Tag Archives: Giai đoạn

Ung thư buồng trứng

Phát hiện sớm và điều trị ung thư buồng trứng có thể dẫn đến một tỷ lệ chữa khỏi cao từ 90-95%.

Các bác sĩ tin rằng có những triệu chứng có thể giúp phát hiện bệnh. Tuy nhiên, nếu bệnh ung thư buồng trứng không được phát hiện sớm trước khi vào giai đoạn nặng, nó có tỷ lệ tử vong cao nhất trong bất kỳ bệnh ung thư bộ phận sinh dục nào.

ung-thu-buong-trung

Sự phát triển của bệnh
Bệnh ung thư buồng trứng được chia thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn I: Ung thư giới hạn ở một hoặc hai bên buồng trứng, chưa xâm lấn cơ quan khác.
Giai đoạn II: Ung thư xâm lấn đến các cơ quan lân cận buồng trứng nằm trong tiểu khung (tử cung, vòi trứng…).
Giai đoạn III: Ung thư lan tràn đến các cơ quan khác trong ổ bụng hoặc hệ thống hạch trong ổ bụng.
Giai IV: Ung thư di căn tới gan và/hoặc di căn tới các cơ quan ngoài ổ bụng.
Giai đoạn I, II được coi là giai đoạn sớm, giai đoạn III, IV là giai đoạn muộn.

Các dấu hiệu để phát hiện sớm ung thư buồng trứng:
1. Bụng căng chướng, to dần, nhất là phần bụng dưới rốn.
2. Đau bụng ngầm, kèm theo cảm giác nặng tức bụng dưới rốn.
3. Rối loạn đường tiểu: người bệnh tiểu lắc nhắc nhiều lần trong ngày.
4. Ngán ăn và có cảm giác đầy bụng.

Tuy nhiên một vài dấu hiệu trên là phổ biến đối với phụ nữ, và nó không thể khẳng định có ung thư buồng trứng. Bạn cần chú ý xem các triệu chứng này có kéo dài không? Các triệu chứng mới nhất có nặng hơn lần xuất hiện trước không? Nếu cảm thấy thực sự không khoẻ, bạn phải đến gặp bác sỹ ngay lập tức, hãy mô tả một cách chi tiết những triệu chứng bạn có và thời gian nó xuất hiện bao lâu. Bác sỹ sẽ thực hiện khám cho bạn và làm các xét nghiệm cần thiết để xem có bất kỳ bất thường gì không.

Các công cụ, phương tiện để chẩn đoán ung thư buồng trứng
Thăm khám phụ khoa và khám toàn thân (khám bụng, khám vú, khám hệ thống hạch…)
Làm các xét nghiệm như: siêu âm (siêu âm ổ bụng, đôi khi phải sử dụng siêu âm đầu dò âm đạo), chụp X-quang phổi để xác định có di căn phổi hay không, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng để xác định khối u buồng trứng.

Làm các xét nghiệm định lượng chất chỉ điểm khối u như a FP, b hCG, CA 12-5… Tuy nhiên, các dấu hiệu trên chỉ có giá trị định hướng chẩn đoán. Để khẳng định một trường hợp ung thư buồng trứng cần có kết quả mô bệnh học.

Điều trị
Nếu được chẩn đoán sớm, ung thư buồng trứng được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ củax buồng trứng kết hợp với hóa trị. Tuy nhiên, không phải tất cả các tế bào ung thư sẽ được loại bỏ thông qua các điều trị này, và bệnh nhân có thể bị tái phát bệnh. Nếu điều này xảy ra, việc điều trị thông thường là bổ sung hóa trị.

Theo Tri Thức Trẻ

Các giai đoạn của bệnh ho gà

1. Định nghĩa:
Ho gà là một bệnh nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp do vi khuẩn Bordetella pertussis. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là cơn ho đặc biệt.
2. Dịch tễ học:
Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Hàng năm có khoảng 50 – 60 triệu ca mắc bệnh, trong đó khoảng 600.000 đến 1 triệu trường hợp tử vong. Tuy nhiên trong 2 thập niên vừa qua chương trình tiêm chủng mở rộng phát triển nên tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể. Trong những năm 1989, 1990, 1993 dịch ho gà xảy ra ở nhiều bang tại Mỹ với hơn 4.500 ca được báo cáo. Trong khi đó tại Trung tâm bệnh nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh cho thấy năm 1994 có 13 ca và năm 1996 có 1 ca.

