Tag Archives: gan

Ung thư kèm bệnh gan vì đường hóa học

Vào mùa hè, nhiều người bán chè để tăng thêm độ ngọt của chè và hạ giá thành đã sử dụng đường hóa học. Chỉ cần một lượng nhỏ đường hóa học có thể tăng thêm độ ngọt đến 30 lần so với đường thông thường.

* Axit hexamic (axit xyclamic): Là một loại bột tinh thể màu trắng, xốp, không hút ẩm. So với một số loại đường hóa học thông thường, axit hexamic ngọt gấp 30 lần.

ung-thu-kem-benh-gan-vi-duong-hoa-hoc

Khác với các loại đường khác, nó cho sản phẩm có vị ngọt lại kèm theo vị hơi chua. Khi so sánh với các axit hữu cơ và đường, người ta thấy cho 1,5g axit hexamic tương đương với 1g axit xitric và 1,12g xyclamat; pH của dung dịch 10% axit xyclamic là 1,3.

Người ta chưa cho phép sử dụng axit xyclamic vì nghi ngờ có thể gây ngộ độc cho con người, gây rối loạn chức năng gan và có thể là một trong những nguyên nhân gây ung thư.

* Xyclamat: Đường này đang bị Việt Nam cấm không cho phép sử dụng. Trong công nghiệp thực phẩm sử dụng rộng rãi nhất là natri xyclamat (natri xyclohecxil sunfamat). Đây là một loại bột tinh thể trắng không mùi, hầu như không hoà tan trong rượu, ét xăng, clorofoc nhưng hoà tan rất tốt trong nước.

Phương pháp sử dụng xyclamat được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm ở nhiều nước từ giữa những năm 50 thế kỷ XX.

Xyclamat không làm tác hại đến các men tiêu hoá. Thường ta sử dụng xyclamát ở dạng dung dịch nước nồng độ 15%. Như vậy, 1ml dung dịch này có độ ngọt tương đương 6g đường. Có thể cho xyclamat trực tiếp vào sản phẩm nếu có thể đảm bảo được khuấy đều để hoà tan hoàn toàn.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp xyclamat nhiều sẽ làm giảm độ bền của keo đông và chất đông. Xyclamat thường có vị dễ chịu hơn so với đường saccaroza.

Xyclamat dễ quyện với mùi các hoa quả và nhiều khi còn làm tăng vị tự nhiên của quả. Xyclamat không bị caramen hoá do tác dụng nhiệt trong quá trình chế biến, nên nó rất thích hợp cho quay thịt và dăm bông.

Khi sử dụng xyclamat cùng với đường thấy xuất hiện tác dụng tương hỗ do kết quả làm cho độ ngọt chung tăng lên có thể tính bằng cách cộng các nồng độ.

Cuối cùng không được dùng nó thay thế đường đối với thực phẩm mà đường là chất bảo quản như các loại mứt đặc và mứt dẻo. Còn đối với tất cả các trường hợp khác việc sử dụng nó hoàn toàn thích hợp.

Tính độc hại: Xyclamat đang bị nghi ngờ có thể gây ngộ độc cho người, gây rối loạn chức năng gan và có thể là một trong các nguyên nhân gây ung thư.

Nguồn giáo dục

Hạn chế tối đa tác hại của rượu

Biết rõ chỉ số “tửu lượng” của mình như biết rõ chỉ số huyết áp và cholesterol là một trong mười bước đơn giản để giảm tác hại của bia rượu.

Như với chỉ số huyết áp và cholesterol của mình để duy trì một lối sống lành mạnh, bài viết trên tờ Journal of Psychopharmacology đề nghị mọi người tìm hiểu và theo dõi chỉ số “tửu lượng” của mình với một kế hoạch đơn giản gồm 10 điểm.

Các nhà khoa học Anh và Canada đã đưa ra một bộ các chiến lược dựa trên bằng chứng nhằm vào những việc mà mỗi cá nhân và chính phủ có thể thực hiện để giảm những tác hại của rượu đối với cá nhân và cộng đồng.

“Rượu là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tàn phế ở Anh và châu Âu”, tác giả bào báo cho biết. “Và những tác hại do rượu có thể giảm được một cách dễ dàng.”

han-che-toi-da-tac-hai-cua-ruou

Bốn điểm đầu tiên của chiến lược mười điểm tập trung vào hành vi sức khỏe cá nhân, bao gồm:

1. Theo dõi “tửu lượng” bằng cách tìm ra “con số” của mình, giống như cách bạn biết về huyết áp, nồng độ cholesterol hay khẩu phần calo của bản thân.

2. Giới hạn lượng rượu ở mức 20g (khoảng 2,5 ly theo cỡ ly của Anh, nhưng dưới 2 ly ở hầu hết các nước châu Âu khác) mỗi ngày đối với nam và 15g (khoảng 2 ly ở Anh và từ 1-2 ly ở các nước khác) đối với nữ.

3. Ít hơn sẽ tốt hơn. Như với huyết áp và cholesterol, lượng rượu uống càng ít thì càng có sức khỏe tốt và tuổi thọ dài.

4. Một ngày không bia rượu: Không uống rượu trong một hoặc hai ngày mỗi tuần có thể giúp gan phục hồi khỏi tác động của rượu và làm giảm nguy cơ bị các biến chứng ở gan.

Sáu điểm tiếp theo nhằm vào những can thiệp của chính phủ:

5. Giá rượu thấp sẽ làm giảm tình trạng uống rượu rẻ tiền, nhất là trong giới trẻ.

6. Ghi nhãn số gam cồn, giống như ghi nhãn thực phẩm, sẽ cho phép người dùng theo dõi chính xác lượng cồn uống vào.

7. Hạn chế giờ và địa điểm mua bán rượu sẽ khiến cho việc mua rượu “thiếu suy nghĩ”, nhất là khi đã say, trở nên khó khăn hơn và giúp những người có vấn đề khi “rượu vào” dễ tránh tiếp xúc với rượu tại các cửa hàng và siêu thị.

8. Việc điều trị có thể mang lại lợi ích sức khỏe đáng kể cho cá nhân và xã hội và cần được cung cấp cho tất cả những người có vấn đề về phụ thuộc rượu.

9. Đầu tư cho công tác nghiên cứu triển khai những cách tiếp cận mới đối với chứng nghiện rượu. Các kỹ thuật sử dụng di truyền và chụp ảnh thần kinh sẽ tối ưu hóa và bổ sung cho những nghiên cứu hiện có. Đầu tư cho thuốc điều trị nghiện rượu hiện còn rất hạn chế và cần được đổi mới nhờ các sáng kiến của chính phủ.

10. Phát triển những chất thay thế cho rượu thông qua nghiên cứu khả năng của các thuốc mới “bắt chước” tác dụng của rượu. Một chất thay thế có tác dụng thư giãn mà không gây tác dụng phụ xấu sẽ làm giảm tổn thất về sức khỏe cộng đồng và xã hội do tổn thương do rượu gây ra.

