Tag Archives: ho ra máu

Dấu hiệu và cách phòng bệnh lao

Để có thể phát hiện sớm bệnh lao, đặc biệt thường gặp lao phổi, những người có những triệu chứng sau nên tới cơ sở khám chữa bệnh để được làm xét nghiệm đờm trực tiếp.

Các triệu chứng bao gồm

– Ho khạc đờm trên 2 tuần.

– Sốt về chiều, tối.

– Gầy sút cân, ăn ngủ kém, giảm khả năng làm việc.

– Có thể ho ra máu.

– Đau ngực.

dau-hieu-va-cach-phong-benh-lao

Tại các cơ sở y tế người bệnh sẽ được xét nghiệm đờm và làm thêm các xét nghiệm khác nếu cần để chẩn đoán xác định hoặc loại trừ lao phổi.

Đối với các thể lao ngoài phổi: người bệnh cũng thường có triệu chứng toàn thân như sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi, ăn uống kém, gầy sút cân, các triệu chứng này không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn trùng lắp với những bệnh lý mạn tính khác. Ngoài ra còn có triệu chứng tại cơ quan bị bệnh như hạch sưng to, đau khớp, tức ngực, đái buốt đái rắt, bụng căng trướng, rối loạn tiêu hóa, đau đầu, nôn, buồn nôn….trường hợp các triệu chứng này kéo dài, không đáp ứng với các điều trị thông thường, người bệnh cần nghĩ tới nguyên nhân do lao và tìm đến các cơ sở chuyên khoa lao

Cách phòng bệnh lao

1. Giảm nguy cơ nhiễm lao

Kiểm soát vệ sinh môi trường bằng cách giảm đậm độ các hạt nhiễm khuẩn trong không khí bằng thông gió tốt.

Cửa sổ, cửa ra vào (đặc biệt là cửa phòng nơi bệnh nhân lao sinh hoạt) cần được mở cho thông gió tự nhiên hoặc dùng quạt điện đúng chiều để làm loãng các hạt nhiễm khuẩn và đẩy vi khuẩn ra ngoài, dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn lao sẽ dễ bị tiêu diệt.

– Thay đổi hành vi của người bệnh (vệ sinh hô hấp) nhằm làm giảm các hạt nhiễm khuẩn ra môi trường bằng cách dùng khẩu trang hoặc ít nhất có khăn che miệng khi tiếp xúc nói chuyện với người khác, khi hắt hơi, ho.

– Khạc đờm vào giấy hoặc ca cốc, bỏ đúng nơi quy định, rửa tay xà phòng thường xuyên.

2. Giảm nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao

Tiêm vắc xin BCG (Bacille Calmette-Guérin) do Chương trình Tiêm chủng mở rộng thực hiện nhằm giúp cho cơ thể hình thành miễn dịch chống lại bệnh lao khi bị nhiễm lao.

Để có tác dụng cần:

– Tiêm đúng kỹ thuật, đúng liều lượng.

– Vắc xin phải được bảo quản đúng, đảm bảo chất lượng trong toàn bộ dây chuyền đến từng liều sử dụng cho trẻ.

Chú ý:Sau khoảng 3 đến 4 tuần tại chỗ tiêm sẽ có một nốt sưng nhỏ, rò dịch trong vài tuần rồi kín miệng đóng vảy. Khi vảy rụng sẽ để lại một sẹo nhỏ, màu trắng, có thể hơi lõm.

Theo báo tiền phong

15 triệu chứng ung thư nam giới hay bỏ qua

Khi có các triệu chứng này nhất định phải đi khám sớm, không nên để muộn. Nhưng khi nói đến đi khám bệnh, người đàn ông thường lười biếng, nhiều người chỉ chịu đi khi bị thúc giục bởi vợ con hoặc người thân.

Triệu chứng 1: ngực lớn
Đàn ông vẫn có thể bị ung thư vú dù không phổ biến. Bất kỳ khối lớn nào mới có trong khu vực vú của một người đàn ông đều cần được kiểm tra bởi bác sĩ.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ xác định một số dấu hiệu đáng lo ngại khác liên quan đến vú mà nam cũng như nữ cần phải lưu ý, bao gồm:
– Da lún xuống hoặc nhăn.
– Núm vú co rút.
– Da bị đỏ hoặc có vảy ở núm vú hoặc da ngực.
– Dịch ra từ núm vú.

