Tag Archives: hải sản

Ngộ độc hải sản thường gặp

Hải sản là món ăn ngon, giầu chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, có một số loài hải sản mang nhièu độc tố gây ngộ độc cho người ăn thậm chí có thể tử vong.

Viện Hải dương học Nha Trang vừa nghiên cứu và công bố 39 loài sinh vật có chứa chất độc có khả năng gây chết người tại vùng biển Việt Nam. Đáng sợ nhất là Cá nóc chuột vằn tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người.

Trong số 39 loài sinh vật có chứa chất độc này, có 22 loài cá, một loài mực tuộc, hai loài ốc, ba loài cua, một loài sam và 10 loài rắn biển. Ngoài ra còn có hai loài cá nóc nước ngọt mới được phát hiện ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, tổng cộng là 41 loài sinh vật độc.

Đa số những loài sinh vật độc hại nói trên đều có ở vùng biển nước ta , từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, như các loài cá nóc, cá bống vân mây, loài so và rắn biển, nhưng cũng có một số loài như ốc biển, cua, mực đốm xanh… chỉ mới gặp ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ.

ca-noc

Phần lớn những loài này sống cả ở ngoài khơi và vùng ven bờ, các vùng vịnh, đầm phá, các cửa sông lớn… Riêng hai loài cá nóc nước ngọt được xác định là cá nóc chấm xanh (Chelonodon nigroviridis) và cá nóc mắt đỏ (Carinotetraodon lorteti) mới chỉ phát hiện được ở đồng bằng sông Cửu Long.

Những loài hải sản độc này có thể gây hại cho con người theo hai cách chính: qua đường tiêu hoá do các món ăn chế biến từ cá và hải sản và qua phản ứng tự vệ của con vật khi ta vô tình chạm vào chúng, bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc.

Các loại hải sản cực độc
Trong 41 loài sinh vật độc trên có 5 loại cực độc là: Cá nóc răng mỏ chim, cá nóc tro, cá nóc vằn mặt, cá nóc chấm cam, cá nóc chuột vằn mang, trong đó cá nóc chấm cam và cá nóc chuột vằn mang là hai loài độc nhất.

Cá nóc chuột vằn mang (Aronthron immaculatus) thân có dạng hình trứng, vây lưng viền đen, bụng màu trắng… nom không có vẻ gì đáng sợ nhưng trong trứng loài cá này tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người; hàm lượng độc chất cao xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10.

Sau cá nóc chuột vằn mang, cá nóc chấm cam (Torquigener gallimaculatus) cũng rất đáng sợ, cứ 100g trứng hoặc gan loài cá này có thể giết chết 60 – 70 người.

Tác hại chết người của nọc độc hải sản
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, bản chất các độc tố của phần đông các hải sản trên thuộc nhóm chất độc thần kinh, nên khi con người bị nhiễm chất độc này sẽ tác động trực tiếp đến hệ thần kinh và hệ tim mạch gây ra những triệu chứng ngộ độc rất trầm trọng.

Hầu hết chúng là những chất độc nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao trong thời gian rất nhanh, với liều độc thấp. Cụ thể, chất độc chứa trong cá nóc và nhiều loại hải sản khác như mực đốm xạnh, so biển, cá bống vân mây, v.v.. là tetrodotoxin, có tác động trên thần kinh trung ương rất mạnh làm liệt các trung khu thần kinh, gây tê liệt cơ thể, ngừng tuần hoàn, hô hấp dẫn đến tử vong nhanh chóng.

Triệu chứng của ngộ độc như sau
Trường hợp bị nhiễm ít chất độc, bệnh nhẹ: Sau khi ăn phải hải sản độc từ 10 phút đến vài giờ, người bệnh thấy tê môi, lưỡi, miệng, mặt, tê các ngón tay, bàn tay, ngón chân và bàn chân. Đồng thời thấy đau đầu, vã mồ hôi, đau bụng, buồn nôn và nôn, tăng tiết nước bọt…

Trường hợp nặng: Người bệnh mệt lả, yếu cơ, liệt cơ tiến triển nên đi đứng loạng choạng không vững. Tình trạng liệt cơ nặng lên nhanh chóng dẫn đến liệt toàn thân, kể cả hô hấp, khiến người bệnh không thở được, suy hô hấp, ngừng thở, mạch chậm, huyết áp hạ và hôn mê, dẫn đến tử vong,

Trong cơ thể cá và hải sản độc, thường trứng và gan là hai nơi tập trung độc chất cao nhất. Nhưng cũng có những hải sản độc, thịt và da lại là những nơi tập trung độc tố cao hơn cả, như loài cá bống vân mây.

