Tag Archives: đông y

Đông y trị bệnh quai bị

Theo Lương y Trịnh Văn Sỹ, không nên xem nhẹ bệnh quai bị. Quai bị nếu không được điều trị sẽ dẫn tới bị biến chứng thậm chí có thể vô sinh sau này. Nguyên tắc điều trị theo Đông y: chống viêm, trừ thấp, thanh nhiệt, nâng đỡ thể trạng. Đông y xếp bệnh quai bị vào loại “ôn dịch”.

Triệu chứng lâm sàng: Trẻ bị sốt, ăn ít hoặc bỏ ăn. Trẻ sốt từ 1 – 3 ngày, nhiệt độ dao động từ 39-3905. Đến ngày thứ hai hoặc ngày thứ ba thấy đau ở góc hàm, sưng, cứng, da hơi đỏ và bóng. Đến lúc này đã biết chắc chắn là trẻ bị quai bị. Ở nhà trẻ vì có đông các cháu, khi phát hiện có quai bị, các cô giáo cần thông báo ngay cho phụ huynh và kịp thời cách ly những cháu đã bị bệnh vì bệnh này dễ lây qua đường hô hấp, phòng bệnh và điều trị cần được khẩn trương tiến hành.

Để điều trị và ngăn ngừa biến chứng, Đông y có những phương thuốc hữu hiệu như sau:

Bài 1: Quả ké 30g (sao vàng, tán mịn), quả vải 40g (sao vàng, tán mịn), mỡ lợn (lượng vừa đủ). Hai thứ bột trên cùng mỡ lợn trộn đều để thành hỗn hợp vừa dẻo vừa dính. Dùng thuốc đó bôi vào chỗ quai bị, lấy miếng giấy bản dán lên trên. Ngày thay thuốc 2 lần, tối 1 lần.

Công dụng: Tiêu viêm, tán huyết, giảm đau, hóa thấp.

Bài 2: Lá bồ công anh, lá đinh lăng mỗi thứ 24g, hai thứ  đem rửa sạch giã mịn. Bạch chỉ bắc 10g (tán ra bột mịn). Các thứ trên trộn đều  rồi đắp vào chỗ quai bị, dùng băng dính cố định lại. Ngày thay thuốc 2 lần, tối đắp 1 lần.

Công dụng: Chống viêm, tiêu viêm, tán huyết, thông mạch.

Khi gặp bệnh này, trong dân gian cũng có những bài thuốc điều trị rất hay, xin được giới thiệu dưới đây:

– Con rết phơi khô, sao giòn, tán bột. Dùng bột này trộn với dầu vừng rồi bôi vào nơi bị quai bị. Lấy miếng giấy bản dán lên trên.

dong-y-chua-tri-benh-quai-bi-1

– Lá vòi voi, lá gấc. Hai thứ giã nhỏ mịn, đắp tại chỗ, dùng băng dính cố định lại. Ngày thay thuốc 2 lần, tối 1 lần.

– Mẫu lệ chế (tán bột) 30g, mo nang đốt tồn tính (tán bột) 30g. Lấy một lượng mật ong vừa đủ, trộn hai thứ bột trên thành một hỗn hợp như hồ dẻo, dùng đắp vào chỗ quai bị, dùng miếng giấy bản dán lên trên. Ngày thay thuốc 2 lần, tối 1 lần.

dong-y-chua-tri-benh-quai-bi-2

Đối với quai bị biến chứng: Tinh hoàn sưng to đau nhức, cơ thể mệt mỏi, da xanh. (Những trường hợp như thế là đã bị viêm tinh hoàn, nếu nặng sẽ dẫn đến vô sinh về sau này). Cần điều trị tích cực bằng những phương thuốc sau:

– Bạch truật 10g, hạt vải 30g, bạch linh 6g, thổ linh 10g, xa tiền 10g, đỗ trọng 5g, trần bì 10g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

– Quả ké (sao vàng) 10g, nam tục đoạn 10g, lệ chi hạch 10g, vỏ cây gạo 10g, sài hồ 8g, thanh bì 8g, xa tiền 8g, hoài sơn 8g, liên nhục 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Lương y Trịnh Văn Sỹ

Theo SKDS

Món ăn phòng chống bệnh sỏi tiết niệu theo đông y

Sỏi tiết niệu trong y học cổ truyền thuộc phạm vi chứng “Thạch lâm” với nguyên nhân chủ yếu là do cảm nhiễm thấp nhiệt bên ngoài, ăn quá nhiều đồ cay nóng, béo ngọt, uống rượu vô độ, rối loạn tình chí lâu ngày làm tổn thương các tạng phụ khiến thấp nhiệt nội sinh tụ lại ở đường tiết niệu mà tạo thành sỏi.

Phương pháp trị liệu sỏi tiết niệu có hai nhóm: phẫu thuật (bao gồm cả tán sỏi ngoài cơ thể) và dùng thuốc. Nhưng dù sử dụng phương thức nào đi nữa thì vấn đề hỗ trợ trị liệu và dự phòng tái phát bằng ăn uống vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng, trong đó có việc sử dụng các món ăn – bài thuốc theo kinh nghiệm của y học cổ truyền. Xin được dẫn ra một số ví dụ cụ thể để độc giả tham khảo và vận dụng.

mon-an-phong-chong-soi-tiet-nieu

Bài 1: bàng quang lợn 2 cái, tam thất bột 10g. Bàng quang lợn rửa sạch, hầm lửa nhỏ trong 2 giờ, sau đó thái miếng, chấm với bột tam thất, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: hoá ứ chỉ huyết, dùng rất tốt cho trường hợp sỏi tiết niệu gây đái ra máu.

Bài 2: ốc đồng 1 bát, rượu trắng 3 bát. Ốc làm sạch, xào chín rồi đổ rượu vào đun nhỏ lửa, cô lại còn chừng 1 bát, uống mỗi ngày 5ml. Công dụng thanh nhiệt, lợi niệu, bài thạch.

Bài 3: kim tiền thảo 30g, sắc lấy nước rồi ninh với 90g ý dĩ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng lợi niệu, bài thạch, thông lâm.

Bài 4: đậu xanh 60g, xa tiền tử (đựng trong túi vải) 30g, hai vị đem nấu chín bằng nồi đất rồi ăn. Công dụng: thanh nhiệt giải độc, lợi niệu thông lâm.

Bài 5: bầu tươi 1 quả, mật ong lượng vừa đủ. Bầu gọt vỏ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước rồi hoà với mật ong, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: lợi niệu bài thạch.

Bài 6: khế tươi 5 quả, mật ong lượng vừa đủ. Khế rửa sạch, thái miếng rồi cho vào nồi sắc với 3 bát nước, cô lại còn 1 bát, hoà mật ong chia uống 2 lần trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt giải độc, lợi niệu, đặc biệt tốt với sỏi bàng quang, viêm bàng quang.

