Tag Archives: giảm thị lực

Bổ sung dinh dưỡng cho người hay thức đêm

Ăn uống điều độ, đầy đủ dinh dưỡng là một trong những biện pháp giúp giảm thiểu các tác hại do thức đêm gây ra. Dưới đây là 5 thực phẩm tốt cho sức khỏe mà những người thường xuyên thức khuya nên ăn

1. Cà rốt

Thức đêm gây ra nhiều tác hại cho cơ thể con người. Mỏi mắt và giảm thị lực là một trong những tác hại đó. Mắt là bộ phận làm việc mệt mỏi nhất khi chúng ta thức đêm, đặc biệt đối với những người thích viết lách, dùng máy tính nhiều, tình trạng này thường xuyên sẽ gây hại nghiêm trọng cho mắt.

bo-sung-dinh-duong-cho-nguoi-hay-thuc-dem1

Vì vậy, dinh dưỡng cho đôi mắt khi thức đêm là vấn đề cực kỳ quan trọng. Trong cà rốt rất giàu carotene, khi hấp thụ vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A, có tác dụng chống giảm thị lực. Ăn cà rốt thường xuyên giúp mắt bớt mỏi, thị lực tốt hơn.

2. Cá

Thịt cá chứa nhiều vitamin B, có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa giảm thị lực, giúp giảm stress, bảo về gan. Những người thường xuyên thức đêm dễ làm cơ thể và mắt mệt mỏi, căng thẳng, lâu dần dễ gây ra các triệu chứng như mất ngủ, hay quên, cáu giận, hay lo lắng…Vì vậy, nếu bạn thường xuyên phải thức đêm, ban ngày nên ăn nhiều cá, để bổ sung vitamin B, giúp làm giảm thiểu các triệu chứng trên.

Hơn nữa, trong cá giàu hàm lượng protein và khoáng chất cũng giúp cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cơ thể, tăng cường khả năng miễn dịch.

3. Gan

Gan cũng là thực phẩm tuyệt vời giúp bảo vệ đôi mắt cho những người thường xuyên thức đêm. Ăn gan cũng giúp bổ sung vitamin A, ngăn ngừa khô mắt, mỏi mắt.

Những người thức đêm thường bị rối loạn nội tiết, cơ thể sẽ không bài tiết hết nhiều chất độc. Trong gan còn chứa vitamin B, không chỉ tốt cho mắt mà còn giúp bổ sung coenzyme, có tác dụng loại bỏ chất độc trong cơ thể.

Tuy nhiên, bạn không nên ăn quá nhiều gan vì nó là nội tạng động vật nên có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt khi ăn quá lượng cho phép.

4. Chuối

bo-sung-dinh-duong-cho-nguoi-hay-thuc-dem

Chuối thuộc loại thực phẩm có kali cao, hàm lượng magiê cũng rất phong phú. Y học hiện đại chứng nhận, kali giúp duy trì huyết áp và nhịp tim ở mức bình thường, ngăn được bệnh cao huyết áp và co cơ. Trong khi đó, magie có tác dụng loại bỏ sự mệt mỏi.

Ngoài ra, thành phần có trong chuối có thể chuyển hóa nhanh thành glucose, lập tức được hấp thụ vào cơ thể sẽ sinh ra nguồn năng lượng dồi dào. Vì vậy, ăn chuối giúp cơ thể bạn có năng lượng hơn khi làm việc về đêm.

5. Rau hẹ

Giá trị dinh dưỡng của rau hẹ rất cao, chứa nhiều carotene, hấp thụ qua cơ thể chuyển hóa thành vitamin A. Do đó, những người thường xuyên thức đêm nên ăn rau hẹ sẽ rất tốt cho gan và mắt. Ngoài ra, rau hẹ còn có tác dụng làm trắng, mờ nám da. Thức đêm dễ bị tổn thương gan, xấu da, ăn rau hẹ sẽ giúp làm giảm các tác hại này.

Tuy nhiên, cần chú ý, rau hẹ mặc dù tốt, nhưng trong rau hẹ có chứa nhiều chất xơ, nếu ăn quá nhiều trong một lần, dễ gây tiêu chảy.

Nguồn sức khỏe đời sống

Ngăn ngừa mù vĩnh viễn

Đục thủy tinh thể (ĐTTT) là một căn bệnh rất phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Việt Nam. Đa phần người bệnh đều rất chủ quan, cho rằng giảm thị lực là dấu hiệu của tuổi già, là bệnh không thể điều trị khỏi nên không đi khám bệnh, không chữa trị. Hiện cả nước có đến 251.700 người mù cả hai mắt do đục TTT và mỗi năm cả nước có thêm khoảng 170.000 trường hợp cần được điều trị do căn bệnh này.

Thế nào là đục thủy tinh thể?

Thể thuỷ tinh là một thấu kính trong suốt ở bên trong con mắt. Nó góp 1/3 vào năng lực hội tụ của nhãn cầu. Công suất hội tụ của thể thuỷ tinh được đảm bảo khi nó còn trong suốt, các mặt cong và độ dày còn nằm trong giới hạn sinh lý. Ngoài ra thể thuỷ tinh còn có chức năng lọc tia tử ngoại – tia có hại có trong phổ bức xạ của mặt trời. Khi các phân tử protein không hoà tan bị tích tụ trong thể thuỷ tinh cùng với tuổi tác thì tính trong suốt của nó không còn nữa. Các tia sáng khi đi qua vùng bị đục sẽ bị tán xạ mạnh gây giảm thị lực. Đục thể thuỷ tinh được coi là đáng kể khi nó làm giảm thị lực xuống còn < 3/10.

ngan-ngua-mu-loa-vinh-vien-1

Bệnh của người già

Đục TTT là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi xong gặp nhiều nhất ở người cao tuổi (có tới 80% số người mắc bệnh ở độ tuổi trên 50). Người bệnh bị đục thủy tinh thể mắt mờ tăng dần, thường kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm và dẫn tới mù lòa. Tuy nhiên, nhiều người già khi thấy mắt mình có những biểu hiện như vậy, trở nên kém tinh nhanh lại tưởng là già thì mắt phải như vậy, chứ hoàn toàn không nghĩ có thể điều trị phục hồi được.

Có nhiều nguyên nhân gây đục TTT, thường gặp nhất là do lão hóa, do bệnh lý về mắt (cận thị nặng, viêm nhiễm, chấn thương, thoái hóa…), bệnh toàn thân ảnh hưởng lên mắt (đái tháo đường, tăng huyết áp…), do dùng thuốc như corticoid, thuốc chống rối loạn tâm thần hoặc bẩm sinh (liên quan đến các yếu tố bất thường từ bào thai).

Nhận biết sớm

Ở người cao tuổi sự lão hoá xảy ra ở tất cả mọi bộ phận trong cơ thể, đôi mắt của họ cũng không là ngoại lệ. Mắt bị lão hóa, TTT bị ảnh hưởng do sự lão hoá sớm nhất, đến tuổi 40 TTT bắt đầu cứng, độ đàn hồi giảm, khả năng điều tiết giảm. Khi đó bệnh nhân nhìn xa rõ nhưng nhìn gần mờ và thấy nhanh mỏi mắt.

Đục TTT dễ xảy ra từ tuổi 60 trở đi, gây ra hiện tượng đục mờ TTT. Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa.

TTT (nhân mắt) bị xơ cứng, không thể phồng lên để thực hiện chức năng điều tiết khi nhìn gần gọi là hiện tượng lão thị ở người già. Theo thời gian, TTT không còn trong suốt nữa, mà trở thành mờ đục gây nên hiện tượng đục TTT (còn gọi là cườm). Hiện tượng này xảy ra ở 50% người lớn tuổi, khi mới bị thì nhìn xa thấy mờ, về sau nhìn gần cũng mờ, giơ bàn tay ra trước mắt cũng chỉ thấy bóng.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có biểu hiện rõ rệt như vậy ngay từ ban đầu. Hơn nữa, bệnh này không gây đau nhức mắt khiến người bệnh càng chủ quan.Cũng có nhiều người chỉ thấy giảm thị lực đôi chút, chói mắt khi ra nắng khiến người bệnh chỉ đến khám khi bệnh đã nặng, rất khó chữa chạy. Nếu được phát hiện, điều trị sớm, 90% người bệnh được khôi phục lại thị lực.

Có tới 1/3 dân số Việt Nam chưa bao giờ đi kiểm tra mắt, kiểm tra thị lực. Đó cũng là nguyên nhân khiến tỷ lệ người bị mù lòa ở Việt Nam thuộc loại cao trong khu vực, trong đó mù lòa do đục TTT chiếm đến 70%.

Phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả

Hiện nay, không thể phòng bệnh đục TTT một cách có hiệu quả. Điều quan trọng là phải đi kiểm tra mắt thường xuyên để phân biệt với những bệnh mù do nguyên nhân khác.

Đối với đục TTT ít, có thể cho bệnh nhân đeo kính, dùng kính lúp hoặc chiếu sáng tốt khi làm việc. Nếu những biện pháp này không có tác dụng, chỉ có phẫu thuật lấy TTT đục và đặt kính thay thế thủy tinh thể là cách điều trị hiệu quả nhất.

Thông thường phẫu thuật được chỉ định khi thị lực dưới 5/10 (có chỉnh kính) hoặc gây giảm thị lực cản trở sinh hoạt hằng ngày, chẳng hạn như lái xe, đọc sách hoặc xem tivi.

Trong một số trường hợp, đục TTT chưa gây giảm thị lực nhiều nhưng cần phải phẫu thuật để tạo thuận lợi cho việc khám, điều trị các bệnh mắt khác như bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già hoặc bệnh võng mạc tiểu đường.

Sau phẫu thuật đục TTT, bệnh nhân cần che mắt bảo vệ (băng che mắt, kính mát…) để tránh gió bụi, hạn chế tiếp xúc với máy tính, đọc báo, xem tivi… trong vòng 1 tuần; rửa tay trước khi chạm vào mắt và sử dụng thuốc theo quy định; rửa mi mắt bằng gạc để lấy đi chất dịch bám vào mắt; tuyệt đối không dụi tay lên mắt, nháy mắt mạnh nhằm tránh xảy ra đè áp mạnh gây chấn thương mắt; ăn thức ăn dễ tiêu, tránh táo bón, tránh dùng các chất kích thích; tái khám đúng theo lịch hẹn (thường là sau 1 tuần và 1 tháng sau khi phẫu thuật).

Khi có các dấu hiệu: giảm thị lực, đau kéo dài mặc dù đã dùng thuốc giảm đau; đỏ mắt tăng; chớp sáng hoặc nhiều đốm đen trước mắt; buồn nôn, nôn hoặc ho nhiều… bệnh nhân nên tái khám sớm. Thông thường, mắt hồi phục thị lực tối đa trong vòng 8 tuần. Không nên đi bơi, tắm biển, chơi những môn thể thao mạnh trong vòng 3 tháng.

Bác sĩ Nguyễn Minh Hằng

Theo SKDS

Không nên chủ quan với bệnh đau mắt đỏ

Đau mắt đỏ là một thuật ngữ có tính chất dân gian nhiều hơn là khái niệm bệnh học chính thống. Tựu trung, nhân dân cho rằng đau mắt đỏ nghĩa là thấy mắt đỏ hơn bình thường kèm theo những khó chịu không trầm trọng lắm ví như cộm, rát, ra dỉ, ngứa, đau nhức ít hoặc không đau nhức, thị lực không giảm hoặc giảm không đáng kể. Giới chuyên khoa mắt thì định khu rõ ràng hơn đó là các trường hợp mắt đỏ nhưng không có đau nhức và giảm thị lực. Đỏ mắt có đau nhức và giảm thị lực mang tính chất nghiêm trọng hơn, điều trị khó khăn hơn và hậu quả cũng nặng nề hơn. Chúng ta sẽ bàn luận sâu hơn về bệnh đau mắt đỏ với sự tách biệt rõ ràng với nhóm còn lại: chúng không thuộc nhóm gây mù lòa nếu không có biến chứng và được điều trị thích đáng.

khong_nen_chu_quan_voi_benh_dau_mat_do

Mắt bình thường (ảnh trên) và đau mắt đỏ (ảnh dưới).

