Có công dụng trị thấp khớp, đòn ngã tổn thương, sản hậu đau lưng; đau bụng sau khi sinh, đau bụng kinh; cảm mạo,… Dùng ngoài chữa chấn thương, mụn nhọt, ghẻ ngứa, lấy lá giã đắp hoặc nấu nước tắm. Có thể làm thuốc ngâm rượu để xoa bóp chỗ đau.

Một số bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Chữa ho do cảm mạo: Lá đại ngải 200g, củ sả 100g, trần bì 50g, lá chanh 50g, rễ thủy xương bồ 100g, rễ cà gai leo 100g. Tất cả rửa sạch, phơi khô, cắt nhỏ cho vào ấm đổ nước ngập sắc còn khoảng 200ml, cho nước thuốc ra, đổ thêm 300ml nước sắc còn 200ml, trộn lẫn 2 lần nước thuốc. Ngày uống 40ml, chia làm  3 lần, uống thuốc còn ấm.  Dùng liền 5 ngày.

chua-cam-mao-ho-sot-voi-cay-dai-ngai-1

Bài 2: Chữa đầy bụng, khó tiêu do thức ăn sống, lạnh: Lá đại ngải 30g tươi sắc với 500ml nước chia 2 lần uống trong ngày, uống 3 ngày.

Bài 3: Hỗ trợ điều trị thấp khớp: Đại ngải (thân, rễ) khô 20g, thiên niên kiện 20g, ké đầu ngựa 10g, bạch chỉ 20g. Tất cả đổ 700ml nước sắc còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng 10 – 15 ngày.

Bài 4: Ðau bụng kinh: Rễ đại ngải 30g, ích mẫu 15g, sắc uống. Đổ 800ml nước sắc còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 10 ngày. Dùng liền 5 ngày.

Bài 5: Chữa ghẻ nước: Lá đại ngải tươi, lá hồng bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt đặc bôi.

Bài 6: Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng: Dùng 5 -12g lá đại ngải  tươi nấu nước uống. Có thể nấu nước xông cho ra mồ hôi, dùng riêng hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu như lá sả, bưởi, cam, tre… mỗi thứ một nắm cho vào nồi đổ ngập nước đun sôi để xông. Xông ở nơi kín gió trước, trong và sau khi xông phải lau khô mồ hôi… Có thể xông từ 2 – 3 lần trong 1 tuần khi dứt cảm cúm có sốt nhẹ.
Theo Lương y Hữu Nam (Sức khỏe & Đời sống)

Nhận biết bệnh viêm xoang ở con trẻ

Viêm xoang ở trẻ em (VXTE) là một bệnh khá thường gặp. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh này ở trẻ em khác với viêm xoang ở người lớn. Trong thực tế, bệnh thường rất dễ nhầm lẫn với bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên.

Hệ thống các xoang ở trẻ phát triển đầy đủ cho đến khi trẻ tròn 10 tuổi. Mặc dù xoang hàm và xoang sàng là nhỏ nhưng đã có ngay sau sinh, do đó viêm hai xoang này thường gặp nhất.

viem-xoang

Phân biệt trẻ bị viêm xoang và nhiễm khuẩn hô hấp trên
Trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên thường có các triệu chứng: sốt, ho, sổ mũi, quấy khóc. Các triệu chứng này thường giảm và tự khỏi sau 5 – 7 ngày. Bệnh thường do virút nên không cần sử dụng kháng sinh.

Nghĩ đến VXTE khi trẻ có các triệu chứng sau:
– “Cảm cúm” kéo dài 10 – 14 ngày có thể kèm sốt hoặc không.
– Sổ mũi đục, xanh hoặc vàng.
– Chảy mũi sau đôi khi dẫn đến đau họng, ho, khạc đờm, khò khè, khó thở, nôn, buồn nôn.
– Quấy khóc, mệt mỏi.
– Sưng quanh mắt.

Các triệu chứng này thường kéo dài 10 – 14 ngày hoặc hơn. Tuy nhiên, với các triệu chứng trên kéo dài dưới 10 ngày vẫn có thể là viêm xoang nếu các triệu chứng này là trầm trọng và sốt cao trên 4 ngày. Một số trường hợp bệnh kéo dài 10 – 14 ngày nhưng bắt đầu giảm dần, tuy hơi chậm, cũng không hẳn là viêm xoang, đôi khi cũng chỉ là nhiễm khuẩn hô hấp trên do virút.
Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, chẩn đoán VXTE chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng nêu trên, không nhất thiết phải chụp X-quang, đặc biệt ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Điều trị như thế nào?
– Viêm xoang cấp tính: hầu hết VXTE đều đáp ứng tốt với kháng sinh, các kháng sinh thường được sử dụng an toàn và hiệu quả cho trẻ là nhóm betalactam. Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, việc sử dụng kháng sinh kéo dài ít nhất 7 ngày sau khi các triệu chứng khỏi hoàn toàn.
Các thuốc chống sung huyết mũi dạng phun sương hoặc nước muối sinh lý cũng được sử dụng.
– Viêm xoang mạn tính: khi các triệu chứng của viêm xoang kéo dài trên 12 tuần, hoặc viêm xoang cấp tái phát trên 4 – 6 lần/năm thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để có chỉ định điều trị nội khoa hay phẫu thuật.

Khi nào thì cần phẫu thuật?
Phẫu thuật xoang ở trẻ em chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chỉ định khi trẻ bị viêm xoang nặng, hoặc thường hay tái phát, viêm xoang mạn tính không đáp ứng điều trị nội khoa.

Ho ra máu là biểu hiện bệnh gì

Định nghĩa: Ho ra máu là hiện tượng máu từ đường hô hấp dưới được thoát ra ngoài qua miệng. Ho ra máu thường là một cấp cứu nội khoa.

Cơ chế: Các cơ chế thường gặp là:
– Do loét, vỡ mạch máu trong lao: vỡ phình mạch Ramussen,
– Giãn phế quản: vỡ mạch ở đoạn dừng lại Von-Hayek, ung thư phổi.
– Do tăng áp lực mạch máu: phù phổi huyết động, tăng tính thấm của mạch máu trong phù phổi tổn thương.
– Tổn thương màng phế nang mao mạch: hội chứng Good Pasture.
– Rối loạn đông máu, chảy máu, nhất là khi có bệnh phổi kèm theo.

ho-ra-mau

Đặc điểm:
– Hoàn cảnh xuất hiện: sau gắng sức, xúc động, phụ nữ đang trong giai đoạn hành kinh hoặc không có hoàn cảnh gì đặc biệt.
– Tiền triệu: cảm giác nóng rát sau xương ức, ngứa họng, tanh mồm hoặc mệt xỉu đi.
– Khạc ra máu đỏ tươi, có bọt, có thể chỉ có máu đơn thuần hoặc lẫn đờm.
– Đuôi khái huyết: là dấu hiệu đã ngừng chẩy máu, thường gặp trong lao phổi, máu khạc ra ít dần, đỏ thẫm rồi đen lại.

Phân loại mức độ ho ra máu:
– Hiện nay, phân loại mức độ nặng nhẹ của ho ra máu chưa thống nhất. Trong thực tế, thường có 2 khả năng xảy ra đó là bệnh nhân đang ho, mới ho ra máu trong vài giờ hoặc đã ho ra máu trên 24h.
– Vì vậy để giúp cho xử trí và tiên lượng phân loại như sau:
+ Mức độ nhẹ: ho từng bãi đờm nhỏ lẫn máu, tổng số máu đã ho ra < 50 ml. mạch và huyết áp bình thường.
+ Mức độ vừa: tổng số lượng máu đã ho ra từ 50 đến 200 ml. mạch nhanh, huyết áp còn bình thường, không có suy hô hấp.
+ Mức độ nặng:lượng máu đã ho ra > 200 ml / lần hoặc 600 ml /48 giờ, tổn thương phổi nhiều, suy hô hấp, truỵ tim mạch.
+ Ho máu sét đánh: xuất hiện đột ngột, máu chảy khối lượng lớn, ồ ạt tràn ngập 2 phổi gây ngạt thở và tử vong.

Chẩn đoán phân biệt: Cần phân biệt ho ra máu với máu chảy ra từ mũi, họng, miệng và nôn ra máu.
– Chẩn đoán phân biệt giữa ho và nôn ra máu sẽ khó, khi bệnh nhân có ho ra máu kèm theo nôn ra chất nôn có lẫn máu, do nuốt đờm máu xuống dạ dầy. Khi đó cần khám kỹ phổi và chụp Xquang, khai thác kỹ bệnh sử về dạ dày; nếu cần thì soi phế quản hoặc soi dạ dầy để phát hiện tổn thương phổi.

Các nguyên nhân chính của ho ra máu:
Lao phổi: Là nguyên nhân hay gặp nhất, tất cả các thể lao đều có thể gây ho ra máu từ ít đến nhiều. Trong đó lao phổi tiển triển có hoại tử bã đậu chiếm đa số. Sau đó đến lao phế quản. Rất ít gặp ở lao tiên phát và lao kê. Ho ra máu có thể lẫn đờm bã đậu và thường có đuôi khái huyết.

Ung thư phổi: Nguyên nhân thường gặp, chủ yếu ở ung thư phổi nguyên phát, ít gặp ở ung thư phổi thứ phát. Đờm có lẫn các tia máu, có khi ho máu mức độ vừa, thường ho vào buổi sáng màu đỏ tím (màu mận chín).

Giãn phế quản: Trong giãn phế quản thể khô có thể chỉ biểu hiện bằng ho ra máu, máu đỏ tươi, tái phát nhiều lần, dễ nhầm với lao phổi.

Bệnh tim mạch và các bệnh khác: Nhồi máu phổi, hẹp van 2 lá, bệnh tim bẩm sinh, bệnh Good Pasture hoặc bệnh hệ thống Collagen. Có thể gặp tất cả các mức độ của ho ra máu. Cần chú ý: máu lẫn bọt màu hồng gặp trong phù phổi cấp.

Viêm phổi: viêm phổi cấp do vi khuẩn, áp xe phổi.
+ Viêm phổi thùy do phế cầu: đờm màu rỉ sắt.
+ Viêm phổi hoại tử do Klebsiella đờm lẫn máu keo gạch.

Các nguyên nhân hiếm gặp:
+ Nấm Aspergillus phổi phế quản.
+ U mạch máu phổi.
+ Ngoài ra còn gặp ho ra máu do chấn thương, vết thương phổi và do can thiệp các thủ thuật như soi phế quản, sinh thiết phổi qua thành ngực…

Thận trọng khi trẻ bị viêm hô hấp

Những năm đầu đời không bé nào không vài lần ho, sổ mũi, sốt hoặc bỏ ăn, khi vài ngày cũng có lúc kéo dài từ tuần này sang tuần khác… Vì thế, viêm hô hấp ở trẻ em đa phần là nhẹ nhưng dễ ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ và gia đình.

Viêm hô hấp trên là viêm từ mũi xuống ngã ba hầu họng, phần nhiều là viêm mũi, viêm họng, viêm hệ thống bạch huyết ở họng trẻ nhỏ (viêm VA: végétations adénoides), viêm tai. Viêm hô hấp trên dù không được điều trị cũng có thể tự khỏi, hoặc tiến triển thành viêm hô hấp dưới như viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản (viêm những cuống phổi cực nhỏ) hay viêm phổi.

viem-ho-hap

Viêm hô hấp đa số do tác nhân siêu vi như rhino vi rút, vi rút RSV, vi rút cúm… phát tác khi gặp điều kiện thuận lợi như trời lạnh, sinh hoạt ẩm thấp, đông đúc. Biểu hiện viêm hô hấp ở trẻ là ho, sổ mũi, có khi sốt, đôi khi bỏ ăn. Diễn tiến bệnh đa số lành tính, nếu chăm sóc tốt sẽ hết sau 5 – 7 ngày, không cần nhập viện. Điều quan trọng là khi thấy có những dấu hiệu nặng như trẻ nôn ói hết, thở nhanh, sốt cao (ở trẻ nhỏ sốt cao quá có thể gây co giật), hoặc có triệu chứng khó thở, thở co kéo ngực hoặc phập phồng cánh mũi là phải đưa trẻ đi khám ngay.

Trẻ sanh mổ dễ bị khò khè do còn đàm nhớt ở đường hô hấp, các bà mẹ không nên vì lo lắng mà cho bé uống kháng sinh quá sớm, nên đưa cháu đến các trung tâm y tế để được hút đàm và tập vật lý trị liệu hô hấp theo chỉ định của bác sĩ. Một số trẻ nhỏ khóc đêm, bỏ bú, đơn thuần vì bị nghẹt mũi, do đó phải thông mũi cho bé bằng cách hút mũi và cho nằm đầu cao, vỗ lưng cho trẻ, giúp trẻ ho và nôn ra chất đờm dãi (nhiều phụ huynh thấy không yên tâm nếu đi đưa con khám ho mà bác sĩ không cho thuốc gì hoặc cho rất ít thuốc: nên nhớ ho là một phản xạ rất tốt để bảo vệ phổi ở trẻ).

Những triệu chứng ho, sốt, ói, sổ mũi, biếng ăn là biểu hiện của rất nhiều bệnh lý ở trẻ nhỏ, do đó không nên quá chủ quan. Có nhiều bà mẹ thấy triệu chứng bé giống lần trước và đôi khi người lớn vì quá bận rộn không đưa cháu đi khám được nên tự động dùng toa cũ hoặc ra mua vài viên thuốc về cho con uống, đến khi tự chữa hoài không khỏi đưa vào viện thì bé đã viêm phổi nặng, có trường hợp dẫn đến ápxe phổi. Một ông bố đã suýt mất con vì lấy thuốc nhỏ mũi người lớn nhỏ cho bé làm con khó thở, tim đập nhanh phải đưa cấp cứu và được chẩn đoán cao huyết áp nguy kịch do tác dụng phụ của thuốc nhỏ mũi. Một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những trẻ được sử dụng kháng sinh trước một tuổi có nguy cơ khởi phát bệnh suyễn nhiều hơn trẻ sử dụng kháng sinh sau một tuổi.

Phòng ngừa: không khó

Lúc mới sanh, trong tháng đầu bé chưa có đề kháng tốt, mẹ và những ai chăm sóc bé nếu đang bị bệnh nên tránh xa bé hoặc phải rửa tay sạch sẽ, đeo khẩu trang nếu bị cảm ho.

Ở các thành phố lớn, trong gia đình đông con, những nơi điều kiện vệ sinh kém hoặc chỗ sống tập thể, đa số các bé dễ bị lây và mắc bệnh đường hô hấp. Để đề phòng, các bà mẹ nên giữ vệ sinh sạch sẽ nơi ăn ngủ của bé, không để bé bị nhiễm lạnh, chích ngừa đầy đủ cho bé theo lịch tiêm chủng, cho bú sữa mẹ sớm (ngay sau sinh nửa giờ) và bú mẹ đến hai tuổi nếu được (trong sữa mẹ có rất nhiều kháng thể bảo vệ cho bé khỏi bệnh), cho ăn dặm đúng cách đề phòng suy dinh dưỡng, tập thói quen cho bé ăn nhiều trái cây và rau quả để cung cấp vitamin thiết yếu cho cơ thể. Có như vậy, hệ miễn dịch trong cơ thể của bé sẽ hoạt động hữu hiệu và trẻ ít mắc bệnh đường hô hấp hơn.

Nguồn Sài Gòn tiếp thị

Bệnh ho kéo dài

Ho là vấn đề sức khỏe phổ biến ở nhiều người, nhất là trong thời tiết giá lạnh. Tuy nhiên, bạn hãy cẩn trọng khi tình trạng ho không thể chữa dứt trong vòng một vài tuần bởi có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh lý nguy hiểm.

Theo tiến sĩ Animesh Arya, chuyên gia cao cấp về hô hấp ở Delhi (Ấn Độ), tình trạng ho không thể chữa dứt trong vòng một vài tuần có thể được đánh giá là một căn bệnh mãn tính.