Bài 7: râu ngô 50g rửa sạch, sắc lấy nước uống thay trà trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt hoá thạch.

Bài 8: vỏ bí xanh 60g, râu ngô 60g, vỏ quả cau 30g. Tất cả rửa sạch, sắc với 4 bát nước lấy còn 1 bát, hoà thêm một chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, lợi niệu, hoá thạch.

Các món ăn – bài thuốc nêu trên đều rất đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm và dễ dùng. Để đạt được hiệu quả, cần chú ý sử dụng kiên trì và thường xuyên.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Theo SKDS

Bài thuốc chữa trị chứng rụng tóc theo đông y học

YHCT gọi rụng tóc là “thốc sang”. Bệnh do nhiều nguyên nhân làm thận hư kết hợp với công năng ngoại vệ của phế suy giảm làm bì phu, tấu lý không nuôi dưỡng được tóc gây ra tóc rụng không mọc lại. Phép trị: Bổ phế thận, dưỡng huyết.

Thuốc uống:

Bài 1. Bát tiên trường thọ hoàn: thục địa 32g, hoài sơn 16g, sơn thù 16g, bạch linh 12g, đan bì 12g, trạch tả 12g, mạch môn 10g, ngũ vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Bài 2. Nhân sâm bổ huyết thang: nhân sâm 5g, sinh hoàng kỳ 10g, bạch linh 10g, hoài sơn 10g, thục địa 10g, xuyên khung 10g, toàn đương quy 10g, bạch thược 10g. Sắc uống ngày 2 lần sáng và chiều. Kiêng trà, cà phê đặc, ăn các loại củ cải, cà rốt.

bai-thuoc-chua-tri-chung-rung-toc

Bài 3. Ích thọ đơn (dưỡng thọ đơn): hà thủ ô chế 10g, thục địa 10g, kỷ tử 9g, bạch truật sao 9g, bạch linh 9g, địa cốt bì 9g, viễn chí (bỏ ruột) 9g, ba kích (bỏ ruột) 9g, tục đoạn 9g, cúc hoa trắng 9g, tế tân 4g, xa tiền tử 9g, ngưu tất 9g, nhục thung dung 9g, thỏ ty tử 9g, phúc bồn tử 9g. Sắc uống hay làm hoàn; uống khi đói. Kiêng các món tiết canh lợn, tim lợn.

Thuốc hoàn:

Bài 1. Thất bảo mỹ nhiệm đơn: hà thủ ô chế 500g, đương quy 300g, câu kỷ 400g, thỏ ty tử 300g, bổ cốt chỉ 200g, bạch phục linh 200g, ngưu tất 100g, đậu đen (hắc đậu) 1.000g, bạch mật liều lượng thích hợp. Tất cả sấy khô tán bột, luyện mật làm hoàn 8 – 10g, bảo quản trong lọ kín. Mỗi lần uống 20 – 25g (3 – 4 viên), ngày 2 – 3 lần, uống với nước nóng hoặc rượu nấu từ gạo nếp được hâm nóng. Kiêng tiết canh, tiết lợn.

Bài 2: thục địa 320g, thỏ ty tử 320g, mộc qua 120g, bạch thược 160g, đương quy 160g, hà thủ ô 160g, xuyên khung 160g, khương hoạt 160g. Tất cả nghiền thành bột mịn, trộn với mật đã cô làm hoàn 10 – 12g. Ngày uống 2 lần sớm tối, mỗi lần 1 viên. Chữa rụng tóc, hói đầu. Lưu ý: Có người trong khi uống có thể thấy váng đầu và đau da đầu.

Thuốc dùng ngoài:

Bài 1: tang bạch bì giã giập 100g, ngâm nước, đun sôi trong 1/2 giờ, lọc lấy nước trong để gội đầu. Chữa rụng tóc.

Bài 2: quả dâu xanh ngâm trong nước, lọc lấy nước sát vào đầu. Chữa tóc không mọc, tóc bạc.

Bài 3: lá dâu nấu trong dầu mè, bỏ lá dâu, lấy dầu đó hằng ngày sát vào nơi tóc rụng.

Bài 4: hạt cải, bán hạ liều lượng bằng nhau. Trộn đều giã nhỏ. Lấy gừng sống giã nát vắt lấy nước. Hòa bột thuốc trên vào nước gừng xát vài lần thì tóc sẽ mọc lại.

BS. Tiểu Lan

Theo SKDS

Bài thuốc đông y chữa trị viêm kết mạc mùa xuân

Viêm kết mạc mùa xuân YHCT gọi là bạo phong khách, thiên hành xích nhãn…

Trên lâm sàng thường gặp ba loại sau: thể phong nhiệt, thể phong thấp và thể âm hư. Tùy thể mà dùng bài thuốc.

dong-y-tri-viem-ket-mac-mua-xuan

Thể phong nhiệt (tương đương với thể cấp tính của YHHĐ): Bệnh phát nhanh, tròng trắng đỏ, sưng, nóng, mắt cảm thấy có dị vật, nhiều dử (ghèn), sợ sáng, nhìn không rõ, mi mắt hơi sưng, mũi nghẹt, mũi chảy nước, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng, mạch phù sác.

Phương pháp điều trị: khu phong, thanh nhiệt ở kinh phế, vị, can.

Bài thuốc: ngân hoa 16g, hoàng đằng 8g, chi tử 12g, cát cánh 6g, cúc hoa 12g, kỷ tử 8g hoàng cầm 12g, kinh giới 12g, bạc hà 6g, ngưu bang 12g, tang diệp 16g, liên kiều 12g. Sắc uống.

Thể thấp nhiệt (tương đương với mạn tính của YHHĐ): Do thấp nhiệt ở kinh phế, tỳ, can, kết hợp với phong mà gây ra bệnh. Tròng trắng mắt dầy lên, nhiều tia máu, ngứa, nhặm, nóng, khô, sợ ánh sáng, nhìn lâu mỏi mắt. Bệnh thường kèm toàn thân mệt mỏi, có sốt, nhức đầu, táo bón, tiểu ít, rêu lưỡi vàng, mạch trầm sác.

Phương pháp điều trị: khu phong thanh nhiệt, lợi thấp.

Bài thuốc: hoàng cầm 8g, mạn kinh tử 12g, tang diệp 16g, phòng phong 12g, bạc hà 8g, kinh giới 12g, nhân trần 16g, sa tiền 12g, hoàng đằng 12g. Sắc uống.

Thể âm hư: Do viêm cấp chữa không triệt để làm ảnh hưởng đến phần âm. Với biểu hiện mắt ngứa, nhặm, nóng, khô, sợ ánh sáng, nhìn lâu mỏi mắt, nhìn mờ, tinh thần mệt mỏi, người có cảm giác hâm hấp, nhức đầu, táo bón, tiểu ít, rêu lưỡi vàng, mạch hư nhược.

Phương pháp điều trị: khu phong thanh nhiệt, dưỡng âm.

