Tag Archives: giảm đau

Cách phòng ngừa áp-xe quanh amiđan

Áp-xe quanh amiđan là hiện tượng viêm tấy, hóa mủ tổ chức liên kết lỏng lẻo nằm quanh amiđan – giữa amiđan và thành bên họng. Người bệnh được phát hiện bị áp-xe quanh amiđan thường là trẻ lớn và người lớn.

Vì sao amiđan bị áp-xe?

Nguyên nhân hay gặp của áp-xe quanh amiđan là do viêm amiđan cấp mủ không được điều trị hoặc vì độc tố vi khuẩn cao hoặc do vi khuẩn kháng lại thuốc kháng sinh mà người bệnh sử dụng. Vi khuẩn gây áp-xe quanh amiđan được xác định khi lấy mủ của khối áp-xe đi nuôi cấy. Người ta thấy sự xuất hiện của vi khuẩn gây bệnh trong những trường hợp này là tụ cầu, liên cầu, xoắn khuẩn, vi khuẩn kị khí và ái khí, trong đó có liên cầu bêta tan huyết nhóm A. Viêm amiđan lại là loại bệnh hay gặp trong giai đoạn chuyển mùa, do đó kéo theo sự gia tăng của áp-xe quanh amiđan khi thời tiết thay đổi.

cach-phong-ngua-ap-xe-quanh-amidan

Khám phát hiện sớm viêm aminđan

Viêm amiđan là nhóm bệnh hay gặp, đứng hàng đầu trong những bệnh lý về họng, tỷ lệ viêm amiđan chiếm khoảng 10% dân số. Bệnh biểu hiện cấp tính hay mạn tính, tuy nhiên đây là bệnh rất hay tái phát và có thể gây các biến chứng nguy hiểm, nhất là trong các đợt cấp, mà áp-xe quanh amiđan là một trong số các biến chứng đó.

Áp-xe quanh amiđan xuất hiện khi nào?

Một áp-xe quanh amiđan điển hình xuất hiện sau viêm amiđan cấp khoảng 5 – 7 ngày. Bạn có thể nghĩ đến việc bị áp-xe quanh amiđan nếu thấy đau họng liên tục trong khi vẫn đang được sử dụng kháng sinh, mức độ đau tại họng giảm trong một hai ngày đầu, sau đó lại tăng lên ngày một nặng. Đặc điểm đau họng trong áp-xe quanh amiđan là đau lan lên tai khi nuốt, đau nhức vùng góc hàm. Đi kèm theo là sốt 39 – 40ºC, gai rét, rất mệt mỏi, môi khô, lưỡi dày có nhiều giả mạc trắng đục trên bề mặt. Sau đó người bệnh bắt đầu cảm thấy nuốt khó, nước bọt chảy nhiều, bẩn, hơi thở hôi, giọng nói bị thay đổi, trở nên đầy đầy, khó nghe do eo họng bị thu hẹp. Giai đoạn muộn khi khối áp-xe lan ra vùng cơ cắn sẽ gây ra hiện tượng khít hàm. Có thể có khó thở khi khối áp-xe lấp kín họng miệng rồi lan dần xuống họng thanh quản.

Thăm khám sẽ thấy amiđan một bên sưng to, đỏ, bề mặt amiđan có mủ trắng nhưng dễ lấy bỏ. Phần trước của amiđan căng phồng, niêm mạc phù nề. Amiđan bị đẩy lệch vào trong và ra sau hoặc ra trước tùy theo thể áp-xe amiđan. Lưỡi gà mọng nước, di động kém. Áp-xe amiđan thường bị một bên. Hạch cùng bên cũng sưng to, ấn đau do phản ứng viêm lan tới hạch. Cũng giống như những viêm nhiễm thông thường, xét nghiệm máu sẽ thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.

Xử trí áp-xe quanh amiđan

Giai đoạn trung gian giữa viêm amiđan cấp và áp-xe quanh amiđan là viêm tấy quanh amiđan. Việc phát hiện bệnh nhân trong giai đoạn này, trước khi xuất hiện áp-xe quanh amiđan có ý nghĩa rất quan trọng, tránh cho bệnh nhân phải can thiệp thủ thuật, thời gian điều trị được rút ngắn. Giai đoạn viêm tấy quanh amiđan chỉ cần sử dụng kháng sinh, chống viêm liều cao đường uống hoặc tiêm đồng thời hạ sốt, giảm đau tốt cho bệnh nhân trong khoảng một tuần.

Khi đã áp-xe: Dùng kim chọc dò vào chỗ phồng nhất ở mặt trước của amiđan xem có mủ hay không. Đây là biện pháp vừa để chẩn đoán vừa để điều trị. Mủ lấy ra được đem đi nuôi cấy tìm vi khuẩn và loại kháng sinh đồ thích hợp nhất, giúp điều trị có hiệu quả. Nếu đã áp-xe quanh amiđan thì việc trích rạch khối áp-xe dẫn lưu mủ là bắt buộc, giữ cho vết rạch luôn mở khoảng 3 ngày. Điều trị nội khoa bằng kháng sinh đường tiêm hoặc uống kết hợp theo kháng sinh đồ để chống cả vi khuẩn hiếu khí và kị khí. Kết hợp dùng thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm. Thời gian điều trị kéo dài ít nhất 10 ngày. Bệnh nhân có chỉ định cắt amiđan sau khi hết dấu hiệu viêm nhiễm tại chỗ và toàn thân khoảng 1 tháng. Áp-xe quanh amiđan nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây biến chứng viêm tấy lan tỏa khoang sau tạng, áp-xe lan vào trung thất, phổi, nhiễm khuẩn huyết… thậm chí tử vong, do đó rất nguy hiểm.

Phòng ngừa cách gì?

Khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh, người bệnh cần thực hiện điều trị viêm amiđan cấp hay mạn tính theo đúng chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng. Không nên tự ý mua thuốc về sử dụng hoặc sử dụng không đúng thuốc, cách dùng cũng như thời gian uống mà bác sĩ đã kê đơn. Giữ họng thường xuyên sạch bằng cách súc miệng, họng hàng ngày bằng những thuốc có tính kiềm nhẹ, ăn uống hợp vệ sinh, chú ý giữ ấm cơ thể khi trời lạnh.

Nguồn gia đình

Trị chứng vẹo cổ hiệu quả

Nguyên nhân chủ yếu gây vẹo cổ là do tư thế lúc ngủ không hợp lý, đầu gối quá cao hoặc quá cứng khiến cho đầu cổ lệch về một bên, các cơ vùng cổ bị căng giãn kéo dài mà sinh đau; do thoái hóa đốt sống cổ…

Vẹo cổ y học cổ truyền thường gọi là lạc chẩm hay thất chẩm. Đây là chứng thường phát sinh đột ngột sau một đêm ngủ dậy. Người bệnh thấy cổ mình bị căng cứng, cử động rất khó khăn, kèm theo cảm giác đau nhức khó chịu, đau càng tăng lên khi cố làm động tác quay cổ, có khi đau lan xuống bả vai, chi trên hoặc vùng liên sống bả vai, khiến cho cổ phải nghiêng về một bên để chống đau.

tri-chung-veo-co-hieu-qua

Nguyên nhân chủ yếu gây vẹo cổ là do tư thế lúc ngủ không hợp lý, đầu gối quá cao hoặc quá cứng khiến cho đầu cổ lệch về một bên, các cơ vùng cổ bị căng giãn kéo dài mà sinh đau; do thoái hóa đốt sống cổ; do phong hàn thử thấp xâm nhập cơ thể khi sức đề kháng đang yếu kém khiến kinh lạc trở trệ, cân cơ co cứng, khí huyết ngưng đọng. Ngoài cách xoa bóp bấm huyệt vùng cổ vai, có thể dùng một số bài thuốc sau để thông kinh hoạt lạc, giảm đau.

Thuốc uống

Bài 1: Nam tục đoạn, ngũ gia bì, kê huyết đằng mỗi vị 16g, quế chi 8g, tang ký sinh 16g, ngải diệp 12g, tế tân 10g, tơ hồng xanh 16g, ngưu tất 12g, hà thủ ô 12g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc.

Bài 2: Rễ bưởi bung 16g, rễ cây xấu hổ 16g, rễ cúc tần 12g, ngải diệp 12g, nam tục đoạn 16g, tất bát 12g, cát căn 16g, cẩu tích 12g, kinh giới 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, đỗ trọng 10g, độc lực 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: trừ phong hoạt huyết, ôn kinh tán hàn, thư giãn cân cơ.