Chắc chắn là bất cứ ai trong đời cũng đã có lần bị đau mắt đỏ. Cảm giác rất giống nhau: đỏ mắt do người khác báo cho bạn hoặc tự bạn soi gương mà thấy, cảm giác bất ổn trong mắt: cộm, ngứa, căng tức ở trong mắt hơn là một đau nhức thực thụ, ra dỉ mắt nhiều hoặc rất nhiều. Những khó chịu khác có thể biểu hiện toàn thân hoặc quanh mắt: sốt, nổi hạch, đau họng, viêm mũi xoang, đau răng…

Cách phân loại để điều trị rất phong phú thế nhưng dựa theo bệnh nguyên vẫn là phổ biến và được chấp nhận nhiều nhất. Chúng ta hãy đi từ đơn giản đến phức tạp :

Đỏ mắt do tác nhân hóa lý từ môi trường: Đỏ mắt xuất hiện nhanh, mất đi nhanh dù điều trị hay không điều trị, có mối quan hệ nhân quả với tác nhân ngoại lai. Chúng ta có vô vàn ví dụ cho đỏ mắt thuộc nhóm này: gió, bụi, nước mưa, đi bơi, dùng rượu bia, khói, cảm động, khóc lóc… Cần nói ngay là điều trị trong những trường hợp này chỉ đơn giản là nước muối sinh lý, nước mắt nhân tạo hay hỗn dịch mà nhiều hãng đang bán rộng rãi trên thị trường: Osla, naphacollyre, V-Rohto, visime, daigaku. Hỗn dịch thường chứa chất co mạch, chất kháng histamin (chống ngứa), chất sát trùng do vậy nhìn chung chúng sẽ giải quyết ổn thỏa đỏ mắt thuộc nhóm này.

Đỏ mắt do nguyên nhân toàn thân: Nếu ai đó đã trải qua cảm mạo, sốt nóng đều thấy mắt mình đỏ lên nhiều. Nhiễm virut trong những ngày đầu ngoài việc sốt nóng, sốt rét, đau mình mẩy, đau họng thì thấy mắt đỏ cũng khiến nhiều bệnh nhân đến khám tại cơ sở chuyên khoa mắt. Xoang răng là những bộ phận lân cận với mắt. Do vậy khi các bộ phận này bị viêm nhiễm thì mắt cũng đỏ lên nhiều, có khi hình thành viêm kết mạc thực thụ. Nếu ta rơi vào trường hợp này thì nên điều trị nguyên nhân, đừng chú tâm nhiều về mắt.

Viêm kết mạc do vi khuẩn: Ai đấy được chứng kiến dù chỉ một lần thì cũng không thể quên hình ảnh viêm kết mạc do lậu cầu. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở nhũ nhi do lây nhiễm lậu cầu từ âm đạo của mẹ. Đó là một đôi mắt sưng nề dữ dội, tắm mình trong mủ đặc màu vàng. Mặc dù lau mắt thường xuyên nhưng mủ vẫn ứa ra đều đều. Lòng đen có thể bị loét thủng nếu việc điều trị bị chậm trễ hoặc không tương thích. May thay là kháng sinh chống lậu cầu hiện không còn là vấn đề khó khăn nữa nên nhìn chung việc điều trị mang kết quả khả quan, bệnh giảm rất nhanh chóng.

Trên trẻ em thì viêm kết mạc có giả mạc cũng là bệnh thường gặp. Trẻ thường có ho, sốt, viêm long hô hấp trên. Lòng trắng đỏ ngầu, mắt ra dỉ nhiều đôi khi ứa nước hồng như máu làm các bậc cha mẹ rất hoảng sợ. Khi lật mi lên người ta thấy có một lớp màng trắng bao phủ. Khi cố bóc lớp này đi sẽ gây chảy máu tại chỗ. Nguyên nhân thường do cầu khuẩn, virut. Bạch hầu cũng có thể gây ra những biểu hiện tương tự nhưng tính chất giả mạc có khác biệt và thực sự hiếm gặp do chương trình tiêm chủng mở rộng đã rất thành công ở nước ta từ nhiều thập kỷ nay.

Viêm kết mạc do chlamydia ngoài việc gây ra mắt hột ở người lớn còn gây viêm kết mạc bể bơi ở thiếu niên, gây viêm kết mạc mủ ở trẻ em. Tần suất gặp các bệnh nhân loại này cũng ngày càng hiếm do việc dùng kháng sinh sớm và chương trình thanh toán mắt hột rất bền bỉ của ngành mắt.

Viêm kết mạc do virut: Năm ngoái chúng ta đã có dịch đau mắt doadenovirus tại phần lớn các tỉnh thành ở miền Bắc trong suốt mùa hè đến tận tháng 10. Đây là căn bệnh không nguy hiểm, chẩn đoán dễ dàng nhưng lại gây khó chịu cho biết bao nhiêu người, hao tốn tiền của, ảnh hưởng rất nhiều đến công việc. Mỗi người bị bệnh mất khoảng 10 ngày cùng với khoảng 100.000 đồng tiền thuốc để chăm sóc mắt bị bệnh. Bệnh lây lan rất nhanh chóng và dễ dàng do virut tồn tại ở môi trường tới vài ngày, kháng cồn và ê-the tốt. Đường lây cũng rất đa dạng: tiếp xúc trực tiếp, qua nước bọt, qua sinh hoạt tình dục. Chúng ta không giơ tay đầu hàng với căn bệnh này thế nhưng chính người bệnh và các bác sĩ chuyên khoa mắt phải có ý thức phòng bệnh cho mình và cộng đồng thì dịch mới có thể được ngăn chặn. Lạm dụng thuốc, điều trị tùy tiện cũng làm khoảng 10-15% bệnh nhân bị đau mắt dịch có những biến chứng có thể làm giảm thị lực hay mù lòa như viêm loét giác mạc, sẹo giác mạc…

Viêm kết mạc do các chủng virut khác như do herpes simplex, virut zona mang tính cá nhân. Cần thăm khám thận trọng và hỏi bệnh kỹ càng mới chẩn đoán chính xác được.

Điều trị nói chung chỉ cần nước muối sinh lý 0,9%, kháng sinh nhỏ mắt. Việc dùng các thuốc chống viêm hay kháng virut sẽ cần tư vấn của bác sĩ chuyên khoa mắt.

Viêm kết mạc dị ứng: Có từ 25 – 40% dân số có viêm kết mạc dị ứng với các mức độ khác nhau. Số lượng bệnh nhân có vẻ ngày càng tăng do ô nhiễm môi trường, khí hậu trái đất nóng lên. Bên cạnh đó thì mất cân bằng dinh dưỡng, tiêu thụ mỡ động vật quá nhiều, dùng kháng sinh bừa bãi cũng là nguyên nhân khả dĩ của sự gia tăng này. Viêm kết mạc dị ứng có 3 dạng: viêm kết mạc mùa xuân, viêm kết mạc cơ địa dị ứng và viêm kết mạc có nhú khổng lồ. Hai dạng đầu thường xuất hiện trên người có cơ địa dị ứng, gây bệnh sớm ngay trong 10 năm đầu đời. Dạng thứ 3 liên quan đến việc mang kính tiếp xúc. Chẩn đoán xác định khá phức tạp. Nhưng bù lại chúng ta cần chú ý hai điểm mấu chốt: bệnh nhân đến viện chủ yếu do ngứa mắt, điều trị bằng nước mắt nhân tạo và thuốc kháng dị ứng nhỏ mắt đem lại dễ chịu nhanh cho người bệnh.

Các thuốc điều trị dị ứng nói chung và dị ứng tại mắt nói riêng đã gặt hái được rất nhiều thành công. Các thuốc kháng histamin loại nhỏ mắt, thuốc ức chế giải phóng hạt từ dưỡng bào, cyclosporin lần lượt ra đời nhằm xoa dịu cái ngứa của bệnh nhân. Tránh nóng, tránh tiếp xúc với dị nguyên, giải mẫn cảm đặc hiệu cũng là những biện pháp cần thiết để giảm tần suất phải nhập viện điều trị.

Đỏ mắt do các nguyên nhân hiếm gặp khác: Bệnh nhân thường đến muộn và đến khám ở tuyến cuối do những nguyên nhân rất đặc thù: viêm củng mạc, viêm tổ chức hốc mắt, thông động tĩnh mạch cảnh xoang hang…

Đỏ mắt xem ra cũng không hẳn là giản đơn và vô hại. “Cái sảy nảy cái ung” là lời các cụ vẫn thường nói. Do vậy cả bệnh nhân và thầy thuốc đều không nên chủ quan khi thấy đỏ mắt.

BS. Hoàng Cương
Theo SKĐS

Ngừa đục nhân mắt bằng rau lá xanh

Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra rằng các chất chống oxi hóa có trong rau chân vịt, cải và nhiều loại rau khác giúp người già ngăn chặn được bệnh đục nhân mắt.

Trong một thử nghiệm, tiến sĩ Joshua A.Bomser và các nhà khoa học tại Đại học Ohio thuộc bang Columbus (Mỹ) đã nuôi tế bào thuỷ tinh thể trong phòng thí nghiệm. Sau đó nhóm chọn ra một số tế bào và đưa chúng vào các ống nghiệm có lutein, zeaxanthin, vitamin E. Số còn lại không được cho tiếp xúc. Cuối cùng, họ cho tất cả tế bào vào môi trường có bức xạ cực tím, mục đích là giảm thiểu tác động của ánh sáng mặt trời.

ngua_duc_nhan_mat_bang_rau_la_xanh

Kết quả cho thấy những tế bào được tiếp xúc với tác nhân chống ôxi hoá ít bị tổn hại hơn so với các tế bào kia. Nhóm tế bào được tiếp xúc với lutein, zeaxanthin ít bị tổn hại hơn nhiều so với nhóm tế bào tiếp xúc với vitamin E.

“Phát hiện của chúng tôi cho thấy lutein và zeaxanthin có tác dụng bảo vệ tế bào mắt khỏi những tổn hại do quá trình oxi hoá gây ra. Mà những chất này lại có rất nhiều trong rau lá xanh, chẳng hạn như cải củ xanh, cải xoăn, rau chân vịt”, Bomser nói.

Bệnh đục nhân mắt xuất hiện khi các protein trong thuỷ tinh thể bắt đầu kết khối với nhau, tạo thành một mảng đục làm giảm thị lực của mắt. Càng tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời, nguy cơ mắc bệnh càng tăng. Có nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng những người ăn nhiều rau quả có tỷ lệ bị đục nhân mắt thấp hơn. Đặc biệt, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng vitamin E và C, có nhiều trong rau quả, có tác dụng bảo vệ tế bào cơ thể khỏi những tổn hại do các phân tử gốc tự do gây ra. Các phân tử gốc tự do là sản phẩm “không mong đợi” của quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Chúng gây ra quá trình oxi hóa, nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh trong đó có ung thư.

Bomser cho biết các chất chống oxi hoá trong rau quả, thực phẩm có tác dụng tốt hơn các loại dược phẩm bổ sung tác nhân oxi hoá. Tuy nhiên, việc uống các loại thuốc bổ sung lutein và zeaxanthin cũng đem lại hiệu quả cao.