Tiến sĩ Arya cho biết, tình trạng ho không thể chữa dứt trong vòng một vài tuần có thể là dấu hiệu cảnh báo nhiễm trùng đường hô hấp. Ho gây ra bởi nhiễm trùng thông thường có thể trị thuyên giảm bằng cách uống nước ấm hoặc sử dụng các bài thuốc dân gian như nghệ, mật ong, gừng… Tuy nhiên, nếu sau khi áp dụng các biện pháp này vẫn không thể chữa khỏi ho, bạn cần phải tiến hành thực hiện các xét nghiệm y tế để xác định nguyên nhân.

ho-keo-dai

Tiến sĩ Arya cảnh báo: “Bạn không nên đánh giá thấp chứng ho, bởi tình trạng ho kéo dài có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý nguy hiểm như hen suyễn, viêm phế quản, lao, ung thư phổi và các chứng bệnh khác. Ho trong tình trạng này thường kéo dài đến ba tuần”.

Vì vậy, trong trường hợp nhận thấy tình trạng ho không dứt trong vòng ba tuần, bạn nên đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe ngay. Bác sĩ có thể chỉ định chụp X-quang phổi cho bạn để xác định đúng nguyên nhân gây ho và điều trị kịp thời.

Nguyễn Niệm (Theo Medicmagic)

Báo phụ nữ

Sốt phát ban ở trẻ

Phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Khoảng thời gian trước khi bị phát ban, em bé sẽ có những thay đổi về trạng thái tinh thần, rõ ràng nhất là biểu hiện quấy khóc. Sau đó bé sẽ bị sốt, sổ mũi, ho, nhiều bé còn bị thêm tiêu chảy, vài ngày sau cơ thể bé sẽ xuất hiện những chấm đỏ toàn thân.

Nguyên nhân gây bệnh?
Sốt phát ban do một số loại siêu vi gây ra, nhưng có 2 nguyên nhân chính là siêu vi sởi và siêu vi bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, còn bệnh rubella gọi là ban đào.

Sốt phát ban lây lan qua đường hô hấp. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi, thì những siêu vi trùng bị bắn ra ngoài khiến cho những người xung quanh có thể hít phải và nhiễm bệnh.

sot-phat-ban-o-tre

Biểu hiện phát bệnh?
Sốt phát ban do sởi thường có những biểu hiện như sau: trẻ bị sốt cao kèm theo ho và sổ mũi, mắt đỏ. Lúc này các bé cảm thấy rất bứt rứt, khó chịu trong người. Sau đó vài ngày, trẻ sẽ bị phát ban toàn thân, đồng thời cũng sẽ giảm sốt và bớt quấy hơn.

Phát ban do Rubella lại có biểu hiện sốt nhẹ hoặc không sốt. Các nốt ban xuất hiện khá nhanh, trong 1 ngày đã có thể nổi lên trên khắp thân của trẻ. Ở trường hợp này, phần lớn trẻ mắc bệnh sẽ có kèm tiêu chảy hoặc phân hơi lỏng.

Sốt phát ban có gây biến chứng không?
Khi trẻ bị bệnh, các bậc cha mẹ luôn lo lắng, không biết có gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của trẻ hay không?

Bệnh sởi sẽ trở nên nguy hiểm nếu có các biến chứng như : viêm phổi, viêm tai giữa, kiết lỵ, đặc biệt là viêm não.

Rubella là bệnh lành tính hơn, và rất hiếm khi xảy ra biến chứng nguy hiểm. Nếu phụ nữ đang mang thai bị mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kì, có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non, hoặc trẻ sinh ra sẽ mắc tật về mắt, tim, não.

Điều trị và phòng ngừa cho trẻ
Nếu trẻ sốt cao, cha mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt, giảm ho. Nhưng nếu thấy bé có những biểu hiện bệnh nặng như : sốt cao không hạ, khó thở, co giật, hôn mê, đi ngoài ra máu hay chảy mủ ở tai… thì cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu kịp thời.

Trong quá trình điều trị, cũng cần phải chú ý tới chế độ ăn uống của trẻ. Nên cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa, đặc biệt cho uống nhiều nước vì lúc này cơ thể trẻ có thể bị mất nước nhiều.

Khi trẻ phát ban, tuyệt đối không được ủ kín và kiêng vệ sinh thân thể, vì điều đó có thể khiến bệnh trở nặng thêm. Thói quen kiêng gió, kiêng nước, thậm chí kiêng trong cả ăn uống là hoàn toàn sai lầm và lạc hậu. Trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm trùng Da và biến chứng viêm phổi. Bạn có thể tắm cho con bằng nước ấm, phòng tắm kín gió, để tránh cho trẻ bị nhiễm lạnh.

Cần phải cách ly trẻ bị bệnh để tránh lây lan sang các bạn khác. Tuy nhiên, bệnh có thể lây ngay từ khi trẻ chưa có biểu hiện phát ban, nên việc phòng tránh trở nên khó khăn hơn.

Nguồn báo sức khỏe

Triệu chứng và giai đoạn hội chứng Churg – Strauss

Hội chứng Churg – Strauss! Còn được gọi là viêm mạch u hạt dưới da, gây: Dị ứng ở giai đoạn đầu tiên, sốt, giảm cân nặng, đổ mồ hôi đêm, ho, đau bụng, chảy máu đường tiêu hóa, viêm mạch máu, phát ban hay vết loét da, đau sưng khớp, tê ngứa tay và chân, đau bụng dữ dội, tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa, khó thở, ho máu, nhịp tim bất thường…

Định nghĩa

Hội chứng Churg – Strauss, còn được gọi là viêm mạch u hạt dị ứng, là một rối loạn đánh dấu bởi tình trạng viêm mạch máu. Viêm này có thể hạn chế lưu lượng máu đến cơ quan quan trọng và các mô, đôi khi gây tổn hại vĩnh viễn chúng.

Suyễn là dấu hiệu phổ biến nhất của hội chứng Churg – Strauss, nhưng hội chứng Churg – Strauss có thể gây ra một loạt các vấn đề, từ bệnh sốt cỏ khô, phát ban và xuất huyết tiêu hóa, đau nặng và tê ở tay và chân. Loạt các triệu chứng và tương đồng với các triệu chứng của rối loạn khác, làm cho chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss là một thách thức.

trieu-chung-va-giai-doan-hoi-chung-churg-strauss

Hội chứng Churg – Strauss rất hiếm và không chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, bác sĩ thường có thể giúp kiểm soát các triệu chứng với steroid và thuốc ức chế miễn dịch mạnh khác.

I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Churg – Strauss là một căn bệnh biến đổi cao. Một số người chỉ có triệu chứng nhẹ, trong khi những người khác trải nghiệm nghiêm trọng hoặc đe dọa biến chứng. Có ba giai đoạn của hội chứng Churg – Strauss, mỗi dấu hiệu và triệu chứng của riêng mình, nhưng không phải tất cả mọi người phát triển cả ba giai đoạn hoặc theo thứ tự. Điều này đặc biệt đúng khi bệnh đang được chẩn đoán và xử lý trước khi thiệt hại nghiêm trọng nhất xảy ra.

Giai đoạn Churg – Strauss có thể bao gồm:

Dị ứng. Điều này thường là giai đoạn đầu tiên của hội chứng Churg – Strauss. Nó đánh dấu bằng một số phản ứng dị ứng, bao gồm:

– Suyễn. Dấu hiệu chính của hội chứng Churg – Strauss, hen suyễn có thể phát triển miễn là một thập kỷ trước khi các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện hoặc bệnh được chẩn đoán. Ở những người bị hội chứng Churg – Strauss đã có bệnh suyễn, các triệu chứng thường trở nên tồi tệ hơn và có thể yêu cầu steroids để điều trị. Những người khác phát triển bệnh suyễn khởi phát muộn. Phát triển bệnh hen suyễn, thậm chí sau này trong đời, tuy nhiên không nhất thiết có nghĩa rằng có hội chứng Churg – Strauss.

– Viêm mũi dị ứng. Điều này ảnh hưởng đến các màng nhầy của mũi, gây chảy nước mũi, hắt hơi và ngứa.

– Đau và viêm xoang. Có thể trải nghiệm đau đớn trên khuôn mặt và phát triển polyp mũi, u lành tính phát triển như là kết quả của tình trạng viêm mãn tính.

– Tăng bạch cầu eosi (hypereosinophilia). Eosinophil là một loại tế bào máu trắng giúp hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng nhất định. Thông thường, eosinophils chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của các tế bào máu trắng, nhưng trong hội chứng Churg – Strauss, con số cao bất thường của các tế bào này được tìm thấy trong máu hoặc mô, nơi nó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng.

Các dấu hiệu và triệu chứng của hypereosinophilia phụ thuộc vào một phần của cơ thể bị ảnh hưởng. Phổi và đường tiêu hóa – bao gồm dạ dày và thực quản – có liên quan đến thường xuyên nhất .

Nói chung, dấu hiệu và triệu chứng của giai đoạn hypereosinophilia có thể bao gồm:

– Sốt.

– Trọng lượng mất.

– Mệt mỏi.

– Đổ mồ hôi đêm.

– Ho.

– Đau bụng.

– Chảy máu đường tiêu hóa.

Giai đoạn này có thể vài tháng hoặc cuối năm, và các triệu chứng có thể biến mất vào những thời điểm. Cũng có thể gặp các triệu chứng của hypereosinophilia và viêm mạch hệ thống – giai đoạn thứ ba của hội chứng Churg – Strauss cùng một lúc.

Viêm ạch hệ thống. Các dấu hiệu của giai đoạn này của hội chứng Churg – Strauss là viêm mạch máu. Bằng cách thu hẹp các mạch máu, viêm làm giảm lượng máu đến cơ quan quan trọng và các mô trong cơ thể, bao gồm da, tim, hệ thần kinh ngoại vi, cơ bắp, xương và đường tiêu hóa. Đôi khi, thận cũng có thể bị ảnh hưởng.

Trong giai đoạn này, có thể cảm thấy nói chung không khỏe và đã giảm cân ngoài ý muốn, sưng hạch bạch huyết, suy nhược và mệt mỏi.

Tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng, cũng có thể gặp:

– Phát ban hay vết loét da.

– Đau nhức và sưng khớp.

– Đau nặng, tê và ngứa ran ở tay và chân (đau thần kinh ngoại vi).

– Đau bụng dữ dội.

– Tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa.

– Khó thở.

– Ho ra máu.

– Đau ngực.

– Nhịp tim bất thường.

– Máu trong nước tiểu.

Đi khám bác sĩ bất cứ lúc nào phát triển thở khó khăn, chảy nước mũi mà không hết, đặc biệt là nếu nó đi kèm với khuôn mặt đau dai dẳng. Ngoài ra khám bác sĩ nếu có bệnh suyễn hay sốt cỏ khô mà đột nhiên xấu đi. Churg -Strauss rất hiếm và nó càng có thể có những triệu chứng này trong một số nguyên nhân khác, nhưng điều quan trọng là bác sĩ đánh giá chúng.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Nguyên nhân của hội chứng Churg – Strauss có lẽ là một sự kết hợp của các yếu tố, mặc dù những yếu tố chưa được xác định. Được biết, những người có hội chứng Churg – Strauss có một hệ miễn dịch quá phức tạp. Thay vì chỉ đơn giản là bảo vệ chống lại xâm lược các sinh vật như vi khuẩn và vi rút, các chỉ tiêu hệ miễn dịch tế bào lành mạnh, gây viêm lan rộng. Các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng để tìm hiểu những gì gây nên phản ứng này không thích hợp miễn dịch.

Vai trò của thuốc. Một số người đã phát triển hội chứng Churg – Strauss sau khi sử dụng thuốc hen suyễn và dị ứng được gọi là montelukast hoặc khi chuyển từ steroid liều thấp có hệ thống để hít thuốc steroid. Các nghiên cứu đã không được hiển thị một liên kết rõ ràng giữa các loại thuốc và hội chứng Churg – Strauss, tuy nhiên, và cho dù kết nối vẫn còn tồn tại một điểm tranh cãi giữa các chuyên gia.

III. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Không biết chính xác bao nhiêu người có hội chứng Churg – Strauss, nhưng bệnh này hiếm, ảnh hưởng đến một nơi nào đó giữa 700 và 3.000 người ở Hoa Kỳ. Vì điều này, rõ ràng rằng mặc dù nhiều người có thể có yếu tố nguy cơ bệnh, rất ít người thực sự phát triển nó.

Các yếu tố rủi ro cho Churg – Strauss bao gồm:

Tuổi. Độ tuổi trung bình của người dân chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss là 50, nhưng người dân ở độ tuổi 30 của họ có thể có các dấu hiệu và triệu chứng viêm mạch hệ thống. Rối loạn này hiếm ở người lớn tuổi và trẻ em.

Lịch sử của bệnh suyễn hoặc các vấn đề mũi. Hầu hết mọi người chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss có tiền sử dị ứng mũi, viêm xoang mạn tính, hen suyễn thường nặng hoặc khó kiểm soát.

IV. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Churg – Strauss có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, bao gồm phổi, da, hệ tiêu hóa, thận, cơ, khớp và tim. Nếu không điều trị, bệnh có thể gây tử vong. Các biến chứng phụ thuộc vào các cơ quan liên quan và có thể bao gồm:

Thiệt hại thần kinh. Dây thần kinh ngoại vi mở rộng trên khắp cơ thể, kết nối các cơ quan, các tuyến, bắp thịt và da với não và tủy sống. Hội chứng Churg – Strauss có thể thiệt hại dây thần kinh ngoại biên (đau thần kinh ngoại vi), đặc biệt là ở bàn tay và bàn chân, dẫn đến tê liệt và mất chức năng. Ở một số người, thiệt hại này có thể vĩnh viễn.

Da sẹo. Các viêm nhiễm có thể gây ra vết loét phát triển mà có thể để lại sẹo.

Bệnh tim. Biến chứng liên quan đến tim của Churg – Strauss bao gồm viêm màng bao quanh tim, viêm cơ tim, cơn đau tim và suy tim.

Thận bị hư hại. Nếu Churg – Strauss ảnh hưởng đến thận, có thể phát triển viêm cầu thận, một loại bệnh thận mà cản trở khả năng lọc thận, dẫn đến tích tụ các chất thải trong máu nhiễm độc niệu. Mặc dù suy thận không phải là phổ biến với bệnh này, nó có thể gây tử vong khi nó xảy ra.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Không có xét nghiệm cụ thể để xác nhận hội chứng Churg – Strauss, và các dấu hiệu và triệu chứng tương tự như các bệnh khác, vì vậy nó có thể khó chẩn đoán. Để giúp làm cho chẩn đoán dễ dàng hơn, Bộ môn khớp học Mỹ đã thành lập các tiêu chí để xác định hội chứng Churg – Strauss.

Sáu tiêu chí

Căn bệnh này thường được coi là có mặt nếu một người có bốn trong sáu tiêu chí, nhưng bác sĩ có thể cảm thấy tự tin chẩn đoán Churg – Strauss ngay cả khi đáp ứng chỉ có hai hoặc ba trong các tiêu chuẩn, trong đó bao gồm:

Suyễn. Eosinophilia – eosinophils thường chiếm 1 – 3 phần trăm các tế bào máu trắng; đếm từ 11% trở lên được xem là cao bất thường và chỉ ra mạnh mẽ của hội chứng Churg – Strauss.

Bệnh một dây thần kinh hoặc nhiều dây thần kinh – thiệt hại cho một hoặc một nhóm thần kinh.

Phổi xâm nhập – điểm hoặc tổn thương trên X – quang ngực mà di chuyển từ nơi này sang nơi khác hoặc đến và đi.

Lịch sử đau xoang cấp tính hoặc mãn tính.

Tế bào bạch cầu ưu eosi ngoài mạch máu – tế bào trắng có mặt bên ngoài các mạch máu.

Để giúp xác định xem có đáp ứng bất cứ các tiêu chí này, bác sĩ có thể yêu cầu một số xét nghiệm, bao gồm:

Xét nghiệm máu. Khi miễn dịch tấn công chính cơ thể của các tế bào hệ thống, như xảy ra ở hội chứng Churg – Strauss, nó tạo thành các protein gọi là kháng thể. Một xét nghiệm máu có thể phát hiện kháng thể nhất định trong máu mà có thể đề nghị, nhưng không xác nhận một chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss. Một xét nghiệm máu cũng có thể đo lường mức độ eosinophils, mặc dù một số lượng tăng lên của các tế bào này có thể do các bệnh khác, bao gồm bệnh suyễn.