Bài 3: Hà thủ ô 12g, phòng phong 10g, kinh giới, xương bồ, rễ đinh lăng, xấu hổ, hy thiêm mỗi vị 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, đơn hoa 16g, lá đơn đại hoàng 12g, ngải diệp 12g, cát căn 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc, thư giãn chỉ thống.

Thuốc xoa bóp: Xuyên khung, hoa hồi, phá cố chỉ, thạch xương bồ, dây đau xương, kê huyết đằng, thiên niên kiện, trần bì, tế tân mỗi vị 15g. Các vị thuốc thái nhỏ cho vào bình thủy tinh, đổ ngập rượu, ngâm sau 10 ngày là có thể dùng được. Cách dùng: lấy bông tẩm thuốc, xoa vào nơi bị đau. Công dụng: giảm đau, hoạt huyết, ôn kinh, trừ tà, thư giãn cơ.

Thuốc chườm

Bài 1: Lá đơn đại hoàng 100g, lá cúc tần 80g. Hai thứ giã nhỏ, sao dấm. Dùng miếng vải gói lại, chườm vào vùng cổ bị đau. Ngày 2 lần.

Bài 2: Lá ngải cứu 100g, củ thạch xương bồ 60g. Hai thứ giã nhỏ, sao rượu. Dùng miếng vải gói lại rồi chườm vào nơi cổ bị đau. Có thể đắp thuốc tại chỗ, dùng băng vải cố định lại.

Theo Lương y Thanh Ngọc
SKĐS

Lợi và hại của thuốc giảm đau bằng hormon

Thông tin về công trình nghiên cứu sử dụng hormon để giảm đau của các nhà khoa học Mỹ đăng trên tạp chí Americain Academy of Pain Medicin tháng 3/2014 đã sử dụng hai loại thuốc chứa hormon là oxytocin và human chorionic gonadotropin thấy có tác dụng giảm đau tương đối tốt và chưa thấy tác dụng phụ.

Tuy nhiên, đây là một thí nghiệm nhỏ chỉ có 7 người nên chỉ có tác dụng định hướng cho những nghiên cứu rộng hơn. Mặt khác, thuốc có chứa hormon là loại thuốc phải được bác sĩ chỉ định mới được dùng, vì vậy không được tự ý mua dùng, tai họa sẽ khôn lường.

loi-va-hai-cua-thuoc-giam-dau-bang-hormon

Oxytocin là hormon thùy sau tuyến yên. Thuốc tiêm dùng để gây sẩy thai; gây chuyển dạ đẻ; thúc đẻ khi tử cung bị đờ; phòng và điều trị chảy máu sau đẻ và ho ra máu do lao phổi; chỉ có bác sĩ chuyên khoa trong bệnh viện có sẵn phương tiện phẫu thuật mới được dùng oxytocin.

Human chorionic gonadotropin, biệt dược IVF- C 5000UI hormon hướng sinh dục ở nhau thai người (được chiết xuất và tinh chế từ nước tiểu của người mang thai) là thuốc tiêm bắp dùng để kích thích phóng noãn, chữa suy sinh dục do tuyến yên, tinh hoàn ẩn trước tuổi dậy thì; kích thích tạo tinh trùng cho người tinh trùng yếu hoặc không có tinh trùng; ít kinh nguyệt; đa huyết kinh hoặc tử cung chảy máu; đe dọa sẩy thai; sẩy thai liên tiếp; vô kinh nguyên phát hoặc thứ phát.

Hormon nội sinh trong cơ thể người trưởng thành có tác dụng giảm đau như oxytocin, endorphin do não tiết ra (endorphin là morphin nội sinh có tác dụng giảm đau nhưng không gây nghiện và không độc hại như tiêm morphin) đã được các nhà khoa học biết đến từ nhiều năm trước đây, nó được đặt tên là “hormon tình yêu” do được sinh ra nhiều trong các hoạt động như: hoạt động tình dục như ôm nhau, hôn nhau, làm tình (kích thích các vùng nhạy cảm trên cơ thể); khi đạt đến “cực khoái” cơ thể tiết ra nhiều DHEA (dehydroepiandrosterone) thì lượng oxytocin tăng gấp 5 lần; khi mẹ cho con bú; khi được an ủi, vỗ về, chia sẻ nỗi bất hạnh… cũng kích thích não tiết ra oxytocin.

Endorphin còn được tiết ra khi đau đẻ, khi ăn ớt thật cay, khi ăn một mẩu socola đen khoảng 7g, khi vận động cơ thể tập luyện thể dục thể thao… Đặc biệt là trong nụ hôn cháy bỏng của nam nữ yêu nhau thì lượng endorphin tiết ra càng nhiều.

Như vậy, muốn sử dụng hormon để giảm đau bạn hãy tạo ra hormon nội sinh bằng nhiều cách nói trên, sẽ lợi cả đôi đường và an toàn nhất.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thảo dược giảm đau và ho do viêm họng

Đau rát họng, nuốt đau, khàn tiếng, ho khan hoặc ho có đờm,… là những triệu chứng chính của bệnh viêm họng. Nếu không có bội nhiễm hoặc biến chứng chỉ cần vệ sinh sát khuẩn mũi họng thường xuyên, dùng thuốc giảm đau, ho,… Xin giới thiệu một số vị thuốc dân gian có tác dụng giảm đau và ho do viêm họng rất tốt, giúp bệnh nhanh khỏi và hạn chế biến chứng.

Sát khuẩn, giảm đau rát họng

– Pha muối biển với nước lọc ấm, thử độ mặn như khi nấu canh dùng để súc họng mỗi giờ một lần có tác dụng sát khuẩn và giảm đau rát họng rất tốt.

– Pha loãng nước ép củ cải với nước theo tỉ lệ 1:1 để làm nước súc họng hằng ngày có tác dụng giảm đau, khàn tiếng.

– Lá chua me đất 50g, muối 2g. Rửa sạch lá, nhai với muối rồi nuốt từ từ.

thao-duoc-giam-dau-va-ho-do-benh-viem-hong-1

– Lá bạc hà 2 – 3 lá, rửa sạch rồi nhai dập, ngậm nuốt nước từ từ vài lần trong ngày.

– Lá húng chanh 30g, rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội, thêm vài hạt muối, nhai dập và nuốt nước dần.

– Lá rẻ quạt 1 lá, muối 2g. Rửa sạch lá, nhai dập, ngậm với vài hạt muối, khi nào nóng họng thì nhả ra, ngày ngậm 1 – 2 lần, có thể nuốt nước.

Chữa ho do viêm họng

– Hoa đu đủ đực 15g, củ mạch môn, xạ can, lá húng chanh, mỗi vị 10g. Tất cả cho vào một bát nhỏ, thêm ít muối, hấp cơm rồi nghiền nát. Ngày ngậm 2 – 3 lần, nuốt nước dần.

– La hán 1 quả, rửa sạch, thái vụn, hãm với nước sôi, uống thay nước trong ngày.

– Húng chanh tươi 20g, rửa sạch, thái nhỏ; đường phèn 20g. Cho hai thứ vào bát, chưng cách thủy, chắt lấy nước, uống từ từ. Bã ngậm trong miệng mút lấy nước. Mỗi ngày làm 1 lần. Dùng 3 – 5 ngày. Đối với trẻ em khó uống thuốc có thể lấy vài lá húng chanh rửa sạch, giã nhỏ với một ít đường phèn hấp vào nồi cơm, cho trẻ uống 2 – 3 lần trong ngày.

– Rễ đậu chiều 8g, sài đất 20g, lá hoặc rễ rẻ quạt 8g, nghệ 8g. Đổ 3 bát nước, sắc còn 1 bát, mỗi lần uống 1 chén, mỗi giờ uống 1 lần cho hết.

– Cỏ nhọ nồi, bồ công anh, mỗi vị 20g, củ rẻ quạt 12g, kim ngân hoa 16g, cam thảo đất 16g, sắc uống mỗi ngày một thang. Dùng 3 – 5 ngày.

Bác sĩ Thúy An

Theo SKDS

Dinh dưỡng cho người đau dạ dày

Đau dạ dày là bệnh phổ biến và thưởng xảy ra ở bất cứ độ tuổi nào. Bệnh khởi phát đột ngột, diễn tiến nhanh chóng. Chế độ ăn uống không lành mạnh có thể làm bệnh trầm trọng thêm, gây nguy hiểm cho sức khỏe thể chất của cơ thể con người. Vậy nên ăn thực phẩm gì để phòng tránh đau dạ dày.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng, trong bữa ăn hàng ngày có một số loại thực phẩm và rau có tác dụng ngăn ngừa và giảm đau dạ dày.