“Điều quan trọng là phải tạo ra một môi trường nơi mối nguy hiểm của bia rượu được biết rõ, và chính phủ có trách nhiệm làm giảm những vấn đề do bia rượu gây ra. Nhưng phương pháp của chúng tôi cũng bao gồm các biện pháp giáo dục và tự theo dõi của các cá nhân đã được chứng minh là hiệu quả đối với cholesterol và huyết áp. Phối hợp các biện pháp cá nhân và xã hội sẽ có thể tác động mạnh đến sức khỏe và tác hại xã hội do rượu, và giảm tỷ lệ tử vong do bia rượu, nhất là ở giới trẻ. Phương pháp được đề xuất này cũng sẽ làm giảm sự kỳ thị hiện đang gắn liền với những rối loạn do sử dụng rượu và nhờ đó tạo điều kiện cho việc can thiệp sớm hơn và nhiều hơn,” các tác giả kết luận.

Cẩm Tú
Nguồn dân trí

Những lợi ích sức khỏe của trái chanh xanh

Không chỉ là loại trái cây giúp giải khát tuyệt vời, trái chanh xanh còn có rất nhiều công dụng với sức khỏe như: giúp giảm cân, hỗ trợ tiêu hóa, bổ sung khoáng chất…

Chanh xanh là một loại quả tuyệt vời mà bạn có thể thưởng thức theo hai hình thức theo nhiều cách: pha nước uống, dùng trong chế biến thực phẩm… Chanh xanh có thể pha nước để trở thành thức uống giải khát tuyệt vời, nhất là sau khi chạy bộ buổi sáng, sau khi tập yoga, hoặc đi bộ miễn là đáp ứng công dụng như một loại quả giải khát tuyệt vời.
nhung-loi-ich-suc-khoe-cua-trai-chanh-xanh
Mặc dù loại quả này có thể trông rất giống với chanh vàng, nhưng nó có một hương vị hoàn toàn khác và có hàm lượng axit chanh thấp hơn so với trái chanh vàng. Dưới đây là một vài lợi ích sức khỏe của loại trái cây tuyệt vời này.

1. Ít calo nên rất tốt cho người ăn kiêng và giảm cân

Là loại trái cây rất ít calo cho nên chanh xanh là thành phần hoàn hảo cho chế độ ăn uống ít chất béo. Ví dụ khi bạn tiêu thụ khoảng 94,5g trái chanh xanh thì nó chỉ cung cấp cho cơ thể bạn khoảng chỉ thêm 43 calo. Carbohydrate thành phần chính của loại năng lượng này.

Trái chanh xanh cũng là loại quả có hàm lượng protein thấp, do đó bạn có thể cần phải bổ sung protein trong chế độ ăn uống của mình, cùng với loại quả này. Vì tất cả những lý do trên mà chanh xanh là một lựa chọn tuyệt vời cho người ăn kiêng, giảm cân và đặc biệt là những người hâm mộ bộ môn thể hình khi nó có khả năng giúp bạn hạn chế độ nhão – xệ của cơ bắp.

2. Hỗ trợ tiêu hóa
nhung-loi-ich-suc-khoe-cua-trai-chanh-xanh1
Trái chanh xanh có chứa flavanoids, có tác dụng thúc đẩy việc sản xuất mật, các axit và dịch tiêu hóa. Flavonoids trong trái chanh xanh còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan. Điều này giúp cho hệ tiêu hóa của cơ thể hoạt động tốt.

Bằng cách trung hòa các dịch tiêu hóa, chanh xanh còn hỗ trợ đào thải chất độc của cơ thể ra ngoài. Dùng chanh xanh cũng sẽ làm dịu dạ dày trong trường hợp bạn đang bị ói mửa, buồn nôn, hoặc tiêu chảy .

3 . Bổ sung vitamin C

Một người nam giới trưởng thành cần 90mg vitamin C hàng ngày, và người phụ nữ trưởng thành cần khoảng 75mg. Là loại trái cây rất giàu vitamin C, trái chanh xanh có thể dễ dàng giúp bạn đáp ứng nhu cầu bổ sung vitamin hàng ngày cho cơ thể theo cách tự nhiên.

Trong mỗi trái chanh xanh có chứa tối thiểu 50mg vitamin C, vì thế bạn không cần phải lo lắng về việc phải bổ sung thêm vitamin C hàng ngày của mình nếu trong chế độ ăn uống đã có trái chanh. Ngoài ra, nếu bạn đang mang thai thì đây thực sự là loại trái cây có lợi cho bạn.

4 . Rất giàu khoáng chất

Chanh xanh là loại trái cây giàu khoáng chất. Hàm lượng kali trong một trái chanh xanh rất cao (khoảng 490mg). Ngoài ra, nếu thường xuyên tiêu thụ chanh xanh thì cơ thể bạn cũng được cung cấp một lượng khoáng chất khác như đồng, canxi, sắt và phốt pho. Tất cả các khoáng chất này đều có nhiều lợi ích cho sức khỏe .

5. Có thể được sử dụng như một loại thuốc dân gian

Khi bạn dự trữ trái chanh xanh trong nhà, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang có một phương thuốc dân gian tuyệt vời. Do rất giàu vitamin C cho nên chanh xanh rất tốt để sử dụng khi bạn bị cảm lạnh thông thường. Nó cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch của bạn.

Ngoài ra, trái chanh xanh còn được cho rằng có thể có đặc tính kháng virus và sát trùng, tăng cường chức năng gan, giảm các vấn đề không tốt cho hệ tiêu hóa.

Nguồn afamily

Công ty DAIBIO + Phòng chẩn trị Y học cổ truyền ĐẠI GIA …

Địa chỉ: Số 38 Ngõ Thái Thịnh 1 – Đống Đa – Hà Nội

Điện thoại: 84 – 04 – 6275 4799

Wesite: http://www.daibio.com.vn/

Nhóm địa điểm: Phòng khám Đông y

Công ty DAIBIO và Phòng Chẩn Trị Y Học Cổ Truyền Đại Gia Đình – DAIBIO là tập hợp các Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Thạc sỹ, Bác sỹ, Lương Y, Dược Sỹ, Kỹ sư trong tập thể Đại Gia Đình có truyền thống làm Nghề Y đã trên 300 năm nay. Nối tiếp dòng dõi lịch sử của dòng họ Lê với các bậc Khai Quốc Công Thần như Hoàng Đế Lê Thái Tổ, Hoàng Đế Lê Thánh Tông…, dòng họ Lê tại Sơn An Hương Sơn Hà Tĩnh cùng các dòng họ nổi tiếng hiếu học ở Việt Nam như Nguyễn Khắc, Đái Duy… đã có rất nhiều bậc Danh Y của Việt Nam như Lương Y Hàn Lâm Viện Lê Nguyễn Lệ, Lương Y Tham Biện Tiểu Phủ Sứ Lê Kinh Hạp, Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm, Tham Tri Bộ Lễ Lê Khánh Lam Lê Quý Bác, Lương Y Lê Khánh Quyền, Nhà Văn Hóa Bác Sỹ Nguyễn Khắc Viện, Giáo Sư Bác Sỹ Lê Kinh Duệ, Bác Sỹ Lê Khánh Đồng, Đại Tá Bác Sỹ Lê Khắc Thiền, Giáo Sư Viện Sỹ Tiến Sỹ Khoa Học Bác Sỹ Đái Duy Ban,…http://www.daibio.com.vn/
http://www.dongtrunghathaovietnam.com/http://facebook.com/DaibioVietnamhttp://daibio.com.vn/truyen-thong-gia-dinh-dong-y/cuoc-doi-gs-vs-tskh-dai-duy-ban.daibioTiền thân là Trung Tâm Sản Xuất Thuốc Y Học Cổ Truyền Đông Y 893 với các sản phẩm có uy tín đã đăng ký với Bộ Y Tế như Thang Thuốc Đại Bổ 893 và Thang Thuốc Bổ Khí Huyết 893 ra đời năm 1989 đã có tiếng vang trong ngành dược cổ truyền những năm 90 của thế kỷ trước. Lần đầu tiên tại Việt Nam, sau thời gian nghiên cứu miệt mài trong nhiều năm, GS. VS. TSKH. BS. Đái Duy Ban cùng với các nhà nghiên cứu uy tín và đội ngũ các nhà khoa học của Công Ty Daibio đã tìm ra giống Đông Trùng Hạ Thảo của Việt Nam và nhân nuôi được thành công giống Đông Trùng Hạ Thảo tại Việt Nam Cordyceps sinensis trên sâu nhộng xén tóc Isaria cerambycidae và phát triển thành Đông Trùng Hạ Thảo Daibio. Kế thừa và phát triển Y Học Cổ Truyền kết hợp Y Học hiện đại qua nhiều thế hệ hơn 300 năm qua, Đại Gia Đình DAIBIO đầy tâm huyết theo đuổi mục tiêu:Bệnh nhân làm trung tâm, khoa học công nghệ làm động lực, chất lượng để đảm bảo.