cac-giai-doan-cua-benh-ho-ga1
Tại Bệnh viện trung ương Huế:
Từ năm 1980 – 1985 có 1410 ca, tỷ lệ tử vong 8,7%. Từ năm 1989 – 1993 có 246 trường hợp mắc bệnh, tỷ lệ tử vong 16,4%. Năm 2000: 104 ca, năm 2001: 70 ca, năm 2002: 62 ca và không có ca nào tử vong.
Dịch ho gà xảy ra theo chu kỳ 3 – 5 năm, không theo mùa rõ rệt. Bệnh lây trực tiếp qua đường hô hấp giữa người với người. Cường độ lây mạnh nhất trong giai đoạn viêm long và giảm dần từ tuần thứ 3 sau khi bắt đầu có giai đoạn ho cơn. Người là vật chủ duy nhất mang mầm bệnh.
Bệnh thường lây do tiếp xúc lâu, chẳng hạn như trong gia đình (70 – 100%), tại trường học (25 – 50%). Không có tình trạng mang mầm bệnh mạn tính.
Miễn dịch từ mẹ truyền sang cho con rất yếu, nên trẻ sơ sinh nếu gặp phải nguồn lây thì có thể mắc bệnh ngay trong những tuần lễ đầu. Trong khi đó miễn dịch chủ động tuy kéo dài nhưng có thể giảm dần theo thời gian. Do đó việc tiêm nhắc lại là điều rất cần thiết để hạn chế nguồn lây bệnh.
Đối tượng mắc bệnh:
– Trẻ nhũ nhi 50%.
– Trẻ nhỏ và trẻ lớn 15%.
Yếu tố tiên lượng nặng:
– Trẻ dưới 6 tháng tuổi.
– Ăn uống kém, nôn nhiều.
– Cơn ngưng thở kéo dài và tím tồn tại giữa 2 cơn ho.
– Co giật nhiều lần.
– Bạch cầu máu ngoại vi > 50.000/mm3.
3. Sinh bệnh học:

cac-giai-doan-cua-benh-ho-ga
– Người ta cho rằng vi khuẩn xâm nhập vào đường hô hấp trên, rồi khu trú và phát triển ở lông mao biểu mô trụ của đường thanh quản, khí quản. Vi khuẩn không xâm nhập màng niêm mạc cũng như không tràn qua đường tuần hoàn. Vi khuẩn gắn vào màng bằng hệ thống lông với những sợi ngưng kết hồng cầu (FHA: Filamentous hemagglutinin) và ở đó vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố hoặc độc tố ho gà (PT: Pertussis toxin). Ngày nay người ta biết rằng độc tố này chỉ do B. Pertussis tiết ra, đây là một loại protein độc lực chính đóng vai trò gây bệnh.
– Độc tố tế bào ở khí quản, adenylate cyclase và pertusis toxin (độc tố ho gà) xuất hiện đóng vai trò ức chế sự thanh thải vi khuẩn. Độc tố tế bào khí quản, yếu tố hoại tử biểu bì và adenylate cyclase là những chất chịu trách nhiệm gây tổn thương tại chỗ ở biểu mô, vì vậy gây nên triệu chứng bệnh lý ở đường hô hấp. Trong thời kỳ nung bệnh từ 5 đến 21 ngày, vi khuẩn tấn công vào bề mặt tế bào và người ta nhận thấy vào khoảng 140 vi khuẩn cũng đủ để gây bệnh ho gà. Đảo Langerhans của tụy được hoạt hóa làm tăng sản Insulin gây giảm đường huyết. Tổn thương não đôi khi cũng gặp trong ho gà nặng có thể liên quan đến tình trạng hạ đường máu hoặc thiếu oxy trong giai đoạn ho cơn.
– Ho kéo dài trong ho gà là do biểu mô phế quản bị viêm, hoại tử, các chất tiết trong lòng phế quản bị tích tụ lại và do ảnh hưởng của yếu tố gây độc LPS (Lipopolysaccharide), yếu tố gây độc tế bào khí quản TCT (tracheal cytotoxin) làm đình trệ thải các chất độc. Hơn nữa, sự sản xuất tế bào lympho bị thay đổi và do ảnh hưởng đến thực bào của adenylate cyclase nên chức năng miễn dịch bị suy giảm.
4. Lâm sàng:
– Thời kỳ ủ bệnh khoảng từ 7 – 14 ngày. Giai đoạn này bệnh nhi thường hoàn toàn yên lặng, khó xác định vì không biết một cách chính xác trẻ bị nhiễm bệnh. Diễn tiến của ho gà trải qua 3 giai đoạn:
4.1. Giai đoạn xuất tiết: Kéo dài 1 đến 2 tuần, các triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp trên thể hiện không rõ ràng, chỉ có ho là dấu hiệu gợi ý, phần nhiều ho về đêm.
4.2. Giai đoạn kịch phát: Dấu hiệu chính trong giai đoạn này là các cơn ho. Cơn ho xuất hiện một cách tự nhiên hay do một kích thích nhỏ. Cơn ho kéo dài rũ rượi không sao kiềm chế được và thể hiện 3 đặc điểm: ho, thở rít và khạc đàm hoặc nôn mửa. Tiếp theo cơn ho dữ dội là bệnh nhi vã mồ hôi, tĩnh mạch cổ và da đầu nổi rõ. Đặc biệt ở trẻ quá nhỏ và trẻ sơ sinh có những cơn ngưng thở ngắn thay thế cho hiện tượng rít khi hít vào.
Giữa các cơn ho, thông thường trẻ cảm thấy dễ chịu và có thể sinh hoạt bình thường. Ngoài ra trong giai đoạn này còn thấy một số dấu hiệu như: chảy máu cam, xuất huyết kết mạc mắt hay bầm tím quanh mi mắt dưới.
4.3. Giai đoạn hồi phục: Kéo dài trong vòng 1 – 2 tuần. Cơn ho ngắn lại, số cơn giảm. Ho còn có thể tồn tại trong vài tháng. Nếu bị nhiễm khuẩn gian phát chẳng hạn như cảm lạnh làm cho trẻ trở lại những cơn ho kịch phát đến mức có thể nhầm với một đợt tấn công mới của bệnh mà Lesage gọi là Tic ho gà .
5. Cận lâm sàng:
5.1. X quang phổi: Có thể có các hình ảnh sau:
– Hình mờ từ rốn phổi tỏa xuống tận cơ hoành cả 2 bên.
– Hình mờ tam giác, đỉnh ở rốn phổi đáy ở cơ hoành, thường thấy ở đáy phổi phải.
– Hình mạng lưới thấy cả phế trường nhưng thường đậm ở đáy và cạnh rốn phổi.
– Phản ứng màng phổi làm mờ góc sườn hoành, thường chỉ một bên.