Cà rốt: Cà rốt là nguồn có chứa carotene dồi dào. Carotene có thể được chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể con người. Theo y học cổ truyền, bạn có thể ăn cà rốt để cải thiện lá lách và gan, tăng cường chức năng đường ruột và dạ dày, bảo vệ mắt và tăng cường miễn dịch đối với các bệnh khác nhau.
dau-da-day
Rau chân vịt: Rau chân vịt có chứa hàm lượng lớn scellulose. Sự hấp thụ đầy đủ của cellulose có thể thúc đẩy nhu động đường ruột và cải thiện đại tiện. Nếu bạn thường xuyên ăn rau chân vịt, gan, ruột và dạ dày của bạn có thể được bảo vệ tốt. Ngoài ra, ăn rau chân vịt thường xuyên có thể thúc đẩy sự bài tiết của tuyến tụy và cải thiện tiêu hóa.

Cải bắp: Cải bắp chứa rất nhiều vitamin K1 và vitamin U. Sự hấp thu vitamin K1 và vitamin U có thể chống loét dạ dày, bảo vệ màng nhầy và làm giảm nguy cơ mắc bệnh dạ dày cho bạn.

Khoai tây: Khoai tây có chứa hàm lượng cao của tinh bột. Sau khi tinh bột xâm nhập vào cơ thể của bạn, nó có thể được chuyển đổi nhanh chóng thành glucose. Nó có thể bảo vệ dạ dày của bạn và thúc đẩy nhu động dạ dày và đường ruột bằng cách ăn khoai tây ngọt ngào trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

Khoai lang: Khoai lang giàu protein, đường, vitamin, chất béo, canxi, muối vô cơ, sắt …Một lượng vừa đủ khoai lang có thể giúp bạn nuôi dưỡng lá lách, dạ dày, thận và da. Với khoai lang, dạ dày của bạn có thể chống lại cái lạnh trong mùa đông.

Bí ngô: Bí ngô có chứa một lượng lớn Pectin. Pectin có hiệu quả có thể hấp thụ các vi khuẩn và các chất độc hại như kim loại nặng để làm sạch cơ thể của bạn. Đồng thời, pectin có thể bảo vệ dạ dày của bạn và làm giảm bớt loét dạ dày.

Chuối: Chuối là thực phẩm hàng đầu thân thiết với dạ dày, chuối có khả năng trung hòa hàm lượng axit vượt ngưỡng cho phép trong dịch dạ dày và giảm nguy cơ viêm tấy, sưng phồng đường ruột.

Táo: Giống như chuối, táo là nguồn dồi dào chứa pectin có thể thúc đẩy sự hoạt động của dạ dày và đường ruột, giúp cho quá trình bài tiết thuận lợi hơn, cũng rất hữu ích với người bị táo bón.

Đu đủ: Đu đủ cũng là một loại quả thân thiện với dạ dày. Ăn đu đủ thường xuyên kích thích hệ tiêu hóa, giảm bớt các triệu chứng khó tiêu hoặc điều trị táo bón hiệu quả. Enzyme papain và chymopapain trong đu đủ giúp xoa dịu dạ dày bằng cách thúc đẩy sản sinh các acidic lành mạnh.

Gừng: Gừng như một phương thuốc đơn giản nhất để điều trị tình trạng đau dạ dày, đầy hơi, khó tiêu. Bạn có thể dùng gừng trực tiếp bằng miếng gừng tươi hoặc kẹo gừng hay thêm gừng trong các tách trà nóng cũng đem lại hiệu quả tương tự.

Thực phẩm thô: Ăn nhiều thực phẩm thô là giải pháp chính trong chế độ dinh dưỡng đối với người bị rối loạn tiêu hóa, các chứng bệnh về dạ dày. Thực phẩm thô hay các loại hạt toàn phần bao gồm gạo lức, nếp lức, bắp, các loại đậu; một số hạt có chất béo như mè, hạt điều, hạt bí còn nguyên lớp màng ngoài của hạt…Ngoài ra, thực phẩm thô cónhiều chất chống ôxy hóa quan trọng bảo vệ lớp màng tế bào ở thành trong của dạ dày.

Sữa chua: Trong sữa chua có thành phần giúp tăng lượng vi sinh tốt bên trong thành ruột của bạn, hỗ trợ hệ tiêu hóa và giảm bớt triệu chứng khó chịu trong bụng. Các sản phẩm sữa chua nguyên chất, ít hoặc không đường sẽ tốt cho dạ dày hơn các sản phẩm sữa chua nhiều hương liệu và bổ sung nhiều thành phần khác.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, người bị bệnh đau dạ dày nên tuân thủ một số quy tắc cơ bản trong khâu ăn uống như tránh các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc (rượu, cà phê, trà xanh,…), các loại thực phẩm có độ a xít cao (cam, bưởi…), nên ăn thức ăn mềm, không nên ăn quá no, nên nhai kỹ khi ăn… Bên cạnh đó, người bệnh nên luôn giữ tinh thần thoải mái, lạc quan để không gây căng thẳng, bức xúc ảnh hưởng đến hoạt động của dạ dày.

Nguồn vnmedia

Những loại thảo dược có tác dụng phòng, trị bệnh khớp

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều các loại thuốc chữa bệnh khớp, tuy nhiên, chúng đều có tác dụng phụ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Chúng tôi xin được giới thiệu với các bạn một số bài thuốc từ các loại cây cỏ được bán tại các nhà thuốc, người bệnh đau khớp có thể mua về tự chế biến, vừa an toàn và rất hiệu quả.

Trên thị trường có nhiều loại tân dược chữa bệnh đau khớp giúp giảm đau rất nhanh, tuy nhiên, chúng đều có tác dụng phụ như: gây giòn xương, xốp xương, loãng xương, xuất huyết dạ dày, gây phù (tăng cân rõ rệt và nhanh), tăng huyết áp, không tốt cho trẻ em dưới 12 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú… Một số biện pháp khác như: thủy châm, điện châm… cũng giúp giảm đau nhưng chỉ cho kết quả tạm thời.

Theo DS Lê Kim Phụng, để phòng bệnh đau khớp, việc đầu tiên cần làm là điều chỉnh chế độ ăn uống cho phù hợp. Không nên ăn nhiều thịt đỏ (bò, heo, cừu, dê), giảm bớt chất béo, đường, bột, nên ăn nhiều cá có chứa chất béo omega-3, nhiều rau cải và các loại trái cây có màu sậm. Khi dùng thuốc, nên chọn các loại thảo dược và cách dễ nhất là sắc uống hoặc pha chế như trà.
Thảo dược có tác dụng giảm đau, kháng viêm

thao-duoc-thong-dung

Nhiều loại thảo dược có tác dụng giảm đau, kháng viêm rất tốt mà không gây tác dụng phụ. Có bốn nhóm chính:

– Nhóm cây cỏ chứa tinh dầu có tác dụng giảm đau và thư giãn gân cốt như: lá lốt, thiên niên kiện, khương hoạt, độc hoạt, kinh giới, quế chi, tế tân, bạch chỉ, xuyên khung, ngũ gia bì…

– Nhóm cây cỏ chứa saponosid có tác dụng kháng viêm mạnh gồm: cỏ xước, ngưu tất, thổ phục linh, cốt toái bổ, tang ký sinh…

– Nhóm cây cỏ chứa flavonoid giúp giảm viêm, chống sưng, tăng cường chất keo trong khớp và còn có tác dụng chống oxy hóa tế bào như: sài đất, kim ngân; các loại rau củ quả có màu sậm như: anh đào, mận, nho, việt quất, dâu tằm…

– Nhóm vitamin A hoặc beta carotene và vitamin C như: đu đủ, dâu tây, cam, chanh, quýt, cà chua, khoai lang, cà rốt, tác dụng kháng viêm và tăng sức đề kháng cho cơ thể, đồng thời bổ sung canxi mỗi ngày.
Một số bài thuốc cho bạn

Một số bài thuốc từ các loại cây cỏ được bán tại các nhà thuốc, người bệnh đau khớp có thể mua về tự chế biến:
Cà gai leo:

Dùng rễ, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, mỗi ngày 10 – 20g dạng thuốc sắc. Tác dụng chữa phong thấp, đau nhức các đầu gân xương. Nhiều người hay dùng bài thuốc rượu chữa thấp khớp gồm: lá lốt 800g, cà gai leo 300g, cỏ xước 300g, thổ phục linh 300g, quế chi 100g, thiên niên kiện 300g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ, ngâm trong 5 lít rượu trắng ngon trong 7 – 10 ngày, uống mỗi ngày hai lần, mỗi lần 30ml.
Cỏ xước:

Còn gọi là ngưu tất nam. Cây và rễ cỏ xước có chứa nhiều saponin, tác dụng chống viêm rất tốt, mỗi ngày dùng 10 – 16g dạng nước sắc, chữa sưng khớp gối, đau nhức gân cốt, đau lưng.
Lá lốt:

Dùng lá làm rau ăn và làm thuốc chữa tê thấp, đau lưng, tay chân tê bại, ngày 8 – 12g, sắc riêng hoặc sắc chung với dây đau xương, cốt khí củ, rễ cỏ xước đồng lượng. Có thể nấu nước ngâm tay chân để trị chứng đổ mồ hôi tay chân.
Thổ phục linh:

Mỗi ngày dùng 10 – 12g thân rễ phơi khô sắc uống, có tác dụng lợi gân cốt, kiện tỳ, giải độc, tiêu phù. Hoặc phối hợp thành bài thuốc gồm: thổ phục linh 20g, thiên niên kiện, đương quy đều 8g, bạch chỉ 6g, cốt toái bổ 10g, sắc uống hoặc ngâm rượu uống chữa phong thấp, gân xương đau nhức, tê buốt tay chân.
Dây đau xương:

Dùng thân dây, mỗi ngày dùng 8 – 12g, sắc uống chữa bệnh tê thấp và đau nhức gân cốt, bồi bổ sức khỏe. Có thể giã lá tươi trộn với rượu đắp lên các chỗ sưng đau.
Ké đầu ngựa:

Dùng quả chín vàng khô. Quả có vị đắng, tính mát, tác dụng tán phong trừ thấp, ngày dùng 6 – 12g dạng thuốc sắc chữa phong thấp, tay chân co rút, các khớp sưng đau.
Thiên niên kiện:

Thân rễ, ngày dùng 10 – 12g, sắc chung với các vị khác hoặc ở dạng ngâm rượu, tác dụng bổ gân cốt, chữa tay chân tê mỏi, đau nhức các xương khớp.
Ngũ gia bì:

Dùng vỏ thân hay vỏ rễ, dạng sắc hoặc ngâm rượu, chữa phong thấp, làm mạnh gân cốt, tăng lực.

Cần chú ý, trong các thuốc giảm đau khớp có người còn dùng đến thịt rắn hổ, cao hổ cốt, rễ ô đầu… nhưng đây là những loại thuốc có độc nên khi dùng phải thật thận trọng và phải có sự chỉ dẫn của thầy thuốc.

Theo sức khỏe đời sống

Những phương pháp kiểm soát trĩ

Trên thế giới, trĩ là bệnh phổ biến với tỷ lệ khá cao. Ở Việt Nam, tỷ lệ còn cao hơn vì các bệnh đại tràng còn khá phổ biến.

Bình thường ai cũng có đám rối tĩnh mạch trĩ trong và đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài, đó là hệ thống mạch máu tạo thành lớp đệm, phối hợp cùng với các cơ hậu môn giúp cho việc đóng chặt lỗ hậu môn. Khi hệ mạch máu này bị tổn thương gây chảy máu, căng to, sa giãn thì gọi là bị bệnh trĩ.

tri

Khi xã hội phát triển, chúng ta càng có thói quen ít vận động, phải ngồi nhiều đứng lâu (công nhân, nhân viên văn phòng…), thì bệnh trĩ càng có xu hướng gia tăng. Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi, rất ít thấy ở trẻ em, nam giới mắc nhiều gấp đôi nữ giới. Vì là bệnh của búi mạch máu hậu môn nên phần lớn bệnh nhân không thấy có biểu hiện gì toàn thân, mà chủ yếu có các triệu chứng cơ năng tại hậu môn.

Dù bị trĩ ở bất cứ giai đoạn, mức độ nào, thì điều quan trọng là phải trị bệnh và ngăn không để bệnh nặng thêm. Ngoài các biện pháp điều trị, bệnh nhân có thể tự chăm sóc mình bằng cách ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút, vừa giúp vệ sinh vừa làm bớt đau.

Dùng khoảng 100g lá diếp cá tươi, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước uống, còn bã đắp ở hậu môn. Ngày làm 2 lần trong nhiều ngày liên tục. Để bớt chảy máu có thể dùng các dược liệu: hoa hòe, lá trắc bá, cỏ mực, kinh giới, lá sen, mỗi thứ 20g, sao đen rồi sắc nước uống, mỗi ngày 1 lần.

Về phòng bệnh, bạn cần điều chỉnh thói quen ăn uống: ăn nhiều rau, uống đủ 2 – 3 lít nước mỗi ngày, tránh dùng các chất kích thích, ăn nhiều gia vị cay nóng (ớt, tiêu). Tập thói quen đi cầu đều đặn hằng ngày.

Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị bệnh trĩ. Điều trị nội khoa bằng thuốc uống, thuốc đặt, bôi tại chỗ… chủ yếu nhằm làm tăng trương lực tĩnh mạch, giảm phù nề, giảm đau, kháng viêm, chống nhiễm trùng.

Thường áp dụng cho trĩ nội độ 1 – 2, trĩ ngoại không biến chứng, hay phối hợp với phương pháp điều trị khác; Dùng thuốc Tây hay thuốc Đông y. Dùng các thủ thuật tại chỗ như chích xơ (trĩ độ 1 – 2) bằng dầu phenol hoặc polidocanol, thắt trĩ bằng vòng cao su (trĩ độ 1 – 2 – 3), làm đông mô bằng tia hồng ngoại (trĩ độ 1 – 2). Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định.

Gần đây, ở nước ta đã phát triển kỹ thuật thắt triệt mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler, phương pháp này đang được đánh giá cao vì tính an toàn, không đau, chính xác và tỷ lệ thành công cao.

Cuối cùng, khi các phương pháp trên không hiệu quả thì phải phẫu thuật, thường áp dụng cho trĩ nội độ 3 – 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng, trĩ có chảy máu nhiều và trĩ ngoại có biến chứng.

BS Đỗ Thị Quỳnh Nga (trường Đại học Y Dược TP.HCM)
Theo Bee

Cây sói rừng điều trị viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) có triệu chứng đặc trưng là sưng, nóng, đỏ, đau đối xứng hai bên cơ thể tại các khớp như khớp bàn tay, cổ tay,… và nguy cơ cao gây tàn phế. Bên cạnh các phương pháp điều trị theo y học hiện đại như: dùng thuốc, phẫu thuật,… thì y học cổ truyền cũng có rất nhiều vị thuốc dân gian chữa VKDT, điển hình là cây sói rừng.

Sói rừng có vị đắng, cay, tính hơi ấm; có tác dụng hoạt huyết, giảm đau, khu phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc, giúp tăng lưu thông, tuần hoàn máu, kháng khuẩn và điều hòa miễn dịch. Do đó, sói rừng đã được dùng làm vị thuốc trong nhiều bài thuốc chữa bệnh xương khớp như:

Bài thuốc chữa đau khớp, đau lưng: Dùng 15-30g rễ sói rừng và cho một lượng nước vừa đủ, đun sôi lấy nước uống đến khi khỏi đau.

soi-rung

Hiện nay, tác dụng giảm đau, chống viêm, giúp điều biến miễn dịch của sói rừng đã được ứng dụng trong điều trị các bệnh về xương khớp, trong đó có viêm khớp dạng thấp. Hiệu quả này càng được tăng cường khi sói rừng được kết hợp với thành phần chính là hy thiêm giúp giảm đau nhức xương khớp cùng nhiều dược liệu quý khác như: bạch thược, tiền hormon pregnenolone,… có tác dụng tăng cường hồi phục vận động khớp, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị VKDT. Dưới dây chuyền sản xuất hiện đại, các thành phần trên đã được chiết xuất, bào chế thành công dưới dạng viên nang tiện dùng mà không cần đun sắc có tên thực phẩm chức năng Hoàng Thấp Linh. Sự ra đời của Hoàng Thấp Linh là một bước tiến quan trọng, dẫn đầu xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn để hỗ trợ điều trị, phòng ngừa, giảm đau do VKDT.

Để điều trị VKDT hiệu quả, bên cạnh việc duy trì dùng Hoàng Thấp Linh, người bệnh cần kết hợp với các phương pháp điều trị khác theo chỉ định của thầy thuốc.