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

Phòng bệnh gan nhiễm mỡ

Uống 4 tách trà hoặc 4 tách cà phê mỗi ngày có thể giúp ngừa gan nhiễm mỡ ở những người có bệnh gan nhiễm mỡ không do chất cồn. Đây là kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Đại học Duke (Mỹ) và Đại học Quốc gia Singapore phối hợp thực hiện, UPI đưa tin.

gan-nhiempmo

Các chuyên gia nhận thấy tăng nạp chất caffeine có thể làm giảm gan nhiễm mỡ ở những người bị bệnh gan nhiễm mỡ không cồn. Nghiên cứu ở loài chuột cho thấy, chính caffeine kích thích quá trình chuyển hóa chất béo lipid được lưu trữ trong các tế bào gan, đồng thời giúp giảm gan nhiễm mỡ ở những con chuột có chế độ ăn giàu chất béo. Do đó, các chuyên gia kết luận rằng lượng caffeine nạp vào cơ thể tương đương với 4 tách cà phê hoặc trà có thể hữu ích trong việc ngăn ngừa và chống lại sự tiến triển của bệnh gan ở người.

Theo TNO

Sỏi mật – nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật

Sỏi mật là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật, khi có biến chứng bệnh rất dễ gây tử vong.

Sự hình thành sỏi có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng chuyển hóa trong gan (nơi mật được tạo thành). Ngoài ra còn có một số yếu tố như: viêm nhiễm, ứ trệ dịch mật; nhiễm ký sinh trùng và chế độ ăn giàu chất béo… tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình tạo sỏi.

Sỏi gây cản trở sự lưu thông của dịch mật, khiến cho hệ tiêu hóa giảm khả năng hấp thu chất béo, dẫn đến tình trạng đầy trướng, chậm tiêu, khó tiêu. Mặt khác, sỏi di chuyển gây nên các cơn đau quặn mật, quặn gan, viêm đường mật, túi mật. Đây là nguyên nhân chính khiến người bệnh phải nhập viện.

soi-mat

Tái phát sỏi – vấn đề nan giải
Mục tiêu trong điều trị là loại bỏ sỏi nhằm khơi thông đường mật, làm giảm các triệu chứng do sỏi gây ra đồng thời tăng cường các biện pháp dự phòng tái phát sỏi.

Thực tế, để đạt được mục tiêu này không hề đơn giản. Thuốc làm tan sỏi phải sử dụng với thời gian dài (từ 6 tháng đến 2 năm), tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa làm quá trình điều trị bị gián đoạn hoặc kém hiệu quả. Các biện pháp can thiệp ngoại khoa (mổ hở, nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể) có thể giúp việc lấy sỏi một cách hữu hiệu hơn, nhưng khó khả thi nếu sỏi nằm ở vị trí hiểm hóc như ở đường dẫn mật trong gan. Đặc biệt, tỷ lệ tái phát sỏi cao (30-50% sau điều trị) khiến cho việc điều trị càng trở nên nan giải.

Giải pháp tháo gỡ  từ thiên nhiên
Quan điểm của đông y coi cơ thể là một khối thống nhất, mọi hoạt động của các cơ quan trong cơ thể luôn đồng bộ và tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động của hệ thống gan – mật cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì thế trong điều trị cần hướng tới sự cân bằng chức năng của toàn hệ thống, loại bỏ sỏi chỉ là giải pháp tình thế chứ chưa giải quyết được tận gốc vấn đề.

Kim Đởm Khang là sản phẩm được phát huy và kế thừa triết lý đó để mang lại giải pháp toàn diện giúp bài sỏi, làm giảm triệu chứng do sỏi mật gây ra. Đặc biệt với các thành phần tăng cường chức năng gan (Diệp hạ châu, nhân trần), tăng khả năng tiết mật & lưu thông dịch mật (Uất kim,chi tử, chỉ xác), chống viêm (Sài hồ, Hoàng bá) sẽ giúp hạn chế tái phát sỏi cũng như biến chứng nhiễm khuẩn gan mật do sỏi gây ra. Đây là hy vọng mới cho người bệnh trong cuộc chiến nhằm chống lại sỏi mật cũng như dự phòng tái phát sỏi.

Nghiên cứu Kim Đởm Khang kết luận: Tỷ lệ tái phát sỏi đường mật trong gan, sỏi ống mật chủ giảm; các triệu chứng lâm sàng (đau, sốt, vàng da) cải thiện rõ rệt sau 3 tháng sử dụng. Sản phẩm sử dụng an toàn, chưa thấy tác dụng phụ sau 6 tháng sử dụng.

Theo sức khỏe đời sống

Khám phá bệnh gan và hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi thường gặp ở bệnh nhân có bệnh gan làm ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của phổi. Bệnh gây khó thở, mạch máu phổi bị giãn rộng giảm khả năng cung cấp ôxy đến các mô trong cơ thể.

Mắc bệnh gan sẽ dẫn đến hội chứng gan phổi

Hội chứng gan phổi bắt nguồn từ bệnh của gan gây giãn mạch máu phổi, hậu quả là thiếu hụt ôxy trong máu động mạch. Thiếu ôxy máu động mạch là tình trạng phổ biến khi mắc phải bệnh gan. Khi bệnh gan đến giai đoạn cuối, gan tăng sản xuất, giảm thanh thải các chất, đưa vào hệ tuần hoàn các yếu tố gây giãn mạch như nitric oxide, glucagon, peptide kích hoạt calcitonine, peptide gây giãn mạch ở ruột, và nhất là giãn mạch phổi dẫn đến thiếu ôxy máu. Cho đến nay khoa học vẫn chưa xác định chính xác chất gây giãn mạch phổi, do đó việc điều trị bằng thuốc không có kết quả, mà bệnh nhân phải thở ôxy hoặc ghép gan.
gan
Biểu hiện bệnh

Hội chứng bao gồm 3 triệu chứng chính: suy chức năng gan, giãn mạch máu phổi và rối loạn khí máu động mạch. Mức độ giãn mạch máu trong phổi từ 15 – 160 micron, làm quá tải tưới máu dẫn đến tình trạng thông khí tưới máu không cân bằng và là nguyên nhân chính gây thiếu ôxy máu. Triệu chứng điển hình của hội chứng gan phổi là khó thở, cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi cũng khó thở ở bệnh nhân đã bị bệnh gan nhiều năm. Triệu chứng sẽ nặng hơn trong tư thế đứng thẳng vì từ tư thế nằm sang tư thế đứng, áp suất ôxy trong máu động mạch giảm 5% hoặc xuống thấp hơn 4mmHg. Nguyên nhân gây khó thở do các biến chứng của bệnh gan như thiếu máu, cổ trướng, tụ dịch, hay thoái hóa cơ vân. Các triệu chứng khác như: có nhiều mạch máu li ti kết tỏa thành hình mạng nhện trên da; móng tay hình dùi; da bệnh nhân thường bị chứng xanh tím tái do thiếu ôxy trầm trọng.