Chất độc của cá này tuy có ở tất cả các bộ phận cơ thể, nhưng tập trung nhiều nhất ở da, cứ 100g da có thể giết chết 9 – 10 người.

Còn đối với ba loài hải sản độc khác là cua hạt, mực đốm xanh và so biển thì tất cả các bộ phận khác nhau của cơ thể chúng đều chứa chất độc. Cũng vì vậy, các nhà khoa học khuyên người tiêu dùng tuyệt đối không dùng các loài hải sản độc chế biến thức ăn dưới bất cứ hình thức nào và với bất cứ bộ phận nào của cơ thể chúng.

Trong thực tế hầu hết các trường hợp ngộ độc hải sản nặng đều do ăn phải những loài cá biển và hải sản chứa độc tố mạnh. Ngoài ra cũng có một số người bị trúng độc do sờ mó hoặc vô tình chạm vào những loài rắn biển, cá mặt quỉ, mực đốm xanh, ốc cối… nên bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc. Các độc tố của con vật sẽ theo răng hoặc tên độc của chúng phóng ra xâm nhập cơ thẻ người qua vết thương gây ngộ độc

Nguồn sức khỏe đời sống

6 món ăn từ hải sản tốt cho vấn đề quý ông

Hải sản là nguồn thực phẩm tráng dương được chứng minh từ lâu đời. Mùa hè có dịp ra biển, sẵn nguồn hải sản tươi, lại rẻ, chúng ta nên tranh thủ tẩm bổ và mua mang về, đặc biệt với những quý ông có “trục trặc” như xuất tinh sớm, không xuất tinh, hoa mắt chóng mặt, thiếu máu do gan thận bất túc hoặc huyết hư nên dùng… Sau đây là một số món ăn – bài thuốc bổ thận tráng dương từ hải sản.

Cá ngựa, nhân sâm: Cá ngựa (hải mã sống) 20g, tôm tươi 20g, nhân sâm 15g, hoàng kỳ 20g, liên nhục 30g, kỷ tử 16g, gạo thơm 50g, gừng 4g. Vo sạch gạo, cá ngựa và tôm giã nhuyễn, rồi cho các nguyên liệu cùng lượng nước vừa đủ đem nấu cháo, khi cháo chín tới, cho gừng vào, nêm gia vị, ăn lúc còn nóng ấm. Dùng liên tục mỗi tuần 3 – 5 lần. Công dụng: Chữa chứng không xuất tinh.

6-mon-an-tu-hai-san-tot-cho-quy-ong-truc-trac

Đào nhân nấu mực:

Mực 300g làm sạch thái miếng, bắc nồi lên bếp lửa, cho mực và đào nhân vào nồi, cho lượng vừa nước nấu. Sau khi nấu sôi vớt hết bọt, cho muối, hành vào. Đợi mực chín, bỏ nước canh, ăn mực. Thời gian nấu mực không nên quá dài, nếu không mực sẽ trở nên cứng, ảnh hưởng khẩu vị. Lưu ý, đào nhân hơi độc, do đó không nên ăn sống hoặc ăn nhiều. Người có bệnh loét dạ dày hoặc viêm dạ dày mạn tính không nên ăn. Phụ nữ có thai tuyệt đối không được ăn. Công dụng: bổ gan thận, tư âm bổ huyết, hoạt huyết điều tinh. Người có triệu chứng chóng mặt, thiếu máu do gan thận bất túc hoặc huyết hư gây ra ăn món này rất tốt. 6-mon-an-tu-hai-san-tot-cho-quy-ong-truc-trac-1Trần bì trộn sứa biển:

Trần bì 10g, lá chè xanh 1g, sứa biển 100g, dưa chuột 1 quả, đường trắng, giấm, dầu vừng vừa đủ. Rửa sạch lá chè, đun lấy nước chè đặc. Rửa sạch trần bì, thái nhỏ. Rửa sạch sứa thái nhỏ, chần qua nước sôi, vớt ra, rửa lại bằng nước đun sôi để nguội để ráo rồi ngâm trong nước lá chè 5-6 giờ. Cho muối, đường trắng, giấm, dầu vừng vào hũ trộn đều sau đó cho trần bì và sứa trộn đều. Rửa sạch dưa chuột thái thành lát, xếp dưới đáy đĩa, trên xếp sứa là có thể ăn được. Công dụng: táo thấp hóa đờm, trở ngại bên trong do đờm thấp, dùng tốt cho người suy giảm tình dục, béo phì.

Cá mực nấu hạt khiếm thực: Hạt súng 30g, cá mực 300g, rượu vang 10ml, gừng 5g, hành 10g, muối 3g, bột ngọt 2g, tiêu bột 1g: Hạt súng đãi sạch, mực rửa sạch thái miếng dài 4cm, rộng 2cm, gừng thái lát, hành thái khúc. Cho hạt súng, cá mực, rượu, gừng, hành vào nồi với lượng nước vừa đủ, đun sôi, cho lửa nhỏ hầm khoảng 30 phút cho muối, bột ngọt, tiêu bột vào nấu chín. Công dụng: bổ thận cố tinh.

6-mon-an-tu-hai-san-tot-cho-quy-ong-truc-trac-2

Thịt hàu hầm long nhãn, đảng sâm:

Long nhãn khô 25g, đảng sâm 30g, thịt hàu 100g, đường phèn 30g. Long nhãn rửa sạch, đảng sâm rửa sạch cắt khúc, thịt hàu rửa sạch thái nhỏ. Cho tất cả vị thuốc trên vào nồi rồi cho đường phèn vào đổ 300ml nước đun sôi, vặn nhỏ lửa hầm 30 phút là dùng được. Mỗi ngày ăn 1 lần. Công dụng: bổ khí huyết chữa chứng mất ngủ, khí hư, xuất tinh sớm.

Ngọc trúc bào ngư: Bào ngư 100g, ngọc trúc 10g, vương bất lưu hành 10g, dầu vừng 15g, hành, gừng, rượu trắng, xì dầu, đường trắng, mì chính, muối vừa đủ. Rửa sạch bào ngư, cắt thành khúc. Ngọc trúc, vương bất lưu hành sắc như sắc thuốc lấy 2 nước, lọc lấy nước cốt. Cho bào ngư vào nước thuốc hầm kỹ. Cho mỡ vào chảo, khi đã nóng cho hành, gừng xào qua rồi cho xì dầu, nước luộc gà, sau khi sôi vớt hành và gừng ra. Cho đường trắng, rượu, mì chính, bào ngư, rồi cho nước tinh bột làm thành món sền sệt sau đó cho dầu vừng vào xào qua rồi múc ra đĩa để ăn. Cách ngày làm một lần, mỗi đợt điều trị một tháng. Công dụng: tư âm giáng hỏa, thông tâm thận. Trị chứng âm hư hỏa vượng do tình dục không điều độ hoặc có thói quen thủ dâm, thận âm hao tổn, mất tinh quá nhiều; tình dục mạnh, dương cường nhưng không xuất được tinh, mộng tinh, di tinh.

BS.Phó Thuần Hương

Theo SKDS

Dị ứng – sự thật cần biết

Trẻ béo phì thường có nguy cơ bị dị ứng, con đầu lòng cũng dễ mắc bệnh này hơn con thứ, dị ứng có thể tự biến mất…

Dị ứng xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mức với các tác nhân vô hại từ môi trường như phấn hoa, bụi nhà, một số thức ăn… Phản ứng này làm giải phóng nhiều loại hóa chất trung gian như histamine, serotonin… là những tác nhân trực tiếp gây ra các triệu chứng dị ứng như nổi ban đỏ, phù nề mắt môi, khó thở, ngạt sổ mũi… Sự phiền toái của các bệnh dị ứng là điều dễ nhận thấy, tuy nhiên, có những sự thật về dị ứng có thể khiến nhiều người ngạc nhiên.