Theo sức khỏe

Bị đau quanh vai: Chữa thế nào?

Đau vùng quanh vai là triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây nên trong đó hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là nguyên nhân tương đối thường gặp, đặc biệt ở bệnh nhân tuổi trung niên và quan trọng hơn là có thể điều trị có hiệu quả. Hội chứng này là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị thu hẹp, tình trạng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai như: viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay.

Triệu chứng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai

Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, bệnh nhân có biểu hiện đau ở khớp vai khi dang tay hay đưa trước cánh tay. Hầu hết bệnh nhân than phiền bị khó ngủ do bị đau khi nằm nghiêng qua bên vai bị đau. Khi có cơn đau chói xuất hiện khi cố gắng xoay tay ra túi quần phía sau là dấu hiệu khá rõ ràng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Dần dần các cơn đau trở nên nặng hơn, bệnh nhân không dám cử động vai dẫn đến khớp vai bị cứng. Nếu vai trở nên yếu và bệnh nhân không thể tự dang tay được thì có thể gân chóp xoay đã bị rách.

bi_dau_quanh_vai_chua_the_nao

Chụp Xquang khớp vai là cần thiết để tìm các dấu hiệu bất thường của cấu trúc xương hay viêm khớp. Một số người có tình trạng mỏm cùng hạ thấp hơn so với bình thường làm hẹp khoang dưới mỏm cùng được xác định trên Xquang. Gai xương nếu có cũng sẽ thấy rõ trên Xquang.

Chụp MRI được chỉ định khi nghi ngờ có tổn thương rách chóp xoay, viêm gân hay bệnh lý ở sụn viền. Đôi khi siêu âm vùng vai cũng cho thấy được hình ảnh rách chóp xoay.

Một nghiệm pháp được sử dụng nhằm loại trừ các bệnh lý ở vùng cổ gây đau ở khớp vai: tiêm một lượng thuốc tê nhất định vào khoang dưới mỏm cùng, nếu bệnh nhân đỡ đau ngay thì nguyên nhân gây đau vai là do hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai.

Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai, do đâu?

Các động tác của khớp vai, đặc biệt là động tác đưa tay quá đầu được thực hiện bởi 2 nhóm cơ chính là: cơ delta và nhóm các cơ chóp xoay (gồm có 4 cơ là cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ dưới vai và cơ tròn bé). Nhóm các cơ chóp xoay hợp với nhau tạo thành một gân rất chắc bám vào đầu trên xương cánh tay gọi là gân cơ chóp xoay. Khi thực hiện động tác dạng cánh tay quá đầu, các cơ này trượt trong khoang dưới mỏm cùng vai. Khoang này nằm dưới mỏm cùng vai, trong khoang có gân chóp xoay và các túi hoạt dịch có tác dụng bôi trơn khi gân cơ chóp xoay di chuyển. Khi khoang này bị hẹp lại, thường do nguyên nhân thoái hoá hoặc chấn thương, gân cơ chóp xoay và các túi hoạt dịch bị chèn ép, từ đó sẽ dẫn đến viêm túi hoạt dịch, viêm gân chóp xoay. Nặng hơn sẽ dẫn đến rách chóp xoay.

Các nguyên nhân dẫn đến hẹp khoang dưới mỏm cùng vai có thể là chấn thương, các động tác lặp đi lặp lại (thường gặp ở những người chơi các môn thể thao phải đưa tay quá đầu hoặc người lao động thường xuyên phải có các động tác dang tay quá đầu). Một nguyên nhân khác cũng tương đối thường gặp là sự hình thành các chồi xương trong tổn thương của bệnh lý thoái hoá.

Khi nào cần phải phẫu thuật?

Giai đoạn đầu điều trị sẽ là điều trị giảm đau, kháng viêm. Các phương pháp thường sử dụng là nghỉ ngơi, chườm đá phối hợp với thuốc kháng viêm như aspirin, naproxen, diclofenac… Bác sĩ sẽ theo dõi đáp ứng của bệnh nhân, trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp như siêu âm, chiếu tia hồng ngoại để tăng cường lượng máu tới các mô ở khớp vai. Khi bệnh nhân đỡ đau sẽ tiến hành các bài tập vật lý trị liệu.

Nếu các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, bác sĩ có thể tiêm steroid trực tiếp vào khoang dưới mỏm cùng. Tuy nhiên steroid có thể gây đứt gân cũng như các tác dụng phụ về lâu dài nên nó không phải là phương pháp điều trị lâu dài cho hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai cũng như các bệnh lý khác ở vùng khớp vai.

Phẫu thuật được chỉ định khi không có cải thiện nào sau 6 tháng đến 1 năm điều trị bảo tồn.  Có hai phương pháp hiện đang được sử dụng là mổ mở và mổ nội soi, cả hai phương pháp đều có thể sửa chữa các tổn thương và làm giảm áp lực đè ép lên túi hoạt dịch và chóp xoay. Ngày nay, phẫu thuật với kỹ thuật nội soi phổ biến hơn do những ưu việt trong việc cải thiện các triệu chứng đau và tính thẩm mỹ. Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm làm rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay bằng cách làm sạch các tổn thương thoái hoá, các chồi xương và một phần của mỏm cùng vai. Nếu có tổn thương rách chóp xoay có thể sẽ được phục hồi đồng thời. Sau mổ cánh tay sẽ được treo hay mang nẹp để bất động. Hầu hết các trường hợp sẽ được tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp, hạn chế phù nề sau mổ. Chườm lạnh sau mổ giúp co mạch máu làm hạn chế phản ứng viêm đau sau mổ. Giai đoạn sau là tập mạnh gân cơ chóp xoay. Cần tập phục hồi chức năng theo sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.

Điều trị phục hồi chức năng

Điều trị phục hồi chức năng đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ trong các trường hợp không phẫu thuật mà ngay cả trong trường hợp sau phẫu thuật. Phục hồi chức năng nhằm mục đích tránh teo cơ và cứng khớp đồng thời phục hồi sức mạnh của các cơ sau một thời gian bị bệnh đã bị kém đi. Đối với phục hồi chức năng khớp vai, quá trình này sẽ diễn ra rất chậm, bắt đầu là những bài tập vận động thụ động kéo dài trong vài tuần, sau đó mới là những bài tập chủ động. Quá trình tập này có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng tuỳ theo việc có thực hiện phẫu thuật tạo hình lại gân chóp xoay hay không.

Trong một số trường hợp, tổn thương của chóp xoay lớn hoặc là diễn biến đã lâu, tình trạng cơ yếu kéo dài, việc phục hồi chức năng có thể chỉ cải thiện một phần, đôi khi bệnh nhân phải tập để thay đổi thói quen sử dụng cánh tay bị tổn thương.

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn

Có nhiều nguyên nhân gây ra gãy xương như: bom đạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…, có thể là gãy xương hở hoặc gãy xương kín. Xương thường bị gãy vỡ thành nhiều mảnh, có khi bị mất từng đoạn xương hay các đoạn xương bị di lệch. Chúng ta cần biết cố định xương gãy là để tự cứu mình và cứu người khi gặp tai nạn.

Vì sao cần cố định xương gãy?

Khi gãy xương, đầu xương gãy sắc nhọn dễ làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến những tai biến nặng như: sốc do mất máu và đau đớn, nhất là khi gãy các xương lớn; làm tổn thương phần mềm do các đầu xương gãy đâm rách; nhiễm khuẩn vết thương. Cố định tạm thời gãy xương là một kỹ thuật quan trọng để hạn chế những tai biến đó và giữ cho ổ gãy xương được ổn định để vận chuyển an toàn bệnh nhân đến bệnh viện.

tu_cuu_minh_va_cuu_nguoi_khi_gap_tai_nan

Yêu cầu cố định xương gãy như thế nào?

Khi cố định tạm thời xương gãy phải đảm bảo không làm cho bệnh nhân bị đau thêm. Muốn thế phải giảm đau tốt cho bệnh nhân trước khi tiến hành băng bó cố định chi gãy, không được nâng nhấc, băng bó, cố định chi gãy nếu chưa dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Nẹp phải đủ dài để cố định được cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy, buộc chắc chắn vào chi. Nếu chi gãy bị di lệch, biến dạng nhiều thì sau khi đã giảm đau thật tốt, có thể nhẹ nhàng kéo chỉnh lại trục chi để giảm bớt biến dạng, giảm bớt nguy cơ thương tổn phần mềm do các đầu xương gãy gây ra. Không đặt nẹp cứng sát vào chi mà phải lót bằng bông, gạc… Khi cố định xương gãy, không cần cởi quần áo người bị thương vì quần áo có tác dụng tăng cường đệm lót cho nẹp.