Xét nghiệm: đo khí máu động mạch thấy nồng độ cũng như áp xuất ôxy trong máu động mạch giảm so với bình thường. Siêu âm tim thấy hình ảnh các bong bóng nhỏ với đường kính trên 10µm để phát hiện sự giãn nở mạch máu phổi. Do trong thủ thuật này thầy thuốc tiêm dung dịch nước muối đã lắc mạnh vào tĩnh mạch ngoại biên sẽ tạo thành các tiểu bong bóng trong lòng mạch. Theo hệ tuần hoàn máu, những tiểu bong bóng này trở về tâm nhĩ phải, xuống tâm thất phải rồi được đưa đến phổi qua động mạch phổi. Bình thường, các tiểu bong bóng này không qua được hệ mao mạch ở phổi vì đường kính chỉ dưới 8-15µm. Nếu hệ mao mạch giãn nở bất thường thì ta có thể thấy những hạt bong bóng ti li trên hình ảnh siêu âm của nhĩ trái.

Kỹ thuật Scan để tìm đại phức hợp albumin-technetium-99m cũng có cơ chế tương tự với siêu âm tim: tiêm nguyên tố phóng xạ nhân tạo technetium-99m vào máu tĩnh mạch, chất này sẽ gắn kết với albumin trong huyết tương, phức hợp này đi đến phổi, xuất hiện ở thận, não theo dòng máu. Bình thường, albumin có đường kính từ 20-60µm, không đi qua được các mao mạch phổi có đường kính dưới 8µm, chỉ khi giãn mạch máu thì nó mới đi qua được nhanh chóng. Chụp Xquang ngực sẽ thấy các vùng tổ ong, nguyên nhân do các mạch máu giãn làm tăng độ mờ đục của ảnh ở vùng đó. Độ mờ đục tăng từ 5-13,8% ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính và tăng 46-100% ở bệnh nhân bị hội chứng gan – phổi. Chụp cắt lớp  giúp chẩn đoán giãn mạch máu, mức độ giãn tăng dần ở những nhánh cuối đến màng phổi. Chụp mạch phổi để kiểm tra tình trạng tưới máu.

Ðiều trị và phòng bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc điều trị bằng thuốc đều không cho kết quả.

Liệu pháp thở ôxy sẽ giúp bệnh nhân giảm được tình trạng thiếu hụt ôxy nghiêm trọng mặc dù hiệu quả và lợi ích của nó không có giá trị lâu dài. Biện pháp cơ học tạo đường nối thông tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ bằng phương pháp TIPS giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa, song phương pháp này lại gây tăng tuần hoàn máu, giãn mạch máu phổi và làm hội chứng gan phổi trầm trọng hơn.

Phẫu thuật ghép gan là phương pháp điều trị thành công duy nhất, nhưng tỉ lệ tử vong sau mổ cũng như thời gian từ lúc cấy ghép gan đến khi giảm tình trạng thiếu ôxy trong máu động mạch vẫn tăng cao ở bệnh nhân thiếu ôxy máu nặng.

Phòng bệnh: cần đo khí máu động mạch ở bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính, những người có triệu chứng khó thở hoặc sắp tiến hành ghép gan.
Cấy gan của bệnh nhân đã ghép gan kết hợp với việc theo dõi sát các triệu chứng lâm sàng để có thể kiểm soát tốt hội chứng và điều trị kịp thời. Đối với bệnh nhân đã mắc hội chứng gan phổi nên được ưu tiên ghép gan để có hiệu quả điều trị lâu dài.

theo sức khỏe đời sống

Khi các bà vợ thông minh phòng bệnh gan cho chồng

Gặp nhau trên bàn nhậu, nói chuyện tâm giao ở bàn nhậu, ký kết hợp đồng tại bàn nhậu, làm việc tại bàn nhậu… đã không còn xa lạ với giới kinh doanh, đôi khi còn được mặc định là hiển nhiên.

Đôi khi chồng phải thường xuyên… bia rượu, vợ ơi!

Công việc kinh doanh không phải lúc nào cũng thuận lợi khi ngồi trên bàn đàm phán thuyết phục đối tác. Nhiều khi, công việc lại trôi chảy khi cùng khách hàng vừa nói chuyện vừa nhâm nhi ly rượu, ly bia. Kết thúc hợp đồng, chúc mừng thành công không thể không mời khách hàng vài ly. Đấy là lý do mà nhiều đức ông chồng dù không thích uống rượu vẫn phải nhiệt tình cụng ly. Sau một trận bóng đá hoặc bạn bè lâu mới gặp nhau, ngoài việc rủ nhau café thì ngồi bàn nhậu là một cách dễ nói chuyện của các đấng mày râu.

khi-cac-ba-vo-thong-minh-phong-benh-gan-cho-chong

Như vậy, vì nhiều lý do như vui bạn bè, tiếp khách, thuận lợi trong thăng tiến mà nhiều quý ông phải sử dụng rượu.

Rượu ảnh hưởng đến sức khỏe ra sao?

Rượu khiến các enzyme chống oxy hóa của gan suy yếu. Những người thường xuyên quá chén sẽ luôn cảm thấy khó tiêu, buồn nôn, đau tức bụng… Ảnh hưởng rõ nhất của rượu bia với sức khỏe là làm gan nhiễm mỡ, tăng mỡ máu, sau dẫn đến suy chức năng gan, xơ gan và có khả năng dẫn tới ung thư gan. Theo một số thống kê từ khoa tiêu hóa của các bệnh viện, rượu bia là thủ phạm đứng thứ hai gây xơ gan sau virus viêm gan B.

Đặc biệt, rượu bia còn khiến đời sống vợ chồng thêm tẻ nhạt bởi chức năng tình dục suy giảm, đặc biệt ở những người bị xơ gan do rượu bia.

Bởi thế “kết thân” với rượu bia có thể giúp họ thuận lợi hơn trong giao tiếp, thêm cơ hội trong sự nghiệp nhưng khi có trong tay những thứ đó, họ lại mất đi sức khỏe và có thể mất cả hạnh phúc gia đình.

Giải pháp của những bà vợ thông minh

Với các ông chồng nghiện rượu, thật khó để các bà vợ nói được lời cảm thông. Nhưng vì những lý do bất khả kháng, các quý ông phải uống rượu thì vợ vừa thương vừa giận. Song, thương không có nghĩa là để kệ sức khỏe của chồng cho rượu “hành”. Những người vợ thông minh sẽ tìm cách giúp chồng giảm tác hại của bia rượu. Xung quanh chúng ta có rất nhiều thảo dược đã được chứng minh là có thể giúp các chị em giải độc rượu, bảo vệ lá gan cho chồng.