Bài thuốc: hạ khô thảo 8g, tang bì 12g, ngân hoa 20g, ngưu bang 8g, cúc hoa 8g, sinh địa 12g, mạch môn 12g. Sắc uống.

Cách dùng thuốc chung cho cả ba thể: 2 ngày uống 1 thang.

Cho thang thuốc vào ấm nước đầu cho 800ml nước, nước sau cho 1.500ml nước đều sắc còn 300ml, chia uống hai lần trong ngày sau ăn cơm 30 phút đến 1 tiếng. Uống khi thuốc đã nguội, kiêng các đồ ăn thức uống có tính chất cay nóng như: thịt chó, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu…

Chú ý: Bệnh viêm kết mạc mùa xuân hay gặp ở người có cơ địa dị ứng, điều trị không quá phức tạp nhưng phải trị kịp thời và theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Nếu không dễ gây biến chứng như viêm giác mạc, suy giảm thị lực, glaucoma…

Lương y Chu Văn Tiến

Theo SKDS

Khi mang thai cẩn thận những loại thuốc Đông y

So với thuốc tân dược thì Đông y thường ít ảnh hưởng tới sức khỏe của người mẹ và thai nhi nên phần nhiều được chọn lựa để bồi bổ cho người mẹ mang thai. Dĩ nhiên không phải vị thuốc Đông y nào cũng vô hại cho thai kỳ. Do đó cần nắm một số vị thuốc thuộc loại này để chủ động không sử dụng vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

khi-mang-thai-can-than-voi-mot-so-loai-thuoc-dong-y

Việc sử dụng thuốc Đông y dù là những vị thuốc tốt cho thai nhưng nếu không được kiểm soát về nguồn gốc xuất xứ, không đáng tin cậy về cách bào chế thì thuốc đó cũng có thể gây hại đến sức khỏe của thai nhi và người mẹ mang thai.

Thuốc Đông y còn hợp với từng người, vì vậy có người uống một vài thang đã thấy có công hiệu, song nhiều người uống nhiều vẫn chưa thấy chuyển biến gì. Do vậy, trong thời kỳ mang thai dù uống thuốc tân dược hay thuốc Đông y cũng phải hết sức cẩn thận để không gây ảnh hưởng tới thai nhi. Vừa uống thuốc, vừa “nghe ngóng” và theo dõi cơ thể mình xem có điều gì khác lạ để báo kịp thời cho thầy thuốc biết, đồng thời phải ngừng ngay không được uống tiếp.

Người đang mang thai nếu muốn bồi bổ bằng thuốc Đông y cũng cần đến gặp thầy thuốc để bắt mạch kê đơn, không nhờ người bốc hộ. Vì mỗi người mang thai có thể trạng và sức khỏe khác nhau.

Ngoài ra, cần chú ý mua thuốc ở nơi có uy tín, rõ nguồn gốc. Sắc thuốc uống theo thang, đúng liều lượng không tùy tiện lạm dụng khi dùng thuốc. Trước khi sắc, rửa sạch thuốc nhiều lần cho hết chất bẩn, chất bảo quản còn tồn lưu trong thuốc.

Cách tốt nhất và an toàn hơn là người mẹ nên bồi bổ sức khỏe bằng cách ăn uống, ăn đủ chất, sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý, tập thể dục đều đặn như vậy sẽ an toàn và hiệu quả nhất để bảo vệ sức khỏe cho mẹ và thai nhi.

Tóm lại, nếu thấy cần sử dụng đến thuốc Đông y dù là thuốc bổ cũng nên xin ý kiến của bác sĩ, không tùy tiện sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào.

BS. Hoàng Tuấn Linh

Theo SKDS

Cầm máu bằng cây mào gà

Mào gà đỏ có tên khoa học là Celosia cristata L., Họ Rau dền – Amaranthaceae hay mào gà đỏ còn gọi là Bông mào gà đỏ, Kê quan hoa, Kê đầu, Kê quan.

Đặc điểm thực vật, phân bố của Mào gà đỏ: Mào gà đỏ là loại cỏ sống lâu năm, thân cứng, có cành nhẵn. Lá có cuống, phiến lá nguyên hình trứng, đầu lá nhọn. Hoa đỏ, vàng hoặc trắng, cuống rất ngắn, mọc thành bông gần như không cuống, hình vại với mép loe ra nhăn nheo. Quả hình trứng hay hình cầu chứa 8 – 10 hạt đen bóng. Cây được trồng khắp nơi để làm cảnh.

mao-ga

Bộ phận dùng, chế biến của Mào gà đỏ:

+ Hoa và hat Mào gà đỏ: Có thể dùng khô hay tươi để làm thuốc sắc hay tán bột chế thành viên để dùng.

Công dụng, chủ trị Mào gà đỏ:

+ Hoa Mào gà có vị ngọt, mát, có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, chữa lỵ ra máu, trĩ chảy máu, chữa rắn độc cắn.

+ Chữa sa trực tràng (lòi rom), Trĩ hậu môn, ỉa ra máu: Sắc cả hoa và hạt với liều 15g với 3 bát nước, lấy 1 bát uống nguội, uống 3 lần/ngày, hoặc phơi khô, tán thành bột, làm viên nhỏ như hạt đậu, uống nhiều lần thành đợt điều trị.

+ Rắn độc cắn: Dùng 4 – 12g, dạng sắc hoặc giã nhỏ vắt nước uống. Chữa dạ dày, ruột chảy máu…: dùng 10g hoa Mào gà khô (25 – 30g tươi) sấy khô, tán nhỏ, chia nhiều lần uống trong ngày, mỗi lần 1 – 2g. Nhai 10 hạt, nuốt nước, bã đắp chỗ rắn cắn.

Liều dùng Mào gà đỏ: Hoa và hạt Mào gà đỏ sắc uống 8 – 15g/ ngày.

Chú ý:

+ Người béo mập quá mức, bệnh u cục không dùng.

+ Còn có loại Mào gà trắng, hoa màu trắng hoặc phớt hồng, hạt được gọi là Thanh tương tử có tác dụng như hạt của hoa Mào gà đỏ, có tác dụng chữa đau mắt sưng đỏ do can hỏa.

Đông y với bệnh dương hư

Theo YHCT, thận là 1 trong 5 tạng có tác dụng điều chỉnh toàn bộ các rối loạn trong cơ thể. Nếu thận dương hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương, di tinh, hưng phấn giảm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, chân tay lạnh… Sau nhiều nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm, YHCT đã cho ra đời rất nhiều bài thuốc có tác dụng tốt với những người bị suy giảm tình dục do thận dương hư:

Bài 1: nhân sâm, nhung hươu, nhục quế mỗi vị 6g; kỷ tử, thục địa, sơn thù nhục, ba kích, dương khởi thạch mỗi vị 10g; hoàng kỳ 30g, dâm dương hoắc 15g; cam thảo (sao) 3g. Nhân sâm và nhung hươu sấy khô tán bột, chia uống 2 lần sáng chiều với nước ấm; các vị thuốc khác cho vào sắc kỹ lấy nước cốt, chia uống 2 lần trong ngày.

dong-y-voi-benh-than-duong-hu

Bài 2: nhân sâm, nhục quế, bạch thược, cam thảo sao, hoàng kỳ, đương quy, xuyên khung, bạch truật, bạch linh, thục địa, liều lượng mỗi vị bằng nhau. Tất cả đem sấy khô tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 15g, chia làm hai lần khi bụng đói với nước sắc của 2 quả đại táo và 3 lát gừng tươi.