Hình ảnh kiểm tra. X -quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) quét và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) tìm những bất thường ở phổi và xoang.

Sinh thiết mô bị ảnh hưởng. Nếu các xét nghiệm khác cho thấy hội chứng Churg – Strauss, có thể có một mẫu nhỏ mô (sinh thiết) gỡ bỏ để kiểm tra dưới kính hiển vi. Bác sĩ có thể loại bỏ các mô từ phổi hoặc cơ quan khác, chẳng hạn như da hay cơ bắp để xác nhận hoặc loại trừ sự hiện diện của viêm mạch.

V. ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Không có cách chữa hội chứng Churg – Strauss, nhưng một số thuốc có thể giúp ngay cả những người có triệu chứng nghiêm trọng đạt được thuyên giảm. Một kết quả tốt và giảm nguy cơ biến chứng từ bệnh và điều trị của nó cả hai có nhiều khả năng khi hội chứng Churg – Strauss được chẩn đoán và điều trị sớm.

Thuốc dùng để điều trị hội chứng Churg – Strauss bao gồm:

Corticosteroid. Prednisone là thuốc phổ biến nhất quy định đối với hội chứng Churg – Strauss. Bác sĩ có thể kê một liều cao 40 – 60 mg corticosteroid một ngày để có được các triệu chứng dưới sự kiểm soát càng sớm càng tốt. Nhưng bởi vì liều cao corticosteroid có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm mất xương, đường huyết cao, đục thủy tinh thể và khó điều trị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ giảm liều dần dần cho đến khi dùng liều nhỏ nhất mà vẫn giữ cho căn bệnh dưới kiểm soát. Tuy nhiên, ngay cả liều thấp hơn trong thời gian dài có thể gây ra phản ứng phụ.

Các thuốc ức chế miễn dịch. Đối với những người có triệu chứng nhẹ, một mình corticosteroid có thể đủ. Những người khác có thể yêu cầu một thuốc ức chế miễn dịch như cyclophosphamide, azathioprine hoặc methotrexate để giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Bởi vì các thuốc này làm giảm khả năng của cơ thể chống lại nhiễm trùng và có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng khác, bác sĩ phải theo dõi chặt chẽ tình trạng trong khi đang dùng chúng.

Immunoglobulin tĩnh mạch (IVIg). Do truyền hàng tháng, IVIg là lành tính hầu hết các phương pháp trị liệu sử dụng cho hội chứng Churg – Strauss. Các tác dụng phụ thường gặp nhất là các triệu chứng giống như cúm thường chỉ kéo dài một ngày hoặc lâu hơn. Tuy nhiên IVIg có hai nhược điểm lớn: Nó rất tốn kém và nó không phải là phổ hiệu quả. IVIg không được xem là một điều trị dòng đầu tiên cho Churg – Strauss, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó có thể hữu ích cho những người không đáp ứng với thuốc khác.

Mặc dù thuốc điều trị có thể dập tắt các triệu chứng của hội chứng Churg – Strauss và bệnh thuyên giảm nhưng tái phát là phổ biến.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Điều trị lâu dài với prednisone có thể gây ra một số tác dụng phụ, nhưng có thể thực hiện các bước để giúp giảm thiểu chúng.

Bảo vệ xương. Nếu đang dùng cortisone, có được đầy đủ canxi là điều cần thiết để ngăn ngừa mất xương và gãy xương có thể. Đủ vitamin D chỉ là quan trọng. Không chỉ vitamin D cải thiện sức khoẻ xương bằng cách giúp hấp thu canxi, nó cũng có thể cải thiện sức mạnh cơ bắp. Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu vitamin D có thể bảo vệ chống lại một số loại ung thư để xác định liều tối ưu hàng ngày, nhưng nó an toàn tới 2.000 đơn vị quốc tế ( IU) một ngày. Sức mạnh đào tạo nghề và các bài tập mang trọng lượng như đi bộ và chạy bộ cũng là rất cần thiết cho sức khỏe của xương.

Tập thể dục. Ngoài ra để giữ xương chắc khoẻ, tập thể dục có thể giúp duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Điều này là quan trọng bởi vì cortisone có xu hướng gây tăng cân, mà lần lượt có thể đóng góp cho bệnh tiểu đường, một tác dụng phụ của liệu pháp cortisone. Thường xuyên tập thể dục cũng rất quan trọng cho người dân đối phó với cơn đau của bệnh thần kinh.

Ngưng hút thuốc lá. Đây là một trong những điều quan trọng nhất có thể làm cho sức khỏe tổng thể. Chính nó, hút thuốc lá gây ra vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nó cũng làm cho vấn đề tồi tệ hơn đã có và có thể làm trầm trọng thêm tác dụng phụ thuốc.

Áp dụng một chế độ ăn uống khỏe mạnh. Steroid có thể gây ra mức đường huyết cao và cuối cùng phát triển bệnh tiểu đường. Nhấn mạnh các loại thực phẩm giúp giữ lượng đường trong máu trong sự kiểm soát, chẳng hạn như trái cây, rau và ngũ cốc nguyên chất là then chốt. Kiểm tra glucose và kiểm tra thường xuyên mức độ A1C.

Tái khám đúng hẹn. Trong thời gian điều trị cho hội chứng Churg – Strauss, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ phản ứng phụ. Điều này có thể sẽ bao gồm chụp cắt lớp xương thường xuyên, khám mắt và huyết áp, glucose và kiểm tra cholesterol. Hãy chắc chắn để giữ cho các cuộc hẹn. Nếu bị kẹt thời gian có thể đảo ngược nhiều tác dụng phụ liên quan đến sử dụng steroid.

Đối phó và hỗ trợ

Churg – Strauss là một căn bệnh nghiêm trọng và đôi khi gây tàn phá. Ngay cả khi nó thuyên giảm có thể lo lắng về khả năng tái phát hay thiệt hại về lâu dài cho tim, phổi và thần kinh. Đây là một số đề xuất đối phó với căn bệnh này:

Giáo dục mình về hội chứng Churg – Strauss. Càng biết, chuẩn bị tốt hơn sẽ đạt được đối phó với các biến chứng hoặc tái phát. Bên cạnh đó có thể nói chuyện với bác sĩ, với một cố vấn hoặc nhân viên y tế. Hoặc có thể tìm thấy nó hữu ích để nói chuyện với người khác có hội chứng Churg – Strauss.

Duy trì một hệ thống hỗ trợ mạnh mẽ. Mặc dù gia đình và bè có thể giúp đỡ rất nhiều, đôi khi có thể tìm thấy sự hiểu biết và tư vấn của những người khác với hội chứng Churg – Strauss đặc biệt hữu ích. Bác sĩ hoặc một nhân viên y tế có thể đặt liên lạc với một nhóm hỗ trợ. Hoặc có thể tìm một nhóm hỗ trợ thực hay ảo thông qua các hiệp hội Hội chứng Churg – Strauss

Nguồn internet

Các biểu hiện nhận biết lao phổi dễ dàng

Người lao phổi có các triệu chứng như sau:

Các triệu chứng quan trọng nhất là: ho, khạc đờm, ho máu. Các triệu chứng khác là: đau ngực, khó thở, có tiếng rên khu trú ở một vùng của phổi…

Ho là triệu chứng của mọi bệnh phổi cấp và mãn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân: viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi … Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần ko phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi dung thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.

cac-bieu-hien-nhan-biet-lao-phoi-de-dang

Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho cũng có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy nếu sau khi dung thuốc kháng sinh triệu chứng khạc đờm không giảm thì mọi bệnh nhân có triệu chứng ho khạc trên ba tuần phải nghĩ đến do lao phổi.

Ho khạc đờm là những dấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi tới chuẩn đoán lao phổi.

Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% nững người lao phổi thể  hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp. Nguyên nhân gây ra ho máu rất nhiều từ các bệnh phổi – phế quản (viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi, ung thư  phổi, phế quản…) đến các bệnh ngoài đường hô hấp như bệnh tim mạch (suy tim, tăng huyết áp…), bệnh toàn than (rối loạn đông máu, chảy máu, thiếu hụt vitamin C…) Tuy nhiên do có thể gặp với tỷ lệ cao trong lao phổi nên những người ho ra máu phải kiểm tra có lao phổi không.

    Triệu chứng toàn thân

Các triệu chứng toàn thân quan trọng nhất là: gầy, sút cân, sốt, ra mồ hôi. Các triệu chứng toàn than quan trọng khác là chán ăn, mệt mỏi…

Gầy, sút cân là triệu chứng gặp ở số đồng người lao phổi. Những bênh nhân gầy, sút cân không có nguyên nhân rõ rang không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS… có các triệu chứng hô hấp như trên đã nêu phải nghĩ tới do lao phổi.

Sốt là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất tường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều.

Những người có triệu chứng sốt như trên, có các triệu chứng về hô hấp: ho, khạc đờm, ho ra máu… phải nghĩ tới do lao phổi.

Ra mồ hôi là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường hay gọi lầ ra mồ hôi trộm ở trẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.

Nếu bệnh nhân gầy sút cân, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm kèm theo có các dấu hiệu chán ăn, mệt mỏi… phải chú ý có thể đó là do lao phổi.

Sức khỏe đời sống

Không được chủ quan với bệnh viêm hô hấp ở trẻ nhỏ

Trẻ em trong những năm đầu đời không bé nào không vài lần ho, sổ mũi, sốt hoặc bỏ ăn. Có bé chỉ vài ngày là khỏi bệnh, cũng có bé sổ mũi hoặc ho kéo dài từ tuần này sang tuần khác. Đôi khi hết được vài ngày thì bé bệnh trở lại, phải nghỉ học, còn ba mẹ thì nghỉ làm để chăm sóc con. Vì thế, viêm hô hấp ở trẻ em đa phần là nhẹ nhưng dễ ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ và gia đình.

Khi nào cần chữa, lúc nào không?

Viêm hô hấp trên là viêm từ mũi xuống ngã ba hầu họng, phần nhiều là viêm mũi, viêm họng, viêm hệ thống bạch huyết ở họng trẻ nhỏ (viêm VA: végétations adénoides), viêm tai. Viêm hô hấp trên dù không được điều trị cũng có thể tự khỏi, hoặc tiến triển thành viêm hô hấp dưới như viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản (viêm những cuống phổi cực nhỏ) hay viêm phổi.

khong-duoc-chu-quan-voi-benh-viem-ho-hap-o-tre-nho

Viêm hô hấp đa số do tác nhân siêu vi như rhinovirút, virút RSV, virút cúm… phát tác khi gặp điều kiện thuận lợi như trời lạnh, sinh hoạt ẩm thấp, đông đúc. Biểu hiện viêm hô hấp ở trẻ là ho, sổ mũi, có khi sốt, đôi khi bỏ ăn. Diễn tiến bệnh đa số lành tính, nếu chăm sóc tốt sẽ hết sau 5 – 7 ngày, không cần nhập viện. Điều quan trọng là khi thấy có những dấu hiệu nặng như trẻ nôn ói hết, thở nhanh, sốt cao (ở trẻ nhỏ sốt cao quá có thể gây co giật), hoặc có triệu chứng khó thở, thở co kéo ngực hoặc phập phồng cánh mũi là phải đưa trẻ đi khám ngay.

Trẻ sanh mổ dễ bị khò khè do còn đàm nhớt ở đường hô hấp, các bà mẹ không nên vì lo lắng mà cho bé uống kháng sinh quá sớm, nên đưa cháu đến các trung tâm y tế để được hút đàm và tập vật lý trị liệu hô hấp theo chỉ định của bác sĩ. Một số trẻ nhỏ khóc đêm, bỏ bú, đơn thuần vì bị nghẹt mũi, do đó phải thông mũi cho bé bằng cách hút mũi và cho nằm đầu cao, vỗ lưng cho trẻ, giúp trẻ ho và nôn ra chất đờm dãi (nhiều phụ huynh thấy không yên tâm nếu đi đưa con khám ho mà bác sĩ không cho thuốc gì hoặc cho rất ít thuốc: nên nhớ ho là một phản xạ rất tốt để bảo vệ phổi ở trẻ).

Những triệu chứng ho, sốt, ói, sổ mũi, biếng ăn là biểu hiện của rất nhiều bệnh lý ở trẻ nhỏ, do đó không nên quá chủ quan. Có nhiều bà mẹ thấy triệu chứng bé giống lần trước và đôi khi người lớn vì quá bận rộn không đưa cháu đi khám được nên tự động dùng toa cũ hoặc ra mua vài viên thuốc về cho con uống, đến khi tự chữa hoài không khỏi đưa vào viện thì bé đã viêm phổi nặng, có trường hợp dẫn đến ápxe phổi. Một ông bố đã suýt mất con vì lấy thuốc nhỏ mũi người lớn nhỏ cho bé làm con khó thở, tim đập nhanh phải đưa cấp cứu và được chẩn đoán cao huyết áp nguy kịch do tác dụng phụ của thuốc nhỏ mũi. Một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những trẻ được sử dụng kháng sinh trước một tuổi có nguy cơ khởi phát bệnh suyễn nhiều hơn trẻ sử dụng kháng sinh sau một tuổi.

Phòng ngừa: không khó

Lúc mới sanh, trong tháng đầu bé chưa có đề kháng tốt, mẹ và những ai chăm sóc bé nếu đang bị bệnh nên tránh xa bé hoặc phải rửa tay sạch sẽ, đeo khẩu trang nếu bị cảm ho.

Ở các thành phố lớn, trong gia đình đông con, những nơi điều kiện vệ sinh kém hoặc chỗ sống tập thể, đa số các bé dễ bị lây và mắc bệnh đường hô hấp. Để đề phòng, các bà mẹ nên giữ vệ sinh sạch sẽ nơi ăn ngủ của bé, không để bé bị nhiễm lạnh, chích ngừa đầy đủ cho bé theo lịch tiêm chủng, cho bú sữa mẹ sớm (ngay sau sinh nửa giờ) và bú mẹ đến hai tuổi nếu được (trong sữa mẹ có rất nhiều kháng thể bảo vệ cho bé khỏi bệnh), cho ăn dặm đúng cách đề phòng suy dinh dưỡng, tập thói quen cho bé ăn nhiều trái cây và rau quả để cung cấp vitamin thiết yếu cho cơ thể. Có như vậy, hệ miễn dịch trong cơ thể của bé sẽ hoạt động hữu hiệu và trẻ ít mắc bệnh đường hô hấp hơn.

Nguồn sgtt

Nguyên nhâ sốt phát ban dạng sởi lây lan nhanh

Sốt phát ban thường gây ra bởi virut sởi hoặc virut Rubella. Bệnh lây theo đường hô hấp, khi hít thở chung nguồn khí với người bệnh. Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt, viêm long đường hô hấp, đường tiêu hóa, viêm kết mạc mắt, phát ban có thứ tự. Bệnh thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 – 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể gặp ở người lớn do chưa được tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa được tiêm nhắc lại.

Virut sởi gây bệnh thế nào?

Virut sởi phát tán qua không khí xâm nhập niêm mạc đường hô hấp (như hắt hơi), do vậy, bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng, nếu kiểm soát không tốt có thể gây thành dịch. Sau đó, vào máu (nhiễm virut máu lần thứ nhất). Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ ủ bệnh. Từ máu, theo các bạch cầu, virut đến các cơ quan đích (phổi, lách, hạch, da, kết mạc mắt…) gây tổn thương các cơ quan này và gây ra các triệu chứng lâm sàng trong thời kỳ toàn phát. Ban ở da và niêm mạc chính là hiện tượng đào thải virut và phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể. Ngày thứ 2 – 3 từ khi mọc ban, cơ thể sinh kháng thể. Kháng thể trung hòa virut. Bệnh chuyển sang thời kỳ lui bệnh.

nguyen-nha-sot-phat-ban-dang-soi-lay-lan-nhanh

Giai đoạn ủ bệnh khoảng 8 – 11 ngày, bệnh nhân không có biểu hiện rõ ràng. Nếu là trẻ sơ sinh có thể kéo dài 14 – 15 ngày.