5.2. Biến đổi huyết học: Chủ yếu là dòng bạch cầu trong giai đoạn xuất tiết và trong thời kỳ kịch phát. Số lượng bạch cầu tăng từ 20.000 đến 50.000 tế bào/mm3 ở máu ngoại vi, có khi lên tới 80.000 – 100.000/mm3. Tăng đặc biệt là bạch cầu lympho.
6. Biến chứng:
6.1. Biến chứng ở đường hô hấp:
– Viêm phổi: là biến chứng thường gặp nhất, chiếm 20%, thường xảy ra vào tuần thứ 2, thứ 3 của giai đoạn ho cơn. Tác nhân có thể do chính bản thân B. pertussis nhưng thường gặp nhất là do vi khuẩn thứ phát xâm nhập vào.
– Xẹp phổi: chiếm tỷ lệ 5%. Nguyên nhân do các nút nhầy làm bít tắc các phế quản nhỏ.
– Trong giai đoạn kịch phát, do cơn ho quá dữ dội dễ làm vỡ các phế nang gây ra tình trạng tràn khí mô kẽ hoặc tràn khí dưới da.
6.2. Biến chứng thần kinh:
– Co giật thường gặp ở trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh.
– Liệt nửa người, liệt chi và mất ngôn ngữ là do xuất huyết hoặc xung huyết não.
– Tetanie xuất hiện khi trẻ nôn mửa nhiều.
– Bệnh não cấp còn gọi là chứng kinh giật ho gà.
6.3. Biến chứng cơ học:
Loét hãm lưỡi, vỡ cơ hoành, thoát vị rốn, bẹn, sa trực tràng, tụ máu dưới kết mạc, bầm tím dưới mí mắt, và nguy hiểm nhất là chảy máu nội sọ.
7. Chẩn đoán:
– Có nguồn lây rõ ràng. Lâm sàng chứng kiến cơn ho điển hình của ho gà.
– Bạch cầu tăng cao trong máu ngoại vi và dòng lympho chiếm ưu thế.
– Cấy tìm trực khuẩn ho gà từ dịch xuất tiết ở mũi họng. Tỷ lệ dương tính khoảng 30 – 60% trong giai đoạn xuất tiết hay đầu giai đoạn ho cơn.
– Làm kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) để xác định ADN của vi khuẩn ho gà lấy từ dịch mũi họng, kỹ thuật này rất nhanh và đặc hiệu hơn cấy tìm vi khuẩn.
8. Chẩn đoán gián biệt: Gián biệt cơn ho với các nguyên nhân sau:
– B. parapertussis cũng gây ho giống ho gà nhưng lâm sàng nhẹ nhàng hơn.
– B. bronchiseptica chỉ gây bệnh cho loài gặm nhấm, mèo. Người mắc bệnh do tiếp xúc với các loại súc vật ấy.
– Adenovirus 1, 2, 3, 5, 12, 19.
– Viêm khí phế quản, viêm tiểu phế quản và viêm phổi kẽ.
– Viêm phổi do Mycoplasma: thông thường loại này sốt cao, ho dữ dội, đau đầu và nghe phổi có ran. Bệnh hay gặp ở trẻ lớn.
9. Dự phòng:
– Chủng ngừa vaccin cho trẻ để tạo miễn dịch chủ động (đạt hiệu quả từ 70 – 90%).
– Phát hiện và cách ly sớm cho những trẻ nghi ngờ bị ho gà trong thời kỳ xuất tiết.
– Dùng Erythromycine để dự phòng khi có nguồn lây ở gia đình hoặc tiếp xúc ở bệnh viện, đặc biệt cho trẻ dưới 2 tuổi. Thuốc dùng trong 10 ngày.
10. Điều trị:
– Với trẻ lớn và thể nhẹ thì có thể cho điều trị ngoại trú hay ở các tuyến cơ sở. Các thuốc an thần, giảm ho, long đàm, kháng histamine không có hiệu quả mà có thể gây nguy hiểm.
– Đối với trẻ nhỏ, mẹ phải cho ăn lỏng hoặc bú nhiều lần trong ngày và từng ít một. Khi trẻ ho phải bồng ngồi dậy và nghiêng đầu về một bên. Phải hướng dẫn cho bà mẹ biết cách móc đờm giải, biết cách hô hấp nhân tạo miệng-miệng khi trẻ ngưng thở, tím tái trong bối cảnh chưa cấp cứu kịp. Phải tránh khói bếp, nhất là khói thuốc lá.
– Những trường hợp nặng và trẻ quá nhỏ thì phải đưa vào bệnh viện để theo dõi tại phòng cấp cứu đặc biệt.
Điều trị thuốc:
– Erythromycine 30 – 50 mg/kg/24 giờ chia 4 lần uống hoặc Cotrimoxazole 30 – 50 mg/kg/24 giờ. Kèm theo Prednisolone 1 – 2 mg/kg/ngày. Salbutamol 0,2 mg/kg/ngày.
– Thời gian điều trị là 14 ngày. Đối với trẻ sơ sinh thì chống chỉ định với Cotrimoxazole.