Bài 3: nhân sâm, bạch linh, bạch thược, nhục quế, bạch truật, ngũ gia bì mỗi vị 30g, cam thảo sao 15g, bào khương 6g. Tất cả sấy khô tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g khi bụng đói với nước sắc đại táo 3 quả và gừng tươi 2 lát.
Bài 4: nhân sâm, nhung hươu, ba kích, phúc bồn tử, dâm dương hoắc mỗi vị 50g. Tất cả sấy khô tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước muối nhạt.

BS. Vũ Nhân

Đông y chữa rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Đông y gọi tiêu chảy trẻ em là bệnh tiết tả. Trẻ em từ 1-5 tuổi hay mắc bệnh. Nguyên nhân gây bệnh là do ăn uống không hợp vệ sinh hoặc bị cảm nhiễm trong và ngoài đường ruột. Bệnh ở trong đường ruột là do vi khuẩn. Còn cảm nhiễm ngoài đường ruột là do ảnh hưởng của các bệnh như viêm phổi, viêm tai giữa và một số bệnh khác.

Đông y chia bệnh tiêu chảy thành 4 thể với cách trị khác nhau:

Thể thương thực: Biểu hiện bụng đầy, đau, mồm hôi, ăn kém, ỉa ngày 5-6 lần, ỉa xong hết đau bụng, phân có nhiều chất không tiêu, có lúc buồn nôn hoặc nôn, rêu lưỡi trắng nhớt. Mạch hoạt sác.

Phép chữa: Tiêu thực đạo trệ.

Bài thuốc: Ý dĩ 12g, la bặc tử 12g, sơn tra 8g, trần bì 6g, mộng mạ (sao) 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể phong hàn: Thường do cảm lạnh, viêm đường hô hấp trên. Biểu hiện đại tiện nhiều lần, phân có bọt, bụng sôi, đau, có lúc kèm sốt, chảy nước mũi trong hoặc tắc mũi, ho nhẹ, chán ăn, không khát, rêu lưỡi trắng nhợt. Mạch trầm.

Phép chữa: Khu phong, tán hàn, hoá thấp.

Bài thuốc: Đảng sâm, hoắc hương, lá tía tô, ý dĩ đều 12g; trần bì, bào cương đều 6g. Sắc uống nóng trong ngày.

Thể thấp nhiệt: Biểu hiện đại tiện nhiều lần nhiều nước toé, hậu môn đỏ, khát nước, đái ít, đái vàng, nặng thì thóp lõm, môi lưỡi đỏ. Mạch tế sác.

Phép chữa: Thanh nhiệt lợi thấp.

Bài thuốc: Cát căn, xa tiền, kim ngân hoa tất cả đều 12g; hoàng cầm, hoàng liên đều 8g; lục nhất tán 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể tỳ hư: Đại tiện kéo dài kèm theo suy dinh dưỡng, đại tiện nhiều lần, phân sống, có lúc mùi thối khẳm, có lúc phân chua, sắc mặt vàng, người gầy xanh, rêu lưỡi  trắng mỏng. Mạch nhỏ vô lực.

Phép chữa: Kiện tỳ tiêu thực.

Bài thuốc: Đảng sâm, hoài sơn, ý dĩ, bạch biển đậu đều 12g; nhục đậu khấu, trần bì, cốc nha, hậu phác đều 8g. Sắc uống trong ngày.

Sau đây xin giới thiệu một số món cháo dùng khi trẻ tiêu chảy, phân sống:

dong-y-chua-roi-loan-tieu-hoa-o-tre-em

Cháo rau sam: Rau sam 90g, búp ổi non 20g, quả hồng xiêm non 10g, gạo 30g, bột gia vị vừa đủ. Tất cả cho vào nồi, đổ 250ml nước đun sôi kỹ chắt lấy nước, bỏ bã. Gạo xay thành bột cho vào nước rau trên quấy đều, đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho bột gia vị. Bệnh nhân ăn ngày 2 lần lúc cháo nóng, khi đói. Ăn liền 2-3 ngày.

Cháo cà rốt, ô mai: Cà rốt 50g, ô mai mơ 5 quả, gạo 50g. Mài cà rốt thành bột, ô mai bóc lấy vỏ giã nhỏ, gạo rang vàng xay thành bột. Tất cả cho vào nồi với 200ml nước, đun trên lửa nhỏ, cháo chín là được. Ngày ăn 2 lần lúc đói, ăn liền 2-3 ngày.

Cháo hạt sen: Hạt sen 100g, củ mài 50g, quả hồng xiêm non 15g, đường phèn 20g.  Quả hồng xiêm giã dập cho vào nồi, đổ 250ml nước, đun sôi kỹ, chắt lấy nước, bỏ bã. Hạt sen, củ mài, sấy khô, tán thành bột, cho vào nước hồng xiêm quấy đều, đun trên lửa nhỏ, cháo chín, cho đường phèn, đun tiếp đường tan hết là được. Chia ăn 3 lần trong ngày, lúc đói, lúc cháo nóng. Ăn liền 2-3 ngày.

Cháo gừng: Gạo trắng 50g, gừng tươi 50g. Gạo nấu cháo chín cho gừng vào. Ăn nóng trong ngày.

Cháo gạo, sơn dược: Gạo 50g, sơn dược 10g, thịt quả vải khô 50g, hạt sen 10g. Tất cả cho vào nồi, nước vừa đủ, nấu chín ăn trong ngày.

Cháo khiếm thực, phục linh: Bột khiếm thực 60g, bột phục linh 20g, gạo lức 100g. Gạo lức nấu thành cháo, cho hai thứ bột trên vào đun sôi lên là ăn được. Ăn trong ngày.

Cháo khương, tra, củ cải: Gừng tươi 20g, sơn tra 20g, củ cải 15g, đường đỏ 15g, gạo lức 250g. Tất cả cho vào nồi, đổ nước vừa đủ đun trong 40 phút, bỏ bã, lấy nước nấu với gạo vo sạch thành cháo rồi cho đường. Ngày ăn 3 lần liền 5 ngày.

Thuốc đắp ngoài:

Bài 1: Hành củ 15g, gừng sống 15g. Đem giã nát nhuyễn, gói trong miếng vải, đắp rốn bệnh nhi rồi băng cố định.