Giai đoạn khởi phát (viêm xuất tiết): Thông thường khoảng 3 – 4 ngày.Người bệnh đột ngột sốt nhẹ hoặc vừa, sau sốt cao. Kèm theo các biểu hiện viêm xuất tiết mũi, họng, mắt (chảy nước mắt nước mũi, ho, viêm màng tiếp hợp, mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mi mắt). Ho, hắt hơi, chảy nước mũi, sau có thể có viêm thanh quản.

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn mọc ban): Ban mọc vào ngày thứ 4 – 6 của bệnh. Dạng ban là ban dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, xen kẽ là các ban dát màu hồng. Ban mọc rải rác hay lan rộng dính liền với nhau thành từng đám tròn 3 – 6mm, giữa các ban là khoảng da lành. Ban mọc theo thứ tự: Ngày thứ 1 mọc ở sau tai, lan ra mặt. Ngày thứ 2 lan xuống đến ngực, tay. Ngày thứ 3 lan đến lưng, chân. Ban kéo dài 6 ngày rồi bay theo thứ tự như nó đã mọc.

Cần phân biệt với các loại sốt phát ban khác

Do là sốt phát ban nên bệnh có thể nhầm với các loại sốt phát ban khác cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi như:

Rubella: phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long đường hô hấp; nhiễm enterovirus: phát ban không có trình tự, hay kèm rối loạn tiêu hóa. Phát ban do Mycoplasma pneumoniae: Sốt nhẹ, đau đầu và viêm phổi không điển hình. Sốt mò: Có vết loét hoại tử do côn trùng đốt; Phát ban mùa xuân trẻ em: Trẻ 6 tháng đến 2 tuổi, khởi đầu là tình trạng nhiễm khuẩn rồi có biểu hiện thần kinh, sau khi hết sốt thì ban mới mọc; Ban dị ứng: Kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan; Nhiễm virut Epstein-Barr: Hay kèm theo tăng bạch cầu đơn nhân.

Biến chứng của bệnh

Khi mắc bệnh nếu không được điều trị hoặc do bệnh nhân tự ý điều trị dẫn đến bội nhiễm và có những biến chứng như:

Biến chứng đường hô hấp: Viêm thanh quản: Ở giai đoạn sớm xuất hiện ở giai đoạn khởi phát hay có Croup giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản. Ở giai đoạn muộn do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: sốt cao, ho, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

Viêm phế quản: Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kỳ mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều.

Viêm phế quản – phổi: Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Bệnh nặng có sốt cao, khó thở, khám phổi có ran phế quản và ran nổ. Đây là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh: Viêm não – màng não – tủy cấp do virut sởi.

Viêm não: Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao. Gặp ở 0,1 – 0,6% bệnh nhân sởi. Thường gặp ở trẻ lớn (tuổi đi học), vào tuần đầu của ban (ngày 3 – 6 của ban). Khởi phát đột ngột, sốt cao vọt, co giật, rối loạn ý thức: hôn mê, liệt 1/2 người hoặc 1 chi, liệt dây III, VII, hay gặp hội chứng tháp – ngoại tháp, tiểu não, tiền đình…

Viêm màng não kiểu thanh dịch (do virut sởi).

Viêm tủy: Liệt 2 chi dưới, rối loạn cơ vòng.

Viêm màng não mủ do bội nhiễm: Viêm màng não mủ sau viêm tai, viêm xoang, viêm họng… do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van Bogaert): Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn có khi sau vài năm, điều này nói lên virut sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân, ở những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc miệng, cam tẩu mã (xuất hiện muộn, do bội nhiễm xoắn khuẩn Vincent (Leptospira vincenti) là một loại xoắn khuẩn hoại thư, gây loét niêm mạc miệng, lan sâu rộng vào xương hàm gây hoại tử niêm mạc, viêm xương, rụng răng, hơi thở hôi).

Viêm ruột: Do bội nhiễm các loại vi khuẩn như Shigella, E.coli…

Lời khuyên của thầy thuốc

Tiêm phòng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh. Cần tiêm phòng vaccin sởi và tuân thủ đúng lịch cho trẻ 6 – 9 tháng tuổi trở lên, có tác dụng bảo vệ cao. Bệnh sởi do virut lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân người bệnh cần được cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng.

Khi mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm khuẩn. Khi chăm sóc trẻ bệnh, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn và tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng ngừa bệnh hô hấp trong mùa đông

1. Tránh ăn mặc hở hang

Mùa lạnh bạn có thể dễ dàng mắc phải nhiều bệnh về đường hô hấp như ho, cảm cúm, phát triển bệnh xoang… Hãy mặc ấm trước khi ra ngoài, giữ ấm đặc biệt ở phần mặt, đầu, cổ, tay, chân. Nên tránh xa những người bị bệnh về mũi để tránh lây nhiễm. Đảm bảo độ ẩm trong nhà 40-50%.

2. Không ngoáy mũi thường xuyên

Nếu bạn bị nhiễm lạnh, hãy bắt đầu bằng cách xì mũi thường xuyên. Hãy xì ở hai lỗ mũi cùng lúc để ngăn chặn một bên còn dịch nhầy, một bên không. Không nên dí sát mũi để ngửi mọi vật, nó khiến chất nhầy tăng dần trong xoang vì có thể bạn đã hít thêm nhiều vi khuẩn.

Không nên ngoáy mũi thường xuyên vì có thể làm rụng lông mũi, tổn thương niêm mạc, vỡ mạch máu và gây chảy máu. Ngoài ra, ngoáy mũi nhiều cũng dễ gây nhiễm khuẩn mũi.

phong-ngua-benh-ho-hap-trong-mua-dong

3. Uống nhiều nước

Uống nhiều nước không chỉ khiến cơ thể bạn khỏe mạnh, loại bỏ nhiều độc tố mà còn có tác dụng giúp dịch tiết mũi lỏng hơn, để chất nhầy thoát ra ngoài một cách dễ dàng hơn.

4. Tránh kích thích bên ngoài

Hạn chế các yếu tố liên quan đến môi trường như tránh nơi nhiều khói thuốc, khiến màng nhầy bị khô, mũi dễ bị dị ứng. Tránh bụi khí, hoá chất độc hại hoặc kích thích mùi vị vào mũi vì nó có thể ảnh hưởng đến chức năng của niêm mạc mũi, xảy ra rối loạn khứu giác.

5. Xông mũi bằng nước ấm, nước muối hoặc nước có pha thảo dược

Khi có dấu hiệu cảm cúm, bạn có thể tự mình chữa trị bằng phương pháp tự nhiên. Một phương thuốc đơn giản giúp bạn dễ thở hơn là đun sôi nước và đổ nó vào một cái bát lớn. Hãy trùm thêm một chiếc khăn lên đầu (không trùm kín mít), để nước xông lên mũi. Không nên chọc tay hay tác động bất cứ thứ gì vào mũi.

Bạn có thể thêm vào bát nước ấm một chút tinh dầu bạch đàn, húng tây, trà hoa cúc hay thìa lá bạc hà.

Cây cải ngựa cũng có tác dụng rất tốt trong việc điều trị bệnh viêm mũi. Bạn có thể hít ngay trên phần rau đã được xát nhỏ, nó có chứa chất làm loãng chất nhầy. Bạn cũng có thể trộn nó với nước cốt chanh để uống.

Dùng nước muối vệ sinh cũng khiến mũi bạn thông thoáng, loại bỏ tối đa vi sinh vật. Bạn có thể dùng thêm tăm bông để làm sạch mũi.

6. Hạn chế đến các phòng tắm hơi

Khi bạn ngồi trong phòng xông hơi, tức là đang ở trong môi trường có nhiệt độ rất cao. Khi đó, các độc tố, chất cặn bã tích tụ bên trong cơ thể, ẩn chứa dưới da đi theo tuyến mồ hôi bài tiết ra ngoài giúp bạn cảm thấy sảng khoái, sạch sẽ hơn.

Tuy nhiên, những chất thải đó lại nhỏ giọt trên sàn nhà và quanh chỗ ngồi, bay hơi trong không khí, dẫn đến môi trường trong phòng xông hơi trở nên ô nhiễm. Nếu phòng xông hơi đông người, không được vệ sinh sạch sẽ khiến bệnh ở mũi của bạn càng trở nên nghiêm trọng.

Theo VnExpress

Phòng bệnh phổi tắc mãn tính

 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh có ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe người bệnh, là một trong những bệnh gây tàn phế (suy hô hấp) và có tỉ lệ tử vong cao. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng mùa lạnh, bệnh rất dễ xuất hiện, tuy vậy, có thể phòng ngừa để hạn chế  sự có mặt của nó.

Đâu là nguyên  nhân?

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tình trạng bệnh lý xảy ra ở phổi, làm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường xuyên, ngày một nặng thêm và khó hồi phục. Nguyên nhân gây bệnh COPD chủ yếu là do hút thuốc lá (có khoảng 5 người nghiện thuốc lá thì sẽ có 1 người mắc COPD) và có khoảng 80 – 90% bệnh nhân COPD đang hút hoặc có tiền sử hút thuốc lá. Bên cạnh đó, các chất kích thích khác có thể gây COPD bao gồm cả khói xì gà, khói thuốc lào, khói của nhà máy, ô nhiễm không khí và khói hóa chất. Một số bệnh về phổi mạn tính kéo dài như viêm phế quản mạn tính (làm tăng sản xuất chất nhờn và có thể thu hẹp các ống phế quản), giãn phế quản, giãn phế nang, hen suyễn (gây co thắt của sợi cơ trong lớp màng của đường hô hấp: co thắt phế quản) cũng gây nên COPD. Một số trường hợp trào ngược dạ dày thực quản làm gia tăng thêm bệnh COPD hoặc tạo điều kiện cho COPD xuất hiện. Một số trường hợp hít phải khói thuốc một cách thường xuyên do người khác trong gia đình hút thuốc, một số trường hợp do nghề nghiệp tiếp xúc với bụi hoặc hóa chất thường xuyên gây kích ứng, viêm phổi, gây ứ đọng dẫn đến COPD.

phong-benh-phoi-tac-man-tinh

Không nên chủ quan với biểu hiện của bệnh

Triệu chứng của COPD phát triển chậm. Những triệu chứng đầu tiên có vẻ nhẹ, vì vậy, bệnh nhân thường cho rằng đây là chuyện không đáng quan tâm cho nên càng ngày bệnh càng nặng dần. Triệu chứng thường gặp nhất là khó thở, ho, khò khè và có hiện tượng tăng tiết chất nhày và đờm. Khó thở lúc đầu chỉ thỉnh thoảng. Khi bệnh nặng, người bệnh luôn luôn thấy khó thở và đôi khi phải dùng mặt nạ để thở ôxy. Thở khò khè giống như hen suyễn vì phế nang bị sưng nề và xuất tiết nhiều (đờm) làm nghẽn đường dẫn khí. Ho lúc đầu vào buổi sáng, sau đó dần dần ho nhiều suốt ngày đêm. Ho ra đờm, lúc đầu ít, lỏng, càng về sau càng đặc quánh. Đờm trong hoặc hơi đục, đôi khi đờm có màu hơi vàng. Người bệnh luôn luôn cảm thấy mệt mỏi, lười vận động, chán ăn do thiếu dưỡng khí. Một người bệnh được chẩn đoán là COPD khi có biểu hiện ho, khạc đờm trên 3 tháng trong 1 năm và biểu hiện liên tiếp như vậy trong vòng 2 năm trở lên; đồng thời khó thở càng ngày càng tăng. Bệnh nhân thường phải gắng sức để thở hoặc thở hổn hển. COPD dễ nhầm với hen suyễn. Phân biệt bằng cách: Bệnh hen suyễn sẽ lên cơn hen cấp tính mỗi khi gặp phải chất gây dị ứng (dị ứng nguyên) hoặc chất kích thích, trong khi đó, COPD không nhất thiết như vậy. Tuy vậy, bệnh hen suyễn dẫn đến suy hô hấp chậm hơn COPD. Với bệnh COPD mà khi đã có ho nhiều, khó thở nặng và tăng tiết chất nhày nhiều thì bệnh đã ở giai đoạn nặng.

Điều trị và phòng bệnh thế nào?

COPD là một bệnh trường diễn, vì vậy, việc điều trị gặp không ít khó khăn. Các thuốc corticosteroid có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh hen suyễn cấp tính rất hiệu nghiệm nhưng lại tác dụng hạn chế trong COPD giai đoạn ổn định. Trong khi đó, thuốc anticholinnergic dạng bơm đem lại hiệu quả khá cao trong COPD. Nhiều tác giả khuyến nghị nên dùng các thuốc anticholinergic là thuốc điều trị duy trì đối với COPD và khi bệnh tiến triển xấu, cần kết hợp với các thuốc chủ vận bêta hoặc một số thuốc khác. Khi bệnh tái phát nặng thì nên dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn (nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn) từ 10 – 14 ngày, đồng thời dùng thuốc giãn phế quản (atrovent, diaphylin) khí dung hoặc uống hay tiêm theo chỉ định của bác sĩ điều trị và thuốc long đờm. Trong trường hợp cần thiết và có điều kiện, nên cho thở ôxy.

BS. Việt Bắc

Nguồn sức khỏe đời sống

Các bệnh về van tim thường gặp và cách nhận biết

Bệnh van tim là bệnh hay gặp nhất trong các bệnh lý tim mạch (chiếm 50% bệnh nhân nằm điều trị tại các khoa, bệnh viện chuyên về Tim mạch), nếu bệnh không được quản lý và điều trị tốt sẽ gây nhiều biến chứng làm bệnh nhân bị tàn phế và có thể tử vong.

Quả tim có bốn van tim. Ngăn giữa buồng thất phải và buồng nhĩ phải là van ba lá. Ngăn giữa buồng thất trái và buồng nhĩ trái là van hai lá. Ngăn giữa buồng thất phải với động mạch phổi là van động mạch phổi và ngăn giữa buồng thất trái với động mạch chủ là van động mạch chủ. Khi các van tim bị tổn thương gây hẹp hoặc hở hoặc cả hẹp và hở van sẽ ảnh hưởng đến dòng máu chảy trong tim cũng như dòng máu chảy ra động mạch. Từ đó sẽ dẫn đến rối loạn huyết động và tùy mức độ rối loạn này mà có các biểu hiện bệnh lý trên lâm sàng.

Nhận biết dấu hiệu bệnh.

Triệu chứng lâm sàng

Gia đoạn đầu khi bệnh van tim còn ở mức độ nhẹ thì người bệnh không cảm thấy có triệu chứng gì đặc biệt. Rất nhiều trường hợp là do tình cờ bệnh nhân đi khám sức khỏe được phát hiện là có bệnh van tim. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh có cảm giác mệt mỏi, tim đập nhanh, có thể đau ngực và đặc biệt là có dấu hiệu khó thở. Khó thở lúc đầu thường xuất hiện khi bệnh nhân gắng sức làm một việc gì đó. Về sau mật độ khó thở sẽ tăng dần và có thể khó thở cả về đêm..

cac-benh-ve-van-tim-thuong-gap-va-cach-nhan-biet

Phần lớn các trường hợp bệnh van tim có thể phát hiện bằng ống nghe tim vì dòng chảy bất thương của máu thường tạo ra âm thanh đó là tiếng thổi.

Biến chứng bệnh: Bệnh nhân bị bệnh van tim nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị tốt sẽ có một số biến chứng hay gặp trên lâm sàng như: Rối loạn nhịp gây nhịp nhanh hoặc nhịp chậm hoặc bỏ nhịp; tắc mạch gây tai biến mạch não (liệt nửa người, thấp ngôn, hôn mê…), nhồi máu phổi (khó thở nhiều, đau ngực, ho ra máu….), suy tim (khó thở, phù, gan to…), suy thận (phù, tiểu ít, da – niêm mạc nhợt…)….

Xét nghiệm cận lâm sàng

Điện tim đồ: có giá trị chẩn đoán các rối loạn nhịp tim và các biểu hiện tăng gánh cơ tim ở giai đoạn bệnh với mức độ vừa trở lên. Ví dụ như: dày nhĩ, dày thất, ngoại tâm thu, rung nhĩ….

X Quang: cho biết các tổn thương như giãn các buồng tim, vôi hóa van tim, ứ huyết ở phổi và các tổn thương phối hợp khác…..