– Bồ công anh có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, lương huyết tán kết, ức chế các men oxy hoá khử peroxidase, catalase, ức chế sự nhân lên của virus HBV gây viêm gan.

– Cây kế sữa (Cardus marianus) có chứa Silymarin có tác dụng ổn định màng tế bào, ngăn cản quá trình xâm nhập của chất độc vào bên trong tế bào gan, ức chế sự biến đổi gan thành các tổ chức xơ, giảm sự hình thành và lắng đọng của các sợi collagen dẫn đến xơ gan, bảo vệ tế bào gan, tăng cường chức năng gan, kích thích phục hồi các tế bào gan đã bị hủy hoại.

– Diệp hạ châu (chó đẻ răng cưa) có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, điều kinh, thanh can, lương huyết, hạ nhiệt, ức chế men DNA polymerase của virus viêm gan B.

– Nhọ nồi có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, bổ can, thận.

Hội chứng đường hầm cổ tay

Vùng cổ tay (phía trước) có các gân gấp chung các ngón và gấp riêng ngón cái chui qua một đường hầm mà phía sau là khối xương cổ tay, phía trước là một vòng xơ, bọc quanh hai gân là hai bao hoạt dịch, nằm ở chính giữa đường hầm là dây thần kinh giữa. Khi đường hầm này bị bóp nghẹt thì dây thần kinh giữa bị chèn ép gây đau và tê bàn tay, còn gọi là hội chứng đường hầm cổ tay (hay còn gọi là hội chứng ống cổ tay).

Nguyên nhân gây bệnh

hoi_chung_duong_ham_co_tay01

Thần kinh giữa bị chèn ép gây đau, tê tay

Có nhiều nguyên nhân gây hội chứng đường hầm cổ tay, thường là do một số nguyên nhân sau:

– Chấn thương vùng cổ tay, khiến cấu trúc của cổ tay thay đổi.

– Bệnh thấp khớp (có thể khiến bàn tay, ngón tay biến dạng, cong queo), bệnh lupus, bệnh đái tháo đường.

– Thai nghén, bệnh suy tuyến giáp trạng, suy thận cần lọc thận.

– Các bất thường của những dây gân trong đường hầm cổ tay.

Ngoài ra còn có thể do đặc thù công việc (cử động cổ tay nhiều, chỉ sử dụng một số cơ bắp nhỏ ở bàn tay liên tục kéo dài, chấn động rung do dụng cụ cầm tay gây nên) như công nhân làm việc trong các dây chuyền công nghiệp, nhân viên đánh máy tính văn phòng,..

hoi_chung_duong_ham_co_tay02

Điều trị hội chứng đường hầm cổ tay bằng cách tiêm thuốc vào ống cổ tay

Triệu chứng chính là đau, tê tay

Thần kinh giữa chạy giữa cẳng tay xuống đến cổ tay. Thần kinh giữa phụ trách việc dẫn truyền cảm giác từ các ngón cái, trỏ, giữa, và một nửa ngón đeo nhẫn của bàn tay. Thần kinh giữa cũng điều khiển các cử động của ngón cái. Trong hội chứng đường hầm cổ tay, thần kinh giữa bị chèn ép khiến bàn tay và cổ tay bị đau, tê.

Các triệu chứng điển hình của hội chứng đường hầm cổ tay như sau: đau nóng, giảm cảm giác, hoặc thấy tê như kiến bò ở các ngón cái, trỏ, giữa và một nửa ngón tay đeo nhẫn. Đau có thể lan lên khuỷu tay, thỉnh thoảng lên đến vai. Xoa nắn bàn tay và các ngón tay, hoặc vẩy vẩy bàn tay giúp ta thấy đỡ hơn.

Người bệnh thường bị đau tay vào ban đêm khi đang ngủ, vì ban đêm, đường hầm bàn tay dễ sưng, chật hơn ban ngày, thêm vào đó khi ngủ, ta lại hay gập cổ tay, khiến đường hầm càng bóp nhỏ thu hẹp. Lâu dần, triệu chứng xảy ra cả vào ban ngày, sau khi dùng bàn tay để làm việc.

Tê tay cũng thường xuất hiện khi cầm tay lái xe máy đi xa, tay bị đau và tê khiến người đang đi xe máy phải dừng lại buông tay ra, xoa nắn và vẩy vẩy mấy cái, rồi mới đi tiếp được.

Thường thì phần lớn người bệnh bị đau ở bàn tay thuận, phải làm việc nhiều, nhưng cũng có nhiều người bị đau cả hai bàn tay.

hoi_chung_duong_ham_co_tay03

Phẫu thuật nội soi điều trị hội chứng đường hầm cổ tay

Bệnh tiến triển nặng khiến bàn tay trở nên yếu ớt, vụng về khi làm những công việc tỉ mỉ như cài cúc áo, xỏ kim,… Triệu chứng nặng hơn khi ta sử dụng bàn tay lâu, như lúc lái xe, viết lách, đọc sách, đánh máy tính, khi thực hiện những hoạt động cần đến bàn tay trong tư thế nắm chặt, hay phải chuyển động các ngón tay và cổ tay liên tục, gấp hoặc ưỡn cổ tay sẽ cảm thấy đau tăng dữ dội. Cuối cùng, ngón cái ngày càng kém sức, bắp thịt phía dưới ngón cái teo nhỏ.

Nếu không được điều trị, các triệu chứng sẽ tiến triển thành cơn đau cấp tính hoặc đau kéo dài, đôi khi nghiêm trọng đến mức người bệnh không thể làm được những việc đơn giản trong gia đình vì chức năng bàn tay đã bị tổn thương nghiêm trọng và không thể phục hồi. Khi tiến triển nặng sẽ phải phẫu thuật.

Điều trị sớm hiệu quả cao

Tùy theo nguyên nhân và tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị thích hợp. Ở mức độ nhẹ, người bệnh mới bị đau, tê tay thì chỉ cần dùng các thuốc giảm đau chống viêm uống, hoặc tiêm trực tiếp vào trong ống cổ tay. Bệnh có thể khỏi từ vài tháng đến nhiều năm, tùy thuộc vào việc bệnh được phát hiện và điều trị càng sớm thì thời gian càng khỏi được lâu. Nhưng đối với những trường hợp đã tiến triển nặng, người bệnh thường xuyên bị đau, tê tay, ngón tay bắt đầu yếu sức thì cần phải phẫu thuật để giải phóng dây thần kinh ra khỏi ống cổ tay.

Điều quan trọng là khi thấy có biểu hiện đau, tê tay, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa xương khớp để khám xác định nguyên nhân gây bệnh và điều trị. Việc điều trị sớm sẽ không khó khăn và có hiệu quả tốt. Trong thời gian điều trị người bệnh cần nghỉ ngơi, hạn chế vận động ở tay có thể làm nặng bệnh. Ngoài ra có thể kết hợp dùng phương pháp vật lý trị liệu để hỗ trợ điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.

Bác sĩ  Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Thấp khớp: bệnh nặng nhất trong 100 loại bệnh cơ xương khớp

Hiện nay người ta đã biết tới hơn 100 loại bệnh cơ khớp xương gây đau nhức và tàn tật cho hàng chục triệu người, trong đó bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis là bệnh nặng nhất, gây ra đau nhức khớp xương nặng và dần dần làm biến dạng các khớp xương. Bệnh nhân bị hạn chế vận động, cử động, đi lại khó khăn do tổn thương và biến dạng các khớp. Bệnh gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 20 – 50 tuổi.