Bài 2: Tỏi 12g, lòng trắng trứng gà 1 quả. Giã nát tỏi trộn với lòng trắng trứng, gói vào vải đắp lên huyệt dũng tuyền ở lòng bàn chân trẻ.

Lương y Minh Chánh

Theo báo công an

Đông y điều trị vô sinh

Trong y học cổ truyền, vô sinh cũng được chia làm hai loại : vô sinh nam và vô sinh nữ. Vô sinh nam thuốc phạm vi các chứng bệnh như “bất dục”, “vô tử”, “tuyệt dục”, “nam tử nán tự”, “vô tinh”, “thiểu tinh”, “lãnh tinh”… Vô sinh nữ thuộc phạm vi các chứng bệnh như “bất dựng”, “toàn vô tử”, “đoạn tự”, “chủng tử”, “tử tự”, “tự dục”, “cầu tự”… Phương pháp trị liệu vô sinh nam và vô sinh nữ cũng khác nhau. Trên số báo 123 (ra ngày 3/8/2010) chúng tôi đã giới thiệu những bài thuốc đông y điều trị chứng vô sinh ở nữ. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về phương pháp dùng đông dược điều trị vô sinh nam.

Đông y chia vô sinh nam thành 8 thể bệnh. Tuỳ từng thể bệnh mà dùng bài thuốc thích hợp.

+ Thể Thận âm khuy hư

Chứng trạng: Tinh dịch lượng ít, số lượng tinh trùng giảm, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, nóng lòng bàn tay và bàn chân, có cảm giác sốt về chiều, ngủ kém, vã mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưỡi đỏ ít hoặc không rêu.

Phép chữa: Tư âm bổ thận, điền tinh chủng tử.

Bài thuốc Ngũ tử diễn tông hoàn phối hợp với Tả quy ẩm gia giảm: Thỏ ty tử 15g, kỷ tử 15g, phúc bồn tử 15g, thục địa 15g, sơn thù 10g, ngũ vị tử 10g, hoài sơn 10g, bạch linh 10g, xa tiền tử 20g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Thể Thận dương bất túc

Chứng trạng: Tinh dịch lạnh loãng, số lượng tinh trùng giảm, độ di động kém, mệt mỏi, khó thở, sắc mặt trắng bệch, tay chân lạnh, sợ lạnh, liệt dương hoặc di tinh, tiểu đêm nhiều lần, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch yếu nhược

Phép chữa: Ích thận ôn dương, bổ tinh.

Bài thuốc Ngũ tử diễn tông hoàn phối hợp với Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm: Nhục thung dung 10g, tiên mao 10g, dâm dương hoắc 10g, phụ tử chế 10g, nhục quế 10g, sơn thù 10g, hoài sơn 10g, ngũ vị tử 10g, phúc bồn tử 10g, thỏ ty tử 15g, kỷ tử 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Thể Khí huyết khuy hư

Chứng trạng: Tinh dịch loãng, số lượng tinh trùng giảm, không ham muốn tình dục, liệt dương hoặc xuất tinh sớm, gầy yếu, sắc mặt không tươi, hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, hay quên, ăn kém, đại tiện lỏng nát, lưỡi nhợt ít rêu.

Phép chữa: Ích khí kiện tỳ, dưỡng huyết sinh tinh.

Bài thuốc Bát trân sinh tinh thang gia giảm: Đẳng sâm 10g, bạch truật 10g, bạch linh 10g, bạch thược 10g, đương quy 10g, a giao 10g, hoàng kỳ 15g, thục địa 15g, thỏ ty tử 15g, kỷ tử 15g, hoàng tinh 15g, tử hà xa 15g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Thể Tỳ thận lưỡng hư

Chứng trạng: Tinh dịch lạnh loãng, số lượng và chất lượng tinh trùng suy giảm, không ham muốn tình dục, liệt dương hoặc di tinh, lưng đau gối mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, bụng đầy chậm tiêu, ăn kém, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch chìm và yếu.

Phép chữa: Ôn bổ tỳ thận, ích khí sinh tinh.

 dong-y-dieu-tri-vo-sinh

Bài thuốc Thập tử thang phối hợp với Lục quân tử thang gia giảm : Thỏ ty tử 15g, tang thầm 15g, kỷ tử 15g, nữ trinh tử 15g, phá cố chỉ 15g, sà sàng tử 15g, phúc bồn tử 10g, kim anh tử 10g, ngũ vị tử 10g, bạch linh 10g, bạch truật 10g, đẳng sâm 10g, trần bì 10g, bán hạ chế 10g, xa tiền tử 20g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Thể Thấp nhiệt hạ chú

Chứng trạng : Tinh dịch đặc lâu hóa lỏng và có nhiều bạch cầu, chất lượng tinh trùng giảm, tỷ lệ chết nhiều, sau sinh hoạt hay đau tức dương vật và tinh hoàn, tiểu tiện sẻn đỏ, có cặn đục, chân tay mỏi nặng, tâm phiền miệng khát, đại tiện khó, lưỡi đỏ rêu vàng dính.

Phép chữa: Phải thanh nhiệt lợi thấp, tiêu thũng giải độc.

Bài thuốc Long đởm tả can thang phối hợp với Tỳ giải thẩm thấp thang gia giảm : Long đởm thảo 10g, hoàng bá 10g, thông thảo 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, đan bì 10g, trạch tả 10g, bạch linh 10g, đương quy 10g, tỳ giải 20g, xa tiền tử 20g, ý dĩ 20g, sinh địa 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Thể Đàm trọc ngưng trệ

Chứng trạng: Tinh dịch lượng ít, không có hoặc có rất ít tinh trùng, khó xuất tinh, tinh hoàn hay sưng nề đau cứng, đầu choáng mắt hoa, tức ngực, béo trệ, lưỡi bệu và có vết hằn răng.

Phép chữa: Hóa đàm lý khí, hóa kết thông lạc.

Bài thuốc Thương phụ đạo đàm thang gia giảm: Thương truật 10g, trần bì 10g, bán hạ chế 10g, đởm nam tinh 10g, hương phụ 10g, bạch linh 10g, bạch truật 10g, trạch tả 10g, xa tiền tử 15g, tỳ giải 15g, xuyên sơn giáp 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Thể Huyết ứ trở trệ

Chứng trạng: Giãn tĩnh mạch thừng tinh, đau khi xuất tinh, không có hoặc có rất ít tinh trùng, tỷ lệ chết cao, trong tinh dịch có hồng cầu, bụng dưới và dịch hoàn đau chướng, lưỡi có nhiều điểm ứ huyết.