Siêu âm tim: cho biết các tổn thương van tim như hẹp – hở van, mức độ hẹp – hở van tim, tình trạng dày hoặc vôi hóa van và tổ chức dưới van… Ngoài ra, siêu âm tim còn cho biết một số thông quan trọng như: chức năng tim, áp lực động mạch phổi, các tổn thương tim khác phối hợp. Đây là phương pháp thăm dò không chảy máu rất có giá trị để chẩn đoán xác định bệnh cũng như mức độ tổn thương và tiên lượng được diễn biến của bệnh.

Thông tim: được chỉ định trong một số trường hợp để đánh giá chính xác tổn thương van tim, cơ tim, các mạch máu…

Một số xét nghiệm cận lâm sàng khác: xét nghiệm huyết học và sinh hóa máu, chụp CT scanner ngực, chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp đa dãy… các xét nghiệm này giúp bổ sung cho việc chẩn đoán mức độ bệnh và nguyên nhân gây bệnh.

Nguyên nhân của bệnh

Bệnh thấp tim

Thấp tim là nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh van tim. Nguyên nhân gây bệnh thấp tim là vi khuẩn liên cầu beta tan huyết nhóm A “Streptococus”.

Suy tim

Khi cơ tim bị suy do bất kỳ nguyên nhân gì đều có xu hướng giãn ra. Khi buồng tim gây giãn vòng van, giãn dây chằng và cột cơ dẫn đến hở van tim.

Bệnh tim bẩm sinh

Là những bất thường của van tim xuất hiện ngay khi sinh ra. Ví dụ như bệnh: hẹp van động mạch chủ thường gặp là bệnh van động mạch chủ có hai lá van (bình thường có ba lá van); hở van động mạch chủ trong hội chứng Marfan; hẹp van động mạch phổi; hẹp van hai lá (van hai lá hình dù, vòng thắt trên van hai lá); hở van hai lá do: xẻ lá van, van hai lá có hai lỗ van; hở van ba lá trong bệnh Ebstein…

Biến chứng của nhồi máu cơ tim như đứt cơ nhú, đứt dây chằng van tim gây hở van tim.

Sự suy yếu của các tổ chức dưới van

Đứt dây chằng của tim có thể gây hở van tim

Tổn thương thành động mạch chủ lên làm cho động mạch chủ bị yếu dẫn tới giãn động mạch chủ và hậu quả là hở van động mạch chủ.

Bệnh hệ thống gây xơ hóa van: bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp… gây hở van tim.

Nhiễm trùng: nhiễm trùng van tim được gọi là “Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn”, tổn thương van thường gặp là thủng van, đứt dây chằng, cột cơ… gây hở van tim.

Những nguyên nhân khác: thoái hóa van ở người cao tuổi, chấn thương, u carcinoid, lắng đọng mucopolysaccharid, hội chứng Takayashu, phình giãn xoang valsalva…

Chẩn đoán bệnh

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng: mệt, ho, tức ngực, khó thở… Nghe tim có tiếng thổi ở tim, nhịp nhanh. Gan to, phù, phổi có ran ứ đọng…

Các xét nghiệm: điện tim đồ, siêu âm tim, chụp tim phổi, thông tim… trong các xét nghiệm này thì siêu âm tim đóng vai trò quan trọng nhất vì giúp chẩn đoán xác định bệnh giúp cho hướng phương pháp điều trị phù hợp, giúp tiên lượng bệnh…

Điều trị

Chế độ không dùng thuốc: Ăn uống, sinh hoạt, làm việc phù hợp với tình trạng bệnh. Nếu có biểu hiện suy tim cần ăn giảm muối (< 6g muối/24 giờ), ăn giảm mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế chất kích thích (như rượu, bia, cà phê), không hút thuốc lá – thuốc lào, không lao động gắng sức…

Chế độ điều trị

* Điều trị nội khoa

– Lợi tiểu; được dùng nếu có hiện tượng giữ muối và nước hoặc suy tim xung huyết để giảm gánh nặng cho tim. Ví dụ: furosemide, hydroclorothiazide, spironolactone…

– Digitalis: làm tăng sức co bóp cơ tim, làm giảm nhịp tim đặc biệt khi bệnh nhân bị rung nhĩ. Ví dụ: digoxin, digitoxin…

– Thuốc làm giảm hậu gánh; thuốc ức chế men chuyển làm giảm thể tích dòng hở và tăng thể tích tống máu, giảm suy tim. Ví dụ: Enalapril, captopril, perindopril, lisinopril…

– Thuốc giãn mạch nhóm nitrate làm giảm tiền gánh, giảm gánh nặng cho tim như: nitroglycerine, mononitrat, isosorbide…

– Thuốc chẹn β giao cảm: có thể sử dụng trong trường hợp nhịp nhanh do hẹp – hở van tim, suy tim nhưng chức năng tim còn bù. Ví dụ: carvedilol, metoprolol, lidocaine…

– Thuốc chống đông máu: cần dùng cho bệnh nhân có biến chứng rung nhĩ, buồng tim giãn, bệnh nhân mang van nhân tạo cơ học… vì nguy cơ cao hình thành cục máu đông trong tim. Thuốc thường được sử dụng: cumarin, aspirin, ticlodipin, clopidogil, dipyridamole…

* Điều trị can thiệp (theo chỉ định)

– Phương pháp nong van tim qua đường ống thông (qua da) để điều trị bệnh hẹp van tim như: hẹp van hai lá, hẹp van động mạch phổi, hẹp van động mạch chủ…

– Thay van qua da như: thay van động mạch chủ, thay van hai lá

* Phẫu thuật (theo chỉ định)

– Tách mép van: phẫu thuật viên sẽ dùng tay hoặc dụng cụ để tách mép van bị dính trong trường hợp hẹp van tim. Ngày nay phương pháp này được thay thế bởi phương pháp nong van bằng bóng qua da.

– Sửa van: khâu hẹp vòng van, khâu lại các vết rách ở lá van, sửa dây chằng, cột cơ của van tim…

– Thay van: được chỉ định trong trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật sửa van hoặc tách mép van. Van mới này có thể là van sinh học hoặc van cơ học.

* Điều trị khác: bệnh nhân bị hẹp – hở van tim dẫn đến suy tim nặng mà không còn chỉ định điều trị can thiệp hay phẫu thuật mổ sửa hoặc thay van thì có thể điều trị suy tim bằng các biện pháp đặc biệt như: cấy máy tái đồng bộ tim, ghép tim…

* Điều trị nguyên nhân: Điều trị bệnh thấp tim thật tốt (tiêm phòng thấp cấp I hoặc cấp II); Điều trị tốt các nguyên nhân có thể dẫn đến suy tim, làm giãn buồng tim gây hở van tim….

Cách phòng chống.

– Để đề phòng bệnh thấp tim tốt nhất là giáo dục chế độ vệ sinh phòng bệnh tốt. Khi phát hiện nhiễm trùng vùng họng (thường do liên cầu) cần được điều trị triệt để. Khi phát hiện bị thấp tim cần được quản lý theo dõi chặtt chẽ ở các cơ sở y tế và tiêm phòng thấp tim đầy đủ theo chỉ định của bác sỹ.

– Để phòng bệnh mạch vành (nguyên nhân gây suy tim, hở van tim) cần loại bỏ các yếu tố nguy cơ như: điều trị tốt bệnh tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, rối loạn lipide máu; hạn chế ăn mặn, hạn chế ăn mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế uống rượu bia; không hút thuốc lá; tăng cường vận động thể lực theo khả năng (ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/ tuần), tránh stress, không để thừa cân – béo phì…

– Giữ gìn vệ sinh thân thể và môi trường để không bị bệnh nhiễm trùng…

– Nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng: ăn, uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi khoa học và hợp lý.

Benh.vn

Sai lầm phổ biến khi dùng kháng sinh

Không dùng hết liệu trình điều trị, tự ý dùng thuốc, tự ý đổi thuốc kháng sinh vì “uống mãi” chưa đỡ… là những sai lầm vô cùng phổ biến của các bà mẹ khi chăm con ốm. Kéo theo một loạt hậu quả nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ

Dùng không hết liệu trình!

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) phải “kêu trời” vì thói quen dùng thuốc của các bà mẹ.

“Bác sĩ kê kháng sinh là 5 ngày, có trường hợp là 7 ngày. Thế nhưng không ít bà mẹ, sau khi con dùng được 3 ngày, hết sốt, hết triệu chứng thì dừng lại luôn, không uống tiếp kẻo “hại người”. Điều này là vô cùng nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây kháng kháng sinh”, TS Dũng nói.

TS Dũng giải thích, nguyên tắc là chỉ dùng kháng sinh khi xác định nhiễm khuẩn. Khi đã xác định nhiễm khuẩn thì phải dùng ngay kháng sinh và phải diệt sạch vi khuẩn.

sai-lam-pho-bien-khi-dung-khang-sinh

“Nếu một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, điều trị thích hợp là làm sạch vi khuẩn (khỏi lâm sàng tối đa, giảm tối thiểu nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc). Còn nếu điều trị không thích hợp, thất bại khiến bệnh nhân có thể nhiễm tái phát, có thể gây kháng thuốc. Vì vậy, liệu trình dùng kháng sinh là phải đảm bảo, dùng đủ liều để tiêu diệt vi khuẩn. Chứ không thể uống nửa chừng, thấy đỡ triệu chứng thì dừng lại. Chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn tốt thì bệnh mới khỏi, đỡ kháng thuốc”, TS Dũng khuyến cáo.

Cũng theo chuyên gia này, việc dùng kháng sinh tiêu diệt sạch vi khuẩn càng cao thì tỉ lệ thất bại lâm sàng càng ít. Nếu thất bại lâm sàng càng nhiều, thất bại vi khuẩn cũng càng nhiều.

Tùy tiện dùng thuốc!

Theo một nghiên cứu của BV Nhi trung ương thì có tới 44% bà mẹ tự mua thuốc cho con uống mà không cần kê đơn của bác sĩ. Việc tùy tiện dùng thuốc khi chưa có chỉ định là rất nguy hiểm, gây hại cho sức khỏe của trẻ.

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, đây là một sai lầm rất đáng trách của các bà mẹ. “Việc tự chữa cho con, chữa theo đơn của bé khác… khiến nhiều trẻ bị biến chứng nặng là viêm phổi, viêm tiểu phế quản do vi rút rất nặng. Những bé này thời gian điều trị sẽ lâu hơn, tốn kém hơn do phải dùng các loại thuốc đắt tiền hơn”, TS Dũng nói.

TS Dũng cho biết thêm, tình trạng tự làm bác sĩ của các bà mẹ ngày càng phổ biến. Họ lý giải, đưa con đi khám, thấy bác sĩ nghe nghe, nhòm vào miệng con thế là xong, kê đơn cũng chẳng có gì đặc biệt, sốt vi rút thì không dùng kháng sinh, mà nhiễm khuẩn thì vẫn kê các loại kháng sinh thông thường nên lần sau, họ tự biến mình thành bác sĩ.

Theo TS Dũng, để người bác sĩ khám phân phân biệt vi-rút hay vi khuẩn đã khó huống hồ chỉ định kháng sinh. Dùng kháng sinh gì, liều bao nhiêu, cho thời gian bao lâu… là cả một nghệ thuật, trình độ của bác sĩ. Không học, cứ hồn nhiên cho con dùng thuốc tưởng là giỏi, là tiết kiệm, không mất thời gian, không phải đưa con đến viện là một sai lầm. Từ những viêm nhiễm thông thường đường hô hấp trên có thể biến chứng viêm phổi, điều trị tốn kém, lâu dài, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng trẻ.

Nguyên tắc đầu tiên của việc dùng kháng sinh, đó là chỉ dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn (vi khuẩn). Thống kê tại Mỹ, tất cả các trường hợp dùng kháng sinh trong nhiễm khuẩn hô hấp trên, số đơn được kê kháng sinh so với bệnh nhân có bằng chứng nhiễm vi khuẩn thì lớn hơn rất nhiều. Tại Việt Nam, thực trạng cũng như vậy.

TS Dũng cho biết, một nghiên cứu do BV Bạch Mai phối hợp trường ĐH Harvard taok 16 huyện ở Việt Nam cho thấy, có đến 97 – 99% các cháu dưới 5 tuổi đến các phòng khám vì ho, sốt, chảy nước mũi được chỉ định dùng kháng sinh.

Như vậy, việc dùng kháng sinh bừa bãi không chỉ ở phía người dân, mà cũng có một phần từ bác sĩ, đặc biệt ở tuyến cơ sở.

Ví dụ, một bệnh đơn giản là viêm họng (ở cả người lớn trẻ em) việc chẩn đoán khó nhất là xác định do vi rút hay vi trùng liên cầu (có thể có biến chứng, thấp tim, khớp)… người bác sĩ cần liệt kê giữa các triệu chứng do vi rút (có kèm đau mắt, chảy mũi, ho, đặc biệt là ho, bởi viêm họng có ho thường do vi rút), trong khi đó, triệu chứng của liên cầu (sưng đau hạch cổ, xuất tiết ở họng). Chỉ cần dựa vào lâm sàng này là bác sĩ đã có thể kê thuốc hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều trẻ chỉ viêm họng, ho do vi rút nhưng vẫn được chỉ định dùng kháng sinh.

Tùy tiện đổi thuốc

Theo TS Dũng, cũng chính vì thói quen tùy tiện dùng thuốc, tự mua thuốc uống mà không ít người đang uống kháng sinh A được 2 – 3 ngày không đỡ liền đi mua kháng sinh khác về uống.

Với thuốc kháng sinh, không chỉ cứ thích là uống. Bởi khi đi vào cơ thể, kháng sinh tồn tại trong huyết thanh, đi đến vị trí nhiễm khuẩn như vào phổi, vào não… Chính nồng độ kháng sinh tại vị trí nhiễm khuẩn này sẽ cho chúng ta hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, kháng sinh không chỉ đi như vậy, nó còn vào các cơ quan khác. Như chỉ viêm phổi, kháng sinh không chỉ vào phổi mà vẫn đi vào các cơ quan khác như thận, gan… và gây độc.

“Vì thế, mục đích là àm thế nào để kháng sinh vào cơ quan đích nhiều hơn, vào các cơ quan khác ít hơn. Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta chọn liều lượng thích hợp, đặc biệt là chế độ liều, để trả lời khi nào dùng liều cao, khi nào rút ngắn khoảng liều, khi nào đổi kháng sinh khác, khi nào phối hợp kháng sinh. Và để làm được điều này, chỉ có thể là bác sĩ để ra chỉ định hợp lý, vì thế, người dân không nên tùy tiện dùng thuốc”, TS Dũng cảnh báo.

(Theo dantri.com.vn)

Cần nhận biết dấu hiệu viêm phổi ở trẻ em sớm nhất có thể

Trẻ sơ sinh rất dễ bị viêm phổi, bệnh nặng có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Triệu chứng bệnh không rõ ràng nên nhiều trường hợp đến bệnh viện thì đã rất nặng.

Nguyên nhân gây viêm phổi có thể là do vi khuẩn, virus, đôi khi vì ký sinh trùng, nấm dù hiếm gặp. Tùy theo từng mức độ nặng nhẹ của bệnh mà các bác sĩ sẽ có chỉ định phù hợp.

Dưới dây, phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) chia sẻ một số biểu hiện chính của bệnh viêm phổi ở trẻ:

1. Thở nhanh

Trong tất cả các dấu hiệu lâm sàng thì thở nhanh là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Tiêu chuẩn thở nhanh theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới là: hơn 60 lần trong một phút đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, hơn 50 lần một phút với trẻ 2 tháng đến 12 tháng tuổi và hơn 40 lần một phút với trẻ 1-5 tuổi.

viem-phoi

Tuy nhiên, đếm nhịp thở cũng gặp khó khăn đối với một số trẻ nhỏ hay sợ, kích thích hoặc quấy khóc. Khi đó nhịp thở có thể tăng lên, vì vậy phải đếm khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong một phút.

Đối với trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi nếu lần đếm thứ nhất nhịp thở 60 lần một phút trở lên thì cần phải đếm lần 2 vì ở tuổi này trẻ thường thở không đều. Nếu vẫn trên 60 lần một phút thì mới coi là thở nhanh.