Theo sức khỏe

Các giai đoạn của phù gai thị

Phù gai thị là triệu chứng khách quan và có giá trị nhất trong hội chứng tăng áp lực nội sọ nhưng không phải trường hợp nào cũng có và thường xuất hiện muộn khi các triệu chứng khác đã rõ ràng.
Tùy mức độ của tăng áp lực nội sọ mà gai thị diễn biến theo các giai đoạn khác nhau từ nhẹ đến nặng”
+ Giai đoạn đầu: Giai đoạn ứ gai biểu hiện gai thị đầy lên so với bề mặt của võng mạc và hồng hơn bình thường. Bờ gai thị mờ dần từ phía mũi đến phía thái dương, mất ánh trung tâm các mạch máu cương tụ.

cac-giai-doan-cua-phu-gai-thi
+ Giai đoạn phù gai: Bờ vai thị bị xoá hoàn toàn, đĩa thị bị phù sưng trên bề mặt võng mạc, như hình nấm, người ta đo độ lồi này bằng diop (1mm = 3diop) gai thị đỏ hồng tua ra như ngọn lửa. Các mạch máu cương tụ ngoằn ngoèo.
+ Giai đoạn xuất huyết: Ngoài hình ảnh trên còn thấy những đám xuất huyết ở gai thị và võng mạc.
+ Giai đoạn teo gai: Giai đoạn cuối cùng, giai đoạn mất bù. Gai thị trở nên bạc màu trắng bệch, mất bóng, bờ nham nhở. Các mạch máu thưa thớt nhạt màu, kèm theo trên lâm sàng thị lực bệnh nhân giảm.
Ở trẻ em dưới 5 tuổi do hộp sọ còn có khả năng giãn nở chút ít thường không có đầy đủ các giai đoạn trên, ít khi thấy xuất huyết gai thị mà thường dần dần teo gai thị.
Phù gai thị trong tăng áp lực nội sọ thường xuất hiện cả hai bên với mức độ có thể khác nhau. Hiếm gặp phù gai đơn độc một bên. Trong u não thuỳ trước trán, có thể gặp teo gai thị bên có khối u và phù gai bên đối diện (hội chứng Foster Kennedy).

Theo hỏi đáp

Cách phát hiện sớm ung thư tinh hoàn

Giai đoạn đầu của ung thư tinh hoàn thường không có dấu hiệu gì đặc biệt. Tuy nhiên nếu chú ý người bệnh có thể tự phát hiện những dấu hiệu bất thường. Nếu được phát hiện và điều trị sớm, hiệu quả điều trị sẽ tốt, vẫn đảm bảo khả năng sinh sản.

Triệu chứng của ung thư tinh hoàn thường có các biểu hiện: Có u nhỏ không đau ở vùng tinh hoàn, tinh hoàn to hơn bình thường, đau bên trong tinh hoàn, ngực và núm vú nam giới to hơn bình thường, có cảm giác nằng nặng ở bìu, gai sốt và hơi đau ở vú,… Nếu được phát hiện sớm thì đối với thể ung thư tinh hoàn thường gặp nhất là ung thư tuyến tinh và tỷ lệ chữa khỏi có thể gần 100%. Tuy nhiên nếu không được điều trị sớm, các tế bào ung thư có thể lan rộng ra các cơ quan gần đó vì thế việc phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường rất quan trọng.

ung-thu-tinh-hoan

Để có thể phát hiện sớm ung thư tinh hoàn, cách tốt nhất là nên chú ý tự kiểm tra tinh hoàn thường xuyên như sau:

– Kiểm tra vùng tinh hoàn ngay sau khi tắm bằng nước ấm, nước ấm làm giãn bìu, da vùng bìu đang mềm giúp dễ phát hiện bất thường ở tinh hoàn. Đặc biệt chú ý đến kích cỡ, độ lớn của tinh hoàn. Tinh hoàn bình thường của người trưởng thành chỉ to bằng ngón tay cái của người đó, không đau, mặt nhẵn.

– Dùng 2 tay nhẹ nhàng đưa đi đưa lại các viên tinh hoàn. Kiểm tra xem có u bướu gì bất thường không. Sờ nắn nhẹ tinh hoàn xem có thấy đau, có u nhỏ hay không nhẵn thì nên đi khám. Nên cảnh giác với những cục nhỏ dưới da như mụn cơm trước hoặc dọc theo tinh hoàn.

– Nếu tinh hoàn bị sưng, có u cục cứng dù nhỏ cũng cần được thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu và sinh dục khám. Nếu chẩn đoán xác định ung thư tinh hoàn, tùy mức độ bệnh các bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Cách điều trị thông thường là phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn bị bệnh, hóa trị để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại, để lại tinh hoàn lành, do đó vẫn đảm bảo khả năng tình dục và sinh sản.
Đối với những người có nguy cơ cao như: Những người ở trong gia đình có tiền sử ung thư tinh hoàn; Tinh hoàn ẩn không di chuyển xuống bìu trong tuổi thiếu niên; Bị chấn thương tinh hoàn; Viêm tinh hoàn do quai bị sau tuổi dậy thì; Những người làm việc trong điều kiện nhiệt độ quá nóng như thợ mỏ, lái xe đường dài,… cần thường xuyên kiểm tra tinh hoàn và khám nam khoa định kỳ để phát hiện sớm ung thư tinh hoàn.

Bác sĩ Vũ Minh