Phép chữa: Phải hoạt huyết hóa ứ thông tinh.

dong-y-dieu-tri-vo-sinh-1

Bài thuốc Huyết phủ trục ứ thang gia giảm: Sài hồ 10g, chỉ xác 10g, ngưu tất 10g, hồng hoa 10g, đào nhân 10g, xích thược 10g, đương quy 10g, xuyên sơn giáp 15g, kê huyết đằng 15g, đan sâm 20g, vương bất lưu hành 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

+ Với thể Hàn trệ can mạch

Chứng trạng: Tinh dịch lạnh loãng, bộ hạ đau chướng và lạnh, sau sinh hoạt bụng dưới và tinh hoàn đau tức, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh, sợ lạnh, lưỡi nhợt và bệu, mạch căng như dây đàn.

Phép chữa: Noãn can tán hàn, ôn kinh hành khí.

Bài thuốc Noãn can tiễn gia giảm: Nhục quế 10g, tiểu hồi hương 10g, ô dược 10g, đương quy 10g, bạch linh 10g, sinh khương 3g, kỷ tử 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Tóm lại, đối với bệnh lý vô sinh, đông y cũng có một bề dày kinh nghiệm chẩn trị dựa trên một hệ thống cơ sở lý luận chặt chẽ và vững chắc. Thực tế hiện nay, ở nhiều nước, người ta đã và đang không ngừng nghiên cứu sử dụng biện pháp của đông y, trong đó có đông dược, để trị liệu chứng vô sinh.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Theo suckhoedoisong

Điều trị dứt điểm ung thư hạch

Cơ thể chúng ta được hình thành bởi rất nhiều các bộ phận nhỏ, phân bố rộng nhất là các tế bào hạch, vai trò của hạch là tiêu diệt các tế bào già yếu hoặc bị hỏng cho cơ thể, bảo vệ một cơ thể khoẻ mạnh và sạch. Vai trò của hạch không thể coi nhẹ, cho đến những phút cuối cùng của sự sống thì các tế bào hạch vẫn luôn hoạt động, vì thế khi hạch có biến chứng thành tế bào ác tình và trở thành ung thư hạch, như vậy chúng ta cần điều trị sớm, dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những phương pháp điều trị ung thư hạch.

Về việc điều trị thì hiện nay áp dụng cách điều trị tổng hợp, đó là dựa vào các khối u khác nhau, loại bệnh lý khác nhau và thời kì bệnh khác nhau mà ứng dụng một cách có kế hoạch, hợp lý các phương pháp điều trị hiện có, bảo vệ cơ thể tốt nhất, tiêu diệt tế bào ung thư một cách tốt nhât, đạt hiệu quả điều trị cao, cải thiện chất lượng cuộc sống. Hiện nay, các phương pháp được áp dụng trong việc điều trị u hạch ác tính bao gồm phẫu thuật ngoại khoa, xạ trị, hoá trị, đông y… phẫu thuật kếp hợp với hoá xạ trị có hiệu quả điều trị tốt đối với u hạch ác tính, thuốc đông y có tác dụng tăng cường và hồi phục chức năng miễn dịch của cơ thể, điều chỉnh khả năng kháng bệnh, tăng hiệu quả điều trị và giảm các tác dụng phụ do hoá xạ trị đem lại.

1 Phẫu thuật

Thông thường sẽ làm phẫu thuật cắt bỏ khối u hạch ác tính đới với các hạch ở não, tuỷ, khoang mắt, tuyến lệ, tuyến giáp, phổi, gan, rồi kết hợp với xạ trị, hoá trị. Đối với hạch ác tính ở thận, bang quang, tinh hoàn, buồng trứng, tử cung, da, vú thì sẽ phẫu thuật trước, sau đó kết hợp với hoá trị, xạ trị.

dieu-tri-dut-diem-ung-thu-hach

2 Xạ trị

– Hodgkin: phương pháp chiếu xạ chủ yếu ứng dụng nhiều dạng nón hoặc chữ “Y” ngược , trong khi điều trị cần bảo vệ các cơ quan quan trọng.

– Ung thư hạch non Hodgkin: ung thư hạch non Hodgkin cũng nhạy cảm với xạ trị, nhưng tỷ lệ tái phát cao. Những ổ bệnh nguyên phát của ung thư hạch non Hodgkin như ở amidan, khoang mũi hay tế bào tổ chức xương nguyên phát, sai khi xạ trị cục bộ có thể có được sự thuyên giảm trong một thời gian dài khá lý tưởng.

3 Hoá trị

– Có thể làm giảm số lượng tế bào hạch, và khống chế hạch phát triển trong một thời gian nhất định.
– Làm giảm các triệu chứng của ung thư hạch, làm bớt đau đớn cho bệnh nhân.
– Hoá trị có thể kìm chế tế bào ung thư sinh sản và tiêu diệt tế bào ung thư hạch ở một mức độ nhất định
– Bổ trợ cho phẫu thuật hoặc xạ trị, nâng cao hiệu quả điều trị.

4 Miễn dịch sinh học

Phương pháp điều trị miễn dịch sinh học là lợi dụng tác dụng tương hỗ giữa hệ miễn dịch của cơ thể với các tế bào ung thư, thông qua quá trình làm tăng sức đề kháng của hệ miễn dịch đối với tế bào ung thư để kìm chế hoặc tiêu diệt sự phát triển của khối u.

5 Đông y

Trong quá trình điều trị tổng hợp, đông y chủ yếu có tác dụng tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ, tăng khả năng miễn dịch cho bệnh nhân ung thư hạch. Khi chỉ áp dụng đông y để điều trị ung thư hạch, chủ yếu là khống chế tế bào ung thư, làm giảm các triệu chứng lâm sàng, cải thiện sức khoẻ, nâng cao chất lượng sống và kéo dài sự sống cho bệnh nhân ung thư hạch.

Việc sử dụng đông y cần phải dựa vào đặt điểm trên cơ thể của bệnh nhân ung thư hạch, mà không phải chỉ dựa vào bản thân ổ bệnh ung thư. Điều tiết của Đông y có thể điều chính sự mất cân bằng trong cơ thể, xoá bỏ yếu tố gây tái phát, giảm cơ hội di căn; tiếp theo, đông y làm tổn thương ít đến các tế bào khoẻ mạnh, thông thường sẽ không có những tổn hại mới do việc điều trị gây nên, trong khi có thể có những chuyển biến tốt thì thể lực cũng sẽ dần dần được hồi phục, dần dần tăng khả năng miễn dịch.

Ung thư hạch nếu không được điều trị thì có thể sống được 6 tháng đến 1 năm, nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực thì có thể nâng cao hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng sống.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chăm sóc bệnh nhân sa dạ dày

Sa dạ dày là bệnh xảy ra có thể do sự thay đổi khí hậu, lao động quá sức, ăn uống không điều độ.