Đây là triệu chứng hay gặp của viêm phổi ở trẻ 1-3 tuổi. Đối với trẻ trên 3 tuổi thì độ nhạy của dấu hiệu thở nhanh lại tương đối thấp. Với trẻ dưới 1 tuổi mà nhịp thở trên 70 lần một phút thì thường là triệu chứng của viêm phổi nặng.

2. Rút lõm lồng ngực

Đây là biểu hiện của viêm phổi nặng. Để phát hiện, cha mẹ có thể nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực.

Trẻ dưới 2 tháng tuổi, chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại vì lồng ngực ở trẻ còn mềm, khi thở bình thường hơi cũng có thể rút lõm. Trường hợp thấy rõ lõm sâu và dễ nhìn thấy, chắc chắn trẻ bị viêm phổi. 3. Một số dấu hiệu khác

– Sốt cao: Đây là một triệu chứng thường gặp trong viêm phổi ở trẻ.

– Khò khè: Có thể có khoảng 30% ở trẻ lớn bị viêm phổi do mycoplasma. Bệnh này dễ nhầm với hen nếu không chụp X-quang phổi.

– Các biểu hiện như phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích… có thể thay đổi phụ thuộc và tuổi trẻ và độ nặng của bệnh.

Trẻ có một số biểu hiện như: ho, chảy mũi, thở bằng miệng, sốt, không có các dấu hiệu như: thở nhanh, co rút lồng ngực, thở rít khi nằm yên…, nhiều khả năng không bị viêm phổi mà chỉ ho cảm thông thường. Một số có thể khò khè. Các bé này thường do virus, không cần dùng kháng sinh mà chỉ điều trị triệu chứng, bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần.

Theo VnExpress

Điều trị bệnh sán lá gan lớn

Bệnh sán lá gan lớn khó nhận biết và khó chẩn đoán. Vì vậy, người bệnh cần khám để xác định rõ bệnh và dùng đúng thuốc đặc trị…

Ấu trùng sán lá gan lớn có trong cá nước lợ, chủ yếu hơn trong các loại rau sống trong nước (cải xoong, ngổ, rau om, rau cần, ngó sen). Ăn gỏi cá, rau sống, rau trộn (chưa chín đủ độ) làm cho dạng nang ấu trùng xâm nhập vào dạ dày ruột, rồi tự lột lớp vỏ, xuyên qua màng ruột, theo máu, vào gan rồi phát triển, sau đó định hình ở ống mật. Sau 2-3 tháng sẽ phát sinh triệu chứng: sốt, run lạnh, đau vùng bụng, vùng gan (hạ sườn phải).

san-la-gan

Nếu không điều trị sẽ chuyển sang mạn với biểu hiện mệt, chán ăn buồn nôn, xuất huyết đường tiêu hóa, thiếu máu, đau khớp, đau cơ, ho, cũng có thể tràn dịch màng phổi… Hiện nay, thuốc được dùng đặc trị bệnh sán lá gan lớn là triclabendazol. Hiện thuốc này không có bán ở các hiệu thuốc mà Viện Sốt rét ký sinh trùng cấp miễn phí. Thuốc dùng cho người có tên là egaten, còn dùng cho thú y có tên là fasinex, cần tránh nhầm lẫn.

Thuốc đặc trị này có tác dụng ngăn cản quá trình phosphoryl- oxy hóa ở ty lạp thể, làm cho sán không kiểm soát được hô hấp, đồng thời gắn kết với các phân tử tubulin ngăn cản quá trình hình thành vi ống ở sán. Từ đó sán bị tê liệt và chết. Thuốc được dùng đường uống, sau khi ăn no, nuốt cả viên với một ít nước, không nhai.

Khi dùng người bệnh có thể thấy mệt, đau ngực, sốt, buồn nôn, đau thượng vị, đau hạ sườn phải… Những hiện tượng này là phổ biến, có thể do sán tê liệt phóng thích ra kháng nguyên hơn là do bản thân thuốc. Một vài nghiên cứu mới đây của nhà sản xuất thấy thuốc gây quái thai trên súc vật nhưng chưa ghi nhận được ở người. Không dùng cho người có thai, người cho con bú, trẻ dưới 6 tuổi.

Bệnh viện Nhiệt đới TP.Hồ Chí Minh còn nghiên cứu dùng artesunat để điều trị. So sánh hiệu quả điều trị với triclabendazol thấy có hiệu quả tương đương và có ưu điểm là dung nạp tốt. Theo đó thì có thể dùng atesunat khi không có triclabenzadol. Tuy nhiên, nghiên cứu còn nhỏ, hiện chưa có hướng dẫn chi tiết.

Không nên dùng các thuốc giun sán thông thường như albendazol, menbendazol. Praziquantel cũng là thuốc tẩy giun nhưng chỉ hiệu quả với sán lá gan nhỏ. Với sán lá gan lớn hiệu quả rất ít, chỉ khoảng 30% trường hợp hầu như không hiệu quả.

Trước đây, khi chưa có thuốc đặc hiệu, một số thầy thuốc trong và ngoài nước có thử dùng các thuốc trên nhưng do tác dụng độc của thuốc hoặc thuốc không có hiệu quả nên hiện nay không dùng nữa.

DS. Bùi Văn Uy

Viêm thanh quản ở trẻ em

Khi dây thanh âm bị kích thích dẫn đến sưng phồng, giọng nói của trẻ trở nên khàn khàn và khó nghe hơn thường lệ, đó là bệnh viêm thanh quản. Dây thanh quản của trẻ bị viêm gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe trẻ em, cha mẹ cần hêt sức chú ý.

Nguyên nhân do trẻ la hét quá nhiều làm cho dây thanh âm bị kích thích. Đôi khi, trẻ hát quá lớn cũng dễ mắc bệnh. Không loại trừ khả năng mắc viêm thanh quản đối với các chứng ho trẻ em lâu ngày không chữa kịp.

Triệu chứng thông thường là giọng nói trở nên khàn đặc hoặc khô khốc, có khi bị tắt tiếng hoặc cố gắng nói nhưng không nói được mà chỉ phát ra những âm thanh the thé, khó nghe.
viêm-thanh-quản
Cũng có trường hợp bệnh do bao tử gây nên, nguyên nhân vì thỉnh thoảng lượng acid có trong bao tử có tác dụng làm tiêu hóa thức ăn bị trào ngược lên ống dẫn thức ăn, làm cho dây thanh âm bị kích thích. Sự dị ứng hoặc khói thuốc lá cũng gây kích thích dây thanh âm.

Nói chung, nhiễm trùng từ vi khuẩn chính là nguyên nhân chính gây viêm phế quản ở trẻ, lẫn người lớn. Đôi khi, dây thanh âm bị nhiễm trùng cùng loại vi khuẩn thường gây bệnh sổ mũi và cảm cúm ở trẻ. Đó cũng là lý do khi trẻ bị cúm hoặc ho nhiều giọng nói cũng trở nên khó nghe hơn.

Để bảo vệ thanh quản:

Không cho trẻ la hét quá lớn trong khi vui chơi để tránh làm trẻ khàn giọng.
Không cho trẻ tiếp xúc nhiều với hệ thống máy giữ độ ẩm không khí, vì dễ làm cho cuống họng bị khô.
Tránh để trẻ tiếp xúc với môi trường có khói, bụi, thuốc lá…
Cách ly trẻ với người bệnh để tránh lây lan.
Dạy trẻ che miệng khi ho, hắt hơi, nhảy mũi và không khạc nhổ bừa bãi.

Nếu viêm phế quản do virút gây nên, cần cho trẻ đến khám bác sĩ để được nhỏ thuốc. Trường hợp này, trẻ cần hạn chế nói chuyện để tránh làm đau rát cuống họng, thay vào đó hãy hướng dẫn cho trẻ cách ra dấu để diễn đạt khi muốn nói chuyện hoặc viết, vẽ ra giấy.

Nếu do bao tử, bác sĩ sẽ kê thuốc, khuyến khích thay đổi cách ăn uống để loại trừ một thức ăn có thể làm bệnh trở nên trầm trọng hơn.

(Theo dantri.com)

Đừng lạm dụng siro ho cho con

 Với tâm lý “cắt nhanh” cơn ho cho con, nhiều bậc phụ huynh đã lạm dụng siro ho mà không biết rằng điều này không mang lại hiệu quả cao như họ mong muốn.
Hở tí là… siro

Với tâm lý “cắt nhanh bệnh” cho con, tự lúc nào trong tủ lạnh nhà chị Hường (Quận 1, TP HCM) luôn để sẵn vài lọ siro trị ho. Cứ thấy con hơi húng hắng ho, chị lại cho bé uống đều đặn 5ml siro, tần suất 3 lần/ngày. Thời gian đầu chị thấy bé dứt cơn ho rất nhanh nhưng về sau, bé như nhờn thuốc, ho kéo dài thời gian hơn.

Mới đây, thấy con ho nhẹ kèm theo có đờm, sụt sịt mũi, con kêu đau họng, chị lại cho con uống siro long đờm chứa hoạt chất histamin nhưng với liều lượng tăng lên. Sau 1 ngày, bé lên cơ co thắt phế quản dữ dội, nôn trớ liên tục.
shi-ro-ho
Một trường hợp khác, bé Xíu được cả gia đình chị Cúc (Nguyễn Hữu Huân, Hà Nội) “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Mọi biểu hiện khác lạ ở con, chị Cúc đều để ý, lo lắng. Là một bà mẹ yêu thương con song chị lại mắc bệnh… hay lo lắng, đôi khi là thái quá.

Lý do cũng vì trước đây khi Xíu tròn 1 tuổi, vì bất cẩn cho con nằm trong phòng điều hòa nhưng không lau mồ hôi cẩn thận, chị Cúc đã để con bị viêm phổi. Nhìn con ốm yếu lại phải uống kháng sinh liên tục, con gầy đi vì sợ thuốc đắng, chị xót xa lắm.

Suốt từ hồi đó tới bây giờ chị luôn đề cao cảnh giác, nhưng sự lo lắng thái quá của chị lại khiến chị sai lầm trong việc chăm sóc sức khỏe của con. Nghe bạn bè bảo, chị mừng rỡ khi biết nếu con ho hắng, sụt sịt, để phòng ngừa thì khi “chớm bị” nên cho bé uống ngay siro, thuốc lành lại dễ uống có vị ngọt. Quả nhiên, bé Xíu thích uống thuốc này thật và thuốc cũng có hiệu quả nhanh chóng.

Thế nhưng đợt ho gần đây, dù uống thuốc đã được một tuần nay, bé vẫn ho, thậm chí ho dữ dội hơn. Đi khám bệnh, chị mới biết con bị ho kéo dài là do mẹ lạm dụng siro dài ngày trong khi con vẫn bị ra mồ hôi trộm.

Cha mẹ không nên lạm dụng siro ho mà nên chăm chỉ rửa mũi sạch cho con

Trả lời về vấn đề này, bác sĩ Philippe Collin, Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Pháp cho biết, ho là một phản xạ sinh lý hết sức bình thường có tính chất bảo vệ cơ thể trẻ. Ho giúp cơ thể thực hiện loại bỏ các chất xuất tiết từ đường hô hấp, ho giúp con long đờm, nuốt vào trong hoặc khạc ra bên ngoài được dễ dàng.

Siro ho không phải là biện pháp hiệu quả giúp con nhanh chóng dứt cơn ho, loại thuốc này một phần kê cũng chỉ để giải quyết vấn đề tâm lý cho bố mẹ của trẻ. Ở Pháp và Châu Âu từ lâu đã không còn bán những loại siro như thế này nữa, bởi nó không còn mang hiệu quả cao mà nếu có thì nó chỉ có tác dụng làm ngưng ho, cản trở việc bài tiết đờm… Điều này hoàn toàn không tốt chút nào với sức khỏe của trẻ, vì nếu dùng thuốc để ức chế ho, trẻ không ho được sẽ khiến đờm ứ đọng, tắc nghẽn trong đường thở, làm trẻ khó thở và có thể dẫn tới nguy cơ xấu với sức khỏe của trẻ.

Ho đi kèm với các triệu chứng viêm mũi họng, đặc biệt là chảy nước mũi ở trẻ.

Nếu ho được, trẻ sẽ giảm nhanh các triệu chứng khò khè ở đường hô hấp trên. Tiếng khò khè thực chất là do trẻ hít thở khó khăn mà tạo thành. Do hệ hô hấp chưa thực sự hoàn thiện nên trẻ rất hay gặp những bệnh hô hấp phía trên. Khi có đờm, người lớn có thể khạc nhổ ra được nhưng trẻ nhỏ thì chưa biết cách nên luôn có đờm trong họng.

Để giảm thiểu những cơn ho kéo dài của con, cha mẹ nên đảm bảo không gian thoáng đãng cho trẻ, tuyệt đối không hút thuốc trong nhà. Nếu trẻ có dấu hiệu ho kéo dài, tốt nhất bậc phụ huynh nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa để chẩn đoán chính xác và để điều trị kịp thời giúp trẻ nhanh khỏi bệnh.

Theo ttvn

Dược thiện trị viêm phế quản

Theo Đông y, viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng khái thấu, đàm ẩm. Nguyên nhân là do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Phong hàn và phong nhiệt xâm phạm vào cơ thể làm phế khí mất khả năng tuyên giáng gây ho, đờm nhiều; khí táo làm tân dịch của phế bị giảm sút, hàn thấp dương hàn sinh đàm ẩm, nhiệt thương phế làm phế thận âm hư, dẫn đến ho, đàm nhiều.

Một số bài thuốc chữa viêm phế quản theo từng thể bệnh:

Viêm phế quản cấp tính: Thường do phong hàn, phong nhiệt và khí táo gây ra.

Do phong hàn: Gặp ở giai đoạn đầu của viêm phế quản cấp. Người bệnh ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khàn tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép trị là tán hàn, tuyên phế. Dùng 1 trong các bài thuốc:

Bài 1: tía tô 12g, lá hẹ 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Hạnh tô tán: hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác 6g, gừng 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4 quả. Tất cả tán bột uống ngày 15 – 20g chia làm 2 lần.

Do phong nhiệt: Gặp ở viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn. Người bệnh ho, khạc nhiều đờm màu vàng, trắng dính, họng khô đau, sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phép trị là sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế. Dùng 1 trong các bài thuốc sau:

Bài 1: Tang hạnh thang gia giảm: tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, tiền hồ 8g, chi tử 8g, bối mẫu 4g, sa sâm 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Tang cúc ẩm gia giảm: tang diệp, cúc hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, hạnh nhân, tiền hồ (mỗi vị 12g); bạc hà 6g; cát cánh 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu đờm nhiều vàng dính kèm theo sốt, bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng; gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20 – 40g.

Do khí táo: Gặp ở viêm phế quản cấp khi trời hanh. Người bệnh ho khan nhiều, ngứa họng, miệng họng khô, nhức đầu, mạch phù sác. Phép trị là hành phế nhuận táo, chỉ khái. Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: tang bạch bì, mạch môn, lá tre, sa sâm, thiên môn, hoài sơn (mỗi vị 12g); lá hẹ 8g; thanh cao 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Thanh táo cứu phế thang: tang diệp 12g, thạch cao 12g, cam thảo 16g, mạch môn 12g, tỳ bà diệp 12g, hạnh nhân 8g, gừng 4g, a giao 8g, đẳng sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Viêm phế quản mạn tính: được chia làm 2 thể đàm thấp và hàn ẩm.

Thể đàm thấp: Người bệnh ho hay tái phát, trời lạnh và buổi sáng ho nhiều, đờm dễ khạc màu trắng loãng hoặc cục dính, bụng đầy tức, kém ăn, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoạt. Phép trị là táo thấp hóa đàm, chỉ khái. Dùng một trong các bài:

Bài 1: vỏ quýt sao 10g, vỏ vối sao 10g, hạt cải trắng 10g, bán hạ chế 8g, cam thảo dây 8g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nhị trần thang gia giảm: trần bì 10g, bán hạ chế 8g, phục linh 10g, cam thảo 10g, hạnh nhân 12g, thương truật 8g, bạch truật 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu đờm nhiều, gia bạch giới tử 8g; tức ngực, gia chỉ xác 12g.
la-dau-cho-vi-thuoc-tang-diep-bc59f
Thể hàn ẩm: Hay gặp ở người bệnh viêm phế quản mạn tính kèm theo giãn phế nang ở người già, người giảm chức năng hô hấp, tâm phế mạn. Người bệnh ho hay tái phát, khó thở, khi trời lạnh ho tăng, đờm nhiều loãng trắng, sau khi vận động, triệu chứng trên càng nặng hơn, người bệnh không nằm được, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch tế nhược. Phép trị là ôn phế hóa đàm. Dùng bài thuốc: ma hoàng 6g, quế chi 6g, can khương 4g, tế tân 4g, ngũ vị tử 6g, bán hạ chế 8g, cam thảo 4g, bạch thược 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu ho nhiều, gia tử uyển 12g, khoản đông hoa 8g. Nếu rêu ứ đọng nhiều, gia đinh lịch tử 12g.