Thấp khớp do di truyền?

Bệnh thấp khớp xảy ra do màng lót các khớp xương bị viêm sưng lên và tiết ra một chất đạm (protein) làm màng này ngày càng dày lên. Chất đạm này còn hủy hoại lớp sụn, xương, gân và dây chằng của khớp. Sau một thời gian bị bệnh, dần dần các khớp xương của bệnh nhân bị biến dạng, méo mó và có thể bị phá hủy. Câu hỏi đặt ra là tại sao các màng lót trong khớp xương lại bị sưng lên? Nhiều nghiên cứu cho rằng nhiễm khuẩn là nguyên nhân gây sưng các màng lót trong khớp. Bên cạnh đó, một số người có gen di truyền khiến họ dễ bị nhiễm khuẩn là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Một số nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra bệnh thấp khớp. Những yếu tố nguy cơ có thể làm một người dễ mắc bệnh thấp khớp là: tuổi già, phái nữ, người hút thuốc lá, thuốc lào.

thap_khop_benh_nang_nhat_trong_100_loai_benh_co_xuong_khop

Tổn thương khớp bàn tay trong bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis

Dấu hiệu của bệnh thấp khớp

Thông thường, một bệnh nhân bị bệnh thấp khớp có biểu hiện các triệu chứng sau đây trong một thời gian rồi tự khỏi, sau đó lại tái phát:  đau nhức và sưng các khớp, nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân. Đau nhức hoặc cứng toàn thể các khớp xương và bắp thịt, nhất là sau khi ngủ dậy vào mỗi buổi sáng hay sau một thời gian nghỉ ngơi. Các khớp khó hoặc không cử động được. Bắp thịt nơi chỗ khớp đau bị yếu đi. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, nhất là khi bệnh trở nặng. Sau một thời gian bị bệnh, các khớp xương bị biến dạng. Bệnh thấp khớp thường xảy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Đầu tiên là các khớp xương ở cổ tay, bàn tay, bàn chân và đầu gối bị viêm sưng. Tiếp theo là các khớp vai, khuỷu tay, háng, cằm và cổ cũng bị tổn thương. Ở những điểm dễ va chạm nhất của khớp xương như khuỷu tay, bàn tay và bàn chân, dây gân gót chân có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục thấp khớp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác hay ở trong phổi. Kích thước các cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu, nhưng cũng có thể to bằng quả táo nhỏ, với đặc điểm là  không gây đau đớn gì cả. Bệnh thấp khớp đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt, tuyến nước bọt, màng tim và màng phổi, phổi và các mạch máu. Đây là một bệnh mạn tính, có thời gian thuyên giảm, có lúc lại nặng lên. Hiện nay chưa có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương pháp bảo vệ các khớp, bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.

Biến chứng của bệnh

Bệnh thấp khớp gây ra cứng, đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần, bệnh nhân khó cử động, khó làm những việc đơn giản như cầm đũa ăn cơm, cầm bút viết, vặn nắm cửa…Bệnh nhân thấp khớp cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương, bệnh tim…tàn tật do khớp bị biến dạng.

 

Các phương pháp chữa trị

Điều trị nội khoa để giảm đau và ngăn sự tiến triển của bệnh có thể dùng một trong các thuốc sau: thuốc chống viêm không stenoid, COX 2 inhibitors, steroids, thuốc chống miễn nhiễm, thuốc chống trầm cảm… Lọc máu: loại bỏ bớt những kháng thể gây viêm và đau khớp. Phương pháp phẫu thuật để thay khớp đối với các khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều, giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau. Những phương cách chữa trị như châm cứu, thuốc đông y, thuốc dùng thêm như glucosamine, chondroitin sulfate… cũng có tác dụng nhất định.

Cách tự săn sóc: bệnh nhân cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình để giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần nhờ bác sĩ hay nhân viên vật lý trị liệu tư vấn về những môn hay động tác thể dục thích hợp và cần thiết để luyện tập. Hạn chế tăng cân vì khi thừa cân sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và bị phá hoại nhanh hơn. Ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc. Nên tắm nước nóng hay chườm nước nóng lên các khớp để giảm đau, thư giãn các bắp thịt và tăng cường tưới máu đến khớp. Tập thư giãn như thở sâu, thư giãn bắp thịt, thiền. Uống thuốc đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ.

Xác định tinh thần lạc quan, phối hợp với bác sĩ trong phòng và chữa bệnh. Sử dụng các dụng cụ bảo vệ khớp và hỗ trợ vận động như: băng đầu gối, gậy chống… Tránh làm việc hay cử động quá sức, nghỉ ngơi hợp lý.

BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh
Theo SKĐS

Cá chạch tốt cho người bệnh gan và đái tháo đường

Cá chạch không những có giá trị bổ dưỡng cao mà còn có khả năng phòng chống bệnh tật. Người xưa gọi cá chạch là “nhân sâm dưới nước”, sống trong ao hồ, đầm lầy, ruộng nước…
Cá chạch có nhiều tên gọi khác nhau như thu ngư, hòa thu, nê thu…, tên khoa học của nó là Misgurnus anguillicaudatus (Cantor). Theo phân tích của dinh dưỡng học hiện đại, trong 100g thịt cá chạch chứa 83g nước, 9,6g protid, 3,7g lipid, 2,5g glucid và 1,2g chất khoáng. Như vậy, thịt cá chạch có lượng mỡ khá thấp nhưng lượng đạm lại phong phú, cao hơn nhiều so với các loại thịt và cá khác.
Ca-chach-ran-vang-23023

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, cá chạch vị ngọt, tính bình, có công dụng bồi bổ tỳ vị, dưỡng thận trừ thấp, làm hết vàng da, cầm đi lỏng và có lợi cho dương sự. Dưới dạng các món ăn – bài thuốc (dược thiện), cổ nhân thường dùng cá chạch để chữa các chứng bệnh như tiêu khát (tiểu đường), dương nuy (liệt dương), trĩ, viêm gan, mụn nhọt, lở loét ngoài da… Xin giới thiệu một số phương cách dùng cá chạch để bồi bổ sức khỏe và phòng chống bệnh tật.

Bài 1: cá chạch rán vàng 120g, hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 15g, hoài sơn 30g, đại táo 15g, gừng tươi 5g. Tất cả đem sắc kỹ, lấy nước bỏ bã, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bồi bổ tỳ vị, dưỡng huyết, dùng thích hợp cho người suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng.

Bài 2: cá chạch 250g, đậu phụ 500g. Cá chạch làm sạch, bỏ đầu đuôi; đậu phụ thái miếng đem nấu chín rồi cho cá chạch vào đun sôi một vài phút là được, chế thêm hành, gừng tươi và gia vị, dùng làm canh ăn. Công dụng: bổ tỳ vị, trừ thấp, dùng thích hợp cho người bị viêm gan vàng da, tiểu tiện không thông.

Bài 3: cá chạch 250g, mỡ lợn, hạt tiêu và gia vị vừa đủ, nấu thành canh ăn liền trong nửa tháng. Có thể thêm tôm sông tươi 30g và một chút rượu vang. Công dụng: bổ thận trợ dương, có lợi cho dương sự, dùng thích hợp cho người bị liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.