Việt Linh (theo Reuters)
Theo ykhoa.net

Khi nào nên mổ đục nhân mắt

Giảm thị lực là biểu hiện quan trọng của đục nhân mắt, là loại bệnh thường gặp ở người từ 55 tuổi trở lên. Bên cạnh tình trạng nhìn mờ, nhìn khó, nhiều người bệnh còn có cảm giác nhìn đôi, nhìn qua màn sương.

Nguyên nhân của bệnh chủ yếu do sự lão hoá của tuổi già. Các yếu tố khác như môi trường, uống nhiều rượu, hút thuốc lá, tiếp xúc với tia tử ngoại, đái tháo đường… cũng tác động đến tình trạng đục nhân mắt. Bởi vậy, đục nhân mắt ở người già là chuyện tất nhiên.

khi_nao_nen_mo_duc_nhan_mat

Hiện nay, phương pháp mổ Phaco lạnh thay nhân mắt nhân tạo được áp dụng hiệu quả ở nước ta. Nhưng không phải ai cũng có chỉ định mổ. Quan trọng nhất là mức độ giảm thị lực và nguyên nhân giảm thị lực là đục nhân mắt chứ không phải do các yếu tố khác. Trước khi mổ, người bệnh cần phải được khám sức khỏe tổng thể, đặc biệt là các bệnh ở mắt hay gặp ở người già như thoái hoá hoàng điểm, viễn thị, bệnh võng mạc do đái tháo đường… để có những chỉ định phù hợp nhất.

Hiện nay, chỉ định thay nhân mắt nhân tạo cho những bệnh nhân có thị lực dưới 4/10. Do vậy, khi thị lực còn tốt (còn 7/10 ở mắt trái và 8/10 mắt phải)  thì chưa nằm trong chỉ định cần phải mổ. Để khắc phục tình trạng giảm thị lực, nên có định kỳ đến khám ở các bệnh viện mắt để có tư vấn về dùng kính và theo dõi mắt được chu tất.

BS Hoàng Xuân Đại
Theo Báo lao động

Thuốc điều trị viêm thần kinh thị giác

Viêm thần kinh thị giác là hiện tượng viêm, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính, xảy ra trên dây thần kinh thị giác, có thể chỉ ở một phần hoặc toàn bộ, tại một điểm nào đó hay toàn bộ chiều dài của dây thần kinh.

Người bệnh thấy thị lực giảm sút nhanh hay rất nhanh (trong hình thái cấp tính), hoặc từ vài ba ngày tới vài tuần (đối với hình thái mạn tính). Có thể mù hẳn. Sự nhận biết màu sắc của người bệnh bị rối loạn, thậm chí có trường hợp không còn phân biệt được màu sắc thị giác. Phản xạ ánh sáng giảm. Đồng tử không đồng đều giữa hai mắt. Bên mắt bị bệnh có đồng tử co kém và chậm hơn khi có kích thích ánh sáng. Có thể xảy ra vào tháng thứ 3 sau lần bị bệnh đầu tiên.

thuoc_dieu_tri_viem_than_kinh_thi_giac

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm thị thần kinh:

Tại mắt: mọi viêm nhiễm trong nhãn cầu đều có thể gây ra viêm gai thị có những nguyên nhân là các bệnh lý như: Viêm màng bồ đào, viêm hắc mạc, viêm võng mạc do virut cự bào trong bệnh AIDS, viêm nội nhãn…

Các ổ nhiễm khuẩn lân cận thị thần kinh như viêm tai, viêm mũi-xoang, viêm họng, viêm amidal, sâu răng

Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân cấp và mạn tính cũng có khả năng dẫn đến viêm thị thần kinh.

Ngoài ra, các loại virut (đậu mùa, cúm, thấp khớp, bạch hầu, sốt phát ban, quai bị); nhiễm nấm (nấm Candida albicans thường gây viêm hắc võng mạc kết hợp với viêm gai thị, hay gặp ở người nghiện heroin, suy giảm miễn dịch. Một số nấm khác cũng gây viêm thị thần kinh là cryptoccose, aspergillose, histoplasmose); các nhiễm khuẩn của hệ thần kinh (viêm não, viêm màng não là nguyên nhân của một số trường hợp bị bệnh)…

Việc điều trị bệnh chủ yếu là loại trừ nguyên nhân mới khỏi bệnh hoàn toàn.

Người bệnh cần được khám bệnh toàn diện và điều trị theo các chuyên khoa tai mũi họng, thần kinh, truyền nhiễm, dị ứng. Ngừng ngay việc sử dụng các chất gây nhiễm độc thị thần kinh.

Tại mắt, cần giải quyết rối loạn tuần hoàn, dinh dưỡng tại dây thần kinh, chống viêm, chống nhiễm khuẩn. Ngay sau khi có chẩn đoán xác định, người bệnh cần được điều trị ngay bằng corticoid. Thuốc corticoid có thể được chỉ định với liều rất cao, dùng cả đường uống lẫn đường tiêm. Trong trường hợp này, bệnh nhân bắt buộc phải nằm viện để theo dõi toàn trạng.

Các loại kháng sinh có thể được cho dùng tuỳ theo tác nhân gây bệnh là loại nào. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể người bệnh phải dùng tới thuốc ức chế miễn dịch (bệnh Behcet). Ngoài ra, có thể dùng các loại thuốc giãn mạch dùng theo đường toàn thân (uống) và tại chỗ (tiêm cạnh nhãn cầu) cùng các vitamin nhóm B (như B1, B6, B12).

Viêm thị thần kinh là một bệnh mắt nặng cần được khám phát hiện bệnh cùng nguyên nhân gây bệnh sớm, điều trị tích cực mới có khả năng phục hồi chức năng thị giác, tránh tái phát cùng các biến chứng và di chứng nặng nề.

ThS. BS. Nguyễn Đức Thành
Theo SKĐS

Viêm xoang có thể gây mù mắt

Rất nhiều người giảm thị lực, thậm chí mù đột ngột mà không biết rằng đó là biến chứng của viêm mũi xoang. Do nằm gần nhau nên tình trạng viêm nhiễm ở mũi xoang ảnh hưởng rất lớn tới mắt.

Hốc mắt được bao bọc bởi hệ thống các xoang mặt. Đáy của xoang trán là trần ổ mắt; thành trên của xoang hàm cấu tạo nên bờ dưới ổ mắt; mũi ngăn cách với ổ mắt bởi một vách xương rất mỏng; còn khối bên xoang sàng ở ngay liền cạnh mắt. Do có những liên quan chặt chẽ về mặt cấu trúc nên những viêm nhiễm từ mũi xoang có thể gây hại đến mắt như viêm nề ổ mắt, viêm mí. Bệnh thường xuất hiện đột ngột và rút lui nhanh chóng. Sau khi có triệu chứng sổ mũi, nhức đầu, bệnh nhân bị sưng mí mắt, nề màng tiếp hợp, lồi nhãn cầu, đau nhức mắt… Nếu dùng kháng sinh, các hiện tượng này sẽ hết nhưng bệnh tích của xoang vẫn tiến triển.

viem_xoang_co_the_gay_mu_mat

Các biến chứng khác ở mắt do viêm xoang:

Áp xe mí mắt: Là biến chứng của những viêm xoang mạn tính đợt cấp. Áp xe có thể khu trú ở mí trên (viêm xoang trán, xoang sàng) hay mí dưới (xoang hàm). Mí mắt sưng to, nóng, đỏ và đau. Rãnh giữa mí và gờ ổ mắt bị đầy. Màng tiếp hợp đỏ và nề, nhãn cầu di động bình thường. Độ 4-5 hôm, túi mủ sẽ vỡ ra ở 1/3 trong của mí mắt.

Viêm túi lệ: Xương lệ vừa mỏng lại vừa có những lỗ thông với xoang và mũi nên rất dễ bị viêm. Da vùng góc trong ổ mắt sưng và đỏ, hiện tượng này lan ra mí mắt và màng tiếp hợp. Bệnh nhân sốt và đau nhức nhiều, khoảng 3-4 hôm túi mủ tự vỡ, chỗ vỡ có thể tự liền hoặc thành lỗ rò chảy nước và túi lệ bị viêm mạn tính.

Viêm tấy ổ mắt: Viêm mủ tổ chức mỡ trong ổ mắt. Bệnh nhân thấy đau nhói trong ổ mắt, đau xuyên lên đầu. Mắt sưng húp, lồi và không di động được, sưng lan cả lên vùng thái dương.

Viêm dây thần kinh thị giác (dây thần kinh chi phối mắt): Thường là do viêm xoang sàng sau và xoang bướm. Thị lực của bệnh nhân tự nhiên giảm sút đột ngột, có thể tự phục hồi hoặc để lại những di chứng về sức nhìn. Trong những trường hợp này, biểu hiện bệnh xoang lại rất mờ nhạt: không ngạt mũi, không sổ mũi, ít khi nhức đầu. Khám xoang chỉ thấy ít mủ hoặc chất xuất tiết nhầy từ khe trên chảy xuống họng.

Ở trẻ em, viêm xoang cấp gây những biến chứng nặng nề như viêm xoang sàng xuất ngoại (mủ chảy ra ngoài làm thành túi mủ ở góc trong ổ mắt) hoặc cốt tủy viêm xương hàm trên (sưng phồng ở phần má, dưới ổ mắt), đôi khi dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Để tránh được những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra, người bệnh cần đi khám ngay khi bắt đầu có những triệu chứng của viêm mũi xoang; tuyệt đối điều trị theo đúng hướng dẫn của các thầy thuốc tai mũi họng.

ThS Phạm Bích Đào, Sức Khỏe & Đời Sống
Theo ykhoa.net

Thoái hóa hoàng điểm ở người cao tuổi: Cách phòng và chữa bệnh

Thoái hóa hoàng điểm (THHĐ) là một tổn thương phức tạp, đa dạng và không phục hồi, do tổn thương phức hợp mao mạch hắc mạc – màng bruch và biểu mô sắc tố. THHĐ gặp ở người cao tuổi là nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh mù loà ở người trên 60 tuổi.

Phát hiện THHĐ thế nào?

Thoái hoá hoàng điểm dạng teo: thường tổn thương cả hai mắt, đối xứng. Có sự tiêu huỷ tế bào nón và tế bào gậy ở vùng hoàng điểm, kéo theo quá trình  thoái hóa của biểu mô sắc tố. Tổn thương gặp trong hình thái này là teo biểu mô sắc tố hoặc có sự tích tụ chất thải dưới biểu mô sắc tố hình thành Drusen. Bệnh nhân thấy thị lực giảm từ từ, khi nhìn vật, bệnh nhân cần ánh sáng nhiều hơn lúc chưa bị bệnh. Người bệnh khó chịu vì giảm thị lực nhìn gần, có ám điểm trung tâm ngày càng lớn hơn và tối hơn. Hình ảnh đáy mắt có 2 loại: một là có một mảng tổn thương ở trung tâm màu nhạt hơn võng mạc xung quanh, hình tròn hoặc hình bầu dục, đó là mảng teo biểu mô sắc tố, qua đó có thể nhìn thấy được những tân mạch máu hắc mạc. Chụp huỳnh quang thì sớm thấy rõ mạch máu hắc mạc trong vùng tổn thương. Ở thì sau thấy tăng huỳnh quang nhanh toàn bộ vùng teo biểu mô sắc tố. Hai là có kèm theo thoái hoá Drusen. Trên huỳnh quang sẽ thấy nhiều mảng tăng huỳnh quang rải rác đến tận chu biên võng mạc. Số ít trường hợp có thể có biến chứng tân mạch dưới võng mạc.

thoai_hoa_hoang_diem_o_nguoi_cao_tuoi_cach_phong_va_chua_benh

Tổn thương thoái hóa hoàng điểm (x).