15-trieu-chung-ung-thu-nam-gioi-hay-bo-qua

Triệu chứng 2: đau
Khi có tuổi, người ta thường phàn nàn mệt mỏi và đau đớn tăng. Nhưng đau mơ hồ, có thể là một triệu chứng sớm của một số bệnh ung thư. Hầu hết những người than đau không nghĩ là do ung thư.

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, bất cứ đau dai dẳng nào cũng cần đi khám bệnh để kiểm tra. Các bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, biết thêm các chi tiết, và sau đó quyết định xem tiếp tục kiểm tra tiếp có cần thiết không. Nếu không phải là ung thư, bạn vẫn sẽ được hưởng lợi từ việc đi khám bệnh. Bởi vì các bác sĩ có thể tìm ra nguyên nhân gây đau và đưa ra điều trị thích hợp cho bạn.

Triệu chứng 3: các thay đổi ở tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn thường xảy ra ở nam giới độ tuổi từ 20 – 39. Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyến cáo đàn ông nên được kiểm tra tinh hoàn như là một phần của kiểm tra sức khỏe thường quy liên quan đến ung thư. Một số bác sĩ cũng đề nghị nên tự kiểm tra hàng tháng.

Bất kỳ sự thay đổi về kích thước của tinh hoàn, chẳng hạn như sự tăng trưởng hay co rút nên có một mối quan tâm.

Ngoài ra, không nên bỏ qua bất kỳ dấu hiệu sưng nào, hoặc cảm giác nặng nề trong bìu.
Bác sĩ cần kiểm tra tinh hoàn và đánh giá tổng thể sức khỏe của bạn. Nếu nghi ngờ ung thư, xét nghiệm máu có thể được chỉ định. Bạn cũng có thể có một cuộc kiểm tra siêu âm bìu của bạn, và bác sĩ có thể quyết định sinh thiết.

Triệu chứng 4: thay đổi ở các hạch

Nếu bạn nhận thấy một khối u hoặc sưng ở các hạch bạch huyết dưới nách hay ở cổ – hoặc ở bất cứ nơi nào khác – nó có thể là một lý do để quan tâm. BS. Hannah Linden (trường y Đại học tổng hợp Washington) nói: “Nếu bạn có một hạch bạch huyết càng ngày càng lớn hơn, và thời gian này dài hơn một tháng, hãy đi khám bệnh”.

Bác sĩ sẽ kiểm tra cho bạn và xác định bất kỳ vấn đề nào liên quan có thể giải thích sự lớn lên của hạch bạch huyết, chẳng hạn như nhiễm trùng. Nếu không bị nhiễm trùng, bác sĩ thường sẽ sinh thiết.

Triệu chứng 5: sốt

Nếu bạn bị sốt không rõ nguyên nhân, nó có thể do ung thư. Hầu hết các bệnh ung thư sẽ gây sốt tại một số thời điểm. Thường, sốt xảy ra sau khi ung thư đã lan từ vị trí ban đầu của nó và xâm chiếm một phần khác của cơ thể. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, sốt cũng có thể được gây ra bởi bệnh ung thư máu như u lympho hoặc bệnh bạch cầu.
Tốt nhất là không bỏ qua một cơn sốt không tìm được nguyên nhân.

Triệu chứng 6: sụt cân không cố ý

Giảm cân bất ngờ là một mối lo ngại. Nếu một người đàn ông mất hơn 10% trọng lượng cơ thể của mình trong một khoảng thời gian từ 3 – 6 tháng, nên đi khám bệnh ngay.

Bác sĩ sẽ kiểm tra tổng thể, hỏi bạn những câu hỏi về chế độ ăn uống và tập thể dục của bạn, và hỏi về các triệu chứng khác. Dựa trên thông tin đó, bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm cần thiết khác.