Các loại nẹp dùng để cố định xương gãy

Nẹp tre (hoặc gỗ), kích thước dài ngắn tùy chi thể của người bị thương. Các nẹp được bọc trước bằng bông hoặc giấy xốp cuốn băng xô, trên toàn bộ chiều dài, bịt kín 2 đầu nẹp. Ngoài ra còn loại nẹp Crame là loại nẹp làm bằng sợi kẽm, bẻ uốn được, hình bậc thang, có nhiều kích thước thích hợp cho từng đoạn chi. Dùng nẹp Crame cũng cần có đủ các kích thước phù hợp với từng đoạn chi và cũng cần bọc lót bông gạc như với nẹp tre. Tuy nhiên khi gặp tình huống khẩn cấp mà không có nẹp đã chuẩn bị sẵn, có thể sử dụng các phương tiện sẵn có như đòn gánh, cành cây, gậy gỗ, dát giường… để cố định xương gãy.

Phương pháp cố định tạm thời ở một số gãy xương lớn

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng tay: Đặt nẹp ngắn ở mặt trước cẳng tay đi từ nếp khuỷu đến khớp ngón – bàn. Đặt nẹp dài ở mặt sau cẳng tay, từ quá mỏm khuỷu, đối xứng với nẹp ở mặt trước. Buộc 2 đoạn cố định 2 nẹp vào bàn tay và cẳng tay. Đoạn thứ nhất ở bàn tay và cổ tay, đoạn thứ 2 ở dưới và trên khớp khuỷu. Dùng băng cuộn để treo cẳng tay ở tư thế gấp 900.

– Cố định tạm thời gãy xương cánh tay: Ở mặt trong cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên lên tới hố nách, đầu dưới sát nếp khuỷu. Mặt ngoài cánh tay đặt 1 nẹp đầu trên quá khớp vai nách, đầu dưới quá khớp khuỷu. Cố định nẹp ở 2 đoạn: đoạn một ở 1/3 trên cánh tay và khớp vai, đoạn hai ở trên và ở dưới khớp khuỷu. Dùng băng tam giác hoặc băng cuộn treo cẳng tay vuông góc 900 với cánh tay và cuốn 1 vài vòng băng buộc cánh tay vào thân.

– Cố định tạm thời gãy xương cẳng chân: Đặt 2 nẹp ở mặt trong và mặt ngoài chi gãy đi từ giữa đùi tới quá cổ chân. Nếu có nẹp thứ 3 thì đặt ở mặt sau cẳng chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn cổ chân, dưới và trên khớp gối, giữa đùi.

– Cố định tạm thời gãy xương đùi: Dùng 3 nẹp để cố định, nẹp ở mặt ngoài đi từ hố nách đến quá gót chân. Nẹp ở mặt trong đi từ bẹn đến quá gót chân. Nẹp ở mặt sau đi từ trên mào chậu đến quá gót chân. Băng cố định nẹp vào chi ở bàn chân, cổ chân, 1/3 trên cẳng chân, trên gối, bẹn, bụng và dưới nách. Trước khi vận chuyển: buộc chi gãy đã cố định vào chi lành ở ba vị trí cổ chân, đầu gối và đùi.

BS. Trần Văn Phong
Theo SKĐS

Điều trị viêm quanh khớp vai bằng xoa bóp bấm huyệt

Viêm quanh khớp vai là một trong những bệnh xương khớp thường gặp ở lứa tuổi trên 40, là tình trạng viêm vô khuẩn của các tổ chức phần mềm quanh khớp vai như viêm màng hoạt dịch khớp, gân và dây chằng quanh khớp, bao gân cơ nhị đầu…

Nguyên nhân bị bệnh

Theo y học cổ truyền viêm quanh khớp vai gọi là kiên tỷ thống, là chứng bệnh thuộc phạm giảm, phong hàn thấp tà xâm phạm vào kinh lạc gây bế tắc sự vận hành khí huyết gây đau hoặc do can thận quá hư tổn và bệnh nội thương làm bế tắc sự vận hành khí huyết mà gây đau hoặc do sang chấn gây huyết ứ lâu ngày mà sinh bệnh. Viêm quanh khớp vai gồm các thể: đơn thuần, kèm vôi hóa gân, tắc nghẽn, giả liệt.

Biểu hiện nổi bật của viêm quanh khớp vai là tình trạng đau vùng vai và hạn chế vận động vùng khớp vai, đặc biệt là khó nhấc tay lên cao, khó chải đầu, khó gãi được lưng. Chụp Xquang thường không phát hiện được tổn thương. Siêu âm là một thăm dò có giá trị trong chẩn đoán viêm quanh khớp vai. Qua siêu âm chúng ta có thể thấy hình ảnh viêm, xơ hóa, lắng đọng canxi ở những tổ chức quanh khớp vai. Tùy theo từng thể bệnh mà mức độ đau và hạn chế vận động khác nhau.

dieu_tri_viem_quanh_khop_vai_bang_xoa_bop_bam_huyet

Phương pháp xoa bóp bấm huyệt

Có nhiều biện pháp điều trị khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là chống viêm, giảm đau, nâng cao thể trạng và trả lại vận động sinh lý của khớp vai bằng cách luyện tập và lý liệu pháp. Đối với thể viêm quanh khớp vai đơn thuần thì biện pháp điều trị và luyện tập đúng cách là nhanh phục hồi nhất, các thể bệnh khác hồi phục chậm hơn (có khi tới hơn 6 tháng) cũng có thể không khỏi hoàn toàn. Với những trường hợp nặng cần thiết thì phải can thiệp bằng phẫu thuật.

Xoa bóp bấm huyệt là một trong những phương pháp góp phần điều trị viêm quanh khớp vai đạt hiệu quả tốt. Tùy theo những thể bệnh, tình trạng người bệnh mà có phương pháp xoa bóp bấm huyệt thích ứng. Phải tuân thủ đúng nguyên tắc: tác động từ xa đến gần vùng đau, điểm đau, từ chậm đến nhanh, từ nông đến sâu, từ nhẹ đến nặng.

Đối với các bệnh nhân đau và hạn chế vận động khớp vai ít cần tiến hành xoa bóp, lăn, day vùng quanh khớp vai 5-10 phút để cho các cơ mềm ra, sau đó chuyển sang bấm các huyệt: đại chùy (chỗ lõm trên mỏm gai đốt sống lưng 1, dưới mỏm gai đốt sống cổ 7. Đốt cổ 7 là đốt lồi cao nhất trên các đốt sống cổ), a thị (chính là chỗ đau), kiên tỉnh (chỗ lõm, điểm giữa đường nối đại chùy và kiên ngung), kiên ngung (chỗ lõm ở đỉnh vai ngay dưới mỏm cùng vai), phong trì (chỗ lõm dưới xương chẩm, trên góc chân tóc nửa tấc), hợp cốc (góc giữa xương đốt bàn tay ngón cái và ngón trỏ). Bấm mạnh huyệt a thị, kiên ngung, sau đó xoa vuốt nhẹ nhàng rồi kéo rung tay có tác dụng giảm đau nhanh.

Đối với các bệnh nhân đau và hạn chế vận động khớp vai nhiều phải xoa bóp, lăn, day nhẹ nhàng 5-10 phút, miết dọc từ vai xuống cánh tay và tiến hành bấm các huyệt: a thị huyệt (bấm mạnh), kiên tỉnh, kiêng ngung, khúc trì, ngoại quan, cực tuyền. Bấm từ từ tăng dần đến mức tối đa mà bệnh nhân chịu được, thời gian trung bình 15-20 phút. Sau đó vận động nhẹ nhàng theo sinh lý của khớp vai ở mức độ bệnh nhân chịu đựng. Thời gian điều trị 1-2 lần/ngày trong 7-10 ngày.