THHĐ dạng xuất tiết là những thoái hoá có tân mạch dưới võng mạc tiến triển. Người ta phân loại dựa vào các dấu hiệu: tân mạch nhìn thấy được; tân mạch không nhìn thấy được; bong biểu mô sắc tố. Tân mạch nhìn thấy được hay gặp trên những người tuổi cao hơn. Thị lực giảm nhanh với hội chứng hoàng điểm: nhìn vật biến dạng, hình ảnh các đường thẳng biến dạng sóng, khi đọc sách báo thấy dòng chữ không thẳng, có khi cong queo gãy khúc, có chữ chệch ra ngoài, lên trên hoặc xuống dưới. Phân biệt màu sắc kém nhất là màu xanh và màu vàng. Lúc đó, các tân mạch hình thành đã gây tiết dịch và xuất huyết ở hoàng điểm làm biến dạng hình ảnh khi nhìn. Thị trường: xuất hiện ám điểm tương ứng. Ám điểm tương đối khi hoàng điểm phù nề. Ám điểm tuyệt đối khi có xuất huyết, xơ sẹo vùng hoàng điểm. Khám thấy võng mạc vùng hậu cực phù trắng, sâu. Có xuất huyết nông thành một vòng tròn hoặc thành một vành ở bờ của tân mạch. Xuất huyết sâu thường cho hình ảnh một khối đội võng mạc màu đen sẫm dễ nhầm với khối u. Có xuất tiết màu vàng nhiều hoặc ít. Giai đoạn sau thành hình vòng quanh một vùng tân mạch nhìn thấy được. Phù hoàng điểm dạng nang. Tổn thương Drusen. Teo biểu mô sắc tố. Chụp mạch huỳnh quang sẽ thấy tăng huỳnh quang rất sớm ngay từ thì hắc mạc. Những biểu hiện của nhánh tân mạch này có thể là dạng lưới hoặc như một vòng bánh xe. Những dấu hiệu tăng huỳnh quang khác có thể kèm theo như Drusen, hiệu ứng cửa sổ do teo biểu mô sắc tố.

Nhóm nguy cơ THHĐ

THHĐ gồm 2 dạng: dạng teo khô chiếm 90% các trường hợp bệnh và dạng xuất tiết (ướt) chiếm 10%, nhưng lại chiếm 90% số người mất thị lực nghiêm trọng. Một số đối tượng có nguy cơ cao bị THHĐ là: người cao tuổi, những người trên 50 tuổi có khoảng 2% bị bệnh, nhưng trên 75 tuổi số bị bệnh lên tới 30%; nồng độ cholesterol máu cao dễ bị mắc THHĐ dạng xuất tiết; hút thuốc lá; chế độ ăn mất cân đối kéo dài; không kiểm soát được huyết áp; di truyền…

Hình thái tân mạch không nhìn thấy được: gặp ở những người trên 50 tuổi. Có hội chứng hoàng điểm. Triệu chứng lâm sàng có thể giống hình thái trên nhưng dấu hiệu trên huỳnh quang thường không thể hiện rõ tân mạch ở thì sớm mà chỉ rõ sự lấp đầy huỳnh quang ở thì muộn. Những giả thuyết cho rằng có một số đặc điểm khác như lớp biểu mô sắc tố tổn hại ít, không bị teo mà có khi lại phì đại xung quanh tân mạch làm thành một rào chắn khít hơn. Những tân mạch mới hình thành thì kích thích thước rất bé cho nên thấm chất màu rất nhẹ. Tuy vậy sự mất bù của tế bào nội mạc có thể được xác định dưới dạng những chấm tăng huỳnh quang rất mảnh ở bờ của màng tân mạch loại này. Lưu lượng máu qua mạng mao mạch tân tạo này còn rất chậm ở giai đoạn đầu. Trong quá trình tiến triển, lưu lượng máu sẽ tăng lên và thấm qua thành mạch nhiều hơn, tân mạch sẽ trở nên nhìn thấy được. Máu, sắc tố và những sản phẩm chuyển hoá là nguyên nhân cho màng tân mạch này thấm chất đều và đẫm, thêm vào đó là chất lỏng dưới võng mạc trở nên quánh hơn. Hiện nay để bộc lộ được những tân mạch, người ta sử dụng chất Vert – Indocyanine và dùng ánh sáng hồng ngoại (Infrarouge) để nhìn rõ được cấu trúc dưới biểu mô sắc tố, giúp chẩn đoán xác định tân mạch không nhìn thấy được, nói đúng hơn là những tân mạch bị che lấp bởi máu, xuất tiết và lớp biểu mô sắc tố.

Phòng và chữa bệnh

Phương pháp phòng bệnh là: đeo kính râm bảo vệ mắt chống tia cực tím; ngừng hút thuốc lá, thuốc lào; ăn nhiều rau xanh, hoa quả chín  và cá; dùng thuốc có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho hoàng điểm, võng mạc như thuốc có chứa vitamin C, E, beta-caroten… khám mắt định kỳ mỗi năm 1-2 lần, nhất là người trên 50 tuổi.

Việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ và ngăn chặn các biến chứng của bệnh nhất là khi đã có sự xuất hiện của tân mạch. Đầu tiên là phải kiểm soát được huyết áp, mỡ trong máu, không hút thuốc… Dùng các thuốc hỗ trợ để cung cấp thêm dinh dưỡng cho mắt như các vitamin và protein cần thiết cho sự hoạt động của các tế bào thị giác. Dùng laser để phá hủy các tân mạch. Ở nước ngoài người ta dùng thuốc tiêm vào trong mắt để ức chế sự phát triển tân mạch võng mạc.

BS. Đặng Thị Ngọc Ba
Theo SKĐS

Nên cảnh giác với những nguyên nhân gây mù lòa

Theo các bác sĩ chuyên khoa mắt, nếu đột ngột có cảm giác ruồi bay hoặc lóe sáng có thể báo hiệu vấn đề mắt trầm trọng, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến mù lòa.

TS. Sanjay Sharma và cộng sự thuộc Trường đại học ở Ontario (Mỹ) nhận thấy cứ 7 bệnh nhân có các triệu chứng này, thì có 1 bệnh nhân bị rách hoặc bong võng mạc. Theo họ, nếu được phát hiện và điều trị bằng laser kịp thời, có thể tránh được nguy cơ mù lòa. Tuy nhiên, khi dịch đã tích tụ dưới võng mạc và gây bong võng mạc, khi đó là quá muộn.

nen_canh_giac_voi_nhung_nguyen_nhan_gay_mu_loa

Rách võng mạc là tổn thương rất khó đánh giá, cần phải có công cụ kỹ thuật cao và kiểm tra toàn bộ nhãn cầu. Nhóm nghiên cứu đã phân tích gần 200 bài báo khoa học và sử dụng phân tích tổng hợp (meta-analysis) 17 bài, nhận thấy rách võng mạc xảy ra ở 14% trường hợp mới xuất hiện ruồi bay liên quan tới biến đổi dịch kính do tuổi.

Theo nhóm nghiên cứu, nếu ruồi bay mới xuất hiện gây giảm thị lực, thị trường, hoặc xuất hiện máu hoặc vẩn đục trong dịch kính, thì nguy cơ rách võng mạc cao hơn. Vì rách võng mạc có thể dẫn tới bong võng mạc tới 50% trường hợp, nên cảm giác lóe sáng và ruồi bay mới xuất hiện là rối loạn cần được kiểm tra kịp thời.

Anh Tú (Theo JAMA, 11/2009)
Theo SKĐS

Tăng huyết áp có ảnh hưởng đến mắt?

Tôi bị tăng huyết áp phải uống thuốc đã vài tháng nay, nghe nói tăng huyết áp có thể gây mờ mắt. Tôi phải phòng tránh bệnh cho mắt thế nào, thưa bác sĩ ?

Hoàng Văn Vinh
(Tây Ninh)

tang_huyet_ap_co_anh_huong_den_mat

Tổn thương bong võng mạc có thể do nguyên nhân tăng huyết áp.

Bệnh tăng huyết áp mà không điều trị đúng, không kiểm soát được huyết áp sẽ  gây  biến chứng ở nhiều bộ phận như: não, tim, thận, võng mạc mắt… Ở mắt tổn thương có thể là: chảy máu trong mắt, tắc nghẽn mạch máu ở mắt, phù gai thị… làm giảm thị lực. Nếu tắc tĩnh mạch võng mạc gây ứ trệ làm các chất trong mạch máu thấm vào võng mạc gây phù nề võng mạc, giảm thị lực. Khi đó bệnh nhân đột ngột bị mờ mắt, thấy hiện tượng ruồi bay với rất nhiều đốm đen bay trước mắt. Vì khi tắc tĩnh mạch võng mạc sẽ sinh ra những mạch máu mới rất dễ vỡ gây chảy máu ở bên trong mắt tạo nên hiện tượng ruồi bay. Bệnh nhân còn bị đau do tăng nhãn áp. Nếu không điều trị sớm sẽ gây các biến chứng: cườm nước, xuất huyết trong mắt, bong võng mạc, mù mắt. Tuy nhiên, các biến chứng này đều có thể phòng tránh nếu phát hiện và điều trị sớm. Bạn nên đi khám để được bác sĩ điều trị đúng bệnh tăng huyết áp là cách phòng bệnh tốt nhất. Bên cạnh đó, bạn cần khám định kỳ tại chuyên khoa mắt để được chẩn đoán và điều trị kịp thời tổn thương mắt do tăng huyết áp.

BS. Nguyễn Minh Hạnh
Theo SKĐS

Làm gì khi trẻ bị quặm bẩm sinh?

Từ nhỏ mắt con tôi thường xuyên có dử và hay chảy nước mắt. Cháu hay dụi mắt và quấy khóc. Tôi cho cháu đi khám, bác sĩ nói cháu bị quặm bẩm sinh. Xin hỏi bệnh của cháu có phải mổ không? Có nguy hiểm lắm không?

Nguyễn Thanh Nga(Hà Nội)

lam_gi_khi_tre_bi_quam_bam_sinh

Quặm bẩm sinh là hiện tượng bờ mi lộn vào trong đẩy hàng lông mi cọ xát vào giác mạc, gặp ở trẻ em từ khi mới sinh ra, có thể phát triển ngày càng nặng thêm nếu không được điều trị. Bệnh hay gặp ở những trẻ có khuôn mặt bụ bẫm, gốc mũi thấp, tẹt. Do hàng lông mi cọ xát vào giác mạc làm trẻ khó chịu luôn luôn dụi mắt. Mắt kích thích gây chảy nước mắt, đỏ mắt, có thể có dử, nếu kéo dài có thể gây viêm kết mạc. Nếu không được điều trị, lông mi làm tổn thương giác mạc, gây chợt giác mạc. Nếu bệnh tiến triển nặng và kéo dài có thể gây viêm loét giác mạc để lại sẹo làm giảm thị lực.

Ở độ tuổi con bạn (và những trẻ nhỏ hơn), lông mi chưa đủ cứng để gây tổn hại giác mạc do đó có thể tra thuốc cho trẻ (dung dịch nước muối sinh lý 0,9% hoặc dung dịch kháng sinh như tobrex) và vuốt bờ mi cho cháu nhằm mục đích làm cho bờ mi bật ra ngoài, lông mi không cọ vào giác mạc tránh tổn hại giác mạc. Nếu bệnh không tự mất đi thì có thể phẫu thuật  khi trẻ lớn hơn.

Phẫu thuật điều trị quặm bẩm sinh được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên về nhãn khoa là phẫu thuật tương đối đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, không để lại sẹo gây mất thẩm mỹ. Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như hay dụi mắt, chảy nước mắt cần đưa trẻ đến các cơ sở nhãn khoa để được khám và điều trị.