Triệu chứng 7: đau cồn cào vùng bụng và trầm cảm

Bất kỳ đàn ông (hay đàn bà), bị đau ở bụng và cảm thấy trầm cảm cần phải đi kiểm tra sức khỏe. Các chuyên gia đã tìm thấy mối liên hệ giữa trầm cảm và ung thư tuyến tụy. Các triệu chứng khác của bệnh ung thư tuyến tụy có thể bao gồm vàng da, thay đổi màu phân – thường là màu xám – nước tiểu màu sậm. Cũng có thể xảy ra.ngứa toàn thân

Hãy yêu cầu bác sĩ khám cẩn thận và làm bệnh án cho bạn. Các bác sĩ nên làm các xét nghiệm như siêu âm, CT-Scan hoặc cả hai cũng như các xét nghiệm khác.

Triệu chứng 8: mệt

Mệt mỏi là một triệu chứng mơ hồ khác có thể chỉ ra ung thư ở nam giới. Tuy nhiên, nhiều vấn đề khác cũng có thể gây ra mệt mỏi. Giống như sốt, mệt mỏi có thể bị sau khi ung thư đã phát triển. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, nó cũng có thể xảy ra khi bắt đầu bị các bệnh ung thư như bệnh bạch cầu, ung thư đại tràng, hoặc ung thư dạ dày.

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy vô cùng mệt mỏi và bạn không hết mệt với nghỉ ngơi, hãy đi khám bệnh.

Triệu chứng 9: ho dai dẳng

Loại trừ ho do cảm lạnh, cúm, và các bệnh dị ứng, đôi khi do một tác dụng phụ của thuốc, ho kéo dài – được định nghĩa là kéo dài hơn ba hoặc bốn tuần – hoặc có thay đổi về ho thì không nên bỏ qua. Các kiểu ho này phải đi khám bệnh. Chúng có thể là một triệu chứng của bệnh ung thư, hoặc chúng có thể chỉ ra một số vấn đề khác như viêm phế quản mãn tính hoặc trào ngược acid.
Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận, khám họng của bạn, nghe phổi của bạn, xác định chức năng của chúng với kiểm tra đo phế dung (spirometry), và nếu bạn là người hút thuốc, cần chụp X-quang.

Triệu chứng 10: khó nuốt

Một số đàn ông có thể bị khó nuốt, nhưng sau đó bỏ qua nó. Theo thời gian, họ thay đổi chế độ ăn uống của họ với một chế độ ăn uống nhiều chất lỏng họ bắt đầu uống canh nhiều hơn nhưng nuốt khó, có thể là một dấu hiệu của một bệnh ung thư đường tiêu hóa (GI), chẳng hạn như ung thư thực quản.

Hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang gặp khó khăn khi nuốt. Bác sĩ nên làm bệnh án cẩn thận và có thể cho bạn chụp X-quang có chất cản quang. Bác sĩ cũng có thể gửi cho bạn đến một chuyên gia về nội soi đường tiêu hóa trên để kiểm tra thực quản và đường tiêu hóa trên.

Triệu chứng 11: các thay đổi ở da

Bạn nên cảnh giác không những thay đổi duy nhất ở nốt ruồi – một dấu hiệu nổi tiếng của ung thư da tiềm ẩn – mà còn các thay đổi sắc tố da, bác sĩ Mary Daly cho biết. Bác sĩ Daly là một bác sĩ chuyên khoa ung thư và là trưởng khoa di truyền học lâm sàng tại Trung tâm Ung thư Fox Chase ở Philadelphia.

Bác sĩ Daly cũng nói rằng đột nhiên phát triển chảy máu trên da của bạn hoặc bong da quá nhiều là lý do để đi khám bệnh. Thật khó để nói rằng bao lâu là quá lâu để thực hiện thay đổi ở da, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng không phải chờ đợi lâu hơn vài tuần.

Để tìm ra nguyên nhân gì gây ra những thay đổi da, bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử và thực hiện khám toàn thân cẩn thận. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu sinh thiết để loại trừ ung thư.

Triệu chứng 12: chảy máu nơi không nên có

Bất cứ lúc nào bạn thấy có máu đến từ một phần cơ thể mà bạn chưa bao giờ nhìn thấy nó trước, hãy đi gặp bác sĩ. Nếu bạn bắt đầu ho ra máu, khạc nhổ ra máu, có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, bạn nên đi khám bệnh. Khi cho rằng máu trong phân chỉ đơn giản là từ bệnh trĩ là một sai lầm vì nó thể là ung thư ruột kết.