Đối với các bệnh nhân nặng có đau nhiều và gần như không vận động được khớp vai thì phải tổng hợp các thủ thuật xen kẽ của 1 liệu trình điều trị, có thể khác nhau như day, lăn, kéo rung, bấm huyệt và vận động khớp vai là chính, sau đó hướng dẫn cho bệnh nhân tự tập luyện. Tiến hành xoa bóp, day, lăn, kéo rung vai tay, làm mạnh dần và bấm các huyệt: phong trì, phong thủ (chỗ lõm giữa gáy trên chân tóc 1 tấc), phong môn (hai bên đối xứng, ngang mỏm gai đốt sống lưng 2 ra 1,5 tấc), a thị, thiên tăng (chỗ lõm xương bả vai), kiên trinh (cánh tay khép, huyệt ở trên điểm đầu sau nếp nách 2 tấc), kiên ngung, hợp cốc, khúc trì (cẳng tay gấp 90o, huyệt ở đầu ngoài của nếp lằn khuỷu tay), ngoại quan (chính giữa cẳng tay, giữa mu bàn tay trên lằn chỉ cổ tay 2 tấc). Sau đó chuyển sang vận động khớp vai cho bệnh nhân theo sinh lý vận động của khớp vai, lưu ý chỉ được phép tác động tới ngưỡng mà bệnh nhân chịu đựng được. Thời gian điều trị 1-2 lần/ngày trong 10-20 ngày/liệu trình, có thể phải làm 2-3 liệu trình.

Cần hướng dẫn cho bệnh nhân tập nhẹ nhàng hằng ngày tại nhà theo sinh lý vận động của khớp vai 2-3 lần/ngày như dang tay, giơ tay, khép tay, đưa tay ra trước và ra sau, quay tay.

Tóm lại, xoa bóp bấm huyệt là một trong những phương pháp điều trị không dùng thuốc kết hợp luyện tập vận động của bệnh nhân đem lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân, giúp phục hồi tốt chức năng vận động của khớp vai và giúp bệnh nhân trở lại lao động, sinh hoạt bình thường.

Theo SKĐS

Bệnh thoái hóa khớp: thuốc điều trị

Thoái hóa khớp là một bệnh khớp thường gặp nhất ở người lớn tuổi với chi phí xã hội cho chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh ngày càng tăng.

Hiện tại có thể khẳng định chưa có thuốc nào điều trị khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp. Điều trị thoái hóa khớp nhằm mục đích giảm đau cho bệnh nhân và duy trì vận động khớp.

Lựa chọn các thuốc điều trị thích hợp cho một bệnh nhân phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân đó, như tuổi, trọng lượng, mức độ thoái hóa cũng như các bệnh kèm theo.

benh_thoai_hoa_khop_thuoc_dieu_tri

Thuốc giảm đau đơn thuần:

Chỉ định trong những trường hợp thoái hóa khớp nhẹ, kết hợp với chế độ vận động hợp lý. Thuốc giảm đau có thể dùng đơn thuần là paracetamol nhưng không được vượt quá 3g một ngày. Nếu bệnh nhân vẫn đau, chuyển sang dùng dạng kết hợp paracetamol + codein (như efferalgan codein hoặc di-antalvic).

Thuốc chống viêm giảm đau không steroid (CVKS):

Đây là nhóm thuốc điều trị triệu chứng tác dụng nhanh. Do trong bệnh thoái hóa khớp có kèm hiện tượng viêm màng hoạt dịch khớp nên việc dùng thuốc nhóm này có tác dụng tốt đối với bệnh. Cơ chế chính của nhóm thuốc này là thông qua ức chế men cyclooxygenase 2 (COX-2) ức chế tổng hợp các prostaglandin gây viêm. Tuy nhiên, một số thuốc sẽ ức chế cả men COX-1 có tác dụng trong quá trình tổng hợp các prostaglandin có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Vì vậy, người ta chia nhóm thuốc này  thành các nhóm: nhóm CVKS không chọn lọc (ức chế cả COX-1 và COX-2) có tác dụng phụ nhiều hơn trên dạ dày. Một số thuốc trong nhóm như aspirin hoặc diclofenac.

Nhóm thứ hai là nhóm ức chế COX-2 không chuyên biệt (chủ yếu ức chế COX-2 nhưng vẫn ức chế COX-1), ví dụ meloxicam  hoặc nimesulid.

Nhóm thứ ba là nhóm ức chế COX-2 tương đối chuyên biệt (ít tác dụng phụ lên dạ dày) như celecoxib viên 100mg, 200mg, ngày uống từ 1 – 2 viên. Lưu ý thận trọng ở những bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch do làm gia tăng các biến cố tim mạch.

Các tác dụng phụ của thuốc CVKS như gây giảm chức năng thận, tăng men gan; đặc biệt về dạ dày – ruột gây viêm, xuất huyết tiêu hóa. Có thể hạn chế tác dụng phụ trên dạ dày bằng cách sử dụng thuốc điều trị viêm dạ dày nhóm ức chế bơm proton (omeprazon, nesomeprazon), hoặc thuốc kháng histamin H2 (ranitidin), hoặc đồng đẳng của prostaglandine E1 (misoprostol – cytotex).

Một dạng CVKS dùng an toàn hơn là thuốc bôi ngoài như diclofenac gel bôi, hoặc chế phẩm có aspirin bôi tại chỗ khớp tổn thương cũng có tác dụng tốt.

Thuốc có corticoid:

Không được dùng corticoid đường toàn thân (prednisolon, dexamethason) uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch trong điều trị bệnh thoái hóa khớp. Đây là sai lầm mà nhiều bệnh nhân hay thầy thuốc không chuyên khoa hay mắc.

Đường tiêm nội khớp có hiệu quả đối với các dấu hiệu chức năng của bệnh như giảm đau, cải thiện chức năng vận động. Có thể dùng hydrocortison acetate 2-3 mũi tiêm một đợt với khoảng cách giữa hai mũi tiêm từ 5-7 ngày và khoảng cách giữa hai đợt phải ít nhất 3 tháng. Hoặc methylprednisolon acetat (depomedron 40mg), tiêm mỗi đợt 1-2 mũi, cách khoảng 2 tuần một mũi, khoảng cách mỗi đợt tương tự trên.

Lưu ý, chỉ được tiêm khớp khi có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa xương khớp và trong điều kiện vô trùng tuyệt đối tại cơ sở y tế chuyên khoa. Hiện nay có rất nhiều người không có bằng cấp chuyên môn tự ý tiêm các thuốc corticoid không đúng chỉ định, không đúng liều lượng và vị trí, trong điều kiện không vô khuẩn gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng cho bệnh nhân như nhiễm trùng khớp, da, cơ hay hội chứng phụ thuộc corticoid.

Thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm:

Đây là nhóm thuốc điều trị cơ bản có tác dụng chậm (thường sau 2- 4 tuần) nhưng hiệu quả điều trị được duy trì cả sau khi ngừng điều trị (sau vài tuần đến 2-3 tháng). Tuy nhiên, thường phải dùng kéo dài từ 1-2 tháng hoặc hơn mỗi đợt và cần nhắc lại liệu trình điều trị sau một thời gian nghỉ. Dung nạp thuốc tốt, dường như không có tác dụng phụ. Các thuốc thường dùng gồm các loại như glucosamin sulfat uống hoặc tiêm bắp, chondroitine sulfat hoặc dạng phối hợp hai thuốc; hoặc diacerhein.

Liệu pháp bổ sung chất nhầy bằng muối natri của acid hyaluronic:

Thuốc có tác dụng bao phủ và bôi trơn bề mặt sụn khớp, ngăn cản sự mất sụn, có tác dụng giảm đau và cải thiện biên độ vận động khớp. Tiêm natri hyaluronat có trọng lượng phân tử cao vào nội khớp bị thoái hóa sẽ bổ sung độ nhớt cho khớp. Có thể nhắc lại liệu pháp bổ sung chất nhờn sau một năm. Hiện nay đã mở rộng tiêm chất nhờn ra một số vị trí thoái hóa khớp khác như khớp vai hoặc mở rộng ra các khớp nhỏ hơn như khớp cổ tay, khớp khuỷu, thậm chí cả khớp đốt bàn ngón tay.

Theo SKĐS

Giảm chứng đau xơ cơ bằng chế độ dinh dưỡng

Những loại thực phẩm tươi ngon và một vài thay đổi trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày sẽ giúp bạn cải thiện các triệu chứng của bệnh đau xơ cơ.

1. Tăng cường omega 3

Omega 3 chứa nhiều hoạt chất kháng viêm, rất dồi dào trong cá và hạt óc chó giúp ngăn ngừa các triệu chứng trầm cảm, cao huyết áp và các vấn đề về khớp và cả tình trạng đau xơ cơ. Hơn nữa, omega 3 có tác dụng kích thích sự sản sinh các hợp chất trong cơ thể hỗ trợ kiểm soát tình trạng viêm khớp và mô.