di-ung-su-that-can-biet1

Dị ứng có tính di truyền
Mặc dù các nhà khoa học chưa thể xác định chính xác gene gây ra tình trạng dị ứng nhưng có thể khẳng định cơ địa dị ứng có tính di truyền rõ rệt. Trong một gia đình, nếu bố hoặc mẹ có cơ địa dị ứng thì các con của họ có 30% nguy cơ mắc các bệnh này, nhưng nếu cả bố và mẹ cùng bị dị ứng thì nguy cơ mắc tình trạng này ở những đứa con lên tới 70%.

Dị ứng có thể gây ra do mọi tác nhân
Không chỉ do nguyên nhân quen thuộc như phấn hoa, thuốc, hải sản…, các bệnh dị ứng còn có thể gây ra do những nguyên nhân khó tin như nước, ánh nắng mặt trời, hơi lạnh… Mặc dù hiếm gặp nhưng các trường hợp dị ứng này có thể rất nguy hiểm và khó đề phòng.

di-ung-su-that-can-biet

Những trẻ béo phì thường có nguy cơ bị dị ứng
Hầu hết mọi người mới biết đến tác động của béo phì với các bệnh lý về tim mạch, chuyển hóa, tuy nhiên các nghiên cứu khoa học còn cho thấy một sự thật rất đáng ngạc nhiên là béo phì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh dị ứng ở trẻ em. Trẻ béo phì có tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng nói chung cao hơn 26% và dị ứng thức ăn cao hơn 59% so với tỷ lệ chung trong cộng đồng.

Dị ứng có thể xuất hiện đột ngột ở tuổi trưởng thành
Dị ứng thường xuất hiện từ nhỏ và có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, dị ứng có thể xuất hiện khá muộn ở tuổi trưởng thành, mặc dù trước đó họ chưa từng mắc. Nguyên nhân vì sao dị ứng xuất hiện muộn trong những trường hợp này còn chưa được hiểu rõ.

Con đầu lòng thường có tỷ lệ dị ứng cao hơn
Thứ tự sinh có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc các bệnh dị ứng. Một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, những đứa con đầu lòng có tỷ lệ mắc bệnh dị ứng cao hơn những đứa con đẻ sau. Nguyên nhân vì sao có sự khác biệt này còn chưa được hiểu rõ nhưng một giả thuyết được đưa ra là sự khác biệt về tình trạng trong buồng tử cung ở đứa trẻ đẻ đầu tiên.

Dị ứng là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu của các bệnh mạn tính trên thế giới
Các bệnh dị ứng như hen phế quản, viêm mũi dị ứng là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây nghỉ học, nghỉ làm và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Có thể có mối liên quan giữa dị ứng và trầm cảm
Khi đi tìm nguyên nhân của trầm cảm, các thầy thuốc thường ít nghĩ đến các bệnh dị ứng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, có mối liên quan giữa dị ứng theo mùa và trầm cảm. Theo đó, các triệu chứng trầm cảm thường nặng lên vào giữa mùa phấn hoa.

Tình trạng dị ứng có thể tự biến mất
Diễn biến của tình trạng dị ứng thường khó đoán trước, nó có thể biến mất ở một số trẻ em và người trưởng thành. Trẻ em có nhiều khả năng thoát khỏi bệnh dị ứng, đặc biệt là dị ứng sữa. Mặc dù khả năng biến mất của các bệnh dị ứng là có thể nhưng sự thận trọng của người bệnh và gia đình luôn là điều cần thiết. Không nên coi mọi bệnh dị ứng đều có thể khỏi hoàn toàn.

Dị ứng có thể giúp giảm nguy cơ xuất hiện u não
Bên cạnh việc gây nhiều phiền toái cho người bệnh, dị ứng có thể đem lại những lợi ích. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những người bị dị ứng giảm được 33% nguy cơ mắc một số loại u não. Nguyên nhân của điều này được cho là do kháng thể dị ứng IgE có một vai trò nào đó trong việc làm giảm sự tạo thành của u não.

Theo VNE