Bác sĩ sẽ hỏi bạn những câu hỏi về các triệu chứng của bạn. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm như nội soi. Đây là một kiểm tra đại tràng bằng cách sử dụng một ống dài linh hoạt với một máy ảnh ở đầu ống. Mục đích của nội soi là để xác định bất kỳ dấu hiệu của ung thư hay tiền ung thư hoặc xác định bất kỳ nguyên nhân khác gây chảy máu.

Triệu chứng 13 : thay đổi ở miệng

Nếu bạn hút thuốc hoặc nhai thuốc lá, bạn cần phải đặc biệt cảnh giác với bất kỳ mảng trắng nào bên trong miệng hoặc đốm trắng trên lưỡi của bạn. Những thay đổi này có thể cho thấy bạch sản, một khu vực tiền ung thư có thể xảy ra với các kích thích liên tục. Tình trạng này có thể tiến triển thành ung thư miệng.

Bạn nên báo cáo những thay đổi với bác sĩ hoặc nha sĩ của bạn. Nha sĩ hoặc bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận, kiểm tra các thay đổi, và sau đó quyết định những xét nghiệm có thể là cần thiết khác.

Triệu chứng 14: các vấn đề đường tiểu

Như người đàn ông có tuổi, vấn đề tiết niệu trở nên thường xuyên hơn.
Những vấn đề này bao gồm:
– Đi tiểu thường xuyên hơn, đặc biệt là vào ban đêm.
– Cảm giác mắc tiểu cấp bách.
– Một cảm giác không tiểu hết.
– Không thể để bắt đầu tiểu.
– Nước tiểu rò rỉ khi cười hoặc ho.
– Một sự suy yếu của dòng nước tiểu.
Tuy nhiên, một khi bạn nhận thấy những triệu chứng này, bạn nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
Bác sĩ sẽ kiểm tra trực tràng kỹ thuật số, để biết tuyến tiền liệt có bị lớn lên không hoặc có các nốt không. Tuyến tiền liệt thường to ra khi người nam có tuổi. Nó thường do một điều kiện không phải ung thư gây ra được gọi là tăng sản tuyến tiền liệt lành tính hoặc BPH (benign prostatic hyperplasia). Khi cần thiết, bác sĩ có thể sẽ làm một số xét nghiệm khác.

Triệu chứng 15: khó tiêu

Nhiều người đàn ông, đặc biệt là khi họ lớn tuổi, họ nghĩ bị “cơn đau tim” khi họ bị khó tiêu. Nhưng khó tiêu dai dẳng có thể là ung thư thực quản, cổ họng, hoặc dạ dày. Khó tiêu dai dẳng hoặc xấu đi phải được báo cáo với bác sĩ của bạn.

Bác sĩ nên hỏi bệnh sử cẩn thận và đặt câu hỏi về các giai đoạn khó tiêu.
Dựa trên lịch sử bệnh và câu trả lời của bạn cho các câu hỏi, các bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm nào là cần thiết.

Ho ra máu là biểu hiện bệnh gì

Định nghĩa: Ho ra máu là hiện tượng máu từ đường hô hấp dưới được thoát ra ngoài qua miệng. Ho ra máu thường là một cấp cứu nội khoa.

Cơ chế: Các cơ chế thường gặp là:
– Do loét, vỡ mạch máu trong lao: vỡ phình mạch Ramussen,
– Giãn phế quản: vỡ mạch ở đoạn dừng lại Von-Hayek, ung thư phổi.
– Do tăng áp lực mạch máu: phù phổi huyết động, tăng tính thấm của mạch máu trong phù phổi tổn thương.
– Tổn thương màng phế nang mao mạch: hội chứng Good Pasture.
– Rối loạn đông máu, chảy máu, nhất là khi có bệnh phổi kèm theo.

ho-ra-mau

Đặc điểm:
– Hoàn cảnh xuất hiện: sau gắng sức, xúc động, phụ nữ đang trong giai đoạn hành kinh hoặc không có hoàn cảnh gì đặc biệt.
– Tiền triệu: cảm giác nóng rát sau xương ức, ngứa họng, tanh mồm hoặc mệt xỉu đi.
– Khạc ra máu đỏ tươi, có bọt, có thể chỉ có máu đơn thuần hoặc lẫn đờm.
– Đuôi khái huyết: là dấu hiệu đã ngừng chẩy máu, thường gặp trong lao phổi, máu khạc ra ít dần, đỏ thẫm rồi đen lại.