ThS. Nguyễn Văn Huy
Theo SKĐS

Quặm mi mắt bẩm sinh

Quặm bẩm sinh là hiện tượng bờ mi lộn vào trong đẩy hàng lông mi cọ sát vào giác mạc, gặp ở trẻ em từ khi mới sinh ra, có thể phát triển ngày càng nặng thêm nếu  không được điều trị.

Tỷ lệ quặm bẩm sinh mi dưới ở trẻ em vào điều trị tại Khoa Mắt Trẻ em, Bệnh viện Mắt Trung ương là 2,03% (số liệu năm 2000).

Khi bị quặm trẻ khó chịu hay dụi mắt, chảy nước mắt gây viêm kết mạc, trợt biểu mô và nặng hơn là viêm loét giác mạc để lại sẹo gây giảm thị lực. Đến nay điều trị quặm vẫn chủ yếu là phẫu thuật.

quam_mi_mat_bam_sinh_01

Quặm bẩm sinh mi dưới

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh hay gặp ở những trẻ có khuôn  mặt bụ bẫm, gốc mũi thấp, tẹt. Do hàng lông  mi cọ sát vào giác mạc làm trẻ khó chịu luôn luôn dụi mắt. Mắt kích thích gây chảy nước mắt, đỏ mắt, có thể có dử, nếu kéo dài có thể gây viêm kết mạc. Nếu không được điều trị, lông  mi làm tổn thương giác mạc, gây trợt giác mạc. Nếu bệnh tiến triển nặng và kéo dài có thể gây viêm loét giác mạc để lại sẹo làm giảm thị lực.

Cần phải phân biệt trẻ bị quặm bẩm sinh với trẻ bị tắc lệ đạo. Ở trẻ bị tắc lệ đạo cũng thường có chảy nước mắt kéo dài, ra dử mắt, nhưng không gây đỏ mắt. Khi thăm khám nếu trẻ không phối hợp, quấy khóc nhiều, mắt nhắm thì có thể chẩn đoán nhầm với quặm bẩm sinh. Tuy nhiên nếu thăm khám kỹ kết hợp với bơm rửa lệ đạo có thể giúp chẩn đoán phân biệt dễ dàng với quặm bẩm sinh.

Ngoài ra cũng cần lưu ý phân biệt quặm bẩm sinh với tật hai hàng lông mi, đó là tình trạng xuất hiện một hàng lông mi thứ hai ngay phía sau hàng lông mi thứ nhất bình thường. Dị tật này có thể xuất hiện đơn độc hoặc đi kèm với những bất thường bẩm sinh khác, nhiều tác giả cho rằng bệnh có liên quan đến di truyền nhiễm sắc thể thường.

quam_mi_mat_bam_sinh_02

Lông mi quặt vào trong.

Ðiều trị

Ở những trẻ nhỏ dưới 1 tuổi,  lông mi chưa đủ cứng để gây tổn hại giác mạc do đó có thể  cho trẻ tra thuốc (dùng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% hoặc dung dịch kháng sinh như tobrex) và hướng dẫn cho bố mẹ trẻ cách vuốt bờ mi nhằm mục đích làm cho bờ mi bật ra ngoài,  lông mi không cọ vào giác mạc tránh tổn hại giác mạc. Nếu bệnh không tự mất đi thì có thể phẫu thuật  khi trẻ lớn hơn.

Phẫu thuật điều trị quặm bẩm sinh được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên về nhãn khoa là phẫu thuật tương đối đơn giản, thời gian phẫu thuật ngắn, không để lai sẹo gây mất thẩm mỹ. Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như hay dụi mắt, chảy nước mắt cần đưa trẻ đến các cơ sở nhãn khoa để được khám và điều trị.

BS.ThS. Nguyễn Văn Huy
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh loét giác mạc

Nếu ví con mắt như một cái máy ảnh, thì giác mạc là một thấu kính quan trọng trong hệ thống quang học của máy ảnh đó. Giác mạc chiếm đến 2/3 lực khúc xạ của mắt, vì vậy những tổn thương trên giác mạc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực của người bệnh. Một trong những tổn thương rất nặng của giác mạc gây ảnh hưởng trầm trọng đến thị lực là bệnh loét giác mạc.

tim_hieu_benh_loet_giac_mac

Nguyên nhân gây loét giác mạc

Đây là một bệnh khá thường gặp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến mù lòa. Loét giác mạc là hiện tượng mất tổ chức giác mạc do hoại tử, gây ra bởi một quá trình viêm trên giác mạc. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra loét giác mạc: do vi khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh, moraxella…); do nấm (aspergillus fumigatus, fusarium solant, candida albicans, histoblasma,…); do virut (her pes simple, herpes zoster) hoặc do ký sinh trùng (acanthamoeba). Khi giác mạc còn nguyên vẹn thì hầu hết các yếu tố gây bệnh không xâm nhập được vào giác mạc. Loét giác mạc thường xuất hiện sau một chấn thương gây tổn hại lớp tế bào biểu mô (lớp tế bào bề mặt của giác mạc). Chấn thương giác mạc có thể từ bên ngoài: chấn thương trong sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là chấn thương trong nông nghiệp (do hạt thóc bắn vào mắt hoặc lá  quệt vào mắt). Do vậy, trong các mùa gặt số lượng bệnh nhân bị loét giác mạc thường tăng lên. Tổn thương giác mạc cũng có thể do bệnh tại mắt (do lông quặm, lông xiêu cọ vào mắt) hoặc do những phương pháp điều trị phản khoa học: đánh mộng mắt bằng búp tre, đắp nhái vào mắt để điều trị…

Biểu hiện của bệnh

Khi bị loét giác mạc bệnh nhân sẽ thấy  mắt bị đỏ, đôi khi sưng nề, mắt cộm chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, rất khó mở mắt. Thị lực bệnh nhân giảm nhiều, trường hợp nặng mắt chỉ còn cảm nhận được ánh sáng. Khám mắt sẽ thấy mi và kết mạc phù nề, trường hợp nặng có thể gây sụp mi mắt. Trên giác mạc có một ổ loét. Tùy nguyên nhân mà ổ loét có đặc điểm khác nhau. Nếu loét giác mạc do vi khuẩn: ổ loét có ranh giới không rõ, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử bẩn, khi nhuộm giác mạc bằng fluorescein 2% ổ loét sẽ bắt màu xanh, nếu ổ loét hoại tử nhiều sẽ có màu vàng xanh. Nếu loét giác mạc do nấm: ổ loét ranh giới rõ, bờ gọn thường có hình tròn hoặc bầu dục, đáy ổ loét thường phủ một lớp hoại tử dày, đóng thành vảy gồ cao, bề mặt vảy khô ráp và khó bóc. Nếu loét giác mạc do virut herpes: ổ loét có thể có hình cành cây hoặc hình địa đồ. Nếu loét giác mạc do acanthamoeba (amíp): ổ loét giác mạc thường kèm theo áp xe giác mạc hình vòng. Giác mạc xung quanh ổ loét bị mờ đi (do thâm nhiễm các tế bào viêm và dịch). Tiền phòng có thể có ngấn mủ.

Điều trị bệnh

Loét giác mạc là môt bệnh nặng, khó điều trị và gây ra nhiều biến chứng. Khi điều trị khỏi bệnh sẽ để lại sẹo trên giác mạc gây giảm thị lực. Trường hợp bệnh nặng, điều trị không hiệu quả có thể phải bỏ nhãn cầu.

Khi bị loét giác mạc, bệnh nhân cần phải đến khám tại các cơ sở nhãn khoa. Tại đây, nhân viên y tế nạo ổ loét giác mạc lấy bệnh phẩm, làm xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh và điều trị bằng các thuốc đặc hiệu. Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc trong những trường hợp nặng có thể phải phẫu thuật ghép giác mạc, với mục đích thay thế giác mạc bệnh lý bằng mô giác mạc lành. Bệnh nhân tuyệt đối không được mua thuốc tại các hiệu thuốc để tự điều trị. Hiện nay, tại các hiệu thuốc có rất nhiều loại thuốc nhỏ mắt có chứa corticosteroid được bán tràn lan. Nếu bệnh nhân bị loét giác mạc mà dùng những thuốc này sẽ làm bệnh trở nên trầm trọng và gây ra những biến chứng rất nguy hiểm. Khi bị các chấn thương mắt dù nhẹ bệnh nhân cũng nên đến các cơ sở nhãn khoa để khám và điều trị, tránh để muộn có thể gây ra biến chứng loét giác mạc. Đặc biệt, khi bị bụi bay vào mắt, bệnh nhân nên đến cơ sở y tế để lấy, không nên tự ý lấy hoặc nhờ người khác lấy ra có thể gây biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân cũng không nên dụi mắt vì sẽ làm tổn thương nặng thêm.

Theo SKĐS

Những phương pháp điều trị cận thị hiệu quả

Những người đang trăn trở về bệnh cận thị nếu hy vọng tìm kiếm những gì thực sự mới, thực sự hài lòng chắc sẽ thất vọng, ngay cả khi bạn vào những trang web của chuyên ngành nhãn khoa. Cận thị nằm trong bốn nguyên nhân gây giảm thị lực hàng đầu trên phạm vi toàn cầu. Tại châu Á, cận thị được ví như quả bom dịch tễ đã nổ mà không ai biết nguyên do từ đâu với tỷ lệ 80% sinh viên bị cận thị… Những thông tin nóng bỏng đó hoàn toàn trái ngược với những gì khiêm tốn đang có: kiên nhẫn đeo kính, mổ laser và phẫu thuật nếu có biến chứng.

Các nghiên cứu về dịch tễ vốn rất tốn kém đã giúp chúng ta khẳng định thêm về những gì đã có: nhìn gần lâu dài, nhìn trong môi trường thiếu ánh sáng đóng góp phần lớn vào nguyên nhân phát sinh cận thị. Để thêm vững tin về kết luận này, một nghiên cứu tại Singapore đã chứng minh học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa nhiều sẽ giảm được nguy cơ cận thị ít nhiều.

nhung_phuong_phap_dieu_tri_can_thi_hieu_qua

Điều trị cận thị nhất thiết phải được thực hiện tại những cơ sở chuyên khoa.

Về mặt di truyền, đã có thêm những nghiên cứu quan trọng. Khi nghiên cứu hơn 800 cặp sinh đôi cùng trứng tại Trung Quốc, người ta thấy điều kiện môi trường chỉ làm thay đổi khoảng 20% cá thể bị cận thị. Điều này cho thấy di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong hình thành cận thị. Bất thường về nhiễm sắc thể số 5, vị trí q5 liên quan đến những thay đổi về trục nhãn cầu sẽ làm phát sinh cận thị trục, đó là kết luận của nhóm nghiên cứu của Trung Quốc tiến hành trên 893 cá thể. Tuy nhiên để chắc chắn về điều này cần tiến hành nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn. Có lẽ vì bối rối trong hướng nghiên cứu nên nhóm tác giả người Anh lại đi tìm liên quan giữa việc mùa sinh, giờ sinh với việc hình thành cận thị nặng. Kết luận có vẻ làm chúng ta nghi ngờ: người sinh mùa hè hay mùa thu có tỷ lệ bị bệnh thấp hơn người sinh vào mùa đông. Một vài nghiên cứu đơn lẻ khác nói về liên quan giữa cận thị với những khiếm khuyết của hệ tạo keo (collagene) hay hệ thần kinh – còn myeline gai thị. Cũng dễ hiểu vì mắt có cấu trúc thần kinh cao cấp, giác mạc và củng mạc được coi là có cấu trúc mô học dạng collagene.