Bài 4: cá chạch 250g, cát cánh 6g, địa du 18g, hoa hòe 9g, kha tử 9g. Tất cả đem sắc kỹ, bỏ bã lấy nước uống. Công dụng: chữa trĩ xuất huyết, trĩ sa không tự co lên được.

Một nghiên cứu được tiến hành trên 40 bệnh nhân bị viêm gan truyền nhiễm, kết quả có 24 bệnh nhân hết hẳn các triệu chứng lâm sàng, gan hết sưng, chức năng gan được phục hồi hoàn toàn; 11 bệnh nhân cơ bản hết các triệu chứng, chức năng gan được cải thiện, gan đỡ sưng; chỉ có 5 bệnh nhân không có tác dụng, bài thuốc đạt hiệu quả 87,5%. Các nhà y học Trung Quốc nhận thấy, cá chạch có tác dụng lợi mật, làm hết vàng da khá nhanh và có khả năng bảo vệ tế bào gan, làm hạ men gan tương đối tốt. Đối với trường hợp viêm gan mạn tính, cá chạch cũng có tác dụng điều trị ở một mức độ nhất định.

Cách dùng cá chạch để chữa bệnh tiểu đường: lấy 10 con cá chạch bỏ đầu đuôi, làm sạch, phơi hoặc sấy khô, đốt thành than rồi tán bột; lá sen tươi phơi khô tán bột, hai thứ lượng bằng nhau, trộn đều, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa nhỏ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh đau lưng không thể chủ quan

Bệnh đau lưng gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất ở lứa tuổi  30-60. Có khoảng 80% trường hợp bị đau lưng lần đầu không rõ nguyên nhân, chỉ có 6 – 8% trường hợp do bị lệch đĩa đệm cột sống. Có  trên 50% bệnh nhân đau lưng khỏi trong vòng 2 tuần, nhưng tỷ lệ tái phát khá cao sau một tháng trở lên; từ 5-10% bệnh nhân bị đau vùng thắt lưng cấp chuyển thành mạn tính.

Cột sống thắt lưng phải nâng đỡ sức nặng của phần trên cơ thể nên dễ bị đau do tổn thương phần mềm hoặc xương sống. Có nhiều yếu tố môi trường và xã hội ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh đau vùng thắt lưng.

benh_dau_lung_khong_the_chu_quan

Nguyên nhân nào gây đau lưng?

Các nguyên nhân sinh đau lưng thì nhiều, nhưng có thể phân làm hai loại. Một là nguyên nhân do xương khớp bị tổn thương như: viêm tủy xương, hoại tử xương, viêm khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, khớp bị lão hóa, thoái hóa đĩa đệm cột sống, xoắn vặn vùng giãn đốt sống, chứng gù vẹo cột sống, gãy xương, loãng xương, trượt đốt sống, hẹp ống sống, gân hay là cơ bị rách, bị căng quá mức vì tai nạn hay vì cử động quá mạnh, hoặc đĩa đệm bị xô lệch, khe đốt sống bị hẹp lại… đều có thể sinh đau lưng. Loại thứ hai tuy ít gặp nhưng lại đáng ngại hơn, khi đó đau lưng chỉ là triệu chứng của các bệnh như: phình động mạch, ung thư từ nơi khác di căn vào xương sống, ung thư tủy sống, bệnh ankylosing spondylitis, thường bị ở đoạn dưới thắt lưng làm cho gân quanh các đốt xương sống bị vôi hóa làm cử động không được và đau lưng; khối u, áp-xe cạnh cột sống, áp-xe ngoài màng cứng, bệnh thận, loét ống tiêu hóa…

Các dấu hiệu thường gặp

Do có nhiều nguyên nhân gây đau lưng nên cũng có nhiều biểu hiện bệnh tuỳ thuộc nguyên nhân. Các dấu hiệu thường gặp là: hội chứng đau cơ mạc, những điểm đau có tính chất di động, đau ở vùng xương cùng chậu và mào chậu; Căng giãn xương cùng chậu do bị đứt các sợi của khớp cùng chậu gây ra tăng nhạy cảm ở vùng lõm của lưng, đau tăng lên khi gấp cẳng chân vào, khi nâng và ấn vào giữa khớp gối bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, đau lan xuống chân; Đau cạnh cột sống lan tỏa ở cả hai phía của cột sống, có thể thấy tăng nhạy cảm đau ở giữa mỏm gai đốt sống hoặc ở vùng diện khớp của đốt sống do các nguyên nhân thường gặp như chấn thương của phần diện khớp, căng giãn cơ, hoặc là các vết rách nhỏ của vòng xơ đĩa đệm; Thoát vị đĩa đệm, triệu chứng gồm: hạn chế động tác nâng chân ở tư thế duỗi thẳng, tăng nhạy cảm đau của thần kinh tọa, giảm cảm giác mặt ngoài cẳng chân và đầu ngón cái, động tác gấp bàn chân và ngón cái yếu, hạn chế động tác nâng chân ở tư thế duỗi thẳng, giảm phản xạ gân gót, giảm cảm giác mặt sau cẳng chân và cạnh ngoài bàn chân, động tác gấp gan bàn chân và ngón cái yếu; Kinh nghiệm của nhiều thầy thuốc lâm sàng cho thấy có những triệu chứng biểu hiện nguyên nhân gây bệnh đau lưng như: chệch đĩa đệm thì đau tăng khi ho, hắt hơi, vặn mình, giảm đau khi nằm thẳng; Trượt đốt sống thì khi đứng thẳng và đi lại đau tăng nhưng lại giảm đau khi bệnh nhân ngồi; Đi mạnh đau tăng, nghỉ ngơi giảm đau gặp trong hẹp ống tủy…  Xquang thường không có giá trị chẩn đoán bệnh bởi vì có nhiều nguyên nhân ở ngay cột sống mà trên phim không thấy; Ngược lại nhiều khi thấy có hình ảnh bất thường, nhưng nguyên do đích thực lại ở chỗ khác; Những người trên 40  tuổi chụp Xquang hay thấy bị thoái hóa xương, gai xương nhưng không đau lưng.

Các phương pháp chữa trị

Trừ những trường hợp bệnh đặc biệt, có thể áp dụng một hoặc phối hợp các phương pháp sau đây để điều trị bệnh đau lưng: dùng vật lý trị liệu không dùng thuốc;  dùng các thuốc trị đau lưng; phẫu thuật. Nhiều bệnh nhân đau lưng khi đứng hay ngồi lâu dễ bị đau tăng nhưng khi nằm nghỉ thì hết đau. Tập thể dục nhẹ nhàng cho cơ lưng hoạt động điều hòa nhiều khi đã khỏi bệnh. Vật lý trị liệu giúp bệnh nhân chóng bình phục, khi đã bớt đau nên thực hiện tập vận động nhẹ tại nhà; Châm cứu, kỹ thuật thư giãn, kéo giãn cột sống, chạy điện kích thích thần kinh, xoa bóp bấm huyệt… cũng có nhiều hiệu quả trong việc chữa khỏi bệnh đau lưng. Có thể dùng một trong các thuốc sau để chữa đau lưng: thuốc giảm đau chống viêm như panadol, aspirin, indomethacin, diclofenac,celebrex… Trường hợp đau nặng, khi dùng các thuốc giảm đau và chống viêm không kết quả, có thể dùng thuốc tiêm chống viêm loại steroid, phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Những trường hợp cần được điều trị bằng phẫu thuật như: lệch đĩa đệm cấp tính có ảnh hưởng tới thần kinh; dây thần kinh bị chèn ép như đau thần kinh tọa, gai cột sống, gãy đốt sống…

Theo SKĐS

Món ăn dành cho người bị bệnh xơ gan báng bụng

Xơ gan là bệnh gan mạn tính có nguyên nhân do tác động lâu dài hoặc lặp lại của một hay nhiều nguyên nhân gây ra thương tổn gan trên diện rộng. Do bị hoại tử trên diện rộng, tế bào gan khó có thể tái sinh nên gan dần dần bị xơ.