Phân loại mức độ ho ra máu:
– Hiện nay, phân loại mức độ nặng nhẹ của ho ra máu chưa thống nhất. Trong thực tế, thường có 2 khả năng xảy ra đó là bệnh nhân đang ho, mới ho ra máu trong vài giờ hoặc đã ho ra máu trên 24h.
– Vì vậy để giúp cho xử trí và tiên lượng phân loại như sau:
+ Mức độ nhẹ: ho từng bãi đờm nhỏ lẫn máu, tổng số máu đã ho ra < 50 ml. mạch và huyết áp bình thường.
+ Mức độ vừa: tổng số lượng máu đã ho ra từ 50 đến 200 ml. mạch nhanh, huyết áp còn bình thường, không có suy hô hấp.
+ Mức độ nặng:lượng máu đã ho ra > 200 ml / lần hoặc 600 ml /48 giờ, tổn thương phổi nhiều, suy hô hấp, truỵ tim mạch.
+ Ho máu sét đánh: xuất hiện đột ngột, máu chảy khối lượng lớn, ồ ạt tràn ngập 2 phổi gây ngạt thở và tử vong.

Chẩn đoán phân biệt: Cần phân biệt ho ra máu với máu chảy ra từ mũi, họng, miệng và nôn ra máu.
– Chẩn đoán phân biệt giữa ho và nôn ra máu sẽ khó, khi bệnh nhân có ho ra máu kèm theo nôn ra chất nôn có lẫn máu, do nuốt đờm máu xuống dạ dầy. Khi đó cần khám kỹ phổi và chụp Xquang, khai thác kỹ bệnh sử về dạ dày; nếu cần thì soi phế quản hoặc soi dạ dầy để phát hiện tổn thương phổi.

Các nguyên nhân chính của ho ra máu:
Lao phổi: Là nguyên nhân hay gặp nhất, tất cả các thể lao đều có thể gây ho ra máu từ ít đến nhiều. Trong đó lao phổi tiển triển có hoại tử bã đậu chiếm đa số. Sau đó đến lao phế quản. Rất ít gặp ở lao tiên phát và lao kê. Ho ra máu có thể lẫn đờm bã đậu và thường có đuôi khái huyết.

Ung thư phổi: Nguyên nhân thường gặp, chủ yếu ở ung thư phổi nguyên phát, ít gặp ở ung thư phổi thứ phát. Đờm có lẫn các tia máu, có khi ho máu mức độ vừa, thường ho vào buổi sáng màu đỏ tím (màu mận chín).

Giãn phế quản: Trong giãn phế quản thể khô có thể chỉ biểu hiện bằng ho ra máu, máu đỏ tươi, tái phát nhiều lần, dễ nhầm với lao phổi.

Bệnh tim mạch và các bệnh khác: Nhồi máu phổi, hẹp van 2 lá, bệnh tim bẩm sinh, bệnh Good Pasture hoặc bệnh hệ thống Collagen. Có thể gặp tất cả các mức độ của ho ra máu. Cần chú ý: máu lẫn bọt màu hồng gặp trong phù phổi cấp.

Viêm phổi: viêm phổi cấp do vi khuẩn, áp xe phổi.
+ Viêm phổi thùy do phế cầu: đờm màu rỉ sắt.
+ Viêm phổi hoại tử do Klebsiella đờm lẫn máu keo gạch.