Điều trị cận thị bằng laser vẫn được ca ngợi nhiều nhất với tỷ lệ thành công cao, biến chứng ít, có nhiều phương pháp cải biên khiến cho chỉ định mổ rộng rãi hơn nhiều. Biến chứng của cận thị nặng như lỗ hoàng điểm, rách hay bong võng mạc là những biến chứng nguy hiểm. Thế nhưng ngày nay y khoa có thể khắc phục tốt bằng những phương pháp và vật liệu phẫu thuật mới. Dầu silicon, khí nở, laser nội nhãn, máy cắt dịch kính và hệ thống quang học phụ trợ là vũ khí được các phẫu thuật viên võng mạc dịch kính sử dụng để đương đầu hiệu quả với những biến chứng trên.

Tân mạch dưới võng mạc cũng là biến chứng đáng lo ngại của cận thị nặng. Cùng với những sản phẩm mới của ngành dược về thuốc chống sinh tân mạch, điều trị ung thư như Avastine, ngành mắt cũng có những ứng dụng quan trọng như tiêm nội nhãn Macugen hay gần đây là Bevacizumab, điều trị khá hiệu quả với các dạng tân mạch dưới võng mạc do thoái hóa hoàng điểm, cận thị bệnh ly… Tuy nhiên giá thành của 1 mũi tiêm không hề rẻ ngay cả đối với bệnh nhân các nước giàu.

Bên cạnh đó, có những giải pháp cho những bệnh nhân nghèo. Đó là việc dùng thuốc. Một thuốc khá kinh điển với ngành mắt là atropine, vốn chỉ được dùng để liệt điều tiết và giãn đồng tử, được một nhóm nghiên cứu tại Singapore thử nghiệm trên 400 trẻ từ 6 – 12 tuổi, ngày nhỏ 1 lần vào ban đêm, liên tục trong 2 năm thấy giảm được độ cận thị là 1,2D+/_0,69. Một nhóm nghiên cứu của Mỹ có một ứng dụng khá thú vị là dùng thuốc chữa loét dạ dày indapamide, thuốc kháng histamin tại thụ thể H2, liên tục trong 2 năm có thể làm giảm độ cận thị từ 0,75 đến 4D. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu thêm nữa mới có thể đem hai thuốc trên ứng dụng đại trà.

Các thuốc bổ mắt có chứa vitamin C, vitamin E, beta-caroten, kẽm hiện đang được bán rộng rãi trên thị trường, đáng tiếc là chỉ chống được những thoái hóa do cận thị chứ không ngăn cản được cận thị tăng số.

Để điều trị bệnh cận thị, nhất thiết phải được điều trị tại các cơ sở chuyên khoa và dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ. Đặc biệt không được nghe theo sự mách bảo của người khác.

BS. Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt Trung ương)
Theo SKĐS

Vì đâu trẻ bị cận thị

Nguyên nhân  gây bệnh cận thị là gì?

Hai nguyên nhân chính gây bệnh cận thị là do bẩm sinh và mắc phải. Bệnh bẩm sinh do yếu tố di truyền, cha mẹ cận thị thì con cũng bị cận thị. Loại này có đặc điểm là độ cận cao, có thể trên 20 đi ốp, độ cận tăng nhanh cả khi đã ở tuổi trưởng thành, có nhiều biến chứng như: thoái hóa hắc võng mạc, xuất huyết hoàng điểm, bong hoặc xuất huyết thể pha lê, rách hay bong võng mạc…, khả năng phục hồi thị lực của bệnh nhân kém dù được điều trị. Bệnh cận thị mắc phải thường gặp ở lứa tuổi học sinh, do các em học tập, làm việc, nhìn gần nhiều trong điều kiện thiếu ánh sáng, mắt không được nghỉ ngơi hợp lý. Đặc điểm là mức độ cận nhẹ hay trung bình dưới 6 đi ốp, bệnh tiến triển chậm, ít tăng độ, độ cận thường ổn định đến tuổi trưởng thành, ít bị biến chứng.

vi_dau_tre_bi_can_thi

Biểu hiện của trẻ bị cận như thế nào?

Người cận thị bị  giảm thị lực, nên muốn phát hiện bệnh cần đo thị lực. Song trước đó phải dựa vào các biểu hiện sau đây để đưa bệnh nhân đi khám mắt: lúc xem tivi trẻ phải  lại gần mới xem được; đọc bài hay bị nhảy hàng hoặc phải dùng ngón tay để dò theo các chữ khi đọc; ở lớp trẻ phải lại gần bảng mới nhìn được, khi viết nhiều chữ viết sai, thiếu, hoặc phải chép bài của bạn; hay nheo mắt hoặc nghiêng đầu khi nhìn vật ở xa; hay dụi mắt mặc dù trẻ không buồn ngủ; thường kêu mỏi mắt, nhức đầu, hay chảy nước mắt; sợ ánh sáng hoặc bị chói mắt;  không thích các hoạt động phải nhìn xa… Kết quả đo thị lực trẻ bị cận ở một hoặc cả hai mắt. Cận thị bẩm sinh thường được phát hiện khi trẻ 1-2 tuổi, độ cận cao và tăng độ nhanh bất bình thường. Cận thị mắc phải  ở trẻ em thường xuất hiện ở khoảng 5-6 tuổi.

Chữa trị cận thị ra sao?

Theo Tổ chức Y tế  Thế giới, có khoảng trên 800 triệu người bị cận thị. Lứa tuổi học sinh (từ 7-16 tuổi) rất dễ mắc chứng cận thị, độ cận thị tiến triển càng nhanh do mức độ làm việc nhìn gần  bằng mắt càng nhiều. Một thống kê cho thấy: số người mắc tật khúc xạ tại Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 30% trong tổng số bệnh nhân đến khám; tỷ lệ bệnh  và mức độ cận cũng tăng lên theo cấp học của học sinh, tỷ lệ cận thị ở học sinh đầu cấp là 18%.

Có nhiều phương pháp điều trị cận thị, phổ biến nhất là đeo kính; lắp kính sát tròng; mổ laser. Đeo kính là cách thông dụng, rẻ tiền, dễ áp dụng. Tuỳ theo mức độ cận thị, bệnh nhân cần đeo kính  thường xuyên hay chỉ cần đeo kính khi nhìn xa. Nếu bệnh nhân cận thị được chỉnh kính đúng thì tiến triển cận thị sẽ chậm lại, không bị tăng độ. Tuy nhiên khi đeo kính, góc nhìn bị thu hẹp, hình ảnh bị thu nhỏ và gây vướng víu cho bệnh nhân. Sử dụng kính sát tròng thì bệnh nhân phải giữ gìn vệ sinh tốt, đeo kính vào sáng sớm và tháo ra buổi tối trước khi ngủ. Không được đeo kính sát tròng khi xuống nước như khi đi tắm biển. Bệnh nhân đeo kính sát tròng cần được kiểm tra giác mạc 3 tháng một lần, phải ngưng sử dụng kính nếu có bất thường trên giác mạc hoặc có phản ứng của mắt với kính. Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có thể điều trị bằng phương pháp mổ laser. Phẫu thuật này khá phổ biến, chính xác và có hiệu quả cao nhất trong phẫu thuật khúc xạ hiện nay, nhất là dùng excimer laser. Ưu điểm là không đau, thời gian phẫu thuật ngắn dưới 10 phút, độ chính xác cao, hơn 90% bệnh nhân trở về dưới 0,5 đi ốp, phục hồi thị lực nhanh, bệnh nhân nhìn rõ sau mổ 12-24 giờ. Tuy nhiên có thể có những biến chứng trong khi phẫu thuật như rách vạt, đứt vạt giác mạc với tỷ lệ rất thấp dưới 1%, hoặc biến chứng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật. Phương pháp đặt thủy tinh thể nhân tạo trong mắt được sử dụng khi bị cận nặng, có kèm bệnh đục thủy tinh thể. Dùng vật lý trị liệu như luyện tập điều tiết trên máy, dùng sóng siêu âm, điện, điện tử, laser năng lượng thấp có tác dụng làm phục hồi chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng  cường trương lực cơ.

Phòng tránh bệnh và hạn chế độ cận bằng cách nào?

Muốn phòng tránh bệnh cận thị có hiệu quả cần thực hiện tốt các biện pháp sau: Phải bảo đảm đủ ánh sáng trong các phòng học, lớp học cho trẻ em. Ánh sáng trong khi học tập, làm việc phải được phân bố đều và có cường độ tốt để không gây lóa mắt. Nên bố trí đèn chiếu sáng trong phòng và một ngọn đèn bàn đặt phía bên tay trái trên bàn học ở nhà của trẻ. Sách và tài liệu có chữ in rõ ràng trên giấy không quá bóng để tránh bị loá mắt.

Trong lớp nên xếp trẻ cận thị ngồi gần bảng. Không nên học tập, làm việc bằng mắt liên tục và kéo dài nhiều giờ. Nên cho mắt nghỉ ngơi từ 5 đến 10 phút bằng cách nhắm mắt lại hoặc thư giãn bằng cách nhìn ra xa sau mỗi giờ học. Không nên đọc sách trong bóng tối hoặc ngồi trước máy vi tính quá nhiều sẽ gây mỏi mắt. Hạn chế và giảm những triệu chứng mỏi mệt điều tiết do cận thị gây ra, cần làm việc ở khoảng cách thích hợp, từ mắt đến sách khoảng 30 – 40 cm.

Theo SKĐS

Lựa chọn mới cho trẻ bị cận thị nặng

Lần đầu tiên tại Việt Nam, các bác sĩ Bệnh viện Mắt Việt Nga đã thành công trong tạo hình củng mạc điều trị cận thị nặng cho trẻ em chỉ trong vòng 15 – 20 phút. Đây là một phẫu thuật ít tổn thương và không có biến chứng đáng kể giúp làm giảm mức độ tiến triển của bệnh cận thị xuống 2,5 lần và ngăn chặn sự xuất hiện các biến chứng gây giảm thị lực và mù lòa cho trẻ.

Nhiều ưu điểm khi điều trị cận thị bằng phương pháp mới

TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich, Bệnh viện Mắt quốc tế Việt Nga cho biết, để điều chỉnh tật khúc xạ, ngoài việc đeo kính và điều trị nội khoa, đối với các trường hợp cận thị tiến triển hoặc cận thị nặng, trước đây người ta dùng phương pháp rạch giác mạc hình nan hoa, làm thay đổi hình thể giác mạc và bệnh nhân nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, phẫu thuật này dễ gây ra nhiều biến chứng nặng nề: không được tốt và ổn định, gây mờ đục giác mạc, gây mù. Năm 1983, người ta phát hiện ra rằng tia laser excimer có tác động làm thay đổi hình thể giác mạc mà không làm tổn hại phần còn lại. Kỹ thuật này không phải dùng những đường rạch giác mạc theo hình nan hoa, hình thể giác mạc được làm thay đổi dưới tác động của laser. Sự bào mòn giác mạc được thực hiện tinh xảo làm cho một phần mô của giác mạc như bị “bốc hơi” từ bề mặt giác mạc. Phẫu thuật có độ chính xác cao nên cho kết quả ổn định, giảm được đáng kể các biến chứng phẫu thuật. Tuy nhiên, với phương pháp này, từ 2 – 4 ngày của giai đoạn phục hồi là thời gian bệnh nhân phải chịu cảm giác khó chịu nhất. Đó là thời gian giác mạc biểu mô hoá, bệnh nhân có cảm giác sợ ánh sáng, thấy cộm, đau nhức nhẹ và còn chưa nhìn rõ. Thời gian thích nghi sau mổ thường kéo dài khoảng 3 – 4 tuần. Hiện nay, phổ biến là phương pháp lasik. Bằng một dụng cụ chuyên dụng, người ta tạo một vạt giác mạc rồi nâng lên để bộc lộ phần giác mạc phía dưới. Phần giác mạc được bộc lộ này sẽ chịu tác động để thay đổi cấu trúc nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra, sau đó vạt giác mạc sẽ được đặt lại vào vị trí cũ. Phương pháp này đã hạn chế được các nhược điểm của các phương pháp trên. Tuy nhiên, nó chỉ thực hiện được ở các bệnh nhân trên 18 tuổi. Đặc biệt, với những bệnh nhân có tật khúc xạ không ổn định do trục nhãn cầu bị kéo dài, phương pháp lasik không đáp ứng được yêu cầu về cơ chế bệnh sinh.