2. Bổ sung vitamin D
Vitamin D khá quan trọng đối với bệnh nhân đau xơ cơ và sẵn có trong ánh nắng mặt trời. Một số chuyên gia cho rằng điều chỉnh sự thiếu hụt vitamin D giúp bạn giảm các triệu chứng đau nhức. Bệnh nhân đau xơ cơ nên phơi nắng để bổ sung vitamin D, đặc biệt vào mùa đông. Thiếu hụt vitamin D trong cơ thể sẽ dẫn đến đau xương và khớp.

kiem-soat-dau-xo-co-tu-che-do-dinh-duong

3. Hạn chế chất phụ gia
Các chất phụ gia thực phẩm thường thấy trong đồ ngọt và đồ uống nhẹ kích thích sự nhạy cảm của bạn với cơn đau. Bạn nên hạn chế sử dụng các chất phụ gia thực phẩm. Một số nghiên cứu cho thấy tiêu thụ nhiều chất béo trans dẫn đến chứng đau cơ xương và khiến bệnh đau xơ cơ trầm trọng hơn. Mặt khác, các chất tạo ngọt có thể gây đau khớp và nhức mỏi, rối loạn nhận thức, chóng mặt và nhức đầu.

4. Bổ sung protein nạc

Giảm lượng carbohydrate và bổ sung protein nạc trong chế độ dinh dưỡng có thể giúp bạn duy trì lượng đường huyết và phòng tránh bệnh đau xơ cơ. Theo Hiệp hội Đau xơ cơ quốc gia Hoa Kỳ, hãy lựa chọn protein nạc như thịt gia cầm, các loại đỗ, sản phẩm đậu nành và cá thay thế thịt đỏ. Và theo trung tâm y tế trường đại học Maryland, cá chứa nhiều axit béo omega 3 giúp giảm viêm nhiễm và hỗ trợ hệ miễn dịch.

5. Tăng cường ăn cá

Rất dồi dào axit béo omega 3, cá có tác dụng tốt đối với sức khỏe, giữ cho trái tim khỏe mạnh và giảm đau khớp. Theo chuyên gia y tế, các loại cá như các hồi, cá mòi và cá trích giúp tăng cường lượng cholesterol tốt tới 4% và giảm viêm nhiễm. Ngoài ra, bạn có thể bổ sung một số nguồn omega 3 thực vật như dầu đậu nành, dầu colona, dầu hạt lanh, tinh dầu từ hạt óc chó…vv.

6. Hạn chế đồ uống chứa caffeine

Bệnh nhân đau xơ cơ thường ngủ kém và dễ sử dụng caffeine để duy trì sự tỉnh táo trong công việc hàng ngày. Tuy nhiên, caffeine sẽ khiến bạn căng thẳng, phá vỡ lịch sinh hoạt và giấc ngủ đêm. Do vậy, bạn hãy thử sử dụng đồ uống không chứa caffeine như trà thảo dược giúp bạn ngon giấc ban đêm.

Theo Tiền phong/ Healthmeup/SKDS

Giúp trẻ giảm đau nhanh khi mọc răng

Đa số trẻ nhú chiếc răng sữa đầu tiên khi được khoảng 6 tháng tuổi. Và tại sinh nhật lần thứ 3, bạn sẽ thấy bé có một hàm răng hoàn thiện với 20 chiếc răng sữa nho nhỏ xinh xinh.

Mọc răng là một quá trình khá tốn kém thời gian mà bé sẽ phải trải qua. Trong thực tế, bé sẽ mất 3 năm đầu tiên để mọc đầy đủ cả hàm răng.

Đa số trẻ nhú chiếc răng sữa đầu tiên khi được khoảng 6 tháng tuổi. Và tại sinh nhật lần thứ 3, bạn sẽ thấy bé có một hàm răng hoàn thiện với 20 chiếc răng sữa nho nhỏ xinh xinh.

Những hiện tượng đi kèm mọc răng

Có một số tranh cãi liên quan tới vấn đề có hay không chuyện mọc răng gây ra đau đớn ở trẻ. Trẻ mọc răng có thể sẽ kèm theo một số triệu chứng: lợi bị sưng đỏ, chảy dãi, cằm quanh miệng nổi ban, sốt, tiêu chảy, nổi rôm sảy, sổ mũi, ho, thích cắn, cáu kỉnh, biếng ăn… nhưng bạn hãy yên tâm rằng mọc răng không gây nên bệnh.

Đối với một số trẻ sơ sinh, mọc răng là một thử thách không đơn giản bởi nó gây ra đau nhức, khó chịu.

Sau sự xuất hiện của hai chiếc răng cửa của hàm dưới, hai chiếc răng cửa hàm trên, răng bên cạnh răng cửa hàm trên, ranh nanh và rồi các răng dọc theo bên cạnh chúng cũng sẽ từ từ “nảy mầm”. Mọc răng sớm hay muộn cũng một phần do di truyền, vì vậy nếu trước đây bạn mọc răng sớm thì bạn nên yên tâm rằng điều này có thể sẽ xảy ra ở bé nhà mình.

meo-giup-giam-dau-cho-be-khi-moc-rang-sua-1

Giảm đau răng cho con

Mọc răng thường kèm theo sốt, đau nhức, chảy dãi,… vì thế sinh hoạt, ăn uống hàng ngày của bé bị xáo trộn là điều bình thường, hoàn toàn dễ hiểu. Bạn không thể làm bất cứ điều gì để bảo chiếc răng của bé rằng “đừng làm đau chủ nhân”, nhưng có vài cách bé sẽ thoải mái hơn khi bị đau răng nếu bạn tuân thủ theo vài cách sau:

Bé có thể ăn ít đi, không hào hứng với việc ăn uống như trước đây, bạn đừng cố ép con ăn nhiều vào thời điểm này làm gì mà cách hay nhất vẫn là chia nhỏ bữa ăn của bé, cha mẹ nên cho bé ăn các loại thức ăn mềm như cháo hạt để kích thích răng bé mọc nhanh hơn và việc nhai cũng làm bé thoải mái, không gây đau đớn.

Dành thời gian trò chuyện, an ủi, ôm ấp yêu thương bé nhiều hơn vào thời điểm này.

Bạn có thể cho bé nhai những đồ ăn mát mẻ, thực phẩm mềm, nhuyễn, chúng giúp bé nuốt không phải nhai. Bạn cần lưu ý rằng răng bé sẽ được mọc nhanh hơn nếu bé tiếp nhận những thực phẩm lạnh.

Chẳng hạn như táo, lê, cà rốt xay nhuyễn để trong ngăn mát tủ lạnh, hoặc bạn có thể tìm mua và cho bé ngậm một cái vòng rồi làm lạnh nó trong tủ lạnh (vòng được thiết kế riêng làm nướu bé dễ chịu).

Nếu bé hơn 4 tháng tuổi bạn hoàn toàn có thể chà gel vào nướu để hỗ trợ giảm đau cho bé.

Trường hợp bé sốt trên 38,5 độ, bậc cha mẹ có thể cho bé sử dụng thuốc hạ sốt sau khi đã tham khảo đầy đủ ý kiến của bác sĩ.

Khi mọc răng, nhiều bé bị đi ngoài nhiều lần từ 3 – 6 ngày. Bà mẹ cần cho bé uống thật nhiều nước để bù vào lượng nước đã mất đi.

Ngoài ra, bạn hãy bắt tay vào công cuộc làm sạch sẽ thường xuyên những chiếc răng của bé. Trẻ còn nhỏ chưa thể dùng tới bàn chải đánh răng, bạn có thể đánh răng cho bé bằng một miếng gạc nhỏ được làm ẩm, mềm chà lưỡi và răng bé một cách nhẹ nhàng.

Cha mẹ có thể dùng tay để mát-xa nhẹ nướu răng để bé đỡ đau nhức. Lưu ý rằng trước khi thực hiện động tác này, bậc phụ huynh cần rửa tay sạch sẽ để tránh đưa vi khuẩn vào miệng bé.

Cha mẹ cũng có thể đánh lạc hướng cơn đau của bé bằng cách thu hút bé vào một hoạt động, trò chơi mà bé yêu thích như nghe nhạc, chơi đồ chơi mới…

Sau 18 tháng, bé hoàn toàn có thể sử dụng được bàn chải đánh răng mềm với kem đánh răng dành riêng cho bé.
Tóm lại, sau khi đã thực hiện một loạt các cách trên nhưng bé vẫn đau đớn, quấy khóc, bỏ ăn,… bạn nên nhờ tới sự trợ giúp từ chuyên gia y tế.

Theo A.family