Tính chất của cơn đau trong bệnh này tương tự như đau kiểu đói bụng; cũng có thể xuất hiện tình trạng trướng bụng, ợ hơi, đau thắt, các triệu chứng đi kèm là buồn nôn, nôn mửa, táo bón, khó tiêu. Khi nghiêm trọng có thể gây xuất huyết, nứt hậu môn. Người bị chứng sa dạ dày thường có những biểu hiện như: đau bụng ở vùng trên với những đặc điểm đau có tính nhịp điệu, mỗi lần phát bệnh có thể kéo dài trong vài ngày hay vài tuần…

Sinh hoạt, ăn uống

Những người bị sa dạ dày cần thường xuyên chú trọng điều dưỡng – điều chỉnh lại giờ giấc sinh hoạt, có thời gian nghỉ ngơi, làm việc thích hợp, đảm bảo ngủ đủ giấc. Nên dùng những loại thực phẩm ít xơ, mềm và dễ tiêu hóa. Tránh những thức ăn cứng, chiên xào và có tính kích thích như rượu, cà phê, trà, thực phẩm cay nồng. Nên ăn ít và chia thành nhiều bữa. Bệnh này có thể điều trị bằng ăn uống các loại trái cây hoặc thuốc Đông y như dưới đây:

– Chuối trộn mật ong: Chuối tiêu 2 quả, táo tây 2 quả, mật ong 30 ml. Rửa sạch táo, chuối bỏ vỏ, xay nhuyễn, cho mật ong vào đảo đều, chia làm 2 lần dùng trong ngày.

sa-da-day

– Nước củ sen, cam thảo: Củ sen 200g, cam thảo 3g, táo 2 quả, vị thuốc bạch thược 10g. Táo, củ sen rửa sạch, cắt nhỏ, ép thành nước, bạch thược và cam thảo cho vào nồi đất cùng 300 ml nước, nấu lấy nước. Trộn 2 loại nước với nhau khuấy đều để dùng, chia làm 2 lần dùng trong ngày.

– Cà rốt, rau cần: Cà rốt 400g, rau cần 200g, lá su hào 200g, táo 300g, mật ong 30 ml. Rửa sạch tất cả nguyên liệu, để ráo nước, cắt nhỏ, cho vào máy, ép lấy nước. Nếu quá đậm đặc có thể cho thêm nước vào, nếu chất xơ trong nước quá nhiều có thể vớt bỏ bớt, sau đó cho mật ong vào trộn đều là dùng được. Chia làm hai lần dùng trong ngày.

Ngoài ra, trong Đông Y cũng có bài thuốc dùng cho bệnh sa dạ dày, đó là bài gồm các vị: hoàng kỳ, đảng sâm (cùng 16g), bạch truật, đương quy (cùng 10g), trần bì, thăng ma, cam thảo (cùng 6g), sài hồ 4g. Cách sắc (nấu) như sau: Nước đầu cho 3 chén nước sắc còn 1 chén, cho nước thuốc ra riêng; nước thứ 2 cho tiếp 3 chén, sắc còn nửa chén. Hòa hai nước lại, chia làm 3 lần trong ngày uống lúc no (sau khi ăn 30 phút). Một đợt uống liên tục 7-10 ngày.

 

Nguồn sức khoẻ đời sống

Thành hội Đông y Hà Nội

y-hoc-co-truyen-dong-y-ha-noi

Địa chỉ 14 Hàng Bài, Hoàn Kiếm, HÀ NỘI

Điện thoại (84-4) 38 252 755

Ai cũng có thể mắc phải bệnh trĩ

Người Trung Quốc có câu “Thập nhân cửu trĩ” (tức 10 người có đến 9 người mắc bệnh trĩ). Trĩ bệnh rất phổ biến ở cả nam và nữ, gây ra sự ám ảnh, đau đớn, khổ sở, giảm chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Khoảng 30 – 50% dân số Việt Nam mắc bệnh trĩ

Theo kết quả một cuộc nghiên cứu được đưa ra gần đây, khoảng 30 – 50% dân số Việt Nam mắc bệnh trĩ. Bệnh trĩ là bệnh được tạo thành do sự phình dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ ở mô xung quanh hậu môn. Khi tĩnh mạch hậu môn hoạt động kém, máu đi đến đây sẽ không lưu thông được, ứ đọng làm cho tĩnh mạch bị dãn, phình ra.

tri

Ngoài hai triệu chứng chính là chảy máu và sa búi trĩ người bệnh có thể bị các triệu chứng: đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn.

Nguyên nhân chính gây bệnh bao gồm: Táo bón và kèm theo biến dạng bên ngoài. Tiêu chảy và đột ngột đại tiện phân lỏng. Ngồi hoặc đứng trong thời gian dài. Béo phì. Mang vác nặng. Mang thai và sinh con…

Biến chứng của bệnh

Tắc mạch trĩ: Tắc mạch trĩ ngoại có thể là do vỡ các tĩnh mạch, tạo nên một bọc máu, hoặc là do hiện tượng đông máu ở trong lòng mạch máu. Việc rặn khi đi ngoài, khuân vác nặng, hoạt động thể thao, hậu sản… làm tăng áp lực vùng hậu môn gây sung huyết vùng hậu môn là những yếu tố thuận lợi của tắc mạch trĩ. Một thời gian ngắn sau khi xuất hiện, bọc máu đông được bao bọc bởi một màng mỏng, dần dần dính chặt vào da phủ, khó bóc tách. Khi thăm khám thấy ở vùng rìa hậu môn có một khối sưng màu phớt xanh, kích thước to hơn hay nhỏ hơn hạt đậu, sờ vào thấy căng. Bệnh nhân đau rát. Nếu được rạch ngay lấy cục máu đông thì bệnh nhân thấy dễ chịu ngay. Cũng có khi cục máu đông gây hoại tử phía da trên gây rỉ máu.

Tắc mạch trĩ nội ít hơn nhiều so với tắc mạch trĩ ngoại. Bệnh nhân đau ở trong sâu, có cảm giác gợn cộm như có một vật lạ nằm trong lòng ống hậu môn. Ấn tay vào thành trực tràng cảm giác được một cục cứng có ranh giới rõ rệt. Khi soi hậu môn thấy ở búi trĩ có một chỗ phồng lên màu phớt xanh. Rạch nhẹ vào khối đó có một cục máu đông bật ra.

Nghẹt: Nghẹt là khi búi trĩ hay vòng trĩ sa ra ngoài, mạch có thể bị tắc gây phù nề và do đó không thể tự thụt lại vào trong lòng trực tràng được. Nghẹt có thể một phần, một nửa hay toàn bộ chu vi hậu môn. Khi nhìn, thấy mặt ngoài của trĩ sa nghẹt là da màu xám, ở mặt trong là niêm mạc màu nâu đỏ, sưng nề, rải rác có những nốt xám đen là do hiện tượng hoại tử bắt đầu. Khi nắn, thấy có những chỗ mềm do phù nề, ấn lõm, xen kẽ với những hạt cứng là những cục máu đông.

Trĩ sa nghẹt đẩy lên rất khó hay hoàn toàn không đẩy lên được, nhất là loại trĩ vòng, do phù nề nhiều hơn và do cơ vòng thắt chặt. Trĩ sa nghẹt làm bệnh nhân rất đau đớn. Trĩ sa nghẹt hoặc là đỡ sưng nề dần, và rồi có thể đẩy lên được, hoặc là bị hoại tử, lở loét và nhiễm khuẩn.