lua_chon_moi_cho_tre_bi_can_thi_nang

Cấu tạo của mắt

Để ngăn ngừa cận thị tiến triển, đặc biệt giúp nhãn cầu ổn định, các chuyên gia Nga đã nghiên cứu và ứng dụng thành công phương pháp tạo hình củng mạc. TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich cho biết, đây là loại phẫu thuật nhằm gia cố củng mạc (lớp màng ngoài cùng của nhãn cầu). Phẫu thuật này không giúp tăng thị lực cho bệnh nhân mà ngăn chặn sự tiến triển của cận thị do trục nhãn cầu bị kéo dài, nhờ đó ngăn chặn sự suy giảm thị lực và ổn định cận thị. Phương pháp tiến hành rất đơn giản, trẻ trên 10 tuổi gây tê tại chỗ, dưới 10 tuổi gây mê. Thông qua một vết cắt rất nhỏ trong mắt, các chuyên gia  sẽ đưa vào thành sau của nhãn cầu bốn miếng ghép củng mạc, gắn chặt vào củng mạc của bệnh nhân giúp củng mạc bền chắc, nhờ đó nhãn cầu không bị kéo giãn ra, đồng thời nó có tác dụng hoạt huyết cho nhãn cầu giúp ngăn chặn thoái hóa võng mạc ngoại vi, một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân cận thị nặng và tiến triển.

TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich cho biết, chỉ định của phẫu thuật này là những bệnh nhân bị cận thị từ 3D trở lên và tăng dần hàng năm. Sau phẫu thuật 5 – 7 ngày, bệnh nhân bình phục mà không phải áp dụng chế độ sinh hoạt đặc biệt nào, chỉ cần tránh tiếp xúc hay va đập trực tiếp vào mắt. Đặc biệt, phẫu thuật gần như không có chống chỉ định cũng như tác dụng phụ nghiêm trọng.

Không chủ quan với tật khúc xạ

Các chuyên gia về mắt cho biết, nhiều người cứ nghĩ cận thị là một tật khúc xạ đơn giản, chỉ cần đeo kính nhưng thực tế, cận thị tiến triển nếu không được điều trị sẽ gây thoái hóa mắt, mất thị lực và mù lòa. Hiện nay, đây là căn bệnh học đường đang có chiều hướng gia tăng mạnh ở cả trẻ em thành phố và nông thôn. Các bác sĩ cho hay, đối với các bệnh về mắt ở trẻ gây ảnh hưởng đến khả năng nhận biết hình thể, sử dụng bàn tay, sự nhanh nhạy, năng động, giao tiếp xã hội… gây ra nhiều hạn chế trong việc học tập và giao tiếp, khám phá thế giới xung quanh. Đặc biệt, các bệnh về mắt còn làm cho quá trình giảm thị lực và lão hóa xảy ra nhanh hơn, có thể dẫn tới mù lòa.

Theo TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich, phần lớn cận thị ở trẻ là do trục nhãn cầu bị kéo dài ra nên hình ảnh sẽ rơi trước võng mạc, thay vì rơi đúng trên võng mạc nên trẻ buộc phải nhìn gần. Khi trục nhãn cầu bị kéo dài ra dẫn tới cấu trúc bên trong của mắt cũng bị kéo giãn, đặc biệt là võng mạc. Từ đó sẽ xuất hiện những thay đổi do đáy mắt bị thoái hóa, hậu quả cuối cùng là mất thị lực không hồi phục. Đối với những trường hợp nhẹ, ít tiến triển thì trẻ có thể đeo kính nhưng với những trường hợp tiến triển nhanh, độ cận thị ngày một gia tăng thì các bậc cha mẹ nên cho trẻ đi khám và lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất.

Hà Anh
Theo SKĐS

Côn trùng có thể gây mất thị lực

Gần đây, khoa Kết – giác mạc của Bệnh viện Mắt Trung ương liên tục tiếp nhận nhiều bệnh nhân mắt sưng và loá do bị côn trùng bay vào mắt, làm tổn thương giác mạc.

Đây là thời điểm giao mùa nên thường có nhiều loại côn trùng bay trong không trung, đặc biệt vào chiều tối.

Khi đi xe máy, với vận tốc 40 – 60 km/h, cộng với tốc độ bay của côn trùng, côn trùng sẽ trở thành một “viên đạn” có sức công phá khá mạnh đối với mắt. Các loài côn trùng thường có rất nhiều lông, các lông tơ này có thể xuyên qua giác mạc, vào sâu trong nhãn cầu. Chúng tôi đã khám và điều trị cho nhiều bệnh nhân bị lông côn trùng xuyên qua giác mạc, nằm sâu trong tiền phòng. Các dị vật này là dị vật sinh học nên kích thích rất nhiều, gây viêm nhiễm, chảy nước mắt, nhìn mờ. Hậu quả của nó rất nghiêm trọng, gây kích thích kéo dài, mắt đỏ, chảy nước mắt và giảm thị lực.

con_trung_co_the_gay_mat_thi_luc_01

Con vật nhỏ bé này có thể công phá mắt bạn như một viên đạn. (Ảnh: N.A)

Khi bị côn trùng bay vào mắt, không nên dụi mắt liên tục mà ngay lúc đó cần nhúng mắt trong một cốc nước sạch và nháy liên tục để dị vật hoặc côn trùng trôi ra. Nếu cảm thấy vẫn còn dị vật trong mắt, mắt cộm, ngứa, đỏ, chảy nước mắt, đau nhức thì cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa mắt để các bác sĩ kiểm tra và điều trị kịp thời.

Tuyệt đối không dùng các loại lá cây, côn trùng đắp vào mắt theo mách bảo, rất nguy hiểm. Việc điều trị dị vật do lông côn trùng rất nan giải. Do lông côn trùng rất nhỏ, dài, dễ gãy nên quá trình lấy dị vật ra là rất khó khăn. Nếu muốn lấy hết dị vật thì có thể làm tổn thương giác mạc trầm trọng. Nếu không lấy được dị vật, bệnh nhân cần được điều trị bằng thuốc kháng sinh, chống viêm tích cực. Việc điều trị cần kéo dài cho đến khi quá trình viêm ổn định, để thải hết lông côn trùng.

Do điều trị dị vật do côn trùng rất khó khăn, bệnh nhân bị giảm thị lực nhiều nên việc phòng bệnh là rất quan trọng. Khi đi xe máy, nên đội mũ bao hiểm có kính chắn hoặc đeo kính bảo vệ mắt. Đeo kính đi đường ban đêm, chúng ta thường bị loá mắt, nhất là khi có đèn pha của xe đi ngược chiều, nhưng sau một thời gian đeo kính sẽ nhanh chóng quen với hiện tượng này.

Theo 24h

Tật khúc xạ và các phương pháp điều trị

Tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) là nguyên nhân gây giảm thị lực hàng đầu đối với người dưới 50 tuổi. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (2007) trên thế giới có 153 triệu người bị tật khúc xạ đang sống và làm việc với thị lực kém hoặc mù do không được chỉnh kính.

Mắt chính thị là mắt có hệ thống quang học (giác mạc, thể thuỷ tinh, dịch kính) bình thường nên các tia sáng từ vô cực chạy tới mắt, qua các môi trường trong suốt, rồi hội tụ đúng trên võng mạc khiến ta nhìn rõ vật. Mắt có tật khúc xạ là mắt có hệ thống quang học khuất triết không đúng, khiến các tia sáng không hội tụ trên võng mạc mà lại hội tụ ở trước hoặc sau võng mạc làm hình ảnh của vật mà ta nhìn thấy bị mờ đi.

Nguyên nhân của tật khúc xạ có thể do bẩm sinh, di truyền (60% các trường hợp). Số còn lại là do tác động của môi trường như thời gian và mức độ sử dụng mắt (làm việc bằng mắt quá nhiều ≥8h/ngày và quá lâu liên tục ≥2 giờ), cường độ ánh sáng quá tối và nhìn vật quá gần, sau phẫu thuật mắt hoặc chấn thương mắt… Chính vì vậy, để phòng mắc tật khúc xạ, chủ yếu cận thị, cần đảm bảo khi ngồi học, đọc, viết đúng tư thế (ngồi thẳng lưng, ngay ngắn, không cúi sát xuống bàn) và đủ ánh sáng, không đọc sách, làm việc bằng mắt ở khoảng cách gần liên tục quá lâu, quá nhiều. Sau 1 giờ đọc sách hoặc làm việc với máy vi tính cần nghỉ 5 – 10 phút, xoa nhẹ mi mắt.

tat_khuc_xa_va_cac_phuong_phap_dieu_tri

Sơ đồ cấu trúc mắt.

Hậu quả do tật khúc xạ

Tật khúc xạ khiến bệnh nhân nhìn mờ, mỏi mắt, co quắp mi ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ và chất lượng cuộc sống. Một số loại tật khúc xạ (viễn thị nặng, loạn thị, lệch khúc xạ) có thể gây lác mất sự phối hợp thị giác 2 mắt dẫn đến nhược thị một mắt. Cận thị nặng có thể gây biến chứng bong võng mạc dẫn đến mù loà.

Tật khúc xạ có thể chữa được

Phương pháp đơn giản nhất là đeo kính thuốc, vừa an toàn, hiệu quả đem lại sự cải thiện to lớn về chức năng thị giác, vừa kinh tế, thuận tiện. Bệnh nhân cần đến các trung tâm lớn, có uy tín để được khám, phát hiện đúng loại tật khúc xạ và cấp đơn kính đúng số.

Phương pháp điều trị tiên tiến nhất là phẫu thuật bằng laser excimer. Về bản chất, đây là môi trường bao gồm các phân tử argon – fluorid ở trạng thái kích hoạt. Do mang năng lượng cao và bước sóng 193nm, laser excimer có khả năng phá vỡ sự liên kết giữa các phân tử và nguyên tử protein của tổ chức giác mạc tạo ra những đường cắt phẳng, mịn và chính xác. Hiện tại, 2 phẫu thuật chính được sử dụng trong điều trị tật khúc xạ bằng laser excimer là Photo Refractive Keratectomy (PPK) và Laser in Situ Keratomileusis (LASIK). Trong phẫu thuật PRK, lớp biểu mô giác mạc được lấy đi, sau đó laser excimer sẽ tác động trực tiếp lên bề mặt giác mạc để làm thay đổi độ cong giác mạc. Còn trong phẫu thuật LASIK, người ta tạo một vạt giác mạc, lật lên, sau đó laser excimer sẽ tác động trực tiếp lên phần nhu mô của giác mạc. Sau khi laser bắn xong, vạt giác mạc được đậy lại.

Cả hai phương pháp phẫu thuật trên đều có mục đích làm thay đổi độ cong của giác mạc. Người ta điều trị cận thị bằng cách bắn laser vào vùng trung tâm giác mạc, làm cho giác mạc dẹt hơn. Khi đó, bán kính trung tâm của giác mạc tăng lên, do vậy công suất khúc xạ giảm đi. Đối với viễn thị thì ngược lại: laser excimer bắn ở vùng chu vi của giác mạc, làm giác mạc cong hơn. Từ đó, bán kính trung tâm giác mạc giảm đi, dẫn đến công suất khúc xạ giác mạc tăng lên.

Chỉ định trong những trường hợp nào?