Biểu hiện: người bệnh chán ăn, người mệt mỏi, đau vùng bụng trên, nôn ọe, đại tiện lỏng, gan to và khô, tĩnh mạch cửa nổi, sắc mặt tối, võng mạc vàng, nổi các nốt mẩn chằng chịt. Thời kỳ cuối bị xuất huyết tiêu hóa, hôn mê…

Về chế độ dinh dưỡng người bị xơ gan thời kỳ đầu có thể ăn uống những chất có độ đạm cao để vừa thúc đẩy tế bào gan tái sinh, bảo vệ gan lại vừa có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể và tăng cường khả năng chống bệnh. Nhưng thời kỳ cuối, nếu kèm thêm triệu chứng hôn mê thì phải giảm thức ăn có độ đạm cao mà ăn các thức ăn có đường là chính, đồng thời bổ sung lượng vitamin thích đáng. Không ăn các chất kích thích, chất cay nóng, thực phẩm đóng hộp có chứa phụ gia, thực phẩm ô nhiễm, dư lượng hóa chất bảo vệ…

mon-an-danh-cho-nguoi-benh-xo-gan-bang-bung-1

Sau đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ thịt gà dành cho người xơ gan báng bụng (cổ trướng) để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Đường đỏ, gạo lứt hấp gà vàng: Đường đỏ 150g, gạo lứt 150g, gà vàng 1 con (500-700g), gừng, hành, tỏi mỗi thứ 5g. Gà làm sạch, bỏ ruột, chân, gạo xay thành bột. Nhúng gà vào nước sôi cho hết máu rồi cho vào nồi hấp, cho gừng, hành, muối, đường đỏ trộn đều với bột gạo nhét vào bụng gà, đổ khỏang 300ml nước vào nồi rồi bắc lên bếp đun to lửa đến sôi thì hạ lửa đun sôi tiếp khỏang 1 giờ là được. Ăn ngày 1 lần khoảng 50g thịt gà, còn nước cháo ăn tùy ý. Tác dụng: bổ khí huyết, kiện gan tỳ, chống báng bụng.

Tam thất, uất kim hấp với gà đen: tam thất 6g, uất kim 9g, gà đen 1 con (500g), rượu 10g, gừng, hành, muối, tỏi. Tam thất thái nhỏ như hạt đậu; uất kim thái lát; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; tỏi bóc vỏ thái mỏng; hành cắt ngắn. Xát muối rượu lên con gà, cho tam thất, uất kim vào bụng gà, đặt vào nồi cho gừng, hành, đổ 300ml nước rồi đun trong 1 giờ là được. Ăn cả nước lẫn cái. Tác dụng bổ khí huyết, tan máu ứ, tiêu báng.

Canh đông trùng hạ thảo, sâm tây với thịt gà: sâm tây 20g, đông trùng hạ thảo 15g, gà con 1 con, gừng, hành, muối đều 5g. Sâm tây thái lát; đông trùng hạ thảo rửa sạch ngâm vào rượu; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; gừng đập lát; hành cắt ngắn. Cho sâm, trùng thảo vào bụng gà, cho gia vị và đổ 1000ml đem đun sôi khỏang 1 giờ. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần ăn 50g thịt gà; sâm, trùng thảo và canh ăn tùy ý. Tác dụng: bổ gan thận, dùng cho người xơ gan.

Canh ngũ vị tử với gà: ngũ vị tử 10g, thịt gà 200g, cần tây 200g, nấm 30g, rượu gạo 5ml, gừng, hành, muối, tỏi, dầu ăn đều 5g. Ngũ vị tử rửa sạch, thịt gà rửa sạch thái miếng, cần cắt khúc, nấm rửa sạch cắt bỏ cuống thái nhỏ, gừng đập lát. Hành tỏi bóc vỏ thái nhỏ, phi gừng hành tỏi với dầu cho thơm rồi đổ thịt gà vào đảo lên sau đó cho cần tây, nấm, ngũ vị tử, muối và 300ml nước vào đun sôi rồi hạ lửa đun khỏang 30 – 40 phút nữa là được. Ngày ăn 1 lần, mỗi lần 50g thịt gà, cần và nấm ăn tùy ý. Tác dụng: an thần,  bổ khí huyết, dùng cho người xơ gan kèm theo thần kinh suy nhược.

Người xơ gan cũng nên dùng một trong các thứ nước sau thay nước uống:

mon-an-danh-cho-nguoi-benh-xo-gan-bang-bung-2

Trà ngũ vị tử táo đỏ:

ngũ vị tử 10g, táo đỏ 5 quả, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, táo đỏ bỏ vỏ, đường giã nhỏ.  Cho tất cả vào nồi cùng 300ml nước đun sôi khoảng 20 – 30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Tác dụng: bổ dưỡng gan thận, ích khí, dùng cho người xơ gan, men gan tăng cao.

Chè ngũ vị tử, long nhãn và sâm tây: ngũ vị tử, sâm tây, long nhãn đều 5g, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, sâm tây làm mềm rồi thát lát, đường giã nhỏ. Cho tất cả vào nồi  cùng 300ml nước đun chừng 20-30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Công dụng: ích khí, dưỡng tâm, an thần, bổ ích gan thận. Dùng cho người xơ gan, mất ngủ, tự ra mồ hôi.

BS. Nguyễn Thị Phương Hoa

Theo SKDS

Người béo phì dễ bị bệnh gan

Một nghiên cứu mới đây từ Học viện Sahlgrenska cho thấy thừa cân làm tăng đáng kể nguy cơ xơ gan ở nam giới.

thua-can-gay-hai-cho-gan

Nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Sahlgrenska đã tìm hiểu mối liên quan giữa thừa cân và nguy cơ xơ gan ở nam giới độ tuổi trung niên. Họ đã xem xét 855 nam giới 50 tuổi và theo dõi họ tới 40 năm.

Không người nào trong số họ bị các vấn đề về gan tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu song trong suốt thời gian dài theo dõi, khoảng 2% số nam giới có chẩn đoán xơ gan. Tất cả những người có chẩn đoán xơ gan đều bị thừa cân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, với chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 28 – BMI > 25 được xếp là béo phì.

Những nam giới không có chẩn đoán xơ gan trong suốt thời gian nghiên cứu có mức BMI trung bình dưới 25. Phân tích thống kê đã chứng minh rằng cả BMI và tăng nồng độ triglycerides, một dạng mỡ máu là những yếu tố nguy cơ gây xơ gan. Tuy nhiên, mối liên quan giữa rượu và xơ gan không được chứng minh là có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Scandinavian Journal of Gastroenterology.

Theo ANTĐ/MEDICALNEWSTODAY