Các nguyên nhân hiếm gặp:
+ Nấm Aspergillus phổi phế quản.
+ U mạch máu phổi.
+ Ngoài ra còn gặp ho ra máu do chấn thương, vết thương phổi và do can thiệp các thủ thuật như soi phế quản, sinh thiết phổi qua thành ngực…

Các biểu hiện nhận biết lao phổi dễ dàng

Người lao phổi có các triệu chứng như sau:

Các triệu chứng quan trọng nhất là: ho, khạc đờm, ho máu. Các triệu chứng khác là: đau ngực, khó thở, có tiếng rên khu trú ở một vùng của phổi…

Ho là triệu chứng của mọi bệnh phổi cấp và mãn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân: viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi … Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần ko phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi dung thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.

cac-bieu-hien-nhan-biet-lao-phoi-de-dang

Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho cũng có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy nếu sau khi dung thuốc kháng sinh triệu chứng khạc đờm không giảm thì mọi bệnh nhân có triệu chứng ho khạc trên ba tuần phải nghĩ đến do lao phổi.

Ho khạc đờm là những dấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi tới chuẩn đoán lao phổi.

Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% nững người lao phổi thể  hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp. Nguyên nhân gây ra ho máu rất nhiều từ các bệnh phổi – phế quản (viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi, ung thư  phổi, phế quản…) đến các bệnh ngoài đường hô hấp như bệnh tim mạch (suy tim, tăng huyết áp…), bệnh toàn than (rối loạn đông máu, chảy máu, thiếu hụt vitamin C…) Tuy nhiên do có thể gặp với tỷ lệ cao trong lao phổi nên những người ho ra máu phải kiểm tra có lao phổi không.

    Triệu chứng toàn thân

Các triệu chứng toàn thân quan trọng nhất là: gầy, sút cân, sốt, ra mồ hôi. Các triệu chứng toàn than quan trọng khác là chán ăn, mệt mỏi…

Gầy, sút cân là triệu chứng gặp ở số đồng người lao phổi. Những bênh nhân gầy, sút cân không có nguyên nhân rõ rang không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS… có các triệu chứng hô hấp như trên đã nêu phải nghĩ tới do lao phổi.

Sốt là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất tường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều.

Những người có triệu chứng sốt như trên, có các triệu chứng về hô hấp: ho, khạc đờm, ho ra máu… phải nghĩ tới do lao phổi.

Ra mồ hôi là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường hay gọi lầ ra mồ hôi trộm ở trẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.

Nếu bệnh nhân gầy sút cân, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm kèm theo có các dấu hiệu chán ăn, mệt mỏi… phải chú ý có thể đó là do lao phổi.

Sức khỏe đời sống

Nguyên nhân gây ho ra máu

Một bệnh nhân ho ra máu có thể do máu từ đường tiêu hóa hoặc từ đường hô hấp. Vậy làm sao để phân biệt máu từ đâu ho ra để có thái độ xử trí kịp thời?

nguyen_nhan_gay_ho_ra_mau

Phân biệt máu ho ra từ đường tiêu hóa hay đường hô hấp

Do máu từ mũi họng hay từ dạ dày, ruột có thể giống với máu từ đường hô hấp dưới nên khi bị ho ra máu, điều quan trọng là cần phải xác định ho ra máu từ đâu. Đặc điểm của máu đi ra từ dạ dày, ruột là máu có vẻ ngoài đỏ sẫm và độ pH acid (người ta có thể thử bằng giấy quỳ, xét nghiệm hoặc ngửi thấy mùi chua). Trái lại, nếu máu từ trong đường hô hấp dưới ho ra là máu có vẻ ngoài đỏ sáng và độ pH kiềm.

Những tổn thương gây ho ra máu thường gặp

Vị trí chảy máu thường gặp nhất là đường hô hấp, ở khí phế quản, nơi có thể bị tổn thương do viêm (viêm phế quản cấp tính hay mạn tĩnh, giãn phế quản) hoặc bởi khối u tân sinh như ung thư biểu mô phế quản, ung thư biểu mô di căn trong phế quản hay khối u loại khác. Máu bắt nguồn từ nhu mô phổi có thể do nhiễm khuẩn gây viêm phổi, áp-xe phổi, lao hoặc do bệnh đông máu, bệnh tự miễn dịch (hội chứng Goodpasture). Các bệnh khác ảnh hưởng đến hệ mạch phổi là bệnh nghẽn mạch phổi và các bệnh gây tăng áp suất tĩnh mạch và mao mạch phổi như hẹp van hai lá và suy tâm thất trái.