Phương pháp phẫu thuật này được chỉ định cho các bệnh nhân trên 18 tuổi bị tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) từ 1 diop trở lên, thị lực tăng khi thử kính và mức độ ổn định của tật khúc xạ tối thiểu là  6 tháng (thay đổi không quá 0,5 diop). Nếu bệnh nhân đeo kính tiếp xúc thì phải bỏ kính ít nhất 2 tuần.

Trường hợp chống chỉ định

Không thể áp dụng laser excimer cho các trường hợp bị tật khúc xạ có kèm khô mắt nặng, lồi mắt, viêm bờ mi, viêm màng bồ đào hoặc các viêm nhiễm khác trong nội nhãn đang tiến triển, glôcôm, tổn hại dịch kính, võng mạc, có thai  và cho con bú, tật giác mạc hình chóp, các bệnh collagen…

Kết quả phẫu thuật rất tốt, thường đạt thị lực tối đa ngay ngày đầu sau mổ. Một số trường hợp khúc xạ chưa điều chỉnh theo mong muốn có thể đeo kính, mang kính tiếp xúc hoặc bắn laser bổ sung lần 2.

Tóm lại: Tật khúc xạ trong đó có cận thị được coi là một ưu tiên cần phòng tránh và điều trị sớm bởi tật khúc xạ không được hiệu chỉnh đúng sẽ gây ra khiếm thị. Người khiếm thị thực sự là gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội.

TS. Nguyễn Xuân Hiệp  (PGĐ BV Mắt Trung ương)
Theo SKĐS

Mổ đục thể thủy tinh: Những điều cần biết

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đục thể thuỷ tinh là nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Có khoảng 25 đến 50 triệu người trên toàn cầu có thị lực < 1/20 là do đục thể thuỷ tinh.

Bình thường, thể thủy tinh (TTT) là một thấu kính hội tụ trong suốt, vô mạch, hai mặt lồi, đảm nhiệm khoảng 1/3 tổng công suất hội tụ của mắt nhưng cùng với tuổi tác thì tính trong suốt của nó không còn nữa, các tia sáng khi đi qua vùng bị đục sẽ bị tán xạ mạnh gây giảm thị lực.

Ngoài ra, chấn thương nhãn cầu, cận thị, viêm màng bồ đào, đái tháo đường hay do dùng thuốc corticosteroid kéo dài cũng có thể gây ra đục TTT.

Làm sao để phát hiện bị đục TTT?

Trong các biểu hiện của đục TTT thì triệu chứng quan trọng nhất là giảm thị lực, đặc biệt là thị lực nhìn xa. Giảm thị lực cũng rất khác biệt, từ mức còn một vài phần mười đến mức chỉ còn nhận biết được ánh sáng tuỳ thuộc vào mức độ đục và vị trí của vùng đục. Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân nhìn thấy những điểm đen trước mắt. Một số người lớn tuổi thấy có hiện tượng giảm số kính đọc sách hoặc nhận thấy nhìn gần rõ hơn do có sự xơ cứng của nhân làm tăng công suất khúc xạ của TTT và gây cận thị ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Thông thường các bệnh nhân bị đục TTT hay phàn nàn vì cảm giác loá mắt khi gặp ánh đèn pha trước mặt hoặc trong các điều kiện chiếu sáng tương tự vào buổi tối.

Có thể khám phát hiện đục TTT bằng ánh sáng thường, máy soi đáy mắt và đặc biệt là khám bằng đèn khe của máy sinh hiển vi. Khi đồng tử giãn tối đa, các bác sĩ dễ dàng khẳng định chẩn đoán, đánh giá mức độ và tình trạng đục thể thuỷ tinh. Đục do tuổi già thường là đục vỏ, nhân và dưới bao sau. Bên cạnh việc quan sát TTT cũng cần chú ý phát hiện thêm các bệnh phối hợp: glôcôm, thoái hóa hoàng điểm do tuổi già, bệnh võng mạc đái tháo đường,  các dạng thoái hóa giác mạc…

mo_duc_the_thuy_tinh_nhun_dieu_can_biet

Thể thủy tinh bình thường (bên phải ảnh) và thể thủy tinh bị đục.

Đục TTT có chữa được không?

Đục TTT là bệnh chữa được. Cho đến nay phương pháp điều trị có hiệu quả duy nhất vẫn là phẫu thuật. Phương pháp hiện đại nhất hiện nay là phương pháp PHACO đặt thể thuỷ tinh nhân tạo. Phương pháp này sử dụng năng lượng siêu âm để tán nhuyễn rồi hút nhân TTT ra ngoài, sau đó đặt thể thuỷ tinh nhân tạo vào trong túi bao TTT. Chính vì vậy mà vết mổ rất nhỏ, đặc biệt trong kỹ thuật PHACO lạnh chỉ còn là 2mm, tiền phòng luôn được khép kín nên an toàn hơn, vết mổ liền sẹo nhanh, ít bị loạn thị sau mổ, thị lực phục hồi nhanh chóng và ổn định, bệnh nhân có thể xuất viện ngay trong ngày. Các loại TTT nhân tạo cũng được cải tiến không ngừng. Từ loại TTT nhân tạo đơn tiêu (chỉ cho hình ảnh rõ nét ở một khoảng cách nhất định, những vật ở gần hơn hay xa hơn khoảng cách này đều bị mờ, phải chỉnh kính mới thấy rõ), ngày nay đã có loại TTT nhân tạo mới: TTT đa tiêu cự. Loại TTT nhân tạo này gồm nhiều vòng tròn đồng tâm với công suất quang học khác nhau nên mắt nhìn được vật cả ở gần và xa mà không phải đeo kính giống như thị lực của người bình thường chưa lão thị; thích hợp với những mắt bị đục TTT đơn thuần mà độ loạn thị dưới 1 diop, không kèm bệnh lý khác về mắt. Với những mắt đục TTT có  kèm loạn thị >1 diop, nên đặt loại TTT chống loạn thị – là loại TTT nhân tạo mới xuất hiện trong một vài năm gần đây. Tuy nhiên sự lựa chọn thể thuỷ tinh nhân tạo còn tùy thuộc nhu cầu cũng như điều kiện kinh tế của mỗi bệnh nhân.

Chỉ định mổ khi nào?

Chỉ định mổ chủ yếu dựa vào mức độ giảm thị lực. Thị lực kém hơn 4/10 sẽ được xem xét để chỉ định phẫu thuật. Cũng cần quan tâm đến những yếu tố khác như tuổi của người bệnh, tính chất công việc, điều kiện sống, nhu cầu dùng mắt hàng ngày… để thúc đẩy hay trì hoãn can thiệp phẫu thuật. Bệnh nhân bị đục TTT nên mổ càng sớm càng tốt, không nên để TTT đục quá chín gây biến chứng tăng nhãn áp mới đi mổ vì khi đó phẫu thuật sẽ phức tạp hơn và khả năng phục hồi thị lực sẽ kém hơn.

Những điều cần chú ý

Nếu không có các bệnh tại mắt khác thì có khoảng 95% bệnh nhân thu được thị lực >5/10. Ngoài việc thị lực được cải thiện, còn có những lợi ích đáng kể khác cho bệnh nhân: cải thiện khả năng nhận biết màu sắc, tăng khả năng đọc và nhìn gần, tăng khả năng lao động, di chuyển và lái xe. Sau mổ, bệnh nhân cần dùng thuốc theo đơn và hướng dẫn của thày thuốc, không tự ý mua thuốc ở ngoài. Bệnh nhân không cần ăn kiêng; cần tránh đập tay vào mắt và có thể tập thể dục nhẹ nhàng như đi bộ, dưỡng sinh, không nên chơi bóng bàn, cầu lông hay tennis để phòng bóng đập vào mắt. Các biến chứng viêm nhiễm thường nhẹ và kiểm soát được. Biến chứng muộn đục bao sau có thể khắc phục bằng laser YAG dần dần đã trở thành phổ biến cùng với số lượng đông đảo bệnh nhân được mổ đặt TTT nhân tạo.

TS. Nguyễn Xuân Hiệp (PGĐ BV Mắt Trung ương)
Theo SKĐS

Lệch thể thủy tinh

Lệch thể thủy tinh có thể xảy ra ở bệnh mắt. Người bị hội chứng rối loạn tổ chức tạo keo như hội chứng Marphan, hội chứng Marchésanie dễ bị lệch thể thủy tinh. Còn nói chung, thể thủy tinh hay bị lệch do chấn thương va đập vào vùng mắt. Thực ra, đụng đập mắt còn có thể gây ra các tổn thương khác (chảy máu tiền phòng, đứt chân mống mắt, chảy máu dịch kính, chảy máu đáy mắt, bong võng mạc, rách hắc mạc… ). Ở đây, chúng tôi chỉ nói khu trú vào tổn thương lệch thể thủy tinh.

lech_thuy_tinh_the

Thể thủy tinh là chiếc thấu kính sinh học, hội tụ, dẻo như nhựa dẻo, cỡ bằng hạt ngô, treo rất cân sau đồng tử. Nếu nó bị lệch đi rõ rệt thường làm tăng nhãn áp, giảm thị lực hoặc gây cảm giác nhìn khác thường. Nếu bịt mắt lành lại, nhìn riêng bằng mắt bị tai nạn, có thể nhìn một vật thành hai. Qua thể thủy tinh là một hình, qua chỗ thể thủy tinh đã lệch là một hình khác, do khúc xạ khác nhau. Và khi nó đã bị lệch rõ rệt thì ít bị bỏ sót khi soi khám. Thế nhưng với loại lệch nhẹ, lệch kín đáo gọi vui là “lệch khéo” thì có thể bị bỏ qua. Soi khám thấy đồng tử tròn đều, diện mộng mắt phẳng đều, thị lực như mắt bên lành. Thế nhưng bệnh nhân có cảm giác nhìn bị khác thường, nhìn phía nào đó thấy loáng loáng như những giọt nước hoặc làn nước mỏng.

Gần đây, một kỹ thuật viên sửa máy cửa hàng kính tôi làm bị đầu chiếc gậy đâm chéo vào gốc sống mũi, cạnh vùng mắt. Tổn hại vùng bị gậy chọc không rách da, không bầm tím. Bệnh nhân đã đến chuyên khoa mắt khám, không phải vì thị lực giảm hoặc mắt rách thủng gì mà chỉ vì cảm giác nhìn như có các giọt nước sau khi bị gậy chọc gốc mũi. Kết quả chuyên khoa mắt ghi: “Mắt bình thường”. Bệnh nhân nhờ tôi xem lại, tôi cũng không hơn gì, bảo bình thường. Mấy hôm sau hỏi bệnh nhân còn cảm giác nước loang loáng không, bệnh nhân bảo nó vẫn thế. Tôi cho thuốc giãn đồng tử, loại giãn mạnh để khám lại thì thấy thể thủy tinh lệch phía thái dương, các dây treo đã đứt một số, giơ cuống ra như vết áo khâu đứt chỉ. Đo nhãn áp thấy không cao, thị lực tốt nhưng ảo giác làn nước loang loáng thì bệnh nhân phải sống chung với nó. Có điều là mắt bị tổn thương về lâu dài rất dễ chuyển sang đục thể thủy tinh. Nếu sau này lệch chuyển thành đục thì người bệnh nhớ nói với thầy thuốc khám chuyên khoa là trước đây bị lệch thể thủy tinh (để chuyên khoa trù liệu khả năng thoát dịch kính ra ngăn trước khi lấy thể thủy tinh đục). Một điều nữa chúng ta cũng nên biết là các va đập cạnh vùng mắt (trán, gò má, gốc mũi, thái dương) khi bị va đập thẳng hoặc chéo cũng có khi gây lệch thể thủy tinh mắt do lực phản hồi.

BS. Hoàng Sinh
Theo SKĐS