Nhiễm khuẩn: Nhiễm khuẩn của trĩ  thường là viêm khe, viêm nhú. Các khe, các nhú nằm trên đường lược. Biểu hiện lâm sàng của viêm khe, viêm nhú là cảm giác ngứa ngáy hay nóng rát. Thăm trực tràng làm bệnh nhân rất đau, thấy cơ vòng hậu môn thít chặt, giãn nở kém. Soi hậu môn thấy các nhú phù nề sưng to, màu trắng, các khe nằm giữa các búi trĩ bị loét nông, màu đỏ.

Bội nhiễm: Nếu trĩ thòi ra ngoài lâu, chảy máu liên tục thì rất dễ bị bội nhiễm vi khuẩn bởi vì hậu môn là đường ra của phân và nước tiểu mà trong phân có vô số vi khuẩn gây bệnh.

Bí kíp phòng và chữa bệnh
Chế độ ăn uống, lối sống là điều rất quan trọng giúp bệnh nhân phòng và chữa bệnh. Cụ thể là, tránh ăn mặn, uống nhiều nước (1,5 – 2 lít nước/ngày), ăn nhiều  rau xanh và chất xơ cũng như rau sống (diếp cá, rau má…) và hoa quả. Hạn chế ăn đồ cay nóng (tiêu, ớt …). Hạn chế uống rượu bia. Không nên ngồi lâu bên bàn làm việc, máy tính vì đây là tác nhân gây mắc bệnh trĩ. Cứ khoảng một giờ làm việc cần đứng dậy để vươn vai, đi lại vừa có tác dụng giảm căng thẳng, không hại thị lực lại hạn chế được nguy cơ mắc trĩ. Tích cực tham gia hoạt động thể dục thể thao.

Không được nhịn đi tiêu. Cảm giác đau rát vùng hậu môn khi đi tiêu có thể là nguyên nhân khiến nhiều người nhịn đi tiêu. Tuy nhiên, càng nhịn thì nguy cơ bị táo bón và bệnh trĩ càng tăng cao.
Điều đặc biệt quan trọng, khi thấy mình có những dấu hiệu của bệnh, đừng ngại ngùng, hãy đi khám để bác sĩ có lời khuyên điều trị tốt nhất. Có nhiều trường hợp, ban đầu bệnh nặng nhưng do ngại ngùng không đi chữa trị kịp thời, đến lúc đau quá mới đi khám thì bệnh đã nặng. Không những gây đau đớn trong thời gian dài mà quá trình điều trị còn kéo dài, tốn công, tốn sức và tiền bạc.

Theo gia đình

Phòng điều trị y học cổ truyền – Nhà thuốc đông y

phong-kham-da-khoa-y-hoc-co-truyen-3

428 Kim Giang, Hoàng Mai, HÀ NỘI

(84-4) 38 551 899

 

Phòng khám đông y

phong-kham-dong-y

Địa chỉ 127A Triệu Việt Vương, Hai Bà Trưng, HÀ NỘI

Điện thoại (84-4) 39 781 943

Phòng khám đông y Trung Sơn – Trung Quốc

phong-kham-dong-y-trung-son

Địa chỉ 49 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, HÀ NỘI

Phòng khám đông y Đống Đa

phong-kham-dong-y-dong-da

 

Địa chỉ 62 Tôn Thất Tùng, Đống Đa, HÀ NỘI

Điện thoại (84-4) 38 523 008

Phòng điều trị y học cổ truyền – Nhà thuốc đông y

nha-thuoc-dong-y-co-truyen

Địa chỉ 428 Kim Giang, Hoàng Mai, HÀ NỘI

Điện thoại (84-4) 38 551 899

Phòng chuẩn trị y học cổ truyền Đông y Đức Thưởng

phong-chuan-tri-y-hoc-co-truyen-dong-y-duc-thuong

Địa chỉ 253 Định Công, Hoàng Mai, HÀ NỘI

Điện thoại (84-4) 36 405 694 – 0912

Nhà thuốc tây đông y Sơn Hà

nha-thuoc-dong-tay-y-son-ha

Địa chỉ ql14 Đđức Lập, Thị Trấn-Đức Phong Huyện Bù Đăng, BÌNH PHƯỚC

Điện thoại 0651-974819

Phòng Chẩn Trị Đông Y Ngọc Thanh

chan-tri-dong-y-ngoc-thanh

Địa chỉ 236, Quốc Lộ 1K P. Linh Xuân, Quận Thủ Đức. TP. HCM

Điện thoại (08)38975111

Đông y gia truyền Thiên Phúc Đường

nha-thuoc-dong-y-thien-phuc-duong

Địa chỉ 217A Trường Chinh, Thanh Xuân, HÀ NỘI

Điện thoại (84-4) 38 533 349 – 0913

Phòng khám đông y Nhơn Tâm Tế

phong-dong-y-nhon-tam-te

Địa chỉ 129, Phạm Văn Hai P. 3, Quận Tân Bình, TP. HCM

Điện thoại (08)39918308

Phòng Chẩn Trị Đông Y Nguyễn Hữu Đức

phong-chan-tri-dong-y-nguyen-huu-duc

Địa chỉ 726, Nguyễn Xiển P. Long Thạnh Mỹ, Quận 9, TP. HCM

Phòng khám điều trị đông y

phong-kham-va-dieu-tri-dong-y

Địa chỉ :54 NGUYỄN TƯỜNG LOAN -LÊ CHÂN -HẢI PHÒNG, TP. HẢI PHÒNG

Điện thoại 0318.600.986

Nhà Thuốc Đông Y Nhân Hòa Đường

nha-thuoc-dong-y-nhan-hoa-duong

Địa chỉ 283, Phạm Văn Hai P. 5, Quận Tân Bình, TP. HCM

Điện thoại (08)38453388

Phòng Chẩn Trị Đông Y Lương Y Nguyễn Văn Quang

phong-chan-tri-luong-y-nguyen-van-van

Địa chỉ 56/1, Kha Vạn Cân P. Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức, TP. HCM

Điện thoại (08)37269779

Nhà thuốc đông y Vạn Hồi Xuân

nha-thuoc-dong-y-van-hoi-xuan

Địa chỉ Ô3/56 ẤP THANH BÌNH, Huyện Gò Dầu, TÂY NINH

Điện thoại (066)3853261

Nhà thuốc đông y Hồi Xuân

nha-thuoc-dong-y-hoi-xuan

Địa chỉ 277, Ấp Chiến Lược P. Bình Trị Đông, Quận Bình Tân, TP. HCM

Điện thoại (08)37622030

Phòng khám đông y Việt Trung

phong-kham-dong-y-viet-trung

Địa chỉ 77 GIẢI PHÓNG, HÀ NỘI

Điện thoại (04)38696006