Những công trình nghiên cứu gần đây nhất cho thấy viêm phế quản và ung thư biểu mô phế quản là hai nguyên nhân thường gặp nhất gây ho ra máu. Tuy các bệnh lao và giãn phế quản có tần suất thấp gây ho ra máu nhưng là nguyên nhân gây ho ra máu ồ ạt. Ngoài ra, phần lớn bệnh nhân ho ra máu không tìm thấy bệnh căn, gọi là ho ra máu tự phát hoặc ho ra máu nguồn gốc ẩn và nguồn gốc chảy máu thật có thể là bệnh nhẹ ở đường hô hấp hoặc nhu mô phổi.

Trước một bệnh nhân ho ra máu, thầy thuốc khám phổi có thể thấy tiếng cọ  màng phổi (trong nghẽn mạch phổi), tiếng ran khu trú hoặc lan tỏa trong chảy máu nhu mô, bằng chứng tắc nghẽn đường thông khí (viêm phế quản mạn tính) hoặc ran ngáy rõ rệt kèm theo có hay không có khò khè là dấu hiệu của giãn phế quản. Nghe tim có thể thấy hẹp van 2 lá hoặc suy tim. Khám da có thể phát hiện sarcom Kaposi, dị dạng động tĩnh mạch của bệnh Osler- Rendu- Weber hoặc tổn thương của bệnh lupus ban đỏ.

Chụp Xquang lồng ngực có thể thấy các dấu hiệu giãn phế quản hoặc bệnh nhu mô khu trú hay lan tỏa. Kỹ thuật soi phế quản bằng sợi quang học đặc biệt có ích để định vị nơi chảy máu và để nhìn thấy tổn thương trong phế quản. Đối với bệnh nhân nghi ngờ bị giãn phế quản, hiện nay, phương thức tốt nhất là chụp cắt lớp để xác định tổn thương.

Điều trị khi bị ho ra máu

Việc điều trị ho ra máu phải căn cứ vào tốc độ chảy máu và mức độ tác động đến sự trao đổi khí để quyết định cách xử lý. Nếu chảy máu hạn chế ở mức đờm có vết máu hay lượng máu ít, sự trao đổi khí thường không bị ảnh hưởng, khi đó sự ưu tiên cao nhất là duy trì hô hấp đúng mức, ngăn ngừa máu phun ra các vùng phổi lành và tránh nghẹt thở. Cho bệnh nhân nằm nghỉ và dùng thuốc giảm ho để giảm chảy máu. Trường hợp biết được nguồn gốc xuất huyết và hạn chế ở một phổi thì nên đặt bệnh nhân ở tư thế thích hợp để máu không bị hít vào phổi lành.

Trường hợp nặng, máu chảy ồ ạt, vì cần kiểm soát đường thông khí và duy trì sự trao đổi khí đúng mức nên cần phải đặt ống thông trong khí quản và thông khí cơ học. Ở bệnh nhân có nguy cơ chảy máu sang bên phổi lành đối bên với bên xuất huyết, cần phải tách riêng hai nhánh chính phế quản phải và trái với nhau bằng cách đặt ống thông chọn lọc vào phổi không chảy máu nhờ hướng dẫn bằng soi phế quản hoặc bằng cách dùng ống trong khí quản hai lòng được thiết kế đặc biệt. Có thể dùng phương pháp đặt ống thông túi qua ống soi phế quản và làm phồng túi ống thông để bít phế quản dẫn đến vị trí chảy máu nhằm ngăn ngừa hít máu vào các vùng phổi lành và chèn ép vị trí chảy máu làm ngừng chảy máu.

Ở những cơ sở có điều kiện, có thể kiểm soát chảy máu bằng các phương pháp: dùng ánh sáng laze, dùng dao đốt điện, liệu pháp nghẽn mạch và phẫu thuật cắt bỏ vùng phổi bị bệnh. Khi chảy máu từ khối u trong phế quản, tia laze thường đạt kết quả cầm máu nhờ làm đông máu tại chỗ. Dao đốt điện để xử trí chảy máu từ khối u trong phế quản.

Theo suckhoevadoisong