Nguồn sức khỏe gia đình

Cách chữa ho cho bé

Đây là nhóm bệnh hay bị lạm dụng kháng sinh trong điều trị nhiều nhất do cha mẹ thấy trẻ có biểu hiện sốt, ho nên nghĩ rằng con bị viêm họng.

Trong khi đó, kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng với virus.

Chị Yến ở Hà Nội cho biết, hễ thay đổi thời tiết là cậu con trai 14 tháng tuổi của chị lại bị sổ mũi, sau đó chuyển thành ho. Thấy con bị sổ mũi, ho liên tục nên chị… chán không đưa đi khám mà cho dùng si-rô hoặc kháng sinh do bác sĩ kê cho ở những lần trước đó. Thế nhưng, cháu bé không khỏi dứt điểm mà chỉ đỡ được vài ngày rồi lại ho trở lại. Ốm đau liên tục nên suốt mấy tháng con chị không tăng được lạng nào.
chua-ho-cho-be
PGS-TS. Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, hiện nay sai lầm của nhiều bậc cha mẹ là hễ thấy con ho là cho sử dụng kháng sinh, nhất là khi kèm theo sốt cao. Thậm chí cả các bác sĩ cũng đang có hiện tượng quá lạm dụng thuốc kháng sinh do ngộ nhận kháng sinh khỏi nhanh hơn. Thực chất đó chỉ là cảm giác của bà mẹ chứ không có gì chứng minh được. Mặt khác, kháng sinh làm trẻ kém ăn, chán ăn, có thể dẫn đến tiêu chảy, sức đề kháng của trẻ kém đi nhiều, làm bệnh lâu khỏi.

Tuy nhiên, mọi người không biết ho là biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau ở trẻ và không phải lúc nào những thuốc này cũng có tác dụng. Ho và sốt có thể là biểu hiện của viêm mũi họng cấp hoặc nhiễm khuẩn hô hấp trên. Đây là bệnh hay gặp ở trẻ. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do virus, trong đó chủ yếu là adenovirus, cúm A và B, rhinovirus…

Bệnh hay xảy ra lúc chuyển mùa, khí hậu nóng-ẩm, mật độ virus nhiều, cơ thể trẻ không thích nghi kịp, chênh lệch nhiệt độ sáng chiều quá lớn. Đây là nhóm bệnh hay bị lạm dụng kháng sinh trong điều trị nhiều nhất do cha mẹ thấy trẻ có biểu hiện sốt, ho nên nghĩ rằng con bị viêm họng. Trong khi đó, kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng với virus.

Bên cạnh đó, nhiều người chưa hiểu biết về cơ chế gây bệnh nên chỉ chữa ho khi con bị ho mà không biết cách phòng tránh khi con bị viêm mũi. Nhiều khi virus xâm nhập vào mũi trước, nếu nước mũi chảy ra ngoài nhiều thì trẻ ho ít nhưng khi nước mũi chảy xuống họng ứ đọng ở họng gây ho dữ dội cho trẻ-nhất là khi trẻ nằm xuống thì dịch chảy vào họng, kích thích gây ho. Lúc đó nguyên nhân trẻ bị ho là do viêm mũi chứ không phải viêm họng. Vì vậy, việc điều trị cho trẻ lúc này lại là điều trị viêm mũi bằng các thuốc giảm chảy nước mũi, chống tắc mũi. Không nên dùng kháng sinh trong trường hợp này. Bệnh thường tự khỏi sau 3-7 ngày.

Để tránh sử dụng thuốc không đúng cách và mang lại hiệu quả chữa bệnh cao, TS. Dũng cho biết: Cha mẹ cần thường xuyên vệ sinh mũi, họng cho trẻ. Khi trẻ bị ho, sổ mũi, đau họng, cha mẹ nên dùng nước muối sinh lý Natri clorid 0,9% để rửa mũi họng cho trẻ. Trong một số trường hợp chỉ bằng những cách đơn giản này trẻ có thể khỏi bệnh mà không cần dùng đến thuốc kháng sinh.

Ngoài ra, cha mẹ có thể cho trẻ uống một số loại thuốc ho có tác dụng long đờm. Nếu trẻ ho, sốt, sổ mũi mà vẫn ăn, chơi bình thường thì cha mẹ không cần quá lo lắng bởi các triệu chứng này đều có lợi cho cơ thể. Ho nhiều là phản xạ khạc nhổ các dịch chất tiết (đờm), chất nhày từ mũi xuống họng, ho là phản xạ tốt của cơ thể, ho được là nhanh khỏi bệnh, sốt cũng là một phản xạ của cơ thể, huy động cả hệ thống miễn dịch loại trừ virus ra ngoài.

TS. Dũng cũng khuyến cáo, nếu triệu chứng ho kéo dài dù đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau thì cha mẹ nên đưa con đi khám để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh và điều trị kịp thời. Với trẻ càng nhỏ thì khi mắc bệnh càng dễ chuyển nặng vì biểu hiện bệnh ở các bé sơ sinh thường không rầm rộ, điển hình nên dễ bị bỏ sót. Vì thế, cha mẹ khi thấy bé ăn uống kém, bỏ bữa, sốt không rõ ràng, hay nôn trớ, giấc ngủ không ngon cần đưa đi khám ngay.

Bên cạnh đó, để phòng tránh bệnh tật cho trẻ cần tạo môi trường sạch sẽ, thoáng khí, ít bụi bặm, ẩm thấp. Cho trẻ ăn uống theo chế độ đầy đủ dinh dưỡng để có sức khỏe tốt, sức đề kháng cao, tránh được sự xâm nhập của virus.

Nguồn st

Thuốc kháng sinh – Càng uống bé càng mệt

Lo lắng bé bị viêm phổi, chị cấp tốc đưa con tới bệnh viện, chị yên tâm khi bác sĩ dặn cứ về “theo đơn mà làm”, thế nhưng bé không đỡ mà còn mệt mỏi hơn.

Bé mệt mỏi vì “cứ theo đơn mà làm”

Chị Hoa Mai (Từ Liêm, Hà Nội) đang chăm cậu con trai 3 tuổi trong tình trạng bé bị sốt, ho dữ dội, kèm sổ mũi.
cho-be-uong-thuoc
Chị chia sẻ: “2 tuần trước, con mình hắt hơi, sổ mũi, đầu âm ấm, mình đưa con đến bệnh viện khám thì bác sĩ khám rất nhanh và kê cho một loạt đầu thuốc cần mua nào là thuốc giảm sốt, chống viêm, giảm ho, thuốc kháng sinh và 2, 3 loại thuốc bổ dặn là mua và về uống theo đơn. Nhưng sau khi uống 2 ngày, cháu chẳng đỡ chút nào mà người còn mệt mỏi hơn”.

Chị lo lắng vô cùng khi ngày đầu con ốm, chị còn ép con ăn được lưng bát cháo nhưng sau hai ngày uống thuốc bác sĩ kê thì bé không chịu ăn lấy một miếng. Chị nói rằng không biết vì lý do gì mà càng uống thuốc kháng sinh, cháu càng tỏ ra mệt mỏi và ốm hơn.

Chị Ngọc Loan (Lương Văn Can, Hà Nội) cũng gặp hoàn cảnh tương tự khi bé Min, 4 tuổi nhà chị càng ngày càng ốm, biếng ăn.

Tuần trước, thay đổi thời tiết, vừa nghe mấy chị đồng nghiệp than thở con ốm thì về đến nhà, chị Loan tá hỏa khi bé Min cũng sụt sịt, chảy nước mũi, người nóng, hắt xì hơi liên tục.

Lo lắng bé bị viêm phổi, chị cấp tốc đưa con tới bệnh viện, chị yên tâm khi bác sĩ dặn cứ về “theo đơn mà làm”.

Thế nhưng: “Uống bao nhiêu kháng sinh, thuốc giảm ho nhưng cháu không hề đỡ. Dường như thuốc không có một tác dụng gì?” – chị chia sẻ.

Cảnh giác và sử dụng thuốc kháng sinh đúng cách

Bác sĩ Philippe Collin (Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Pháp) trả lời về vấn đề này như sau, viêm mũi họng cấp hoặc nhiễm khuẩn hô hấp là bệnh hay gặp trẻ, với hai biểu hiện chính là ho và sốt.

Bệnh hay xảy ra lúc chuyển mùa: khí hậu nóng – ẩm, chênh lệch nhiệt độ giữa buổi sáng và buổi chiều quá lớn, mật độ virus nhiều, cơ thể trẻ không thích nghi kịp thời.

Thời tiết bắt đầu từ tháng 11 tới hết tháng 4 là thời điểm mà trẻ em rất dễ nhiễm phải bệnh này.

Nhiễm khuẩn hô hấp là một nhóm bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây nên những tổn thương viêm cấp tính ở một phần hay toàn bộ hệ thống hô hấp từ tai – mũi – họng đến phổi.

Ở Việt Nam, trẻ em mắc nhiễm khuẩn hô hấp chiếm 30 – 35% trong tổng số các loại bệnh và có tỷ lệ tử vong rất cao (40,5%), thậm chí bé còn bị mắc đi mắc lại nhiều lần trong năm (trung bình một trẻ có thể bị 2-3 lần trong 1 năm).

Bệnh này làm ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của trẻ, đồng thời làm giảm ngày công lao động của bố mẹ bé.

Bé ho, khò khè, sốt, ăn kém, bỏ bú… bố mẹ cho bé đi khám, nắm bắt tâm lý lo lắng cho bé và muốn khỏi thật nhanh, một số bác sĩ đã kê kháng sinh cho bé sử dụng.

Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh khi chưa xác định rõ nguyên nhân gây bệnh sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bé.

Cụ thể, nếu nhiễm khuẩn hô hấp do virus thì kháng sinh đưa vào cơ thể bé hoàn toàn không có tác dụng và còn gây nhiều ảnh hưởng xấu tới sức khỏe bé như: hại gan thận, gây rối loạn tiêu hóa, dị ứng kháng sinh, nhờn thuốc…

Bác sĩ Collin cũng khuyến cáo, nếu trẻ ho, sốt, sổ mũi mà vẫn ăn, chơi bình thường thì cha mẹ không cần quá lo lắng.

Còn nếu các dấu hiệu (khò khè, ho, sốt, bỏ ăn, bỏ bú…) của bé tăng lên, các bà mẹ cần khẩn trương đưa con đi khám và tiến hành làm xét nghiệm máu theo chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không tự ý dùng kháng sinh.

Bác sĩ chia sẻ rằng kháng sinh được ví như của “của để dành” để dùng trong những trường hợp thực sự nguy cấp vì thế tuyệt đối không nên lạm dụng nó.

Nguồn st

Dùng kháng sinh cho trẻ: Dễ gây loạn khuẩn đường ruột

Khoảng hơn 1 tuần trở lại đây, thời tiết miền Bắc khá lạnh, độ ẩm không khí cao khiến tỷ lệ trẻ bị các bệnh viêm đường hô hấp tăng cao. Đây là một bệnh đơn giản, tuy nhiên đa phần phụ huynh khi thấy trẻ biểu hiện bệnh vội vàng cho uống kháng sinh, dẫn đến nhiều nguy cơ biến chứng.

TS.BS Phạm Kim Thanh, Phòng khám nhi – BV Đa khoa Quốc tế Thu Cúc cho biết, gần đây BV tiếp nhận rất nhiều trường hợp trẻ bị loạn khuẩn đường ruột do dùng kháng sinh điều trị ho. Điển hình mới đây, một bệnh nhi 4 tuổi ở quận Cầu Giấy (Hà Nội), bị biến chứng dẫn đến tiêu chảy cấp rất nguy kịch.
tre-em7-dung-khang-sinh
Theo lời mẹ cháu bé kể lại, do thấy cháu bị ho, cha mẹ đưa đến một phòng khám tư gần nhà để khám và mua kháng sinh về cho uống nhưng chưa khỏi bệnh viêm đường hô hấp thì cháu lại bị thêm tiêu chảy. Thấy vậy, mẹ cháu lo lắng nên tiếp tục mua kháng sinh loại mạnh hơn cho bé uống. Hậu quả là bé bị tiêu chảy cấp dẫn đến viêm tiểu kết tràng, tổn thương thực thể ở ruột kết, phải nhập viện điều trị. Bác sĩ Thanh cho biết, khi trẻ có hiện tượng tiêu chảy do dùng kháng sinh điều trị bệnh thì chỉ cần dừng kháng sinh là tự khỏi. Cũng có trường hợp một số trẻ có thể do không hợp với loại kháng sinh đang dùng nên bị loạn khuẩn đường ruột, khi chuyển sang loại kháng sinh khác lại bình thường. Tốt nhất là các bậc phụ huynh nên tránh lạm dụng kháng sinh nặng cho trẻ uống trong trường hợp không thật sự cần thiết.

Tại khoa Nhi – BV Bạch Mai, số trẻ vào khám do biểu hiện ho, viêm đường hô hấp cấp cũng tăng đáng kể trong hơn 1 tuần qua. PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi cho biết, thời tiết trở lạnh, ngày nắng ấm, độ ẩm không khí cao là nguyên nhân khiến tỷ lệ trẻ bị các bệnh viêm đường hô hấp tăng. Theo thói quen, khi thấy trẻ bị ho hoặc cúm, các bà mẹ thường mua ngay kháng sinh và các loại thuốc ho về cho con uống. Việc làm này chẳng những không mang lại hiệu quả, mà thậm chí còn gây nguy hiểm cho trẻ. Việc lạm dụng kháng sinh ở trẻ còn gây ra nhiều nguy cơ bị các tác dụng phụ và có thể bị kháng thuốc. Bác sĩ Dũng khuyến cáo, khi trẻ bị virus tấn công, điều cần thiết nhất là bổ sung dinh dưỡng tăng cường sức đề kháng cho trẻ, chỉ trong trường hợp chắc chắn có nhiễm khuẩn mới cho uống kháng sinh.

Theo PGS.TS. Phạm Quốc Bình – Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam, khi trẻ bị ho và các bệnh viêm đường hô hấp, tốt nhất chỉ nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt. Có thể chữa trị tại nhà cho trẻ bằng các bài thuốc dân gian rất đơn giản như: sử dụng mật ong trộn dầu gừng, lá húng chanh hấp đường phèn, ăn cháo có thảo quả, cho ngửi tỏi giã nát khi ngủ hoặc giã nát lấy tinh dầu của củ tỏi tía cho uống… Các dược liệu này rẻ tiền, dễ kiếm, dùng an toàn và có hiệu quả phòng cúm rất tốt.

Nguồn st

Rau ngót: Vị thuốc chữa đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em

Theo Đông y, lá rau ngót có vị bùi ngọt, tính mát, rễ vị hơi ngăm đắng, cả lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc. Lá rau ngót chữa ban sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, đái rắt, tiêu độc. Rễ còn có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp. Khi dùng làm thuốc thường chọn những cây sống 2 năm trở lên. Theo nghiên cứu, trong 100g rau ngót có chứa tới 0,08g chất béo, 9g đường, 503mg kali, 15,7mg sắt, 13,5mg mangan, 0,45mg đồng, 85mg vitamin C, 0,033mg B1, 0,88mg B2… Ngoài ra, rau ngót rất giàu đạm nên được khuyên dùng thay thế đạm động vật nhằm hạn chế những rối loạn chuyển hóa can xi gây loãng xương và sỏi thận. Với những thành phần trên, rau ngót được khuyên dùng cho người muốn giảm cân và người bị tăng huyết áp.

Rau ngót là loại rau lành và bổ dưỡng. Không chỉ là một món ăn thông thường, rau ngót còn có tác dụng chữa dị ứng, tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh, chữa đổ mồ hôi trộm, chứng đái dầm ở trẻ em… Xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng rau ngót:

rau_ngot_vi_thuoc_chua_do_mo_hoi_trom_tao_bon_o_tre_em

– Với chứng đái dầm ở trẻ em: 40g rau ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng và gạn lấy nước uống. Phần nước gạn được chia làm hai lần để uống, mỗi lần uống cách nhau khoảng 10 phút.

– Đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: lấy 30g rau ngót, 30g bầu đất, 1 quả bầu dục lợn rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò sống… không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh. Nhất là với phụ nữ sắp sinh, hàng ngày nếu được ăn canh rau ngót sẽ giúp tăng sức cho các bắp thịt, giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.

– Chữa tưa lưỡi: lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.

– Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

– Bàn chân sưng nhức: lá rau ngót giã, cho thêm nước muối pha nhạt, sau đó đắp vào chỗ chân sưng nhức.

Theo SKĐS/ Theo sách “Thức ăn vị thuốc”

Sai khớp cắn loại 2 và cách điều trị

Vẩu hay hô là các từ dân gian vẫn thường gọi để chỉ các trường hợp bệnh nhân có hàm trên nhô ra trước so với hàm dưới. Trong chuyên môn sâu, các trường hợp vẩu này được gọi là sai khớp cắn loại II. Sai khớp cắn loại II chiếm tỷ lệ lớn trong dân số ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, sai khớp cắn loại II gặp nhiều ở miền Bắc Việt Nam và chiếm tỷ lệ lớn trong các loại sai khớp cắn.

Bệnh ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ của khuôn mặt, nhất là khi nhìn nghiêng và là nguyên nhân khiến bệnh nhân đến khám tại các cơ sở điều trị nắn chỉnh răng. Bệnh không chỉ ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ mà lâu dài sẽ gây sang chấn nhóm răng cửa hàm trên và gây ra tiêu mô quanh răng làm các răng cửa hàm trên thưa và dài ra.

sai-khop-can-loai-2-va-cach-chua-tri

Khi bệnh nhân vẩu đến khám, các bác sĩ chuyên ngành chỉnh nha sẽ khám và chỉ định chụp phim sọ mặt nghiêng. Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và dựa vào kết quả phân tích trên phim sọ nghiêng, các bác sĩ sẽ phân tích để tìm ra nguyên nhân của vẩu, từ đó sẽ lập được kế hoạch điều trị cho từng bệnh nhân. Mục tiêu điều trị nắn chỉnh răng là sau điều trị, bệnh nhân cải thiện được khuôn mặt khi nhìn nghiêng, có được hàm răng đều, đẹp và ăn khớp với nhau.

Nguyên nhân gây ra hiện tượng vẩu có thể chỉ do răng đơn thuần hoặc do xương hàm hoặc phối hợp cả xương và răng. Nếu vẩu do nguyên nhân đơn thuần tại các răng, phương pháp điều trị sẽ đơn giản hơn. Nếu vẩu do nguyên nhân xương hàm, điều trị sẽ phức tạp hơn.Nguyên nhân có thể do xương hàm trên nhô ra trước hoặc do xương hàm dưới lùi ra sau hay có sự phối hợp cả hai, những trường hợp này thường nặng. Nếu bệnh nhân còn trong giai đoạn tăng trưởng hoặc ở cuối giai đoạn tăng trưởng, mốc là tuổi dậy thì, được điều trị theo phương pháp điều chỉnh sự phát triển xương hàm, tạo lập sự cân xứng giữa xương hàm trên và xương hàm dưới.

Nếu bệnh nhân đã qua đỉnh điểm của sự tăng trưởng hoặc ở bệnh nhân người lớn, điều trị theo phương pháp bù trừ sự mất cân xứng xương bằng cách nhổ răng và kéo lùi khối răng cửa trên ra sau. Với các trường hợp nặng, bệnh nhân được điều trị chỉnh nha kết hợp với phẫu thuật chỉnh hình xương hàm mặt khi bệnh nhân đã ở tuổi trưởng thành.
Chỉnh nha hay còn gọi là nắn chỉnh răng là chuyên ngành sâu, đòi hỏi sự nắm vững kiến thức chuyên ngành cũng như kinh nghiệm lâm sàng, vì vậy, các bệnh nhân khi đi khám và điều trị nên chọn các cơ sở chuyên ngành chỉnh nha uy tín để kết quả điều trị đạt được yêu cầu cả về thẩm mỹ và chức năng.

TS. Võ Thị Thúy Hồng

Theo SKDS

 

Những dấu hiệu cảnh báo suy tim sớm

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp bạn chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời.

nhung_dau_hieu_canh_bao_suy_tim_som

1.  Đau thắt ngực

Đau ngực thường xảy ra sau một hoạt động gắng sức (chạy bộ, leo cầu thang, làm việc nặng). Vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim, có thể là cảm giác khó chịu, hoặc cảm giác bị đè ép sau xương ức lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái. Đau ngực thường bắt đầu từ từ, kéo dài vài giây đến vài phút. Tần suất cơn đau cũng không ổn định, có thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn là vài lần trong một ngày.

Nguyên nhân là do khi động mạch vành (ĐMV) bị co thắt có thể gây tổn thương lớp tế bào nội mạc, dẫn đến lắng đọng cholesterol và tạo thành các mảng xơ vữa hoặc một cục huyết khối nhỏ có thể hình thành và cư trú bên trong ĐMV làm tắc nghẽn dòng máu chảy tới nuôi cơ tim.

2.   Khó thở

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp. Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.

Khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về, phổi bị ứ huyết, mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

3.   Mệt mỏi

Nếu đột nhiên bạn cảm thấy kiệt sức sau một hoạt động nào đấy, mà hoạt động đó trước đây bạn thực hiện rất dễ dàng, hoặc cảm giác mệt mỏi gây khó khăn cho bạn ngay cả khi thực hiện những việc đơn giản như: leo cầu thang, xách giỏ đi chợ hay thậm chí khi đi bộ. Đó là những dấu hiệu cảnh báo trái tim của bạn đang bị suy yếu.

Do tim bị suy yếu, hoạt động bơm hút máu bị hạn chế dẫn đến tim không bơm đủ máu đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Thiếu máu, người bệnh luôn có cảm giác mệt mỏi và khó khăn trong mọi hoạt động.

4.   Ho

Tình trạng ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu. Tim suy yếu không hút được máu từ phổi, gây nên ứ máu tại phổi và dẫn đến tình trạng ho. Nhiều bệnh nhân dễ nhầm với các bệnh về phổi như viêm phổi, viêm phế quản.

5.   Phù

Khi mới bắt đầu, người bệnh chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều thấy phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, buổi chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, khi nhấc ngón tay thấy da vẫn lõm. Ở mức nặng hơn, phù làm bụng trướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra như béo lên, tuy nhiên, phù do suy tim không giữ nước nhiều như người bệnh thận.

Khi lưu lượng máu qua tim bị chậm lại, máu trở về tim qua các tĩnh mạch bị ứ đọng lại làm các mao mạch căng lên và gây thoát dịch qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Mặt khác, do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người cũng gây phù.
Như vậy, không nên chủ quan khi gặp các dấu hiệu: khó thở, mệt mỏi, ho, phù, đau thắt ngực,…nhất là khi bạn đang mắc một trong số các bệnh về tim mạch. Ngay khi phát hiện có một trong các dấu hiệu trên, hãy đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời trước khi trái tim bị suy yếu.

Theo SKĐS

Thực phẩm trị bệnh trong mùa lạnh

Vào mùa lạnh, người ta thường bị ảnh hưởng của khí phong hàn (gió và lạnh), gây ra một số bệnh về đường hô hấp như: cảm lạnh, ho; về đường tiêu hóa như: lạnh bụng, tiêu chảy, hoặc đau nhức xương khớp do phong hàn thấp. Trong bài này, chúng tôi xin nêu ra một vài phương pháp chữa trị các loại bệnh vừa nêu trên bằng các loại thuốc Nam dễ tìm, dễ sử dụng.

thuc_pham_Tri_benh_mua_lanh

Gừng tươi, hành trắng chữa cảm lạnh, sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, ho, sổ mũi, người gai gai ớn lạnh

Chữa cảm lạnh, sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, ho, sổ mũi, người gai gai ớn lạnh. Dùng một trong các bài thuốc sau:

– Gừng tươi 15 – 20g, hành trắng (cả dọc hành và lá hành) 15g. Hai thứ rửa sạch, xắt nhỏ, nấu với 500ml nước, để sôi khoảng 10 phút. Uống nóng rồi đắp mền cho ra mồ hôi.

– Lá tía tô 20g, dọc hành tươi 20g, gừng tươi 12g, ba thứ rửa sạch, xắt nhỏ. Nấu gạo tẻ  thành cháo. Múc ra tô trộn chung với tía tô, hành, gừng, thêm gia vị để ăn nóng, đắp mền cho ra mồ hôi.

Có thể cho vào cháo nóng 1 lòng đỏ trứng gà để tăng thêm khí lực, bổ sung dinh dưỡng.

– Gừng tươi 1 củ, rửa sạch, gọt bỏ vỏ, giã nát. Xào nóng với chút rượu trắng, bọc vào túi vải sạch để đánh gió khắp người cho ra mồ hôi.

– Nồi nước xông: lá tía tô, lá sả, lá kinh giới, lá bạc hà, lá ngải cứu, lá chanh, lá bưởi. Dùng 3 – 5 loại lá vừa nêu nấu nồi nước xông để xông cho ra mồ hôi, sát trùng đường hô hấp. Xông xong, lau khô mình không để bị gió lạnh xâm phạm.

Chữa đau bụng, đầy bụng, ăn uống không tiêu, đi cầu lỏng, tay chân lạnh, sợ lạnh. Dùng một trong các bài thuốc sau:

– Gừng tươi 50 – 80g rửa sạch, xắt mỏng, sao chín vàng, giã nát, hòa với 1 tách nước sôi, uống ấm từng ngụm nhỏ. Có thể hòa với một ít mật ong hoặc đường để uống.

– Gừng khô (gừng tươi hấp chín rồi đem phơi khô, gọi là can khương) 12g, củ riềng 15 – 20g. Hai vị đem nấu với 500ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần, uống ấm trước bữa ăn.

– Củ sả 12g, lá tía tô 12g, hoắc hương 12g, gừng khô 8g (hoặc gừng tươi 12g). Nấu với 500ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống ấm trước bữa ăn.

– Hạt tiêu tán bột 2 – 4g, gừng khô tán bột 2 – 4g, hai thứ hòa với nước cơm nóng để uống vào lúc đói bụng.

Khi uống thuốc, có thể kết hợp xoa ấm vùng bụng, quanh rốn, hoặc lấy bột lá ngải cứu quấn thành điếu, đốt cháy rồi hơ ấm lỗ rốn và chung quanh 5 – 10 phút.

Phong thấp thể hàn: đau nhức một khớp hay nhiều khớp. Mức độ đau vừa phải, khớp không sưng, da bình thường không tấy đỏ, không nóng. Có khi bị tê dại ngoài da, tay chân co duỗi, vận động khó khăn. Đặc biệt khi trời lạnh thì đau nhức càng tăng lên. Dùng một trong các bài thuốc sau:

– Gừng khô 10g, củ nghệ 8g, lá lốt 12g, cỏ xước 12g, cành dâu tằm (tang chi) 12g, rễ tranh 10g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần, uống ấm, trước bữa ăn.

– Rễ cây đinh lăng 12g, ké đầu ngựa 12g, đậu ván (sao) 12g, tầm gửi cây dâu (tang ký sinh) 12g, kinh giới 8g, mã đề 8g, gừng khô 8g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần, uống ấm trước bữa ăn.

– Lá lốt 12g, cỏ xước 12g, quế chi 8g, thổ phục linh 12g, thiên niên kiện 8g, tang chi 12g, trần bì (vỏ quít) 8g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần, uống ấm trước bữa ăn.

Ngoài uống thuốc có thể kết hợp xoa bóp, bấm huyệt như sau:

– Xoa: xoa ấm hai tay hoặc hơ lửa cho ấm rồi xoa nhẹ nhàng từ bên không đau chuyển dần sang bên đau. Xoa theo thứ tự từ đầu xuống cổ, vai, lưng, tay, chân.

Khi xoa, nên chọn chỗ kín gió, ngồi trên ghế dựa. Có thể dùng dầu xoa bóp, rượu gừng hâm nóng, cao nóng… để tăng cường sức ấm.

Mỗi ngày xoa 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 15 phút.

Theo suckhoevacuocsong

Chăm sóc trẻ khi bị viêm VA

ĐỊNH NGHĨA:

– VA là một tổ chức lympho ở vòm mũi họng, dày- khoảng 2cm, phát triển khi- trẻ được 1 tuổi, hoạt động mạnh từ 3-6 tuổi và thoái hóa khi đến tuổi dậy thì.

cham_soc_tre_khi_bi_viem_va

TRIỆU CHỨNG:

– Viêm VA nhẹ, không có triệu chứng gì đáng kể.

– Trường hợp viêm VA cấp và nặng, hoặc mãn tính bé có các biểu hiện sau:

– Sốt cao và ho.

– Nghẹt mũi, lúc đầu nghẹt ít về sau nghẹt nhiều. Bé phải há miệng để thở, hay ngủ ngáy.

– Mũi thường hay bị viêm: tiết dịch nhầy, lúc đầu dịch đục, sau đó ngả màu xanh hoặc vàng.

– Thường hay bị viêm tai, than đau tai, chảy mủ tai, nghe kém.

– Cơ thể bé phát triển chậm so với lứa tuổi, người có thể gầy.

BIẾN CHỨNG:

– Viêm thanh quản, viêm cấp tính đường hô hấp trên.

– Viêm tai giữa kèm theo chảy mủ tai

– Viêm đường tiêu hóa: đau bụng, đi ngoài ra nhầy, ra nước.

– Viêm hạch: thường là viêm hạch vùng cổ.

– Viêm thận.

– Viêm mi mắt.

MỨC ĐỘ VIÊM:

– VA QUÁ PHÁT: biểu hiện chủ yếu bằng dấu hiệu nghẹt mũi, ngủ ngáy.

– VA CẤP: bé sốt + chảy mũi thường kết hợp với họng cấp.

– VA MÃN TÍNH: VA cấp tái phát nhiều lần do điều trị không triệt để.

ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC:

– Trường hợp VA bị viêm nhẹ, không cần phải điều trị bằng thuốc, chỉ cần dinh dưỡng tối đa, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng là bé hết. Thường xuyên rửa mũi bằng nước muối sinh lý 0,9% rồi hỉ mũi sạch ( nếu trẻ nhỏ thì hút mũi ), giữ vệ sinh và ủ ấm cho bé.

– Trường hợp bé bị Viêm VA cấp hoặc nặng, cần đưa bé đến khám chuyên khoa Tai Mũi Họng ngay để được điều trị kịp thời và đúng như: dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm, kháng dị ứng, hạ sốt, giảm đau.

– Trường hợp bé bị VA nặng, nghẹt mũi hoàn toàn, có thể bị biến chứng thì Bác sĩ- Tai Mũi Họng sẽ can thiệp bằng phẫu thuật nạo VA

– Sau khi bé nạo VA xong có thể được về trong ngày. Khi về nhà, phụ huynh phải theo dõi và chăm sóc bé cẩn thận như: bé phải được nghỉ ngơi hoàn toàn trong 24 giờ sau nạo VA, những ngày sau đó ăn cháo loãng và uống sữa, uống thuốc theo toa của Bác sĩ.

PHÒNG BỆNH:

– Khi trời lạnh nên giữ ấm cho bé, vệ sinh thân thể tốt.

– Dinh dưỡng tốt cho bé để nâng cao thể trạng, tăng sức đề kháng.

– Vệ sinh thường xuyên bằng cách nhỏ mũi với nước muối sinh lý 0,9% nhất là khi có dịch cúm, viêm mũi họng.

– Xì mũi đúng cách.

Đăng bởi: Liên chuyên khoa
Theo benhviennhi.org.vn